Bản Dịch Việt Ngữ: Hê-bơ-rơ

Hê-bơ-rơ
1
- Thời xưa, Đức Chúa Trời đã phán dạy tổ phụ của chúng ta nhiều lần và nhiều cách qua các vị tiên tri, 2. nhưng trong những ngày cuối cùng này, Ngài phán dạy chúng ta qua Đức Chúa Con, là Đấng mà Ngài đã lập làm Người thừa kế mọi vật; và qua Đấng đó, Ngài cũng tạo dựng vũ trụ.
- Ngài là sự phản ảnh của vinh quang Đức Chúa Trời và là hình ảnh chân chính của bản thể Đức Chúa Trời; và Ngài duy trì mọi vật bằng lời đầy năng quyền của Ngài.
Sau khi Ngài đã tẩy sạch tội lỗi, Ngài ngồi bên phải Đấng Tôn Nghiêm ở trong nơi rất cao, 4. Ngài cao hơn các thiên sứ bao nhiêu, thì danh vị mà Ngài thừa hưởng cũng cao trọng hơn của họ bấy nhiêu. 5. Bởi vì có khi nào Đức Chúa Trời phán với một thiên sứ: “Con là Con của Ta; ngày nay Ta đã sinh ra Con”? Hoặc nhắc lại: “Ta sẽ làm Cha của Người, và Người sẽ làm Con của Ta”?
- Ngược lại, khi Ngài đưa con đầu lòng vào trong thế gian, Ngài phán: “Tất cả các thiên sứ của Đức Chúa Trời phải thờ phượng Người.”
- Còn đối với các thiên sứ, Ngài phán: “Ngài đã tạo các thiên sứ của Ngài như những làn gió, và những người phục vụ của Ngài như những ngọn lửa.”
- Nhưng về Đức Chúa Con, Ngài phán: “Đức Chúa Trời ôi! Nguyện ngôi Ngài sẽ trường tồn vĩnh cửu, và vương trượng công chính là vương trượng của vương quốc Ngài. 9. Ngài yêu công chính và ghét gian ác; cho nên Đức Chúa Trời – là Đức Chúa Trời của Ngài – đã xức dầu cho Ngài bằng dầu của sự vui mừng, vượt trổi hơn những đồng bạn Ngài.” 10. Và: “Lạy Chúa! Từ ban đầu Ngài đã lập nền của trái đất, và các từng trời là công việc của tay Ngài. 11. Chúng sẽ hư vong, nhưng Ngài vẫn tồn tại; tất cả đều sẽ mòn như y phục; 12. Ngài sẽ cuộn chúng lại như áo choàng; và giống như y phục, chúng sẽ bị thay đổi, nhưng Ngài vẫn y nguyên, và các năm của Ngài sẽ không bao giờ dứt.”
- Nhưng với những thiên sứ, có khi nào Đức Chúa Trời phán: “Hãy ngồi bên tay phải của Ta cho tới khi Ta khiến cho những kẻ thù của ngươi làm chỗ kê chân cho ngươi”?
- Không phải tất cả những vị khác là những thần linh phục vụ, họ được sai đi để phục vụ cho những người được hưởng sự cứu rỗi hay sao?
2
- Chính vì điều này, chúng ta càng phải chú ý nhiều hơn về những điều chúng ta đã nghe, đừng để bị lôi cuốn xa lìa. 2. Bởi vì nếu sứ điệp được phán bởi các thiên sứ đã là không thể thay đổi, và mọi sự vi phạm hay bất tuân đã nhận sự báo trả thích đáng, 3. thì làm thế nào chúng ta sẽ tránh khỏi nếu chúng ta xem thường ơn cứu rỗi lớn như vậy – tức là điều đã được nhận lãnh từ ban đầu, đã được Chúa công bố, và được xác chứng cho chúng ta bởi những người đã nghe, 4. đang được Đức Chúa Trời chứng nhận bằng những dấu hiệu, những điều kỳ diệu, và những phép lạ khác nhau, cùng với những sự ban phát của Đức Thánh Linh, theo ý muốn của Ngài.
- Thật ra Đức Chúa Trời không đặt thế giới tương lai – mà chúng ta đang nói – suy phục các thiên sứ. 6. Bởi vì có lời chứng nhận rằng: “Loài người là gì mà Ngài nhớ đến, hay con người là ai mà Ngài lại quan tâm? 7. Ngài đã làm cho người thấp hơn các thiên sứ một chút; Ngài đăng quang người bằng sự vinh quang và cao trọng, 8. Ngài đặt mọi vật suy phục dưới chân của người.” Khi đặt mọi vật suy phục người như vậy, Ngài không để một vật nào không suy phục người. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chưa thấy mọi vật suy phục người.
- Nhưng ai là Đấng bị làm cho thấp hơn các thiên sứ một chút? Chúng ta thấy: Đó là Đức Chúa Jesus, do sự chết thống khổ, đã được đăng quang với sự vinh quang và tôn trọng, chính vì ân điển của Đức Chúa Trời cho mọi người mà Ngài đã nếm trải sự chết.
- Thật là thích hợp để Đấng – mà mọi vật vì Ngài và mọi vật bởi Ngài – đem nhiều người con đến vinh quang, qua một mẫu mực về sự cứu rỗi của họ, bằng cách trải qua đau khổ để được toàn vẹn. 11. Bởi vì, cả Đấng đang thánh hóa, và những người được thánh hóa, tất cả đều thuộc về một Đấng. Vì lý do này, Ngài đã không hổ thẹn để gọi họ là anh em, 12. khi nói rằng: “Ta sẽ công bố danh Ngài cho các anh em của Ta; và ca ngợi Ngài ở giữa hội chúng.” 13. Rồi một lần nữa: “Ta sẽ tin cậy nơi Ngài.” Và một lần nữa: “Hãy xem, Ta cùng với những con cái mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ta.”
- Vì con cái có cùng chung huyết nhục, cho nên Ngài cũng dự phần vào những điều đó, để qua sự chết, Ngài tiêu diệt kẻ cầm quyền của sự chết, là ma quỷ, 15. và giải phóng nhiều người, là những người vì sợ sự chết cho nên suốt đời đã sống trong nô lệ. 16. Bởi vì thật chắc chắn, trong vị trí như vậy, Ngài không giúp các thiên sứ, nhưng Ngài giúp dòng dõi của Áp-ra-ham. 17. Vì vậy, Ngài đã được tạo nên để giống như những anh em của mình trong mọi sự, để Ngài có thể trở thành vị thượng tế đầy lòng thương xót và trung tín trong những điều liên hệ với Đức Chúa Trời, để đền tội cho dân chúng. 18. Bởi vì chính Ngài đã chịu khổ, đã bị cám dỗ, cho nên Ngài có thể giúp cho những ai đang bị cám dỗ.
