Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: I Cô-rinh-tô

Bản Dịch Việt Ngữ: I Cô-rinh-tô

I Cô-rinh-tô

1

  1. Phao-lô, theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, được gọi làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, và Sốt-then, là một anh em, 2. gởi đến hội thánh của Ðức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô – là những người đã được thánh hóa trong Ðức Chúa Jesus Christ, được gọi là thánh đồ – cùng với mọi người ở khắp mọi nơi, đang kêu cầu danh Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, là Chúa của họ và là Chúa của chúng ta.
  2. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến cùng anh em.
  3. Tôi luôn luôn cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về anh em, bởi vì ân điển của Ðức Chúa Trời đã được ban cho anh em trong Ðức Chúa Jesus Christ, 5. để nhờ Ngài, anh em được phong phú trong mọi điều: trong tất cả lời nói và trong tất cả nhận thức, 6. cũng như lời làm chứng về Ðấng Christ đã được xác lập trong anh em, 7. như thế để anh em không thiếu một ân tứ thuộc linh nào, trong lúc nôn nả trông mong sự hiện đến của Chúa chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, 8. là Ðấng sẽ giữ vững anh em cho đến cuối cùng, được toàn hảo trong ngày của Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ.
  4. Ðức Chúa Trời là Ðấng thành tín, Ngài đã gọi anh em vào trong sự tương giao với Con Ngài, là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta. 10. Anh em ơi! Nhân danh Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, giờ đây tôi khuyên tất cả anh em hãy có cùng một tiếng nói, đừng có sự chia rẽ ở giữa anh em; hơn thế nữa, anh em có thể hiệp với nhau trong cùng một tâm trí và cùng một ý tưởng.
  5. Anh em của tôi! Những người thuộc về Cơ-lô-ê đã trình bày cho tôi một việc liên quan đến anh em, đó là có nhiều sự tranh cãi ở giữa anh em. 12. Ðiều tôi muốn nói bây giờ là thế nầy: Mỗi một người trong anh em đã nói: “Tôi thuộc về Phao-lô”, “Tôi thuộc về A-bô-lô”, “Tôi thuộc về Sê-pha”, hoặc “Tôi thuộc về Ðấng Christ.” 13. Ðấng Christ đã bị chia cắt rồi hay sao? Phao-lô có chịu đóng đinh trên thập tự vì anh em hay không? Hay là anh em đã nhận báp-têm nhân danh Phao-lô?
  6. Tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời bởi vì tôi đã không làm báp-têm cho ai trong anh em, ngoại trừ Cơ-rít-bu và Gai-út, 15. để không ai có thể nói rằng họ đã nhân danh tôi nhận báp-têm. 16. Nhưng tôi cũng đã làm báp-têm cho những người trong gia đình của Sê-pha-na. Phần còn lại, tôi không nhớ tôi đã làm báp-têm cho ai khác. 17. Bởi vì Ðấng Christ không sai tôi đi để làm báp-têm, nhưng để giảng Phúc Âm – và không dùng những lời khôn ngoan, để không làm thập tự của Ðấng Christ mất hết hiệu năng.
  7. Thật vậy, sứ điệp về thập tự, đối với những người hư mất, là điên rồ, nhưng đối với chúng ta, những người được cứu, đó là quyền năng của Ðức Chúa Trời. 19. Tuy nhiên, có lời chép rằng: “Ta sẽ hủy bỏ sự khôn ngoan của người khôn ngoan; Ta sẽ làm rối loạn sự thông thái của người thông thái.” 20. Người khôn ngoan ở đâu? Người học thức ở đâu? Nhà hùng biện của đời nầy ở đâu? Không phải Ðức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian trở thành rồ dại hay sao? 21. Bởi vì thế gian không nhận biết Ðức Chúa Trời bằng sự khôn ngoan của mình, cho nên trong sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Trời đã vui lòng dùng sự rao giảng về sự rồ dại để cứu những người tin.
  8. Trong khi người Do Thái đòi dấu hiệu, người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, 23. thì chúng ta rao giảng Ðấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự; đó là điều mà người Do Thái cho là chướng ngại, còn các dân ngoại cho là điên rồ, 24. nhưng đối với những người được kêu gọi, bất luận là người Do Thái hay người Hy Lạp, thì Ðấng Christ là quyền năng của Ðức Chúa Trời và là sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, 25. bởi vì sự rồ dại của Ðức Chúa Trời khôn hơn sự khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Ðức Chúa Trời mạnh hơn sức mạnh của loài người.
  9. Anh em! Hãy suy gẫm lại sự kêu gọi của mình: mặc dù anh em không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, không có nhiều người quyền thế, và không có nhiều người thuộc dòng dõi quý tộc. 27. Nhưng Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là rồ dại để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là yếu đuối để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28. Ðức Chúa Trời đã chọn những người được sinh ra thấp hèn trong thế giới này, những điều bị khinh miệt, và những điều không hiện hữu, để Ngài vô hiệu hóa những điều hiện hữu, 29. để không ai có thể tự hào trước mặt Ðức Chúa Trời. 30. Hơn thế nữa, nhờ Ngài, anh em được ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, là Ðấng từ Ðức Chúa Trời đến, là Ðấng đã thực hiện sự khôn ngoan, công chính, thánh hóa, và cứu chuộc trên chúng ta; 31. để giống như lời đã chép rằng: “Ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa.”

 

2

  1. Và anh em ơi, lúc tôi đến với anh em, tôi đã không dùng ngôn từ tuyệt hảo hay sự khôn ngoan để công bố huyền nhiệm của Đức Chúa Trời cho anh em. 2. Bởi vì tôi đã quyết định rằng ở giữa anh em tôi không biết điều gì khác ngoài Đức Chúa Jesus Christ, và Ngài đã chịu đóng đinh trên thập tự. 3. Tôi đã sống với anh em trong sự yếu ớt, sợ hãi và run rẩy. 4. Ngôn từ của tôi và sứ điệp của tôi không phải là những lời khôn khéo để thuyết phục, nhưng là sự thể hiện về quyền năng và về Đức Thánh Linh, 5. để đức tin của anh em không dựa trên sự khôn ngoan của loài người, nhưng trên quyền năng của Đức Chúa Trời.
  2. Tuy nhiên, chúng tôi giảng sự khôn ngoan với những người trưởng thành, nhưng không phải về sự khôn ngoan của đời nầy, hoặc của những lãnh đạo đời nầy – là những người sẽ đi vào hư vô. 7. Nhưng chúng tôi rao giảng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời: một huyền nhiệm vốn được giữ kín, mà Ðức Chúa Trời đã định từ trước các thời đại cho sự vinh quang của chúng ta, 8. không có lãnh đạo nào của đời nầy biết, bởi vì nếu họ biết, họ đã không đóng đinh Chúa của sự vinh quang trên thập tự. 9. Nhưng, như đã được chép: “Những điều mà mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và chưa hề thâm nhập vào lòng của con người, thì Đức Chúa Trời đã dành sẵn cho những người yêu mến Ngài.”
  3. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho chúng ta qua Thánh Linh. Bởi vì Thánh Linh dò thấu mọi sự, ngay cả những sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời. 11. Ai trong vòng loài người biết được những gì bên trong một người, nếu không phải là tâm linh của người đó đang ở trong chính người đó? Cũng vậy, không ai có thể biết được những gì bên trong Ðức Chúa Trời, ngoại trừ Thánh Linh của Ðức Chúa Trời. 12. Nhưng giờ đây, chúng ta không nhận thần linh của thế gian, mà chính là Đức Thánh Linh – là Đấng đến từ Đức Chúa Trời – để chúng ta có thể hiểu được những điều mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta, 13. là những điều chúng tôi đang giảng, không phải là những lời được dạy theo sự khôn ngoan của loài người – nhưng bởi sự dạy dỗ của Thánh Linh, đang truyền đạt những điều thuộc linh bằng những phương tiện thuộc linh.
  4. Nhưng con người theo bản năng tự nhiên thì không thể chấp nhận những điều thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời, bởi vì đối với người đó, những điều nầy là điên rồ và người đó không thể hiểu được – nhưng những điều đó phải được suy xét cách thuộc linh. 15. Tuy nhiên, một người thuộc linh thì suy xét mọi sự, nhưng chính người đó thì không bị ai xét đoán. 16. Ai biết được tâm trí của Chúa? Ai sẽ hướng dẫn Ngài? Tuy nhiên, chúng ta có tâm trí của Đấng Christ.

 

3

  1. Và, anh em ơi, tôi không thể nói với anh em như với những người thuộc linh, nhưng như nói với những con người xác thịt – như những trẻ sơ sinh trong Đấng Christ. 2. Tôi đã cho anh em uống sữa chứ không phải thức ăn cứng, bởi vì anh em chưa thích ứng được. Ngay đến bây giờ anh em vẫn chưa thích ứng, 3. bởi vì anh em vẫn còn thuộc về xác thịt.

Vì trong anh em vẫn có sự ganh tị, tranh chấp; như vậy, không phải anh em đang thuộc về xác thịt và cư xử như người đời hay sao? 4. Bởi vì khi một người nói: “Tôi thuộc về Phao-lô,” thì người khác nói: “Tôi thuộc về A-bô-lô,” như vậy, anh em không phải là người đời hay sao?

