Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Ba Ngôi Thiên Chúa: Chương 4b

Ba Ngôi Thiên Chúa: Chương 4b

BookCover
TÌNH YÊU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (The Love of God)

Sứ đồ Giăng, bởi Thánh Linh cảm thúc, đã ghi lại cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc về Đức Chúa Trời trong những câu thật tóm gọn: Đức Chúa Trời là thần linh (Giăng 4:24), Đức Chúa Trời là ánh sáng (I Giăng 1:5), Đức Chúa Trời là tình yêu (I Giăng 4:8). Trong tất cả những đặc tính của bản thể Đức Chúa Trời, không có điều gì cảm động lòng con người, hoặc đáp ứng nhu cầu của chúng ta, bằng tình yêu. Không lạ gì Giăng 3:16 là câu Kinh Thánh ưa thích của hàng triệu người tin. Câu đó không tán dương sự khôn ngoan vô biên, quyền năng tuyệt đối, hay sự thánh khiết bất biến của Đức Chúa Trời, mà tán dương tình yêu vĩ đại của Ngài.

Đức Chúa Trời Yêu Thương Ai ?

Đức Chúa Con (Ma 3: 17; 17:5; Mác 1:11; 9:7; Lu 9:35; 20:13; Giăng 5:20; 15:19; 17:24)

Mỗi lần có tiếng từ trời xác chứng rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Cứu thế, thì nói rằng Ngài là “Con yêu dấu”. Trong lễ báp têm, rồi trong buổi hóa hình, chúng ta đều nghe lời thân thiết đó cùng với lời chứng ưng thuận về Ngài. Đức Chúa Giê-xu cũng nói đến tình yêu của Cha đối với Ngài, khi Ngài nói chuyện với môn đệ, cũng như với những người Do Thái vô tín.

“Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất” nhưng trước đó rất xa Ngài đã yêu Đức Chúa Con. Dĩ nhiên nếu Đức Chúa Trời là vĩnh cửu, bản chất yêu thương của Ngài đòi hỏi phải có đối tượng đời đời để yêu thương. Bởi vậy, Đức Chúa Giê-xu đã thưa với Đức Chúa Cha: “Cha đã yêu Con từ trước buổi sáng tạo thế giới”   (Giăng 17:24)

Con Cái Ngài (Phục 7:6-8; Giăng 14:21-23; 16:27; 17:23; IGiăng 3:1-2)

Môi-se tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã chọn Y-sơ-ra-ên trên hết mọi dân tộc trên thế giới, không phải vì số đông của họ, hay họ có những đặc điểm đáng khen nào, nhưng vì Ngài yêu họ mà thôi. Hơn nữa, Ngài yêu họ vì trước hết Ngài đã yêu Áp-ra-ham, Y sác và Gia cốp, tổ phụ họ (Phục 4:37) và giữ giao ước của Ngài với họ.

Trong lời từ giã, Chúa Giê-xu nói nhiều về tình yêu của Đức Chúa Cha đối với Đức Chúa Con, và đưa lên tuyệt điểm khi Ngài nói rằng “ai yêu ta sẽ được Cha ta yêu lại” (Giăng 14:21). Ba lần Ngài so sánh tình yêu Đức Chúa Cha đối với các môn đồ với tình yêu Đức Chúa Trời đối với Đức Chúa Con. Nếu chúng ta tin những lời này, thì chúng ta nhận biết rằng chúng ta không ở ngoài lề mà ở ngay bên trong tình yêu Đức Chúa Trời. Chúa Cứu Thế đứng ngay giữa trung tâm tình yêu Đức Chúa Trời, và Ngài kéo chúng ta đến với Ngài để chúng ta cũng hưởng được tình yêu nồng nàn mà Đức Chúa Cha tuôn dào trên Ngài.