3
- Vì vậy, các anh em thánh khiết, là những người đang nhận sự kêu gọi thiên thượng, hãy suy nghĩ đến vị sứ đồ và vị thượng tế mà chúng ta xưng nhận, là Đức Chúa Jesus, 2. Ngài trung thành với Đấng đã bổ nhiệm Ngài, cũng như Môi-se trung thành trong cả nhà của Đức Chúa Trời. 3. Tuy nhiên, Ngài vinh quang hơn Môi-se rất nhiều – giống như một người xây nhà được tôn trọng hơn rất nhiều so với ngôi nhà. 4. Thật vậy, mỗi ngôi nhà được xây dựng bởi một người nào đó, nhưng Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng mọi vật. 5. Môi-se đã trung tín như một đầy tớ trong cả nhà của Đức Chúa Trời, để làm chứng về những điều sẽ được công bố. 6. Nhưng Đấng Christ là con trai quản trị nhà của Đức Chúa Trời – mà chúng ta là nhà của Ngài, nếu chúng ta giữ vững lòng tin cậy và niềm tự hào về hy vọng cho đến cuối cùng.
- Cho nên, như Đức Thánh Linh đã phán: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng của Ngài, 8. đừng cứng lòng của các ngươi như trong lúc nổi loạn, trong ngày thử thách tại hoang mạc, 9. là nơi tổ phụ của các ngươi đã thử Ta, bằng sự thử nghiệm, và đã thấy công việc của Ta trong bốn mươi năm. 10. Vì vậy, Ta giận thế hệ đó, và Ta đã phán: ‘Lòng chúng nó luôn luôn lầm lạc, và chúng không nhận biết những đường lối của Ta.’ 11. Cho nên Ta đã thề trong cơn thịnh nộ của Ta rằng chúng sẽ chẳng bước vào nơi an nghỉ của Ta.”
- Thưa anh em! Hãy cẩn trọng, đừng để có ai trong anh em có tấm lòng xấu xa của sự vô tín mà lìa bỏ Đức Chúa Trời hằng sống. 13. Nhưng mỗi ngày – đang khi còn gọi là “ngày nay” – anh em hãy khuyên bảo nhau để không một ai trong anh em cứng lòng vì bị tội lỗi lừa dối. 14. Bởi vì nếu chúng ta cứ giữ vững lòng tin quyết từ ban đầu cho đến cuối cùng, thì chúng ta sẽ trở thành những người dự phần với Đấng Christ. 15. Như đã được chép rằng: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng của Ngài, đừng cứng lòng của các ngươi như trong lúc nổi loạn.”
- Ai là những kẻ đã nghe tiếng Ngài rồi nổi loạn – Không phải là những người đã ra khỏi Ai Cập bởi sự dẫn dắt của Môi-se hay sao? 17. Ngài đã giận ai trong bốn mươi năm – Không phải là những kẻ phạm tội, mà thây của họ đã ngã trong hoang mạc sao? 18. Ngài đã thề với ai rằng họ không được vào nơi an nghỉ của Ngài, nếu không phải là những người đã không vâng lời hay sao? 19. Và chúng ta đã thấy rằng họ đã không thể vào đó được chỉ vì sự vô tín.
4
- Vì vậy, trong khi lời hứa được vào nơi an nghỉ của Ngài vẫn còn, chúng ta hãy lo sợ để không một ai trong chúng ta không đạt được. 2. Bởi vì Phúc Âm đã được rao giảng cho chúng ta cũng giống như cho họ; nhưng lời họ đã nghe không đem lại lợi ích gì, bởi vì không kết hiệp với đức tin của những người nghe.
- Về phần chúng ta, là những người đã tin, thì bước vào sự an nghỉ, như Ngài đã phán: “Vì Ta đã thề trong cơn thịnh nộ của Ta: ‘Họ sẽ chẳng hề bước vào nơi an nghỉ của Ta’” dù rằng công việc của Ngài đã hoàn tất từ lúc hình thành nền tảng của thế giới. 4. Bởi vì có chỗ Ngài đã phán về ngày thứ bảy như thế này: “Vào ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời nghỉ tất cả những công việc của Ngài.” 5. Và một lần nữa trong điều nầy, Ngài lại phán: “Họ sẽ chẳng hề bước vào sự an nghỉ của Ta.” 6. Như vậy, vẫn còn có một số người sẽ được vào đó, và có những người trước đây đã nhận Phúc Âm nhưng không được vào, bởi vì không vâng lời; 7. một lần nữa, Ngài xác định rõ một ngày là “ngày nay” – qua lời của Đa-vít đã nói một thời gian rất lâu về sau – như đã được trích dẫn: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng của Ngài, thì chớ cứng lòng của các ngươi.”
- Bởi vì nếu Giô-suê đã cho họ sự an nghỉ, thì Ngài sẽ không còn nói về một ngày khác nữa sau ngày hôm nay. 9. Vì vậy, vẫn còn một ngày an nghỉ sa-bát cho dân của Đức Chúa Trời. 10. Vì ai bước vào sự an nghỉ của Ngài, người đó cũng nghỉ công việc của mình, giống như Ngài đã nghỉ công việc của Ngài vậy.
- Cho nên, chúng ta phải nỗ lực bước vào nơi an nghỉ đó, để không có một người nào sa ngã theo gương của kẻ không vâng lời.
- Vì Lời của Đức Chúa Trời là sống động, sắc hơn gươm hai lưỡi, xuyên thấu vào xa đến nỗi phân chia hồn và linh, khớp và tủy, có thể phân xử những tư tưởng và ý định trong lòng. 13. Không loài thọ tạo nào có thể che giấu được trước Ngài, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mắt của Đấng, là Ngôi Lời của chúng ta.
- Do đó, bởi vì chúng ta có một vị thượng tế vĩ đại, đã vượt qua các tầng trời, là Đức Chúa Jesus, Con của Đức Chúa Trời, cho nên chúng ta hãy giữ vững những điều chúng ta xưng nhận. 15. Không phải bởi vì chúng ta có một vị thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, nhưng là Đấng bị cám dỗ đủ mọi thứ, cùng một cách, nhưng không hề phạm tội. 16. Vì vậy, chúng ta hãy vững lòng đến với ngôi ân điển, để chúng ta có thể nhận được sự thương xót và tìm được ân điển vào lúc cần được giúp đỡ.
5
- Mỗi vị thượng tế được chọn lựa trong vòng loài người, và được bổ nhiệm để thay mặt cho loài người trong mối liên hệ với Đức Chúa Trời, để dâng lễ vật và sinh tế cho tội lỗi; 2. bởi vì chính ông cũng bị vây bọc trong sự yếu đuối, cho nên có thể cảm thông với những người thiếu hiểu biết và lầm lạc; 3. và vì điều này, ông bắt buộc phải dâng sinh tế cho tội lỗi của dân chúng, cũng như cho tội lỗi của chính mình. 4. Không một ai tự chọn cho mình vinh dự đó, nhưng phải được kêu gọi bởi Đức Chúa Trời, giống như A-rôn vậy.
