Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Truyện Ngắn: Phần Thưởng Quý Giá

Truyện Ngắn: Phần Thưởng Quý Giá

Phần Thưởng Quý Giá

Chú Sáu đang cặm cụi sửa cho xong chiếc đồng hồ đeo tay Omega của ông chủ hiệu thuốc bắc Tân Sanh, thì anh Tư cai trường tiểu học quận Châu Thành Bến Tre hớt hơ hớt hải chạy vào: “Chú Sáu! Thằng Út Tấn đá banh bị té lọi tay rồi!”  Vừa gom đồ đạc vào chiếc khay nhôm nhỏ bỏ vào ngăn kéo, chú Sáu vừa hỏi lại: “Nó té gãy tay hồi nào vậy?”  Anh Tư khoa tay trả lời: “Thì mới hồi nãy đây, trong giờ ra chơi.  Thầy giáo Hiền bảo tôi báo cho chú hay liền nè!  Mà chú có muốn nói cho thím Sáu biết không?”  Chú Sáu lắc đầu: “Đừng, đừng, bả hay hoảng lắm!  Để tối bả đi chợ về rồi hẵng hay.  Mà thằng Út đang ở đâu?”  Anh Tư vừa đi ra vừa trả lời: “À, thầy giáo Hiền dẫn nó sang bên trạm y tế rồi!”

Chú Sáu lên xe gắn máy chạy thẳng tới trạm y tế nằm sát ngay trường tiểu học.  Chú vừa dựng xe xong, thì anh Tư đạp xe cũng vừa tới, vì trạm y tế cách tiệm sửa đồng hồ của chú không bao xa.  Hai người bước vào bên trong hành lang thì đã nghe tiếng thằng Tấn khóc.  Cô y tá Luận lên tiếng dỗ: “Không sao đâu cháu!  Cái này đưa ra nhà thương băng bột vài bữa là lành ngay.  Xương cháu như xương gà lành liền mà, không sao đâu!” Chú Sáu nói theo: “Ừa, hồi nhỏ tao leo cây té xuống như trái mít rụng cũng bị lọi tay, bà nội mày lấy con gà cột và tay rồi cũng lành lặn như thường.  Bây giờ có bác sĩ bó bột còn hay mà vệ sinh hơn nhiều!  Thôi để ba chở ra nhà thương.

Nghe chú Sáu nói như vậy, thằng Tấn vừa đi vừa thút thít chứ không dám khóc to nữa.  Nhưng chưa ra tới đường cái thì đã nghe tiếng thím Sáu từ đàng xa la như cháy nhà: “Út ơi, Út à!  Mày lọi hết hai tay rồi hả?  Tao đã nói đừng đá banh mà sao mày ham quá vậy?”  Chú Sáu nhăn mặt: “Ai nói cho bà hay đó? Có gì đâu mà bà hoảng quá vậy nè?  Con nít chơi banh rủi té lọi tay là chuyện thường.  Thôi để tôi chở nó ra nhà thương băng bột kẻo trễ bây giờ!”

Chú Sáu chở thằng Tấn đến nhà thương thì đã hơn 3 giờ chiều.  Đến nơi đã thấy thầy giáo Hiền có mặt ở đó rồi.  Thấy chú Sáu bình tĩnh, thầy giáo Hiền cũng an lòng.  Vì thầy giáo Hiền đã giàn xếp trước rồi, nên thằng Út Tấn vừa đến nhà thương, thì y tá đã sẵn sàng dẫn nó vào ngay phòng cấp cứu.  Thím Sáu đòi đi theo nó, nhưng chú Sáu cản lại: “Không sao đâu mà bà!  Để cho bác sĩ, y tá người ta làm việc.  Bà cứ bình tĩnh ngồi chờ đi!”

Vợ chồng chú Sáu và thầy giáo Hiền chờ chưa được một tiếng đồng hồ, thì bác sĩ đã bó bột xong cánh tay lọi của thằng Tấn.  Bác sĩ Công dắt thằng Tấn ra và dặn chú Sáu: “Không có gì nguy hiểm đâu, độ vài tuần là lành ngay.  Trong thời gian này, mỗi khi cháu tắm, chú nhớ lấy bao ni-lông bao chỗ băng bột nhé!  Ba tuần sau chú chở cháu lên đây cho tôi xem lại!”