Còn gì vinh dự cho bằng được gọi là con cái Đức Chúa Trời. Khi Cựu Ước nói đến các con trai của Đức Chúa Trời, thường là nói về các thiên sứ. Nghĩ đến các tạo vật thượng đẳng, vĩnh cửu này, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy họ được gọi là con Đức Chúa Trời. Điều ngạc nhiên là từ ngữ này cũng được đem áp dụng cho loài người là tạo vật thấp kém hơn nhiều. Chính vì vậy mà vị sứ đồ đã thốt lên: “Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta tình yêu thương lớn dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con Đức Chúa Trời” (I Giăng 3:1).  Con Đức Chúa Trời! Kẻ thừa hưởng vinh quang! Hoàng tử của Đấng chí Tôn! Kẻ dự phần trong hạnh phúc vô tận!

Những Kẻ Thù Nghịch (Giăng 3:16; Rô 5:8)

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian” sự thật này làm cho Ni-cô-đem kinh ngạc; vì lâu nay ông vẫn nghĩ rằng Đức Chúa Trời chỉ lo cho người Do Thái (Giăng 3:16). Đức Chúa Trời chẳng những yêu thương người Do Thái mà cũng yêu cả Dân Ngoại; không phải một phần thế gian, mà tất cả mọi người trong đó, bất kể tốt xấu thế nào.

Đức Chúa Trời không vui vì cái chết của kẻ nghịch thù, nhưng “lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (II Phi-e-rơ 3:9). Sứ mệnh của Chúa trên trái đất này là đến với tội nhân loạn nghịch: “Đang khi chúng ta còn là tội nhân, thì Đấng Christ đã vì chúng ta chịu chết.”(Rô-ma 5:8) .

 

Đức Chúa Trời Yêu Thương Như Thế Nào?

Bởi Lòng Tốt Của Ngài (His Goodness)  (Thi Thiên 25:8; 33:5; 34:8; 65:9; 68:19; 119:68; 145:7; Ma-thi-ơ 5:45; Công Vụ 14:17)

Nụ cười phúc hậu của Đức Chúa Trời rải lên khắp cõi sáng tạo. Bàn tay Đức Chúa Trời nuôi dưỡng mọi loài. Ngài trải cỏ ngọt trên đồi cho bầy súc vật thưởng thức; tuôn đổ dòng suối trên núi cho nai có nước uống; đổ nhựa thơm trong lòng hoa sứ cho con chim họa mi đến giải khát; và mở tiệc bằng hoa đồng nở rộ cho bầy ong mật.

Đức Chúa Trời tốt lành biết bao đối với loài người, mọi nhu cầu cho sự sống đều được cung ứng dồi dào. Loài người có tất cả không khí và nước mình cần; ánh sáng và sức nóng của mặt trời được cung cấp không cần tiền bạc giá cả. Chúng ta được tạo dựng trong những điều kiện thích hợp cho sự sống và cho hạnh phúc chúng ta.

Bởi Kỷ Luật Của Ngài (His Discipline)  (Châm Ngôn 3:12; Hê-bơ-rơ 12:6-11; Khải Huyền 3:19)

Đức Chúa Trời chăm sóc con cái Ngài bằng cách hướng dẫn, sửa sai họ. Trái đất không phải là nhà vĩnh viễn của chúng ta. Đây chỉ là nơi chuẩn bị chúng ta cho một cõi tương lai. Trẻ em cần có trường học, dù đôi khi rất khó chịu. Kỷ luật đau khổ là điều tốt cho con người, dù ngay lúc đó nó không có gì đáng vui mà chỉ đáng buồn. Có người nói, “phải chi Đức Chúa Trời nói với tôi rằng Ngài thương tôi”. Thì đây, Ngài đưa đau đớn, buồn khổ đến cho bạn, là Ngài bảo bạn rằng Ngài yêu bạn. “Sung sướng thay cho kẻ được Đức Chúa Trời sửa phạt” (Gióp 5:17).