  1. Nhưng A-bô-lô là ai? Phao-lô là ai? Họ chỉ là những người phục vụ, mà qua họ anh em đã tin. Theo như Đức Chúa Trời đã chỉ định cho mỗi người, 6. tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên. 7. Cho nên, người trồng, kẻ tưới, đều không là gì cả, nhưng chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên. 8. Người trồng, kẻ tưới, đều như nhau – mỗi người sẽ nhận phần thưởng tùy theo công việc của mình. 9. Bởi vì chúng tôi là những người cùng làm việc với Đức Chúa Trời; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời, là nhà của Đức Chúa Trời.
  2. Theo ân điển của Đức Chúa Trời đã ban cho tôi, tôi đã đặt nền như một người xây dựng bậc thầy khôn ngoan, còn người khác thì xây lên trên đó. Nhưng mỗi người phải thận trọng về cách mình xây trên đó. 11. Bởi vì không ai có thể đặt một nền khác, ngoài nền đã được thiết lập, là Đức Chúa Jesus Christ.
  3. Nếu ai dùng vàng, bạc, đá quý, gỗ, cỏ khô, rơm rạ để xây trên nền, 13. công trình của mỗi người sẽ được bày tỏ; ngày phán xét sẽ công bố, bởi vì điều đó sẽ được tỏ ra trong lửa; và mỗi công việc, bất luận thế nào, lửa sẽ chứng tỏ. 14. Nếu công trình của ai đã xây dựng còn tồn tại, người đó sẽ nhận phần thưởng. 15. Nếu công trình của người nào bị thiêu hủy, người đó sẽ đau khổ vì mất mát; nhưng chính người đó sẽ được cứu, nhưng dường như qua lửa.
  4. Anh em không biết rằng chính anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang ngự trong anh em hay sao? 17. Nếu người nào phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt người đó, bởi vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, và đền thờ đó là anh em.
  5. Đừng ai tự lừa dối chính mình. Nếu người nào trong anh em tưởng mình là khôn ngoan theo cách đời nầy, người ấy hãy trở nên dại dột, để có thể trở nên khôn ngoan. 19. Bởi vì sự khôn ngoan của đời nầy là dại dột trước mặt Đức Chúa Trời. Như có chép rằng: “Ngài bắt những người khôn ngoan, trong những mưu tính của họ.” 20. Và hơn nữa: “Chúa biết các ý tưởng của người khôn ngoan, và chúng không có gì là đáng kể.”
  6. Vì vậy, đừng ai khoe khoang về những con người. Bởi vì mọi sự đều thuộc về anh em: 22. bất luận Phao-lô, hay A-bô-lô, hay Sê-pha, hay thế gian, hay sự sống, hay sự chết, hay những điều hiện tại, hay những điều sẽ đến – tất cả đều thuộc về anh em, 23. anh em giờ đây thuộc về Đấng Christ, và Đấng Christ bây giờ thuộc về Đức Chúa Trời.

 

4

  1. Cho nên, mọi người hãy xem chúng tôi như là những đầy tớ của Đấng Christ và là những người quản trị các huyền nhiệm của Đức Chúa Trời. 2. Hơn thế nữa, trong trường hợp này, điều đòi hỏi nơi những người quản trị đó là họ phải là những người đáng tin cậy.
  2. Đối với tôi, dù bị anh em – hoặc bất cứ tòa án nào của loài người – xét đoán, thì điều đó cũng chỉ là chuyện nhỏ nhặt. Thật ra, tôi cũng không tự xét đoán chính mình. 4. Tôi nhận biết không có điều gì có thể buộc tội chính mình nhưng không vì vậy mà tôi được kể là công chính. Đấng xét đoán tôi chính là Chúa. 5. Do đó, đừng xét đoán điều gì trước thời hạn cho tới khi Chúa đến; Ngài sẽ đưa ra ánh sáng những gì đang được che giấu trong bóng tối và phơi bày những động lực trong lòng; và khi đó mỗi người sẽ nhận được sự khen ngợi từ Đức Chúa Trời.
  3. Anh em! Tôi đã áp dụng những điều nầy cho chính mình và cho A-bô-lô là vì anh em, để anh em có thể học nơi chúng tôi – “Đừng vượt quá điều đã chép” – để không ai vì ủng hộ một người mà anh em kiêu hãnh hơn người khác. 7. Ai tạo nên sự khác biệt cho anh em? Có điều gì anh em bây giờ đang có mà anh em đã không nhận lãnh? Và bây giờ, nếu anh em đã nhận lãnh thì tại sao còn khoe khoang như chưa từng nhận lãnh?
  4. Anh em đã đầy đủ rồi! Anh em đã giàu có rồi! Anh em đã trị vì xa khỏi chúng tôi; và tôi ước ao rằng anh em đã thật sự trị vì để chúng tôi có thể cùng trị vì với anh em. 9. Bởi vì tôi nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã trưng bày chúng tôi – những sứ đồ – vào những hạng cuối cùng, như những kẻ bị tuyên án tử hình, bởi vì chúng tôi đã trở nên một vật cho thế giới – cả thiên sứ và loài người – ngắm xem.
  5. Chúng tôi khờ dại vì Đấng Christ, nhưng anh em khôn ngoan trong Đấng Christ. Chúng tôi yếu, nhưng anh em mạnh. Anh em được tôn trọng, nhưng chúng tôi không được tôn trọng. 11. Cho đến giờ nầy, chúng tôi vừa đói vừa khát, trang phục nghèo nàn, bị đánh đập, và phiêu bạt không nhà. 12. Chúng tôi làm việc khó nhọc bằng những bàn tay của chính mình. Chúng tôi chúc phước khi bị nguyền rủa; chúng tôi chịu đựng khi bị bách hại; 13. chúng tôi đáp lại cách ôn tồn khi bị phỉ báng. Chúng tôi trở nên giống như là cặn bã của thế gian, là vật phế thải của tất cả, cho đến tận bây giờ.
  6. Tôi viết những điều nầy không phải để làm anh em xấu hổ nhưng để khuyên anh em như những đứa con yêu dấu của tôi. 15. Cho dù anh em có hàng chục ngàn người hướng dẫn trong Đấng Christ nhưng anh em không có nhiều cha; qua Phúc Âm tôi đã sinh anh em ra trong Đấng Christ Jesus. 16. Vì vậy, tôi nài khuyên anh em: Hãy là những người bắt chước để trở nên giống như tôi. 17. Chính vì điều này, tôi đã sai Ti-mô-thê – con yêu quý và trung thành của tôi trong Chúa – đến với anh em, người sẽ nhắc cho anh em những đường lối của tôi trong Đấng Christ, như tôi vẫn dạy trong mỗi Hội Thánh tại khắp mọi nơi.
  7. Bởi vì tôi không đến với anh em lúc này, cho nên có vài người đã kiêu ngạo. 19. Tuy nhiên, nếu Chúa muốn, không bao lâu nữa tôi sẽ đến với anh em; và tôi sẽ tìm hiểu – không phải chỉ lời nói, nhưng về uy quyền của những kẻ kiêu ngạo. 20. Bởi vì vương quốc Đức Chúa Trời không chỉ bày tỏ bằng lời nói mà bởi uy quyền – 21. Anh em muốn gì? Muốn tôi đến với anh em với một cây roi, hay với tình yêu thương và một tinh thần dịu dàng?

 

5

  1. Có thông tin rằng trong anh em có sự dâm loạn, một thứ dâm loạn mà thậm chí những người ngoại đạo cũng không có, đó là có người lấy vợ của cha mình. 2. Và rồi anh em lại phô trương; lẽ ra anh em phải than khóc và nuối tiếc, để người làm điều đó phải bị loại ra khỏi giữa vòng anh em.
  2. Thật vậy, dù tôi vắng mặt về thân thể nhưng tâm linh vẫn hiện diện tại đó, tôi lên án kẻ đã tạo ra chuyện nầy, như tôi đang có mặt tại đó. 4. Khi anh em nhân danh Chúa, là Đức Chúa Jesus, nhóm lại, tâm linh của tôi cũng hiện diện, cùng với quyền năng của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus. 5. Hãy trao kẻ đó cho Sa-tan hủy hoại phần thân xác, để rồi tâm linh có thể được cứu trong ngày của Chúa.
  3. Sự kiêu hãnh của anh em chẳng có gì tốt. Anh em không biết rằng một chút men làm dậy cho cả đống bột hay sao? 7. Hãy làm sạch men cũ để anh em có thể trở thành một đống bột mới, như anh em là không có men. Cũng vậy, Đấng Christ, là Chiên Con về lễ Vượt Qua của chúng ta đã hy sinh, 8. để chúng ta có thể kỷ niệm lễ, không phải với men cũ – nghĩa là không phải với men của sự hiểm độc và gian ác – nhưng không có men thuộc về chân thật và chân lý.
  4. Tôi đã viết cho anh em trong bức thư: Đừng giao tiếp với những kẻ gian dâm, 10. không phải với những kẻ gian dâm trong thế giới nầy, hay những kẻ tham lam và trộm cướp, hoặc những kẻ thờ thần tượng, bởi vì nếu như thế anh em cần phải rời khỏi thế gian nầy. 11. Nhưng điều tôi viết cho anh em là đừng giao tiếp với bất cứ người nào tự xưng là anh em mà lại gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ thần tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc trộm cướp – thậm chí không nên ăn chung với người như vậy. 12. Tôi xét xử những người ở bên ngoài để làm gì? Không phải nên xét xử những người bên trong anh em hay sao? 13. Nhưng những người ở bên ngoài, Đức Chúa Trời sẽ xét xử. Hãy loại kẻ xấu ra khỏi anh em.

