Bản Dịch Việt Ngữ: Rô-ma

Rô-ma
1
- Phao-lô, một nô lệ của Ðức Chúa Jesus Christ, đã được gọi làm sứ đồ, đang được biệt riêng để rao truyền Phúc Âm của Ðức Chúa Trời 2. mà Ngài đã hứa từ trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, 3. về Con của Ngài, theo phương diện thể xác thì xuất phát từ dòng Ða-vít, 4. nhưng đã được xưng nhận là Con của Ðức Chúa Trời, có quyền năng bởi Thánh Linh, đã sống lại từ cõi chết, là Jesus Christ, Chúa của chúng ta; 5. nhờ Ngài mà tôi đã nhận được ân điển và thẩm quyền sứ đồ, để nhân danh Ngài, đem mọi dân tộc đến sự vâng phục của đức tin, 6. trong đó có anh em, là những người được kêu gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ.
- Xin gởi đến tất cả những người yêu dấu của Ðức Chúa Trời, được gọi là thánh đồ tại Rô-ma: Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Chúa, là Ðức Chúa Jesus Christ, đến cùng anh em.
- Thật vậy, trước hết, qua Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh em, bởi vì đức tin của anh em đã được loan truyền khắp thế giới. 9. Thật vậy, Ðức Chúa Trời, là Ðấng tôi phục vụ với tâm hồn trong việc rao truyền Phúc Âm về Con Ngài, là Đấng làm chứng cho tôi rằng tôi không ngừng nhắc đến anh em, 10. tôi luôn cầu nguyện rằng, nếu bây giờ, cuối cùng, theo ý của Ðức Chúa Trời, tôi sẽ thực hiện một chuyến hành trình để đến với anh em. 11. Thật vậy, tôi mong được gặp anh em để có thể chia sẻ với anh em một số ơn phước thuộc linh, để làm vững mạnh anh em, 12. hơn nữa, để khích lệ lẫn nhau, qua đức tin của nhau, của anh em và của tôi.
- Anh em! Tôi muốn anh em không thể không biết rằng, nhiều lần tôi đã định đến với anh em, để tôi có thể đạt những kết quả giữa vòng anh em như đã có giữa các dân ngoại khác, nhưng đã bị cản trở, cho đến bây giờ.
- Tôi mắc nợ cả người Hy Lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15. Vì vậy, tôi sẵn sàng để giảng Phúc Âm cho anh em, là những người ở tại Rô-ma.
- Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm, đó thật sự là quyền năng của Ðức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp. 17. Sự công chính của Ðức Chúa Trời thật sự đã được bày tỏ trong đó, từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.”
- Thật vậy, cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời được bày tỏ ra để chống lại tất cả những kẻ vô luân và bất chính, đã dùng sự bất chính để đàn áp chân lý, 19. bởi vì sự hiểu biết về Ðức Chúa Trời đã được giải bày cho họ, và Ðức Chúa Trời bày tỏ điều đó cho họ . 20. Thật vậy, từ khi dựng nên trời đất, những phẩm chất vô hình của Ngài, cả quyền năng vĩnh cửu và bản tính thiên thượng của Ngài đã được thấy rõ và nhận biết qua các tạo vật, cho nên họ không thể bào chữa. 21. Mặc dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài, nhưng họ đã suy nghĩ viển vông, lòng dạ ngu muội của họ đã trở nên u tối: 22. cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên dại dột, 23. họ đã đổi vinh quang của Ðức Chúa Trời bất diệt, bắt chước theo hình ảnh bị hủy diệt của con người, của chim, của thú vật, hoặc những loài bò sát.
- Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ. Họ đã làm điều ô nhơ, và làm nhục thân thể của nhau. 25. Họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối, rồi tôn sùng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, là Ðấng được chúc tôn đời đời. A-men.
- Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Thật vậy, phụ nữ của họ đã đổi cách tự nhiên theo cách phản tự nhiên. 27. Tương tự như vậy, đàn ông cũng đã bỏ cách tự nhiên với phụ nữ, mà un đốt sự thèm khát với nhau: đàn ông làm chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải nhận lãnh hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.
- Và bởi vì họ không xem sự nhận biết Ðức Chúa Trời là phù hợp, cho nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí đồi bại, để làm những điều không phù hợp; 29. đầy dẫy mọi bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; đầy sự ghen ghét, giết người, gây gổ, lừa đảo, nham hiểm; nói xấu, 30. vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, sáng tạo ra những điều ác, không vâng lời cha mẹ, 31. dại dột, bội tín, vô tâm, vô cảm; 32. họ đã biết rõ sự phán xét công chính của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết – không phải chỉ họ đã thực hành những điều đó, nhưng cũng tán đồng những người khác thực hành những điều đó.
2
- Vì vậy, hỡi người kia! Ai xét đoán người khác, thì không thể được miễn trừ, bởi vì bạn, là người đang xét đoán, cũng làm những việc giống như vậy, thì bạn tự kết án chính mình trong chuyện mà bạn đã xét đoán người khác. 2. Chúng ta biết rằng sự phán xét của Ðức Chúa Trời dành cho những người hành động như vậy là phù hợp với chân lý. 3. Hơn nữa, hỡi người kia! Nếu như bạn lên án người khác làm những điều đó mà chính bạn cũng làm những việc giống như vậy, bạn tưởng rằng bạn có thể thoát khỏi sự phán xét của Ðức Chúa Trời hay sao? 4. Hay là bạn xem thường sự rộng lượng của lòng nhân từ, nhẫn nại và khoan dung của Ðức Chúa Trời? Bạn không biết rằng lòng nhân từ của Ðức Chúa Trời là để cho bạn có cơ hội ăn năn hay sao? 5. Tuy nhiên tấm lòng cứng cỏi, không ăn năn của bạn đang tích lũy cho mình sự phẫn nộ trong ngày thịnh nộ và thể hiện sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời, 6. là Đấng sẽ báo trả mỗi người tùy theo việc họ làm. 7. Thật vậy, sự sống đời đời được ban cho những ai kiên tâm làm lành, tìm kiếm vinh quang, tôn trọng và bất tử; 8. còn ai ích kỷ, không vâng phục chân lý, vâng phục sự bất chính thì chuốc lấy sự giận dữ và thịnh nộ. 9. Hoạn nạn và khốn khổ sẽ giáng trên mọi người làm ác, trước cho người Do Thái, sau cho người Hy Lạp; 10. vinh quang, tôn trọng và bình an sẽ ban cho mọi người làm lành, trước cho người Do Thái, sau cho người Hy Lạp. 11. Bởi vì Đức Chúa Trời không thiên vị ai.
- Nhưng ai không biết luật pháp mà phạm tội, sẽ bị hư vong không theo luật pháp; còn những ai đã có luật pháp mà phạm tội, thì sẽ bị phán xét bởi luật pháp. 13. Bởi vì đối với Ðức Chúa Trời, không phải những người nghe luật pháp được kể là công chính, nhưng những người làm theo luật pháp mới được xưng công chính. 14. Dân ngoại vốn không có luật pháp, nhưng theo bản năng tự nhiên thực hiện những việc luật pháp dạy, thì mặc dù họ không có luật pháp, những điều này đã là luật pháp cho chính họ. 15. Họ chứng tỏ rằng những gì luật pháp đòi hỏi đã được khắc ghi trong lòng của họ; lương tâm của họ chứng thực điều đó; còn tư tưởng của họ có lúc thì cáo buộc, có lúc thì biện hộ giữa những điều đó. 16. Rồi có một ngày, theo Phúc Âm của tôi, Đức Chúa Trời sẽ phán xét những việc thầm kín của nhân loại qua Đấng Christ Jesus.
- Tuy nhiên, nếu bạn mang danh là người Do Thái, ỷ lại vào luật pháp, tự hào về Ðức Chúa Trời, 18. cho rằng mình hiểu biết ý muốn của Ngài, và xác định những điều cao cả nhờ những dạy dỗ từ luật pháp, 19. hơn thế nữa bạn tự nghĩ rằng mình là người dẫn đường cho người mù, ánh sáng cho người đi trong tối tăm, 20. giáo sư của người khờ dại, thầy của người ấu trĩ, biểu tượng của tri thức và chân lý, 21. như vậy tại sao bạn dạy người khác mà không dạy chính mình? Bạn giảng đừng ăn cắp, bạn có ăn cắp hay không? 22. Bạn nói đừng phạm tội ngoại tình, bạn có ngoại tình hay không? Bạn gớm ghét hình tượng, bạn có cướp bóc các đền miếu hay không? 23. Bạn tự hào về luật pháp, nhưng tại sao bạn vi phạm luật pháp, làm nhục Đức Chúa Trời? 24. Như có lời chép: “Vì các ngươi mà danh Đức Chúa Trời bị sỉ nhục giữa những dân ngoại.”
