Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Giảng Luận » Từ Chết Đến Phục Sinh

Từ Chết Đến Phục Sinh

PalmCross

Từ Chết Đến Phục Sinh

Theo niên lịch Cơ Đốc giáo, khoảng 40 ngày trước Lễ Phục Sinh là Lễ Tro (Ash). Lễ Tro là ngày đầu tiên của Mùa Thống Hối (Lenten Season). Mùa Thống Hối sẽ chấm dứt vào ngày thứ Bảy trước Lễ Phục Sinh. Trong thời gian 40 ngày này (ngoại trừ các Chúa Nhật, vì Chúa Nhật là những lễ Phục Sinh nhỏ) các tôi tớ con cái Chúa thường kiêng ăn cầu nguyện, tự xét lấy mình, ăn năn, xưng tội và cầu xin Đức Thánh  Linh ban năng lực để sống đẹp lòng Chúa.

Mùa này các tôi tớ con cái Chúa ở một số Hội Thánh, nhất là người Đại Hàn, thường thức dậy sớm, đến nhà thờ để tĩnh tâm, sám hối và cầu nguyện trước khi đi làm.

Tuần lễ cuối cùng của Mùa Thống Hối là Tuần Thương Khó cũng gọi là Tuần Thánh. Tuần lễ này bắt đầu với Lễ Lá (Palm Sunday) nhắc ngày Chúa được nghênh rước vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn; rồi tiếp tục với Thứ Năm, ngày Chúa thiết lập Lễ Tiệc Thánh và Thứ Sáu, Chúa chịu đóng đinh trên thập giá để đến Chúa Nhật sống lại từ cõi chết. Đó cũng là ngày vui nhất của Cơ-đốc giáo, ngày Lễ Phục Sinh.

Có Chết Rồi Mới Có Phục Sinh

Một lẽ thật quan trọng chúng ta có thể khám phá ra trong mùa lễ này là Chúa phải chịu đau đớn khốn khổ và cuối cùng phải chết đi, rồi Ngài mới có thể phục sinh vinh hiển được.

Trong phương diện thuộc linh cũng vậy. Chúng ta phải chết đi rồi mới phục sinh được. Nhờ đức tin chúng ta đã chết và sống lại qua lễ báp-têm. Tại lễ báp-têm, chúng ta bước vào mầu nhiệm cùng chết và cùng sống lại với Chúa (Rô-ma 6:3-11). Muốn có một đời sống đắc thắng tràn đầy sức sống thiên thượng, bước tiên quyết là phải chết đi con người cũ hoặc bản tánh xác thịt của mình. Không có ngã tắt nào để bước vào ngưỡng cửa của quyền năng phục sinh ngoại trừ phải chết. Ngày nào chúng ta còn chưa lấy đức tin để cho con người cũ chết đi thì ngày đó chúng ta cũng chưa có thể sống với sức sống phục sinh được.

Trong cuộc đời theo Chúa, đôi khi Chúa cũng cho chúng ta phải kinh nghiệm qua những đau đớn thất vọng hoặc thất bại rồi mới có thể tìm thấy sung sướng vui mừng và thành công. Có những cuộc hôn nhân phải đến chỗ đổ vỡ rồi mới tìm thấy lại hạnh phúc thật. Có những Hội Thánh phải bị đóng cửa rồi mới kinh nghiệm được sự hồi sinh. Có những tôi tớ Chúa phải nghỉ chức vụ rồi mới có thể có một chức vụ kết quả.

Chúng ta đừng vội thất vọng hoặc lên án khi thấy công việc nhà Chúa dường như đang đổ vỡ. Vì từ những hài cốt khô Đức Chúa Trời cũng có thể dựng nên một đạo binh rất lớn và dũng mãnh (Ê-xê-chi-ên 37). Bấy giờ người ta sẽ không thể nói rằng nhờ tay mình mà công việc Chúa mới được như thế này thế kia, bèn là nhờ quyền năng của Thánh Linh Đức Chúa Trời hành động qua mình (Xa-cha-ri 4:6).

Chúa chúng ta đã dạy, “Nếu hột lúa mì kia chẳng chết sau khi gieo xuống đất thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều” (Giăng 12:24). Chết là cần thiết cho phục sinh. Phải có chết rồi mới có thể có phục sinh được.

