Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Ba Ngôi Thiên Chúa: Chương 6b

Ba Ngôi Thiên Chúa: Chương 6b

cross-and-manger
ĐẤNG CỨU THẾ NHẬP THỂ

(The Incarnation of Christ)

Chữ “nhập thể” trong tiếng La tinh có nghĩa là “mang xác phàm, lấy tính người.” Chuyện Đấng Tạo Hóa cả vũ trụ tự nguyện giam mình vào trong một phần tử nhỏ bé của cõi tạo vật mênh mông của Ngài, Đấng uy nghi sáng láng hơn cả mặt trời bằng lòng che đậy vinh hiển Ngài bằng bộ áo xác phàm, là chuyện khó thể tưởng tượng, hầu như không thể tin được, nếu không có những sự kiện cho thấy đó là sự thật.

Mang Tông Tộc Con Người (Human Parentage)

Phổ Hệ (Genealogies)
(Ma-thi-ơ 1:1-16; Lu-ca 3:23-38)

Hai tác giả Phúc Âm ghi lại phổ hệ của Chúa. Bản gia phả mở đầu Phúc Âm Ma-thi-ơ chứng minh Chúa Giê-xu là con vua Đa-vít, là người thừa kế ngôi nước Y-sơ-ra-ên, cũng là con Áp-ra-ham, con của lời hứa, nhờ Ngài mà mọi gia tộc trên thế gian sẽ được phước. Lu-ca không dừng lại ở Áp-ra-ham hay Đa-vít, mà đi thẳng về người đầu tiên, là cha của cả người Do Thái lẫn ngoại bang.

Do Người Nữ Sinh Ra (Born of a woman)
(Ma-thi-ơ 1:18-20; Lu-ca 1:26-35; Giăng 1:14; Ga-la-ti 4:4)

Sách Công Vụ và các thư tín đều có nói đến điều này, nhưng các sách Phúc Âm còn kể rõ chi tiết hơn. Cả Ma-thi-ơ và Lu-ca đều chứng nhận rằng sự ra đời của Chúa không phải như một người bình thường. Theo lời tường thuật, Giô-sép mới hứa hôn với Ma-ri nhưng chưa cưới, lẽ tự nhiên chàng rất buồn khi thấy bằng chứng cho biết người thiếu nữ mình yêu dường như không chung thủy với mình. Có lẽ đang đêm, chàng đang nghĩ ngợi không biết tính cách nào để bỏ Ma-ri mà có thể cho nàng khỏi chết – theo luật Do Thái – thì một thiên sứ hiện dến với chàng và giải thích cho chàng về hành động của Đức Chúa Trời bứt ngang dây chuyền giòng giống con người để đưa vào đời một hữu thể siêu phàm. Kinh Thánh cho biết Giô-sép đã chấp nhận lời đó và đợi đến khi Ma-ri sinh con xong mới lấy nàng. Lu-ca thuật chuyện thiên sứ Gáp-ri-ên hiện ra báo tin cho Ma-ri biết sự lạ lùng của Chúa Giê-xu. Khi Ma-ri hỏi làm sao chuyện đó có thể xảy ra được, thì thiên sứ nhắc nàng rằng “với Đức Chúa Trời, không gì là không thể được” (Lu-ca 1:37). Vì Đấng Cứu Thế “bởi người nữ sinh ra” (Ga-la-ti 4:4), Ngài luôn tôn vinh tình mẹ, và chữ “mẹ” đã trở thành tiếng ngọt ngào nhất trong ngôn ngữ loài người. Tại sao Titian, nhà danh họa Ý, khi vẽ Madonna (hình Ma-ri)  đã cho bà mang khuôn mặt Ý? Tại sao Rubens cho hình Madonna của mình mang khuôn mặt Đức? Tại sao Madonna của Reynolds lại có vẻ Anh nhiều hơn? Chắc hẳn vì họ tin rằng mẹ mình tiêu biểu hơn hết cho Ma-ri mẹ của Chúa.