- Thật vậy, nếu bạn vâng giữ luật pháp thì việc cắt bì thực sự có giá trị; nhưng nếu bạn vi phạm luật pháp thì cho dù bạn có cắt bì cũng như không có cắt bì. 26. Vì vậy, nếu một người không chịu cắt bì mà tuân giữ các điều răn của luật pháp, thì việc không chịu cắt bì của người đó lại không được kể như đã chịu cắt bì rồi sao? 27. Những người không cắt bì trên thân xác nhưng tuân giữ luật pháp, sẽ đoán xét bạn, là người có văn bản của luật pháp và được cắt bì mà lại vi phạm luật pháp. 28. Vì một người chỉ có bề ngoài là người Do Thái thì không phải là người Do Thái thật; sự cắt bì cũng vậy, chỉ ở bên ngoài trên thân xác. 29. Nhưng một người bên trong là người Do Thái mới thực là người Do Thái. Sự cắt bì chân thật phát xuất từ tấm lòng, bởi Đức Thánh Linh, chứ không phải bằng văn tự. Một người như vậy sẽ được khen ngợi, không phải từ loài người, mà từ Đức Chúa Trời.
3
- Như vậy, người Do-thái có gì vượt trội, hay là việc cắt bì có lợi ích gì? 2. Rất nhiều và trong mọi phương diện. Điều chính yếu đó là họ được tin cậy và được ủy thác lời của Đức Chúa Trời.
- Tuy nhiên nếu có một số người không tin thì sao? Có phải sự vô tín của họ sẽ vô hiệu hóa sự thành tín của Ðức Chúa Trời hay không? 4. Không hề như vậy! Dù mọi người dối trá, Ðức Chúa Trời vẫn luôn luôn chân thật, như có chép rằng: “Dù thế nào, Ngài vẫn công chính trong lời của Ngài, và sẽ đắc thắng trong sự phán xét của Ngài.”
- Hơn nữa, nếu sự bất chính của chúng ta minh chứng cho sự công chính của Ðức Chúa Trời, chúng ta sẽ nói gì? Có phải Ðức Chúa Trời bất công khi Ngài giáng sự thịnh nộ hay sao? (Tôi nói theo cách của con người) 6. Không hề như vậy! Nếu vậy, làm thế nào Ðức Chúa Trời có thể xét đoán thế gian? 7. Còn nếu nhờ sự dối trá của tôi mà chân lý của Đức Chúa Trời được thêm vinh quang, thì tại sao tôi còn bị kết án như một tội nhân? 8. và tại sao không “làm những điều ác để được những điều tốt” – như một vài người đã bịa đặt vu khống chúng tôi, bảo rằng chúng tôi đã nói như vậy? Sự định tội của họ là xứng đáng!
- Và rồi thế nào? Chúng ta có gì tốt hơn? Hoàn toàn không! Tất cả chúng ta – cả người Do Thái và người Hy Lạp – đều bị kết án dưới tội lỗi. 10. như có chép rằng: “Không ai công chính, dù chỉ một người; 11. không ai hiểu biết; không ai tìm kiếm Ðức Chúa Trời. 12. Tất cả đều quay đi; cùng với nhau họ đã trở thành vô dụng; không ai làm điều lành, dù chỉ một người.”
- “Họng của chúng là những huyệt mả mở toang; lưỡi của chúng được dùng cho sự dối trá; nọc rắn độc ở dưới môi của chúng; 14. miệng của chúng đầy những lời nguyền rủa và cay đắng; 15. chân của chúng nhanh lẹ làm đổ máu; 16. sự hủy hoại và đau khổ trên đường lối của chúng. 17. Chúng không biết đường lối hòa bình; 18. không có sự kính sợ Ðức Chúa Trời ở trước mắt chúng.”
- Thêm vào đó, chúng ta biết rằng tất cả những gì luật pháp nói là nói cho những người ở dưới luật pháp, để mọi miệng phải nín lặng, và cả thế gian phải nhận sự phán xét của Ðức Chúa Trời. 20. Do đó, không có một người nào nhờ vâng giữ luật pháp mà được kể là công chính ở trước mặt Ngài; nhưng nhờ luật pháp người ta biết thế nào là tội lỗi.
- Tuy nhiên hiện nay sự công chính của Ðức Chúa Trời – không theo luật pháp – đã được thể hiện, đã được luật pháp và các tiên tri làm chứng. 22. Sự công chính của Ðức Chúa Trời được dành cho tất cả những người tin vào Ðức Chúa Jesus Christ, không phân biệt ai. 23. Bởi vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Ðức Chúa Trời, 24. nhưng bởi ân điển của Ngài, đã được kể công chính mà không phải trả một giá nào, nhưng chỉ nhờ sự cứu chuộc đã được thực hiện trong Ðấng Christ Jesus, 25. là Đấng mà Ðức Chúa Trời – nhằm thể hiện sự công chính của Ngài – đã lập làm sinh tế, để qua đức tin nơi dòng huyết của Ngài, những tội lỗi trong quá khứ – được Đức Chúa Trời tiết chế – bỏ qua; 26. Ngài thể hiện sự công chính của Ngài trong hiện tại, Ngài, là Ðấng Công Chính, xưng công chính cho những người tin nơi Ðức Chúa Jesus.
- Như vậy sự tự hào ở đâu? Đã bị loại bỏ rồi. Dựa vào luật pháp, vào việc làm phải không? Không! Nhưng chỉ dựa vào luật của đức tin. 28. Chúng ta tin rằng một người được xưng công chính bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm theo luật pháp. 29. Hay là Ðức Chúa Trời chỉ là của người Do Thái? Không phải là Ðức Chúa Trời của các dân ngoại nữa hay sao? Vâng! Ngài cũng là Ðức Chúa Trời của các dân ngoại nữa; 30. bởi vì chỉ có một Ðức Chúa Trời, là Ðấng sẽ xưng công chính những người được cắt bì bởi đức tin, và cũng sẽ xưng công chính những người không được cắt bì bởi đức tin.
- Như vậy chúng ta dựa vào đức tin để loại bỏ luật pháp hay sao? Không hề như vậy! Nhưng chúng ta làm vững bền luật pháp.
4
- Và rồi chúng ta sẽ nói gì về Áp-ra-ham, tổ phụ của chúng ta theo phần xác? 2. Nếu Áp-ra-ham đã được xưng công chính bởi việc làm thì ông có lý do để tự hào – nhưng không phải với Đức Chúa Trời. 3. Kinh Thánh đã nói gì? “Áp-ra-ham tin Ðức Chúa Trời, và vì thế ông được kể là công chính.” 4. Đối với người làm việc, tiền công không được kể là ân huệ, nhưng phải kể là nợ. 5. Còn với người không làm việc, nhưng tin vào Đấng làm cho người có tội được xưng công chính, thì đức tin của người ấy được kể là công chính. 6. Ðó chính là điều Ða-vít đã nói về phước hạnh của người được Ðức Chúa Trời kể là công chính mà không phải nhờ cậy vào việc làm: 7. “Phước cho người được tha những vi phạm mình, được khỏa lấp những tội lỗi mình. 8. Phước cho người được Chúa không kể tội của mình.”
- Có phải phước hạnh đó chỉ dành cho những người cắt bì, hay cũng cho những người không cắt bì nữa? Chúng ta đang nói Áp-ra-ham được kể là công chính nhờ đức tin. 10. Như vậy, ông đã nhận được điều đó như thế nào? Lúc đã cắt bì hay chưa cắt bì? Không phải là trong lúc đã cắt bì nhưng trong lúc chưa cắt bì. 11. Ông đã nhận cắt bì như là một dấu về ấn chứng của sự công chính mà ông đã có được bởi đức tin từ lúc ông chưa cắt bì, để ông trở thành tổ phụ của tất cả những người tin dù không có cắt bì – vì họ cũng được kể là công chính – 12. và cũng là tổ phụ những người chịu cắt bì – là những người không những chịu cắt bì mà thôi, nhưng cũng bước theo những bước đức tin của Áp-ra-ham, tổ phụ của chúng ta, đã có trước khi chịu cắt bì.
- Bởi vì không phải nhờ luật pháp mà Áp-ra-ham hay dòng dõi của ông nhận được lời hứa sẽ nhận thế gian làm cơ nghiệp, nhưng là nhờ được xưng công chính bởi đức tin. 14. Bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được hưởng cơ nghiệp thì đức tin trở thành vô ích và lời hứa cũng vô hiệu. 15. Vì luật pháp đem đến sự thịnh nộ, nhưng nơi nào không có luật pháp thì cũng không có sự phạm pháp.
- Cho nên, bởi đức tin mà lời hứa do ân điển được bảo đảm cho cả dòng dõi của Áp-ra-ham, là tổ phụ của tất cả chúng ta – không phải chỉ cho dòng dõi theo luật pháp nhưng cũng cho dòng dõi theo đức tin – 17. như đã chép rằng: “Ta đã lập con làm cha của nhiều dân tộc.” Trước mặt Đức Chúa Trời, là Đấng ông tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, và gọi những điều chưa có trở nên hiện hữu.