 

6

  1. Có ai trong anh em, khi mâu thuẫn với người khác, đã đem ra pháp luật đến trước những kẻ không công chính, nhưng không đem đến trước các thánh đồ hay sao? 2. Không lẽ anh em không biết các thánh đồ sẽ xét xử thế gian hay sao? Và nếu thế gian sẽ bị anh em xét xử, tại sao anh em lại không thể xét xử những trường hợp nhỏ nhặt như vậy? 3. Anh em không biết rằng chúng ta sẽ xét xử các thiên sứ hay sao? Huống chi những việc trong đời này! 4. Vậy mà, khi có những vấn đề trong đời thường như vậy, anh em lại đem đến cho những người, mà Hội Thánh xem không ra gì, để xét xử? 5. Tôi nói như vậy để anh em xấu hổ! Không lẽ trong anh em không có một người đủ khôn ngoan để phân xử giữa các anh em của mình hay sao? 6. Nhưng anh em đã kiện cáo nhau, rồi lại đem đến trước mặt những kẻ chẳng tin.
  2. Thật vậy, chỉ việc kiện tụng nhau đã là một thất bại rồi. Chẳng thà anh em cam chịu bất công có hơn không? Chẳng thà cam chịu bị lừa gạt có hơn không? 8. Nhưng chính anh em đã làm chuyện sai trái, lừa gạt, và lại làm những điều này đối với những anh em của mình!
  3. Anh em không biết rằng những kẻ bất chính sẽ không được thừa hưởng vương quốc của Đức Chúa Trời hay sao? Đừng tự lừa dối mình. Những kẻ tà dâm, những kẻ thờ thần tượng, những điếm nam, những kẻ đồng tính luyến ái, 10. những kẻ trộm cắp, những kẻ tham lam, những kẻ say sưa, những kẻ chửi rủa, những kẻ lừa đảo, sẽ không được thừa hưởng vương quốc của Đức Chúa Trời. 11. Trước đây anh em có vài người như vậy, nhưng đã được thanh tẩy, đã được thánh hóa, đã được xưng công chính trong danh Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, và trong Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời của chúng ta.
  4. Đối với tôi, mọi thứ đều hợp pháp, nhưng không phải mọi thứ đều có ích. Đối với tôi, mọi thứ đều hợp pháp, nhưng tôi không để bất cứ điều gì làm chủ mình. 13. “Các thức ăn vì bụng, bụng vì các thức ăn” – Nhưng Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt cả thứ nầy lẫn những thứ kia. Thân thể không phải vì sự gian dâm, nhưng vì Chúa, và Chúa vì thân thể. 14. Đức Chúa Trời đã khiến Chúa sống lại, và cũng sẽ khiến chúng ta sống lại bởi quyền năng của Ngài.
  5. Anh em không biết rằng các thân thể của anh em là những chi thể của Đấng Christ hay sao? Tôi có nên đem những chi thể của Đấng Christ trở thành những chi thể của một gái mại dâm hay không? Không bao giờ! 16. Anh em không biết rằng người nào kết hợp với gái mại dâm sẽ trở nên một thân với nó hay sao? Bởi vì có phán rằng: “Hai người sẽ trở nên một thịt.” 17. Nhưng ai kết hợp với Chúa thì sẽ trở nên một tâm linh với Ngài.
  6. Hãy tránh gian dâm. Mọi tội mà người ta làm đều ở ngoài thân thể, nhưng kẻ gian dâm thì phạm tội đến chính thân thể của mình. 19. Anh em không biết rằng thân thể của anh em là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận lãnh từ Đức Chúa Trời, và anh em không còn thuộc về chính mình nữa hay sao? 20. Bởi vì anh em đã được mua bằng một giá cao, vì vậy hãy tôn vinh Đức Chúa Trời trong thân thể của anh em và trong tâm linh của anh em, là những điều thuộc về Đức Chúa Trời.

 

7

  1. Bây giờ, hãy thảo luận về những vấn đề anh em đã viết: “Một người đàn ông không đụng chạm một người đàn bà thì tốt.” 2. Tuy nhiên, để tránh tình trạng gian dâm, mỗi người đàn ông nên có vợ của mình, mỗi người đàn bà nên có chồng của mình. 3. Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. 4. Vợ không có quyền trên thân thể của mình, nhưng là chồng; cũng vậy bây giờ, chồng không có quyền trên thân thể của mình, nhưng là vợ. 5. Đừng khước từ nhau, nếu không phải bởi sự đồng thuận dành một thời gian để chuyên tâm cầu nguyện, và rồi hãy trở lại với nhau giống như trước, để Sa-tan không thể cám dỗ anh chị em, qua sự thiếu tự chế của anh chị em.
  2. Điều tôi nói đây là sự nhân nhượng chứ không phải là mệnh lệnh. 7. Tôi muốn mọi người đều như tôi. Tuy nhiên, mỗi người có ơn riêng của mình từ Đức Chúa Trời. Thật vậy người có ơn nầy, người có ơn khác.
  3. Bây giờ, tôi nói với những người còn độc thân và những góa phụ, nếu họ ở được như tôi thì tốt cho họ. 9. Nhưng nếu họ không thể tự chế, thì nên lập gia đình, bởi vì thà lập gia đình còn hơn là bị dục tình un đốt.
  4. Bây giờ, đối với những người đã lập gia đình, thì tôi – nhưng không phải tôi mà là Chúa – truyền lệnh nầy: Vợ không được bỏ chồng, 11. nhưng nếu đã rời khỏi chồng, thì phải ở vậy không lập gia đình, hoặc phải làm hòa lại với chồng. Chồng cũng không được ly dị vợ.
  5. Bây giờ, đối với những người còn lại, thì tôi – tôi chứ không phải là Chúa – nói rằng: Nếu một anh em nào có vợ không tin Chúa, nhưng người nầy bằng lòng chung sống với mình, thì người ấy không được ly dị nàng. 13. Nếu một phụ nữ có chồng không tin Chúa, nhưng người đó bằng lòng chung sống với nàng, thì nàng không được ly dị chồng. 14. Bởi vì người chồng không tin Chúa sẽ nhờ vợ được thánh hóa; còn người vợ không tin Chúa sẽ nhờ chồng được thánh hóa; nếu không, thì các con của anh chị em sẽ không được thanh sạch, nhưng bây giờ chúng đều được thánh hóa.
  6. Tuy nhiên, nếu người không tin Chúa tự phân rẽ, thì hãy để người đó tự phân rẽ; anh em hoặc chị em không bị ràng buộc gì trong trường hợp nầy. Bởi vì Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta vào trong sự hòa bình. 16. Hỡi người làm vợ, biết đâu chị em lại cứu được chồng của mình? Hỡi người làm chồng, biết đâu anh em lại cứu được vợ của mình?
  7. Vì vậy, mỗi người hãy sống theo sự chỉ định của Chúa dành cho mỗi người, theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời cho mỗi người. Và đây là điều tôi đã truyền dạy trong tất cả các Hội Thánh.
  8. Có ai được kêu gọi khi đã cắt bì hay không? Người đó đừng bỏ sự cắt bì. Có ai chưa chịu cắt bì mà được kêu gọi hay không? Người đó không phải cắt bì. 19. Cắt bì không quan trọng, và không cắt bì cũng không quan trọng; điều quan trọng là vâng giữ những điều răn của Đức Chúa Trời. 20. Mỗi người đã được kêu gọi trong tình trạng nào, người đó đang được kêu gọi để ở trong tình trạng như vậy. 21. Anh chị em là nô lệ khi được kêu gọi chăng? Anh chị em đừng bận tâm về điều đó; nhưng nếu anh chị em có thể được tự do, hãy nắm lấy cơ hội. 22. Một người đang là nô lệ, được Chúa kêu gọi, là người tự do trong Chúa. Cũng vậy, một người đang tự do, lúc được kêu gọi, thì trở nên nô lệ của Đấng Christ. 23. Với cái giá mà anh chị em đã được mua chuộc, đừng trở thành nô lệ cho loài người. 24. Anh em ơi! Mỗi người đã ở trong vị trí nào lúc được kêu gọi, hãy cứ ở tại nơi đó với Đức Chúa Trời
  9. Bây giờ, luận về vấn đề trinh tiết, tôi không có mệnh lệnh của Chúa; tuy nhiên bởi ơn thương xót của Chúa, tôi cho một ý kiến đáng tin cậy. 26. Do hoàn cảnh hiện tại, tôi nghĩ rằng điều tốt cho một người đó là cứ ở trong cùng một tình trạng như vậy. 27. Có phải bạn đang bị ràng buộc với vợ? Đừng tìm cách thoát ra. Có phải bạn chưa bị ràng buộc với vợ? Đừng kiếm vợ. 28. Nhưng nếu bạn kết hôn, bạn chẳng có tội gì; nếu một trinh nữ kết hôn, nàng cũng chẳng có tội gì. Tuy nhiên sẽ có những chuyện khổ vào thân; và bây giờ thì tôi muốn anh em tránh khỏi điều đó.
  10. Thưa anh em, điều tôi nói là thế này: Thời gian bị thu ngắn; cho nên từ bây giờ, những người có vợ, hãy sống như không có; 30. những người than khóc, đừng than khóc; những người vui mừng, đừng vui mừng; những người mua sắm, đừng sở hữu; 31. những người thụ hưởng thế gian, đừng thụ hưởng cho họ nữa – bởi vì hình trạng của thế gian nầy sẽ qua đi.
  11. Bây giờ, tôi muốn anh em không phải bận tâm lo lắng. Người không kết hôn thì chuyên lo việc Chúa, tìm cách làm thế nào để vui lòng Chúa. 33. Nhưng người đã kết hôn thì chăm lo việc đời, tìm cách làm thế nào để hài lòng vợ, 34. và bị phân tâm. Phụ nữ không kết hôn hoặc trinh nữ chuyên lo việc Chúa, tìm cách để cả thân thể và tâm linh được thánh sạch; nhưng người đã kết hôn thì chăm lo việc đời, tìm cách làm thế nào để hài lòng chồng.
  12. Tôi nói điều nầy vì ích lợi của anh em, không phải để tôi đặt để sự kiềm chế, nhưng đó là điều thích hợp và để anh em chuyên tâm hướng về Chúa, mà không bị chi phối.
  13. Nếu người nào đã xử sự không đúng với một thiếu nữ đã hứa hôn với mình – để nàng phải chờ quá tuổi thanh xuân – và rồi cần phải thực hiện điều nên làm, thì hãy để người đó làm; hãy để họ kết hôn, người đó không có tội gì cả. 37. Nhưng nếu ai xác định trong lòng, không bị đòi hỏi, nhưng có thẩm quyền trên ý riêng của mình, và điều này là phù hợp với lòng của mình thì cứ giữ nàng như vậy, người đó làm một việc tốt. 38. Như vậy, người kết hôn với hôn thê của mình, làm điều tốt; nhưng người không kết hôn, thì sẽ là tốt hơn.
  14. Người vợ phải ràng buộc với chồng bao lâu chồng của nàng còn sống. Nếu chồng qua đời, nàng được tự do kết hôn với người mình muốn, miễn là ở trong Chúa. 40. Nhưng theo ý tôi, nàng cứ ở vậy thì có phước hơn. Tôi nghĩ về chính mình, và tôi cũng đang có Thánh Linh của Đức Chúa Trời.