- Cũng vậy, Đấng Christ không tự tôn mình làm thượng tế, nhưng bởi Đấng đã phán với Ngài rằng: “Con là Con của Ta. Ngày nay Ta đã sinh ra Con.” 6. Cũng vậy, trong một chỗ khác, Ngài phán: “Con là tư tế đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc.”
- Trong những ngày còn trong thân xác, Ngài đã lớn tiếng dâng những lời cầu nguyện và nài xin với nước mắt lên Đấng có quyền cứu Ngài khỏi chết; và bởi sự tôn kính, Ngài được nhậm lời. 8. Mặc dù là Con, Ngài cũng đã học tập vâng lời qua những khổ đau đã chịu; 9. và khi đã hoàn tất, Ngài trở nên cội nguồn của ơn cứu rỗi đời đời cho mọi người vâng lời Ngài, 10. và được Đức Chúa Trời chỉ định làm thượng tế theo ban Mên-chi-xê-đéc.
- Chúng tôi có nhiều điều cần nói về vấn đề nầy nhưng rất khó giải thích, bởi vì anh em đã trở nên chậm hiểu trong khi nghe. 12. Lẽ ra, lúc này anh em phải là những thầy giáo, một lần nữa anh em vẫn cần người dạy những điều sơ học của lời Đức Chúa Trời cho anh em; anh em vẫn còn phải uống sữa thay vì dùng thức ăn đặc. 13. Ai chỉ uống sữa thì chưa hiểu đạo công chính, bởi vì người đó vẫn còn thơ ấu; 14. nhưng thức ăn đặc dành cho người trưởng thành, là cho những người nhờ thực hành mà tập luyện khả năng phân biệt cả điều thiện và điều ác.
6
- Vì vậy, chúng ta nên tiến tới để đạt đến sự trưởng thành trong sự học biết về Đấng Christ, hãy rời khỏi những điều sơ học, đừng đặt lại những vấn đề căn bản như: sự ăn năn từ những công việc đáng chết, đức tin nơi Đức Chúa Trời, 2. hướng dẫn về những báp-têm, sự đặt tay, sự sống lại từ cõi chết và sự phán xét đời đời. 3. Nếu Đức Chúa Trời cho phép thì chúng ta sẽ làm những điều này.
- Bởi vì không thể cho những người đã từng được soi sáng, đã từng nếm ân tứ thiên thượng, đã nhận lãnh Đức Thánh Linh, 5. đã nếm sự tốt đẹp của lời Đức Chúa Trời, và quyền năng của thời đại sẽ đến – 6. và rồi vấp ngã – thì không thể nào phục hồi để ăn năn, bởi vì chính họ đã đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự một lần nữa, và công khai sỉ nhục Ngài. 7. Bởi vì đất nào có mưa đến thường xuyên thì thấm nhuần, rồi sinh sản hoa mầu hữu ích cho người trồng trọt, và hưởng phước lành của Đức Chúa Trời. 8. Nhưng nếu đất nào chỉ sinh gai góc và tật lê thì không có giá trị, gần như bị nguyền rủa, và cuối cùng phải bị thiêu đốt.
- Thưa anh em yêu dấu, mặc dù chúng tôi nói như vậy, nhưng chúng tôi vẫn được thuyết phục về những điều tốt hơn từ anh em, và những việc thuộc về sự cứu rỗi. 10. Bởi vì Đức Chúa Trời không phải là bất công mà quên những công việc và lòng yêu thương của anh em đã bày tỏ vì danh của Ngài để phục vụ cho các thánh đồ – và vẫn còn đang phục vụ. 11. Nhưng chúng tôi mong ước rằng mỗi một người trong anh em cứ bày tỏ lòng nhiệt thành cũng như vậy về sự bảo đảm đầy trọn của niềm hy vọng cho đến cuối cùng; 12. để anh em không chậm trễ, nhưng là những người bắt chước những người nhờ đức tin và kiên nhẫn mà thừa hưởng những lời hứa.
- Khi Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham, bởi vì không thể chỉ đấng nào lớn hơn cho nên Ngài đã chỉ chính Ngài mà thề 14. rằng: “Chắc chắn Ta sẽ ban phước cho con và khiến dòng dõi của con gia tăng bội phần.” 15. Nhờ kiên nhẫn chờ đợi như vậy, ông đã nhận được lời hứa. 16. Thật vậy, người ta thường lấy danh một đấng lớn hơn mình mà thề, và mọi cuộc tranh chấp kết thúc với một lời thề để xác định. 17. Cũng vậy khi Đức Chúa Trời muốn bày tỏ nhiều hơn cho những người thừa hưởng lời hứa biết được mục đích không thay đổi của Ngài, Ngài đã xác nhận bằng một lời thề; 18. để nhờ hai điều không thể thay đổi, bởi vì Đức Chúa Trời không thể nói dối, qua đó chúng ta có được sự khích lệ mạnh mẽ để chạy đến ẩn náu và nắm chặt niềm hy vọng đã đặt ở phía trước. 19. Chúng ta có niềm hy vọng nầy như là một cái neo chắc chắn và vững vàng của linh hồn, để tiến vào bên trong bức màn, 20. là nơi Đức Chúa Jesus, là Đấng Tiên Phong, đã vì chúng ta bước vào, và đã trở nên vị thượng tế đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc.
7
- Vì Mên-chi-xê-đéc nầy là vua của Sa-lem, là tư tế của Đức Chúa Trời Chí Cao, đã gặp và chúc phước cho Áp-ra-ham khi ông chiến thắng các vua trở về; 2. cũng là người mà Áp-ra-ham đã nộp tất cả một phần mười. Tên của vua trước hết có nghĩa là “vua của công chính”, và cũng là vua của Sa-lem, nghĩa là “vua của hòa bình”. 3. Người không có cha, không có mẹ, không có gia phả, không có ngày khởi đầu, và cũng không có ngày kết thúc, nhưng giống như Con của Đức Chúa Trời, vẫn làm tư tế cho đến đời đời.
- Hãy suy xét! Đấng này cao trọng biết dường nào, đến nỗi chính Áp-ra-ham, vị tộc trưởng, đã dâng một phần mười các chiến lợi phẩm cho Đấng ấy.
- Những người thuộc dòng dõi Lê-vi đã nhận chức vụ tư tế, và theo một mệnh lệnh trong luật pháp, họ là người nhận một phần mười từ dân chúng, tức là từ những anh em của mình, dù chính họ cũng từ Áp-ra-ham mà ra. 6. Nhưng Đấng ấy, vốn không phải là dòng dõi của họ, đã nhận một phần mười từ Áp-ra-ham, và Đấng ấy đã chúc phước cho ông, là người đã nhận những lời hứa.