Khi vợ chồng chú Sáu và thằng Út Tấn vừa ra khỏi cổng nhà thương, thì thấy thầy Truyền Đạo Chủ tạo Nhà thờ Tin Lành Bến Tre cũng vừa đi tới.  Chú Sáu lanh miệng nói trước: “Chà, ai nói cho thầy biết vậy? Thằng nhỏ đá banh lọi tay một chút mà dường như cả làng biết!”  Thầy Truyền Đạo cười: “Tôi mới nghe cậu Chín cho hay.  Có sao không?”  Chú Sáu trả lời: “Dạ không sao!  Bác sĩ nói độ ba tuần là lành.”

Lúc ấy, thì bác sĩ Công có việc đi ra ngoài.  Vừa thấy thầy Truyền đạo thì ông ta đã la lớn lên: “Anh Nhu đó phải không?” Thầy Truyền đạo trố mắt nhìn bác sĩ Công một chặp, rồi trả lời: “Vâng, tôi là Nhu.  Anh là Công, bác sĩ Công!”  Hai người chạy lại gần bắt tay nhau một cách hết sức thân mật, khiến chú Sáu mở mắt to ngạc nhiên: “Ủa, bác sĩ quen thầy Truyền đạo của tôi hả?”  Bác sĩ Công mỉm cười: “À, anh Nhu bây giờ là Truyền đạo Tin Lành! Tôi phải gọi anh là gì bây giờ?  Thầy hay Mục sư?”  Thầy Truyền đạo chưa kịp trả lời thì bác sĩ Công đã quay lại nói với chú Sáu: “Thầy… Nhu trước đây là bạn học cùng lớp với tôi!”

Thầy Truyền đạo lúc ấy mới chậm rãi hỏi: “Anh Công đổi về đây hồi nào?” Bác sĩ Công trả lời: “Mới hai tháng nay mà thôi, thầy…” Thầy Truyền đạo cắt ngang: “Thôi anh cứ gọi tôi là anh như xưa, có gì đâu mà anh phải lễ nghĩa vậy?  Tôi cũng xin phép được gọi anh là anh.  Khi nào trước mặt người lạ, mình hãy gọi nhau là bác sĩ hay thầy Truyền đạo.”  Bác sĩ Công cười thân mật: “Thật tôi không ngờ gặp anh ở đây.  Anh đang chủ tọa nhà thờ Tin Lành Bến Tre sao?”  Thầy Truyền đạo trả lời: “Vâng, tôi mới được bổ nhiệm đến đây coi sóc nhà thờ này chưa tới một năm.  Không ngờ tụi mình lại gặp nhau sau hơn mười năm xa cách.”  Bác sĩ Công kéo tay thầy Truyền đạo đi ra phía cổng nhà thương rồi dừng lại và nói to: “Bây giờ, tôi xin lỗi anh, tôi phải đi vào dinh ông Tỉnh Trưởng có chút việc.  Tối nay rảnh, không chừng tôi đến nhà thờ gặp anh.”  Bắt tay thầy Truyền đạo một lần nữa, bác sĩ Công cỡi chiếc Vespa màu xanh lợt chạy về phía dinh Tỉnh Trưởng.  Thầy Truyền đạo và chú thím Sáu cũng ra về.  Chú Sáu đang phân vân, thì Thầy Truyền đạo nói ngay: “Chú chở thím đi! Tôi chở Út Tấn cho!”  Thằng Út nãy giờ im lặng bây giờ mới lên tiếng: “Thầy là bạn học với ông bác sĩ hả?” Thầy Truyền đạo gật gù: “Ừ, bác sĩ Công chẳng những là bạn học mà là bạn thân nhất của tôi nữa.”

Chú Sáu chở thím Sáu chạy trước, còn thầy Truyền đạo chở thằng Út Tấn chạy sau.  Không đầy 10 phút, cả hai chiếc xe gắn máy đã về đến trước cổng nhà chú Sáu.  Thằng Tấn vừa nhảy xuống, thầy Truyền đạo đã dặn ngay: “Này cậu Út! Lọi tay thì lọi tay, nhưng Chúa Nhật phải đi nhà thờ nghe!  Đừng làm bộ trốn học Trường Chúa Nhật nghe!” Chú Sáu đỡ lời: “Dạ, có gì trầm trọng đâu mà thầy! Thầy khỏi lo, thằng Tấn coi bộ nghịch ngợm nhưng ham học Trường Chúa Nhật lắm!  Từ ngày học với cô Trúc, nó chịu lắm!  Mà mời thầy vào uống nước rồi dùng cơm tối luôn, cũng gần 5 giờ rồi!” Thầy Truyền đạo lắc đầu: “Tôi phải lại thăm bác Bảy Trầm một chút.  Còn sớm quá mà ăn uống gì!  Mọi khi 7 giờ mình mới ăn tối kia mà!”  Nói xong, thầy Truyền đạo rồ ga phóng chiếc Honda đi liền.