 

8

  1. Bây giờ, về những vật dâng cho các thần tượng, chúng ta biết rằng: “Tất cả chúng ta đều hiểu biết.” Tuy nhiên, sự hiểu biết sinh kiêu căng, còn tình yêu thương thì xây dựng. 2. Nếu có ai nghĩ rằng mình biết điều gì, thì người ấy chưa hiểu biết như người ấy cần hiểu biết. 3. Nhưng nếu ai yêu mến Đức Chúa Trời thì Ngài biết người ấy.
  2. Vì vậy, về việc ăn những vật dâng cho các thần tượng, chúng ta biết thần tượng không thật sự hiện hữu trong thế gian, chỉ có một Đức Chúa Trời, và không có thần nào khác. 5. Mặc dù thật ra có những vị được gọi là thần – ở trên trời hay dưới đất – làm như là có nhiều “thần” và nhiều “chúa”; 6. tuy nhiên đối với chúng ta, chỉ có một Đức Chúa Trời là Cha, là Đấng đã tạo dựng tất cả mọi vật, chúng ta sống vì Ngài, và chỉ có một Chúa là Đức Chúa Jesus Christ – Tất cả mọi vật nhờ Ngài mà có, và chúng ta nhờ Ngài mà hiện hữu.
  3. Nhưng không phải mọi người đều có sự hiểu biết đó. Cho đến bây giờ một số người vẫn còn thói quen khi ăn vật đã cúng cho thần tượng thì xem như đã thật sự cúng cho thần tượng, và lương tâm yếu đuối của họ bị ô uế. 8. Tuy nhiên thức ăn không làm cho chúng ta được ân huệ với Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta ăn, cũng không bị xa cách Ngài; còn nếu chúng ta không ăn, cũng không tiến gần Ngài hơn.
  4. Tuy nhiên, hãy thận trọng, đừng để quyền tự do của anh em làm vật gây vấp phạm cho những người yếu đuối. 10. Nếu một người thấy anh em – là người hiểu biết – đang ăn trong đền thờ thần tượng, không phải lương tâm yếu đuối của người đó được khuyến khích để ăn những vật cúng cho thần tượng hay sao? 11. Sự hiểu biết của anh em đã hủy diệt một người yếu đuối, là một anh em mà Đấng Christ đã chết thay cho. 12. Vì vậy, khi phạm tội với anh em của mình – làm tổn thương lương tâm yếu đuối của họ – anh em đã phạm tội với Đấng Christ. 13. Do đó, nếu thức ăn làm vấp phạm anh em của tôi, thì tôi sẽ không bao giờ ăn thịt, để tôi không thể làm vấp phạm cho anh em của tôi.

 

9

  1. Tôi không được tự do hay sao? Tôi không phải là sứ đồ sao? Không phải tôi đã thấy Đức Chúa Jesus, là Chúa của chúng ta, hay sao? Anh em không phải là thành quả của tôi ở trong Chúa hay sao? 2. Nếu tôi không phải là sứ đồ đối với những người khác, thì ít ra cũng là sứ đồ đối với anh em, bởi vì anh em là dấu ấn về chức vụ sứ đồ của tôi ở trong Chúa.
  2. Lời biện minh của tôi đối với những người đã chất vấn tôi là như thế nầy: 4. Có phải chúng tôi không có quyền ăn uống hay sao? 5. Có phải chúng tôi không có quyền đem theo một chị em để làm vợ như các sứ đồ khác, các em của Chúa, và Sê-pha đã làm hay sao? 6. Hay là chỉ có tôi và Ba-na-ba là không có quyền được miễn làm việc? 7. Có ai tự trang trải chi phí để đi lính hay không? Có ai trồng vườn nho mà không ăn trái hay không? Hay là có ai chăn bầy súc vật mà không dùng sữa của bầy hay không?
  3. Có phải tôi nói những điều này là theo cách của con người hay không? Không phải luật pháp cũng nói như vậy sao? 9. Bởi vì đã được chép trong luật Môi-se rằng: “Đừng khớp miệng con bò đang đạp lúa.” Không phải Đức Chúa Trời đã lo cho bò hay sao? 10. Hay là Ngài nói tất cả những điều đó là vì chúng ta? Thật vậy, vì lợi ích của chúng ta mà lời đó đã được chép như vậy; bởi vì người cày thì cày trong hy vọng, người đập lúa thì đập lúa với hy vọng được chia phần. 11. Nếu chúng tôi đã gieo những điều thiêng liêng cho anh em, thì có phải là quá đáng nếu chúng tôi gặt những điều vật chất từ anh em? 12. Nếu những người khác có quyền nhận trên anh em, không phải chúng tôi còn có quyền nhiều hơn hay sao? Tuy nhiên, chúng tôi đã không dùng quyền nầy; nhưng cam chịu mọi sự để chúng tôi không gây trở ngại cho Tin Lành của Đấng Christ. 13. Anh em không biết rằng những ai lo các công việc của đền thờ thì ăn vật thực của đền thờ, và những ai phục vụ nơi bàn thờ thì có phần nơi bàn thờ hay sao? 14. Cũng vậy, Chúa có truyền rằng những ai rao giảng Tin Lành thì được nuôi sống bởi Tin Lành.
  4. Tuy nhiên, tôi đã không sử dụng bất cứ điều nào trong những quyền nầy, và tôi cũng không viết để đòi hỏi những quyền đó cho tôi; bởi vì tôi thà chết còn hơn là để cho bất cứ ai làm cho niềm tự hào nầy của tôi trở nên vô nghĩa. 16. Bởi vì nếu tôi rao giảng Phúc Âm, tôi không có gì để tự hào, bởi vì trách nhiệm đó đã được đặt để trên tôi. Tuy nhiên, nếu tôi không rao giảng Phúc Âm thì thật khốn khổ cho tôi. 17. Nếu tôi tự nguyện làm việc nầy, tôi được tưởng thưởng; nhưng nếu tôi không tự nguyện làm, thì trách nhiệm đó cũng vẫn được ủy thác cho tôi. 18. Như vậy, phần thưởng của tôi là gì? Đó là khi tôi rao giảng Phúc Âm, tôi đã truyền Phúc Âm cách miễn phí, và tôi không cần phải sử dụng quyền lợi của người rao giảng Phúc Âm.
  5. Mặc dù đối với mọi người, tôi là người tự do, nhưng tôi đã tự trở thành người phục vụ cho mọi người, để có thể chinh phục nhiều hơn. 20. Đối với người Do Thái, tôi trở nên như một người Do Thái để chinh phục được người Do Thái. Đối với những người ở dưới luật pháp – dù chính tôi không ở dưới luật pháp – tôi trở nên như một người ở dưới luật pháp để có thể chinh phục những người ở dưới luật pháp. 21. Đối với những người ở ngoài vòng pháp luật – dù đối với Đức Chúa Trời, tôi không phải là kẻ ở ngoài vòng pháp luật, bởi vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ – tôi trở nên như một người ngoài vòng pháp luật để có thể chinh phục những người ở ngoài vòng pháp luật. 22. Đối với những người yếu, tôi trở nên như một người yếu để có thể chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả những người như vậy, để bằng mọi cách, tôi có thể cứu được vài người. 23. Tôi đã làm tất cả vì Phúc Âm, để tôi có thể trở thành người được dự phần trong Phúc Âm.
  6. Anh em không biết rằng những người chạy trong trường đua, tất cả đều chạy nhưng chỉ có một người đoạt giải hay sao? Vì vậy, hãy chạy cách nào để anh em có thể đoạt giải. 25. Tất cả các vận động viên thi đấu phải tự kỷ luật trong mọi sự. Họ làm như vậy để được mão miện hư nát, nhưng chúng ta làm vì điều không hề hư nát. 26. Do đó, tôi chạy, không phải chạy vô mục đích; tôi đánh, không phải là đánh vào không khí. 27. Nhưng tôi kỷ luật thân thể của tôi, bắt nó phục tùng, đừng để khi tôi giảng cho những người khác, mà chính tôi lại bị loại bỏ.

 

10

  1. Thưa anh em, tôi không muốn anh em không biết rằng tất cả tổ phụ chúng ta đều ở dưới đám mây; tất cả đều vượt qua biển; 2. tất cả được báp-têm vào trong Môi-se ở trong đám mây và trong biển; 3. tất cả cùng ăn một thức ăn thiêng liêng; 4. tất cả cùng uống một thức uống thiêng liêng; bởi vì họ đã uống từ một tảng đá thiêng liêng cùng đồng hành với họ; tảng đá ấy chính là Đấng Christ. 5. Tuy nhiên phần nhiều trong số họ không đẹp lòng Đức Chúa Trời, cho nên đã chết rải rác trong hoang mạc.
  2. Bây giờ những điều nầy đã trở thành những tấm gương cho chúng ta, để chúng ta không trở thành những kẻ ham muốn những điều xấu xa như họ đã ham muốn. 7. Và anh em cũng không trở thành những kẻ thờ thần tượng như một số người trong bọn họ – như đã được chép: “Dân chúng ngồi xuống, ăn, uống, rồi đứng dậy hoan lạc.” 8. Chúng ta cũng đừng phạm vào sự gian dâm như một số người trong họ, để chỉ trong một ngày hai mươi ba ngàn người đã gục ngã. 9. Chúng ta cũng đừng thử Đấng Christ như một số người trong họ đã thử, để rồi bị rắn hủy diệt. 10. Anh em cũng đừng cằn nhằn như một số người trong họ đã cằn nhằn, để bị hủy diệt bởi đấng hủy diệt.
  3. Những điều nầy đã xảy ra cho họ như là những tấm gương, và những điều đó đã được ghi lại để cảnh cáo chúng ta, là những người đang sống ở những giai đoạn cuối của các thời đại. 12. Vì vậy, người nào tưởng mình đang đứng, người đó hãy lưu ý kẻo bị ngã.
  4. Không có thử thách nào xảy đến cho anh em là quá sức của người bình thường. Đức Chúa Trời là Đấng thành tín, Ngài không để anh em bị thử thách quá sức của anh em; nhưng trong thử thách, sẽ mở lối ra, để anh em có thể chịu được.
  5. Vì vậy, anh em yêu dấu của tôi, hãy lánh xa khỏi sự thờ thần tượng. 15. Tôi nói như nói với những người khôn ngoan, anh em hãy tự suy xét điều tôi nói. 16. Cái chén phước hạnh mà chúng ta chúc tạ không phải đang dự phần trong huyết của Đấng Christ hay sao? Bánh mà chúng ta bẻ ra không phải đang dự phần trong thân thể của Đấng Christ hay sao? 17. Bởi vì chúng ta dù nhiều, nhưng là một cái bánh – một thân thể – và tất cả chúng ta cùng dự phần vào cái bánh ấy.
  6. Hãy xem dân Y-sơ-ra-ên theo huyết thống: Không phải những người ăn những sinh tế là những người đã dự phần với bàn thờ hay sao? 19. Điều tôi đang nói là gì? Thần tượng có ra gì đâu, hay vật cúng cho những thần tượng có là gì? 20. Tuy nhiên, những gì mà những người ngoại đạo cúng tế là cúng tế cho các quỷ, chứ không phải dâng lên cho Đức Chúa Trời. Vì vậy, tôi không muốn anh em dự phần với các quỷ. 21. Anh em không thể uống chén của Chúa và cũng uống chén của các quỷ; anh em không thể dự vào bàn tiệc của Chúa và cũng dự vào bàn tiệc của các quỷ. 22. Hay là chúng ta chọc cho Chúa ghen tuông? Chúng ta mạnh hơn Ngài hay sao?
  7. Mọi thứ là hợp pháp nhưng không phải mọi thứ đều có ích. Mọi thứ là hợp pháp nhưng không phải mọi thứ đều xây dựng. 24. Đừng ai chỉ tìm kiếm lợi ích cho chính mình, nhưng mỗi người hãy vì những người khác.
  8. Hãy ăn những gì bán ở hàng thịt, đừng vì lương tâm mà thắc mắc; 26. bởi vì “trái đất và mọi vật trong đó đều thuộc về Chúa.” 27. Nếu có ai trong những người không tin mời anh em, và anh em muốn đi, hãy ăn mọi thứ họ dọn ra trước anh em, đừng vì lương tâm mà thắc mắc. 28. Nhưng, nếu có ai nói với anh em rằng: “Vật nầy đã dâng cho thần tượng” thì đừng ăn, bởi vì người đó đã bày tỏ rõ ràng, và cũng vì lương tâm. 29. Tôi không nói về lương tâm của anh em, nhưng về lương tâm của người khác. Nhưng vì sao sự tự do của tôi lại bị lương tâm của người khác xét đoán? 30. Nếu tôi đã nhận với lời tạ ơn, thì tại sao tôi lại bị chỉ trích về điều mà tôi đã tạ ơn?
  9. Vì vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hoặc làm bất cứ việc gì, hãy làm tất cả vì vinh quang của Đức Chúa Trời. 32. Đừng công kích người Do Thái, người Hy Lạp, hay Hội Thánh của Đức Chúa Trời. 33. Hãy như tôi: Làm đẹp lòng mọi người trong mọi việc, không tìm kiếm lợi ích cho riêng mình, nhưng cho nhiều người, để họ có thể được cứu.

 

11

  1. Hãy làm những người bắt chước tôi, như tôi đang bắt chước Đấng Christ.
  2. Bây giờ, tôi khen anh em bởi vì anh em vẫn nhớ đến tôi trong mọi sự và anh em vẫn giữ những truyền thống như tôi đã truyền cho anh em. 3. Vì vậy tôi muốn anh em hiểu rằng Đấng Christ là đầu của mọi người nam, người nam là đầu của người nữ, và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ. 4. Người nam nào khi cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà trùm đầu lại thì làm nhục đầu của mình. 5. Tuy nhiên, người nữ nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà không trùm đầu thì làm nhục đầu mình — vì người nào để như vậy cũng giống như người bị cạo đầu của mình. 6. Bởi vì nếu người nữ không trùm đầu, nàng nên cạo đầu đi. Nhưng nếu người nữ xem việc bị cắt tóc hay bị cạo đầu là xấu hổ thì nàng hãy trùm đầu lại!
  3. Vì người nam là hình ảnh và vinh quang của Đức Chúa Trời, cho nên người nam không phải trùm đầu; nhưng người nữ là vinh quang của người nam. 8. Bởi vì người nam không xuất phát từ người nữ, nhưng người nữ xuất phát từ người nam. 9. Người nam cũng không được tạo dựng vì người nữ, nhưng người nữ được tạo dựng vì người nam. 10. Vì điều này, và vì các thiên sứ, người nữ phải có dấu hiệu của thẩm quyền ở trên đầu. 11. Tuy nhiên, ở trong Chúa, người nữ không tách khỏi người nam, và người nam cũng không tách khỏi người nữ. 12. Bởi vì người nữ ra từ người nam, người nam ra từ người nữ; và tất cả ra từ Đức Chúa Trời.
  4. Anh em hãy tự suy xét: Có thích hợp hay không khi một người nữ cầu nguyện với Đức Chúa Trời mà không trùm đầu? 14. Không phải chính khuynh hướng tự nhiên dạy anh em rằng nếu một người nam để tóc dài thì xấu hổ cho người đó hay sao? 15. Nhưng nếu một người nữ để tóc dài thì đó là vinh quang cho nàng, bởi vì mái tóc dài đã được ban cho nàng như là một khăn choàng. 16. Nhưng nếu có ai muốn tranh cãi, thì chúng tôi không có thói quen đó; và các Hội Thánh của Đức Chúa Trời cũng không có.
  5. Bây giờ, về hướng dẫn này thì tôi không khen anh em, bởi vì anh em nhóm họp lại với nhau không đem lại điều tốt hơn nhưng làm cho tồi tệ. 18. Vì trước hết, tôi nghe rằng khi nhóm lại trong Hội Thánh, có những chia rẽ ở giữa anh em; tôi tin một phần về điều đó. 19. Bởi vì phải có những phe nhóm ở giữa anh em, để những người được chấp nhận được tỏ ra ở giữa anh em. 20. Nhưng khi anh em nhóm họp lại một nơi, không phải là để dự Tiệc Thánh của Chúa. 21. Bởi vì khi ăn, có người lấy trước phần của mình, đến nỗi người nầy thì đói, còn kẻ kia thì no say. 22. Anh em không có nhà để ăn và để uống hay sao? Hay là anh em khinh miệt Hội Thánh của Đức Chúa Trời, và sỉ nhục những người không có gì cả? Tôi phải nói gì với anh em đây? Có nên khen anh em trong việc nầy hay không? Tôi không khen đâu!
  6. Vì tôi có nhận nơi Chúa điều mà tôi đã dạy cho anh em: Đó là trong đêm Chúa – là Đức Chúa Jesus – bị phản bội, Ngài đã lấy bánh, 24. tạ ơn, Ngài bẻ ra và phán: “Đây là thân thể của Ta, vì các con, hãy làm điều nầy để nhớ đến Ta.” 25. Cùng vậy, sau khi ăn bữa tối, Ngài đã lấy chén và phán: “Chén nầy là giao ước mới trong huyết của Ta; hãy làm điều nầy, thường xuyên như các con uống, để nhớ đến Ta.” 26. Vì vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy và uống chén nầy, anh em hãy rao giảng sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến.
  7. Do đó, nếu ai ăn bánh hay uống chén của Chúa một cách không xứng đáng thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa. 28. Nhưng hãy để mỗi người tự xét chính mình, và như vậy, hãy để người đó ăn bánh và uống chén. 29. Bởi vì người nào ăn và uống, mà không phân biệt thân của Chúa, thì ăn và uống sự phán xét cho chính mình. 30. Vì điều này, nhiều người trong anh em bị đau yếu, bệnh tật, và nhiều người đã ngủ. 31. Vì nếu chúng ta tự xét chính mình, chúng ta sẽ không bị phán xét. 32. Nhưng khi bị Chúa phán xét, chúng ta bị sửa phạt, để chúng ta không bị kết án chung với thế gian.
  8. Cho nên, anh em của tôi, khi anh em họp lại để ăn, hãy chờ đợi lẫn nhau. 34. Nếu có ai đói, hãy ăn ở nhà, đừng để việc anh em họp lại với nhau bị kết án.