- Người cao hơn ban phước cho người thấp hơn, đó là điều không chối cãi được. 8. Trong trường hợp nầy, những người khả tử đã nhận một phần mười đều đã chết; nhưng trong trường hợp kia, Đấng ấy được chứng nhận là hiện đang sống. 9. Vì vậy, có thể nói rằng người Lê-vi nhận một phần mười, qua Áp-ra-ham, cũng dâng một phần mười, 10. bởi vì Lê-vi vẫn còn ở trong lòng tổ phụ, lúc gặp Mên-chi-xê-đéc.
- Nếu chức vụ tư tế thuộc dòng Lê-vi đã được sự toàn hảo – bởi vì dân chúng đã nhận luật pháp qua chức vụ tư tế này – thì tại sao vẫn cần lập lên một tư tế khác, theo ban Mên-chi-xê-đéc chứ không theo ban A-rôn?
- Chức vụ tư tế đã thay đổi thì luật pháp cũng cần phải thay đổi. 13. Bởi vì Đấng mà những lời đó nói đến thuộc về một chi tộc khác, và trong chi tộc đó chưa từng có ai phục vụ nơi bàn thờ. 14. Bởi vì thật rõ ràng, Chúa của chúng ta đã ra từ Giu-đa, một chi tộc mà Môi-se không nói gì về chức vụ tư tế. 15. Điều nầy càng rõ hơn nữa, khi chúng ta thấy một tư tế khác được lập lên, giống như Mên-chi-xê-đéc, 16. là Đấng được thiết lập không theo một mạng lệnh nào trong điều răn xác thịt, nhưng theo quyền năng của sự sống bất diệt. 17. Điều này đã được xác nhận: “Con là tư tế đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc.”
- Như vậy, điều răn cũ đang được đặt qua một bên bởi vì sự yếu kém và vô hiệu của nó 19. – bởi vì luật pháp không thể khiến điều gì trở nên toàn hảo – nhưng chỉ là lời mở đầu cho một niềm hy vọng tốt hơn, để qua đó chúng ta được đến gần Đức Chúa Trời. 20. Sự khác biệt rất nhiều này đã được thể hiện trong một lời thề. Thật vậy, những người khác trở nên tư tế mà không có lời thề nào cả; 21. nhưng Ngài có một lời thề, bởi Đấng đã nói với Ngài: “Chúa đã thề, và sẽ không đổi ý: Con là tư tế đời đời.” 22. Vì vậy, Đức Chúa Jesus đã trở thành Đấng bảo đảm cho một giao ước tốt hơn rất nhiều.
- Số người đã trở thành tư tế rất nhiều, nhưng vì họ bị chết nên không thể tiếp tục. 24. Tuy nhiên, bởi vì Ngài tồn tại đời đời, cho nên Ngài giữ chức tư tế vĩnh viễn. 25. Vì vậy, Ngài có thể cứu toàn vẹn những người nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, bởi vì Ngài luôn luôn sống để cầu thay cho họ.
- Thật vậy, Ngài là vị thượng tế phù hợp cho chúng ta: thánh khiết, vô tội, không ô uế, tách biệt khỏi những tội nhân, được tôn cao hơn các tầng trời; 27. là Đấng không như những thượng tế khác, phải dâng sinh tế mỗi ngày, trước hết vì tội của mình, sau đó vì tội của dân chúng; vì điều này, Ngài đã dâng chính mình Ngài làm sinh tế một lần đủ cả. 28. Luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm những thượng tế; nhưng lời thề, có sau luật pháp, đã lập Con – là Đấng toàn hảo đời đời.
8
- Điểm chính yếu của những điều đang nói đó là: Chúng ta có một thượng tế cao quý, ngồi bên phải ngai của Đấng Tôn Nghiêm ở trên trời, 2. là người phục vụ trong nơi thánh, là Lều Chứng Cớ thật sự, do Chúa dựng lên chứ không phải do con người.
- Mỗi thượng tế đều được bổ nhiệm để dâng lễ vật và sinh tế; do đó vị thượng tế nầy cũng cần phải dâng vật gì. 4. Nếu Ngài còn ở dưới đất, thì Ngài chẳng phải là tư tế, bởi vì ở dưới đất đã có những tư tế dâng lễ vật theo luật pháp, 5. và sự phục vụ của họ chỉ mô phỏng và là hình bóng của những điều ở trên trời; giống như Môi-se khi sắp dựng Lều Chứng Cớ thì đã được hướng dẫn cách thiên thượng: “Ngài phán: Hãy cẩn thận! Ngươi hãy làm mọi việc theo kiểu mẫu đã chỉ dẫn cho ngươi ở trên núi.”
- Nhưng bây giờ Ngài đã nhận lãnh một chức vụ cao trọng hơn, Ngài là Đấng Trung Gian của một giao ước tốt hơn rất nhiều, là giao ước đã được thiết lập trên những lời hứa tốt hơn.
- Bởi vì nếu giao ước thứ nhất đã toàn hảo rồi, thì không cần lập giao ước thứ hai. 8. Nhận thấy những lầm lỗi của họ, Ngài phán: “Nầy! Những ngày sắp đến, Chúa phán rằng: Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa, 9. không giống như giao ước mà Ta đã lập với các tổ phụ của họ, trong ngày mà Ta đã cầm tay của họ dẫn họ ra khỏi đất Ai Cập; bởi vì họ không còn tiếp tục giữ giao ước của Ta, cho nên Ta bỏ mặc họ, Chúa phán vậy.”
- “Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên: Sau những ngày đó, Chúa phán: Ta sẽ đặt luật pháp của Ta trong trí của họ, và Ta sẽ ghi khắc vào lòng của họ; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ làm dân của Ta. 11. Họ sẽ không phải dạy bảo láng giềng của mình và mỗi anh em của mình rằng: ‘Hãy nhận biết Chúa’ bởi vì tất cả sẽ biết Ta, từ người thấp kém nhất cho đến người cao trọng nhất; 12. bởi vì Ta sẽ bày tỏ lòng thương xót đối với sự gian ác của họ, và Ta sẽ không ghi nhớ tội lỗi của họ nữa.”
- Khi nói về cái mới, Ngài đã kể cái trước là lỗi thời; và như vậy điều gì đã lỗi thời và cũ kỹ thì gần biến mất.
9
- Thật vậy, giao ước thứ nhất cũng có những quy định về việc thờ phượng và một đền thánh ở dưới đất. 2. Bởi vì Lều Chứng Cớ đã được sắp đặt: Trong phần thứ nhất, được gọi là Nơi Thánh, có chân đèn, bàn và bánh cung hiến. 3. Phía sau bức màn thứ hai của Lều Chứng Cớ gọi là Nơi Chí Thánh, 4. gồm có bàn thờ dâng hương bằng vàng và Rương Giao Ước, bọc mọi vật bằng vàng, bên trong có một chiếc bình bằng vàng đựng ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và các bảng giao ước. 5. Phía trên có các chê-ru-bim rực rỡ che phủ nắp thi ân – nhưng bây giờ không phải là lúc thảo luận từng chi tiết về những vật đó.