Đây là sự thật chắc chắn: trong tình yêu khôn ngoan trọn vẹn của Đức Chúa Trời, Ngài khiến cho mỗi cuộc ngửa nghiêng, mỗi gánh nặng, mỗi nỗi lo buồn, hay nỗi phập phồng bất an, đều vừa với trình độ chịu đựng của chúng ta. Đó không phải chỉ là Đức Chúa Trời toàn tri, vô hình, đứng ở xa điều khiển mọi sự để đem ích lợi cho mỗi tạo vât Ngài đã dựng nên, mà Ngài bày tỏ tình yêu vô hạn, trực tiếp với từng cá nhân một.

Bởi Sự Thương Xót Ngài (His Mercy)  (Phục 4:31; Thi 86:5; 103:8, 17-18; 145:8-9; II Phi 3:9)

Thương xót là nhân từ đối với kẻ khốn cùng – thương hại, từ bi, nhẫn nhục, dịu hiền. Từ này đồng nghĩa với chữ “lòng yêu thương nhân từ” thường được tìm thấy trong Kinh Thánh.  Lòng yêu thương nhân từ là đức tính của Đức Chúa Trời, dẫn tới việc Ngài luôn ban phước cho những con cái vâng lời.  “Người nào tin cậy nơi Đức Giê-hô-va, sự nhơn từ vây phủ người ấy” (Thi Thiên 32:10). Hành động tin cậy của người tin đối với sự bảo vệ của Đức Chúa Trời, cũng giống như đứa bé tin cậy cha mẹ. Khi chúng ta dựa vào lòng Đức Chúa Trời, thì sự nhơn từ Ngài bao bọc chúng ta. Sự nhơn từ ấy vây quanh ta như bức tường lửa, không có sự dữ nào xuyên qua được. Ta cũng thấy được sự thương xót của Đức Chúa Trời không những trong việc chữa lành cho người bịnh qua sự cầu nguyện nếu đúng với ý chỉ của Ngài (Phi-líp 2:27) mà cả trong việc yên ủi những người thân đang khi họ đau buồn nữa (II Cô-rinh-tô 1:4)

Đức Chúa Trời cũng nhân từ đối những kẻ bất tuân, bằng cách nhẫn nại chịu đựng. Nếu Ngài đem công bình đối xử với họ, chắc họ bị tiêu diệt ngay; “tuy nhiên, vì lòng thương xót lớn lao, Chúa không có tận diệt họ, cũng không từ bỏ họ; vì Chúa là Đức Chúa Trời hay thương xót và nhân từ” (Nê-hê-mi 9:31). “Nhờ lòng nhơn từ của Đức Giê-hô-va mà chúng ta không bị tuyệt diệt” (Ca 3:22). Tội nhân đã bị kết án, nhưng Đức Chúa Trời nhân từ còn trù trừ thi hành án phạt. Vì lòng nhân từ mà Đức Chúa Trời giữ Sô-đôm lại cho đến khi Lót chạy thoát. Vì Ngài nhân từ nên đã cho phép dân Ca-na-an ở trên đất họ bốn trăm năm trước khi ban nó cho Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời chậm thi hành án phạt, dù chính Ngài đã tuyên án đó.

Bởi Hồng Ân Ngài (His Grace)  (Thi 84:11; Công 11:20-23; 13:43; Rô 3:24-25; I Ti 1:14)

