Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Sơ Lược Quan Điểm Thần Học Cơ Đốc Giáo – Phần 7

Sơ Lược Quan Điểm Thần Học Cơ Đốc Giáo – Phần 7

Bible_48
Giai Đoạn 7

Thần Học Hiện Đại (1971-)

Chúng ta đang sống ở đầu thế kỷ 21 cho nên phần lớn những quan điểm của các thần học gia có ảnh hưởng hiện nay đều đã sống, viết, và giảng dạy trong các thế kỷ trước và đặc biệt là thế kỷ 20 mà vẫn còn thịnh hành trong thế kỷ 21. Sau đây là một số quan điểm thần học đang thịnh hành hiện nay.

Thần Học Bảo Thủ (Conservative Theology)

Ở Hoa Kỳ quan điểm thần học bảo thủ thường được gọi là Chủ Nghĩa Nền Tảng (Fundamentalism)[1] hay cũng gọi là Chủ Nghĩa Tin Lành (Evangelicalism),[1] chỉ về sự tin tưởng tuyệt đối vào Kinh Thánh và hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen, ngoại trừ những chỗ không thể giải thích theo nghĩa đen được. Thần Học Bảo Thủ là khuynh hướng thần học đối nghịch với Thần Học Tự Do và các khuynh hướng thần học khác. Tuy nhiên Thần Học Bảo Thủ là một trong các dòng chính trong nền thần học Cơ-đốc Giáo tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới.

Những người theo khuynh hướng Thần Học Bảo Thủ tin rằng lẽ đạo Ba Ngôi là đúng, tin Kinh Thánh là vô ngộ, tin các phép lạ ghi trong Kinh Thánh là có thật, tin sự chết và phục sinh của Đấng Christ là sự thật lịch sử, và tin quả quyết rằng Chúa sẽ tái lâm, mặc dù họ chủ trương khác nhau về phương diện lai thế học. Có người tin rằng Chúa sẽ tái lâm tiền thiên hy niên, có người tin hậu thiên hy niên, và cũng có người tin vô thiên hy niên. Nhưng tất cả đều tin rằng Chúa sẽ tái lâm. Ngoài ra họ tin rằng con người được cứu bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm. Họ không chấp nhận thuyết tiến hóa, vì tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên muôn loài vạn vật. Họ cũng tin có thiên đàng, thiên sứ, Sa-tan, các quỷ, và hỏa ngục.

Thần Học Tân Bảo Thủ (Neo-Evangelicalism)

Carl F. H. Henry

Tuy nhiên vào hậu bán thế kỷ 20 lại nảy sinh phong trào Tân Chủ Nghĩa Tin Lành (Neo-Evangelicalism) dưới sự lãnh đạo của Carl F. H. Henry (1913-1993). Ông là chủ bút nhiều năm của tạp chí Christianity Today và từng làm giáo sư tại Chủng Viện Fuller ở Pasadena, California. Henry cho rằng những người theo Thần Học Bảo Thủ thường hay lên án, chỉ trích, và thậm chí ghét những người không cùng quan điểm với mình. Theo ông, đó là các nhược điểm lớn của những người theo Thần Học Bảo Thủ. Họ nói yêu thương nhưng không thể hiện tình yêu thương mà ngược lại hay nói xấu và hạ thấp người khác. Không những thế họ không mấy quan tâm đến trách nhiệm xã hội và phó mặc trách nhiệm đó cho người khác lo. Họ chỉ muốn dồn mọi tài lực cho công cuộc truyền giáo để giáo phái họ lớn và tin rằng họ phải rao giảng Tin Mừng khắp đất để Chúa mau tái lâm (Ma-thi-ơ 24:14).

Điều nghiêm trọng nhất theo Henry là những người theo Thần Học Bảo Thủ tách rời với văn hóa, nếu không nói là họ bài bác và chống đối văn hóa đương thời của họ. Đối với Henry, làm như thế là không thức thời và không phù hiệp với Kinh Thánh.[1] Do đó ông kêu gọi những người theo Thần Học Bảo Thủ hãy tham gia tích cực vào xã hội và tạo ảnh hưởng tích cực và lành mạnh cho văn hóa trong xã hội của mình. Cho nên có thể nói Thần Học Tân Bảo Thủ là Thần Học Bảo Thủ dấn thân vào xã hội và đồng hành với văn hóa.