- Những vật đó đã được sắp đặt như vậy, để các tư tế thường xuyên vào trong phần thứ nhất của Lều Chứng Cớ để hoàn thành những thánh lễ phục vụ. 7. Tuy nhiên, vào trong phần thứ hai thì mỗi năm một lần, chỉ một mình vị thượng tế vào đó, và phải đem theo huyết, để ông dâng tế lễ chuộc tội cho chính mình và cho dân chúng.
- Đức Thánh Linh dùng điều nầy để chỉ ra rằng một khi Lều Chứng Cớ thứ nhất vẫn còn đứng đó thì đường vào Nơi Chí Thánh chưa được mở, 9. điều nầy biểu tượng cho thời hiện tại, trong đó các lễ vật và sinh tế được hiến dâng không có khả năng làm cho lương tâm của người thờ phượng được toàn hảo, 10. nhưng chỉ liên quan đến những thức ăn, những thức uống, và những lễ thanh tẩy khác nhau, là những luật lệ thuộc về xác thịt, phải được tuân thủ cho đến thời kỳ cải cách.
- Nhưng khi Đấng Christ xuất hiện như một vị thượng tế, những điều tốt đẹp sẽ đến: Ngài vào một Lều Chứng Cớ lớn hơn và toàn hảo hơn, không phải do bàn tay của con người làm ra – nghĩa là không phải là tạo vật của đời nầy; 12. Ngài đã bước vào Nơi Chí Thánh một lần đủ cả, không dùng máu của dê và bò con, nhưng dùng chính huyết của mình, để đem đến sự cứu chuộc đời đời. 13. Bởi vì nếu máu của dê và của những bò đực, cùng tro của bò cái tơ, được rảy trên những kẻ bị ô uế còn thánh hóa họ để được thanh tẩy về phần xác, 14. thì huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì vết cho Đức Chúa Trời, sẽ tẩy sạch lương tâm của chúng ta khỏi những công việc đáng chết, để phục vụ Đức Chúa Trời hằng sống, càng nhiều hơn là dường nào!
- Vì lý do đó, Ngài là Đấng Trung Gian của giao ước mới; nhờ đó những người được kêu gọi để nhận lãnh cơ nghiệp đời đời có thể nhận được lời hứa về sự cứu chuộc, thay vì phải chết do những tội lỗi dưới giao ước thứ nhất.
- Trong trường hợp có chúc thư, cần phải chứng tỏ rằng người lập chúc thư đã chết. 17. Chúc thư chỉ có hiệu lực sau khi chết; bởi vì nó không thể áp dụng khi người lập chúc thư còn đang sống. 18. Do đó, ngay cả giao ước thứ nhất cũng không hiệu lực nếu không có máu. 19. Bởi vì khi Môi-se công bố mọi điều răn theo luật pháp cho tất cả dân chúng, ông đã lấy máu của bò con và dê, với nước, cùng dây nhung đỏ, và nhánh bài hương rảy trên quyển sách cùng trên cả dân chúng 20. rồi nói rằng: “Đây là huyết của giao ước mà Đức Chúa Trời đã truyền dạy cho các ngươi.” 21. Và ông đã rảy máu như vậy trên Lều Chứng Cớ cùng tất cả những vật dụng để thờ phượng. 22. Theo luật pháp, hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được thanh tẩy; không đổ huyết thì không có sự tha thứ.
- Thật vậy, nếu các bản sao của những vật trên trời cần phải được thanh tẩy như vậy, thì chính những vật trên trời phải nhờ sinh tế tốt hơn những vật này. 24. Vì Đấng Christ không vào nơi thánh bởi tay người làm ra – là những bản sao của những vật có thật – nhưng vào chính thiên đàng, để bây giờ Ngài đã thay thế chúng ta đến trước Đức Chúa Trời; 25. Ngài cũng không dâng chính mình nhiều lần như vị thượng tế mỗi năm phải vào Nơi Chí Thánh với máu không phải là máu của mình. 26. Vì nếu như vậy, từ buổi sáng thế cho đến nay, Ngài đã phải lập lại sự chịu khổ nhiều lần. Nhưng bây giờ, Ngài đã thể hiện sự hy sinh chính mình Ngài một lần đủ cả, vào cuối các thời đại, để cất bỏ tội lỗi đi.
- Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét. 28. Cũng vậy, Đấng Christ đã hiến dâng chỉ một lần để gánh chịu tội lỗi của nhiều người; vì Ngài sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải vì tội lỗi, nhưng đem sự giải cứu cho những người đang trông đợi Ngài.
10
- Bởi vì luật pháp chỉ là cái bóng của những điều tốt đẹp sẽ đến, không phải là hình thể thật của những điều đó; cho nên, cùng một sinh tế được dâng mỗi năm – và người ta liên tục dâng như vậy – không bao giờ có thể đem những người đó đến sự toàn hảo. 2. Nếu được, thì họ đã ngưng dâng sinh tế rồi, bởi vì không phải những người thờ phượng một khi đã được thanh tẩy rồi thì họ không còn bận tâm về tội lỗi nữa hay sao? 3. Tuy nhiên những điều này chỉ là sự nhắc nhở hằng năm về tội lỗi. 4. Bởi vì máu của bò đực và của dê không thể cất bỏ tội lỗi được.
- Do đó, khi vào trong thế gian, Ngài phán: “Ngài không muốn sinh tế và lễ vật, nhưng Ngài đã chuẩn bị một thân thể cho tôi. 6. Ngài không vui lòng về tế lễ thiêu và tế lễ chuộc tội. 7. Rồi, tôi nói: ‘Nầy, tôi đến! Trong sách có chép về tôi.’ Đức Chúa Trời ôi! Tôi đến để thực hành ý định của Ngài.’ ”
- Bởi vì phía trên nói rằng: “Ngài không muốn, cũng không vui về những sinh tế, lễ vật, tế lễ thiêu và tế lễ chuộc tội” – là những lễ vật theo luật pháp 9. và rồi Ngài nói: “Nầy, tôi đến để thực hành ý định của Ngài.” Ngài đã bỏ điều trước để thiết lập điều sau. 10. Bởi ý định đó, chúng ta được thánh hóa nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jesus Christ một lần đủ cả.
- Thật vậy, mỗi tư tế hằng ngày đứng phục vụ, và dâng bằng cách lập đi lập lại cùng một loại sinh tế, là vật không bao giờ có thể cất bỏ tội lỗi. 12. Nhưng Đấng đã vì tội lỗi dâng sinh tế chuộc tội duy nhất một lần và hiệu lực vĩnh viễn, sau đó ngồi bên phải Đức Chúa Trời; 13. và từ đó, Ngài chờ đợi cho đến khi các kẻ thù của Ngài bị đặt làm bệ cho chân của Ngài. 14. Bởi vì chỉ bởi một sinh tế duy nhất, Ngài đã làm cho những người được thánh hóa trở nên toàn hảo mãi mãi.
- Đức Thánh Linh cũng làm chứng cho chúng ta như vậy; vì sau khi nói: 16. “Đây là giao ước mà Ta sẽ lập với họ; sau những ngày đó – Chúa phán – Ta sẽ đặt luật pháp của Ta trong lòng của họ và Ta sẽ ghi khắc vào tâm trí của họ.” 17. và “Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi của họ và những hành động gian ác của họ nữa.” 18. Nơi nào có sự tha thứ thì không cần dâng tế lễ vì tội lỗi nữa.
- Vì vậy, thưa anh em, nhờ huyết của Đức Chúa Jesus, hãy dạn dĩ vào Nơi Chí Thánh, 20. bởi con đường mới và sống mà Ngài đã thiết lập cho chúng ta ngang qua cái màn – nghĩa là ngang qua xác của Ngài – 21. và vì có một tư tế vĩ đại đang quản trị nhà của Đức Chúa Trời, 22. cho nên chúng ta hãy đến gần với tấm lòng chân thành, với niềm tin vững chắc, tấm lòng được tẩy sạch khỏi lương tâm xấu xa, thân thể đã được rửa bằng nước tinh khiết. 23. Chúng ta hãy giữ chặt lời tuyên xưng về niềm hy vọng vững chắc của chúng ta, bởi vì Đấng đã hứa với chúng ta là thành tín. 24. Chúng ta hãy quan tâm lẫn nhau, khích lệ nhau về lòng yêu thương và các việc lành. 25. Đừng bỏ sự nhóm lại như vài người quen làm, nhưng hãy khích lệ nhau; nếu anh em thấy ngày đó càng gần chừng nào thì càng phải làm như vậy chừng nấy.
- Bởi vì nếu chúng ta đã nhận biết chân lý rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có sinh tế nào để chuộc tội được nữa, 27. nhưng chỉ đợi chờ sự phán xét kinh khiếp và lửa hừng sẽ thiêu đốt những kẻ phản nghịch. 28. Ai đã vi phạm luật pháp của Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì người đó chết không thương xót. 29. Huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi thường huyết của giao ước, tức là huyết đã thánh hóa mình, lại còn xúc phạm đến Thánh Linh của ân điển, anh em nghĩ rằng người ấy không đáng bị trừng phạt nặng nề hơn hay sao? 30. Bởi vì chúng ta biết Đấng đã phán: “Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo trả.” Và lại phán: “Chúa sẽ phán xét dân của Ngài.” 31. Thật là kinh khiếp khi sa vào tay của Đức Chúa Trời hằng sống.
- Nhưng hãy nhớ lại những ngày xưa, vào lúc anh em được soi sáng, anh em đã chịu nhiều gian khổ trong cuộc tranh chiến rất lớn: 33. Khi thì bị bách hại và công khai bị sỉ nhục; lúc phải san sẻ với những người trải qua cùng cảnh ngộ. 34. Vì anh em đã cảm thương với những người bị tù, và vui lòng chấp nhận để những vật sở hữu của mình bị cướp đoạt, bởi vì anh em biết rằng mình có vật sở hữu quý hơn và còn lại mãi. 35. Vì vậy, đừng từ bỏ lòng tin quyết của mình, là điều sẽ đem lại phần thưởng lớn. 36. Anh em cần phải kiên nhẫn để ý muốn của Đức Chúa Trời được thực hiện, để anh em có thể nhận được lời hứa. 37. Bởi vì “chỉ còn ít lâu nữa thôi thì Đấng đang đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ. 38. Nhưng người công chính của Ta sẽ sống bởi đức tin, còn nếu lui đi thì linh hồn của Ta chẳng vui chút nào.” 39. Tuy nhiên chúng ta không phải là kẻ thối lui để bị hư mất, nhưng là người có đức tin gìn giữ linh hồn.
11
- Đức tin là sự khẳng định về những điều đang hy vọng, là sự thuyết phục về những điều chưa thấy. 2. Những người thời xưa đã được chấp nhận vì điều này.
- Bởi đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi Lời của Đức Chúa Trời, do đó những vật hữu hình đã được tạo nên từ những vật vô hình.
- Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một sinh tế tốt hơn của Ca-in, và qua đó ông được xác chứng là công chính. Đức Chúa Trời đã chấp nhận những lễ vật của A-bên, và nhờ đó ông vẫn nói mặc dù đã chết.
- Bởi đức tin, Hê-nóc đã được cất lên mà không trải qua sự chết; người ta không thấy ông bởi vì Đức Chúa Trời đã tiếp ông lên. Trước khi được tiếp lên, ông được xác chứng là sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. 6. Không có đức tin thì không thể nào sống đẹp lòng Đức Chúa Trời bởi vì người nào đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng Ngài thực hữu và Ngài là Đấng ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài.
- Bởi đức tin, Nô-ê đã được Chúa hướng dẫn về những việc chưa thấy, và ông đã thành tâm kính sợ xây dựng một chiếc tàu để cứu gia đình của mình; qua đó ông đã lên án thế gian và ông đã trở nên người thừa kế sự công chính đến từ đức tin.
- Bởi đức tin, khi được kêu gọi, Áp-ra-ham đã vâng lời để đi đến một nơi mà ông sẽ nhận làm cơ nghiệp; ông đã đi mà không biết nơi mình sẽ đến. 9. Nhờ đức tin, Áp-ra-ham cư ngụ trong đất hứa như là một người ngoại quốc, đã ở trong các lều trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là những người đồng thừa kế cùng một lời hứa. 10. Bởi vì ông đang chờ đợi một thành phố có nền móng do Đức Chúa Trời thiết kế và xây dựng. 11. Nhờ đức tin, chính Sa-ra, một người hiếm muộn, đã nhận năng lực để thụ tinh mặc dù đã vượt quá tuổi có khả năng sinh sản, bởi vì bà tin rằng Đấng đã hứa với mình là thành tín. 12. Vì vậy, cũng từ một người, là một người gần chết, lại sinh ra muôn vàn con cháu đông như sao trên trời như cát bãi biển không thể đếm được.
- Tất cả những người nầy đều chết trong đức tin, chưa nhận được những lời hứa; nhưng chỉ nhìn thấy và chào đón những điều đó từ xa; và họ đã nhìn nhận rằng họ chỉ là những kiều dân và là những lữ khách ở trên đất. 14. Bởi vì những người nói như vậy đã chứng tỏ rằng họ đang tìm kiếm một quê hương cho mình. 15. Và thật vậy, nếu họ đã nhớ về quê hương nơi họ đã đi ra, thì họ cũng có cơ hội để trở về. 16. Tuy nhiên, họ mong ước một quê hương tốt hơn, là quê hương thiên thượng. Do đó, Đức Chúa Trời đã không hổ thẹn để Ngài được gọi là Đức Chúa Trời của họ, bởi vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành phố.