Trên đường đến nhà bác Bảy Trầm, thầy Truyền đạo nhớ lại những ngày còn đi học ở Huế.  Hình ảnh bác sĩ Công, lúc ấy còn là một học sinh, hiện rõ ra trong trí thầy.  Công là con trai út của một gia đình giàu có, ba của Công làm thẩm phán, còn Nhu chỉ là con trai thứ của một gia đình công chức nghèo.  Nhà Công là một biệt thự có tường bao ba phía, phía trước là hàng rào sắt sơn trắng rất sang trọng.  Biệt thự của gia đình Công ở trên đường Nhu đi học.  Gia đình Nhu thì ở một căn phố thuê đàng sau trường Trung học Việt Anh.  Mỗi lần đi học ngang qua ngôi biệt thư của ba má Công, Nhu đã thấy Công đứng ở cổng chờ.  Từ nhà Công đến trường học không tới nữa cây số.

Trường trung học nơi Công và Nhu học từ lớp sáu chương trình Pháp nằm ngay trước Bưu Điện Huế.  Nhu còn nhớ lúc mới thi vào lớp sáu thì thầy giáo là ông Bửu Kiệt, mà ở Huế người ta vẫn thường gọi là Mệ Kiệt, vì ông là người hoàng phái, thuộc dòng Hoàng Tử Cảnh.  Ông này Tây còn quá hơn ông thầy Tây thiệt là ông Bernier, vì chẳng bao giờ Nhu nghe ông ta nói tiếng Việt cả.  Nhưng cũng nhờ thế mà học trò trong lớp đứa nào cũng khá Pháp văn.  Đặc biệt hơn hết là Công lúc nào cũng đứng đầu, nhất là môn làm luận tiếng Pháp.  Một lần nọ, thầy Kiệt ra đề luận nói về biển.  Bài của Công hay nhất được thầy đọc cho cả lớp nghe.  Nhu còn nhớ mấy lời mở đầu thật đơn giản nhưng hay của Công: “J’aime la mer! La mer iest mon âme!  Mon père est un homme de mer…” (Tôi yêu biển.  Biển là linh hồn tôi.  Cha tôi là một người làm nghề biển…) Lúc tan học, Nhu hỏi Công: “Mày viết bài luận hay thiệt, nhưng ba mày làm thẩm phán chứ có làm nghề biển bao giờ đâu?”  Công cười: “Thì tao tưởng tượng ra cho lâm ly vậy thôi, cần gì thiệt?”

Đang miên man nghĩ tới đó, thì nhà bác Bảy Trầm đã hiện ra trước mắt.  Thầy Truyền đạo cho xe chạy chậm lại rồi ra thẳng vào bên trong sân.  Vừa đậu xe cạnh thềm xi-măng, thầy đã nghe tiếng bác Bảy Trầm hỏi to: “Tôi nghe sấp nhỏ nói thằng con chú Sáu bị té lọi tay, thầy có hay chưa?”  Thầy Truyền đạo trả lời: “Dạ tôi mới tới nhà thương chở thằng Út Tấn về nhà rồi.  Bác sĩ băng bột nói chỉ vài tuần là lành.”  Vừa bước vào nhà thầy đã nghe mùi mắm thơm phức.  Bác Bảy nói ngay: “Nhà tôi mới đi Vĩnh Long về, được con cháu tặng cho hũ mắm thái.  Mới khui ra đó! Thầy ở lại ăn cơm với gia đình tôi một bữa nghe!”  Thầy Truyền đạo lắc đầu: “Dạ hai bác để lần khác.  Chú thím Sáu đang chờ tôi về ăn cơm.”  Bác Bảy khoa tay: “Không sao mà! Để tôi biểu thằng Còn chạy đạp xe qua nói cho chú Sáu hay.  Bữa nay vừa có mắm ngon và lại có thịt heo phay nữa.  Tôi biết thầy thích món này lắm! Thầy chưa kịp thối thác, thì đã thấy thằng Còn đạp xe phóng ra cổng đi về phía nhà chú Sáu rồi.