Bernard Ramm

Đồng quan điểm với ông có Bernard Ramm (1916-1992), một nhà thần học Báp-tít.[1] Trong tác phẩm Quan Điểm của Cơ-đốc Nhân về Khoa Học và Kinh Thánh, ông cố thuyết phục những người theo Thần Học Bảo Thủ hãy chấp nhận quan điểm về sự tiến hóa trong công cuộc sáng tạo, tức hãy giải thích Kinh Thánh theo ánh sáng của khoa học chứ đừng cố chấp và khư khư cho mình là đúng do sự hiểu biết về khoa học và Kinh Thánh hạn chế của mình. Ông cho rằng Đức Chúa Trời có thể dùng sự tiến hóa để dựng nên trời đất và muôn vật, và điều đó không có gì nghịch với Kinh Thánh. Ông tin rằng trái đất có thể đã được dựng nên hơn 5 tỷ năm về trước chứ không phải chỉ mới 5 hay 6 ngàn năm nay như các nhà thần học bảo thủ thường chủ trương và cố gắng biện hộ.[1]

Thần Học Cấp Tiến (Radical Theology)

Hai vị nổi bật nhất của Thần Học Cấp Tiến là Rudolph Bultmann và Dietrich Bonhoeffer.

Rudolph Bultmann

Rudolph Bultmann (1884-1976) vừa là nhà thần học Tân Chính Thống mà cũng vừa là thần học gia Cấp Tiến. Ông đã dùng phương pháp phê bình hình thức” (form criticism) để khảo cứu Kinh Thánh và cố gắng giải mật các huyền thoại (demythologize) trong Kinh Thánh. Ông cho rằng những câu chuyện về Đức Chúa Jesus chỉ là những chuyện rời rạc được các nhà lãnh đạo hội thánh đầu tiên lượm lặt và ráp nối lại. Cho nên sự thật về Đức Chúa Jesus là Đấng thế nào thì vẫn chưa ai biết đích xác được.[1] Tuy nhiên ông lại tin vào giá trị của lời giảng (kerygma) và cho rằng Đức Chúa Trời gặp con người qua sự giảng dạy.

Dietrich Bonhoeffer

Cùng quan điểm với Bultmann có Dietrich Bonhoeffer (1906-1945).  Dietrich Bonhoeffer là thần học gia chống đối nhà độc tài Adolph Hitler rất kịch liệt. Ông đã bị Đức Quốc Xã bắt giam và treo cổ (1945) trước khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt. Ông chủ trương rằng người ta không thấy Chúa đâu cả. Chỉ qua những gì ta làm cho tha nhân, người ta sẽ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa.

Theo ông, giáo hội nên bán hết tài sản và lấy tiền giúp người nghèo. Các đầy tớ Chúa chỉ nên sống bằng sự dâng hiến của tín hữu. Nếu không đủ sống thì đi làm việc như bao nhiêu người khác để có phương tiện mà sống và hầu việc Chúa. Hơn thế nữa, ông còn cho rằng Cơ-đốc Giáo không nên tổ chức thành một những giáo hội, giáo phái, hệ phái, v.v. với những cơ cấu và tổ chức rườm rà, mà chỉ nên là một tín ngưỡng, một niềm tin, một nếp sống đạo, không cần tổ chức tôn giáo (religionless Christianity). Theo ông các môn đồ của Chúa phải hội nhập vào thế gian để sống cuộc đời của người làm môn đồ Đấng Christ. Ông nổi tiếng với tác phẩm “Giá phải trả để làm môn đồ” (The Cost of Discipleship), trong đó ông bác bỏ quan niệm “ân sủng rẻ tiền” (cheap grace), tức là hễ cầu nguyện tin nhận Chúa thì được cứu và như thế là xong rồi, không cần phải làm gì nữa. Nhưng ông chủ trương rằng, “Khi Đấng Christ kêu gọi một người, Ngài gọi người ấy đến để chết.”[1]