- Bởi đức tin, trong lúc được thử nghiệm, Áp-ra-ham đã hiến dâng Y-sác. Đứa con một đang được hiến dâng cũng chính là đứa con đã nhận lãnh theo lời hứa, 18. và là người đã được phán rằng: “Dòng dõi của con sẽ được xướng danh từ Y-sác.” 19. Ông nghĩ rằng Đức Chúa Trời có quyền làm cho sống lại từ cõi chết, là nơi, nói theo nghĩa bóng, ông nhận lại con của mình.
- Bởi đức tin, Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những việc sẽ đến. 21. Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần qua đời đã chúc phước cho mỗi con trai của Giô-sép, và đã dựa trên đầu cây gậy của mình mà thờ phượng. 22. Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời đã nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ ra đi, và ban những hướng dẫn về hài cốt của ông.
- Bởi đức tin, Môi-se, khi mới sinh, cha mẹ của ông đã giấu trong ba tháng, bởi vì họ thấy đứa bé xinh đẹp, và không sợ chiếu chỉ của vua. 24. Bởi đức tin, Môi-se lúc trưởng thành, đã từ bỏ danh hiệu là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, 25. thà bị áp bức cùng con dân của Đức Chúa Trời hơn là thụ hưởng lạc thú tạm thời của tội lỗi. 26. Ông coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quý hơn châu báu của Ai Cập, bởi vì ông trông mong sự ban thưởng. 27. Bởi đức tin, ông lìa Ai Cập không sợ cơn giận của vua; vì ông kiên định như nhìn thấy Đấng vô hình. 28. Bởi đức tin, ông đã giữ lễ Vượt Qua, và đã rưới huyết, để đấng hủy diệt không đụng đến các con đầu lòng.
- Bởi đức tin, người Do Thái đã vượt qua Biển Đỏ như đi trên đất khô, những người Ai Cập cố đi qua, thì bị nuốt mất.
- Bởi đức tin, các vách thành của Giê-ri-cô đã sụp đổ sau khi người Do Thái đi vòng quanh bảy ngày.
- Bởi đức tin, kỹ nữ Ra-háp đã không chết với những kẻ không tin, bởi vì nàng đã tiếp rước các thám tử cách bình an.
- Tôi sẽ còn nói gì nữa? Bởi vì tôi sẽ không có đủ thì giờ để nói về Ghi-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các tiên tri. 33. Những người đó bởi đức tin đã chinh phục các vương quốc, thực thi công lý, thu nhận những lời hứa, bịt miệng sư tử, 34. tắt ngọn lửa hừng, thoát khỏi lưỡi gươm, được mạnh mẽ thoát khỏi sự yếu đuối, trở nên dũng cảm trong chiến trận, khiến quân đội ngoại xâm chạy trốn. 35. Có những phụ nữ đã nhận lại thân nhân của mình từ cõi chết sống lại; có những người khác bị tra tấn nhưng không chấp nhận được thả ra để họ có thể nhận được sự phục sinh tốt hơn. 36. Những người khác đã nhận sự thử thách bị chế giễu và bị đánh đập; thêm vào đó cũng bị xiềng xích và lao tù. 37. Họ đã bị ném đá, bị cám dỗ, bị cưa đôi, bị giết bằng gươm; bị lưu lạc trong lốt chiên và lốt dê, bị thiếu thốn, bị hà hiếp và ngược đãi. 38. Thế gian không xứng đáng cho họ; họ đã lưu lạc trong hoang mạc, trên núi cao, trong những hang động, trong những hầm hố dưới đất.
- Tất cả những người đó đã được chứng nhận tốt nhờ đức tin, nhưng họ chưa nhận lãnh điều đã hứa, 40. bởi vì Đức Chúa Trời đã hoạch định điều tốt hơn cho chúng ta – họ không được hoàn hảo, ngoại trừ chúng ta.
12
- Cũng vậy, bởi vì có rất nhiều người chứng kiến, đang vây quanh chúng ta như một đám mây rất lớn, cho nên chúng ta hãy bỏ qua một bên mọi gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương, hãy chạy cuộc đua đã được đặt trước mặt chúng ta với sự kiên trì. 2. Hãy nhìn xem Đức Chúa Jesus là cội nguồn và kết cuộc của đức tin, Ngài là Đấng vì niềm vui đặt trước mặt mình, đã kiên trì gánh chịu thập tự, xem thường sự sỉ nhục, và đã ngồi bên phải ngôi của Đức Chúa Trời. 3. Hãy suy nghĩ đến Đấng đã kiên trì chịu sự chống đối của những kẻ tội lỗi đến như vậy, để anh em không mòn mỏi hay ngã lòng.
- Trong cuộc tranh chiến với tội lỗi, anh em chống cự nhưng chưa đến nỗi phải đổ huyết, 5. và anh em đã quên lời khuyên dành cho anh em như những người con rằng: “Này con của ta! Đừng xem nhẹ sự sửa phạt của Chúa, cũng đừng ngã lòng vì sự khiển trách của Ngài. 6. Chúa kỷ luật người Ngài yêu thương; Ngài đánh đòn mỗi người Ngài nhận làm con.”
- Khi anh em chịu kỷ luật, Đức Chúa Trời đang đối đãi với anh em như những người con; bởi vì có người con nào mà cha không kỷ luật? 8. Nhưng nếu anh em không chịu kỷ luật như mọi người con đều phải chịu, thì anh em là những đứa con ngoại tình chứ không phải là con thật. 9. Hơn nữa, cha về phần xác kỷ luật mà chúng ta còn kính sợ, không phải Cha về phần hồn kỷ luật, chúng ta lại càng thuận phục nhiều hơn và để được sự sống hay sao? 10. Thật vậy, vì lợi ích ngắn hạn, những người cha về phần xác theo ý tốt của mình thi hành sự sửa phạt; nhưng Ngài kỷ luật vì ích lợi, đó là để chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết của Ngài. 11. Tất cả sự kỷ luật lúc nầy không phải là điều vui, nhưng chỉ là đau đớn, tuy nhiên về sau sinh ra bông trái công chính và bình an cho những người đã được huấn luyện.
- Vì vậy, hãy nâng những bàn tay yếu đuối và những đầu gối lỏng lẻo lên, 13. và hãy làm cho thẳng những đường lối cho chân của anh em, để người què không bị trặc chân, nhưng được chữa lành.
- Hãy tìm sự hòa thuận với mọi người, và sự thánh khiết, bởi vì nếu không có điều đó thì không ai thấy Chúa. 15. Hãy thận trọng đừng để ai trật mất ân điển của Đức Chúa Trời, đừng để có rễ đắng nào đâm ra, gây rối loạn, và qua đó có thể làm ô uế nhiều người. 16. Đừng có ai gian dâm, hoặc phàm tục như Ê-sau, là người chỉ vì một món ăn mà bán quyền con trưởng của chính mình. 17. Anh em biết rằng về sau ông mong được chúc phước để được thừa kế nhưng ông bị từ chối, cho dù ông khóc lóc khẩn cầu cũng không còn cơ hội để thay đổi.
- Anh em không đến một nơi có thể đụng vào được – một nơi có lửa cháy, có tối tăm, có u ám, có giông bão, 19. có tiếng kèn vang, và có tiếng nói mà ai nghe đều xin là đừng nói thêm một lời nào với mình; 20. bởi vì họ không chịu nổi mạng lệnh đã truyền đó là: “Thậm chí thú vật đụng đến ngọn núi, nó sẽ bị ném đá.” 21. Cảnh tượng thật kinh khiếp, đến nỗi Môi-se nói rằng: “Tôi khiếp sợ và run rẩy.”
- Tuy nhiên anh em đã đến với núi Si-ôn, và với thành của Đức Chúa Trời hằng sống, là Giê-ru-sa-lem thiên thượng, có muôn vạn thiên sứ, 23. có sự nhóm họp, có hội thánh của những người con đầu tiên được ghi danh trên trời, có Đức Chúa Trời là Đấng Phán Xét mọi người, có linh hồn của những người công chính đã được làm cho trọn lành, 24. có Đức Chúa Jesus, Đấng Trung Gian của giao ước mới, và huyết được rưới ra là huyết tốt hơn huyết của A-bên đang nói.
- Hãy cẩn trọng, đừng khước từ Đấng đang phán. Bởi vì nếu họ không thể thoát khi khước từ người hướng dẫn ở dưới đất, thì lẽ nào chúng ta sẽ bị ít hơn nếu chúng ta lìa bỏ Đấng hướng dẫn thiên thượng đến từ trời, 26. là Đấng mà tiếng của Ngài khi đó làm rúng động trái đất, nhưng hiện nay Ngài đã hứa rằng: “Còn một lần nữa, Ta sẽ không chỉ làm rúng động trái đất nhưng cũng làm rúng động cả trời.” 27. Những chữ “còn một lần nữa” chứng tỏ những vật đã được tạo dựng đang bị lay động và sẽ bị loại bỏ để những vật không bị lay động được tồn tại.
- Vì chúng ta đang nhận lãnh một vương quốc không bị lay động, chúng ta hãy tri ân, nhờ đó chúng ta có thể vui lòng phục vụ Đức Chúa Trời với sự kính sợ và tôn kính. 29. Bởi vì Đức Chúa Trời của chúng ta là một ngọn lửa thiêu đốt.
13
- Hãy lưu giữ tình huynh đệ. 2. Đừng quên sự hiếu khách, bởi vì qua điều đó một số người đã tiếp đãi các thiên sứ mà không biết. 3. Hãy nhớ đến những người đang bị cầm tù như đang cùng bị giam cầm với họ, cũng như những người bị ngược đãi như chính anh em đang ở trong một thân thể.
- Tất cả hãy tôn trọng hôn nhân, đừng làm ô uế chốn loan phòng, bởi vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ gian dâm và ngoại tình.
- Đừng tham tiền, hãy thỏa mãn với nếp sống trong hiện tại, bởi vì chính Ngài đã phán: “Ta sẽ không bao giờ lìa con và cũng không bao giờ từ bỏ con.” 6. Vì vậy, chúng ta có thể nói cách xác quyết rằng “Chúa là Đấng giúp đỡ tôi. Tôi sẽ không sợ. Loài người sẽ làm gì tôi?”
- Hãy nhớ những người đã hướng dẫn anh em, là những người đã truyền giảng lời của Đức Chúa Trời cho anh em, hãy xem xét kết quả cuộc đời của họ và noi theo gương đức tin. 8. Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi.
- Đừng để bị những loại tín lý lạ lôi cuốn; bởi vì thật tốt để tấm lòng được vững mạnh nhờ ân điển, nhưng không phải bởi những thức ăn, là thứ không ích lợi cho những người tuân giữ.
- Chúng ta có một bàn thờ mà người phục vụ trong Lều Chứng Cớ không được phép ăn gì từ nơi đó. 11. Bởi vì máu của những con vật được thượng tế đem vào Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội, còn xác của chúng thì được đốt ở bên ngoài doanh trại. 12. Vì vậy, Đức Chúa Jesus đã chịu khổ ở bên ngoài cổng thành để Ngài có thể thánh hóa dân chúng bằng chính huyết của Ngài.
- Do đó chúng ta hãy đi ra bên ngoài doanh trại để đến với Ngài, hãy cùng gánh chịu sự sỉ nhục của Ngài. 14. Bởi vì tại đây chúng ta không có một thành để lưu trú, nhưng chúng ta đang tìm kiếm một thành sắp đến.
- Vì vậy nhờ Đức Chúa Jesus, chúng ta hãy dâng lễ vật của sự cảm tạ cho Đức Chúa Trời qua mọi điều, tức là kết quả của môi miệng tuyên xưng danh Ngài. 16. Đừng quên việc từ thiện và sự san sẻ, bởi vì những lễ vật như vậy làm hài lòng Đức Chúa Trời.
- Hãy vâng lời những lãnh đạo của anh em và thuận phục họ; bởi vì họ canh giữ linh hồn của anh em, để khi phúc trình được báo cáo, họ có thể thực hiện điều này với niềm vui; và đừng phàn nàn, bởi vì điều này không ích lợi gì cho anh em.
- Hãy cầu nguyện cho chúng tôi, bởi vì chúng tôi tin tưởng rằng chúng tôi có một lương tâm tốt, và đang khao khát cư xử cách tốt đẹp trong mọi sự. 19. Tôi nài xin anh em làm điều này càng nhiều hơn, để tôi sớm được trở lại với anh em.
- Cầu xin Đức Chúa Trời bình an, là Đấng, bởi huyết của giao ước đời đời, đã đem Đấng Chăn Chiên Lớn là Đức Chúa Jesus, Chúa của chúng ta, ra khỏi cõi chết, 21. trang bị cho anh em mọi điều tốt lành để thực hiện ý muốn của Ngài, là điều đẹp ý Ngài đang hoạt động trong chúng ta, qua Đức Chúa Jesus Christ, là Đấng mà nguyện vinh quang từ đời đời cho đến đời đời quy về Ngài. A-men.
- Thưa anh em! Tôi xin anh em hãy nhận lời khuyên nầy bởi vì tôi chỉ viết có vài lời cho anh em.
- Anh em biết rằng người anh em của chúng ta là Ti-mô-thê đã được thả. Nếu anh ấy đến sớm, tôi sẽ cùng anh ấy đến thăm anh em.
- Kính chào tất cả các vị lãnh đạo của anh em, cùng tất cả các thánh đồ. Những người từ I-ta-ly chào anh em.
- Nguyện ân điển ở với tất cả anh em!
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl