Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Cuộc Đời Đức Chúa Jesus – Chương 40

Cuộc Đời Đức Chúa Jesus – Chương 40

cross__30
Chương 40

Quân Lính La Mã Hành Hạ Chúa

Lính của quan tổng trấn đem Ðức Chúa Jesus vào trong bản doanh và tập họp cả đơn vị quanh Ngài.  Họ lột áo Ngài ra, rồi khoác lên Ngài một chiếc áo choàng màu đỏ điều.  Họ kết một vương miện bằng gai, đội lên đầu Ngài. Họ cũng lấy một cây sậy đặt vào tay phải Ngài, rồi quỳ xuống trước mặt Ngài và chế nhạo rằng: “Vạn tuế vua dân Do Thái!”

Họ phun nhổ trên Ngài và lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài.

Sau khi đã chế nhạo Ngài, họ cởi chiếc áo choàng màu đỏ điều ra và mặc áo của Ngài lại cho Ngài; rồi họ dẫn Ngài đi hành hình [1].

Chúa Chịu Ðóng Ðinh

Khi dẫn Ngài đi ra, họ bắt một người tên là Simon, quê ở Cyrene, vừa từ dưới quê lên Jerusalem. Họ bắt ông vác thập tự của Đức Chúa Jesus, và theo Ngài.

Một đoàn người rất đông đi theo Chúa, trong đó có những phụ nữ đấm ngực khóc thương Ngài.  Nhưng Ðức Chúa Jesus quay lại, nói với họ: “Hỡi những phụ nữ Jerusalem! Đừng khóc cho Ta, nhưng hãy khóc cho chính các ngươi và cho con cháu các ngươi.  Vì nầy, những ngày đến người ta sẽ nói: ‘Những phụ nữ không con, những dạ chẳng mang thai, và những vú không cho con bú, là có phước.’  Khi ấy người ta sẽ nói với núi rằng: ‘Hãy đổ xuống trên chúng tôi,’ và nói với đồi rằng: ‘Hãy phủ lấp chúng tôi.’  Vì cây xanh mà người ta đã đối xử như vậy thì cây khô người ta sẽ đối xử thế nào?”

Họ đem Chúa đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, tức đồi Sọ.  Họ cho Ngài uống rượu pha mật đắng; Ngài nếm nhưng không uống.

Sau khi đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự, họ bắt thăm để chia nhau y phục Ngài, rồi ngồi đó canh giữ Ngài.

Ðức Chúa Jesus nói: “Lạy Cha! Xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.”

Họ đóng đinh Chúa vào lúc chín giờ sáng.  Có hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài, một tên ở bên phải và một tên ở bên trái.  Điều đó ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Ngài bị liệt vào hàng những kẻ phạm pháp.”

Pilate cho treo một tấm bảng trên đầu Ngài, ghi rằng: “Jesus, người Nazareth, vua dân Do Thái.”    Nơi Ðức Chúa Jesus bị đóng đinh ở gần thành, và bảng đó được viết bằng tiếng Hebrew, Latin, và Greek, nên nhiều người đọc bảng đó.

Các trưởng tế của dân Do Thái nói với Pilate: “Xin quan đừng viết ‘vua dân Do Thái’, nhưng xin hãy viết: ‘Hắn nói Ta là vua dân Do Thái.’”

Pilate đáp: “Những gì ta viết, ta đã viết rồi.”

Khi đóng đinh Ðức Chúa Jesus xong, những người lính lấy y phục của Ngài chia làm bốn mảnh, mỗi người lấy một mảnh. Họ cũng lấy áo dài của Ngài; áo nầy không có đường may, nhưng được dệt liền từ trên xuống dưới.  Vì thế, họ nói với nhau: “Không nên xé áo nầy ra, nhưng chúng ta hãy bắt thăm, ai trúng nấy được.” Điều này ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chúng chia nhau y phục của con; còn áo dài của con, chúng bắt thăm.” Ðó là việc bọn lính đã làm.

Những người đi qua mỉa mai Ngài, lắc đầu, và nói: “Chẳng phải ngươi là kẻ muốn phá đền thờ và xây lại trong ba ngày sao?  Hãy tự cứu chính mình đi! Nếu ngươi là Con Ðức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự.”