Phải nói bữa cơm ngon thiệt!  Thịt heo phay ăn với mắm thái và lá tía tô.  Thầy Truyền đạo ăn xong thì đã gần 8 giờ tối.  Sợ bác sĩ Công đến thăm, thầy vội vã ra về.  Bác Bảy đưa ra tới cổng còn nói với: “Khi nào thầy muốn ăn như vậy nữa, cứ cho tôi biết, đừng ngại nghe thầy?  Khi nào thầy lập gia đình, thì tụi tôi không còn dịp đãi thầy một cách bất ngờ nữa đâu!”

Thầy Truyền đạo vừa về tới nhà thờ Bến Tre thì thấy chiếc xe Vespa của bác sĩ Công cũng vừa trờ tới.  Hai người bắt tay nhau rồi bước vào tư thất bên cạnh nhà thờ.  Bác sĩ Công lên tiếng trước: “Chà, một mình độc thân mà ở cái nhà rộng quá nhỉ?”  Thầy Truyền đạo Nhu cười: “Đây là tư thất dành riêng cho Mục sư chủ tọa nhà thờ.  Tôi còn độc thân, chứ nhiều Mục sư chủ tọa khác đông con cần có nhà rộng.  Vả lại, đây cũng là nơi tín đồ thường lui tới nữa.  À mời anh ngồi chơi, tôi đi nấu nước pha chút trà uống cho vui!”

Trong khi thầy Truyền đạo đi vào phía sau bếp, thì bác sĩ Công đứng ngắm tủ sách.  Ông ta lấy quyển “Thần Đạo Học” mở ra, xem chưa xong trang mục lục thì thầy Truyền đạo đi lên.  Bác sĩ Công hỏi: “Học thần học có khó không anh?”  Thầy Truyền đạo trả lời: “Khó hay dễ còn tùy.  Thật ra thì đối với tôi, khi đã được ơn Chúa gọi để làm người giảng đạo, tôi rất thích thú khi học thần học.  Tôi nghĩ học bác sĩ như anh mới là khó, phải không?”  Bác sĩ Công cầm tách nước trà lên húp một hớp rồi chậm rãi nói: “Không khó đâu anh ạ! Chỉ cần siêng năng một chút mà thôi.  Mà anh biết tính tôi, không đến nỗi lười biếng nên rồi học cũng xong.”

Nhu biết rõ Công.  Lúc còn đi học rất nghịch và tếu, nhưng học rất giỏi và siêng năng.  Trong khi nhiều bạn cùng lớp lận đận đôi ba keo mới đậu được cái bằng Brevet (Trung học đệ nhất cấp của chương trình Pháp), thì Công thi lần nào đậu lần nấy.  Khi Công và Nhu đậu Bacc I (Tú tài I) rồi, thì một phần ba bạn cùng lớp hồi mới vào lớp Sáu mới đậu được bằng Brevet.

“À anh Công, sau khi xong Tú Tài I ở Huế, anh vào Sài-gòn học tiếp rồi đi đâu nữa?” Nhu vừa hỏi vừa rót thêm trà vào chén của người bạn học cũ.  Công toan rút bao thuốc lá ra nhưng vội vàng ấn bao thuốc trở lại trong túi áo, trả lời: “Vâng, chắc anh nhớ.  Sau khi tôi xong Bacc I, thì ba tôi đổi vào Sài-gòn làm việc tại Tòa Thượng Phẩm, nên tôi ghi tên học lớp Terminal (lớp 12 chương trình Pháp) tại trường Chasseloup Laubat.  Thi xong Bacc II (Tú Tài 2), tôi học toán, lý, hóa ở Trường Khoa Học rồi thi vào Y khoa.  Tôi học một lèo 7 năm, ra trường, đi thực tập ở nhà thương Hồng Bàng, đổi ra Phan Rang ba năm, rồi mới được về đây làm Quản đốc nhà thương Bến Tre kiêm Trưởng Ty Y Tế.  Tôi quên nói cho anh biết, nhà tôi là con gái của thầy Bửu Kiệt, ông Tây local của tụi mình hồi lớp Sáu đó!”  Nhu cười to: “Vậy hả?  Thế chị có ở đây với anh không?  Anh chị được mấy cháu rồi?”  Công trả lời: “Dạ cám ơn anh, nhà tôi cũng ở đây, nhưng hôm qua mới về Huế thăm nhà.  Bà gia tôi đau gan nặng có lẽ không qua khỏi.  Tôi đang chờ điện tín nhà tôi, nếu bà gia tôi qua đời, tôi sẽ về dự đám tang.  Chúng tôi chưa có cháu nào cả, dù lấy nhau đã gần hai năm nay.”

