Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Cuộc Đời Đức Chúa Jesus – Chương 23

Cuộc Đời Đức Chúa Jesus – Chương 23

JesusHealsBlind_02s

Đức Chúa Jesus Chữa Lành Người Mù

Trong khi Đức Chúa Jesus đi đường, Ngài gặp một người mù từ lúc mới sinh. Các môn đồ hỏi Ngài: “Thưa Thầy, ai là người đã phạm tội – người nầy hay cha mẹ anh ta –  khiến anh ta vừa mới sinh đã bị mù?”

Đức Chúa Jesus đáp: “Không phải tại người nầy hay cha mẹ anh đã phạm tội; nhưng điều này đã xảy ra để công việc của Đức Chúa Trời được thể hiện trong anh ta. Lúc còn ban ngày, chúng ta phải làm những công việc của Đấng đã sai Ta; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Đang lúc Ta còn ở thế gian, Ta là ánh sáng của thế gian.”

Nói xong, Ngài nhổ xuống đất, lấy nước bọt hòa thành bùn, và bôi vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: “Hãy đến ao Siloam và rửa” (Siloam có nghĩa là “được sai đi”).

Vậy, anh ta đi, và rửa, rồi trở lại thì thấy được.

Láng giềng và những người trước đây đã thấy anh ăn xin, nói rằng: “Chẳng phải là người thường ngồi ăn xin đó sao?”

Người thì nói: “Đúng là anh ta!”

Kẻ lại bảo: “Không phải! Nhưng người nào giống anh ta.”

Còn anh ta nói: “Chính tôi đây!”

Họ hỏi anh ta: “Làm thế nào mắt anh mở ra được?”

Anh đáp: “Một người tên là Jesus đã hòa bùn, bôi vào mắt tôi, và bảo tôi hãy đi đến hồ Siloam mà rửa. Tôi đã đi, rửa, và thấy được.”

Họ lại hỏi: “Người ấy ở đâu?”

Anh đáp: “Tôi không biết.”

Họ dẫn người trước đã bị mù đến gặp những người Pharisees.

Người Pharisees Điều Tra Việc Chữa Lành

Vì ngày mà Đức Chúa Jesus hòa bùn và mở mắt cho người mù là ngày sa-bát, cho nên   những người Pharisees đã hỏi anh làm thế nào anh có được thị giác.

Anh trả lời: “Người ấy bôi bùn vào mắt tôi; tôi rửa, rồi thấy được.”

Vài người trong nhóm Pharisees nói: “Người nầy không phải đến từ Đức Chúa Trời, vì không tuân giữ ngày sa-bát.”  Số khác thì nói: “Một người có tội làm thế nào có thể thực hiện một công việc diệu kỳ như vậy?” Rồi họ chia rẽ nhau.

Vì thế, họ lại hỏi người mù: “Còn anh, anh nói gì về người đã làm cho anh sáng mắt?”

Anh đáp: “Người ấy là một nhà tiên tri.”

Người Do Thái không tin rằng người nầy trước đây đã mù mà nay lại thấy được, cho tới lúc họ gọi cha mẹ anh đến.

Họ hỏi: “Có phải đây là con trai của ông bà, người mà ông bà nói đã bị mù từ lúc mới sinh không? Làm thế nào bây giờ anh ta lại thấy được?”

Cha mẹ đã trả lời: “Chúng tôi biết đây chính là con trai chúng tôi, và cháu bị mù từ lúc mới sinh. Nhưng bây giờ làm thế nào cháu thấy được, thì chúng tôi không biết. Chúng tôi cũng không biết ai đã mở mắt cho cháu. Các ông cứ hỏi cháu, cháu đã đủ tuổi rồi, cháu sẽ tự nói.”

Cha mẹ người mù nói vậy vì sợ những lãnh đạo Do Thái, vì người Do Thái đã thỏa thuận rằng nếu ai xưng Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, thì sẽ bị khai trừ khỏi nhà hội. Vì vậy, cha mẹ người mù mới nói: “Cháu đủ tuổi rồi! Cứ hỏi cháu.”

Một lần nữa, những người Pharisees lại gọi người trước đây đã bị mù, và nói cùng anh ta: “Hãy tôn vinh Đức Chúa Trời! Chúng tôi biết người nầy là kẻ có tội.”

