Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Video » Sơ Lược Quan Điểm Thần Học Cơ Đốc Giáo – Phần 5

Sơ Lược Quan Điểm Thần Học Cơ Đốc Giáo – Phần 5

Bell_Tower_Clock_01

Giai Đoạn 5

Thần Học Thời Khai Sáng (1648-1789)

Thời Khai Sáng cũng gọi là Thời Lý Trí đã nổi bật từ hậu bán thế kỷ 17 cho đến cuối thế kỷ 18. Trong giai đoạn này những khái niệm xưa nay vốn dựa vào truyền thống và đức tin đã bị ánh sáng của lý trí và khoa học thách thức và đặt thành vấn đề nghi vấn. Rene Descartes (1596-1650) triết gia Pháp đã gieo tư tưởng “Tôi suy nghĩ, cho nên tôi hiện hữu.” (Je pense, donc je suis) trong giới trí thức Tây Phương. Dường như ông muốn ám chỉ rằng chúng tôi có đầu óc và biết suy nghĩ chứ không ngây thơ vâng theo những giáo lịnh của những nhà lãnh đạo các giáo hội nữa.

Có thể nói những nhà trí thức như Galileo Galilei (1564-1642), Baruch Spinoza (1632-1677), John Locke (1632-1704), Pierre Bayle (1647-1706), Voltaire tên thật là François-Marie Arouet (1694-1778), Isaac Newton (1643-1727), Montesquieu tức Charles Louis de Secondat (1689-1755), Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), Thomas Paine (1737-1809), Benjamin Franklin (1706-1790), và Thomas Jefferson (1743-1826) đã đem đến những tư tưởng rất giá trị cho khoa học và những thách thức rất lý thú cho đức tin Cơ-đốc giáo.

Hầu hết những nhà trí thức này đều tin có Đức Chúa Trời và tin về nhu cầu đạo đức của con người, nhưng họ không tin vào các phép lạ và những việc siêu nhiên chép trong Kinh Thánh. Dĩ nhiên họ không tin Kinh Thánh là vô ngộ. Họ cho rằng Kinh Thánh có những sai lầm.

John Locke cho rằng chỉ cần tin Đức Chúa Jesus là Đấng Cứu Thế và làm theo lời dạy của Ngài là đủ rồi.[1]

Thomas Jefferson, người đã soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và là Tổng Thống thứ ba của Hoa-kỳ, đã hiệu đính cuốn Kinh Thánh của ông và cắt bỏ tất cả những chỗ nào chép về phép lạ, thiên sứ, hoặc sự phục sinh của Đức Chúa Jesus, bởi vì ông không tin những điều đó.[1]

Thomas Paine viết trong tác phẩm Thời Đại của Lý Trí (1794-1796) rằng ông chỉ tin vào Đức Chúa Trời là đủ và không cần gì nữa. Ông không tin vào tín điều của bất cứ giáo hội nào. Thậm chí ông còn cho rằng các giáo hội chỉ là sản phẩm của loài người nhằm nô lệ hóa con người, muốn nắm giữ độc quyền trên người khác, và được tổ chức vì lợi lộc.[1]

Voltaire cho rằng chỉ trong vòng 100 năm sau ông thì Kinh Thánh sẽ không còn trên mặt đất ngoại trừ một vài cuốn cho những người nghiên cứu sách cổ. Điều trớ trêu là sau khi ông qua đời khoảng 50 năm, Thánh Kinh Hội Geneva đã mua căn nhà và chiếc máy in của ông để in Kinh Thánh và làm nơi phổ biến Kinh Thánh.[1]

Nói chung, hầu hết những nhà trí thức trong giai đoạn này tin có Đức Chúa Trời nhưng không coi trọng Kinh Thánh, đặc biệt là những gì có vẻ siêu nhiên hay huyền hoặc. Có thể nói họ coi khoa học là ưu việt. Điều nào về tín ngưỡng mà có vẻ phản khoa học là họ loại bỏ ngay.

Trong các thế hệ trước, ít người biết Kinh Thánh ghi chép những gì trong đó; đến Thời Khai Sáng thì nhiều người đã có cơ hội biết nội dung của toàn bộ Kinh Thánh. Nhưng vì biết nội dung của Kinh Thánh, một số người đã loại bỏ nhiều chỗ trong Kinh Thánh, vì đối với họ đó là một sách cổ, không có giá trị trong thời của lý trí và khoa học đang lên ngôi.

John Wesley

Tuy nhiên trong thời kỳ này tại Anh Quốc lại phát sinh một phong trào khá phổ biến; đó là phong trào Giám Lý (Methodism) do John Wesley (1703-1791) và Charles Wesley (1707-1788) lãnh đạo.

Khoảng 200 năm sau ngày phong trào Cải Cách giáo hội được khai sinh, John Wesley, một linh mục Anh Quốc Giáo (Anglican Church), đã khởi xướng phong trào Giám Lý, một phong trào đặt nặng vào ân sủng. Ông tin có ba loại ân sủng: ân sủng tiền hộ (prevenient grace), ân sủng xưng công chính (justifying grace), và ân sủng thánh hóa (sanctifying grace).[1]

Ân sủng tiền hộ là sự phù hộ và ban phước của Đức Chúa Trời cho một người trước khi người ấy biết Ngài và tin thờ Ngài. Chúa làm thế để đến một ngày người ấy sẽ nhận ra rằng mình được phước bấy lâu nay là nhờ ân sủng của Đức Chúa Trời mà quay về thờ phượng Ngài.

Ân sủng xưng công chính là ơn tha thứ của Đức Chúa Trời ban cho một người khi người ấy tin rằng Đức Chúa Jesus đã chết thay cho tội mình và quyết định tin nhận Ngài làm Cứu Chúa và Chủ của mình. Đức Chúa Trời chấp nhận điều đó và xem người ấy như được trắng án và được tha bổng. Như thế người ấy được xưng công chính.

Còn ân sủng thánh hóa chỉ về sự biến đổi tâm tính xảy đến cho một người tin Chúa khi người ấy nhờ Đức Thánh Linh, Lời Kinh Thánh, và những phương tiện của ân sủng (means of grace)[1] rồi từ từ trải nghiệm sự biến đổi trong tâm hồn để trở nên giống như Đức Chúa Jesus. Sự biến hóa ấy cũng là một ân sủng của Đức Chúa Trời.

Wesley tin rằng Kinh Thánh, truyền thống, kinh nghiệm, và lý trí là bốn yếu tố thiết yếu cho sự thành hình quan điểm thần học của người tin Chúa. Theo ông niềm tin của Cơ-đốc nhân phải thể hiện bằng những hành động đem lại sự cải thiện đời sống con người và xã hội. Ông chủ trương rằng môn đồ của Đức Chúa Jesus phải dấn thân vào đời chứ không nên xa đời lánh thế. Ông nói, “Cả thế giới là giáo xứ của tôi” (The world is my parish). Trường thần học, tu viện, và chủng viện là những nơi để học tập và được đào tạo hầu vào đời phục vụ và giúp biến cải xã hội để con người trở nên đạo đức, sống với nhau trong hòa bình, và tôn trọng công lý. Ông nhấn mạnh về sự thánh thiện theo lời dạy trong Kinh Thánh (scriptural holiness) và coi việc giúp thế nhân sống thánh thiện theo lời dạy của Kinh Thánh là sứ mạng của mình. John Wesley thường được nhắc tới với những câu nói:

“Kiếm tất cả tiền bạc bạn có thể kiếm, để dành tất cả tiền bạc bạn có thể để dành, và cho tất cả tiền bạc bạn có thể cho.” (Earn all you can, save all you can, and give all you can) hoặc “Làm mọi điều tốt bạn có thể làm, bằng mọi cách bạn có thể có, trong mọi lối bạn có thể tìm, ở mọi nơi bạn có thể làm, ở mọi lúc bạn có thể có, cho mọi người bạn có thể gặp, cho đến chừng nào bạn còn có thể làm.”

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top