- Ông đã không vô vọng nhưng tin và hy vọng trở thành cha của nhiều dân tộc, theo như lời đã phán: “Dòng dõi của con sẽ như vậy.” 19. Bởi đức tin, ông không cho rằng thân thể của mình đang tàn tạ, sắp chết vì đã một trăm tuổi, và dạ của Sa-ra không còn sức sống. 20. Tuy nhiên, lời hứa của Đức Chúa Trời đã khiến ông không xao xuyến vì vô tín, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin, tôn vinh Đức Chúa Trời, 21. và hoàn toàn tin chắc rằng Ngài sẽ làm những gì Ngài đã hứa. 22. Vì vậy, ông đã được kể là công chính. 23. Tuy nhiên, điều đã được viết không chỉ nói về một mình ông 24. nhưng cũng cho chúng ta nữa, là những người sẽ được ban cho điều đó, khi chúng ta tin vào Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus, Chúa của chúng ta, từ cõi chết sống lại, 25. là Đấng đã bị nộp vì tội chúng ta, và đã được làm cho sống lại vì sự công chính của chúng ta.
5
- Vì vậy, khi đã được xưng công chính bởi đức tin, chúng ta được hòa thuận với Ðức Chúa Trời qua Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ. 2. Nhờ Ngài, bởi đức tin chúng ta được vào trong ân điển nầy – trong nơi chúng ta đang đứng – và vui mừng trong niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Đức Chúa Trời. 3. Không những thế, nhưng chúng ta cũng vui mừng trong gian khổ bởi vì biết rằng gian khổ sinh kiên nhẫn, 4. kiên nhẫn sinh nghị lực, nghị lực sinh hy vọng, 5. và hy vọng không làm cho chúng ta hổ thẹn, bởi vì tình thương của Đức Chúa Trời tuôn đổ vào lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh, là Đấng đã được ban cho chúng ta.
- Thật vậy, trong khi chúng ta bất lực, theo đúng thời điểm, Ðấng Christ đã chịu chết thay cho những người có tội. 7. Khó có ai bằng lòng chết thay cho một người công chính; hiếm lắm mới có người dám chết thay cho một người lương thiện; 8. nhưng Đức Chúa Trời đã bày tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là những người có tội thì Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta. 9. Bây giờ chúng ta đã nhờ huyết của Ngài để được xưng công chính nhiều như vậy, thì chúng ta sẽ nhờ Ngài càng nhiều hơn để được cứu khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời là dường nào. 10. Bởi vì lúc chúng ta còn là kẻ thù, chúng ta đã được hòa giải với Đức Chúa Trời nhờ sự chết của Con Ngài, thì bây giờ khi đã được hòa giải rồi, chúng ta càng được cứu nhờ sự sống của Con Ngài là thế nào. 11. Không những thế, chúng ta còn hân hoan trong Đức Chúa Trời bởi vì Chúa của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, nhờ Ngài mà bây giờ chúng ta đã được sự hòa giải.
- Do chỉ một người, tội lỗi đã vào trong thế gian, và bởi tội lỗi mà có sự chết; sự chết đã lan truyền cho mọi người, bởi vì mọi người đều phạm tội. 13. Tội lỗi đã có trong thế gian trước khi có luật pháp; nhưng khi chưa có luật pháp thì tội lỗi không được kể đến. 14. Dầu vậy, sự chết đã ngự trị từ A-đam cho đến Môi-se, thậm chí trên cả những người không phạm tội như tội của A-đam – là người biểu tượng về Đấng phải đến.
- Tuy nhiên, ân điển khác với tội lỗi. Nếu bởi tội của chỉ một người mà nhiều người phải chết, thì ân điển của Đức Chúa Trời càng lớn hơn, và quà tặng bởi ân điển của một Người, là Đức Chúa Jesus Christ, lại dồi dào hơn rất nhiều. 16. Ân điển cũng khác cho một người đã phạm tội: một bên – chỉ vì phạm tội một lần mà bản án được công bố, nhưng bên khác – ân điển ban sự công chính cho người đã phạm tội nhiều lần. 17. Bởi vì nếu chỉ do tội của một người, sự chết đã thống trị trên người đó thể nào, thì những ai nhận ân điển dồi dào và món quà của sự công chính sẽ được tể trị trong sự sống bởi một Người, là Đức Chúa Jesus Christ, lại càng nhiều hơn.
- Như vậy, do hành động phạm tội của một người mà mọi người bị đoán phạt, thì cũng vậy, bởi sự công chính của một Người mà mọi người được xưng công chính và được sự sống; 19. cũng vậy, bởi sự không vâng phục của một người mà nhiều người trở thành tội nhân, thì cũng bởi sự vâng phục của một Người mà nhiều người sẽ trở nên công chính. 20. Luật pháp đã đến làm cho tội lỗi gia tăng; nhưng nơi nào tội lỗi gia tăng thì ân điển lại càng gia tăng nhiều hơn. 21. Như vậy, tội lỗi thống trị bằng sự chết, còn ân điển cai trị bằng sự công chính để đem lại sự sống đời đời, qua Đức Chúa Jesus Christ, là Chúa của chúng ta.
6
- Như vậy chúng ta sẽ nói gì? Chúng ta cứ tiếp tục sống trong tội lỗi để ân điển được dư dật hay sao? 2. Không hề như vậy! Chúng ta đã chết với tội lỗi thì sao vẫn sống trong đó được? 3. Hay là anh em không biết tất cả chúng ta đều đã chịu báp-têm trong Đấng Christ Jesus, đã vào trong sự chết của Ngài để được báp-têm hay sao? 4. Do đó, qua báp-têm chúng ta đã được chôn với Ngài trong sự chết; như Đấng Christ đã được sống lại từ cõi chết nhờ vinh quang của Cha thể nào thì chúng ta cũng bước đi trong đời sống mới cũng như vậy. 5. Bởi vì nếu chúng ta đã được hiệp nhất trong sự chết của Ngài, thì giống như vậy, chúng ta cũng sẽ sống lại. 6. Chúng ta biết rằng con người cũ của chúng ta đã cùng bị đóng đinh trên thập tự với Ngài, để con người tội lỗi bị tiêu diệt khiến chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. 7. Bởi vì ai đã chết thì được giải thoát khỏi tội lỗi.
- Tuy nhiên, nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ, chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài. 9. Chúng ta biết rằng Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết, sẽ không bao giờ chết nữa; sự chết không có quyền gì trên Ngài nữa. 10. Bởi vì Ngài đã chết là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng Ngài sống là sống cho Đức Chúa Trời. 11. Vì vậy, anh em cũng phải xem mình đã chết với tội lỗi, và đang sống cho Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus. 12. Như vậy, đừng để tội lỗi cai trị trong thân thể khả tử của anh em, khiến anh em phải chiều theo dục vọng của nó. 13. Đừng hiến chi thể của mình làm công cụ bất chính cho tội lỗi, nhưng hãy hiến chính mình cho Đức Chúa Trời – như từ chết sống lại – và dâng chi thể của mình làm công cụ công chính cho Đức Chúa Trời. 14. Thật vậy tội lỗi sẽ không cai trị anh em đâu, bởi vì anh em không ở dưới luật pháp nhưng ở dưới ân điển.
- Như vậy thì sao? Có phải bởi vì chúng ta không ở dưới luật pháp, nhưng ở dưới ân điển, cho nên chúng ta sẽ cứ phạm tội hay sao? Không phải như vậy! 16. Anh em không biết rằng nếu anh em đem thân làm nô lệ thì phải vâng phục – anh em là nô lệ của người mà mình vâng phục – hoặc của tội lỗi dẫn đến sự chết, hoặc của sự vâng phục dẫn đến sự công chính. 17. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, bởi vì anh em từng là nô lệ cho tội lỗi nhưng nay đang thật lòng vâng phục theo những giáo huấn đã được tín thác cho anh em. 18. Hơn thế nữa, anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi, và trở thành nô lệ cho sự công chính. 19. Bởi vì bản ngã xác thịt của anh em yếu đuối, cho nên tôi nói theo cách loài người: Anh em đã từng hiến những chi thể của mình làm nô lệ cho sự ô uế và sự phi pháp để làm chuyện phi pháp thể nào, thì bây giờ hãy hiến những chi thể của mình làm nô lệ cho sự công chính để được thánh hóa cũng như vậy.
- Khi còn là nô lệ cho tội lỗi, anh em không bị ràng buộc với sự công chính. 21. Thế nhưng lúc đó anh em đã đạt được kết quả gì, mà bây giờ anh em phải hổ thẹn? Kết cuộc của những điều đó là sự chết. 22. Tuy nhiên, bây giờ anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi và đã trở thành nô lệ của Đức Chúa Trời, anh em có được sự thánh hóa cho mình; và hơn thế nữa, kết quả cuối cùng là sự sống đời đời. 23. Thật vậy, tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.