Ngoài ra trong khuynh hướng Thần Học Cấp Tiến cũng có một số thần học gia như Gabriel Vahanian, Paul Van Buren, William Hamilton, Thomas J. J. Altizer, v.v. Những vị này chịu ảnh hưởng sâu đậm của Friedrich Nietzsche và cho rằng Đức Chúa Trời đã chết rồi. Con người đừng kỳ vọng gì vào Ngài nữa. Mỗi người hãy tự lo lấy cho mình, và nhân loại cũng hãy tự lo lấy cho mình, mà đừng trông mong gì vào sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời.

Tóm lại, Thần Học Cấp Tiến đặt nặng trách nhiệm việc kiến tạo một xã hội công bằng và đạo đức trên vai con người; đòi hỏi con người phải dấn thân và hy sinh tới cùng, bởi vì Đức Chúa Trời chỉ là một khái niệm mơ hồ nếu không nói là Ngài đã chết rồi.

Thần Học Tiến Triển (Process Theology)

Thần Học Tiến Triển nhấn mạnh vào sự tiến hóa, mối liên hệ, và sự đổi mới. Họ tin rằng cả Đức Chúa Trời và loài người đang cùng nhau tiến triển và đang trở nên (becoming). Họ không tin Đức Chúa Trời là Đấng bất biến.

Alfred North Whitehead

Alfred North Whitehead (1861-1947) là nhà toán học và cũng là nhà thần học. Ông cho rằng sự thật không bao giờ bất biến nhưng luôn triển khai, sự thật luôn ở trong tiến trình “trở nên” (becoming). Ngay cả Đức Chúa Trời cũng vậy. Ngài cũng đang ở trong tiến trình trở nên, biến đổi, và tiến triển.[1] Ông tin rằng Đức Chúa Trời có lưỡng cực (bipolar). Ngài vừa là Đấng đời đời nhưng cũng tạm thời, vô hạn nhưng cũng hữu hạn, trừu tượng nhưng cũng cụ thể. Ngài cầm quyền trong sự tiến hóa nhưng cũng cùng biến đổi với vạn vật. Vì thế Đức Chúa Trời không hẳn là Đấng toàn năng bởi vì Ngài đồng tạo dựng với con người để cùng con người tạo nên tương lai.[1]

Charles Hartshorne

Đồng quan điểm với Whitehead có Charles Hartshorne (1897-2000), thần học gia tin rằng Đức Chúa Trời không phải là Đấng siêu phàm, và Ngài đang đồng cam cộng khổ với loài người.[1]

John Cobb

John Cobb (1925-?) cũng là một thần học gia theo khuynh hướng Thần Học Tiến Triển nhưng không đồng quan điểm với Whitehead về Đức Chúa Trời lưỡng cực. Ông cố gắng dung hòa giữa quan điểm hữu thần (theism) và phiếm thần (pantheism). Ông chủ trương Đức Chúa Trời ở trong thế gian và thế gian ở trong Đức Chúa Trời và ra từ Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên ông cũng tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng đang trở nên chứ không phải bất biến.[1]

Schubert M. Ogden

Schubert M. Ogden (1928-?) cho rằng Đức Chúa Trời là Đấng tương đối. Ngài dự phần vào thế gian cho nên Ngài bắt buộc phải tiến triển với thế gian. Ngài không hề bất biến.

Thần Học Tiến Bộ (Progressive Theology)

Thần Học Tiến Bộ là khuynh hướng mới phát triển vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Hầu hết những người theo khuynh hướng này đều xuất thân từ Thần Học Tự Do, nhưng khác hơn Thần Học Tự Do ở sự áp dụng.

  1. a) Họ nhìn những chuyện tích trong Kinh Thánh với “cặp mắt mới mẻ” (fresh eyes) và tin rằng Kinh Thánh giúp ta khám phá cái thánh thiêng (sacred), đồng nhất (oneness), và hiệp nhất (unity) của vạn vật, đặc biệt là mối liên hệ giữa con người và vạn vật
  2. b) Đức Chúa Trời vẫn còn tiếp tục phán với chúng ta qua nhiều cách khác chứ không phải chỉ qua Kinh Thánh mà thôi
  3. c) Chú trọng đến việc bảo vệ trái đất và môi sinh
  4. d) Tranh đấu cho hòa bình và công lý
  5. e) Chú trọng đến những nổ lực liên phái và liên tôn
  6. f) Tích cực ủng hộ sự bình đẳng giữa mọi người bất kể giới tính, đặc biệt quyền bình đẳng của những người đồng tính. Theo họ giới tính không quan trọng bằng bản chất đạo đức. Người đồng tính mà lương thiện vẫn tốt hơn người không đồng tính mà gian xảo, bắt nạt, và hiểm ác.[1]

Ngày nay một số khá đông hội thánh ở Âu Mỹ theo khuynh hướng Thần Học Tiến Bộ này.

Thần Học Phái Nữ (Feminist Theology)

Những người theo khuynh hướng thần học này luôn xét lại và đánh giá lại quan niệm xưa nay về Đức Chúa Trời. Họ tin rằng Đức Chúa Trời có lưỡng tính. Ngài cũng là phái nữ chứ không phải chỉ phái nam mà thôi. Do đó họ luôn dùng nhân xưng đại danh từ phái nữ cho Đức Chúa Trời.

  1. a) Họ thường chỉ trích quan niệm xưa nay rằng phái nam có quá nhiều ưu tiên và ảnh hưởng trong Cơ-đốc Giáo trong khi phái nữ thường bị coi là thứ yếu và bị đàn áp
  2. b) Họ đưa ra những bằng chứng về phái nữ trong Kinh Thánh như Chúa được xưng là Sự Khôn Ngoan (Sophia) trong sách Châm Ngôn, và Ngài được nhân cách hóa là phái nữ. Họ cũng trích dẫn những bằng chứng ngoài Kinh Thánh (extrabiblical) để ủng hộ và tranh đấu cho nữ giới và nữ quyền trong Cơ-đốc Giáo và ngoài xã hội
  3. c) Họ xây dựng một hệ thống thần học nhằm đả phá những truyền thống xưa nay với mục đích đưa phái nữ lên. Đối với họ mà bảo rằng người nữ được dựng nên để phụ cho người nam là một sự xúc phạm. Theo họ nữ giới ngang hàng như nam giới. Những chỗ trong Kinh Thánh có vẻ như hạ thấp nhân phẩm của phái nữ, đối với họ, là sản phẩm của văn hóa trọng nam khinh nữ. Những chỗ đó cần phải được xét lại và cần phải giải nghĩa lại cho thích hợp với quan điểm của họ hơn.[1]

Thần Học Xã Hội (Socialist Theology)

Có lẽ cha đẻ của Thần Học Xã Hội là Jurgen Moltmann (1926-?) thần học gia người Đức chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng của Karl Marx qua triết gia Ernst Bloch và Hegel. Trong tác phẩm Thần Học Hy Vọng ông cho rằng Đức Chúa Trời luôn tiến triển với thời gian. Đức Chúa Trời không tuyệt đối nhưng Ngài đang trên đường đi về tương lai. Những việc như Chúa phục sinh có hay không không quan trọng; điều quan trọng là ý nghĩa của sự phục sinh đối với chúng ta trong tương lai. Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cho con người khi con người bị khinh khi và chà đạp. Theo ông đó là Thần Học Thập Tự Giá. Vì thế hội thánh phải chấp nhận thách thức của cuộc sống và đối đầu với những bất công xã hội.[1]

Ngày nay Thần Học Xã Hội phát triển rộng hơn. Họ cổ súy cho việc đem lại công bằng xã hội cho mọi người, đặc biệt chú trọng đến nhân quyền (human rights) hay quyền làm người. Họ chú trọng đến sự binh vực, giải cứu, và nâng đỡ những người nghèo, những người bị bỏ rơi, cô nhi, góa phụ, những người vô gia cư, bị áp bức, bị tù vì bất đồng chính kiến, và bị kỳ thị, đặc biệt là bị kỳ thị vì chủng tộc, vì là phái nữ hoặc vì là người đồng tính, chuyển giới, lưỡng tính, v.v.