Các trưởng tế, các thầy dạy giáo luật, và các trưởng lão cũng chế nhạo Ngài:  “Hắn đã cứu được người khác mà không cứu được chính mình. Ngươi là vua của Israel phải không?  Nếu ngươi xuống khỏi cây thập tự, chúng ta sẽ tin ngươi. Hắn tin cậy Ðức Chúa Trời. Nếu Ngài yêu thương hắn, hãy để Ngài cứu hắn; vì hắn đã nói: ‘Ta là Con Ðức Chúa Trời.’”

Một trong hai tội phạm bị treo ở đó cũng buông lời xúc phạm đến Ngài: “Ông không phải là Ðấng Christ sao? Hãy cứu lấy ông và cứu chúng tôi với.”

Nhưng tên kia quở trách nó, bảo rằng: “Mày đang chịu cùng một hình phạt mà còn không kính sợ Ðức Chúa Trời sao?  Chúng ta bị hình phạt như thế nầy là đáng lắm, xứng với những việc chúng ta làm, nhưng người nầy đâu có làm gì sai phạm.”

Rồi hắn nói: “Lạy Ðức Chúa Jesus! Xin Ngài nhớ đến con, khi Ngài vào vương quốc của Ngài.”

Ngài đáp: “Quả thật, Ta nói với ngươi: Hôm nay ngươi sẽ ở với Ta trong cõi phước hạnh.”

Ðứng tại chân thập tự của Ðức Chúa Jesus có mẹ Ngài, chị của mẹ Ngài, Mary, vợ của Clopas, và Mary Magdalene.

Khi Ðức Chúa Jesus thấy mẹ Ngài và môn đồ Ngài thương yêu đang đứng gần bên, Ngài nói với mẹ Ngài: “Mẹ ơi! Đó là con của mẹ.”

Rồi Ngài phán với môn đồ ấy: “Ðó là mẹ của ngươi.”   Bắt đầu từ giờ đó, môn đồ ấy rước bà về nhà mình [2].

Chúa Chết

Khoảng giữa trưa, cả xứ đều tối tăm mù mịt cho đến ba giờ chiều.

Khoảng ba giờ chiều, Ðức Chúa Jesus kêu lớn tiếng: Eli! Eli! Lama Sabachthani? nghĩa là “Ðức Chúa Trời của con! Ðức Chúa Trời của con! Sao Ngài lìa bỏ con?”

Có vài người đứng gần đó nghe vậy, liền nói: “Hắn đang gọi Elijah.”  Một người trong bọn họ vội chạy lấy một miếng xốp, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy, và đưa cho Ngài uống.  Nhưng những người khác lại bảo: “Cứ để vậy, xem Elijah có đến cứu hắn không!”

Sau đó, Đức Chúa Jesus biết mọi việc đã hoàn tất, và để cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, Ngài nói: “Ta khát!” Tại đó có một cái bình đựng đầy giấm, nên họ lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy giấm, buộc vào cành ngưu tất, rồi đưa đến miệng Đức Chúa Jesus.  Khi đã nhận lấy giấm, Đức Chúa Jesus nói: “Mọi việc đã hoàn tất!”

Ðức Chúa Jesus kêu lên một tiếng lớn nữa: “Lạy Cha! Con xin giao linh hồn lại trong tay Cha!” Ngài vừa nói xong thì trút hơi thở cuối cùng.

Kìa! Bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai, từ trên xuống dưới. Ðất rung, đá nứt, các phần mộ mở ra, và thây của nhiều thánh đồ đã an giấc sống lại.  Sau khi Ngài đã sống lại, họ ra khỏi phần mộ, vào trong thành thánh, và hiện ra cho nhiều người.

Lúc đó, viên đại đội trưởng và quân lính ở với ông để canh giữ Ðức Chúa Jesus, thấy động đất và những việc đã xảy ra, họ rất sợ hãi. Viên đại đội trưởng nói rằng: “Người này quả thật là người công chính” và họ nói: “Người nầy thật là Con Ðức Chúa Trời.”

Những đám đông đã tụ họp lại để xem cảnh Chúa bị hành quyết, khi thấy sự việc xảy ra, bèn đấm ngực trở về.

Những người quen biết Chúa, kể cả những phụ nữ đã theo Ngài từ Galilee, đứng từ xa, theo dõi những việc xảy ra.  Trong số những người ấy có Mary Magdalene, Mary mẹ của James và Joseph, và mẹ của các con trai của Zebedee.  Họ, cùng có nhiều phụ nữ khác, là những người đã theo và phục vụ Đức Chúa Jesus khi Ngài còn ở Galilee; và họ đã cùng đến Jerusalem với Ngài.