Trải Qua Sự Phát Triển Của Con Người (Human Development)
(Lu 2:40-42, 52)

Về phương diện con người, Đức Chúa Giê-xu phát triển y như những trẻ em khác. Ngài chịu những quy luật chi phối sự phát triển cơ  thể cũng như trí tuệ. Tuy nhiên, Ngài luôn luôn biết rằng Ngài thuộc về trời. Dầu bản chất vô tội của Ngài có ảnh hưởng đến sự phát triển, hiển nhiên Ngài cũng chịu huấn luyện để được tiến bộ như những người bình thường khác về các phương diện giáo huấn, học hỏi, suy nghĩ. Làm như vậy, Ngài đã tôn vinh tuổi thơ. Đấng Toàn Năng đã từng có lần mang đôi mắt trong sáng ngây thơ, cặp chân tay mũm mĩm, mái tóc tơ mềm của một em bé.  Món quà vĩ đại nhất Đức Chúa Trời từng ban cho loài người là một em bé. Em bé vô cùng quý giá đến nỗi cả thiên đàng đều phải chú ý, các thiên sứ đã vạch trần mây, bước xuống để nhìn khi em ra đời.

Mang Những Đặc Tính Con Người (Human Characteristics)

Hình Dáng Con Người (The Appearance of a Man)
(Ma-thi-ơ 14:24-27; Lu-ca 24:36-43; Giăng 4:9; 20:15, 19-20; Phi-líp 2:8)

Thánh Phao-lô nói rằng Ngài “trở nên giống như loài người “ (Phi-líp 2:7)  và chúng ta thấy rằng bà con thân thuộc Ngài đều coi Ngài là người.  Người đàn bà Sa-ma-ri nhận biết Ngài là người Do Thái khi thấy nét mặt và nghe tiếng nói của Ngài (Giăng 4:9). Khi Chúa xuất hiện thình lình giữa đêm tối và bước đi trên biển giữa bão tố khiến các môn đồ sợ hãi, thì Ngài trấn an họ bằng cách nói với họ và bước vào thuyền với họ (Ma-thi-ơ 14:24-27, 32)

Chúng ta không có bức hình nào của Chúa, nhưng không có lời nào trong bốn sách Phúc Âm khiến ta có thể nghĩ rằng Ngài có hình dáng khác người thường. Chỉ có trong lần hóa hình, họ mới thấy “diện mạo Ngài đổi khác” (Lu-ca 9:29). Sau khi sống lại, dường như Chúa vẫn giữ hình thể con người. Tại ngôi mộ, bà Ma-ri lầm tưởng Ngài là người giữ vườn (Giăng 20:15). Hai người môn đồ đi về Em-ma-út tưởng Ngài là khách đi đường, là “một khách lạ ở Giê-ru-sa-lem” (Lu 24:18). Ngay cả khi Chúa xuất hiện giữa phòng cao cửa đóng then gài, Ngài cũng chứng tỏ cho môn đệ thấy Ngài là con người, bằng cách ăn trước mặt họ, và đưa cho họ xem dấu thương tích của Ngài để họ tin Ngài là Đấng bị đóng đinh (Lu-ca 24:36-43; Giăng 20:19-20)

Chiếc Áo Xác Phàm (The Garment of Flesh)
(Giăng 1:14; Hê 2:14,16; 10:5)

Tân Ước làm chứng cho nhân tính thật của Chúa. Sứ đồ Giăng tuyên bố rằng “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và ở giữa chúng ta.”  Về sau ông lại còn cảnh cáo coi chừng chối bỏ sự nhập thể của Chúa (I Giăng 4:2-3). Tác giả Hê-bơ-rơ cũng nhấn mạnh sự  nhập thể khi  ông nói rằng Con Đức Chúa Trời “không mang lấy bản chất của thiên sứ mà lấy nòi giống Áp-ra-ham” (Hê-bơ-rơ 2:16). Đối tượng kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời không phải là thiên sứ sa ngã mà là loài người sa ngã. Bởi vậy Con Đức Chúa Trời trở thành người để chết thay cho con người, mang chịu hình án công bình cho tội lỗi con người (II Cô 5:21). Vì Ngài là người nên Ngài có thể chết thay cho con người; vì Ngài là Đức Chúa Trời nên công tác của Ngài trên thập tự giá có giá trị vĩnh cửu. Hơn nữa, nhờ sự nhập thể của Con Đức Chúa Trời và sự chết của Ngài trên thập tự giá, quyền lực của Sa-tan  trên con người bị bẻ gãy (Hê-bơ-rơ 2:14-15)

Những Hạn Chế Của Con Người (Human Limitations)

Chúng ta cần hiểu biết cách đúng đắn về con người của Con Đức Chúa Trời nhập thể. Ngài vừa là Đức Chúa Trời vừa là Người. Địa vị Đức Chúa Trời  của Ngài không kém đi vì Ngài là người, nhân tính của Ngài cũng không bị ảnh hưởng vì Ngài là Đức Chúa Trời. Những hạn chế nói đến trong Kinh Thánh đều do Ngài tự đặt cho mình để hành động trong một số trường hợp thuộc lãnh vực con người. Cũng nên biết rằng sau khi Chúa phục sinh, những hạn chế đó không còn nữa. Nhân tính vinh hiển của Ngài không còn bị đói khát, mệt mỏi, đau đớn, chết chóc nữa.