Họ kêu gọi việc tha nợ cho những nước nghèo. Họ vận động cho nổ lực xóa đói, giảm nghèo, và cung cấp dịch vụ y tế cho những người nghèo, cùng tạo điều kiện dễ dàng cho những người kém may mắn có cơ hội được học lên cao và được tiến lên. Họ chống đối kịch liệt nạn buôn người.

Nói chung Thần Học Xã Hội chú trọng đến quyền làm người. Họ không ngần ngại tham gia chính trị để tranh đấu và binh vực cho những người chưa hưởng trọn sự bình đẳng của quyền làm người. Những người theo khuynh hướng thần học xã hội coi việc dấn thân vào xã hội và đấu tranh trong lĩnh vực chính trị cho công bằng xã hội và công lý là việc đương nhiên phải làm. Điều này hoàn toàn đi ngược với quan điểm xưa nay của người Tin Lành Việt Nam.

Người Tin Lành Việt Nam chủ trương rằng Hội Thánh không làm chính trị, dựa theo sự trả lời khôn khéo của Mục sư Lê Văn Thái khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh yêu cầu ông lập “Tin Lành Cứu Quốc”[1] nhằm đặt Hội Thánh Tin Lành dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Câu trả lời của Mục sư Lê Văn Thái trong hoàn cảnh tế nhị đó đã trở thành chủ trương từ đó đến nay của người Tin Lành Việt Nam.

Tuy nhiên, một mặt khác, không làm chính trị tức là làm chính trị cách tiêu cực. Nếu con dân Chúa không dấn thân và dự phần vào việc xây dựng và lãnh đạo đất nước tức là đã mặc nhiên trao quyền đó cho người khác làm và chấp nhận không có tiếng nói của mình trong những quyết định có ảnh hưởng đến quyền lợi của dân tộc và Hội Thánh. Nếu người khác quyết định bất lợi cho Hội Thánh thì cũng phải chịu chứ không thể trách móc ai.

Khi hoàn cảnh thuận tiện, có lẽ cần đặt lại vấn đề có nên khuyến khích những người có ơn làm chính trị trong Hội Thánh tham gia vào các sinh hoạt chính trị của đất nước hay không? Dĩ nhiên là với tư cách cá nhân chứ không thể là đại diện chính thức của một giáo hội nào.

Thần Học Giải Phóng (Liberation Theology)

Thần Học Giải Phóng cũng có mục đích tương tự như Thần Học Xã Hội, tức giải phóng đại đa số người nghèo và bị áp bức ra khỏi cảnh khốn cùng của xã hội và của những nhà cầm quyền lạm quyền. Tuy nhiên những nhà thần học này chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng và đường lối của Karl Marx. Theo họ muốn đạt mục tiêu cao thượng trên thì phải tổ chức những người nghèo lại thành những công đoàn, những tập thể, để đấu tranh với những người nắm quyền về chính trị và kinh tế. Đối với họ, hội thánh phải đóng vai trò tích cực trong việc giải phóng con người ra khỏi sự nghèo đói, bịnh tật, và áp bức.

Khổ nỗi những người đem quan điểm thần học này ra áp dụng đã không ngại dùng đường lối của Karl Marx là đường lối có chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện, cho nên đã vô hình trung làm giảm giá trị của quan điểm này. Tư tưởng thần học này đã thịnh hành ở Châu Mỹ La-tinh một thời. Ngày nay người Palestinians đang vay mượn quan điểm thần học này để đấu tranh bằng bạo lực và bất chấp thủ đoạn với người Do-thái.[1]

Gustavo Guitierrez (1928-?) ở Peru, Samuel Ruiz (1924-?) ở Mexico, và Camilo Torres (1929-1966) ở Columbia là những tiếng nói có ảnh hưởng ở Nam Mỹ về khuynh hướng Thần Học Giải Phóng này.[1]