Vì hôm đó là ngày Chuẩn Bị, người Do Thái không muốn thấy thây người chết còn bị treo trên thập tự trong ngày Sa-bát – vì ngày Sa-bát đó rất trọng thể – họ yêu cầu Pilate cho đập gãy chân những người bị đóng đinh và gỡ xác xuống.

Vì thế, quân lính đã đến đập gãy chân người thứ nhất và người kia, là hai người cùng bị đóng đinh với Ngài; nhưng khi họ đến chỗ Ðức Chúa Jesus, họ thấy Ngài đã chết rồi, nên họ không đập gãy chân Ngài.

Thay vào đó, một tên lính lấy giáo đâm vào hông Ngài. Ngay lập tức máu và nước chảy ra.

Những việc ấy đã xảy ra để làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chẳng một cái xương nào của Ngài bị gãy” và “Họ sẽ nhìn thấy người mà mình đã đâm.” [3].

Việc An Táng Chúa

Sau những việc đó, Joseph, người Arimathea, một thành viên khả kính của Hội Đồng Công Luận nhưng không tán thành hành động của họ, và cũng là một môn đồ thầm kín của Ðức Chúa Jesus, đã dạn dĩ đến xin Pilate nhận thi thể của Ðức Chúa Jesus. Joseph là người chính trực, công bình, có lòng trông đợi vương quốc của Đức Chúa Trời.

Pilate không rõ Ngài đã chết chưa nên gọi viên đại đội trưởng đến và hỏi người đó Ngài đã chết bao lâu.  Sau khi nghe viên đại đội trưởng báo cáo, Pilate chấp thuận. Vì thế, Joseph đến nhận thi hài Ngài đem đi.

Nicodemus, là người trước kia đã đến gặp Ðức Chúa Jesus trong ban đêm, cũng đến và mang theo một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương.  Theo phong tục khâm liệm của người Do Thái, họ lấy thi hài Ðức Chúa Jesus, dùng vải gai mịn và hương liệu bó xác Ngài.

Gần chỗ Ðức Chúa Jesus chịu đóng đinh có một cái vườn, trong vườn ấy có một hang mộ còn mới, chưa chôn ai.  Vì hôm đó là ngày Chuẩn Bị của người Do Thái, và ngôi mộ lại ở gần, nên họ chôn Ðức Chúa Jesus tại đó, rồi lăn một tảng đá lớn chận cửa mộ lại, và đi.

Mary Magdalene và một Mary khác ngồi đối diện ngôi mộ nhìn họ an táng Chúa. Sau đó họ trở về để chuẩn bị hương liệu và dầu thơm [4].

Lính Canh Phần Mộ Chúa

Hôm sau, là ngày sau Ngày Chuẩn Bị, các trưởng tế và những người Pharisee cùng đến gặp Pilate, và nói: “Thưa ngài! Chúng tôi nhớ rằng tên lừa dối nầy lúc còn sống đã nói, ‘Sau ba ngày Ta sẽ sống lại.’  Vậy xin ngài truyền lịnh cắt lính canh gác ngôi mộ cẩn thận cho đến ngày thứ ba, kẻo các môn đồ của hắn đến lấy trộm thi thể của hắn, rồi phao tin với dân là hắn đã từ cõi chết sống lại, như thế sự lừa dối lần cuối sẽ tệ hại hơn lần đầu rất nhiều.”

Pilate nói với họ: “Hãy lãnh một đội lính canh. Hãy đi, canh gác ngôi mộ cẩn thận theo ý các ngươi.”

Vậy những người ấy đi và niêm phong tảng đá chận cửa mộ cho bảo đảm, và đặt lính canh gác cẩn thận [5].

Thánh Kinh Tham Khảo

[1] Ma-thi-ơ 27:28-31; Mác 15:16-20; Giăng 19:2-3.
[2] Ma-thi-ơ 27:32-44; Mác 15:21-32; Lu 23:26-43; Giăng 19:17-27
[3] Ma-thi-ơ 27:45-56; Mác 15:33-41; Lu 23:44-49; Giăng 19:28-36.
[4] Ma-thi-ơ 27:57-61; Mác 15:42-47; Lu 23:50-56; Giăng 19:38-42.
[5] Ma-thi-ơ 27:62-66

Thư Viện Tin Lành
www.thuvientinlanh.org

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top