Còn những việc khác, khi tôi đến tôi sẽ sắp đặt.

 

12

1.Thưa anh em! Bây giờ về vấn đề những ân tứ thuộc linh, tôi không muốn anh em thiếu hiểu biết. 2. Anh em biết rằng, khi còn là những người ngoại đạo, anh em đã bị lôi kéo, và thậm chí bị dẫn dắt, bởi những thần tượng câm. 3. Vì vậy, tôi quả quyết với anh em rằng, không có ai bởi Thần Linh của Đức Chúa Trời lại nói “Đức Chúa Jesus đáng nguyền rủa”, và cũng không có ai có thể xưng “Đức Chúa Jesus là Chúa” nếu không bởi Đức Thánh Linh.

  1. Có nhiều ân tứ khác nhau, nhưng chỉ có một Thánh Linh. 5. Có nhiều sự phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. 6. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng có cùng một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. 7. Sự thể hiện của Thánh Linh được ban cho mỗi người là vì lợi ích chung.
  2. Bởi vì thật như vậy, nhờ Thánh Linh, có người được ban lời nói khôn ngoan; do cùng một Thánh Linh, người khác nhận được lời tri thức; 9. bởi cùng một Thánh Linh, người khác nữa được đức tin; cùng một Thánh Linh đó, người khác được ân tứ chữa bệnh; 10. người khác làm các phép lạ, người khác nói tiên tri, người khác nữa phân biệt các thần linh, người khác nói những thứ tiếng lạ, người khác thông giải các thứ tiếng. 11. Tất cả những điều nầy là công việc của cùng một Thánh Linh; Ngài phân phối cho mỗi người tùy theo ý của Ngài.
  3. Bởi vì giống như thân thể chỉ có một nhưng có nhiều bộ phận, tất cả các bộ phận của thân thể, dù nhiều, nhưng là một thân thể; Đấng Christ cũng vậy. 13. Hơn nữa, nhờ trong cùng một Thánh Linh, tất cả chúng ta – dù là người Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do – đều đã được báp-têm để vào trong một thân thể; tất cả đều được uống chung một Thánh Linh.
  4. Cũng vậy, vì thân thể không phải là một bộ phận nhưng là nhiều bộ phận. 15. Nếu chân nói: “Vì tôi không phải là tay, cho nên tôi không thuộc về thân”, thì không phải như vậy mà chân không thuộc về thân. 16. Nếu tai nói: “Vì tôi không phải là mắt, cho nên tôi không thuộc về thân” thì không phải như vậy mà mắt không thuộc về thân. 17. Nếu toàn thân đều là mắt thì nghe ở đâu? Nếu toàn thân đều là tai thì ngửi ở đâu? 18. Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các bộ phận của thân, mỗi bộ phận theo ý mà Ngài muốn. 19. Nếu tất cả chỉ là một bộ phận thì thân thể ở đâu?
  5. Như vậy, cho dù có nhiều bộ phận, nhưng chỉ có một thân thể. 21. Mắt không thể nói với tay: “Tôi không cần anh”; đầu không thể nói với chân: “Tôi không cần anh.” 22. Ngược lại, những bộ phận nào trong thân thể xem như yếu hơn, thì lại cần thiết. 23. Những bộ phận trong thân thể mà chúng ta nghĩ là kém tôn trọng, chúng ta cần dành nhiều tôn trọng cho những bộ phận đó hơn; những điều nào của chưa trang nhã, những điều đó cần được trau dồi nhiều hơn; 24. và những điều nào đã trang nhã, thì không cần trau dồi thêm nữa. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã sắp đặt thân thể như vậy, để bộ phận nào khiếm khuyết, được tôn trọng nhiều hơn, 25. để không có sự chia rẽ nào trong thân thể, nhưng các bộ phận cùng có sự quan tâm cho nhau. 26. Nếu một bộ phận nào bị đau, tất cả cùng đau; nếu một bộ phận nào được tôn trọng, tất cả cùng vui mừng.
  6. Anh em là thân thể của Đấng Christ, và là những cá thể riêng biệt. 28. Đức Chúa Trời đã sắp đặt một số người trong Hội Thánh: thứ nhất: các sứ đồ, thứ nhì: các tiên tri, thứ ba: các giáo sư, kế đến là những người làm phép lạ, rồi đến những người được ân tứ chữa bệnh, những người hỗ trợ, những người quản trị, những người nói những tiếng lạ. 29. Có phải tất cả đều là các sứ đồ hay sao? Tất cả đều là các tiên tri hay sao? Tất cả đều là các giáo sư hay sao? Tất cả đều là những người làm phép lạ hay sao? 30. Tất cả đều là những người được ân tứ chữa bệnh hay sao? Tất cả đều là những người nói những tiếng lạ hay sao? Tất cả đều là những người thông giải tiếng lạ hay sao?
  7. Hãy ao ước những ân tứ cao trọng hơn. Và rồi, tôi sẽ chỉ cho anh em con đường tốt đẹp hơn.

 

13

  1. Dù tôi nói được các thứ tiếng của loài người và thiên sứ, nhưng không có tình yêu thương thì tôi chỉ như tiếng cồng khua vang hay là chập chõa vang rền. 2. Dù tôi có ơn nói tiên tri và hiểu tất cả những huyền nhiệm cùng tất cả tri thức; dù tôi có tất cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương thì tôi chẳng ra gì. 3. Dù tôi phân phát tất cả những vật sở hữu của mình, dù tôi hiến thân thể của mình để tôi có thể tự hào, nhưng không có tình yêu thương thì tôi cũng không ích lợi gì.
  2. Yêu thương là nhẫn nại, là nhân từ; yêu thương không ganh tị; yêu thương không tự hào, không kiêu ngạo, 5. không cư xử trái phép, không kiếm tư lợi, không nhạy giận, không ghi nhớ những sai trật, 6. không vui về điều bất chính, nhưng vui trong chân thật; 7. dung thứ mọi sự, tin mọi sự, hy vọng mọi sự, chịu đựng mọi sự.
  3. Mặc dù những lời tiên tri sẽ hết, các ân tứ nói tiếng lạ sẽ ngưng, và tri thức sẽ mất, nhưng tình yêu thương thì không bao giờ suy tàn. 9. Chúng ta đang hiểu biết không toàn vẹn, nói tiên tri cũng không toàn vẹn; 10. nhưng khi sự toàn hảo đã đến, thì điều gì bất toàn sẽ chấm dứt.
  4. Khi còn là trẻ con, tôi đã nói như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con, lý luận như trẻ con; nhưng khi đã trưởng thành, tôi bỏ những điều thuộc về trẻ con. 12. Hiện nay chúng ta chỉ nhìn thấy qua một tấm gương cách mập mờ; tuy nhiên đến lúc đó, chúng ta sẽ nhìn thấy mặt đối mặt. Hiện nay tôi biết chỉ một phần; nhưng đến lúc đó, tôi sẽ biết đầy đủ như tôi cần biết đầy đủ.
  5. Nhưng bây giờ, còn có ba điều nầy: Đức tin, hy vọng, và tình yêu thương – nhưng điều cao trọng hơn cả là tình yêu thương.

 