Thần Học Ân Tứ (Charismatic Theology)

Thần Học Ân Tứ phát xuất từ khuynh hướng Ngũ Tuần (Pentecostalism). Thần Học Ân Tứ nhấn mạnh đến vai trò của Đức Thánh Linh trong Cơ-đốc Giáo. Họ đặc biệt chú trọng đến những ân tứ thuộc linh như báp-têm bằng Đức Thánh Linh, ơn nói tiếng lạ, ơn đuổi quỷ, ơn chữa bịnh, và ơn nói tiên tri. Họ chú trọng đến sự tái lâm thình lình của Chúa, do đó họ rất sốt sắng trong việc chứng đạo và truyền giảng.

Tưởng cũng nên ghi nhận rằng phong trào Ngũ Tuần đã âm ỉ từ hạ bán thế kỷ 19, nhưng mãi đến đầu thế kỷ 20 khi William Segmour (1870-1922) được Chúa dùng làm bộc phát phong trào này với cuộc phục hưng ở Azusa, Los Angeles, California thì kể từ đó phong trào này được xem như chính thức khai sinh.

Nhờ phong trào này mà ân tứ Thánh Linh được nhấn mạnh và giúp Hội Thánh phát triển mạnh mẽ khắp thế giới trong thế kỷ 20, vì ngoài sự nhấn mạnh đến ân tứ Thánh Linh, họ còn nổ lực mở mang hội thánh mới. Nhiều hội thánh lớn với hàng ngàn hoặc chục ngàn tín hữu khắp nơi trên thế giới đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của phong trào Ngũ Tuần và ân tứ Thánh Linh.

Có thể nói khoảng một phần tư các hội thánh Tin Lành trên thế giới ngày nay thuộc vào khuynh hướng Ngũ Tuần và Ân Tứ Thánh Linh, mặc dù phong trào này chỉ mới bắt đầu ở đầu thế kỷ 20.[1]

Nhược điểm của phong trào này là sự giả mạo len vào Hội Thánh, khi những kẻ gian xảo, không được đầy dẫy Đức Thánh Linh và không có ân tứ Thánh Linh, nhưng dạn mồm dạn miệng, và khéo đóng kịch đã lường gạt những người chân chất.

Thần Học Thịnh Vượng (Prosperity Theology)

Thần Học Thịnh Vương đôi khi còn được gọi là Tin Lành Thịnh Vượng. Những người theo quan điểm này tin rằng ý muốn Đức Chúa Trời cho con cái Ngài là giàu có, mạnh khỏe, và thành công. Họ giảng dạy rằng các tín hữu hãy chú trọng đến việc nghĩ tích cực, tin tích cực, và nói tích cực rằng Chúa sẽ ban cho mình an ninh, mạnh khỏe, và thịnh vượng. Họ cũng cho rằng nghèo đói và bịnh tật là sự nguyền rủa cần được giải trừ bằng sự truyền lịnh cho chúng phải xuất ra, đồng thời tuyên xưng những lời hứa của Chúa trong Kinh Thánh và công bố đức tin mình dựa vào những lời hứa ấy. Họ dạy phải mạnh dạn công bố những điều Chúa sẽ ban cho mình thì mình sẽ được những điều đó.

Oral Roberts, Robert Tilton, Benny Hinn, TD Jakes, Creflo Dollar, Kenneth Copeland, Kenneth Hagin, Bruce Wilkinson (Lời Cầu Nguyện của Gia-bê), và Joel Osteen là những người theo quan điểm thần học này.[1]

Tuy nhiên Thần Học Thịnh Vượng bị khá nhiều nhà thần học khác phản đối vì họ cho rằng giảng như thế là không đúng với mục đích của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta, và tạo sự hiểu lầm rằng tin Chúa cốt là để tìm kiếm phước hạnh vật chất và thành công ở đời này.[1] Nhưng ở đời ít ai là không muốn giàu có, vì thế quan điểm thần học này đã thu hút rất nhiều người.