7
- Anh em ơi! Tôi nói với những người hiểu luật pháp rằng anh em không biết luật pháp chỉ cai trị người ta đang khi họ còn sống thôi sao? 2. Thật vậy, một phụ nữ đã có chồng bị luật pháp ràng buộc khi chồng còn sống; nhưng nếu người chồng chết thì người ấy không còn bị luật pháp ràng buộc với chồng nữa. 3. Do đó, khi chồng còn sống, nếu người phụ nữ ở với người đàn ông khác thì sẽ bị gọi là ngoại tình; nhưng nếu chồng chết, người vợ đã được giải phóng khỏi luật pháp, và nếu người phụ nữ ở với người đàn ông khác thì không phải là ngoại tình. 4. Cũng vậy, anh em của tôi, nhờ thân thể của Đấng Christ, anh em đã chết về luật pháp, và nay thuộc về một người khác, là Đấng đã sống lại từ cõi chết, để chúng ta kết quả cho Đức Chúa Trời. 5. Bởi vì khi chúng ta còn sống trong xác thịt, những tham dục của tội lỗi, thông qua luật pháp, đã hành động trong các chi thể của chúng ta, đem đến kết quả là sự chết. 6. Nhưng bây giờ chúng ta đã được thoát khỏi luật pháp, đã chết đối với điều từng giam giữ chúng ta, để chúng ta phục vụ theo cách mới của Thánh Linh, chứ không theo cách cũ của văn tự nữa.
- Như vậy chúng ta sẽ nói gì? Luật pháp là tội lỗi hay sao? Không phải như vậy! Nhưng nếu không có luật pháp thì tôi không biết tội lỗi. Nếu luật pháp không nói: “Ngươi chớ tham lam” thì tôi đã không biết tham lam là gì. 8. Tuy nhiên tội lỗi đã bắt lấy cơ hội, qua điều răn, khơi dậy trong tôi đủ mọi thứ tham muốn, bởi vì không có luật pháp thì tội lỗi chết. 9. Đã có lần tôi sống mà không có luật pháp; nhưng khi có điều răn thì tội lỗi sống lại, còn tôi thì chết. 10. Lẽ ra điều răn đem sự sống đến cho tôi lại đưa tôi đến sự chết, 11. bởi vì tội lỗi đã bắt lấy cơ hội, dùng điều răn gạt tôi, và nhân đó giết chết tôi. 12. Cho nên, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình, và tốt đẹp.
- Như vậy, có phải điều tốt đẹp đem sự chết đến cho tôi hay không? Không phải như vậy, nhưng chính là tội lỗi. Tội lỗi đã xuất hiện khiến điều tốt đẹp trở thành sự chết cho tôi, để qua điều răn, tội lỗi bộc lộ tội ác vô cùng.
- Chúng ta biết rằng luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi – là xác thịt – đã bị bán cho tội lỗi. 15. Tôi không hiểu điều mình làm. Bởi vì tôi không làm theo điều mình muốn, nhưng thực hành điều mình ghét. 16. Nhưng nếu tôi làm theo điều mình không muốn, thì tôi nhìn nhận rằng luật pháp là tốt đẹp. 17. Bây giờ không phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng chính tội lỗi ở trong tôi; 18. bởi vì tôi biết rằng điều thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt của tôi. Tôi mong điều thiện ở trong tôi, nhưng không có quyền để làm. 19. Bởi vì tôi không làm theo điều thiện mình khao khát, nhưng cứ làm theo điều ác mình không muốn. 20. Nếu tôi làm theo điều mình không muốn, thì không phải là tôi, mà chính tội lỗi đang ở trong tôi làm điều đó.
- Vì thế, tôi khám phá ra luật nầy: Khi tôi muốn làm điều công chính thì điều ác hiện diện trong tôi. 22. Bởi vì trong thâm tâm của con người, tôi vui thích luật pháp của Đức Chúa Trời; 23. nhưng tôi thấy có một luật khác trong các chi thể của tôi, giao chiến với luật trong tâm trí của tôi, đã bắt tôi phục tùng cho luật của tội lỗi, là luật ở trong các chi thể của tôi. 24. Khốn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi khỏi thân thể hoại tử nầy? 25. Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jesus Christ, là Chúa của chúng ta! Như vậy, chính tôi phục vụ luật pháp của Đức Chúa Trời trong tâm trí, nhưng xác thịt lại theo luật của tội lỗi.
8
- Như vậy, hiện nay không còn sự kết án cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. 2. Bởi vì luật của Thánh Linh là Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. 3. Bởi vì điều gì luật pháp bất lực, do xác thịt làm cho suy yếu, thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và vì cớ tội lỗi, đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, 4. để hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không đi theo xác thịt, nhưng đi theo Đức Thánh Linh.
- Thật vậy, những ai theo xác thịt, tâm trí hướng vào những việc thuộc về xác thịt, những ai theo Thánh Linh, thì hướng vào những việc thuộc về Thánh Linh. 6. Như vậy, hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an, 7. bởi vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời – do không chịu, và cũng không thể, thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời. 8. Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời.
- Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. 10. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em sống theo sự công chính. 11. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể khả tử của anh em qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em.
- Anh em ơi! Như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. 13. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của thân xác, anh em sẽ sống. 14. Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời. 15. Do đó anh em không còn nhận tâm linh của một kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tâm linh của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” 16. Chính Thánh Linh làm chứng cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. 17. Hơn thế nữa, con là những người thừa kế – những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ; nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang.
- Thật vậy, tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang mà tương lai sẽ bày tỏ cho chúng ta. 19. Tạo vật đang chờ đợi và nôn nả trông chờ sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. 20. Bởi vì tạo vật – không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng – đã khuất phục sự hư không với niềm hy vọng 21. rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời. 22. Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. 23. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, là những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh, chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. 24. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu. Hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng, bởi vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? 25. Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi.
- Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. 27. Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu xin cho các thánh đồ.
- Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. 29. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài – là con đầu lòng ở giữa các em. 30. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển.
- Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta? 32. Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, Ngài đã ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với Con ấy cho chúng ta sao? 33. Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời trong khi Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử? 34. Ai sẽ kết án họ khi Ðức Chúa Jesus Christ, là Ðấng đã chết – đúng ra là Ðấng đã sống lại – là Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và đang cầu xin cho chúng ta? 35. Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? 36. Như đã được chép rằng: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.”
- Trái lại, trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng. 38. Bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, những quyền lực, 39. chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.
9
- Tôi nói sự thật – trong Ðấng Christ, tôi không nói dối – lương tâm của tôi làm chứng cho tôi trong Ðức Thánh Linh 2. rằng lòng của tôi buồn không ngớt và đau khổ rất nhiều. 3. Thật vậy, tôi ước gì chính mình bị nguyền rủa, bị phân cách khỏi Ðấng Christ, để thay thế cho các anh em của tôi, là những đồng bào của tôi theo phần xác, 4. là những người Y-sơ-ra-ên, tức là những người đã được chọn làm con, được vinh quang, được giao ước, được ban cho luật pháp, được thờ phượng, được lời hứa; 5. được thuộc về các tổ phụ, và từ họ Ðấng Christ đã sinh ra theo phần xác – Ngài là Ðấng ở trên mọi sự, là Ðức Chúa Trời được chúc tụng đời đời. A-men.
- Tuy nhiên, không phải vì vậy mà lời của Ðức Chúa Trời đã thất bại. Bởi vì không phải tất cả những người Y-sơ-ra-ên đều là người Y-sơ-ra-ên. 7. Cũng không phải tất cả những ai thuộc về dòng dõi Áp-ra-ham đều là con cái của ông, nhưng: “Trong Y-sác, một dòng dõi sẽ mang danh ngươi.” 8. Điều này có nghĩa là không phải con cái theo phần xác là con cái của Ðức Chúa Trời, nhưng con cái của lời hứa mới được xem là những hậu duệ đích thực. 9. Thật vậy, lời hứa đó là thế nầy: “Vào khoảng thời gian nầy Ta sẽ trở lại, và Sa-ra sẽ có một con trai.” 10. Nhưng không phải chỉ như vậy, Rê-bê-ca bởi Y-sác – tổ phụ của chúng ta – mang thai; 11. trước khi chào đời, chưa làm một điều thiện hay điều ác, tuy nhiên theo mục đích của Ðức Chúa Trời trong sự chọn lựa 12. – không căn cứ vào việc làm, nhưng tùy thuộc vào Đấng kêu gọi – bà đã được bảo rằng: “Ðứa lớn sẽ phục vụ đứa nhỏ.” 13. Như đã chép rằng: “Ta thương Gia-cốp nhưng ghét Ê-sau.”
