Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Tài Liệu » Cho Tôi Chia Xẻ Niềm Tin – Lời Cuối

Cho Tôi Chia Xẻ Niềm Tin – Lời Cuối

Lời Cuối

Trước khi biết về Chúa Cứu Thế Giê-xu, tôi chỉ biết đi tìm sự khôn ngoan của đời.

Tôi được sinh ra trong một gia đình không biết gì về Tin Lành Cứu Rỗi. Thời trung học, có lúc tôi nói rằng tôi theo đạo Phật, nhưng đây chỉ có nghĩa rằng tôi có cùng bạn bè đi lang thang ngoài công viên chùa mỗi ngày Phật Ðản. Cũng có lúc tôi nhận mình theo đạo Thờ Cúng Ông Bà, nhưng đây lại có nghĩa rằng tôi muốn làm vui lòng cha mẹ nên đã vội vã bái lạy trong những ngày giỗ kỵ.

Sau khi đậu Tú Tài, tôi được học bổng đi du học ở Úc Ðại Lợi vào năm 1968. Qua Úc, xa lìa những sinh hoạt tôn giáo của gia đình, tôi hoàn toàn sống một đời sống vô tín. Ðúng hơn, tôi có một niềm tin, nhưng đó là niềm tin vào chính khả năng của mình; tôi có một mục đích cho đời, nhưng mục đích đó là một địa vị cao sang ở quê nhà sau khi thành đạt trở về.

Càng ở Úc lâu, tôi càng hăng hái tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng. Ðến khi được bầu làm Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Úc vào giữa năm 1974, tôi thấy mình “anh hùng” lắm. Vừa theo học chương trình Tiến Sĩ, vừa bỏ thì giờ đại diện anh em, tôi thấy “phục” tôi quá!

Rồi biến cố 1975 khiến tôi phải đóng vai trò đại diện chính thức cho cộng đồng người Việt ở Úc, lúc đó hầu hết là sinh viên. Không thể ngồi yên trước những thảm cảnh ở quê nhà, chúng tôi phải “làm một cái gì.” Lúc đầu chúng tôi có chương trình quyên tiền để giúp đồng bào tỵ nạn từ miền Trung. Nhưng đến khi biết được rằng ngay cả Sài Gòn cũng sẽ mất, chúng tôi cố gắng vận động để chính phủ Úc giúp đỡ đưa người ra khỏi nước.

Trong khoảng thời gian này, tôi có dịp tiếp xúc với rất nhiều người Úc; và có hai hạng người trong đó đã có ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất. Hạng người thứ nhất là những chính trị gia. Không dám “vơ đũa cả nắm” và nói rằng chính trị gia nào cũng vậy, tôi chỉ muốn thưa rằng tôi cảm thấy hầu hết những chính trị gia người Úc mà tôi có dịp tiếp xúc lúc đó đã không thật tình. Khi đến xin gặp họ một mình, họ lạnh lùng từ chối; nhưng nếu đến với một phóng viên truyền hình, họ niềm nỡ bắt tay để được lên TV. Họ nói họ thương người Việt, nhưng người Việt đối với họ chỉ là một khối vài mươi triệu người sống trên một mảnh đất nhỏ đâu đó. Hạng người thứ hai là những người tin Chúa. Ðây là những người đã đến giúp đỡ chúng tôi một cách tận tình. Họ biết tên từng sinh viên Việt Nam; họ khóc với những giọt nước mắt của các bạn trẻ bỗng nhiên thấy mình mất nước; và họ không tiếc một điều gì để giúp những người bạn trẻ này có được một mái ấm gia đình trong khi người thân đang lưu lạc ở quê nhà.

Giữa những bối rối và bận rộn lúc đó, tôi thấy mình tự hỏi tại sao những người tín đồ này có thể yêu thương người khác một cách hoàn toàn vô vị lợi như vậy.

Khoảng cuối tháng tư 1975, chúng tôi kéo nhau ra một công viên chính ở Sydney để tuyệt thực, yêu cầu chính phủ Úc đưa người Việt đến Úc. Cuộc tuyệt thực đang kéo dài được hơn một ngày, thì Việt Nam mất vào tay Cộng Sản nên chúng tôi đành phải chấm dứt. Không muốn lặng lẽ ra về, có người đề nghị với tôi nên tổ chức một buổi cầu nguyện trước giờ bế mạc. Ðây là lần đầu tiên chữ “cầu nguyện” đến với tôi. Thấy đó là một ý hay, tôi đồng ý.