14

  1. Hãy theo đuổi tình yêu thương; hãy ao ước những ân tứ thuộc linh, nhất là ân tứ nói tiên tri. 2. Bởi vì người nói tiếng lạ không nói với loài người, nhưng nói với Đức Chúa Trời, cho nên không ai hiểu; nhưng người đó nói những huyền nhiệm trong Thánh Linh. 3. Tuy nhiên, người nói tiên tri thì nói với con người để xây dựng, khích lệ, và an ủi. 4. Người nói tiếng lạ tự xây dựng chính mình, nhưng người nói tiên tri xây dựng Hội Thánh. 5. Tôi mong ước tất cả anh em đều nói tiếng lạ, nhưng mong ước anh em nói tiên tri nhiều hơn – vì người nói tiên tri cao trọng hơn người nói tiếng lạ mà không có người thông dịch, để Hội Thánh có thể nhận được sự xây dựng.
  2. Thưa anh em, nếu tôi đến với anh em, nói bằng những tiếng lạ, và nếu lời nói của tôi không có một mặc khải nào, không có tri thức nào, không có lời tiên tri nào, không có sự dạy dỗ nào thì có ích gì cho anh em? 7. Ngay cả những nhạc cụ không có sự sống, như sáo hay hạc cầm, nếu chúng không phát ra những âm thanh đặc trưng thì làm sao có thể biết được là tiếng sáo hay hạc cầm? 8. Cũng vậy, nếu kèn trỗi tiếng mà không rõ ràng thì ai sẽ chuẩn bị để chiến đấu? 9. Anh em cũng vậy, nếu anh em trình bày một bài diễn thuyết với một thứ tiếng không thể hiểu được, thì làm thế nào có thể hiểu được điều đang nói? Anh em chỉ nói vào khoảng không. 10. Trong thế giới nầy có nhiều ngôn ngữ, không có ngôn ngữ nào vô nghĩa. 11. Vì vậy, nếu tôi không hiểu ý nghĩa của tiếng nói, tôi chỉ là người ngoại quốc với người đang nói, và người đang nói là người ngoại quốc đối với tôi. 12. Anh em cũng vậy, bởi vì anh em đang nhiệt thành khao khát những ân tứ thuộc linh, anh em hãy tìm kiếm thật nhiều những ân tứ nhằm vào sự xây dựng Hội Thánh.
  3. Cho nên, người nói tiếng lạ hãy cầu nguyện để người đó có thể thông dịch. 14. Bởi vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ, thì tâm linh tôi cầu nguyện, nhưng tâm trí của tôi không nhận được kết quả gì. 15. Làm gì bây giờ? Tôi sẽ cầu nguyện bằng tâm linh, nhưng tôi cũng cầu nguyện bằng tâm trí; tôi sẽ hát bằng tâm linh, nhưng tôi cũng hát bằng tâm trí. 16. Nếu không, cho dù anh có ca tụng bằng tâm linh, làm thế nào những người hiện diện nơi đó, nhưng không được hướng dẫn có thể nói “A-men” với những lời tạ ơn của anh – bởi vì người đó không hiểu anh nói gì? 17. Dù lời tạ ơn của anh thật là tốt, nhưng người khác không được xây dựng.
  4. Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời là tôi nói được những tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em; 19. nhưng trong Hội Thánh, tôi thà nói năm lời bằng tâm trí của tôi để tôi có thể dạy những người khác, còn hơn là cả vạn lời bằng tiếng lạ.
  5. Thưa anh em, về sự hiểu biết, đừng như trẻ con; nhưng về điều ác, hãy như trẻ con; nhưng trong sự hiểu biết, hãy như người trưởng thành.
  6. Trong luật pháp có chép: “Bằng những thứ tiếng khác và bởi môi miệng của những người khác, Ta sẽ nói với dân nầy; dầu vậy, họ sẽ chẳng nghe Ta. Chúa phán vậy.”
  7. Như vậy, những tiếng lạ không phải là dấu hiệu cho những người tin, nhưng dành cho những người không tin; tuy nhiên, lời tiên tri không phải là dấu hiệu cho những người không tin, nhưng cho những người tin. 23. Do đó, khi cả Hội Thánh cùng nhóm lại tại một nơi, và tất cả đều nói tiếng lạ, nhưng có những người chưa được hướng dẫn – hay những người không phải là tín hữu – bước vào, không phải họ nói anh em mất trí rồi hay sao? 24. Nhưng nếu tất cả đều nói tiên tri, và có người chưa phải là tín hữu – hay một người chưa được hướng dẫn – bước vào, người đó sẽ được thuyết phục bởi tất cả, và được thăm hỏi bởi tất cả; 25. những ẩn khúc trong lòng người đó sẽ trở nên rõ ràng; và như vậy người đó sẽ sấp mặt xuống thờ phượng Đức Chúa Trời, và công bố rằng: “Đức Chúa Trời thật đang ở giữa anh em.”
  8. Anh em ơi! Như vậy phải làm gì bây giờ? Khi anh em nhóm lại với nhau, người thì có thánh ca, người thì có lời dạy dỗ, người thì có sự mặc khải, người thì có tiếng lạ, người thì có sự thông giải tiếng lạ. Hãy thực hiện tất cả để xây dựng. 27. Nếu có ai nói tiếng lạ, chỉ nên hai hoặc tối đa là ba người, nói theo thứ tự, và có một người thông giải. 28. Nhưng nếu không có ai thông giải thì người đó phải yên lặng trong Hội Thánh; hãy để người nói với chính mình và với Đức Chúa Trời. 29. Và rồi các tiên tri, cũng chỉ nên có hai hoặc ba người nói mà thôi, còn những người khác thì suy xét. 30. Tuy nhiên, nếu có ai đang ngồi đó nhận được sự mặc khải, thì người đầu tiên phải yên lặng. 31. Bởi vì mỗi người trong anh em có thể lần lượt nói tiên tri, để tất cả đều được học hỏi, và tất cả đều được khích lệ. 32. Tâm linh của các tiên tri phải thuận phục các tiên tri. 33. Bởi vì Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời của sự hỗn loạn, nhưng của sự an hòa.

Như trong tất cả Hội Thánh của các thánh đồ, 34. phụ nữ phải giữ yên lặng trong các Hội Thánh. Họ không được phép nói, nhưng phải thuận phục như luật pháp đã dạy. 35. Nếu họ muốn học biết điều gì, họ nên hỏi chồng của mình ở nhà; bởi vì phụ nữ nói giữa Hội Thánh là điều đáng xấu hổ.

  1. Có phải lời Đức Chúa Trời phát xuất từ anh em, hay đến chỉ với anh em mà thôi hay sao? 37. Nếu ai nghĩ rằng mình là một tiên tri hay có linh ân, thì người ấy cần nhận biết rằng những gì tôi viết cho anh em là mệnh lệnh của Chúa. 38. Nhưng nếu ai xem thường thì đừng quan tâm đến người đó.
  2. Cho nên thưa anh em! Hãy ao ước ân tứ nói tiên tri, và đừng ngăn trở việc nói những tiếng lạ. 40. Tuy nhiên, hãy thực hiện mọi việc cách thích đáng và trong trật tự.

 