Có Chúa Phục Sinh Có Đời Sống Đắc Thắng

Đây là lẽ thật thứ hai. Rõ ràng là bối cảnh xã hội và chính trị tại Pa-lét-tin không thay đổi gì trước và sau khi Chúa phục sinh. Người La Mã vẫn cai trị dân Do Thái. Giới lãnh đạo tôn giáo vẫn cộng tác với ngoại bang để củng cố chức vị và quyền hành. Những ai bất đồng ý kiến hay có tư tưởng chống đối đều bị chụp mũ là chống chính quyền và bị bắt bỏ tù ngay tức khắc. Hàng ngàn người đã bị xử đóng đinh.

Các môn đồ của Chúa Giê-xu phần nhiều là những người miền quê. Bản tính sợ người quyền thế vốn đã có sẵn trong dòng máu của những người quen bị trị. Lâu ngày họ hãnh diện vì thầy của mình thật là tài năng, làm những dấu kỳ phép lạ phi thường. Nhưng từ khi chính mắt họ nhìn thấy Chúa bị bắt rồi chịu tử hình trên thập tự giá, bao nhiêu niềm hãnh diện và mộng đẹp đều bị tan vỡ. Họ sợ bị liên lụy. Họ trốn tránh. Nhắc lại tình cảnh các môn đồ sau khi Chúa chịu chết, Thánh Giăng rất thành thật, “Buổi chiều nội ngày đó, là ngày thứ nhất trong tuần lễ, những cửa nơi các môn đồ ở đều đương đóng lại, vì sợ dân Giu-da” (Giăng 20:19). Sợ là bản tánh cố hữu của chúng ta.

Nhưng từ khi họ gặp được Chúa phục sinh, sự sợ hãi đó đã tan biến. Họ bắt đầu kinh nghiệm một đời sống đắc thắng. Ngày trước họ sợ bị bắt và bỏ tù; bây giờ bắt bớ và tù đày dường như không có nghĩa lý gì nữa. Ngày trước, nếu những nhà lãnh đạo trong dân quở trách, có lẽ họ đã im hơi lặng tiếng mà nghe, bất kể là đúng hay sai, nhưng bây giờ thì họ đã không ngần ngại hỏi lại rằng, “Chính các ông hãy suy xét. Trước mặt Đức Chúa Trời chúng tôi có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng? Vì về phần chúng tôi, chúng tôi không thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe” (Công vụ 4:19-20).

Họ đã kinh nghiệm được thế nào là “các ngươi sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng các ngươi” (Giăng 8:32). Chúa Giê-xu phục sinh chính là sự thật đó. “Đấng Christ đã giải phóng chúng ta cho được tự do” (Ga-la-ti 5:1a).

Kinh nghiệm Chúa phục sinh đã cho họ đời sống đác thắng. Nhà cầm quyền, đòn vọt, tù đày, bị sỉ nhục công khai, hoặc bị treo trên thập giá vốn là những gì họ hay sợ trước khi gặp Chúa phục sinh. Giờ đây những thứ đó không còn có nghĩa gì nữa. Quả thật, cuộc đời họ đã hoàn toàn thay đổi kể từ khi gặp Chúa phục sinh. Họ đã kinh nghiệm một đời sống đắc thắng giữa một xã hội đầy bất công và áp bức. Họ đã thật sự kinh nghiệm tự do dù sống giữa một môi trường không chút tự do.

Khó khăn hoặc chết chóc đối với đa số chúng ta dường như là tận điểm. Đứng trước sự khó khăn và sự chết, chúng ta thường buồn bã than vãn và đôi khi cũng thắc mắc về tình thương của Đức Chúa Trời. Cảm tạ ơn Đức Chúa Trời vì trước mắt Ngài, khó khăn hoặc chết chóc chưa phải là tận cùng. Đó chỉ là sự cần thiết để Ngài bày tỏ những việc diệu kỳ hơn qua quyền năng phục sinh. Đức tin nơi Chúa phục sinh có thể giúp chúng ta xem thường mọi khó khăn trở ngại và có được một đời sống đắc thắng. Ha-lê-lu-gia! Tạ ơn Chúa, vì chúng ta đang được tự do và có thể sống một cuộc đời đắc thắng. Hãy vững tin nơi Chúa phục sinh. A-men!

Mục Sư Đặng Ngọc Báu

Nguyệt San Linh Lực
Tháng 4 năm 1995

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top