Ðêm 30 tháng 4, khoảng năm mươi sinh viên chúng tôi và một số thân hữu Úc cầm đèn cầy, ngồi quanh trong công viên cầu nguyện dưới sự hướng dẫn của một vị tuyên úy trong Ðại Học. Và đây là lần đầu tiên tôi ý thức được một cách mạnh mẽ sự bất năng của mình. Ðứng nhìn các sinh viên đàn em khóc sướt mướt dưới ánh đèn cầy, tôi thấy như hai tay bị trói chặt ra sau. Từ lâu, tưởng mình có thể “đội đá vá trời,” đem lại những cải cách xã hội không thua gì các vĩ nhân trên thế giới, hôm đó tôi biết mình chỉ là một hạt cát, bị sóng đời đánh nghiêng ngả dật dờ. Tôi chợt thấy mình thầm nói: “Chúa ơi xin Ngài giúp con, vì con không làm gì được!”

Tiếp tục học lại, tôi xong được phần chính của chương trình tiến sĩ vào cuối năm 1975 và quyết định đi xa khỏi Sydney để viết luận án. Hơn ba tháng sau đó, khi lái xe trở về Sydney, tôi lại cảm thấy mình “gồ” lắm, vì mặc dầu bên ngoài trời mưa ảm đạm, trong xe tôi đã có sẵn một luận án và chỉ cần nộp vào là ra trường. Hứng chí, tôi đạp mạnh chân ga. Chiếc xe, vừa qua một khúc quanh, không còn kiềm chế được, trượt trên mặt đường và “bay” ra khỏi lộ. Sau khi quay vài vòng và băng qua một rạch nước, chiếc xe ngừng lại. Hoàn hồn bước xuống xe, tôi thấy bốn bánh xe đã gãy và ý thức được rằng chỉ trong gang tấc tôi có thể đã không còn sống nữa.

Tai nạn này khiến tôi suy nghĩ không ít về ý nghĩa cuộc đời. Chính tại thời điểm đáng hãnh diện nhất trong cuộc đời người học trò, tôi chợt thấy rằng ngay cả mạng sống của mình tôi cũng có thể đánh mất một cách dễ dàng, huống chi bằng cấp, tiền tài, danh vọng. Tôi giật mình thấy mình đã phí phạm quá nhiều khi đi tìm những điều mỏng manh trên đời. Tôi tự nhủ phải tìm hiểu nhiều hơn về những gì cao hơn vật chất và lâu dài hơn cuộc đời ngắn ngủi.

Ngày nay, tôi tin rằng Thượng Ðế sẽ cho chúng ta thấy Ngài, nếu chúng ta thật lòng tìm kiếm Ngài. Ðiều chúng ta cần làm là dẹp bỏ mọi thành kiến. Vì khi nhìn lại, tôi nhớ rằng tôi đã không chỉ đi tìm Thượng Ðế của Tin Lành, nhưng đã mở rộng lòng với mọi tôn giáo. Ðêm nọ, sau khi đọc một cuốn sách nhỏ nói về cái chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu, tôi đã cầu nguyện mời Ngài làm chủ đời tôi.

Trong Lời Mở Ðầu, tôi có nói rằng đến với Tin Lành là tìm lại được một mối tình, hay đúng hơn là hàn gắn lại được một mối tình đã có lần tan vỡ. Giờ đây, chắc bạn đã hiểu rằng mối tình đó là mối tình giữa Thượng Ðế và con người. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã bắc một nhịp cầu hàn gắn đôi bên. Từ khi tin Chúa, tôi sống với một sự bình an mà trước kia tôi không hiểu được; đời tôi ngập tràn thứ tình-yêu-mặc-dầu đến từ Thiên Thượng mà tôi biết không bao giờ phai nhạt. Một kinh nghiệm thấy mình bất năng đưa tôi đến một Ðấng Toàn Năng; một lần chết hụt đưa tôi đến một trông chờ vào đời sống vĩnh viễn trong bàn tay đã có lần bị đinh đâm thủng.

Khả năng hạn hẹp của tôi không cho phép tôi diễn tả hết được những ơn phước các tín đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu và chính tôi nhận được ngay cả trên đời này. Dầu vậy, không thể giữ kín Tin Lành Cứu Rỗi, tôi đã xin bạn cho tôi chia xẻ niềm tin và mạo muội viết cuốn sách này. Mong rằng, khi đọc đến đây, ít nhất bạn sẽ nhủ thầm: “Quả thật Chúa Cứu Thế Giê-xu đang sống và chương trình cứu rỗi của Ngài hữu lý. Thế thì tại sao mình không đến với Ngài để nếm thử liều thuốc nhiệm mầu đã thay đổi đời sống của bao nhiêu tỉ người trên thế giới? Tại sao mình không tin vào Tin Lành Cứu Rỗi để bước ra khỏi một kiếp người đầy đọa? Tại sao không?”

Viết xong tại California
Tháng 5, 1985

CHÚ THÍCH: Những câu Kinh Thánh trích trong sách nầy:

CHƯƠNG 1:
1Giăng 6:35; 2Giăng 8:12;  3Giăng 14:6; 4Giăng 10:30-33; 5Giăng 5:16-18; 6Giăng 5:23; 7Mác 2:3-7; 8Giăng 11:25-26; 9Giăng 4:14; 10Giăng 10:28; 11Giăng 5:22; 12Ma-thi-ơ 25:31-33; 13Ma-thi-ơ 7:22-23; 14Ma-thi-ơ 11:28.

CHƯƠNG 2:
1Ma-thi-ơ 16:15-16; 2Giăng 8:46; 3Mác 2:1-3:6; 4Mác 2:17; 5I Sa-mu-ên 31:13; 6Mác 2:28; 7Mác 2:27; 8Mác 14:61-64, 9Ma-thi-ơ 27:24; 10Ma-thi-ơ 7:23; 11Ê-sai 6:5; 12Giăng 8:29; 13Ma-thi-ơ 5:3-12; 14Ma-thi-ơ 5:27-30;  15Ma-thi-ơ 5:38-42; 16Giăng 7:15-17; 17Mác 6:45-51;  18Ma-thi-ơ 8:23-27; 19Giăng 2:1-11; 20Mác 6: 34-44; 21Lu-ca 5:18-26; 22Mác 7:31-37; 23Giăng 9; 24Ma-thi-ơ 9:18-26; 25Lu-ca 7:11-15; 26Giăng 11:1-44; 27Giăng 11:47-48; 28Ma-thi-ơ 12:25-26; 29Ma-thi-ơ 8:4, Mác 8:26, Lu-ca 8:56; 30Ma-thi-ơ 4:3-7; 31Ma-thi-ơ 4:24-25; 32Lu-ca 7:22-23; 33I Cô-rinh-tô 15:19.

CHƯƠNG 3:
1Ma-thi-ơ 28:11-15; 2Ma-thi-ơ 27:62-66; 3Giăng 20:6-7; 4Công-vụ 5:28; 5Giăng 19:34; 6Công-vụ 10:41; 7Giăng 20:11-18; 8Ma-thi-ơ 28:9-10; 9Lu-ca 24:34; 10Lu-ca 24:23-35; 11Lu-ca 24:36-49; 12Giăng 20:24-29; 13I Cô-rinh-tô 15:6; 14I Cô-rinh-tô 15:7; 15Giăng 21:1-23; 16Lu-ca 24:50-51; 17Công-vụ 9:3-9;18Giăng 20:25; 19Giăng 20:28-29

CHƯƠNG 4:
1Ma-thi-ơ 5:21-22; 2Ma-thi-ơ 5:27-28; 3Gia-cơ 4:17; 4Mác 12:28-31; 4Ê-sai 53:6; 5Ê-sai 64:6; 7Rô-ma 3:23; 8I Giăng 1:8; 9Hê-bơ-rơ 12:23; 10Sáng-thế-ký 3:16-19; 11Sáng-thế-ký 6-7; 12Sáng-thế-ký 19:23-25; 13Xuất-ê-díp-tô-ký 7-14; 14Xuất-ê-díp-tô-ký 32:35; 15Truyền Ðạo 12:14; 16Công-vụ 17:31; 17Ha-ba-cúc 1:13; 18Châm-ngôn 21:27; 19Sáng-thế-ký 3:19; 20Khải-huyền 21:8; 21Rô-ma 2:16; 22Rô-ma 3:19; 23Ma-thi-ơ 13:50; 24Ma-thi-ơ 10:28.

CHƯƠNG 5:
1Rô-ma 6:23; 2I Giăng 4:9-10; 3Ga-la-ti 3:13; 4Mác 8:31; 5Mác 14:21,49; 6Mác 14:24; 7Giăng 19:30; 8Mác 10:45; 9Mác 15:33; 10Ga-la-ti 4:4; 11Giăng 10:14, 17-18; 12Lu-ca 6:32; 13Rô-ma 5:6,8; 14Giăng 3:14

CHƯƠNG 6:
1Ma-thi-ơ 11:28; 2Ma-thi-ơ 7:21; 3Ma-thi-ơ 18:3; 4Ma-thi-ơ 16:26; 5Gia-cơ 2:19; 6Giăng 6:40; 7Ma-thi-ơ 6:25-26; 8Lu-ca 11:9-10.

CHƯƠNG 7:
1Ê-sai 55:8-9; 2Rô-ma 6:23; 3Ê-phê-sô 2:5; 4Ê-phê-sô 2:8; 5Ma-thi-ơ 19:23-24; 6Rô-ma 2:12,16; 7Xuất Ê-díp-tô-ký 20:12; 8Cô-lô-se 3:20; 9Rô-ma 1:30-31; 10Giăng 19:25-27; 11Giăng 4:24; 12Ma-thi-ơ 23:13-14; 13Rô-ma 3:24; 14Hê-bơ-rơ 12:2

CHƯƠNG 8:
1Mác 12:10; 2Mác 7:8-11; 3Lu-ca 10:25; 4Lu-ca 6:12-13; 5Ma-thi-ơ 10:40; 6Ê-sai 53:3-9; 7Phục Truyền Luật Lệ Ký 28:25; 8Ô-sê 9:17; 9Giê-rê-mi 24:9; 10Giê-rê-mi 31:4,8,10.

CHƯƠNG 9:
1Ma-thi-ơ 13:32; 2Sáng-thế-ký 1:1-2:3; 3Sáng-thế-ký 2:7; 4Ma-thi-ơ 5:45; 5Giăng 8:32.

CHƯƠNG 10:
1Phi-e-rơ 1:18-19; 2I Ti-mô-thê 2:6; 3Công-vụ 2:24; 4I Cô-rinh-tô 15:23; 5I Cô-rinh-tô 15:53-54;  6I Cô-rinh-tô 15:55; 7Công-vụ 1:9; 8Thi-Thiên 110:1; 9Hê-bơ-rơ 9:24; 10Rô-ma 8:34; 11Hê-bơ-rơ 4:16; 12Hê-bơ-rơ 4:15; 13Lu-ca 12:15; 14Giăng 14:27; 15Rô-ma 8:28; 16Ma-thi-ơ 26:64; 17Mác 13:32; 18Ma-thi-ơ 24:43; 19II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3; 20I Ti-mô-thê 4:1-2; 21Mác 13:21-23; 22Lu-ca 21:9-11.

CHƯƠNG 11:
1Giăng 16:7; 2Giăng 16:7; 3Công-vụ 1:4-5; 4Công-vụ 2:1-8; 5Sáng-thế-ký 41:38; 6Các Quan Xét 14:5-19; 7II Phi-e-rơ 1:21; 8Lu-ca 1:35; 9Lu-ca 3:22; 10II Cô-rinh-tô 5:17; 11Giăng 3:3, 6-7; 12Rô-ma 8:9; 13Giăng 16:12-14; 14Rô-ma 8:15-16; 15Hê-bơ-rơ 12:5-6; 16Rô-ma 8:28; 17Ga-la-ti 5:16-18; 18Ga-la-ti 5:25; 19Ga-la-ti 5:22.

CHƯƠNG 12:
1Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4; 2Giăng 10:30; 3Ê-phê-sô 4:5-6; 4Ê-sai 45:5; 5Xuất Ê-díp-tô-ký 20:2-3; 6I Cô-rinh-tô 13:12; 7Ma-thi-ơ 4:2; 8Giăng 4:6; 9Mác 4:38; 10Lu-ca 5:30; 11Ma-thi-ơ 23:13-36; 12Giăng 11:33-36; 13Lu-ca 10:21; 14Cô-lô-se 2:9; 15Phi-líp 2:6-8; 16I Cô-rinh-tô 1:18, 25

 

 

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top