Về Thể Xác (Physical)

Kinh Thánh cho thấy rằng Chúa tự đặt mình dưới những hạn chế và nhu cầu của cơ thể con người, dầu người có thể dùng quyền năng của Ngài để vượt lên trên những hạn chế đó và cung cấp những nhu cầu cho mình.

Ngài đói (Ma-thi-ơ 4:2; 21:8)  dầu Ngài hóa bánh cho hàng ngàn người ăn, Ngài vẫn cần phải có thức ăn để sống.

Ngài khát (Giăng 4:7) Ngài cần nước trần gian để đánh tan cơn khát, dầu Ngài có thể ban cho con người nước hằng sống.

Ngài mệt mỏi và ngủ (Ma-thi-ơ 8:24; Giăng 4:6)

Ngài chịu đau đớn và chết (I Cô-rinh-tô 15:3; I Phi-e-rơ 4:1)

Về Trí Tuệ (Mental)
(Mác 13:32; Lu-ca 2:52)

Vì Chúa chúng ta vừa là Đức Chúa Trời vừa là người, nên Ngài có những thuộc tính dường như mâu thuẫn nhau. Ngài vừa là vô hạn vừa là hữu hạn. Có lúc Ngài tỏ ra toàn năng, nhiều khi lại tỏ ra yếu đuối. Kinh Thánh trình bày Ngài vừa là Đấng Toàn Tri (Ma-thi-ơ 9:3-4 Giăng 1:47-49; 10:15), vừa chịu những hiểu biết tiệm tiến, có lúc lại như  là không đủ hiểu biết nữa (Mác 11:13; 13:32; Lu-ca 2:52). Rõ ràng là Chúa đã chủ tâm tự hạn chế mình trong những trường hợp này vì những lý do nào đó mà chỉ có Ngài mới có thể biết được.

Được Con Người Nhìn Nhận (Human Recognition)

Chúa Giê-xu được mọi người nhìn nhận là con người. Người ta nói Ngài là:

Giê-xu Người Na-xa-rét (Jesus of Nazareth)
(Lu-ca 18:37; 24:19; Giăng 18:5)

Cả đời Chúa sống tại ngôi làng này, chỉ trừ ba năm cuối cùng, vì vậy tên Ngài gắn liền với địa danh đó. Thật vậy, rất ít người biết được Ngài ra đời tại Bết-lê-hem, vì vậy kẻ thù Ngài lý luận rằng Ngài là người Ga-li-lê thì không thể là Đấng Mê-si-a được. Lời tiên tri của Kinh Thánh tuyên bố rằng Đấng Cứu Thế sẽ ra đời tại “Bết-lê-hem là thành vua Đa-vít” nhưng ai cũng cho rằng Ngài là người Na-xa-rét khiến cho cả Ni-cô-đem học thức uyên thâm cũng lung lay niềm tin (Giăng 7:40-52)

Con Trai Của Giô-sép (The Son of Josepth)
(Lu 3:23; Giăng 6:42)

Lòng hiếu thảo của Chúa đối với Giô-sép và Ma-ri đã khiến cho mọi người cho rằng Ngài là “con trai người thợ mộc” (Ma-thi-ơ 13:55).  Ngay cả những em cùng lớn lên dưới mái nhà với Ngài cũng không chịu công nhận Ngài là Đấng Mê-si-a khi Ngài thi hành chức vụ trên đất. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, về sau họ cho Ngài là kẻ cuồng tín, mơ mộng (Mác 3:21; Giăng 7:3-5)

Con Loài Người (Son of Man, nhân tử)
(Ma-thi-ơ 26:63-64; Giăng 1:49-51)

Hơn tám mươi lần trong Phúc Âm, Chúa Giê-xu tự nhận mình là Con Loài Người. Hình như Ngài thích danh hiệu này hơn bất cứ danh hiệu nào khác, vì có khi Ngài vừa thừa nhận mình là Con Đức Chúa Trời, Ngài đã dùng ngay danh hiệu Con Loài Người cho mình. Điều này cho thấy rõ rằng Chúa rất muốn đồng hóa mình với con cái loài người.

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top