Nhu ngồi im không nói gì.  Nhưng Công lại hỏi: “Còn anh thì sao?  Bao giờ thì lập gia đình?  Mục sư đâu bị bắt buộc sống độc thân phải không?”  Nhu gật đầu: “Vâng, chúng tôi lập gia đình bình thường.  Tôi đã hứa hôn rồi, nhưng người vợ tương lai của tôi đang theo học Trường Thần Học ở Nha Trang.  Hè tới, chúng tôi sẽ làm đám cưới.  Thế nào cũng mời anh chị đến dự.”  Công cười: “Chắc chắn rồi! Thật tôi không ngờ anh chọn con đường Mục sư.  Hồi còn đi học, thấy anh học giỏi nhu đạo, lúc lên lớp Second (đệ Tam Trung học chương trình Pháp) đã đai đen rồi, tôi nghĩ anh sẽ làm gì khác hơn chứ đâu có ngờ anh lại chọn làm Mục sư!”

Nhu lại ngồi yên.  Một thoáng sau, Nhu mỉm cười: “À mà này anh Công! Đừng bao giờ nói cho tín đồ của tôi biết tôi trước đây là võ sư nhu đạo huyền đai đệ nhị đẳng nghe!”

Chiếc đồng hồ quả lắc trên tường rổn rảng gõ 11 tiếng.  Công giật mình, đứng dậy xin phép về.  Nhu tiễn bạn ra đến cổng nhà thờ mới quay vào.  Sau khi tắm xong, Nhu lấy Kinh Thánh ra đọc và tắt đèn cầu nguyện trong bóng tối.  Khi Nhu lên giường ngủ, thì đồng hồ điểm giờ nửa đêm.

Dường như mặt trời mọc sớm hơn buổi sáng thứ Bảy hôm ấy.  Ánh nắng chói chang lùa vào phòng ngủ không biết từ lúc nào.  Thầy Truyền đạo tính dậy tập thể thao nhưng vừa mới rửa mặt xong thì nghe tiếng đập cửa ở phía trước.  Thầy còn quàng chiếc khăn ngang cổ nhưng vội vã ra mở cửa.  Trước mặt thầy là con Hòa, con chú Sáu tóc tai rối bù.  Nó vừa nói vừa khóc: “Dạ thưa thầy, ba con bảo con tới báo cho thầy biết hồi đêm khuya, má con bị bịnh nặng chở vô nhà thương cấp cứu rồi!” Thầy Truyền đạo ngạc nhiên: “Mới hôm qua đây có thấy thím đau yếu gì đâu mà bịnh nặng?  Ba con ở trong nhà thương từ hồi sáng sớm rồi.  Thầy chạy vô hỏi ba con mới biết!”

Thầy Truyền đạo thay vội quần áo và lên xe Honda chạy ngay vào nhà thương.  Gặp cô y tá trực, thầy hỏi ngay: “Có bác sĩ Công trong phòng không?” Cô y tá chỉ tay vào phía trong nhà thương trả lời: “Dạ có.  Thầy cứ vào!” Thầy Truyền đạo vừa vào thì đã thấy chú Sáu chạy ra.  Thầy chưa kịp hỏi, thì chú Sáu đã nói trước: “Nhà tôi đêm qua đang ngủ, bỗng nhiên ú ớ, tôi tưởng bả mớ, không dè bị đứt gân máu.  Tôi chở vào nhà thương thì bác sĩ Công cho biết để chậm quá, có thể bị bán thân bất toại, không biết sao đây?”

Thầy Truyền đạo sững sờ trước tin này.  Thầy vội vàng tìm bác sĩ Công để hỏi thì được biết tình hình thím Sáu khá trầm trọng.  Bác sĩ Công kéo thầy Truyền đạo vào góc phòng và nói nhỏ: “Phải chi chú Sáu đem vào sớm thì tôi chữa kịp.  Chú cạo gió đã đời rồi mới chở vào đây.”  Thầy thấy thím Sáu nằm trên giường, miệng méo xệch, đôi mắt lơ đãng và tay trái xuôi thẳng như khúc gỗ.  Thầy lấy bình tĩnh nói với thím: “Thím Sáu, thím thấy trong người ra sao?”  Không thấy thím Sáu nói năng gì cả mà chỉ quay mặt nhìn thầy và nước mắt từ từ chảy trên đôi gò má tái xanh.  Bác sĩ Công lắc đầu: “Anh Nhu, thím Sáu cứng miệng, chưa nói được đâu.”