Anh trả lời: “Tôi không biết người ấy có phải là kẻ có tội hay không. Nhưng tôi chỉ biết một điều, ấy là trước tôi đã mù, mà bây giờ thấy được.”

Họ lại hỏi: “Ông ta đã làm gì cho anh? Ông ta đã mở mắt anh như thế nào?”

Anh đáp: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không chịu nghe. Tại sao các ông lại muốn nghe nữa? Có phải các ông cũng muốn trở nên môn đồ của người không?”

Họ mắng nhiếc anh, và nói: “Mầy mới là môn đồ của ông ấy, chứ chúng ta là môn đồ của Moses. Chúng ta biết Đức Chúa Trời đã phán với Moses, nhưng về người nầy thì chúng ta không biết từ đâu đến.”

Người mù trả lời: “Người đã mở mắt cho tôi mà các ông không biết từ đâu đến thì quả là một việc lạ. Chúng ta biết Đức Chúa Trời không nghe những kẻ có tội, nhưng nếu ai kính sợ Ngài và làm theo ý muốn Ngài, thì Ngài nghe người ấy. Từ xưa đến giờ, chưa hề nghe nói có ai mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu người nầy không đến từ Đức Chúa Trời thì không thể làm được gì cả.”

Họ trả lời: “Cả con người của mầy vốn sinh ra trong tội lỗi mà còn muốn dạy chúng ta sao?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Đui Mù Tâm Linh

Đức Chúa Jesus nghe họ đã đuổi anh ra, nên khi gặp anh, Ngài hỏi: “Ngươi có tin Con Đức Chúa Trời không?”

Anh trả lời: “Thưa Chúa, người ấy là ai, để tôi có thể tin vào người?”

Đức Chúa Jesus đáp: “Ngươi đã thấy người, và ấy là người đang nói với ngươi.”

Anh nói: “Thưa Chúa! Tôi tin”, rồi thờ lạy Ngài.

Đức Chúa Jesus nói: “Ta đến thế gian nầy để phán xét, khiến cho người mù được thấy, còn kẻ thấy lại hóa mù.”

Những người Pharisees đang ở gần đó nghe vậy, thì nói với Ngài: “Chúng tôi cũng mù cả sao?”

Đức Chúa Jesus đáp: “Nếu các ngươi mù, thì không có tội gì; nhưng vì các ngươi nói: ‘Chúng tôi thấy,’ nên tội các ngươi vẫn còn. [1]

Người Chăn Chiên Nhân Lành

“Thật, Ta bảo thật cho các ngươi: Người nào không do cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào bằng lối khác, người ấy là kẻ trộm cướp. Nhưng ai do cửa mà vào, là người chăn chiên. Người giữ cửa mở cửa, và chiên nghe tiếng người chăn. Người chăn gọi tên chiên mình và dẫn ra ngoài. Khi đã đem chiên ra hết, người chăn đi trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người chăn. Chiên không theo người lạ, nhưng chúng bỏ chạy, vì chiên không quen tiếng người lạ.”

Đức Chúa Jesus kể ẩn dụ nầy cho họ, nhưng họ không hiểu Ngài muốn nói gì.  Vì vậy, Đức Chúa Jesus lại nói:

“Thật! Ta bảo thật cho các ngươi: Ta là cửa của chiên. Tất cả những người đến trước Ta đều là quân trộm cướp, nhưng chiên không nghe chúng. Ta là cái cửa; nếu ai do Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi. Họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ.  Kẻ trộm chỉ đến để cướp, giết, và hủy diệt; còn Ta đã đến để chiên được sự sống và sự sống sung mãn.

Ta là người chăn nhân lành, người chăn nhân lành vì bầy chiên hy sinh mạng sống mình.  Kẻ chăn thuê không phải là người chăn; chiên không thuộc về nó, nên khi thấy muông sói đến, nó bỏ chiên chạy trốn. Muông sói vồ lấy chiên và làm cho tan lạc. Vì là kẻ chăn thuê, nên nó không quan tâm gì đến chiên. Ta là người chăn nhân lành. Ta biết chiên Ta, và chiên Ta biết Ta; cũng như Cha biết Ta, và Ta biết Cha vậy. Ta vì bầy chiên hy sinh mạng sống mình.

Ta còn có những chiên khác không thuộc về chuồng nầy; Ta cần phải đem chúng về nữa. Chiên ấy sẽ nghe tiếng Ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi.