Ân điển là ơn bất cầu xứng. Đó là tình yêu ban bố cho kẻ không đáng được. Cựu Ước thường dùng chữ thương xót, nhơn từ, vì ái tâm của Đức Chúa Trời dành ưu tiên cho dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng Tân Ước lại nhấn mạnh chữ ơn (hồng ân, ân điển, ân huệ, ân sủng), vì chữ đó được dùng để diễn tả ân huệ đối với dân ngoại bất xứng. Đức Chúa Trời thương xót dân Y-sơ-ra-ên vì giao ước Ngài đối với Ap-ra-ham, nhưng Ngài bày tỏ ân điển Ngài cho những kẻ không có quyền đòi gì nơi Ngài. Khi những người Do Thái bất tuân xưng quyền làm con cháu Áp-ra-ham, Giăng Báp-tít bảo họ rằng Đức Chúa Trời có thể làm ra con cháu Áp-ra-ham từ những hòn đá (Ma-thi-ơ 3:9). Ngay người Do Thái dưới giao ước cũ cũng không nhờ việc lành hay quyền lợi giao ước mà được xưng là công chính, mà phải nhờ hồng ân của Đức Chúa Trời bày tỏ trong công cuộc chuộc tội của Con yêu dấu Ngài (Rô-ma 3:21-25). Đức Chúa Trời thương xót dân Y-sơ-ra-ên và ban luât lệ cho họ, và Ngài thương xót những kẻ bất tuân cũng như những kẻ vâng lời, nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu đến đem hồng ân và chân lý cho con người (Giăng 1:17) .

Hồng Ân Đức Chúa Trời (II Cô-rinh-tô 8:9; Ê-phê-sô 1:7)

Chúa Giê-xu đem hồng ân đến bằng cách “dNgài vốn giàu nhưng đã trở nên nghèo vì anh em, để bởi sự nghèo khó của Ngài, anh em trở nên giàu” (II Cô-rinh-tô 8:9). Sự giàu có của Đức Chúa Trời bày tỏ trong sự tha tội chúng ta và cứu chúng ta bởi huyết Con Ngài. Hồng ân là Đức Chúa Trời tự lột bỏ vinh quang mình, đến với trái đất như một người khách bị xua đuổi, để bày tỏ tình yêu Ngài đối với những kẻ loạn nghịch (Phi-líp 2:5-8). Hồng ân là Đức Chúa Trời mặc vào chiếc áo màu đỏ thắm của Đấng Cứu Chuộc chịu chết để chinh  phục tình yêu của con người đầy uế tục, thù ghét. Hồng ân là Đức Chúa Trời tự gạt bỏ vinh quang mình để Ngài có thể bày tỏ lòng gớm ghiếc tội lỗi con người bằng cách hứng chịu những trừng phạt của nó thay vì giáng trên tội nhân. Hồng ân là Đức Chúa Trời theo đuổi kẻ không tin suốt cả cuộc đời, đưa cho họ xem đôi bàn tay và đôi chân thương tích để chứng minh cho họ thấy tình yêu Ngài, và kêu nài họ đáp ứng. Hồng ân là Đấng Chăn Chiên Nhân Lành đi vào rừng hoang tìm kiếm con chiên lạc loài, trước khi nó gặp hiểm nguy, hay mong muốn trở về.

Sự Phong Phú Của Hồng Ân    Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:4-7)

Sự phong phú của hồng ân Đức Chúa Trời không phải chỉ gồm có sự giáng hạ và cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giê-xu, mà còn có cả sự sống lại, cất lên, và vinh quang của những người tin khiêm cung. Hồng ân thật lạ lùng, diệu kỳ, sẽ là đề tài cho những lời tán tụng, lẫn thắc mắc của bao thời đại sau này. Chỉ khi nào chúng ta hiểu được phần nào sự vĩ đại của Đức Chúa Trời – quyền năng, vinh hiển và những sở hữu của Ngài, chúng ta mới biết được chút ít về sự giàu có của hồng ân Ngài khi Ngài cho những tạo vật bất xứng, không ra gì, lại còn loạn nghịch nữa, được đặc ân chia xẻ vinh quang của Ngài (Tít 3:3-7). Những bài ca trên trời, những bản thánh ca đời đời, sẽ là những bài ca của những kẻ được cứu chuộc vui hưởng hồng ân của Đức Chúa Trời (Khải Huyền 5:9-10).

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top