Thầy Truyền đạo không nói gì thêm và quay sang nói với chú Sáu: “Chú bảo em nào mời thầy giáo Hiền và các anh em trong Ban Trị Sự Hội Thánh tới đây liền, tôi sẽ xin phép bác sĩ Công đặt tay xức dầu cầu nguyện cho thím.”  Trong khi chú Sáu bước ra ngoài phòng, thì thầy Truyền đạo quay lại giải thích với bác sĩ Công: “Chắc anh hơi ngạc nhiên.  Nhưng chúng tôi vâng theo lời Chúa dạy, cầu nguyện xin Chúa chữa bệnh.  Anh có thấy gì trở ngại không?” Bác sĩ Công lắc đầu: “Không, không! Xin anh và quý vị trong nhà thờ cứ tự nhiên.”  Nói xong, bác sĩ Công dặn cô y tá: “Chút nữa có mấy ông trong nhà thờ đến, cô cứ để cho họ vào nghe!”

Không tới 30 phút sau, thầy giáo Hiền, thư ký Hội Thánh và bốn ông trong Ban Trị Sự Hội Thánh Tin Lành Bến Tre đã tới.  Tất cả đứng quanh giường bịnh, thầy Truyền đạo mở Kinh Thánh đọc trong thư Gia-cơ 5:14,15: “Trong anh em có ai đau ốm chăng? Hãy mời các trưởng lão Hội Thánh đến, sau khi nhơn danh Chúa xức dầu cho người bịnh, đoạn các trưởng lão hãy cầu nguyện cho người. Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu người bịnh, Chúa sẽ đỡ kẻ ấy dậy, nếu kẻ bịnh có phạm tội, cũng sẽ được tha.”

Đọc xong, thầy Truyền đạo rút trong túi ra một chai dầu Cao Thiên, lấy tay xức trên trán thím Sáu, rồi cầu nguyện.  Thầy trước hết cám ơn Chúa đã cứu gia đình chú thím Sáu, đã ban ơn nhiều cho gia đình này trong bao năm qua.  Nhưng thầy tin rằng trong khi Chúa ban phước, Ngài cũng có thể cho phép gia đình chú thím gặp thử thách mà thầy tin rằng nếu chú thím nhờ Chúa giữ vững đức tin thì sẽ càng lớn hơn nữa trên diện tâm linh.  Thầy Truyền đạo công nhận việc cháu Út Tấn bị té gãy tay và thím Sáu bị đứt gân máu cùng trong một tuần lễ không phải là việc ngẫu nhiên, nhưng là sự thử thách Chúa cho phép xảy ra.

Sau khi cầu nguyện, thầy Truyền đạo ra ngoài gặp lại bác sĩ Công.  Dặn dò vài câu, sau đó thầy và mấy người kia ra về.  Chú Sáu ngồi lại trong phòng bịnh nhìn lên trần nhà một cách đăm chiêu.  Chú mở Kinh Thánh ra đọc lại chỗ mà thầy Truyền đạo đã đọc hồi nãy.  Mấy chữ “nếu kẻ bịnh có phạm tội, cũng sẽ được tha” đột nhiên đập mạnh vào mắt chú.  Chú miên man suy nghĩ chú hay thím có phạm tội gì không mà Chúa cho gặp thử thách nặng nề như vậy.  Đang lục lọi và nhớ lại, thì bỗng nhiên chú nghe thím trở mình.  Chú đứng dậy lại gần thì thấy dường như miệng của thím bớt méo.  Chú cũng giật mình khi nghe thím hỏi một cách thì thầm: “Mình à! Tôi nằm đây bao lâu rồi?” Chú Sáu không trả lời nhưng la to lên: “Bác sĩ Công, bác sĩ Công! Nhà tôi nói được rồi!”

Nghe tiếng chú Sáu la, cô y tá vội vàng chạy vào.  Nghe thím Sáu hỏi lại lần nữa, cô y tá cười: “Chèng ơi, giờ này mới nghe thím nói! Từ hồi khuya hôm qua đến nay thím làm người ta hết hồn!”  Chú Sáu lại gần giường nói: “Mình mới vô đây hồi gần sáng thôi mà!  Thấy mình á khẩu tôi lo quá.  Cám ơn Chúa đã cho mình bớt rồi đó!”