- Như vậy chúng ta sẽ nói gì? Không phải là Đức Chúa Trời đã bất công hay sao? Không phải như vậy! 15. Bởi vì Ngài đã phán với Môi-se: “Ta sẽ nhân từ với người nào Ta muốn nhân từ, và Ta sẽ thương xót người nào Ta muốn thương xót.” 16. Vì vậy, điều đó không tùy thuộc vào ước muốn hay sự bôn ba của con người, nhưng bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời. 17. Bởi vì Kinh Thánh cũng nói với Pha-ra-ôn rằng: “Chính vì điều này, Ta đã nâng ngươi lên, để Ta tỏ bày quyền năng của Ta trong ngươi, để danh của Ta được loan ra khắp đất.” 18. Như vậy, Ngài muốn tỏ bày sự thương xót cho người nào Ngài muốn, Ngài muốn làm cứng lòng ai Ngài muốn.
- Như vậy bạn sẽ nói với tôi: “Nếu như thế tại sao Ngài còn bắt lỗi? Bởi vì ai có thể chống lại ý muốn của Ngài?” 20. Người ơi! Bạn là ai mà dám cãi lại với Ðức Chúa Trời? Có thể nào một vật được nắn lại nói với người đã nắn nên mình rằng: “Tại sao ông nắn nên tôi như thế nầy?” 21. Không phải người thợ gốm có quyền trên đất sét, để từ trong cùng một đống đất đã làm nên loại bình dùng vào việc sang trọng và loại khác dùng vào việc thấp hèn hay sao? 22. Nếu Đức Chúa Trời muốn bày tỏ cơn thịnh nộ và chứng tỏ quyền năng của Ngài – nhưng Ngài đã kiên nhẫn chịu đựng những chiếc bình xứng đáng nhận sự thịnh nộ để bị hủy diệt – thì sao? 23. Và nếu Ngài muốn bày tỏ sự giàu có của vinh quang Ngài đối với những chiếc bình đáng thương, mà Ngài đã chuẩn bị cho vinh quang, 24. trong đó có chúng ta, là những người Ngài đã gọi, không phải chỉ từ trong dân Do Thái mà cũng từ các dân tộc ngoại bang, thì sao? 25. Như Ngài phán trong Ô-sê: “Ta sẽ gọi những người chẳng phải dân Ta là dân Ta; và những người không được yêu dấu là yêu dấu;” 26. và tại nơi họ bị bảo: “Các ngươi không phải là dân Ta,” chính tại nơi đó họ sẽ được gọi là “Con cái của Ðức Chúa Trời hằng sống.” 27. Ê-sai đã thốt lên nỗi quan tâm về Y-sơ-ra-ên rằng: “Dù số con cái Y-sơ-ra-ên đông như cát biển, chỉ có một phần còn sót lại sẽ được cứu mà thôi; 28. bởi vì Chúa sẽ thi hành án phạt của Ngài trên đất cách nhanh chóng và dứt khoát.”
- Và Ê-sai cũng đã báo trước: “Nếu Chúa của các đạo quân không chừa lại cho chúng ta những người nối dõi, thì chúng ta đã trở nên như Sô-đôm và đã trở thành như Gô-mô-rơ.”
- Như vậy chúng ta sẽ nói gì? Những người ngoại bang không tìm kiếm sự công chính nhưng lại được sự công chính – đó là sự công chính bởi đức tin; 31. còn dân Y-sơ-ra-ên đã theo luật pháp để tìm sự công chính, nhưng luật pháp đã không đạt được. 32. Tại sao? Bởi vì họ không tìm kiếm bằng đức tin nhưng bằng việc làm. Họ đã vấp phải hòn đá vướng vấp, 33. như có chép: “Nầy, Ta đặt tại Si-ôn một hòn đá vướng vấp, một vầng đá gây cản trở; nhưng ai tin Ngài sẽ không bị hổ thẹn.”
10
- Thưa các anh em! Thật vậy, niềm ao ước của lòng tôi và tôi đã khẩn xin với Đức Chúa Trời là để cho họ được cứu. 2. Tôi làm chứng về họ rằng họ có lòng nhiệt thành với Đức Chúa Trời, nhưng không theo sự hiểu biết. 3. Vì không biết sự công chính của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công chính của riêng mình, cho nên họ không thuận phục sự công chính của Đức Chúa Trời. 4. Đấng Christ chính là sự kết thúc của luật pháp, để mọi người tin thì nhận được sự công chính.
- Môi-se đã viết về sự công chính đến từ luật pháp rằng người nào thực hành nó sẽ sống theo điều đó. 6. Tuy nhiên sự công chính đến từ đức tin nói thế nầy: “Các ngươi đừng nói trong lòng mình rằng: ‘Ai sẽ lên trời?’ với hàm ý là để đem Đấng Christ xuống; 7. hay là: ‘Ai sẽ xuống vực sâu?’ với hàm ý là để đem Đấng Christ từ cõi chết lên.” 8. Nhưng lời đó nói gì? “Lời ở gần anh em, ở trong miệng anh em, và ở trong lòng anh em”; và đó là lời của đức tin mà chúng tôi rao giảng, 9. để nếu miệng của anh em nói lời xưng nhận rằng Đức Chúa Jesus là Chúa, và lòng của anh em tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại, anh em sẽ được cứu. 10. Bởi vì ai tin trong lòng thì được xưng công chính, tuyên xưng nơi miệng thì được cứu rỗi. 11. Vì Kinh Thánh đã nói: “Người nào tin Ngài sẽ không bị hổ thẹn.” 12. Như vậy, không có sự phân biệt giữa người Do Thái và người Hy Lạp, bởi vì có cùng một Chúa cho mọi người, là Đấng rộng lượng với tất cả những người nào kêu cầu Ngài. 13. Bởi vì “Ai kêu cầu danh Chúa, thì người đó sẽ được cứu.”
- Nhưng làm sao họ có thể kêu cầu Ðấng mà họ chưa tin? Làm sao họ có thể tin vào Ðấng mà họ chưa nghe? Làm sao họ có thể nghe nếu không được rao giảng? 15. Làm sao có thể rao giảng nếu không có người được sai đi? Như có chép rằng: “Bàn chân của những người rao truyền sự bình an, của những người rao truyền Phúc Âm phước hạnh, xinh đẹp là dường nào!” 16. Nhưng không phải mọi người đều vâng theo Phúc Âm; bởi vì Ê-sai đã nói: “Lạy Chúa! Ai tin lời tường thuật của chúng con?” 17. Như vậy, tin là nhờ nghe – nghe lời của Đấng Christ.
- Nhưng tôi hỏi: “Họ đã được nghe chưa?” Vâng! Bởi vì “Tiếng của sứ giả đã vang ra khắp đất, và lời của họ đã truyền đến tận cùng thế giới.”
- Tôi lại hỏi: “Có phải người Y-sơ-ra-ên không hiểu hay không?” Thứ nhất, Môi-se đã nói: “Ta sẽ làm cho các ngươi ganh tị với những dân không phải là dân; Ta sẽ giận các ngươi – một dân thiếu hiểu biết.” 20. Hơn nữa, Ê-sai đã mạnh dạn nói rằng: “Những người không tìm kiếm Ta thì đã gặp được Ta; Ta đã tỏ mình ra cho những người chẳng cầu hỏi Ta.” 21. Nhưng về dân Y-sơ-ra-ên, Ngài phán: “Suốt ngày Ta dang tay của ta hướng về một dân tộc bất tuân và bội nghịch.”
11
- Như vậy tôi hỏi: “Không phải Ðức Chúa Trời đã từ bỏ dân của Ngài hay sao?” Không hề như vậy! Bởi vì chính tôi là người Y-sơ-ra-ên, thuộc dòng dõi của Áp-ra-ham, về chi tộc Bên-gia-min. 2. Đức Chúa Trời không hề từ bỏ dân của Ngài, là dân mà Ngài đã biết trước. Anh em không biết Kinh Thánh viết gì về việc Ê-li đã nài xin Đức Chúa Trời chống lại dân Y-sơ-ra-ên sao? 3. “Lạy Chúa! Họ đã giết các tiên tri của Ngài, họ đã phá đổ những bàn thờ, chỉ một mình con còn sót lại, và họ đang tìm mạng sống của con.” 4. Nhưng Ðức Chúa Trời đã đáp lại với ông như thế nào? “Ta đã để dành cho Ta bảy ngàn người chưa hề quỳ gối trước Ba-anh.” 5. Thời nay cũng vậy, có một số người còn sót lại do được chọn bởi ân điển. 6. Nhưng nếu bởi ân điển, thì không cần đến việc làm; nếu không, ân điển không còn là ân điển. Còn nếu bởi việc làm, thì không cần đến ân điển; nếu không, việc làm không còn là việc làm.