Thần Học Thịnh Vượng vốn bắt đầu tại Hoa Kỳ nhưng ngày nay đã lan tràn khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là Châu Mỹ La-tinh, Nam Hàn, và những nước đang phát triển.

 

Lời Kết

Người Việt mình có câu rằng “Chín người mười ý.” Câu này có lẽ đã mô tả khá chính xác về tinh thần tự do và tính đa dạng của người Tin Lành trong lĩnh vực thần học. Ai có ý kiến hay, lý lẽ vững vàng, và có tính thuyết phục đều có thể thu hút một số người ủng hộ quan điểm của mình, bất kể người ấy là mục sư hay tín hữu. Có lẽ đó là lý do tại sao người Tin Lành có nhiều giáo phái và hệ phái. Như thế cũng tốt chứ không sao. Một mảnh vườn có nhiều loại hoa cũng đẹp không kém mảnh vườn chỉ có một loại hoa.

Lịch sử hội thánh cho thấy các tư tưởng thần học mới luôn nổi lên. Chúng ta cần lắng nghe, nhận định, và chọn lọc. Những điểm nào hay thì thu thập và dở thì loại bỏ.

Điều đáng ngại nhất là những người cố chấp, cho mình là quán triệt chân lý rồi và khẳng định rằng chỉ những gì mình biết mới là đúng và ai không đồng ý với mình là sai. Rồi giống như những người làm chính trị ở đời nầy, chỉ trích thậm tệ những ai bất đồng quan điểm với mình, thiếu hẳn “sự cảm thông của thánh đồ” và khả năng dung chịu (tolerance); trong khi Chúa muốn chúng ta hãy làm môn đồ của Ngài, có nghĩa là chúng ta phải học với Chúa luôn.  Khổ nỗi biển học của Chúa thật mênh mông; càng học càng thấy mình hiểu biết quá ít. Vì thế người hướng dẫn thuộc linh cần phải học mãi. Nếu không thể đến trường được nữa thì chúng ta cố gắng tự học. Vấn đề không phải là bằng cấp mà là hiểu biết. Hiểu biết để có thể sống tốt, cư xử tốt, giảng dạy tốt, và lãnh đạo tốt.

Trong khi bạn đang đọc tập sách nhỏ này thì các quan điểm thần học nói trên vẫn tiếp tục được phổ biến và những quan điểm thần học mới sẽ thành hình. Chúng tôi không biết quan điểm thần học của bạn là gì, nhưng điều chúng tôi ao ước, ao ước chứ không dám đòi hỏi, là bạn chân thành tin những điều như đã ghi trong Bài Tín Điều Các Sứ Đồ và quan điểm thần học của bạn có thể bao gồm cả ba điều sau đây:

Điều răn của Chúa

“Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí, và hết sức mà yêu kính Chúa là Đức Chúa Trời của ngươi; và ngươi phải yêu thương người lân cận như mình.” (Lu-ca 10:27)

Đại mạng lịnh của Chúa

“Vậy hãy đi làm cho mọi dân trở thành môn đồ Ta; hãy nhân danh Ðức Chúa Cha, Ðức Chúa Con, và Ðức Thánh Linh làm báp-têm cho họ, và dạy họ giữ tất cả những gì Ta đã truyền cho các ngươi. Và này, Ta ở với các ngươi luôn cho đến tận thế.” (Ma-thi-ơ 28:19-20)

Đòi hỏi của Chúa

“Hỡi con người, Ngài đã bảo ngươi điều gì là tốt, và điều CHÚA đòi hỏi ngươi chẳng phải là thực thi công lý, yêu mến thương xót, và bước đi cách khiêm nhường với Ðức Chúa Trời của ngươi sao?” (Mi-chê 6:8)

Bạn tin như thế nào và sống như thế nào để có thể phản ánh vẻ đẹp của một môn đồ Đức Chúa Jesus Christ giữa xã hội, như đóa hoa sen giữa đầm lầy, theo thiển ý, là tuyệt vời rồi.

Nguyện Chúa ban phước cho bạn. A-men.

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top