Lúc ấy bác sĩ Công trở lại nhà thương.  Nghe cô y tá báo cáo, bác sĩ Công cười: “Tôi chích ngay hai mũi thuốc thế mà hiệu nghiệm rồi đó.  Cũng may là chưa đến nỗi gì.  Thôi cô làm thủ tục cho thím Sáu ngày mai về nhà nằm dưỡng bịnh.”

Chú Sáu kêu chiếc xích lô chở thím về nhà khoảng 11 giờ rưỡi trưa hôm sau.  Vô tới nhà thì đã thấy bà con lối xóm và một số anh chị em trong Hội Thánh đứng chật cả nhà rồi.  Thằng Út tay còn băng bột chạy ra mếu máo: “Má, má, má có sao không má?”  Chú Sáu xoa đầu thằng con út và nói: “Không sao đâu con, má mày đỡ lắm rồi, bác sĩ cho về nhà liền.  Nhưng để yên cho má nghỉ nghe!”

Tối hôm đó, sau khi mọi người đã ra về, và thím Sáu đã ngủ thiếp rồi, chú Sáu vẫn còn suy nghĩ mãi.  Chú phân vân không hiểu hai mũi thuốc của bác sĩ Công hay lời cầu nguyện của thầy Truyền đạo đã làm cho thím thoát khỏi bán thân bất toại.  Nhưng rồi chú tự nhủ là dù thuốc hay đi nữa, thì cũng là Chúa cho con người khôn ngoan để tìm ra thuốc.  Chú tin rằng Chúa đã nghe lời cầu nguyện của thầy Truyền đạo, của chú, của các anh em trong Hội Thánh mà chữa lành thím một cách quá mau.  Chú Sáu quì gối xuống bên cạnh giường cầu nguyện tạ ơn Chúa.

Chúa Nhật tiếp theo đó, chị Tư Ngọc tình nguyện ở nhà coi chừng thím Sáu để chú và sấp nhỏ đi nhà thờ.  Nhóm họp xong, chú về nhà ngay.  Thím Sáu đang nằm được chị Tư Ngọc đút cháo.  Chú xuống bếp lục cơm ra rồi mấy cha con ngồi ăn.  Chị Tư Ngọc hàng xóm thật tinh ý, chị đã nấu xẵn một nồi thịt kho tàu cho cha con chú Sáu.

Thím Sáu dưỡng bịnh không tới ba tuần đã phục sức.  Thím đòi ra chợ bán gà trở lại, nhưng chú gạt đi: “Thôi bà cứ tĩnh dưỡng cho thật khỏe đã.  Gà vịt bán hay không bán không sao đâu.  Bà Bảy Trầm đã ra ngồi sạp thế cho bà cả tuần nay rồi.  Không chừng sang luôn sạp gà vịt cho bà ta cho rồi!”  Thím Sáu vừa bới đầu tóc vừa nhăn mặt: “Không được đâu, để rồi tôi tính lại đã.  Ông biết chuyện buôn bán của tôi ra sao đâu mà quyết định ngon lành vậy!”

Buổi chiều hôm đó, chú thím Sáu nhận được thư của ông Mục sư, cựu Chủ tọa Hội Thánh Bến Tre.  Bức thư đóng dấu bưu điện Mỹ mà thằng Tấn đánh vần mãi vẫn không đọc được.  Chú Sáu xé thơ ra và đọc cho cả nhà nghe:

Wheaton, ngày 17 tháng 5…

Chú thím Sáu và các em Liên, Hòa và Tấn…

Thầy Truyền đạo Chủ tọa có viết thư cho tôi hay thím bị đứt gân máu và cháu Tấn bị gãy tay.  Tôi và nhà tôi đã cầu nguyện cho gia đình chú thím rất nhiều.  Tôi tin chắc Chúa đã chữa lành cho thím và cháu Tấn.  Từ ngày rời Hội Thánh Bến Tre lên Sài-gòn chuẩn bị sang đây du học, không bao giờ tôi quên được hình ảnh của gia đình chú thím.  Chú thím biết không? Chú thím là phần thưởng quí báu nhất mà Chúa ban cho tôi trong suốt hơn 10 năm hầu việc Chúa tại Bến Tre.  Vợ chồng tôi sang đây đã được gần 2 năm rồi.  Chúng tôi chỉ được đem theo cháu nhỏ, còn cháu lớn phải ở nhà nhờ bà ngoại cháu trông coi.  Chúng tôi nhớ cháu lắm, và cũng nhớ các cháu Liên, Hòa, và Út Tấn của chú thím.  Chúng tôi chỉ còn học thêm khoảng hơn một năm thôi rồi về nước.  Nếu không có gì thay đổi, tôi sẽ được ra Nha Trang dạy Thần Học Viện.  Bên này, học hành cũng cực nhọc lắm, chú thím Sáu ơi! Ngoài việc học, cả hai chúng tôi phải đi làm việc thêm mới đủ tiêu dùng, vì học bổng Giáo hội cấp không đủ.  Tôi phải đứng bán bánh ngọt còn nhà tôi thì nấu bếp trong một tiệm ăn.  Mỗi lần đi nhà thờ, ngồi trong phòng máy lạnh thoải mái, nghe các ca đoàn bên này hát thật hay, nhưng tôi vẫn nhớ nhà thờ Bến Tre của mình.  Dù nóng nực, nhưng những giờ phút hát thánh ca bằng tiếng mẹ đẻ sao mà thấm thía quá!  Tôi cũng không bao giờ quên được sau mỗi lần nhóm họp, các anh chị em tín hữu đem cho chúng tôi, người thì trái bầu, kẻ thì con vịt… thật tình người bên nước mình thân mật và đẹp đẽ quá!  Bên này, ra khỏi nhà thờ bắt tay nhau xã giao rồi mọi người ai lên xe hơi về nhà nấy, nhất là mình người ngoại quốc cảm thấy lạnh lẽo cô đơn lắm!  À quên, vợ chồng chúng tôi cũng sắm được một chiếc xe hơi cũ, chú thím đừng ngạc nhiên nhé, vì bên này không có xe hơi kể như cụt chân.  Chiếc xe cũ này giá chỉ 300 mỹ kim thôi, của một người bạn trong trường bán lại, chạy còn tốt lắm!  Nhà tôi nhát như cáy nhưng cũng đã tập lái xe được rồi.  Chú lúc này làm ăn ra sao?  Tiệm đồng hồ của chú chắc chắn lúc nào cũng đông khách, phải không? Cầu Chúa ban cho chú thím phước hạnh tươi mới mỗi ngày… À quên, tôi có lời đặc biệt khen chú đã hợp tác chặt chẽ với thầy Truyền đạo Chủ tọa Hội Thánh trong việc làm chứng đạo hằng tuần đưa nhiều người trở về với Chúa.  Tôi vẫn còn nhớ nếu tôi không đi chứng đạo và phát sách cho chú hồi chú còn làm việc cho hiệu Minh Ký, thì biết đâu giờ này chú vẫn chưa tin Chúa?…

Chú Sáu đọc đến đây thì im bặt.  Lần đầu tiên, mấy đứa con thấy chú khóc.  Chú để bức thư xuống bàn, đi vào bên trong phòng ngủ.  Đóng cửa phòng lại, chú quì gối cầu nguyện cho ông bà Mục sư, người cha tinh thần của chú.  Chú nhìn lại quãng đường quá khứ và chỉ biết dâng lên Chúa lời cám ơn.  Chú cảm thấy việc thằng Tấn bị lọi tay, thím Sáu bị đứt gân máu thật không có gì so sánh được với phước hạnh mà cả gia đình chú nhận được từ nơi Chúa.

Chú Sáu thức dậy lúc trời còn mờ mờ.  Bước ra ngoài sân sau, chú thấy người ta đã gồng gánh ra chợ bắt đầu một ngày mới.  Một con gà trống cất tiếng gáy một cách lẻ loi.  Chú Ba bán xe nước đá ở cạnh nhà chị Tư Ngọc đã ì ạch đẩy chiếc xe ra ngoài đường cái. Chú Sáu chậm rãi quay vào nhà để chuẩn bị xuống tiệm sửa đồng hồ.  Chú không quên đem theo tờ Thánh Kinh Báo để đọc vào lúc nghỉ trưa.  Chú thấy có bài “Thử Thách” nhưng cả tuần nay quá bận rộn chưa kịp đọc.

Hoàng Bá
Thoảng Niềm Thương Nhớ 
California, 2006

Thư Viện Tin Lành (2021)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top