- Như vậy vấn đề là gì? Những điều dân Y-sơ-ra-ên tìm kiếm, thì không đạt được; nhưng những người được chọn lại đạt được. Số còn lại thì cứng lòng, 8. như đã được chép rằng: “Ðức Chúa Trời đã ban cho họ một tâm linh mê muội, mắt không thấy, tai không nghe, cho đến ngày hôm nay.” 9. Ða-vít còn nói: “Nguyện bàn của chúng trở thành một lưới bẫy và một cạm bẫy, một chướng ngại gây vấp váp và một sự báo trả cho chúng. 10. Nguyện mắt của chúng bị tối tăm, không thấy. Nguyện lưng của chúng bị cong khom mãi mãi.”
- Như vậy tôi hỏi: “Không phải họ bị vấp để bị ngã hay sao?” Không hề như vậy! Nhưng do sự phạm tội của họ, sự cứu rỗi đã đến với những dân ngoại, và khiến họ phải ganh tị. 12. Nếu như sự phạm tội của họ đã đem phước hạnh dồi dào cho thế gian, và sự thất bại của họ đã đem phước hạnh dồi dào cho các dân ngoại, thì khi họ được đầy trọn, còn biết bao điều sẽ thêm nữa!
- Hơn nữa, tôi nói với anh em là những dân ngoại: Bao lâu tôi còn làm sứ đồ cho dân ngoại, tôi sẽ làm rạng rỡ chức vụ của mình, 14. để nếu tôi có thể khơi gợi sự ganh tị từ những người ruột thịt của tôi, và cứu được một số người trong vòng họ. 15. Bởi vì nếu việc họ bị loại bỏ đã đem lại sự giải hòa cho thế gian, thì việc được chấp nhận không phải là chuyện cải tử hoàn sinh hay sao?
- Nếu lễ vật đầu tiên là thánh, thì cả phần bột còn lại cũng vậy; và nếu rễ là thánh thì các nhánh cũng vậy. 17. Tuy nhiên, nếu một vài nhánh bị cắt bỏ, và bạn chỉ là nhánh ô-liu hoang, được tháp vào chỗ của chúng, để hưởng nhựa sống từ rễ của cây ô-liu, 18. thì đừng nên kiêu hãnh với những nhánh đó. Nếu bạn kiêu hãnh thì hãy nhớ rằng không phải bạn cưu mang rễ, nhưng rễ cưu mang bạn.
- Rồi bạn nói: “Những nhánh đó bị cắt bỏ để tôi được tháp vào mà.” 20. Đúng vậy! Họ đã bị cắt bỏ vì không tin, còn bạn, nhờ đức tin nên được đứng vào. Vì vậy, đừng kiêu ngạo, nhưng hãy kính sợ. 21. Bởi vì nếu Ðức Chúa Trời đã không dung tha những nhánh tự nhiên, thì Ngài cũng không dung tha các bạn đâu.
- Vì vậy, hãy nhận biết sự nhân từ và sự nghiêm khắc của Ðức Chúa Trời: Nghiêm khắc đối với những người sa ngã, nhưng sự nhân từ của Đức Chúa Trời dành cho bạn, nếu bạn cứ tiếp tục ở trong sự nhân từ đó, nếu không, bạn cũng sẽ bị cắt bỏ. 23. Còn họ, nếu họ không tiếp tục trong sự vô tín, họ sẽ được ghép vào, bởi vì Ðức Chúa Trời có quyền để ghép họ vào trở lại. 24. Bởi vì nếu theo tự nhiên, bạn được cắt từ một cây ô-liu hoang – và trái ngược với tự nhiên – được ghép vào một cây ô-liu đã được vun trồng, thì cần phải bao nhiêu để họ – theo tự nhiên – được tháp trở lại vào chính cây ô-liu của mình.
- Thưa anh em! Tôi không muốn anh em không biết gì về huyền nhiệm nầy để anh em không tự cho mình là khôn ngoan; đó là: Sự cứng lòng trong một phần của dân Y-sơ-ra-ên đã xảy ra cho đến khi số dân ngoại gia nhập được đầy đủ, 26. và rồi tất cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có lời chép: “Ðấng Giải Cứu sẽ đến từ Si-ôn; Ngài sẽ cất bỏ sự vô đạo khỏi Gia-cốp. 27. Ðây là giao ước của Ta với họ, vào lúc Ta xóa bỏ tội lỗi của họ.”
- Bởi vì theo Phúc Âm, họ là những kẻ chống nghịch – nhờ đó anh em được lợi; nhưng theo phương diện tuyển chọn, họ là những người được yêu thương – căn cứ theo các tổ phụ. 29. Bởi vì những sự ban cho và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời không hề bị thu hồi. 30. Giống như anh em trước kia không vâng phục Đức Chúa Trời, mà bây giờ được thương xót nhờ sự không vâng phục của họ, 31. thì cũng vậy, bây giờ họ đã không vâng phục để nhờ sự thương xót tỏ ra cho anh em bây giờ, họ cũng được thương xót. 32. Bởi vì Ðức Chúa Trời đã ràng buộc tất cả trong sự không vâng phục, để Ngài có thể bày tỏ sự thương xót cho tất cả.
- Ôi! Sự giàu có, khôn ngoan và hiểu biết của Đức Chúa Trời thật sâu nhiệm biết bao! Những phán quyết của Ngài không thể hiểu thấu, và những đường lối của Ngài không thể dò lường! 34. “Bởi vì ai biết được ý tưởng của Chúa; hay ai cố vấn cho Ngài?” 35. hoặc “Ai đã cho Ngài trước, để Ngài ban lại cho người đó?” 36. Bởi vì tất cả mọi vật đều từ Ngài, nhờ Ngài, và hướng về Ngài. Nguyện vinh quang thuộc về Ngài đời đời vô cùng. A-men.
12
- Vì vậy, thưa anh em! Bởi tình thương của Ðức Chúa Trời, tôi nài khuyên anh em hãy dâng thân thể của mình làm vật hiến tế sống động, thánh khiết, và đẹp lòng Đức Chúa Trời. Ðó là sự thờ phượng thích hợp của anh em. 2. Ðừng rập khuôn theo đời nầy, nhưng hãy được biến hóa theo sự đổi mới trong tâm trí của anh em, để minh chứng cho ý muốn tốt lành, đẹp lòng, và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thế nào.
- Nhờ ân điển đã ban cho tôi, tôi nói với mỗi một người trong anh em: Đừng suy nghĩ quá cao về chính mình, nhưng phải suy nghĩ đúng mực, theo lượng đức tin mà Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi người. 4. Giống như trong một thân thể, chúng ta có nhiều chi thể, và các chi thể không có cùng một chức năng, 5. cũng vậy, chúng ta tuy nhiều người, nhưng chỉ là một thân trong Ðấng Christ, và mỗi người là chi thể của nhau, 6. nhưng tùy theo ân điển của Chúa ban, chúng ta có những ân tứ khác nhau. Nếu được ân tứ tiên tri, hãy nói theo lượng đức tin; 7. được ân tứ phục vụ, hãy phục vụ; được ân tứ giảng dạy, hãy giảng dạy; 8. được ân tứ khích lệ, hãy khích lệ; được ân tứ ban phát, hãy ban phát rộng rãi; được ân tứ lãnh đạo, hãy nhiệt tâm lãnh đạo; được ân tứ bày tỏ tình thương, hãy vui vẻ mà làm.
- Tình yêu phải chân thật. Hãy ghét điều ác, gắn bó với điều lành. 10. Hãy yêu thương nhau thân thiết như anh em. Hãy tôn trọng nhau. 11. Hãy chuyên cần, đừng lười biếng. Hãy có tinh thần nhiệt thành, hãy phục vụ Chúa. 12. Hãy vui mừng trong hy vọng, nhẫn nại trong hoạn nạn, kiên trì trong sự cầu nguyện. 13. Hãy cung ứng nhu cầu cho các thánh đồ. Hãy hiếu khách.
- Hãy chúc phước cho những người bách hại anh em, hãy chúc phước và đừng nguyền rủa. 15. Hãy vui với người vui, và khóc với người khóc. 16. Hãy sống hòa hợp với nhau, đừng có ý tưởng cao ngạo, nhưng hòa mình với những người thấp kém. Ðừng tự cho mình là khôn ngoan.
- Ðừng lấy ác trả ác cho ai, phải thể hiện sự công chính trước mọi người. 18. Nếu có thể được, anh em hãy hết sức sống hòa thuận với mọi người.
- Anh em yêu dấu, đừng tự báo thù, nhưng hãy nhường chỗ cho cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời, bởi vì có chép rằng: “Sự báo thù thuộc về Ta; Ta sẽ báo trả – Chúa phán vậy.” 20. Nhưng “Nếu kẻ thù của con có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; vì làm như vậy khác nào con chất những than lửa trên đầu nó.”
- Ðừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác.