Sở dĩ Cha yêu thương Ta, là vì Ta hy sinh mạng sống mình, để được nhận lại. Không ai cất mạng sống Ta đi được, nhưng Ta tự nguyện hy sinh. Ta có quyền hy sinh mạng sống, và có quyền lấy lại. Ta đã nhận mệnh lệnh nầy từ nơi Cha Ta.”

Vì những lời nầy, những người Do Thái lại có sự chia rẽ. Nhiều người trong số họ nói: “Ông ta bị quỉ ám, ông ta điên; sao còn nghe ông ta làm gì?”

Một số khác thì nói: “Đây không phải là những lời nói của một người bị quỉ ám. Làm sao quỉ có thể mở mắt cho người mù?”
Bảy Mươi Môn Đồ Đi Truyền Giáo

Sau đó, Chúa chọn bảy mươi môn đồ và sai họ đi từng đôi đến trước tại những thành và những nơi Ngài sẽ đến.

Ngài nói với họ: ““Mùa gặt thì thật trúng, nhưng thợ gặt thì ít. Vậy, hãy cầu xin Chúa mùa gặt sai thợ gặt vào thu hoạch mùa màng của Ngài.

Các con hãy đi! Nầy, Ta sai các con ra đi như chiên thơ giữa bầy muông sói.

Đừng đem túi tiền, bao bị, giày dép, và đừng chào ai dọc đường. Nếu các con vào nhà nào, trước hết hãy nói: ‘Xin sự bình an ở với nhà nầy!’ Nếu nhà đó có người đáng hưởng bình an, thì sự bình an của các con sẽ ở trên người đó; bằng không, sự bình an đó sẽ trở về với các con. Hãy ở lại nhà đó, ăn và uống với họ, vì người làm công đáng được tiền lương mình. Đừng bỏ nhà nầy sang nhà khác.

Khi các con vào thành nào mà người ta tiếp rước các con, hãy ăn đồ họ dọn cho các con. Hãy chữa lành người bệnh tại đó và nói với họ rằng: ‘Vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần các người.’

Nhưng khi các con vào một thành mà họ không tiếp rước các con, hãy đi ra ngoài đường và nói: ‘Ngay cả bụi đất của thành các người dính vào chân, chúng tôi cũng phủi sạch để nghịch với các người; tuy nhiên, phải biết điều nầy: Vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần các người rồi.’ Ta bảo các con, đến ngày phán xét, thành Sô-đôm sẽ chịu phạt nhẹ hơn thành đó.

Các Môn Ðồ Trở Về Báo Cáo

Bảy mươi môn đồ trở về, vui mừng thưa với Ngài: “Lạy Chúa, nhờ danh Ngài các quỷ phải chịu khuất phục chúng con.”

Ngài nói với họ: “Ta đã thấy Sa-tan từ trời sa xuống như một lằn chớp.  Nầy, Ta ban cho các con quyền năng để giày đạp rắn độc, bò cạp, và mọi quyền lực của kẻ thù. Chẳng điều gì sẽ hại các con.  Tuy nhiên, đừng vui mừng về điều ấy – là việc các tà linh chịu khuất phục các con – nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên thiên đàng.”

Tin Lành Được Bày Tỏ Cho Trẻ Em

Ngay giờ đó Ngài tràn đầy niềm vui trong Ðức Thánh Linh và nói: “Lạy Cha! Chúa Tể của trời và đất. Con tôn ngợi Cha, vì Cha đã giấu những điều nầy với những người khôn ngoan và thông sáng nhưng tỏ ra cho những trẻ thơ. Vâng! Thưa Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.  Cha của Con đã trao mọi sự cho Con. Không ai biết rõ Con ngoài Cha, cũng không ai biết rõ Cha ngoài Con, và những kẻ Con chọn để giãi bày.”

Ðoạn Ngài quay qua các môn đồ và nói riêng với họ: “Phước cho mắt đã thấy những gì các con thấy! Vì Ta bảo cùng các con: Có nhiều nhà tiên tri và vua chúa ước ao thấy điều các con thấy, mà không được thấy, ước ao nghe điều các con nghe, mà chẳng được nghe.” [2]

Thánh Kinh Tham Khảo

[1] Giăng 9:1-41
[2] Giăng 10:1-22; Lu-ca 10:1-24

Thư Viện Tin Lành
www.thuvientinlanh.org 

©2012-2018 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top