Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Truyện Ngắn: Ngàn Năm Chưa Dễ

Truyện Ngắn: Ngàn Năm Chưa Dễ

 

Ngàn Năm Chưa Dễ

Khi Liên bước vào chiếc xe Peugeot cũ của bác Tư Lâm từ Đa-kao chạy về hướng phi trường Tân Sơn Nhất thì trời đã gần tối.  Cùng với người bác ruột và người chị họ tên là Hồng, Liên ra đi với tâm trạng vô cùng hoang mang và mất mát.  Buổi sáng hôm ấy, khi những quả đại pháo đầu tiên rót vào Thủ Thiêm, Liên muốn trở về Bến Tre ngay với cha mẹ và hai em, nhưng bác Tư Lâm cản: “Cháu ạ, tình hình lộn xộn lắm rồi.  Bác không chắc quãng đường từ đây về Bến Tre an toàn đâu!  Thôi thì ba má cháu đã gởi cháu lên đây ăn học, bác phải chịu trách nhiệm bảo vệ cháu trong hoàn cảnh nguy biến này.  Bác đi đâu thì cháu phải đi theo, thế nào rồi cũng có ngày gặp lại ba má cháu và các em.”  Cố giữ can đảm cho khỏi khóc, nhưng cả người Liên bấn loạn và gan ruột rối như tơ vò.  Liên biết giờ này ba má của Liên là chú thím Sáu ở Bến Tre cũng hoảng hốt vì không biết số phận của đứa con gái lớn ở Sài-gòn ra sao!

Trước đó mấy ngày, bác Tư Lâm đã nói cho Liên biết rằng bác quen lớn với ông Hùng, một người bạn thân trước kia cùng làm hãng tàu buôn với bác, nhưng bây giờ làm thông ngôn cho cơ quan DAO của Mỹ trong phi trường Tân Sơn Nhất.  Ông Hùng hứa với bác Tư Lâm là thế nào ông cũng xin được mấy chỗ trên máy bay Mỹ để đưa gia đình bác Tư Lâm di tản ra khỏi nước trước khi Sài-gòn mất.

Khi đài FM của Mỹ tại Sài-gòn bỗng nhiên phát đi phát lại bản nhạc “White Christmas” (Mùa Noel Tuyết Trắng) vào tuần lễ cuối tháng Tư, thì ông Hùng báo ngay cho bác Tư Lâm biết đó là mật hiệu của cuộc di tản kiều dân Mỹ và người Việt Nam làm việc cho các cơ quan Mỹ bắt đầu.  Ông Hùng hẹn chiều thứ Năm lúc 6 giờ rưỡi, bác Tư Lâm phải tìm đủ mọi cách đưa gia đình vào trong văn phòng DAO để chuẩn bị ra đi.

Bác Tư Lâm dẫn hai đứa cháu đến trước văn phòng DAO thì đã thấy ông Hùng đứng đợi đó rồi.  Tại đây, Liên thấy một số lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ cầm súng bố trí và không khí hết sức căng thẳng.  Ông Hùng nói với bác Tư Lâm: “Tốt quá, anh và hai cháu đến đúng giờ!  Tôi đã làm giấy tờ xong cả rồi.  Có lẽ chừng hai tiếng đồng hồ nữa là họ cho mình đi.”  Bác Tư Lâm nhăn mặt: “Đáng lẽ tôi đến đây sớm hơn, nhưng bị chận ở cổng phi trường.  Năn nỉ mãi với mấy ông Quân Cảnh và phải đút lót năm chục ngàn mới được vào đó!”  Ông Hùng nhún vai tỏ vẻ thông cảm rồi kéo bác Tư Lâm ra một góc và hai người thì thầm với nhau một lúc lâu.  Trời bắt đầu tối.  Ông Hùng bảo ba bác cháu đứng chờ, rồi đi vòng ra phía sau dãy nhà dài phía trước.  Chưa đây 15 phút sau, ông ta trở lại với một gói bánh Pa-tê-sô và mấy lon Coca-cola.  Ông ta bảo bác Tư: “Anh và hai cháu ăn sơ sơ một chút đi!  Biết đâu mình chưa đi được tối nay”

Liên và chị Hồng ngồi bệt xuống trước thềm của dãy văn phòng DAO.  Bác Tư Lâm và ông Hùng lại tiếp tục thì thầm.  Cầm miếng bánh trên tay nhưng Liên không thấy đói dù từ trưa đến giờ, chưa có hột cơm nào vô bụng cả.  Chị Hồng cũng không ăn nhưng mở lon Coca ra uống.  Chị nói vẩn vơ: “Chà, không hiểu ông Hùng mua ở đâu mà Coca còn lạnh.”  Chị Hồng chưa uống xong lon Coca thì từ đàng xa có mấy chiếc xe buýt Mỹ chạy tới, trên xe đổ xuống khoảng hơn 100 người, hầu hết là người Việt, chỉ loáng thoáng năm mười người Mỹ mà thôi.  Liên thấy vài người mặc áo bốn túi có đeo huy hiệu Press (Báo Chí).  Đám người này cũng ngồi xuống dọc theo thềm văn phòng DAO, mặt người nào người nấy đều có vẻ ngơ ngác và lo lắng.

Ngay lúc ấy, Liên thấy một người Mỹ mặc áo sơ mi ngắn tay từ trong văn phòng DAO mở cửa bước ra, cầm trong tay một xấp giấy.  Ông ta nói gì đó với ông Hùng, và ông Hùng quay lại nói lớn: “Xin tất cả mọi người yên lặng và nghe đọc tên.  Ai có mặt xin trả lời có và bước ra đằng sau lưng tôi.”  Liên đứng dậy và cùng với mọi người im lặng.  Sau khi điểm danh, ông Hùng nói thiếu ba người của đài truyền hình NBC.  Mọi người đang lao nhao, thì ông Hùng và người Mỹ bảo tất cả lên xe.  Bốn chiếc xe buýt quay đầu chạy ra phi đạo, tại đây đã thấy hai chiếc máy bay nhà binh Mỹ thật lớn còn nổ máy đứng chờ, và cánh cửa lớn sau đuôi đã hạ xuống.  Mọi người được lệnh lên máy bay ngay.

Bác Tư Lâm nắm tay Liên và chị Hồng chạy lên chiếc máy bay thứ hai.  Liên quay lại thì thấy ông Hùng không đi, nhưng cùng với người Mỹ đứng cạnh xe buýt vẫy tay chào từ biệt.  Liên bước vào máy bay và có cảm tưởng như sẽ không bao giờ trở lại quê hương nữa.  Liên thấy cay mắt nhưng cố giữ can đảm không khóc.  Liên nghĩ đến chú thím Sáu, con Hòa và thằng Út Tấn, có lẽ giờ này đang chụm lại trong phòng ăn nghe tin tức của đài BBC.  Hình ảnh của Cảnh, người yêu của Liên cũng hiện ra trong đầu Liên.  Từ hai ba tuần nay, vì bị cấm trại liên miên nên Cảnh không về phép được.  Cảnh vừa tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy và mới đổi về làm việc tại một đơn vị Thiết giáp đóng gần Biên Hòa.

Cánh cửa đàng sau máy bay đóng sập lại, và người lính Mỹ đứng phía sau nói một tràng tiếng Mỹ mà Liên chỉ hiểu đại khái là ông ta yêu cầu mọi người ngồi xuống sàn máy bay.  Đây là loại máy bay vận tải, chỉ có hai dãy ghế bằng dây dù dọc theo thân máy bay mà thôi, không có ghế ngang như máy bay dân sự.  Khi máy bay bắt đầu bay lên, Liên thấy mọi người cúi đầu và dường như có người đọc kinh cầu nguyện.

Máy bay rời phi trường Tân Sơn Nhất chừng nửa tiếng, mọi người mới đầu hỏi chuyện nhau.  Qua vài ba câu Liên mới biết toán người trên hai chiếc máy bay này là nhân viên Việt Nam và Phi Luật Tân làm cho báo chí và các hãng thông tấn, truyền hình Mỹ.  Họ được Tòa Đại Sứ Mỹ cho di tản cùng với gia đình.  Có lẽ bác Tư Lâm, chị Hồng và Liên là ba người duy nhất không nằm trong nhóm này mà thôi.  Liên kín miệng không nói cho mấy người ngồi gần biết ai đã giúp cho Liên được di tản.

Máy bay khoảng 2 giờ đồng hồ thì chuẩn bị hạ cánh.  Liên không biết máy bay đáp xuống đâu, vì người thì nói đảo Guam, kẻ thì nói Phi Luật Tân.  Khi máy bay dừng lại, mọi người bước ra thì Liên đoán đúng vì thấp thoáng đàng xa, Liên đọc được máy chữ “Clark Air Base” trên tấm bảng lớn trước một dãy nhà sơn trắng lợp tôn.

Bác Tư Lâm, chị Hồng, và Liên được một đàn bà Mỹ mặc áo trắng mang dấu hiệu Hồng Thập Tự tươi cười hướng dẫn vào một căn phòng rất rộng, đèn điện sáng trưng.  Tại đây, Liên thấy mấy em học sinh Mỹ, trắng có đen có, đi vào đem nước ngọt và bánh bích quy lạt mời mọi người ăn.  Một vài người Việt Nam hỏi chuyện mới biết các em là con của các quân nhân Mỹ trong căn cứ được huy động ra đón người Việt tỵ nạn.

Liên nhìn lên đồng hồ treo trên tường thì thấy đã 11 giờ đêm, nhưng đồng hồ của Liên thì mới 10 giờ.  Có lẽ giờ Phi Luật Tân đi trước chăng?  Đang phân vân, Liên nghe bác Tư Lâm gọi: “Liên, Hồng! Đi theo bác ra làm giấy tờ!” Bác Tư kéo cả hai ra phía ngoài, sắp hàng trước một dãy bàn dài.  Sau khi đọc tên cho người đàn bà Mỹ dò trong bản danh sách xong, mỗi người được cấp một xấp thẻ ăn câu lạc bộ, riêng bác Tư Lâm thì có thêm một tờ giấy vàng chỉ chỗ ở cho bác và hai đứa cháu.  Một người Phi Luật Tân chỉ cho bác Tư biết cách lên xe buýt đến câu lạc bộ để ăn tối, dù đã gần nửa đêm rồi.  Lúc ấy Liên mới cảm thấy đói nên khi cầm khay đồ ăn, Liên chọn ngay mấy miếng thịt gà chiên, vài lát bánh mì, và một ly sữa.  Chưa lúc nào, Liên ăn ngon như hôm ấy mặc dù không có cơm.

Liên theo bác Tư Lâm và chị Hồng ra khỏi câu lạc bộ và được dẫn đến một dãy nhà dài có mái tôn tròn.  Vào bên trong, Liên thấy từng dãy giường nhà binh trải nệm trắng tinh và thẳng nếp.  Cùng với nhiều gia đình người tỵ nạn khác, đa số là người lớn, mỗi người được chia một giường để ngủ tạm đêm hôm đó.  Dường như những gia đình có con nhỏ được đưa đến dãy nhà khác thì phải.  Liên lên giường thì đã gần 2 giờ sáng.

Khi Liên thức dậy thì mặt trời đã lên cao.  Bác Tư Lâm đã dậy từ hồi nào và đang nói chuyện với chị Hồng.  Chị Hồng quay lại nói với Liên: “Em đi rửa mặt rồi đi ăn sáng!”  Lại sắp hàng dài trước câu lạc bộ như tối hôm qua, nhưng sáng nay, Liên được ăn trứng chiên, bánh mì nướng, và uống sô-cô-la nóng.

Khoảng gần trưa hôm sau, có người đến từng phòng bảo mọi người xuống rạp chiếu bóng trong căn cứ, nơi được tạm thời xử dụng làm văn phòng di trú của Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Phi Luật Tân, để làm giấy.  Sau khi điền mấy mẫu đơn, lăn tay, chụp hình, ba bác cháu được lệnh về phòng mang đồ đạc ra sân bay ngay để chuẩn bị đi qua đảo Guam.  Cũng như mọi người khác, bác Tư Lâm không ngờ lại được đi sớm như vậy.  Bác Tư nói cho chị Hồng và Liên biết Guam là một hòn đảo thuộc quyền quản trị của Mỹ và có nhiều cơ sở quân sự tại đó.  Trước đây, trong thời gian làm thủy thủ trên tàu buôn của Pháp, bác Tư Lâm từng ghé đảo Guam một vài lần.

Máy bay bay rất lâu, Liên không biết là mấy giờ nhưng ít nhất cũng phải 5 tiếng đồng hồ.  Đến căn cứ không quân Anderson vào lúc hơn 7 giờ tối, Liên và đoàn người di tản được hướng dẫn lên xe buýt chạy vào thành phố.  Vì quá mệt nên Liên ngủ thiếp trên xe.  Khi chị Hồng đánh thức Liên dậy, thì chiếc xe buýt đang chạy vào một trại lính.  Liên ra khỏi xe buýt và được một thanh niên ngồi bên cạnh cho biết đây là Trại Thủy Quân Lục Chiến Asan bỏ hoang từ lâu và nay được tạm thời xử dụng làm trạm tạm cư cho người tỵ nạn Việt Nam.  Tại đây ba bác cháu được phát mỗi người hai cái mềm nhà binh và được chia cho một căn phòng nhỏ trên lầu để tạm trú.

Khi chị Hồng và Liên lúi húi trải mền chuẩn bị ngủ, thì bác Tư Lâm gợi chuyện với một gia đình ở phòng kế cận.  Liên nghe người bên kia cho biết là tại Sài-gòn trưa hôm nay, Tổng Thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng.  Thế là Liên đã mất tất cả, mất quê hương, mất cha mẹ anh em, mất Cảnh!  Liên không cầm giữ được nữa, nằm quay mặt vào vách thút thít khóc như một đứa trẻ…

Mười ngày ở tại trại tỵ nạn Asan Guam thật chán.  Liên không biết làm gì hơn ngoài việc mỗi ngày ba lần sắp hàng đi ăn.  Mấy ngày đầu mới thật là thảm.  Lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nấu cơm sống nhăn răng, bà con tỵ nạn phàn nàn mãi.  Qua ngày thứ ba, ông Đại Tá chỉ huy trưởng căn cứ cho thành lập một điều hành gồm tất cả là người Việt để lo mọi công tác như nấu ăn, phân phát đồ dùng cho từng dãy trại.  Từ đó, cơm mới chín và mới có canh có cá, và nhất là có xì dầu.

Ngày nào cũng có thêm người tỵ nạn đổ tới.  Liên đoán chừng ít nhất trong trại Asan cũng phải tới vài ngàn người.  Các dãy nhà trở nên chật chội hơn, và không khí bắt đầu ngột ngạt.  Một vài người cho hay ở đây tuy vậy mà còn khá hơn những người ở khu lều vải tại Orote Point, vừa nóng vừa bị muỗi cắn.

Sáng Chúa Nhật đầu tiên tại trại tỵ nạn Asan, Liên nghe trên loa phóng thanh loan báo cho biết có lễ cho tín đồ Công giáo tại phòng số 8 vào lúc 9 giờ, và tín đồ Tin Lành vào lúc 11 giờ, do các Tuyên Úy Mỹ phụ trách.  Liên và chị Hồng đến phòng số 8 thì gặp một số con cái Chúa thuộc các Hội Thánh trong vùng Sài-gòn, như Trương Minh Giảng, Khánh Hội, Gia Định và Nguyễn Tri Phương.  Mục sư Tuyên úy Mỹ là một người cao lớn mang cấp bậc Trung tá Hải quân vui vẻ chào mừng mọi người và giới thiệu Mục sư Hoàng, cũng là một người tỵ nạn, sẽ phụ trách sinh hoạt Tin Lành cho người tỵ nạn.  Buổi thờ phượng hôm đó có chừng trên 60 người dự.  Mục sư Hoàng đã giảng một bài ngắn mà Liên còn nhớ mãi.  Mục sư đã dựa vào sách Ha-ba-cúc ngày xưa chất vấn Chúa khi dân tộc Do-thái của ông bị người Ba-by-lôn xâm lăng và hành hạ.  Nhưng sau khi nghe Chúa trả lời là Ngài dùng người Ba-by-lôn để sửa trị con dân Ngài, nhà tiên tri Ha-ba-cúc đã thuận phục ý Chúa và hát: “Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, và sẽ không có trái trên những cành nho.  Cây ô-li-ve không sinh sản, và chẳng có ruộng nào sinh ra đồ ăn.  Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràng, và không có bầy bò trong chuồng nữa.  Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi.  Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi.  Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu, khiến tôi đi trên các nơi cao của mình” (Ha-ba-cúc 3:17-19).  Mục sư Hoàng nói đến tinh thần cảm tạ Chúa và tôn vinh Chúa không tùy thuộc vào hoàn cảnh, nhưng tùy thuộc vào lòng tin cậy Chúa của con dân Ngài.  Một cụ già đứng dậy cầu nguyện sau bài giảng.  Cụ xưng tội với Chúa là từ khi chạy loạn từ Đà Nẵng vào đến Sài-gòn, và từ Sài-gòn chạy đến đây, cụ đã oán trách Chúa nhiều lần, và mất đi lòng kính sợ Chúa.  Nhiều người khóc nhưng Liên cảm thấy như được sức lực mới từ nơi Chúa.  Những mất mát còn đó, nỗi nhớ thương cha mẹ anh em còn đó, và tương lai là những ngày vô định không biết sẽ như thế nào, nhưng Liên đã nắm được bí quyết tuyệt đối tin cậy Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.  Những gì mà Liên đã nghe giảng tại nhà thờ, đã học được trong những giờ nghiên cứu Thánh Kinh bấy lâu nay trên lý thuyết, bây giờ mới là lúc đem ra áp dụng.  Ra khỏi phòng nhóm, Liên hớn hở như ngày nào ra khỏi nhà thờ Tin Lành Bến Tre hay Trương Minh Giảng trước đây…

Ra khỏi khu nhà thờ Tin Lành Bến Tre, sau khi nói chuyện khá lâu với Mục sư Nhu, Chú Sáu quyết định phải đi Sài-gòn để đem Liên về.  Nhưng ra bến xe, chú mới biết không có xe đò đi Sài-gòn nữa. Nóng ruột, chú đạp xe đến nhà Chín Sang, tài xế xe đò Lục Tỉnh, để hỏi thử có cách nào đi Sài-gòn không, thì Chín Sang lắc đầu: “Bộ chú không nghe Tiểu Khu đã ra lệnh giới nghiêm rồi sao?  Thằng em tôi gác trong dinh Tỉnh Trưởng cho biết ông Đại tá Tiểu Khu Trưởng mới nhận được lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV bảo miền Tây phải cố thủ, dù Sài-gòn mất đi nữa.  Nói là nói vậy, nhưng tôi thấy mọi người vô cùng hoang mang và lính tráng mất tinh thần nhiều rồi.”

Chú Sáu thất thểu ra về.  Vừa thấy chú bước vào nhà, thím Sáu khóc òa lên: “Thằng Còn cháu ông Tư Kha mới từ Sài-gòn chạy về cho biết nó có ghé nhà anh Tư Lâm, nhưng thấy nhà đóng kín cửa, tối thui, dường như anh Tư đã đem con Liên đi đâu mất rồi mình ơi!”  Chú Sáu hốt hoảng: “Nó đâu rồi?  Thằng Còn đâu rồi? Tôi muốn hỏi kỹ coi thử nó có biết anh Tư đi đâu không?  Hay là ảnh chạy về đây mà chưa tới?”  Thím Sáu quẹt nước mắt trả lời: “Tôi đã hỏi đi hỏi lại rồi nhưng nó không biết gì hơn nữa đâu!”  Chú Sáu ngồi thừ xuống ghế mặt mày hốc hác như mới đau dậy.  Thằng Út Tấn bỗng từ phía ngoài vào nó to: “Ba vặn đài BBC xem thử có gì lạ không ba?”  Chú Sáu gật đầu: “Ừ, mày vào phòng ngủ mang cái radio ra đây!”

Bản tin tối hôm đó của đài BBC cho biết khá đông người Mỹ và Việt nam đã di tản qua căn cứ Clark của Mỹ ở Phi Luật Tân, mặc dù người phát ngôn của Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài-gòn không chịu xác nhận mà cũng không phủ nhận tin này.  Chú Sáu buột miệng nói: “Hay là anh Tư dẫn con Liên di tản rồi?  Anh Tư nhà mình quen lớn nhiều người lắm!  Biết đâu ảnh được người Mỹ cho di tản?”  Thím Sáu khóc to hơn: “Anh Tư dẫn nó đi kiểu này thì biết bao giờ mình gặp lại nó?”  Chú Sáu nhăn mặt: “Bà làm cái gì mà khóc to quá vậy?  Mình đã chắc anh Tư dẫn con Liên đi ngoại quốc đâu?  Thôi bà bình tĩnh đi!  Mấy đứa lấy Kinh Thánh ra cầu nguyện gia đình lễ bái cái đã!

Chú Sáu mở Kinh Thánh đọc cho cả nhà nghe mấy câu trong thơ I Phi-e-rơ 5:7-9 “Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Chúa, vì Ngài hay săn sóc anh em.  Hãy tiết độ và tỉnh thức, kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được.  Hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự nó, vì biết rằng anh em mình ở rải khắp thế gian cũng đồng chịu hoạn nạn như mình.”  Chú Sáu cầu nguyện xin Chúa gìn giữ gia đình chú, gìn giữ con Liên, và cho con cái Chúa tại Bến Tre hết lòng tin cậy Chúa dù phải sống trong hoàn cảnh khó khăn khốn khổ đến đâu.

Khi thím Sáu và con Hòa, thằng Út đã vào phòng ngủ rồi, chú Sáu tắt đèn nhưng ngồi yên lặng nhìn ra phía trước sân.  Chú suy nghĩ thật nhiều đến đứa con gái lớn mà chú rất hãnh diện.  Xuất thân là một người nghèo khổ ít học, chú muốn cho con cái dù trai hay gái cũng phải được học hành đến nơi đến chốn.  Chú cám ơn Chúa vì kể từ khi tin nhận Chúa đến nay, Chúa đã ban phước cho gia đình Chú rất nhiều.  Tiệm sửa đồng hồ của chú làm ăn rất phát đạt.  Thím Sáu dù gặp mấy lần đau yếu, nhưng sạp gà vịt ngoài chợ Châu Thành lúc nào cũng đắt hàng.  Chú mua được một căn nhà khá rộng rãi, và dâng hiến tiền bạc đều đặn cho Hội Thánh Tin Lành Bến Tre.  Mấy đứa con chú đứa nào cũng ngoan ngoãn và yêu mến Chúa, nhất là con Liên.  Năm ngoái, khi con Liên thi đậu tú tài I, chú vô cùng hãnh diện.  Chú đã để dành tiền bạc chuẩn bị cho con ăn học, nên đã gởi ngay con Liên lên Sài-gòn ở nhà bác Tư Lâm, anh ruột chú, để học lớp đệ Nhất tại trường Gia Long.  Chú cũng an tâm khi nghe Liên sinh hoạt với Hội Thánh Tin Lành Trương Minh Giảng.  Chú cũng rất hài lòng về mối tình giữa con Liên và Cảnh, một thanh niên từ Hội Thánh Trương Minh Giảng đổi xuống làm việc tại Ty Nông Nghiệp Bến Tre trước đây, nhưng sau đó đã bị động viên theo học Sĩ quan trừ bị ở Thủ Đức.  Chú định cho con Liên học xong Đại Học Sư Phạm mới cho cưới…

Đang suy nghĩ miên man, thì chú nghe tiếng chân người chạy thình thịch ngoài đường.  Chú nhìn kỹ thì không phải lính Cộng Hòa hay Dân vệ mà một toán người đội nón cối.  Hoảng hốt, chú Sáu vội đóng cửa sổ lại, và vào phòng kề tai nói với thím Sáu: “Mình ơi, dường như Việt Cộng đã chiếm Bến Tre rồi!”  Thím Sáu giật mình ngồi dậy: “Sao mình biết?”  Chú Sáu trả lời: “Tôi thấy họ đang bố trí ngoài đường trước cổng nhà mình rồi!”  Thím Sáu mặt mày xám ngắt miệng lưỡi líu lại: “Làm sao bây giờ mình?  Chạy đâu bây giờ?”  Chú Sáu lắc đầu: “Chạy sao được nữa?  Mà chạy đi đâu?  Thôi thì ai sao mình vậy, cứ chờ đến sáng xem sao!”

Chú lên giường nhưng không thể nào ngủ được.  Nằm bên cạnh, thím Sáu cũng thao thức mãi.  Hai vợ chồng không nói gì thêm nữa.  Chiếc đồng hồ treo tường dõng dạc gõ 3 tiếng làm cả hai chú thím đều giật mình.  Chú lẩm bẩm: “Gần sáng rồi!  Thôi ráng ngủ một chút đi mình!”  Chú nhắm mắt và rồi thiếp đi hồi nào không hay…

Khi đơn vị thiết giáp của Cảnh được lệnh giải thể và các quân nhân muốn đâu thì đi, Cảnh về nhà một người bạn ở Bửu Hòa.  Ngày hôm sau, Cảnh thay quần áo dân sự và rời khỏi nhà người bạn về Sài-gòn.  Đi xe ôm về tới ngã ba Hàng Xanh thì Sài-gòn đã đổi chủ.  Cảnh ngơ ngác và thấy mọi người cũng ngơ ngác.  Người ta nhìn nhau với cặp mắt dè dặt và nghi kỵ.  Rác rến bừa bãi khắp nơi, và phố xá đều đóng cửa kín mít.  Một vài cửa hiệu bán hàng ăn mở cửa nhưng cũng không thấy bao nhiêu người ăn.  Chỉ mấy quán cóc là còn có người ra vào.

Đến ngã tư đường Hai Bà Trưng và Trần Quang Khải, Cảnh xuống xe đi bộ dọc theo hè phố về hướng Đa-kao.  Cảnh muốn ghé thăm Liên trước khi về nhà bố mẹ.  Đến cổng nhà bác Tư Lâm, Cảnh thấy cửa khóa.  Gõ cửa một hồi, Cảnh thấy chẳng ai trả lời cả.  Đang lưỡng lự thì một bà hàng xóm chạy qua nói nhỏ: “Bác Tư Lâm đã đem hai đứa cháu gái đi đâu mất bốn ngày nay rồi.”  Cảnh cũng hỏi nhỏ: “Bà biết bác Tư Lâm đi đâu không?  Có phải về Bến Tre không? Người hàng xóm lắc đầu: “Tôi không được rõ, nhưng chắc chắn không phải về Bến Tre đâu!  Mọi khi đi đâu, bác Tư thường nói cho tôi biết và nhờ tôi coi nhà dùm, nhưng lần này bác Tư đi mà không cho ai biết, kể cả tôi.”

Cảnh cảm ơn và ra đi sau khi khép cổng hàng rào lại.  Thấy một người chạy xe Honda đi ngang qua, Cảnh hỏi đi nhờ về chợ Bến Thành.  Người chạy xe có vẻ lưỡng lự nhưng rồi ngoắc tay bảo Cảnh leo lên phía sau.  Đến chợ Bến Thành, Cảnh móc tiền ra trả nhưng người ấy lắc đầu: “Không sao! Tôi cũng đi xuống ngã này.”  Cảnh cám ơn và đi bộ ngược lên đường Gia Long về nhà.

Phố xá xung quanh chợ Bến Thành và dọc theo đường Gia Long đều đóng cửa kín mít như mấy ngày Tết.  Hiệu giày Cự Phát của bố mẹ Cảnh nằm ở góc đường Gia Long và Trương Công Định cũng đóng cửa.  Cảnh lên tiếng gọi Tiến, thì nghe mấy đứa em trên lầu rầm rầm chạy xuống.  Cửa mở, Cảnh vừa bước vào là Hương, em gái Cảnh đóng cửa lại ngay.  Không ai reo mừng như mọi ngày mỗi lần Cảnh về phép.  Cảnh cũng yên lặng lên lầu, thì thấy bố Cảnh đã đứng sẵn ở đầu cầu thang.  Ông có vẻ bình tĩnh hỏi Cảnh: “Cảnh về đấy à!  Mẹ anh cứ ngồi lo mãi cho anh đấy!” Cảnh chào bố và bước vào phòng khách chào mẹ.  Tội nghiệp, bà cụ thấy Cảnh là rưng rưng nước mắt, lấy tay bảo Cảnh ngồi xuống: “Mấy ngày nay mẹ lo cho con quá! Nghe nói đánh lớn ngoài Bình Dương, mẹ cứ cầu Trời cho con được bằng an.  Con đã ăn uống gì chưa?  Để mẹ bảo Hương lấy bánh tây và giò chả ăn nhé!” Cảnh lắc đầu: “Thưa mẹ, con ăn ở nhà người bạn trước khi về, chưa thấy đói.”

Lúc ấy, Tiến mới chạy ra ngoắc Cảnh vào phòng ngủ và nói nhỏ: “Anh Cảnh tính sao bây giờ?  Cách đây năm ngày, chị Liên có nhắn được với Tiến bảo anh là chị Liên theo bác Tư Lâm di tản ra nước ngoài.  Chị ấy gởi lời từ biệt anh và cầu nguyện cho anh không gặp khó khăn với chế độ mới.  Chị ấy cũng không biết sẽ đi bao lâu, và mong gặp anh sau này.”  Cảnh ngồi thừ xuống chiếc ghế cạnh bàn học của em và lắc đầu: “Anh có ghé qua nhà ông Tư Lâm, nhưng cả nhà đã đi rồi.  Anh cũng chả biết làm gì bây giờ.  Anh tưởng cả nhà mình cũng di tản rồi chứ?”  Tiến thì thầm: “Em có nói với bố mẹ là tìm cách đi theo chú Nhân, nhưng bố mẹ cứ lưỡng lự và tiếc của nên trễ mất rồi!  Ông bà Hiến và ông bà Tài cạnh nhà mình đã di tản cả rồi.”

Cảnh không nói gì thêm và yên lặng đi lại gần cửa sổ ngó xuống đường.  Một chiếc xe Jeep xanh có gắn loa phóng thanh chạy chầm chậm dọc theo đường Gia Long kêu gọi đồng bào tham dự buổi họp chính trị từng khu phố tối nay, riêng các “sĩ quan ngụy” thì chuẩn bị trình diện đi học tập theo chính sách khoan hồng của nhà nước.  Cảnh lẩm bẩm: “Học với tập!  Thôi thì con chim đã vào lồng rồi, các chú muốn sao cũng được.

Cảnh thấy mệt và buồn ngủ, nên quay vào leo lên giường Tiến nằm xuống.  Toàn thân Cảnh như rã rời, và một cái mệt chán chường phủ ngập người Cảnh.  Bên ngoài, trời đã tối.  Cảnh nhắm mắt và tự dưng cảm thấy cô đơn và trống trải.  Cảnh linh cảm một tương lai vô cùng đen tối và rùng rợn sắp đến với mình.  Nhưng trong bóng tối dày đặc này, Cảnh chợt thấy hình ảnh của Liên đang yên lặng đi trên một quãng đường vắng vẻ.  Quãng đường rất xa lạ và bỗng nhiên biến thành một chiếc tàu chập chờn trên biển cả mênh mông.  Cảnh muốn gọi Liên nhưng miệng ú ớ không phát ra tiếng.  Liên không quay đầu lại mà vẫn lặng lẽ đi…

Hoàng Bá
Thoảng Niềm Thương Nhớ 
California, 2006

Thư Viện Tin Lành (2021)

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top