13
- Mỗi người phải vâng phục các thẩm quyền ở trên mình; bởi vì không có thẩm quyền nào không đến từ Ðức Chúa Trời, và những thẩm quyền đang tồn tại đều do Ðức Chúa Trời chỉ định. 2. Vì vậy ai chống đối thẩm quyền là chống lại mệnh lệnh của Đức Chúa Trời; và những người chống đối như vậy sẽ nhận sự phán xét cho mình. 3. Bởi vì nhà chức trách không phải là nỗi sợ hãi cho người làm điều tốt, nhưng cho người làm điều xấu. Bạn muốn khỏi sợ nhà cầm quyền chăng? Hãy làm điều tốt, và bạn sẽ được nhà chức trách khen thưởng; 4. vì nhà chức trách là đầy tớ của Đức Chúa Trời để làm ích lợi cho bạn. Nhưng nếu bạn làm điều gian ác thì hãy lo sợ, bởi vì nhà chức trách mang gươm không phải là vô cớ; nhà chức trách là đầy tớ của Đức Chúa Trời để thi hành sự trừng phạt đối với người làm điều gian ác. 5. Vì vậy, cần phải vâng phục, không chỉ vì sợ bị trừng phạt nhưng cũng vì cớ lương tâm. 6. Cũng vì điều này, bạn phải trả thuế, họ là những đầy tớ của Đức Chúa Trời để liên tục giám sát công việc nầy. 7. Hãy trả cho mọi người điều thuộc về họ: nộp thuế cho người cần phải nộp; trả lợi tức cho người cần phải trả; sợ người đáng sợ; tôn kính người đáng tôn kính.
- Ðừng mắc nợ ai điều gì, ngoại trừ tình yêu thương nhau, bởi vì ai yêu thương người khác là làm trọn luật pháp. 9. Các điều răn “Ngươi chớ phạm tội ngoại tình, ngươi chớ sát nhân, ngươi chớ trộm cắp, ngươi chớ tham lam”, và nếu có một điều răn nào khác, được tóm lại trong điều nầy: “Ngươi hãy yêu người lân cận như mình.” 10. Tình yêu thương không làm hại người lân cận; do đó, yêu thương làm trọn luật pháp.
- Và nầy, hãy biết thời điểm đây là lúc anh em phải thức dậy từ trong giấc ngủ, bởi vì bây giờ sự cứu rỗi đã gần với chúng ta hơn là lúc chúng ta mới tin. 12. Đêm sắp qua, ngày gần đến; vì vậy chúng ta hãy lột bỏ những việc tối tăm mà mặc lấy áo giáp của sự sáng. 13. Hãy sống như đi giữa ban ngày, đừng chè chén và say sưa, hoang dâm và tham dục, gây gổ và ganh tị. 14. Nhưng hãy mặc lấy Chúa, là Đức Chúa Jesus Christ, và đừng tìm cách thỏa mãn các dục vọng của xác thịt.
14
- Hãy chấp nhận những người kém đức tin; đừng tranh luận về lý lẽ. 2. Có người tin rằng ăn được mọi thứ; nhưng người khác, là người yếu đuối, chỉ ăn rau. 3. Người ăn đừng khinh người không ăn; và người không ăn đừng xét đoán người ăn, bởi vì Ðức Chúa Trời đã chấp nhận người đó. 4. Bạn là ai mà xét đoán đầy tớ của người khác? Người đó đứng hay ngã, đó là việc của chủ người đó. Nhưng người đó sẽ đứng, bởi vì Chúa có quyền cho người đó đứng. 5. Có người cho rằng ngày nầy tốt hơn ngày khác, trong khi người khác cho rằng mọi ngày đều như nhau. Mỗi người, trong trí mình như thế nào, hãy giữ như vậy. 6. Người giữ ngày, là giữ vì Chúa; và người không giữ ngày, cũng không giữ vì Chúa; người ăn, là ăn vì Chúa, bởi vì người tạ ơn Đức Chúa Trời; người không ăn cũng không ăn vì Chúa, và người đó cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.
- Bởi vì không ai trong chúng ta vì chính mình mà sống, và không ai trong chúng ta vì chính mình mà chết. 8. Vì trong cả hai trường hợp, nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa; và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Cho nên, trong cả hai trường hợp, dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa. 9. Chính vì vậy Ðấng Christ đã chết và đã sống lại, để Ngài có thể làm Chúa của cả người chết lẫn người sống.
- Như vậy, tại sao bạn xét đoán anh em mình; hay là bạn, tại sao bạn khinh anh em mình? Bởi vì tất cả chúng ta đều sẽ ứng hầu trước tòa án của Ðức Chúa Trời, 11. như đã chép rằng: “Chúa phán: Thật như Ta hằng sống, mọi đầu gối sẽ quỳ trước Ta, và mọi lưỡi sẽ xưng nhận với Ðức Chúa Trời.’” 12. Vì vậy, mỗi chúng ta sẽ tường trình, về chính mình, với Đức Chúa Trời.
- Vì vậy, chúng ta đừng đoán xét nhau nữa; nhưng hãy quyết định như thế nầy: Tôi sẽ không đặt vật gây vấp váp hay lưới bẫy trước anh em mình. 14. Trong Chúa, là Ðức Chúa Jesus, tôi biết và tôi được thuyết phục để hiểu rằng không có vật gì tự nó là không thanh sạch; nhưng bất kỳ điều gì là không thanh sạch, đối với người nào nghĩ nó là không thanh sạch.
- Nếu vì chuyện thức ăn mà bạn gây cho anh em mình đau buồn, bạn đã không còn sống theo tình yêu thương. Đừng vì một thức ăn mà bạn làm hư mất người mà Đấng Christ đã chết thay. 16. Như vậy, đừng để những việc tốt của anh em bị nói xấu. 17. Bởi vì vương quốc của Ðức Chúa Trời không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an, và vui mừng trong Ðức Thánh Linh. 18. Người nào phục vụ Đấng Christ theo những điều này, sẽ đẹp lòng Đức Chúa Trời và được loài người chấp nhận.
- Như vậy, chúng ta hãy theo đuổi những việc đem lại hòa thuận và những việc đem lại gây dựng cho nhau. 20. Ðừng vì thức ăn mà phá hoại công việc của Ðức Chúa Trời. Thật ra mọi vật đều thanh sạch, nhưng vì chuyện ăn, để làm vấp ngã một người, là sai trật. 21. Điều tốt đẹp là không ăn thịt, không uống rượu, hay làm bất cứ điều gì có thể khiến anh em mình bị vấp ngã, hay bị dẫn dắt vào tội lỗi, hoặc đau ốm.
- Bạn có đức tin như thế nào, hãy giữ như vậy trước Ðức Chúa Trời. Phước cho người nào không lên án chính mình về những gì mình đã chấp nhận. 23. Nhưng người nào còn nghi ngại, mà ăn, thì đã bị lên án, bởi vì không hành động theo đức tin; bất cứ việc gì không thuộc về đức tin đều là tội lỗi.
15
- Chúng ta – là những người mạnh – phải gánh vác những khiếm khuyết của người yếu; đừng chỉ làm theo ý muốn của chính mình. 2. Mỗi người trong chúng ta nên làm theo ý muốn của người lân cận, để gây dựng người đó theo hướng tốt, 3. bởi vì ngay cả Ðấng Christ cũng không làm theo ý muốn của Ngài, như đã được chép rằng: “Lời nhục mạ của những kẻ nhục mạ Ngài đã trút trên tôi.”
- Bởi vì tất cả những gì đã được viết từ xưa, được viết ra để hướng dẫn chúng ta, để qua sự vững vàng và khích lệ của Kinh Thánh, chúng ta có hy vọng.
- Cầu xin Ðức Chúa Trời của sự vững vàng và khích lệ, ban cho anh em sự hiệp nhất với nhau trong tâm trí, theo như Ðức Chúa Jesus Christ, 6. để anh em cùng một miệng, hòa lòng tôn vinh Đức Chúa Trời, và Cha của Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jesus Christ.
- Như vậy, hãy tiếp nhận lẫn nhau – như Ðấng Christ đã tiếp nhận anh em – để làm vinh quang Ðức Chúa Trời.
- Vì vậy, tôi nói: Chính vì chân lý của Ðức Chúa Trời, Ðấng Christ đã trở thành đầy tớ của dân được cắt bì để khẳng định những lời hứa đã ban cho các tổ phụ của họ, 9. và để các dân ngoại tôn vinh Ðức Chúa Trời về sự thương xót của Ngài, như đã được chép rằng: “Vì vậy, con sẽ tôn ngợi Ngài giữa các dân, và con sẽ hát chúc tụng danh của Ngài.”
- Một lần nữa nói rằng: “Hỡi các dân ngoại! Hãy vui mừng với dân của Ngài.”
- Và một lần nữa: “Tất cả các dân ngoại! Hãy tôn ngợi Chúa. Tất cả các dân tộc! Hãy tôn ngợi Ngài.”
- Và một lần nữa Ê-sai nói: “Cội rễ của Giê-se sẽ đến, và một Đấng sẽ trỗi lên để cai trị các dân ngoại. Các dân ngoại sẽ hy vọng nơi Ngài.”