15

  1. Thưa anh em, tôi muốn nói rõ cho anh em về Phúc Âm mà tôi đã giảng cho anh em, là Phúc Âm mà anh em đã tiếp nhận và anh em đang đứng vững trong đó, 2. nhờ Phúc Âm đó anh em được cứu rỗi, nếu anh em giữ vững lời tôi đã giảng cho anh em; nếu không, anh em tin cũng vô ích.
  2. Trước hết, tôi đã truyền cho anh em điều mà chính tôi đã nhận, đó là Đấng Christ đã chịu chết vì tội của chúng ta theo lời Kinh Thánh; 4. Ngài đã bị chôn; Ngài đã sống lại vào ngày thứ ba theo lời Kinh Thánh; 5. rồi Ngài đã xuất hiện cho Sê-pha, kế đến là nhóm mười hai sứ đồ. 6. Sau đó, Ngài đã xuất hiện cho hơn năm trăm anh em cùng một lúc; phần lớn trong số đó hiện nay vẫn còn, mặc dù có vài người đã ngủ. 7. Sau đó, Ngài đã xuất hiện cho Gia-cơ, rồi cho tất cả các sứ đồ. 8. Cuối cùng, Ngài cũng hiện ra cho tôi, như một thai nhi được sinh không đúng thời hạn. 9. Bởi vì tôi là người nhỏ nhất trong các sứ đồ – tôi không xứng đáng được gọi là sứ đồ, bởi vì tôi đã bách hại Hội Thánh của Đức Chúa Trời. 10. Nhưng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, tôi trở thành người như tôi hiện nay, và ân điển của Ngài ban cho tôi không phải là vô ích, bởi vì tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả các sứ đồ; tuy nhiên không phải tôi, nhưng ân điển của Đức Chúa Trời ở với tôi. 11. Vì vậy, dù tôi – hay là các sứ đồ – chúng tôi đang giảng như vậy, và anh em đã tin như vậy.
  3. Như vậy, nếu Đấng Christ được giảng là Ngài đã sống lại từ cõi chết, thì tại sao có vài người trong anh em đã nói rằng không có sự sống lại cho những người chết? 13. Nếu không có sự sống lại cho những người chết, thì Đấng Christ đã không sống lại. 14. Và nếu Đấng Christ đã không sống lại thì sự rao giảng của chúng tôi là vô ích, và đức tin của anh em cũng vô ích. 15. Thật vậy, nếu những người chết không sống lại, thì chúng tôi bị coi như là những nhân chứng giả dối cho Đức Chúa Trời – bởi vì chúng tôi đã làm chứng về Đức Chúa Trời rằng Ngài đã khiến Đấng Christ sống lại, trong khi Ngài không khiến Đấng Christ sống lại, nếu những người chết không sống lại. 16. Bởi vì nếu những người chết không sống lại thì Đấng Christ cũng không sống lại. 17. Và nếu Đấng Christ không sống lại thì đức tin của anh em cũng chỉ là vô ích, anh em vẫn còn ở trong tội lỗi của mình. 18. Cũng vậy, những người đã ngủ trong Đấng Christ vẫn bị hư mất. 19. Nếu chúng ta chỉ có hy vọng nơi Đấng Christ trong cuộc sống nầy mà thôi, thì trong tất cả mọi người, chúng ta là những người đáng thương hại hơn hết.
  4. Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết, Ngài là trái đầu mùa của những người đã ngủ. 21. Bởi vì do một người mà có sự chết, thì cũng nhờ một Người mà có sự sống lại từ cõi chết. 22. Như trong A-đam, mọi người đều chết; cũng vậy, trong Đấng Christ, mọi người đều sẽ được làm cho sống lại. 23. Tuy nhiên mỗi người sẽ theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa, rồi đến lượt những người thuộc về Đấng Christ vào lúc Ngài hiện đến. 24. Rồi cuối cùng, sau khi Ngài kết liễu tất cả những sự thống trị, tất cả những quyền thế, và quyền lực; Ngài trao vương quốc cho Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha. 25. Bởi vì Ngài phải cầm quyền cho đến chừng nào Ngài đặt tất cả những kẻ thù ở dưới chân Ngài. 26. Kẻ thù cuối cùng bị hủy diệt là sự chết. 27. Do đó, Đức Chúa Trời đã đặt tất cả mọi vật quy phục ở dưới chân Ngài. Tuy nhiên, khi nói tất cả mọi vật quy phục ở dưới Ngài, thì hiển nhiên không bao gồm Đấng đã đặt mọi vật quy phục ở dưới Ngài. 28. Khi tất cả mọi vật đã quy phục Ngài, thì bấy giờ chính Ngài, là Con, cũng quy phục Đấng đã đặt mọi vật quy phục dưới Ngài, để Đức Chúa Trời là tất cả và trong tất cả.
  5. Nếu không phải như vậy, thì những người đã nhận báp-têm thay cho người chết là để làm gì? Nếu người chết thật sự không sống lại thì tại sao lại có những người nhận báp-têm thay cho họ? 30. Tại sao chúng tôi – giờ nào cũng phải đối diện với hiểm nguy? 31. Thưa anh em! Tôi chết mỗi ngày – đó là sự thật – giống như niềm tự hào của tôi về anh em, mà tôi đang có trong Đấng Christ Jesus, Chúa của chúng ta. 32. Nếu nói theo cách của loài người, thì có ích lợi gì cho tôi mà tôi phải chiến đấu với những loài thú hung dữ tại Ê-phê-sô? Nếu người chết không sống lại thì “chúng ta hãy ăn, hãy uống – bởi vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”
  6. Đừng để bị mắc lừa: “Bạn bè xấu làm hư tính nết tốt.” 34. Hãy tỉnh táo nhận biết sự công chính trở lại và đừng phạm tội nữa; bởi vì có một số người trong anh em không hiểu biết, và gần gũi Đức Chúa Trời. Tôi nói như vậy để anh em xấu hổ!
  7. Nhưng có người sẽ nói: “Người chết sống lại cách nào? Họ sẽ trở lại bằng thân thể nào?” 36. Hỡi người khờ khạo kia ơi! Vật gì anh gieo, nếu trước hết không chết đi, thì sẽ không sống lại. 37. Và vật anh gieo không phải là thân thể sẽ được hình thành, nhưng đơn giản chỉ là một cái hạt – như hạt lúa mì hay vài thứ hạt khác. 38. Nhưng Đức Chúa Trời ban cho nó một thân thể theo ý Ngài muốn, mỗi hạt giống có mỗi thân thể riêng biệt. 39. Không phải mọi thể xác đều giống nhau: thể xác của loài người khác, thể xác của loài thú khác, của loài chim khác, của loài cá khác. 40. Cũng vậy, có những thiên thể và có những vật thể trên đất; nhưng vinh quang của những thiên thể khác với những gì thuộc về đất 41. Vinh quang của mặt trời khác; vinh quang của mặt trăng khác; vinh quang của những vì sao khác; vinh quang của vì sao nầy với vinh quang của vì sao kia cũng khác.
  8. Sự sống lại của những người chết cũng vậy. Thân thể gieo xuống là hư nát, nhưng sống lại là bất diệt; 43. gieo xuống là nhục, nhưng sống lại là vinh; gieo xuống là yếu đuối, nhưng sống lại là mạnh mẽ; 44. gieo xuống là thân thể vật chất, nhưng sống lại là thân thể thuộc linh. Nếu có thân thể vật chất thì có thân thể thuộc linh. 45. Như có lời chép: “Người đầu tiên” – là A-đam – “đã trở nên một hữu thể sống”, nhưng A-đam sau cùng là “thần linh ban sự sống”.
  9. Tuy nhiên, không phải thân thể thiêng liêng đến trước nhưng thân thể thiên nhiên, sau đó mới đến thân thể thiêng liêng. 47. Người đầu tiên thuộc về đất, được làm từ bụi đất; người thứ hai đến từ trời. 48. Những người thuộc về đất thì giống như người đã được làm từ bụi đất; những người thuộc về trời thì giống như Đấng đến từ trời. 49. Giống như chúng ta đã mang hình ảnh của người ra từ bụi đất, thì chúng ta cũng sẽ mang hình ảnh của Đấng đến từ trời.
  10. Thưa anh em, bây giờ tôi nói điều nầy: Thể xác và máu huyết không thể thừa hưởng vương quốc Đức Chúa Trời; và sự hư hoại cũng không thể hưởng sự bất diệt. 51. Này, tôi nói cho anh em một huyền nhiệm: Chúng ta sẽ không ngủ tất cả; tuy nhiên, tất cả sẽ được biến hóa 52. trong khoảnh khắc, trong nháy mắt, vào lúc tiếng kèn cuối cùng. Bởi vì kèn sẽ thổi, người chết sẽ sống lại không bị hư hoại, và chúng ta sẽ được biến hóa. 53. Bởi vì bản chất hư hoại nầy phải mặc lấy bản chất bất diệt; bản chất khả tử nầy phải mặc lấy bản chất bất tử. 54. Khi bản chất hư hoại mặc lấy bản chất bất diệt, bản chất khả tử mặc lấy bản chất bất tử thì lúc đó sẽ ứng nghiệm lời đã được chép: “Sự chết bị nuốt mất trong sự đắc thắng.”
  11. “Hỡi sự chết, sự đắc thắng của ngươi ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của ngươi ở đâu?” 56. Cái nọc của sự chết là tội lỗi, sức mạnh của tội lỗi là luật pháp. 57. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài đã ban cho chúng ta sự đắc thắng qua Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus Christ.
  12. Vì vậy, anh em quý mến của tôi! Hãy vững vàng, kiên định, luôn luôn làm công việc của Chúa thật dồi dào bởi vì biết rằng sự lao nhọc của anh em trong Chúa không hề vô ích.

 

16

  1. Bây giờ, về việc quyên góp cho các thánh đồ, như tôi đã hướng dẫn cho các hội thánh thuộc vùng Ga-la-ti, anh em cũng hãy làm như vậy. 2. Vào mỗi ngày đầu tiên của tuần lễ, mỗi người trong anh em hãy dành dụm một phần tùy khả năng của mình – để riêng ra – đừng đợi khi tôi đến rồi mới quyên góp. 3. Rồi khi tôi đến, tôi sẽ gởi những người mà anh em đã tín nhiệm cùng với những bức thư và tặng phẩm của anh em đến Giê-ru-sa-lem. 4. Nếu thuận tiện cho tôi cùng đi, những người đó sẽ đi với tôi.
  2. Tôi sẽ đến thăm anh em khi tôi qua Ma-xê-đoan, bởi vì tôi dự định sẽ qua Ma-xê-đoan. 6. Tôi có thể lưu lại với anh em – hoặc thậm chí tôi sẽ ở lại cả mùa đông – để anh em đưa tôi đi đến nơi nào tôi đi. 7. Nếu Chúa cho phép, lần nầy tôi không chỉ muốn gặp anh em trên đường đi mà thôi, nhưng tôi hy vọng sẽ lưu lại một thời gian với anh em. 8. Nhưng tôi sẽ ở lại Ê-phê-sô cho đến lễ Ngũ Tuần, 9. bởi vì có một cánh cửa rộng lớn và hữu hiệu đã mở ra cho tôi, mặc dù vẫn còn có nhiều chống đối.
  3. Nếu Ti-mô-thê có đến, anh em hãy gặp, và để anh ấy có thể ở với anh em mà không sợ hãi, bởi vì anh ấy cũng làm việc cho Chúa như chính tôi vậy. 11. Cho nên, đừng ai xem thường anh ấy. Hãy tiễn anh ấy thượng lộ bình an để anh ấy có thể đến với tôi; bởi vì tôi đang trông đợi anh ấy cùng với những anh em khác.
  4. Còn về A-bô-lô, là người anh em, tôi đã cố thuyết phục anh ấy cùng với những anh em khác đến với anh em, nhưng cuối cùng anh ấy chưa muốn đi như anh ấy nên đi; tuy nhiên anh ấy sẽ đến khi anh ấy có dịp tiện.
  5. Hãy tỉnh thức, hãy đứng vững trong đức tin, hãy hành động như những người trưởng thành, hãy can đảm và mạnh mẽ. 14. Mọi điều anh em làm, hãy làm với tình yêu thương.
  6. Thưa anh em, bây giờ tôi khuyên anh em – anh em biết những người trong gia đình Sê-pha-na, là những trái đầu mùa tại vùng A-chai – họ đã hết lòng phục vụ các thánh đồ, 16. để anh em cũng thuận phục những người như vậy, và tất cả những người đang hiệp tác và làm việc. 17. Tôi rất vui vì Sê-pha-na, Phốt-tu-na và A-chai-cơ đã đến đây; họ đã bù đắp lại sự khiếm khuyết của anh em; 18. bởi vì những người đó đã làm tươi mới tinh thần của tôi và của anh em. Cho nên, hãy quý trọng những người như vậy.
  7. Các Hội Thánh tại vùng A-si-a chào thăm anh em. A-qui-la, Bê-rít-sin, và Hội Thánh tại nhà của họ, gửi lời thăm nhiệt thành đến các anh em trong Chúa. 20. Tất cả các anh em tại đây chào thăm anh em. Hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau. 21. Lời chào thăm do chính tay của Phao-lô viết.
  8. Nếu có ai không yêu mến Chúa, người đó phải bị nguyền rủa! Nguyện Ma-ra-na-tha!
  9. Ân điển của Chúa, là Đức Chúa Jesus, ở với anh em!
  10. Tình yêu của tôi dành cho tất cả anh em trong Đấng Christ Jesus.

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top