- Cầu xin Ðức Chúa Trời của hy vọng đổ đầy anh em với tất cả niềm vui và sự bình an trong đức tin, để anh em có thể tràn trề hy vọng trong quyền năng của Thánh Linh.
- Về phần anh em, các anh em của tôi, tôi – chính tôi – tin chắc rằng anh em đầy nhân ái, đủ tri thức, và có khả năng khuyên bảo lẫn nhau. 15. Tuy nhiên, có vài chỗ tôi viết cho anh em hơi mạnh, để nhắc anh em, về ân điển Ðức Chúa Trời đã ban cho tôi, 16. khiến tôi làm đặc sứ của Ðức Chúa Jesus Christ cho các dân ngoại, đặc trách về Phúc Âm của Ðức Chúa Trời, để các dân ngoại có thể trở thành một lễ vật được chấp nhận, được thánh hóa bởi Ðức Thánh Linh.
- Vì vậy, trong Ðức Chúa Jesus Christ, tôi có lý do để hãnh diện về sự phục vụ Ðức Chúa Trời, 18. bởi vì tôi không dám nói điều gì khác hơn là những gì Ðấng Christ đã thực hiện qua tôi – bằng lời nói và việc làm – để đem các dân ngoại đến sự thuận phục, 19. trong quyền năng của những dấu kỳ và những việc phi thường, trong quyền năng của Thánh Linh của Đức Chúa Trời, để tôi đã công bố đầy đủ Phúc Âm của Ðấng Christ từ Giê-ru-sa-lem cho đến các vùng phụ cận của I-ly-ri. 20. Tuy nhiên, ước vọng của tôi là được rao giảng Phúc Âm tại nơi nào danh Ðấng Christ chưa được rao giảng, để tôi khỏi phải xây trên nền của người khác, 21. như đã được chép rằng: “Để những người chưa được loan báo về Ngài, sẽ thấy; những người chưa nghe, sẽ hiểu.”
- Đó là lý do đã nhiều lần cản trở tôi đến với anh em.
- Tuy nhiên, bây giờ trong những vùng nầy không còn chỗ nào cho tôi nữa. Hơn nữa, đã nhiều năm, niềm ước ao lớn lao của tôi là được đến thăm anh em.
- Khi nào tôi có thể đi Tây Ban Nha, tôi hy vọng sẽ ghé thăm anh em; trước hết tôi được thỏa lòng ở với anh em ít lâu, và rồi nhờ anh em đưa đến đó. 25. Tuy nhiên, bây giờ tôi sẽ đi Giê-ru-sa-lem để phục vụ các thánh đồ; 26. bởi vì người Ma-xê-đoan và A-chai đã vui lòng quyên góp giúp những người nghèo trong các thánh đồ tại Giê-ru-sa-lem. 27. Họ vui lòng làm việc này, nhưng thật ra họ cũng mắc nợ những người đó nữa; bởi vì nếu người ngoại đã được chia sẻ những điều thuộc linh, thì họ cũng phải đem vật chất mà giúp đỡ họ.
- Do đó, tôi phải làm xong việc nầy, và tín thác cho họ kết quả nầy, rồi tôi sẽ lên đường đi Tây Ban Nha và ghé anh em. 29. Tôi biết rằng khi tôi đến với anh em, tôi sẽ đến với ân phước dồi dào của Ðấng Christ.
- Thưa anh em, vì Chúa của chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ và vì tình yêu của Ðức Thánh Linh, tôi nài xin anh em hãy cùng tôi chiến đấu trong lời cầu nguyện. Hãy vì tôi mà trình dâng lên Đức Chúa Trời, 31. để tôi được thoát khỏi những kẻ vô tín tại Giu-đê, và sự phục vụ của tôi tại Giê-ru-sa-lem có thể được các thánh đồ chấp nhận; 32. để rồi, theo ý của Ðức Chúa Trời, tôi có thể đến thăm anh em trong niềm vui, và được phục hồi tươi mới với anh em.
- Cầu xin Ðức Chúa Trời bình an ở với tất cả anh em. A-men.
16
- Tôi xin giới thiệu với các anh em: Phê-bê, một chị em của chúng tôi – cũng là một chấp sự của Hội Thánh tại Sen-cơ-rê – 2. để trong danh Chúa, anh em có thể tiếp bà tương xứng theo cách dành cho các thánh đồ; và anh em có thể giúp bà bất cứ điều gì khi bà cần đến anh em. Bởi vì bà đã từng giúp rất nhiều người, và cả chính tôi nữa.
- Xin gởi lời chào đến Bê-rít-sin và A-qui-la, những người cùng làm việc với tôi trong Đấng Christ Jesus, 4. họ đã liều mình để cứu mạng sống của tôi; không phải chỉ một mình tôi – nhưng tất cả các hội thánh của các dân ngoại – cũng mang ơn họ, 5. và hội thánh tại nhà của họ.
Xin chào Ê-bai-nết – người thân yêu của tôi – trái đầu mùa cho Ðấng Christ trong vùng A-sia.
- Xin chào Ma-ri, người đã làm việc vất vả vì anh em.
- Xin chào An-trô-ni-cơ và Giu-ni-a, những bà con của tôi, và cũng là những bạn đồng tù với tôi. Họ là những người được tôn trọng giữa vòng các sứ đồ, và cũng ở trong Ðấng Christ trước tôi.
- Xin chào Am-li-a – người thân yêu của tôi ở trong Chúa.
- Xin chào U-rơ-banh, bạn cùng làm việc với tôi trong Ðấng Christ, và Ếch-ta-chy, người thân yêu của tôi.
- Xin chào A-be-lơ, người được chấp nhận trong Ðấng Christ.
Xin chào những người trong gia đình của A-rích-tô-bu.
- Xin chào Hê-rô-đi-ôn, người bà con của tôi.
Xin chào những người trong gia đình của Nạt-xít, là những người trong Chúa.
- Xin chào Try-phe-nơ và Try-phô-sơ, những phụ nữ đã chịu khó nhọc vì Chúa.
Xin chào Bẹt-si-đơ, người chị quý mến, là người đã chịu nhiều khó nhọc vì Chúa.
- Xin chào Ru-phu, người được Chúa chọn, và mẹ của người, và cũng là mẹ của tôi.
- Xin chào A-sin-cơ-rích, Phơ-lê-gôn, Hẹt-me, Ba-trô-ba, Hẹt-ma, và những anh em ở với họ.
- Xin chào Phi-lô-lô-gơ và Giu-lia, Nê-rê-u và em gái của anh ấy, cùng Ô-lim và tất cả các thánh đồ đang ở với họ.
- Hãy chào nhau bằng cái hôn thánh.
Tất cả các hội thánh của Ðấng Christ chào thăm anh em.
- Thưa anh em! Tôi khuyên anh em hãy coi chừng những người gây chia rẽ và cản trở, chống lại sự dạy dỗ mà anh em đã học; hãy tránh xa họ. 18. Vì những người đó không phục vụ Ðấng Christ, Chúa của chúng ta, nhưng phục vụ bao tử của họ. Họ đã dùng những lời trơn tru và dua nịnh để gạt gẫm những tấm lòng thật thà.
- Mọi người đều biết lòng vâng phục của anh em; vì vậy, tôi vui mừng về anh em; tôi mong rằng anh em khôn ngoan về điều lành và thanh sạch về điều dữ. 20. Vì không bao lâu nữa, Ðức Chúa Trời của bình an sẽ chà nát đầu của Sa-tan ở dưới chân của anh em.
Cầu xin ân điển của Ðức Chúa Jesus, Chúa của chúng ta, ở cùng anh em.
- Ti-mô-thê – người cùng làm việc với tôi – Lu-si-út, Gia-sôn và Sô-xi-ba-tê – những bà con của tôi – chào anh em.
- Tôi, Tẹt-tiu – người chép bức thư nầy – xin chào anh em trong Chúa.
- Gai-út – người tiếp đãi tôi và cả hội thánh – chào anh em.
Ê-rát – thủ quỹ của thành phố – và Qua-rơ-tu – anh em của chúng tôi – chào anh em.
- Cầu xin ân điển của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, ở cùng tất cả anh em. A-men.
- Chúc tụng Ðấng có quyền làm vững mạnh anh em theo Phúc Âm mà tôi rao giảng, là sự rao giảng về Ðức Chúa Jesus Christ, theo sự mặc khải về huyền nhiệm vốn được giữ kín từ ngàn xưa, 26. nhưng bây giờ được tỏ ra, và qua ký thuật của các tiên tri theo lịnh của Ðức Chúa Trời hằng sống, để tất cả các dân ngoại được biết, và đem họ đến đức tin vâng phục.
- Nguyện Ðức Chúa Trời khôn ngoan duy nhất, qua Ðức Chúa Jesus Christ, được vinh hiển đời đời vô cùng. A-men.
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl