Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: Công Vụ

Bản Dịch Việt Ngữ: Công Vụ

Công Vụ

1

  1. Thê-ô-phi-lơ! Trong cuốn sách thứ nhất, tôi đã viết về mọi điều mà Ðức Chúa Jesus đã làm và dạy từ ban đầu 2. cho đến ngày Ngài được cất lên trời, và sau khi truyền huấn thị – qua Ðức Thánh Linh – cho các sứ đồ Ngài đã chọn.
  2. Sau khi chịu thống khổ, Ngài đã bày tỏ chính Ngài đang sống cho họ bằng nhiều bằng chứng thuyết phục; đã hiện ra với họ trong bốn mươi ngày, và nói về vương quốc của Ðức Chúa Trời. 4. Trong khi họ nhóm họp, Ngài truyền cho họ đừng rời Giê-ru-sa-lem nhưng hãy chờ đợi tại đó điều mà Ðức Chúa Cha đã hứa. Ngài phán: “Đây là điều các ngươi đã nghe Ta nói, 5. bởi vì Giăng đã làm báp-têm bằng nước nhưng ít ngày nữa các ngươi sẽ được báp-têm bằng Ðức Thánh Linh.”
  3. Vì vậy, khi họ hội họp với nhau, họ đã hỏi Ngài: “Lạy Chúa! Có phải đây là lúc Ngài khôi phục vương quốc Y-sơ-ra-ên không?”
  4. Ngài phán với họ: “Các ngươi không nên biết thời điểm và thời kỳ mà Ðức Chúa Cha đã ấn định bằng chính thẩm quyền của Ngài. 8. Nhưng khi Ðức Thánh Linh giáng trên các ngươi, các ngươi sẽ nhận lãnh quyền năng và làm những nhân chứng của Ta tại Giê-ru-sa-lem, khắp Giu-đê, Sa-ma-ri, và cho đến tận cùng trái đất.”
  5. Sau khi Ngài phán xong điều nầy – trong lúc họ đang nhìn – Ngài đã được cất lên, và có một đám mây đã tiếp Ngài khuất khỏi tầm nhìn của họ.
  6. Trong khi họ đang hướng lên trời lúc Ngài ngự lên, thình lình có hai người mặc áo choàng trắng đứng bên cạnh họ. 11. Họ nói: “Hỡi những người Ga-li-lê! Tại sao các ngươi đứng nhìn lên trời? Ðức Chúa Jesus nầy – Ðấng vừa được cất lên trời khỏi các ngươi – sẽ trở lại y như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời.”
  7. Sau đó, từ núi tên là Ô-liu – gần Giê-ru-sa-lem, cách một quảng đường đi trong ngày Sa-bát – họ trở về Giê-ru-sa-lem. 13. Khi đã vào thành, họ lên một phòng cao, nơi họ đang ở.

Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ, Anh-rê, Phi-líp, Thô-ma, Ba-thê-lê-my, Ma-thi-ơ, Gia-cơ con của A-phê, Si-môn Xê-lốt, và Giu-đe con của Gia-cơ. 14. Tất cả những người này dốc lòng kiên trì cầu nguyện, cùng một số phụ nữ, trong đó có Ma-ri, mẹ của Ðức Chúa Jesus, và các em trai của Ngài.

  1. Trong những ngày đó, Phi-e-rơ đứng dậy giữa các anh em đang họp nhau – khoảng một trăm hai mươi người – và nói:
  2. “Anh em! Lời Kinh Thánh – do Ðức Thánh Linh, qua Ða-vít đã tiên báo về Giu-đa, kẻ dẫn đường cho người đến bắt Ðức Chúa Jesus – phải được ứng nghiệm, 17. bởi vì hắn vốn là người trong số chúng ta và đã dự phần trong mục vụ nầy.
  3. Bởi vì hắn đã dùng tiền thưởng của việc gian ác mình, mua một đám ruộng, đã ngã cắm đầu xuống, vỡ bụng, và ruột đổ ra. 19. – điều đó mọi cư dân tại Giê-ru-sa-lem đều biết – vì thế miếng đất đó đã được gọi theo tiếng địa phương là ‘Hắc-ên-đa-ma,’ – nghĩa là ‘Ruộng Huyết’ 20. Bởi vì trong Thánh Thi có chép : ‘Nguyện chỗ ở của hắn sẽ bị bỏ hoang và sẽ chẳng có ai ở trong đó’; và ‘Nguyện một người khác nhận lấy chức vụ của hắn.’
  4. Vì vậy, một người đã cùng đi với chúng ta trong suốt thời gian Ðức Chúa Jesus đi lại giữa chúng ta 22. – từ lúc Giăng làm báp-têm cho đến ngày Ngài được cất lên khỏi chúng ta – phải có một người trong những người đó trở thành nhân chứng về sự sống lại của Ngài với chúng tôi.”
  5. Vì vậy, họ đã đề cử hai người: Giô-sép được gọi là Ba-sa-ba, cũng có tên khác là Giúc-tu, và Ma-thia. 24. Sau đó, họ cầu nguyện và thưa: “Lạy Chúa! Chúa biết rõ lòng mọi người. Xin cho chúng con biết Ngài chọn ai trong hai người nầy, 25. để nhận phần trong giáo vụ này, và chức sứ đồ mà Giu-đa đã lìa bỏ, để đi theo chỗ riêng của hắn.”
  6. Rồi họ bắt thăm, và thăm trúng Ma-thia, cho nên ông được bổ sung vào mười một sứ đồ.

 

2

  1. Đến ngày lễ Ngũ Tuần, tất cả đã tụ họp lại một nơi. 2. Thình lình có một tiếng động từ trời đến, giống như tiếng gió thổi dữ dội, đầy cả căn nhà nơi họ đang ngồi. 3. Có những lưỡi giống như lửa xuất hiện, chúng phân tán ra, và đậu trên mỗi một người của họ. 4. Tất cả đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, bắt đầu nói những ngôn ngữ khác theo như Đức Thánh Linh cho họ nói.
  2. Lúc này có những người Do Thái sùng đạo từ mọi dân trong thiên hạ đang lưu trú tại Giê-ru-sa-lem. 6. Khi nghe tiếng động nầy, đám đông đã kéo đến và bối rối, bởi vì mỗi một người nghe họ nói ngôn ngữ của mình. 7. Họ đã bàng hoàng kinh ngạc rồi nói: “Không phải tất cả những người này là những người Ga-li-lê hay sao? 8. Như vậy tại sao mỗi chúng ta đều nghe họ nói ngôn ngữ của mình? 9. Là người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, những người sống tại Mê-sô-pô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-pa-đốc, Pông, A-si-a, 10. Phi-ri-gi, Pam-phi-ly, Ai Cập, các vùng thuộc Li-by gần Sy-ren; và những du khách từ Rô-ma, 11. bao gồm cả người Do Thái hoặc người theo đạo Do Thái, người Cơ-rết và Ả-rập. Chúng tôi nghe họ dùng ngôn ngữ của chúng tôi nói về những việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời.”
  3. Sau đó, tất cả đều kinh ngạc, bối rối, người này hỏi người khác: “Việc nầy có nghĩa gì?” 13. Nhưng có một số người đã chế giễu nói rằng: “Họ say rượu mới đó.”
  4. Tuy nhiên Phi-e-rơ đã đứng ra, cùng với mười một sứ đồ, ông lên tiếng nói với họ: “Tất cả những người đang sống tại Giê-ru-sa-lem và những người Giu-đa, hãy nhận biết điều nầy và hãy chú ý đến những lời của tôi: 15. Những người nầy không có say giống như anh em suy nghĩ, bởi vì bây giờ mới là giờ thứ ba trong ngày. 16. Nhưng đây là điều đã được phán qua Tiên tri Giô-ên:
  5. ‘Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thánh Linh của Ta trên mọi xác thịt; các con trai của các ngươi và các con gái của các ngươi sẽ nói tiên tri; những thanh niên của các ngươi sẽ thấy khải tượng, và những người già của các ngươi sẽ có những ước mơ; 18. và trong những ngày đó, Ta sẽ đổ Thánh Linh của Ta thậm chí trên những đầy tớ trai của Ta và những đầy tớ gái của Ta, và họ sẽ nói tiên tri; 19. Ta sẽ bày tỏ những việc diệu kỳ ở trên trời, và những dấu lạ ở dưới đất; có máu, lửa, và hơi khói. 20. Mặt trời sẽ trở nên tối tăm, mặt trăng sẽ hóa ra máu, trước ngày vĩ đại và vinh quang của Chúa đến. 21. Và ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu.’
  6. Những người Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe những lời nầy: Đức Chúa Jesus ở Na-xa-rét, là người đã được Đức Chúa Trời xác chứng cho quý vị bằng những việc quyền năng, những việc diệu kỳ, và những dấu lạ, là những việc mà Đức Chúa Trời đã thực hiện bởi Ngài ở giữa quý vị, như chính quý vị đã biết.
  7. Theo kế hoạch đã định và sự biết trước của Đức Chúa Trời, Ngài đã bị phản nộp, vào tay của những kẻ không biết luật pháp, để giết Ngài bằng cách đóng đinh Ngài vào thập tự. 24. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, giải tỏa khỏi những thống khổ của sự chết, bởi vì nó không thể cầm giữ Ngài bằng điều đó được.
  8. Vì Đa-vít nói về Ngài: ‘Tôi luôn luôn thấy Chúa ở trước mặt tôi, vì Ngài ở bên phải tôi, cho nên tôi không bị lay động.
  9. Do đó, lòng tôi vui vẻ, lưỡi tôi mừng rỡ, và giờ đây thân xác của tôi sẽ sống trong hy vọng. 27. Bởi vì Ngài sẽ không bỏ linh hồn của tôi trong âm phủ, cũng không để cho Đấng Thánh của Ngài thấy sự hư nát. 28. Ngài đã cho tôi biết những đường lối của sự sống, và Ngài sẽ làm cho tôi đầy tràn niềm vui trong sự hiện diện của Ngài.’
  10. Thưa anh em! Tôi được phép tự do để nói với anh em về tổ phụ Đa-vít, là người đã chết và đã được an táng, phần mộ của ông vẫn còn ở giữa chúng ta cho tới ngày hôm nay. 30. Vì là một tiên tri, cho nên ông biết Đức Chúa Trời đã hứa với ông bằng một lời thề rằng Ngài sẽ đặt một hậu tự của ông để ngồi trên ngai của ông. 31. Vì đã thấy trước, cho nên ông đã nói về sự sống lại của Đấng Christ rằng: Ngài chẳng bị bỏ nơi âm phủ, và thân thể của Ngài chẳng thấy sự rữa nát.
  11. Đức Chúa Trời đã khiến Đức Chúa Jesus nầy sống lại; tất cả chúng tôi là nhân chứng về điều đó. 33. Vì vậy Ngài đã được tôn cao đến bên phải của Đức Chúa Trời, và nhận lãnh từ Cha lời hứa về Đức Thánh Linh, và Ngài đã tuôn đổ ra như anh em đang thấy và nghe.
  12. Đa-vít chưa lên trời, dầu vậy chính ông đã nói: ‘Chúa đã phán với Chúa của tôi rằng: Hãy ngồi bên phải Ta, 35. cho đến khi nào Ta đặt những kẻ thù của con làm bệ chân của con.’
  13. Vì vậy, tất cả nhà Y-sơ-ra-ên hãy biết chắc rằng: Đức Chúa Jesus nầy, là Đấng mà anh em đã đóng đinh trên thập tự giá, đã được Đức Chúa Trời tôn làm Chúa và Đấng Christ.”
  14. Sau khi nghe điều đó, lòng họ đau như cắt, họ liền nói với Phi-e-rơ và những sứ đồ khác: “Các anh ơi! Chúng tôi phải làm gì?”
  15. Sau đó Phi-e-rơ nói với họ: “Hãy ăn năn! Mỗi người trong anh em phải chịu báp-têm trong danh của Đức Chúa Jesus để được tha tội của mình, và sẽ nhận lãnh món quà của Đức Thánh Linh. 39. Bởi vì lời hứa đó được dành cho anh em, cho con cháu anh em, và cho tất cả mọi người ở xa, tức là tất cả những người mà Chúa là Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ gọi đến với Ngài.” 40. Ông dùng nhiều lời khác để làm chứng và khích lệ họ: “Hãy cứu mình khỏi thế hệ gian tà nầy!”
  16. Vì vậy, những người tiếp nhận lời của ông đã được báp-têm; và trong ngày đó, có khoảng ba ngàn linh hồn thêm vào Hội Thánh.
  17. Lúc đó họ chuyên tâm giữ lời dạy của các sứ đồ, mối thông công, lễ bẻ bánh, và cầu nguyện. 43. Sự kính sợ đến với mọi người; có nhiều phép mầu và dấu lạ được thực hiện qua các sứ đồ. 44. Tất cả những người tin đều hiệp lại với nhau và lấy mọi vật làm của chung. 45. Họ bán hết tài sản và những vật sở hữu của mình, rồi phân phát cho tất cả tùy theo nhu cầu của mỗi người.
  18. Mỗi ngày họ tiếp tục hiệp nhau trong đền thờ; tại từng nhà họ bẻ bánh, nhận thức ăn với sự vui vẻ và lòng chân thành, 47. tôn ngợi Đức Chúa Trời, và được ơn với mọi người. Mỗi ngày Chúa thêm những người được cứu vào số của họ.

 

3

  1. Vào giờ thứ chín là giờ cầu nguyện, Phi-e-rơ và Giăng lên đền thờ. 2. Có một người què từ lúc lọt lòng mẹ, mỗi ngày người đó được người ta đem đến đặt tại cửa đền thờ, gọi là Cửa Đẹp, để xin bố thí từ những người vào đền thờ. 3. Khi thấy Phi-e-rơ và Giăng sắp vào đền thờ, người đó đã xin được bố thí.
  2. Phi-e-rơ đã nhìn chăm vào người đó, rồi cùng với Giăng, nói: “Hãy nhìn vào chúng tôi.”
  3. Người đó chăm chú nhìn họ với hy vọng sẽ nhận được điều gì từ nơi họ.
  4. Tuy nhiên Phi-e-rơ đã nói: “Tôi không có vàng và bạc, nhưng điều tôi có thì tôi cho anh: Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ ở Na-xa-rét, hãy đứng dậy và bước đi!”
  5. Ông đã nắm tay phải của người đó, rồi nâng người đó dậy. Lập tức các bàn chân và mắt cá của người đó trở nên cứng vững. 8. Người đó nhảy lên, đứng thẳng, rồi bước đi; người đó đã vào đền thờ cùng với họ, vừa đi, vừa nhảy, vừa ca ngợi Đức Chúa Trời.
  6. Mọi người đã thấy người đó bước đi thì ca ngợi Đức Chúa Trời. 10. Và rồi, họ nhận ra người đó là người đã ngồi xin bố thí tại Cửa Đẹp của đền thờ; họ kinh ngạc và sửng sờ về việc đã xảy ra cho người đó.
  7. Trong lúc người đó đang bám theo Phi-e-rơ và Giăng, tất cả dân chúng chạy đến với họ tại hành lang Sa-lô-môn – dân chúng vô cùng kinh ngạc.
  8. Thấy vậy, Phi-e-rơ liền nói với dân chúng: “Thưa quý vị là những người Y-sơ-ra-ên! Tại sao quý vị ngạc nhiên về điều nầy? Tại sao quý vị nhìn chăm vào chúng tôi như chúng tôi đã nhờ quyền năng hay đạo đức riêng của mình khiến người nầy đi được? 13. Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trời của Gia-cốp, là Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta, đã tôn vinh đầy tớ của Ngài là Đức Chúa Jesus, là Đấng mà chính quý vị đã nộp và từ bỏ trước sự hiện diện của Phi-lát trong khi ông đã xử để tha Ngài.
  9. Tuy nhiên quý vị đã không muốn một Đấng Thánh và là Đấng Công Chính, nhưng đã xin tha cho một người, là một kẻ sát nhân, và quý vị đã nhận được điều đó. 15. Quý vị đã giết Đấng Sáng Tạo sự sống, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm cho sống lại từ cõi chết; và chúng tôi là những nhân chứng cho điều đó.
  10. Chính đức tin trong danh của Ngài đã làm cho người nầy, là người mà quý vị thấy và biết, được vững mạnh. Chính danh Ngài và đức tin nơi Ngài đã khiến người nầy hoàn toàn khỏe mạnh ngay trước mặt tất cả quý vị.
  11. Thưa anh em, tôi biết anh em, cũng như các lãnh đạo của anh em, đã hành động trong sự thiếu hiểu biết. 18. Tuy nhiên Đức Chúa Trời đã dùng cách đó để làm ứng nghiệm lời Ngài đã báo trước qua miệng của các tiên tri rằng Đấng Christ của Ngài phải chịu đau khổ.
  12. Vì vậy, hãy ăn năn và quay lại để tội lỗi của anh em được tẩy xóa, 20. để những thời kỳ, đang được làm mới lại trong sự hiện diện của Chúa, sẽ đến, và Ngài có thể sai Đấng mà Ngài đã chỉ định là Đấng Christ, tức là Đức Chúa Jesus, đến với anh em. 21. là Đấng thật ra được tiếp nhận trên trời, cho đến thời kỳ tất cả mọi vật được phục hồi, như Đức Chúa Trời đã phán qua miệng các thánh nhân, là những tiên tri của Ngài, từ xa xưa.
  13. Thật vậy, Môi-se đã nói: ‘Chúa, là Đức Chúa Trời của các ngươi, sẽ dấy lên trong những anh em của các ngươi một Đấng tiên tri như ta, và các ngươi phải lắng nghe Ngài trong trong tất cả mọi điều Ngài truyền cho các ngươi. 23. Và giờ đây, nếu linh hồn người nào không nghe Đấng tiên tri đó sẽ bị hủy diệt khỏi dân chúng.’
  14. Tất cả các tiên tri, từ Sa-mu-ên cho đến những người theo sau, khi họ nói, cũng công bố về những ngày nầy.
  15. Anh em là con cháu của các tiên tri và của giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với tổ phụ của anh em khi Ngài phán với Áp-ra-ham: ‘Và rồi bởi một Hậu Tự của con, tất cả các chi tộc trên đất sẽ được phước.’ 26. Trước hết, vì anh em mà Đức Chúa Trời đã nâng Đầy Tớ của Ngài lên, đã sai Ngài đến để ban phước cho anh em bằng cách khiến mỗi người lìa bỏ sự gian ác của mình.”

 

4

  1. Trong lúc họ đang nói với dân chúng, thì các trưởng tế, viên quản lý đền thờ, và những người Sa-đu-sê đã kéo đến cùng họ. 2. Những người đó bực tức bởi vì họ đã giảng dạy cho dân chúng và công bố về Đức Chúa Jesus và sự sống lại từ cõi chết. 3. Những người đó bắt họ giam vào ngục cho đến ngày hôm sau, bởi vì lúc đó trời đã tối. 4. Tuy nhiên, có nhiều người đã nghe sứ điệp thì tin; con số những người nam vào khoảng năm ngàn.
  2. Đến ngày hôm sau, các lãnh đạo, các trưởng lão, và các học giả giáo luật đã họp lại tại Giê-ru-sa-lem 6. cùng với An-ne là thầy thượng tế, Cai-phe, Giăng, và A-léc-xan-đơ, cùng với rất nhiều người thuộc dòng dõi của thượng tế.
  3. Những người đó đặt hai người ở giữa, rồi bắt đầu tra hỏi: “Bởi quyền năng nào hay là nhân danh ai mà các ngươi đã làm điều nầy?”
  4. Sau đó Phi-e-rơ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, đã nói với họ: “Thưa các lãnh đạo của dân chúng và các trưởng lão! 9. Nếu hôm nay chúng tôi bị thẩm vấn vì đã làm một điều phước thiện cho một người bệnh, và bằng cách nào người đó đã được chữa lành, 10. thì xin tất cả quý vị và toàn thể dân Y-sơ-ra-ên hãy biết rằng: Trong danh của Đức Chúa Jesus Christ ở Na-xa-rét – là Đấng mà quý vị đã đóng đinh trên thập tự, cũng là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm cho sống lại từ cõi chết – nhờ Ngài mà người nầy đang đứng lành mạnh trước mặt quý vị. 11. Ngài là vầng đá, đã bị quý vị, là những thợ xây, đã loại ra; tuy nhiên đã trở nên đầu của góc nhà. 12. Chẳng có sự cứu rỗi trong một người nào khác, bởi vì ở dưới trời không có một danh nào khác đã được ban cho loài người, để chúng ta nhờ đó mà được cứu.”
  5. Khi thấy sự dạn dĩ của Phi-e-rơ và Giăng, biết hai ông là những người tầm thường, không học, thì họ kinh ngạc. Sau đó, họ nhận biết hai ông đã từng ở với Đức Chúa Jesus. 14. Và bởi vì họ thấy người đã được chữa lành đang đứng bên cạnh hai ông, cho nên họ không thể phản bác được.
  6. Sau khi truyền cho hai ông rời khỏi Hội Đồng, họ đã bàn luận với nhau 16. rằng: “Chúng ta phải làm gì với những người nầy? Một phép lạ hiển nhiên thật sự đã được thực hiện qua những người này, tất cả cư dân tại Giê-ru-sa-lem đều làm chứng, và chúng ta không thể chối cãi được. 17. Tuy nhiên, để điều này không loan ra trong dân chúng thêm nữa, chúng ta hãy cảnh cáo họ không được dùng danh nầy để nói với bất cứ ai.”
  7. Vì vậy, họ đã gọi hai ông vào, truyền lệnh không được nhân danh Đức Chúa Jesus để nói hay dạy cho bất cứ ai. 19. Tuy nhiên Phi-e-rơ và Giăng đã trả lời với họ rằng: “Các ông hãy suy xét! Điều nào là đúng trước mặt Đức Chúa Trời: Vâng lời các ông hay là vâng lời Đức Chúa Trời? 20. Bởi vì chúng tôi không thể không nói về những điều mình đã thấy và nghe.”
  8. Sau khi tiếp tục hăm dọa, họ thả hai người ra, bởi vì không tìm được phương cách nào để trừng phạt hai ông bởi vì họ sợ dân chúng, vì tất cả đều tôn vinh Đức Chúa Trời về việc đã xảy ra. 22. Bởi vì người đàn ông được phép lạ này chữa lành đã hơn bốn mươi tuổi.
  9. Khi được thả ra, họ đã đến với những người thuộc về mình và thuật lại mọi điều mà các trưởng tế và các trưởng lão đã nói với họ.
  10. Nghe xong, họ hiệp nhau cất tiếng dâng lên Đức Chúa Trời, và nói rằng: “Lạy Chúa, là Đấng đã tạo nên trời, đất, biển, và mọi vật ở trong đó, 25. là Đấng mà tổ phụ của chúng con bởi Đức Thánh Linh qua miệng của Đa-vít, là đầy tớ của Ngài, đã nói rằng: ‘Vì sao những người ngoại bang nổi giận, vì sao các dân tộc lập mưu vô ích? 26. Các vua trên đất đã đứng lên, các lãnh đạo đã họp lại với nhau, để chống lại Chúa và chống lại Đấng Christ của Ngài’. 27. Thật vậy, bởi vì Hê-rốt, Bôn-xơ Phi-lát, cùng với những người ngoại bang, và dân Y-sơ-ra-ên, đã họp nhau tại thành nầy để chống lại Đầy Tớ Thánh của Ngài là Đức Chúa Jesus, là Đấng mà Ngài đã xức dầu 28. để thực hiện mọi việc bởi tay của Ngài và theo mục đích của Ngài đã hoạch định từ trước. 29. Bây giờ, lạy Chúa, xin xem xét những lời hăm dọa của họ, và ban cho các đầy tớ của Ngài sự dạn dĩ để tất cả đều công bố lời của Ngài, 30. qua điều đó cánh tay của Ngài vươn ra để chữa lành, để những phép mầu, dấu lạ sẽ xảy ra qua danh của Đầy Tớ Thánh Ngài, là Đức Chúa Jesus.”
  11. Khi cầu nguyện xong thì nơi họ đang nhóm lại rúng động, tất cả đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng lời của Đức Chúa Trời cách dạn dĩ.
  12. Cộng đồng tín hữu đồng tâm hiệp ý, không ai xem tài sản mình là của riêng, nhưng mọi vật của họ là của chung. 33. Các sứ đồ với quyền năng rất lớn đã làm chứng về sự sống lại của Chúa, là Đức Chúa Jesus; sau đó ân điển được ban cách dư dật trên tất cả mọi người. 34. Vì vậy, không một ai trong vòng họ thiếu thốn, bởi vì những người có ruộng đất hay nhà cửa đã bán đi, đem tiền bán được 35. đặt dưới chân các sứ đồ; để phân phát tùy theo nhu cầu của mỗi người.
  13. Lúc đó, Giô-sép, là người mà các sứ đồ đặt tên là Ba-na-ba, nghĩa là con trai của sự an ủi, thuộc dòng dõi Lê-vi, sinh tại Chíp-rơ, 37. đã bán đám ruộng mà ông làm chủ, rồi đem tiền đặt nơi chân của các sứ đồ.

 

5

  1. Có một người tên là A-na-nia, cùng với vợ của mình là Sa-phi-ra, đã bán một tài sản; 2. ông giữ lại một phần tiền bán – người vợ cũng biết việc này – rồi đem chỉ một phần tiền đặt dưới chân của các sứ đồ.
  2. Tuy nhiên Phi-e-rơ đã nói: “Nầy A-na-nia! Tại sao ngươi đã để Sa-tan đầy dẫy lòng của ngươi, ngươi đã nói dối với Đức Thánh Linh và giữ lại một phần tiền bán đất? 4. Khi chưa bán, không phải nó là của ngươi hay sao? Khi đã bán rồi, nó không thuộc quyền của ngươi hay sao? Tại sao ngươi toan tính việc này trong lòng của ngươi? Không phải ngươi đã nói dối với loài người, nhưng nói dối với Đức Chúa Trời.”
  3. Khi A-na-nia nghe những lời này, ông đã ngã xuống rồi tắt thở. Nỗi kinh hoàng bao phủ trên tất cả những người nghe việc này. 6. Sau đó các thanh niên đã đứng dậy, khâm liệm ông, rồi đem đi chôn.
  4. Thời gian trôi qua, khoảng ba giờ sau, vợ ông – chưa biết việc vừa xảy ra – đã bước vào.
  5. Phi-e-rơ đã nói với bà: “Hãy cho ta biết, có phải ngươi đã bán đất chỉ chừng nầy hay không?” Bà nói: “Vâng! Chỉ như vậy.” 9. Phi-e-rơ đã nói với bà: “Sao các ngươi đồng lòng thử Thánh Linh của Chúa? Kìa, chân những người đã chôn chồng của ngươi đang ở ngoài cửa, họ sẽ đem ngươi đi.”
  6. Ngay lập tức, bà ngã xuống nơi chân của ông rồi tắt thở. Các thanh niên trở về thấy bà đã chết, họ đã khiêng bà ra ngoài, rồi chôn bà bên cạnh chồng của bà.
  7. Nỗi kinh hoàng bao phủ trên cả Hội Thánh và tất cả những người nghe việc này.
  8. Bấy giờ, có nhiều phép mầu và dấu lạ đã được thực hiện ở giữa dân chúng bởi tay của các sứ đồ. Họ đồng ý với nhau tất cả cùng nhóm lại tại hiên cửa Sa-lô-môn. 13. Không ai trong số những người còn lại dám tham dự với họ, nhưng dân chúng thì nể trọng họ. 14. Lúc này, số người tin Chúa được thêm lên rất nhiều người, cả nam lẫn nữ, 15. đến nỗi người ta phải đem những người bệnh để ngoài đường phố, đặt nằm trên giường và chõng, để khi Phi-e-rơ đi ngang qua, bóng của ông ít ra cũng ngả trên vài người trong số họ.
  9. Dân chúng từ các thành phố lân cận Giê-ru-sa-lem cũng tụ họp về, đem đến những người bị bệnh, những người bị tà linh hành hạ, và rồi tất cả đều được chữa lành.
  10. Tuy nhiên thượng tế và những người cùng với ông – tức là những người thuộc phái Sa-đu-sê – đầy sự ganh tị, đã đứng dậy; 18. những người này đã ra tay trên các sứ đồ, rồi bỏ họ vào nhà ngục công cộng.
  11. Tuy nhiên trong ban đêm, có một thiên sứ của Chúa đã mở các cửa ngục, đem họ ra ngoài, rồi nói: 20. “Hãy đi! Đứng tại đền thờ, rồi nói cho dân chúng tất cả những lời của sự sống nầy.” 21. Nghe như vậy, vừa lúc rạng đông các sứ đồ đã vào trong đền thờ, rồi dạy dỗ.

Trong lúc đó, thượng tế và những người cùng với ông đã đến; họ triệu tập Hội Đồng với tất cả các nghị viên của dân Y-sơ-ra-ên lại, rồi sai người vào ngục để giải các sứ đồ đến. 22. Nhưng các viên chức được cử đi không tìm thấy họ trong ngục; sau đó họ quay trở lại, và báo cáo 23. rằng: “Chúng tôi thấy nhà ngục đóng kín, những lính canh đang đứng trước các cửa, tất cả an toàn, nhưng mở ra thì chúng tôi không thấy một người nào ở trong đó.”

  1. Khi họ nghe những lời nầy, viên chỉ huy cảnh vệ Đền Thờ và các trưởng tế bối rối, lo âu về chính họ, bởi vì không biết việc nầy sẽ đưa đến điều gì. 25. Sau đó có người đến báo với họ: “Kìa, những người mà các ông đã bỏ ngục, đang ở trong đền thờ, họ đang đứng và dạy dỗ dân chúng!”
  2. Sau đó viên chỉ huy cùng với các nhân viên đã đi để bắt các sứ đồ, nhưng không dùng bạo lực, bởi vì sợ bị dân chúng ném đá. 27. Những người đó giải họ đến, và đặt trước Hội Đồng, rồi họ bị thẩm vấn bởi vị thượng tế: 28. “Không phải chúng tôi đã truyền lệnh cho các ông không được nhân danh này dạy dỗ hay sao? Hãy xem! Các ông đã làm cho Giê-ru-sa-lem tràn ngập giáo lý của mình, và còn muốn đổ máu của Người nầy trên chúng tôi.”
  3. Nhưng Phi-e-rơ và các sứ đồ đã trả lời, nói rằng: “Cần phải vâng lời Đức Chúa Trời, hơn là vâng lời người ta. 30. Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã khiến Đức Chúa Jesus được sống lại, là Đấng mà các ông đã treo trên cây và giết đi. 31. Đức Chúa Trời đã đem Đấng đó lên bên phải của Ngài – để làm Đấng Lãnh Đạo và Đấng Cứu Rỗi – để ban sự ăn năn và sự tha tội cho Y-sơ-ra-ên. 32. Chúng tôi là những nhân chứng cho những điều nầy, và Đức Thánh Linh, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã ban cho những người vâng lời Ngài, cũng làm chứng như vậy.”
  4. Khi nghe những lời nầy, thì họ đau như cắt và muốn giết các sứ đồ.
  5. Tuy nhiên có một người trong Hội Đồng, là một người Pha-ri-si tên là Ga-ma-li-ên, là một giáo sư về luật pháp được tất cả dân chúng kính trọng, ông truyền lệnh đem các sứ đồ ra ngoài một lúc. 35. Sau đó, ông nói với họ: “Thưa quý ông! là những người Y-sơ-ra-ên, hãy cẩn thận với những người nầy, với những điều mà quý vị dự tính thực hiện. 36. Thời gian trước đây, Thêu-đa đã dấy lên, tự xưng hùng, có khoảng bốn trăm người đã theo hắn, nhưng hắn đã bị giết, và tất cả những kẻ bị thuyết phục theo hắn đều tan rã, và rồi không còn gì cả. 37. Sau người nầy, cũng có Giu-đa, là một người Ga-li-lê, đã nổi lên vào thời đăng bộ, đã lôi kéo nhiều người theo mình. Nhưng rồi hắn cũng chết, tất cả những kẻ bị thuyết phục theo hắn đã tan lạc.
  6. Bây giờ tôi thưa với quý vị: Hãy tránh xa khỏi những người nầy, cứ để mặc họ, bởi vì nếu mưu định và công việc nầy đến từ loài người thì sẽ bị thất bại; 39. tuy nhiên, nếu đó là bởi Đức Chúa Trời, thì quý vị sẽ không thể nào tiêu diệt họ được. Đừng bao giờ để cho quý vị ở trong vị thế chống lại Đức Chúa Trời.”
  7. Họ đã được thuyết phục bởi ông. Họ đã gọi các sứ đồ vào, truyền đánh đòn, ra lệnh không được nói về danh của Đức Chúa Jesus, rồi thả họ ra.
  8. Vì vậy, các sứ đồ đã rời khỏi Hội Đồng trong sự vui mừng, bởi vì họ đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì Danh của Chúa.
  9. Sau đó, mỗi ngày, tại đền thờ và tại nhà, họ không ngừng giảng dạy và công bố Phúc Âm của Đức Chúa Jesus Christ.

 

6

  1. Trong thời gian này, khi số môn đồ đang gia tăng; có sự phàn nàn từ những người gốc Hy Lạp trách những người Do Thái nói tiếng A-ra-míc, bởi vì các góa phụ của họ đã bị bỏ quên trong việc chu cấp hằng ngày.
  2. Mười hai sứ đồ đã triệu tập các môn đồ đến gần, rồi nói: “Chúng tôi không muốn bỏ bê việc phục vụ Lời của Ðức Chúa Trời để đi hầu bàn. 3. Vì vậy, xin anh em hãy chọn trong những người của mình, bảy người được chứng nhận tốt, đầy dẫy Thánh Linh và khôn ngoan, chúng tôi sẽ bổ nhiệm họ để đảm trách công việc nầy. 4. Còn chúng tôi sẽ tiếp tục chuyên tâm cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa.”
  3. Tất cả hội chúng đều hài lòng về lời phát biểu này; và rồi họ đã chọn Ê-tiên, là người đầy đức tin và Đức Thánh Linh, Phi-líp, Bô-cô-rơ, Ni-ca-no, Ti-môn, Ba-mê-na và Ni-cô-la, là người đã theo đạo ở An-ti-ốt. 6. Họ trình những người nầy cho các sứ đồ; các sứ đồ đã cầu nguyện rồi đặt tay trên những người nầy.
  4. Đạo của Đức Chúa Trời tiếp tục phát triển; số môn đồ tại Giê-ru-sa-lem gia tăng quá mức. Rất nhiều thầy tế lễ cũng vâng theo đức tin.
  5. Lúc nầy Ê-tiên được đầy dẫy ân điển và quyền năng, làm những phép mầu và dấu lạ rất lớn trong dân chúng.
  6. Tuy nhiên có một số người từ nhà hội – gọi là những người tự do – và những người ở Sy-ren, A-léc-xan-đria, cùng với những người ở Si-li-si và A-si-a, đã nổi lên tranh luận với Ê-tiên. 10. Nhưng họ không thể chống trả lời lẽ khôn ngoan và Đức Thánh Linh là Đấng mà ông nương cậy để nói.
  7. Sau đó họ xúi giục nhiều người vu cáo rằng: “Chúng tôi đã nghe hắn nói những lời xúc phạm đến Môi-se và Đức Chúa Trời.”
  8. Họ đã kích động dân chúng, các trưởng lão, và những người chép kinh luật; họ đã đến, bắt ông, rồi giải đến trước Tòa Công Luận. 13. Họ đặt những nhân chứng dối, nói rằng: “Người nầy không ngừng nói những lời xúc phạm đến nơi thánh và luật pháp. 14. Bởi vì chúng tôi đã nghe hắn nói rằng: Jesus ở Na-xa-rét sẽ phá hủy nơi nầy, và thay đổi những phong tục mà Môi-se đã truyền lại cho chúng ta.”
  9. Tất cả những người ngồi tại Tòa Công Luận đều nhìn chăm vào Ê-tiên và thấy mặt ông giống như mặt của thiên sứ.

 

7

  1. Sau đó, vị thượng tế đã hỏi: “Có phải đúng như vậy không?”
  2. Ê-tiên bắt đầu nói: “Thưa các ông, các anh, và các cha! Xin hãy lắng nghe! Đức Chúa Trời hiển vinh đã xuất hiện cho tổ phụ của chúng ta là Áp-ra-ham, từ lúc còn ở tại Mê-sô-pô-ta-mi, trước khi ông đến định cư tại Cha-ran, 3. Ngài đã nói với ông rằng: ‘Hãy ra khỏi xứ sở của ngươi và bà con của ngươi, rồi đi đến một xứ, mà Ta sẽ chỉ cho ngươi.’ 4. Sau đó, ông đã ra khỏi xứ Canh-đê và định cư tại Cha-ran. Sau khi thân phụ của ông qua đời, Đức Chúa Trời đã chuyển ông từ nơi đó qua xứ nầy, là nơi mà quý vị hiện đang cư ngụ.
  3. Ngài đã không ban cho ông một cơ nghiệp nào trong xứ nầy, dù chỉ một tấc đất lọt bàn chân, nhưng Ngài đã hứa cho ông cùng hậu tự của ông chiếm hữu nơi nầy, mặc dù lúc đó ông chưa có con. 6. Tuy nhiên Đức Chúa Trời đã phán rằng dòng dõi của ông sẽ kiều ngụ nơi đất khách, họ sẽ bị làm nô lệ tại đó, và bị ngược đãi trong bốn trăm năm. 7. Đức Chúa Trời đã phán: ‘Ta sẽ phán xét dân tộc đã bắt họ làm nô lệ; sau những việc nầy, họ sẽ ra đi và rồi sẽ thờ phượng Ta tại nơi nầy.’ 8. Ngài đã ban cho ông giao ước cắt bì, đã sinh Y-sác, rồi làm cắt bì cho con trong ngày thứ tám. Y-sác làm như vậy cho Gia-cốp, và Gia-cốp cũng làm như vậy cho mười hai trưởng tộc.
  4. Các trưởng tộc ganh tị với Giô-sép, đã bán ông qua Ai-cập; nhưng Đức Chúa Trời ở cùng ông. 10. Ngài đã giải cứu ông khỏi tất cả những hoạn nạn của ông, đã ban cho ông ân điển và sự khôn ngoan trước mặt Pha-ra-ôn, là vua của Ai-cập; và vua đã bổ nhiệm ông lãnh đạo Ai-cập, cùng cả hoàng gia.
  5. Sau đó có một nạn đói đã xảy ra cho cả Ai-cập và Ca-na-an, đây là một tai họa rất lớn, và các tổ phụ của chúng ta đã không tìm ra thực phẩm. 12. Khi Gia-cốp nghe ở Ai-cập có lúa, ông đã sai các tổ phụ của chúng ta đến đó lần thứ nhất. 13. Và trong lần thứ hai, Giô-sép đã bày tỏ chính mình cho các anh em của ông; và rồi Pha-ra-ôn đã biết về gia đình của Giô-sép.
  6. Sau đó Giô-sép đã sai rước Gia-cốp, cha của mình, và tất cả quyến thuộc, tổng cộng là bảy mươi lăm người. 15. Gia-cốp đã xuống Ai-cập, ông và các tộc trưởng của chúng ta đã chết tại đó; 16. họ đã được đem về Si-chem, và được đặt trong phần mộ mà Áp-ra-ham đã bỏ tiền mua từ các con trai của Hê-mô ở Si-chem.
  7. Nhưng khi gần đến thời kỳ Đức Chúa Trời thực hiện lời hứa với Áp-ra-ham, số người tại Ai-cập đã gia tăng rất nhiều lần; 18. đến khi có một vua khác dấy lên tại Ai-cập, và vua không biết Giô-sép. 19. Vua đã đối xử cách quỷ quyệt với dòng giống của chúng ta, rồi ngược đãi các tổ phụ của chúng ta, buộc họ phải bỏ các trẻ sơ sinh của mình, không để cho chúng sống.
  8. Môi-se đã được sinh ra trong giai đoạn nầy. Ông thật xinh đẹp đối với Chúa, và đã được nuôi trong ba tháng tại nhà của cha mình. 21. Khi Môi-se bị đem ra bên ngoài, con gái của Pha-ra-ôn đã nhận lấy ông, và nuôi dưỡng ông như con của nàng. 22. Môi-se đã được học tất cả sự khôn ngoan của người Ai-cập; ông có năng lực trong những lời nói và trong những việc làm của mình.
  9. Sau đó, lúc ông được bốn mươi tuổi, ông đã nẩy sinh ý định đến thăm những anh em của mình là con dân Y-sơ-ra-ên. 24. Khi thấy một người bị đối xử bất công, ông đã bênh vực, trả thù vụ áp bức, rồi đánh gục người Ai-cập. 25. Ông nghĩ rằng các anh em của ông hiểu rằng Đức Chúa Trời đã ban sự giải cứu cho họ qua tay của ông, nhưng họ không hiểu. 26. Và rồi ngày hôm sau, ông đã đến với những người đang cãi lẫy với nhau, ông năn nỉ họ hãy giải hòa, và nói rằng: ‘Quý vị ơi! Quý vị là anh em, tại sao lại gây thương tổn cho nhau?’
  10. Tuy nhiên, kẻ đang ức hiếp người lân cận đã đẩy Môi-se ra, rồi nói: ‘Ai đã lập ông làm người cai trị và làm quan tòa của chúng tôi? 28. Không lẽ ông cũng muốn giết tôi như hôm qua ông đã giết người Ai-cập hay sao?’ 29. Vì lời tố cáo này, sau đó Môi-se đã chạy trốn, và rồi trở thành một người lưu vong tại xứ Ma-đi-an, là nơi ông sinh hai con trai.
  11. Và rồi bốn mươi năm đã trôi qua, một thiên sứ đã xuất hiện cùng ông, trong một ngọn lửa nơi bụi gai đang cháy tại hoang mạc núi Si-nai.
  12. Môi-se đã thấy, kinh ngạc trước cảnh tượng đó, ông đã đến gần, thì có tiếng của Chúa phán với ông: 32. ‘Ta là Đức Chúa Trời của các tổ phụ con; Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác và của Gia-cốp.’ Môi-se hãi hùng, và ông không dám nhìn.
  13. Sau đó Chúa phán cùng ông: ‘Hãy cởi dép khỏi chân con, bởi vì nơi con đang đứng là đất thánh. 34. Ta đã thấy sự khốn khổ của dân Ta tại Ai-cập, đã nghe tiếng kêu van của họ, cho nên đã xuống để giải cứu họ. Bây giờ hãy đến, Ta sẽ sai con đến Ai-cập.’
  14. Chính Môi-se nầy, là người mà họ đã khước từ, và đã nói: ‘Ai đã lập ông làm người cai trị và quan tòa?’, ông chính là người mà Đức Chúa Trời đã sai đến để làm lãnh đạo và là người giải cứu, bằng cánh tay của vị thiên sứ, là Đấng đã hiện ra với ông trong bụi gai. 36. Chính người đã dẫn họ ra, đã thực hiện những phép mầu và dấu lạ trong xứ Ai-cập, trong Biển Đỏ, và trong hoang mạc suốt bốn mươi năm. 37. Chính Môi-se nầy đã nói với con dân Y-sơ-ra-ên: ‘Đức Chúa Trời sẽ dấy lên cho anh em một tiên tri giống như tôi từ các anh em.’ 38. Đây cũng là người đã ở giữa hội chúng tại hoang mạc cùng với vị thiên sứ, là đấng đã phán với ông trên núi Si-nai, và với các tổ phụ của chúng ta; và ông cũng đã nhận những sứ điệp sống động để truyền lại cho chúng ta.
  15. Tuy nhiên các tổ phụ của chúng ta không vâng lời ông, đã cự tuyệt ông, tấm lòng của họ hướng về Ai-cập. 40. Họ đã nói với A-rôn: ‘Hãy làm cho chúng tôi những vị thần, để đi trước chúng tôi; bởi vì Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ai-cập, chúng tôi không biết điều gì đã xảy đến cho ông.’ 41. Trong những ngày đó, họ làm một bò con, dâng sinh tế cho hình tượng, rồi hoan lạc về những công việc của tay mình.
  16. Đức Chúa Trời đã ngoảnh mặt và phó mặc họ thờ lạy các thiên thể – như đã được chép trong sách của các tiên tri: ‘Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, có phải các ngươi đã dâng sinh tế và lễ vật cho Ta suốt bốn mươi năm trong hoang mạc phải không? 43. Các ngươi cũng khiêng kiệu của Mo-lóc, và ngôi sao của thần Rom-phan, tức là những hình tượng mà các ngươi làm ra để thờ phượng chúng. Vì vậy, Ta cũng sẽ đày các ngươi qua bên kia Ba-by-lôn.’
  17. Tổ phụ của chúng ta đã có Lều Chứng Ước trong hoang mạc, như Ngài đã phán cho Môi-se, đã hướng dẫn ông làm đúng theo kiểu mẫu mà ông đã thấy. 45. Họ đã tiếp nhận nó, và cùng với Giô-suê đem nó vào xứ mà họ đã chiếm lấy từ các dân tộc mà Đức Chúa Trời đã đuổi khỏi trước các tổ phụ của chúng ta, và nó đã tồn tại cho đến thời của Đa-vít, 46. là người được ơn trước mặt Đức Chúa Trời, đã cầu xin để tìm một nơi ngự cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp. 47. Sau đó, chính Sa-lô-môn đã xây một ngôi nhà cho Ngài.
  18. Tuy nhiên Đấng Chí Cao không ở trong các ngôi nhà bởi tay loài người làm ra, như đấng tiên tri đã nói: 49. ‘Chúa phán: Trời là ngai Ta, và đất là bệ của chân Ta. Loại nhà nào các ngươi sẽ xây dựng cho Ta, hay nơi nào là chỗ nghỉ ngơi của Ta? 50. Không phải tay của Ta đã dựng nên tất cả những vật nầy hay sao?’
  19. Quý vị là những người cứng cổ, lòng chưa được cắt bì, và tai luôn luôn chống lại Đức Thánh Linh. Quý vị đang làm những điều mà tổ phụ của quý vị đã làm. 52. Có một tiên tri nào mà tổ phụ quý vị không bách hại? Họ đã giết những người nói tiên tri về sự hiện đến của Đấng Công Chính, là Đấng mà bây giờ quý vị đã phản bội và giết đi. 53. Quý vị đã nhận lãnh luật pháp, được truyền bởi các thiên sứ, nhưng không vâng giữ”
  20. Khi họ nghe đến đây, họ đau như bị cắt trong lòng, họ nghiến răng với ông.
  21. Tuy nhiên Ê-tiên được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nhìn chăm lên trời, thấy vinh quang của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus đang đứng bên phải Đức Chúa Trời. 56. Rồi ông nói: “Kìa, tôi thấy các tầng trời mở ra, và Con Người đang đứng bên phải Đức Chúa Trời.”
  22. Nhưng họ đã gào thật lớn, bịt tai của họ lại, rồi cùng nhau xông vào ông. 58. Sau đó họ kéo ông ra ngoài thành để ném đá ông. Các nhân chứng lấy áo choàng của mình đặt nơi chân của một thanh niên tên là Sau-lơ.
  23. Khi họ ném đá Ê-tiên, ông đã cầu nguyện: “Đức Chúa Jesus! Xin tiếp nhận linh hồn của con.”
  24. Rồi ông quỵ xuống trên đầu gối của mình, kêu thật lớn: “Lạy Chúa! Xin đừng quy tội nầy cho họ!” Nói xong điều nầy, ông ngủ.

 

8

  1. Khi ấy Sau-lơ cũng hiện diện tại đó tán thành về việc giết người. Trong lúc đó, có một cơn bách hại lớn chống lại Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Ngoại trừ các sứ đồ, tất cả đã tan lạc trong các vùng Giu-đê và Sa-ma-ri.
  2. Những người tin kính đã chôn cất Ê-tiên và tổ chức thương tiếc ông thật long trọng. 3. Tuy nhiên Sau-lơ đã tàn hại Hội Thánh, xông vào từ nhà nầy đến nhà khác, bắt cả đàn ông lẫn đàn bà, rồi nhốt họ trong tù.
  3. Vì vậy, những người bị tan lạc đã đi nhiều nơi rao giảng Phúc Âm. 5. Phi-líp xuống thành Sa-ma-ri và giảng về Đấng Christ cho dân chúng. 6. Ðám đông đồng lòng chăm chú lắng nghe những điều Phi-líp nói; trong lúc họ nghe, họ đã thấy những phép lạ ông làm; 7. bởi vì có nhiều người bị uế linh – chúng đã kêu lớn tiếng rồi xuất ra khỏi họ – nhiều người bị bại và què đã được chữa lành. 8. Vì vậy, trong thành tràn ngập vui mừng.
  4. Lúc nầy trong thành đó có một người tên Si-môn, trước kia hành nghề ma thuật trong thành phố, ông tự cho mình là một người vĩ đại, và đã làm cho dân Sa-ma-ri kinh ngạc. 10. Tất cả – từ nhỏ cho đến lớn – đều lắng nghe ông, họ nói rằng: “Người nầy có quyền năng của Đức Chúa Trời, là Đấng Vĩ Đại.” 11. Họ đã nghe theo ông bởi vì đã từ lâu ông dùng ma thuật làm cho họ kinh ngạc. 12. Tuy nhiên, khi họ đã tin Phi-líp, là người công bố Phúc Âm về vương quốc của Đức Chúa Trời, và danh của Đức Chúa Jesus Christ, thì cả nam lẫn nữ đều nhận báp-têm. 13. Chính Si-môn cũng tin; sau khi nhận báp-têm, ông ở luôn với Phi-líp. Khi thấy những phép mầu và dấu lạ lớn được thực hiện, thì ông kinh ngạc.
  5. Lúc này các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem nghe rằng dân Sa-ma-ri đã tiếp nhận đạo của Đức Chúa Trời, các sứ đồ đã sai Phi-e-rơ và Giăng đến với họ. 15. Hai người xuống đó rồi cầu nguyện cho họ để họ có thể nhận Đức Thánh Linh. 16. Vì Ngài chưa giáng xuống trên một ai trong số họ, nhưng họ chỉ nhận được báp-têm trong danh Chúa, là Đức Chúa Jesus mà thôi. 17. Sau đó, hai sứ đồ đã đặt tay trên họ, thì họ nhận lãnh Đức Thánh Linh.
  6. Khi Si-môn thấy rằng Đức Thánh Linh được ban xuống qua việc hai sứ đồ đặt tay, ông dâng tiền cho hai sứ đồ, 19. rồi nói: “Xin cũng hãy cho tôi thẩm quyền nầy, để tôi đặt tay trên ai thì người đó được nhận Đức Thánh Linh.”
  7. Tuy nhiên Phi-e-rơ đã nói với ông: “Nguyện tiền bạc của ngươi cũng bị hư mất với ngươi, bởi vì ngươi tưởng có thể dùng tiền bạc mua được sự ban tặng của Đức Chúa Trời! 21. Ngươi không được dự phần hoặc có phần trong việc nầy đâu, bởi vì lòng của ngươi không ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời. 22. Vì vậy, hãy ăn năn việc gian ác nầy của ngươi, và hãy thiết tha cầu nguyện với Chúa, để nếu có thể thì ý tưởng trong lòng của ngươi sẽ được tha thứ. 23. Bởi vì ta thấy ngươi đang ở trong mật đắng và trong xiềng xích của tội ác.”
  8. Khi đó Si-môn đã trả lời và nói: “Xin các ông hãy cầu nguyện khẩn thiết với Chúa cho tôi, để không có điều nào mà các ông đã nói có thể xảy đến cho tôi.”
  9. Vì vậy, sau khi đã nhiệt thành làm chứng và giảng đạo Chúa, họ đã trở về Giê-ru-sa-lem, và sau đó đã truyền giảng Phúc Âm trong nhiều ngôi làng của người Sa-ma-ri.
  10. Lúc nầy, một thiên sứ của Chúa đã phán cùng Phi-líp rằng: “Hãy đứng dậy và đi về hướng nam, theo con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Ga-xa. Đây là một con đường vắng vẻ.”
  11. Ông đã đứng dậy và đi. Kìa, có một hoạn quan Ê-thi-ô-pi, là một triều thần của Can-đác, nữ hoàng của dân Ê-thi-ô-pi, là người quản lý cả kho tàng của bà, và ông đã đến Giê-ru-sa-lem để thờ phượng. 28. Khi ông trở về, ngồi trên xe ngựa của mình, ông đang đọc tiên tri Ê-sai.
  12. Đức Thánh Linh phán với Phi-líp: “Hãy đến gần và lên xe ngựa nầy.”
  13. Khi Phi-líp chạy đến, ông nghe người đó đang đọc tiên tri Ê-sai, thì nói: “Ông có hiểu điều ông đang đọc đó hay không?”
  14. Người trả lời: “Nếu không có ai hướng dẫn, làm sao tôi hiểu được?” Rồi ông mời Phi-líp lên, ngồi với mình.
  15. Phần Kinh Thánh mà ông đang đọc là thế nầy: “Người đã bị dắt như một con chiên đến nơi làm thịt, như một chiên con nín lặng trước mặt kẻ hớt lông, do đó Người không mở miệng. 33. Công lý của Người đã bị tước đoạt trong lúc Người bị sỉ nhục. Ai có thể nói đến dòng dõi của Người? Bởi vì sự sống của Người đã bị cất khỏi đất.”
  16. Viên hoạn quan đã nói với Phi-líp rằng: “Xin cho biết vị tiên tri đã nói điều nầy để chỉ về ai? Về chính mình hay về người nào khác?”
  17. Phi-líp mở miệng, bắt đầu từ khúc Kinh Thánh này, giảng về Đức Chúa Jesus cho ông.
  18. Khi họ đang đi, dọc đường họ đến nơi có nước, vị hoạn quan nói: “Kìa, có nước! Có điều gì ngăn trở tôi nhận báp-têm hay không?”
  19. [Phi-líp nói: Nếu ông tin với tất cả tấm lòng của mình, thì ông có thể. Ông đã trả lời rằng: Tôi tin rằng Jesus Christ là Con của Đức Chúa Trời.]
  20. Ông truyền cho xe dừng lại, rồi cả hai xuống nước – Phi-líp cũng như viên hoạn quan – rồi Phi-líp làm báp-têm cho ông.
  21. Khi họ lên khỏi nước, Đức Thánh Linh của Chúa đã đem Phi-líp đi; viên hoạn quan không thấy ông nữa, nhưng vui mừng tiếp tục hành trình của mình.
  22. Tuy nhiên, người ta thấy Phi-líp tại A-xốt; ông đã giảng Phúc Âm cho tất cả các thành mà ông đã đi qua, cho tới khi ông đến Sê-sa-rê.

 

9

  1. Tuy nhiên, Sau-lơ vẫn tiếp tục hăm dọa và giết hại các môn đồ của Chúa. Ông đã đến với vị thượng tế, 2. thỉnh cầu thượng tế những bức thư gởi đến các nhà hội tại Đa-mách, để ông có thể truy tìm những người nam và nữ thuộc về Đạo, trói họ, rồi giải về Giê-ru-sa-lem.
  2. Sau đó trong cuộc hành trình, khi Sau-lơ gần đến Đa-mách, thình lình có một ánh sáng từ trời chiếu lòa chung quanh ông. 4. Ông đã ngã xuống đất, rồi nghe có một tiếng phán với mình: “Sau-lơ! Sau-lơ! Sao ngươi bắt bớ Ta?”
  3. Sau đó ông nói: “Lạy Chúa! Ngài là ai?” Ngài phán: “Ta là Jesus, là người mà ngươi đang bách hại. 6. Nhưng hãy đứng dậy, vào trong thành, rồi ngươi sẽ được bảo cho điều gì ngươi phải làm.”
  4. Những người cùng đi với Sau-lơ đã đứng yên lặng sững sờ, bởi vì họ nghe tiếng nói nhưng không thấy ai.
  5. Sau đó, từ dưới đất Sau-lơ trỗi dậy, mắt của ông mặc dù mở ra nhưng không thấy được gì. Người ta cầm tay của ông, dắt vào Đa-mách. 9. Trong ba ngày, ông không thấy, không ăn và cũng không uống gì cả.
  6. Lúc đó, tại Đa-mách có một môn đồ, tên là A-na-nia. Chúa phán với ông trong một khải tượng: “A-na-nia!” Ông nói: “Lạy Chúa! Có con đây.”
  7. Chúa phán với ông: “Hãy trỗi dậy, đi đến một con đường, được gọi là Ngay Thẳng, hãy tìm Sau-lơ ở Tạt-sơ đang ở trong nhà của Giu-đa. Kìa, người đang cầu nguyện, 12. trong khải tượng đã thấy một người tên là A-na-nia đến, đặt tay trên người, để người có thể thấy trở lại.”
  8. Nhưng A-na-nia đã trả lời: “Lạy Chúa! Con có nghe từ rất nhiều người về người nầy cùng biết bao điều gian ác mà người đã làm cho các thánh đồ của Ngài tại Giê-ru-sa-lem; 14. và người có đang quyền của các trưởng tế để trói tất cả mọi người cầu khẩn danh Ngài tại đây.”
  9. Tuy nhiên Chúa đã nói với ông: “Hãy đi! Bởi vì Ta đã chọn người nầy làm một công cụ cho Ta, để mang danh Ta đến cho các dân tộc ngoại quốc, cùng các vua và con dân Y-sơ-ra-ên; 16. bởi vì Ta sẽ tỏ cho người biết phải chịu khổ vì danh Ta là nhiều như thế nào.”
  10. A-na-nia đã đi; ông vào nhà rồi đặt tay của ông trên Sau-lơ, rồi nói: “Anh Sau-lơ! Chúa, là Đức Chúa Jesus, là Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh đi đến đây, đã sai tôi đến để cho anh được thấy trở lại, và được đầy dẫy Đức Thánh Linh.”
  11. Ngay lập tức có những vật gì giống như những cái vảy từ mắt của Sau-lơ rơi xuống, và rồi ông thấy trở lại. Sau-lơ đã đứng dậy, chịu báp-têm, 19. rồi nhận thức ăn, và ông được phục hồi sức lực.
  12. Sau-lơ ở lại một vài ngày với các môn đồ tại Đa-mách. Ngay lập tức ông đã công bố về Đức Chúa Jesus trong các nhà hội rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời. 21. Tất cả những người nghe đều kinh ngạc, họ nói: “Đây không phải là người đã từng giết hại những người cầu khẩn danh nầy tại Giê-ru-sa-lem, và cũng vì danh nầy mà ông đã đến đây để trói họ, giải về cho các trưởng tế hay sao?” 22. Tuy nhiên Sau-lơ càng thêm mạnh mẽ, biện bác với những người Do Thái đang sống tại Đa-mách, và minh chứng rằng Đức Chúa Jesus nầy chính là Đấng Christ.
  13. Sau nhiều ngày, những người Do Thái đã lập mưu để giết Sau-lơ. 24. Nhưng Sau-lơ biết được âm mưu của họ. Lúc đó họ canh các cổng cả ngày lẫn đêm để giết ông. 25. Tuy nhiên, trong ban đêm các môn đồ đã lấy thúng dòng ông xuống bên ngoài vách thành.
  14. Khi đến Giê-ru-sa-lem, Sau-lơ cố gắng hiệp với các môn đồ; tất cả đều sợ ông, không tin ông là một môn đồ. 27. Tuy nhiên Ba-na-ba đã dẫn ông, đem ông đến với các sứ đồ, thuật cho họ việc ông đã thấy Chúa trên đường, Ngài đã phán với ông như thế nào, và ông đã mạnh dạn nói về danh của Đức Chúa Jesus tại Đa-mách ra sao.
  15. Và rồi Sau-lơ đã ở với họ, tới lui tại Giê-ru-sa-lem, 29. và giảng một cách dạn dĩ trong danh Chúa. Ông cũng nói chuyện và tranh luận với những người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp, nhưng họ tìm cách giết ông. 30. Tuy nhiên khi biết như vậy, các anh em đã đem ông đến Sê-sa-rê, rồi đưa ông đi Tạt-sơ.
  16. Vì vậy Hội Thánh trong cả Giu-đê, Ga-li-lê và Sa-ma-ri được bình an, được gây dựng, được bước đi trong sự kính sợ Chúa; được nâng đỡ bởi Đức Thánh Linh, và được gia tăng.
  17. Sau đó, Phi-e-rơ đã đi khắp nơi và cũng xuống với các thánh đồ đang cư ngụ tại Ly-đa. 33. Tại đó, ông gặp một người tên là Ê-nê, là người bị bại liệt, đã nằm trên giường tám năm. 34. Phi-e-rơ nói với ông: “Ê-nê! Đức Chúa Jesus Christ chữa lành cho anh. Hãy đứng dậy, dọn dẹp giường của chính mình.” Lập tức, anh ta đứng dậy. 35. Tất cả cư dân ở Ly-đa và Sa-rôn, đã thấy anh ta, đều trở về cùng Chúa.
  18. Lúc đó tại Giốp-bê, có một môn đồ tên là Ta-bi-tha, được dịch là Đô-ca. Bà làm đủ thứ việc thiện và thường xuyên bố thí. 37. Tuy nhiên, trong thời gian đó bà bị bệnh rồi chết. Người ta tắm rửa, rồi đặt bà trong một phòng cao. 38. Các môn đồ nghe tin Phi-e-rơ đang ở tại Ly-đa, gần Giốp-bê, nên đã sai hai người đến khẩn nài ông: “Xin đừng chậm trễ đến với chúng tôi.”
  19. Sau đó Phi-e-rơ đã đứng dậy, đi với họ. Khi đến nơi, họ dẫn ông vào phòng cao. Tất cả các góa phụ đứng bên cạnh ông, họ khóc và cho ông xem bao nhiêu khăn choàng và trang phục mà Đô-ca đã làm lúc bà còn sống với họ. 40. Phi-e-rơ đưa tất cả ra ngoài, rồi quỳ gối cầu nguyện. Sau đó, ông quay sang thi thể và nói: “Ta-bi-tha! Hãy trỗi dậy!” Bà mở mắt của mình, nhìn thấy Phi-e-rơ, rồi bà ngồi dậy. 41. Ông trao tay của ông cho bà, rồi nâng bà dậy. Sau đó, ông gọi các thánh đồ và các góa phụ, rồi tỏ cho họ là bà đang sống. 42. Thời gian trôi qua, việc này loan truyền khắp Giốp-bê, và có nhiều người tin theo Chúa.
  20. Sau đó Phi-e-rơ đã ở lại Giốp-bê nhiều ngày với một người thợ thuộc da, tên là Si-môn.

 

10

  1. Có một người tại Sê-sa-rê, tên là Cọt-nây, là một sĩ quan của một trung đoàn có tên là Y-ta-ly. 2. Ông vốn là một người đạo đức, cùng với cả gia đình kính sợ Đức Chúa Trời; tất cả thường xuyên cầu nguyện với Đức Chúa Trời và bố thí rất nhiều cho dân chúng.
  2. Vào khoảng giờ thứ chín trong ngày, ông thấy rõ trong một khải tượng, một thiên sứ của Đức Chúa Trời đã đến với ông, rồi nói với ông: “Cọt-nây!” 4. Ông sợ hãi, nhìn chăm vào thiên sứ, rồi nói: “Lạy Chúa! Có việc gì?” Người nói với ông: “Những lời cầu nguyện cùng các sự bố thí của ngươi đã thấu lên Đức Chúa Trời và được Ngài ghi nhớ. 5. Bây giờ hãy sai những người đến Giốp-bê để mời Si-môn, một người được gọi là Phi-e-rơ. 6. Ông ấy đang ở với Si-môn, một thợ thuộc da, nhà ở gần biển.”
  3. Sau đó, khi thiên sứ nói với ông đã đi rồi, Cọt-nây gọi hai người phục vụ và một người lính tin kính trong số những người dưới quyền của ông, 8. thuật lại mọi điều cho họ, rồi sai họ đến Giốp-bê.
  4. Ngày hôm sau, vào khoảng giờ thứ sáu, trong khi những người nầy đang đi đường đến gần thành phố, Phi-e-rơ đã lên mái nhà để cầu nguyện. 10. Sau đó, ông đói và thèm ăn, tuy nhiên trong khi người ta đang chuẩn bị, một cơn xuất thần đã giáng xuống trên ông. 11. Ông thấy trời mở ra, và có vật gì giống như một tấm khăn lớn, bốn góc của nó sa xuống đất, 12. trong đó có đủ các loài vật bốn chân, loài bò sát trên đất, và chim trời. 13. Và rồi có tiếng nói với ông: “Phi-e-rơ! Hãy trỗi dậy, giết chúng, và ăn.” 14. Phi-e-rơ nói: “Lạy Chúa! Không được, bởi vì con không bao giờ ăn vật gì ô uế hay không tinh sạch.” 15. Tiếng đó lại nói với ông lần thứ hai rằng: “Vật gì Đức Chúa Trời đã làm cho tinh sạch thì đừng xem là ô uế.” 16. Điều nầy đã xảy ra ba lần; rồi lập tức, vật đó được cất lên trời.
  5. Trong khi Phi-e-rơ còn đang phân vân về khải tượng mà ông đã thấy có ý nghĩa gì; thì kìa, những người mà Cọt-nây sai đi, đã hỏi thăm được nhà của Si-môn, và đang đứng trước cửa. 18. Họ đã gọi để hỏi có phải Si-môn, được gọi là Phi-e-rơ, đang ở đây hay không.
  6. Phi-e-rơ đang suy nghĩ về khải tượng, thì Thánh Linh phán với ông: “Kìa, có ba người đang tìm con. 20. Vì vậy, hãy đứng dậy, rồi xuống, và đi với họ. Đừng nghi ngờ gì cả, bởi vì Ta đã sai họ.”
  7. Sau đó Phi-e-rơ đã đi xuống với những người đó, rồi nói: “Kìa, tôi chính là người mà các ông đang tìm. Điều gì đã khiến các ông đến đây?”
  8. Họ nói: “Cọt-nây, một vị đội trưởng, là người công chính và kính sợ Đức Chúa Trời, được cả dân Do Thái làm chứng tốt, đã được hướng dẫn thiên thượng bởi một vị thiên sứ thánh, để sai mời ông đến nhà của người, để nghe sứ điệp từ nơi ông.”
  9. Vì vậy Phi-e-rơ đã mời họ vào nhà, và cho trọ lại đó. Ngày hôm sau, ông đứng dậy, rồi đi với họ; vài anh em tại Giốp-bê đã đi với ông.
  10. Và rồi ngày hôm sau, Phi-e-rơ đã đến Sê-sa-rê. Cọt-nây, cùng với những bà con và các bạn thân của ông, đang chờ đợi họ. 25. Khi Phi-e-rơ bước vào, Cọt-nây gặp ông, quỳ dưới chân của ông mà lạy. 26. Nhưng Phi-e-rơ đã nâng ông dậy, và nói: “Hãy đứng dậy! Tôi cũng chỉ là người mà thôi.”
  11. Sau khi nói chuyện với Cọt-nây, Phi-e-rơ bước vào trong nhà, thấy nhiều người đang tụ họp. 28. Sau đó, ông nói với họ: “Các ông biết rằng người Do Thái kết hiệp hay đến gần một người ngoại quốc là phạm pháp; tuy nhiên Đức Chúa Trời đã tỏ cho tôi không nên gọi một người nào là ô uế hay không tinh sạch. 29. Do đó, khi được mời, thì tôi đến, không một chút ngần ngại. Vì vậy tôi xin hỏi: Vì lý do gì mà các ông đã mời tôi.”
  12. Cọt-nây nói: “Cách đây bốn ngày, vào khoảng giờ nầy – tức là giờ thứ chín – tôi đang cầu nguyện trong nhà của mình; thình lình có một người mặc trang phục sáng lòa đứng trước mặt của tôi, 31. rồi nói: ‘Cọt-nây! Lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe, và những bố thí ngươi đã được ghi nhớ trước mặt Đức Chúa Trời. 32. Vì vậy, hãy sai người đến Giốp-bê để mời Si-môn, gọi là Phi-e-rơ. Người đang ở trong nhà của Si-môn, một thợ thuộc da, gần biển.’ 33. Vì vậy ngay lập tức, tôi đã sai mời ông, và ông đã làm điều tốt, và đã đến. Vì vậy bây giờ tất cả chúng tôi đang hiện diện trước mặt Đức Chúa Trời để nghe tất cả những điều mà Chúa đã truyền cho ông.”
  13. Sau đó Phi-e-rơ mở miệng ra và nói: “Thật vậy! Tôi nhận biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng không hề thiên vị, 35. nhưng trong mọi dân tộc, ai kính sợ Ngài và làm điều công chính, thì được Ngài chấp nhận. 36. Ngài đã gởi sứ điệp đến cho các con cái của Y-sơ-ra-ên, công bố Phúc Âm bình an qua Đức Chúa Jesus Christ, là Chúa của tất cả. 37. Chính các ông biết rằng sau khi Giăng đã rao giảng về báp-têm, sự công bố đã bắt đầu từ Ga-li-lê rồi loan ra cả Giu-đê; 38. và thế nào Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Đức Chúa Jesus, người Na-xa-rét, bằng Đức Thánh Linh và quyền năng. Ngài đã đi khắp nơi làm những việc nhân đức và chữa lành tất cả những người bị ma quỷ áp chế, bởi vì Đức Chúa Trời đã ở cùng Ngài. 39. Chúng tôi là những nhân chứng về mọi điều Ngài đã làm trong cả khu vực của người Do Thái và tại Giê-ru-sa-lem, là Đấng mà họ đã đưa vào chỗ chết và treo Ngài trên cây. 40. Ngài là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm sống lại vào ngày thứ ba, và cho Ngài hiện ra cách tỏ tường, 41. không phải cho cả dân chúng, mà cho những nhân chứng mà Đức Chúa Trời đã chọn từ trước; cho chúng tôi, tức là những người đã ăn và uống với Ngài sau khi Ngài sống lại từ cõi chết. 42. Ngài đã truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân chúng, và minh chứng rằng Ngài là Đấng mà Đức Chúa Trời đã lập lên để phán xét người sống và người chết. 43. Tất cả các tiên tri đã làm chứng về Ngài rằng ai tin Ngài thì nhận được sự tha tội nhờ danh của Ngài.”
  14. Khi Phi-e-rơ còn đang nói những lời nầy, Đức Thánh Linh đã giáng trên mọi người nghe đạo. 45. Các tín hữu đã chịu cắt bì – rất nhiều người đã đi với Phi-e-rơ – đều kinh ngạc, bởi vì ân tứ của Đức Thánh Linh cũng tuôn đổ trên những người ngoại quốc. 46. Họ nghe những người đó nói nhiều ngôn ngữ và tôn ngợi Đức Chúa Trời.
  15. Sau đó, Phi-e-rơ đã nói: “Không ai có thể khước từ báp-têm bằng nước cho những người đã nhận Đức Thánh Linh như chúng ta?” 48. Lúc đó ông đã truyền làm báp-têm cho họ nhân danh của Đức Chúa Jesus Christ. Sau đó họ mời ông ở lại thêm vài ngày.

 

11

  1. Lúc nầy, các sứ đồ và những anh em đang ở tại Giu-đê nghe rằng những người ngoại quốc cũng đã tiếp nhận đạo của Đức Chúa Trời. 2. Cho nên khi Phi-e-rơ lên Giê-ru-sa-lem, các tín hữu chịu cắt bì đã chỉ trích ông và nói rằng: 3. “Ông đã đến với những người không chịu cắt bì và ăn chung với họ!”
  2. Tuy nhiên Phi-e-rơ đã bắt đầu giải thích cho họ theo trình tự, rằng: 5. “Khi tôi đang cầu nguyện tại thành phố Giốp-bê, trong lúc xuất thần tôi thấy một khải tượng: Có một vật gì, giống như một chiếc khăn lớn đang hạ xuống, bốn góc từ trời đã hạ xuống tận nơi tôi. 6. Tôi nhìn chăm chú vào đó, quan sát, và thấy có những loài vật bốn chân, những thú rừng, những loài bò sát, và những chim trời. 7. Tôi nghe có một tiếng phán rằng: ‘Phi-e-rơ! Hãy trỗi dậy, giết chúng và ăn.’ 8. Nhưng tôi đã nói: ‘Lạy Chúa! Không thể được, bởi vì những vật ô uế hay không tinh sạch không bao giờ vào miệng của con.’ 9. Tuy nhiên tiếng từ trời đã phán với tôi lần thứ hai: ‘Vật gì Đức Chúa Trời đã làm cho tinh sạch thì ngươi không được gọi là ô uế.’ 10. Điều này lặp lại ba lần, và rồi tất cả được rút lên trời.
  3. Ngay lúc đó, có ba người đã đứng ngay căn nhà, nơi tôi đang ở, họ được sai từ Sê-sa-rê đến để mời tôi. 12. Lúc đó Thánh Linh bảo tôi phải đi với họ, đừng phân biệt gì cả. Sáu anh em đây cũng đã đồng đi với tôi, và chúng tôi bước vào nhà của người. 13. Người đó thuật lại cho chúng tôi thể nào ông ta đã thấy một thiên sứ đứng trong nhà của ông và đã truyền rằng: ‘Hãy sai người đến Giốp-bê mời Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ. 14. Người sẽ nói những sứ điệp cho ngươi để nhờ đó ngươi và cả nhà ngươi sẽ được cứu.’
  4. Sau đó, khi tôi bắt đầu nói, thì Đức Thánh Linh giáng trên họ cũng như lúc ban đầu Ngài đã giáng trên chúng ta. 16. Và rồi tôi nhớ lại lời Chúa đã phán: ‘Thật vậy Giăng đã làm báp-têm bằng nước, nhưng các con sẽ được báp-têm bằng Đức Thánh Linh.’ 17. Nếu Đức Chúa Trời đã ban cho họ cùng một quà tặng như Ngài đã ban cho chúng ta khi chúng ta tin Chúa, là Đức Chúa Jesus Christ, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Đức Chúa Trời?”
  5. Sau khi đã nghe những điều này, họ yên lặng, rồi tôn vinh Đức Chúa Trời rằng: “Thật vậy, Đức Chúa Trời cũng đã ban sự ăn năn cho những người ngoại quốc để họ được sống!”
  6. Do vụ bách hại xảy ra về việc Ê-tiên, những người bị tản lạc đã đến Phê-ni-xi, Chíp-rơ, và An-ti-ốt; tuy nhiên họ không giảng đạo cho ai, ngoại trừ cho những người Do Thái. 20. Tuy nhiên có một vài người trong số họ, là những người ở Chíp-rơ và Sy-ren, đã đến An-ti-ốt, cũng đàm đạo với những người Hy Lạp và giảng về Đức Chúa Jesus cho họ. 21. Tay Chúa ở với họ, rất nhiều người đã tin và trở lại cùng Chúa.
  7. Tin tức về chuyện nầy đến tai của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, họ đã cử Ba-na-ba đến An-ti-ốt. 23. Ông đã đến và thấy được ân điển của Đức Chúa Trời thì vui mừng, và thúc giục mọi người cứ vững lòng theo Chúa. 24. Bởi vì ông là người tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh và đức tin. Một đoàn người rất đông đã được thêm vào với Chúa. 25. Và rồi ông đã đến Tạt-sơ để tìm Sau-lơ; 26. khi tìm được, ông đưa về An-ti-ốt. Sau đó, trong cả một năm họ nhóm họp với Hội Thánh và dạy cho cả một đám đông. Sau đó tại An-ti-ốt, lần đầu tiên các môn đồ đã được gọi là Cơ Đốc nhân.
  8. Trong những ngày đó, các tiên tri từ Giê-ru-sa-lem đã xuống An-ti-ốt. 28. Một người trong số họ tên A-ga-bút đã đứng lên bởi Thánh Linh báo trước rằng sẽ có một nạn đói lớn xảy ra khắp nơi; điều nầy đã xảy ra dưới triều Cơ-lốt. 29. Các môn đồ quyết định mỗi người tùy khả năng, gửi cứu trợ cho các anh em đang sống tại Giu-đê. 30. Họ đã làm điều nầy, gửi cứu trợ đến các trưởng lão, qua tay của Ba-na-ba và Sau-lơ.

 

12

  1. Lúc đó, vua Hê-rốt đang ra tay bách hại một số người trong Hội Thánh. 2. Ông đã dùng gươm giết Gia-cơ là anh của Giăng. 3. Khi thấy điều đó vừa lòng những người Do Thái, vua cũng tiến hành bắt Phi-e-rơ. Những việc này đã diễn ra vào dịp lễ Bánh Không Men. 4. Vua đã bắt Phi-e-rơ, bỏ vào ngục, giao cho bốn toán lính, mỗi toán bốn người, thay phiên canh giữ ông, và dự định sau lễ Vượt Qua sẽ đem ra xử trước dân chúng.
  2. Do đó Phi-e-rơ đã bị giam vào trong ngục; tuy nhiên Hội Thánh cứ cầu nguyện khẩn thiết với Đức Chúa Trời cho ông. 6. Sau đó, ngay trong đêm trước khi Hê-rốt đưa ông ra xử, Phi-e-rơ đang ngủ giữa hai người lính, bị xích bằng hai cái xiềng, cũng có những lính canh đang canh gác trước cửa ngục. 7. Thình lình, một thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh, ánh sáng chiếu lòa nơi giam giữ. Thiên sứ vỗ vào sườn của Phi-e-rơ để đánh thức ông, rồi nói: “Hãy mau mau trỗi dậy.” Những cái xiềng đã rớt ra khỏi tay của ông. 8. Sau đó thiên sứ nói với ông: “Hãy nai nịt và mang dép của ngươi.” Ông đã làm như vậy. Và rồi thiên sứ nói với ông: “Hãy mặc áo khoác của ngươi vào rồi theo ta.” 9. Phi-e-rơ đã đi theo mà không biết rằng việc thiên sứ đang làm đó là thật, nhưng ông cứ tưởng là ông thấy trong một khải tượng. 10. Sau đó, họ đã đi qua khỏi người lính canh thứ nhất, và người lính canh thứ nhì, rồi họ đến một cổng sắt dẫn vào thành phố, cổng đó đã tự động mở ra cho họ. Họ đã đi ra ngoài, tiếp tục đi qua một con đường; và lập tức thiên sứ lìa khỏi ông.
  3. Phi-e-rơ hồi tỉnh và nói: “Bây giờ ta thật sự biết rằng Chúa đã sai thiên sứ của Ngài giải cứu ta thoát khỏi tay của Hê-rốt và khỏi mọi điều dân Do Thái đang mong đợi.”
  4. Khi nhận thức được điều đó, ông đã đến nhà của Ma-ri, mẹ của Giăng, là người được gọi là Mác; tại đây có nhiều người đang nhóm lại và cầu nguyện. 13. Ông đã gõ vào cửa cổng, một đầy tớ gái, tên là Rô-đơ, đã đi ra để đáp lại. 14. Nhận ra tiếng của Phi-e-rơ, vì quá vui, cô đã không mở cổng, nhưng đã chạy vào để báo rằng Phi-e-rơ đang đứng trước cổng. 15. Họ đã nói với cô: “Mầy mất trí rồi!” Nhưng cô cứ quả quyết đúng là như vậy. Rồi họ nói: “Đó là thiên sứ của ông.”
  5. Tuy nhiên Phi-e-rơ cứ tiếp tục gõ; khi mở cổng, họ thấy Phi-e-rơ thì kinh ngạc. 17. Sau đó, ông dùng tay ra dấu bảo họ im lặng, rồi ông thuật lại cho họ cách nào Chúa đã cứu ông ra khỏi ngục. Sau đó, ông nói: “Hãy báo cho Gia-cơ và các anh em về những việc nầy.” Rồi ông đi ra và đến một nơi khác.
  6. Đến sáng, có sự rối loạn lớn giữa vòng những người lính, bởi vì họ không biết việc gì đã xảy ra cho Phi-e-rơ. 19. Sau đó Hê-rốt đã cho truy lùng ông, nhưng không tìm thấy. Vua tra hỏi những người lính, rồi ra lệnh dẫn họ đi giết. Sau đó, vua đã từ Giu-đê xuống Sê-sa-rê rồi lưu lại tại đó.
  7. Lúc nầy Hê-rốt rất tức giận dân Ty-rơ và Si-đôn; vì vậy, họ đồng lòng đến chầu vua. Sau khi thuyết phục được Ba-la-tút, là người trông coi nội cung của vua, họ đã đến cầu hòa, bởi vì xứ của họ lệ thuộc vào lương thực của xứ vua.
  8. Đến ngày đã định, Hê-rốt mặc hoàng bào, ngồi trên ngai, phán cùng họ. 22. Dân chúng kêu lớn: “Đây là tiếng của một vị thần, không phải tiếng của loài người!” 23. Ngay lập tức, một thiên sứ của Chúa đã đánh vua bởi vì vua đã không quy vinh quang cho Đức Chúa Trời. Vua bị trùng đục chết.
  9. Tuy nhiên đạo của Đức Chúa Trời tiếp tục gia tăng và phát triển. 25. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ tại Giê-ru-sa-lem, Ba-na-ba và Sau-lơ đã quay trở lại, họ dẫn theo Giăng, người được gọi là Mác.

 

13

  1. Lúc nầy tại Hội Thánh An-ti-ốt có các tiên tri và các giáo sư là Ba-na-ba, Si-mê-ôn gọi là Ni-giê, Lu-si-út người Sy-ren, Ma-na-hem là người cùng được trưởng dưỡng với vua Hê-rốt, và Sau-lơ. 2. Đang khi họ thờ phượng Chúa và kiêng ăn, thì Đức Thánh Linh phán: “Hãy biệt riêng Ba-na-ba và Sau-lơ cho Ta để thực hiện công tác mà Ta đã kêu gọi họ.” 3. Sau đó họ đã kiêng ăn và cầu nguyện, và đặt tay trên hai người, rồi sai đi.
  2. Vì được Đức Thánh Linh sai đi, cho nên họ đã xuống Sê-lơ-xi, rồi từ đó đáp tàu đến Chíp-rơ. 5. Đến Sa-la-min, họ công bố đạo của Đức Chúa Trời trong các hội đường của người Do Thái – cũng có Giăng là người phụ giúp họ.
  3. Khi đó họ đã đi xuyên qua cả đảo, đến tận Pa-phô; tại đây họ gặp một thuật sĩ, là một tiên tri giả người Do Thái, có tên là Ba-giê-xu; 7. người nầy đang ở với Tổng đốc Sê-giút Phao-lút, ông là một người khôn ngoan. Tổng đốc đã mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến, bởi vì ông muốn nghe đạo của Đức Chúa Trời. 8. Tuy nhiên thuật sĩ Ê-ly-ma – đó là ý nghĩa tên của hắn – đã chống họ, và tìm mọi cách làm cho tổng đốc lạc hướng để đừng tin.
  4. Sau đó, Sau-lơ, cũng gọi là Phao-lô, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nhìn thẳng vào hắn, 10. rồi nói: “Ngươi là kẻ đầy dẫy gian dối và xảo trá, ngươi là con của ma quỷ, là kẻ thù của mọi điều công chính. Ngươi có chấm dứt việc bẻ cong đường lối ngay thẳng của Chúa hay không? 11. Ngay bây giờ, hãy nhìn xem tay của Chúa sẽ giáng trên ngươi: Ngươi sẽ bị mù, không thấy mặt trời trong một thời gian.” Ngay lập tức, sự mù lòa, tăm tối đã giáng trên Ê-ly-ma; hắn tìm người nắm tay để dẫn đi.
  5. Sau khi chứng kiến việc đã xảy ra, viên tổng đốc đã tin, vì ông kinh ngạc về sự giáo huấn của Chúa.
  6. Sau đó Phao-lô và những người cùng đi đã từ Pa-phô đáp tàu đến Pẹt-giê, thuộc Pam-phi-ly. Tuy nhiên Giăng đã lìa khỏi họ, trở về Giê-ru-sa-lem.
  7. Lúc nầy, họ đã từ Pẹt-giê đi đến An-ti-ốt thuộc Pi-si-đi. Đến ngày sa-bát, họ vào trong hội đường, rồi ngồi xuống. 15. Sau khi đã đọc luật pháp và các tiên tri, những lãnh đạo của hội đường đã cử người nói với họ: “Thưa anh em! Nếu anh em có lời nào khích lệ dân chúng, xin hãy nói.”
  8. Phao-lô đứng dậy, lấy tay ra hiệu, rồi nói: “Thưa quý vị – là những người Y-sơ-ra-ên – tức là những người kính sợ Đức Chúa Trời! Xin hãy lắng nghe: 17. Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên nầy đã chọn tổ phụ của chúng ta, đã làm cho dân chúng gia tăng trong lúc kiều ngụ tại Ai Cập; và Ngài đã nâng cánh tay lên để dẫn họ ra khỏi nơi đó. 18. Và rồi trong khoảng bốn mươi năm, Ngài đã chịu đựng họ trong hoang mạc. 19. Ngài đã tiêu diệt bảy dân tộc tại Ca-na-an, rồi ban cho họ quyền thừa kế đất của những dân đó, 20. trong khoảng bốn trăm năm mươi năm. Sau những điều nầy, Ngài ban cho họ các thẩm phán mãi cho đến đời của Tiên tri Sa-mu-ên.
  9. Sau đó họ cầu xin một vua, Đức Chúa Trời đã ban Sau-lơ, con trai của Kích, thuộc bộ tộc Bên-gia-min, cho họ bốn mươi năm. 22. Rồi Ngài cất bỏ ông, Ngài đã nâng Đa-vít lên để làm vua của họ; ông cũng chính là người mà Ngài đã xác nhận rằng: ‘Ta tìm thấy Đa-vít, con trai của Gie-sê, một người vừa lòng Ta, là người sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta.’ 23. Từ dòng dõi của người nầy, theo lời hứa, Đức Chúa Trời đã ban một Đấng Giải Cứu cho Y-sơ-ra-ên, tức là Đức Chúa Jesus. 24. Trước khi Ngài xuất hiện, Giăng đã công bố báp-têm về sự ăn năn cho toàn dân Y-sơ-ra-ên. 25. Sau đó, khi Giăng sắp hoàn tất công tác của mình, ông nói: ‘Quý vị tưởng tôi là ai? Tôi không phải là Đấng đó, nhưng kìa, Ngài đến sau tôi, Ngài là Đấng mà tôi không xứng đáng cởi dép cho Ngài.’
  10. Thưa quý vị, thưa các anh em, là con cháu trong gia đình của Áp-ra-ham, cùng với những người ở giữa anh em là những người kính sợ Đức Chúa Trời: Sứ điệp cứu rỗi nầy đã được gửi đến cho chúng ta. 27. Bởi vì những người đang sống tại Giê-ru-sa-lem và các lãnh đạo của họ đã không nhận biết Ngài, cũng không hiểu những lời của các tiên tri đã được đọc vào mỗi ngày sa-bát, họ đã kết án Ngài, và đã làm cho những lời tiên tri ấy được ứng nghiệm. 28. Mặc dù họ không tìm thấy một lý do nào để kết án tử hình, họ vẫn yêu cầu Phi-lát giết Ngài. 29. Khi họ đã làm ứng nghiệm tất cả những điều đã được chép về Ngài rồi, thì người ta đem Ngài xuống khỏi cây gỗ, rồi đặt Ngài trong mộ.
  11. Tuy nhiên Đức Chúa Trời đã làm cho Ngài sống lại từ cõi chết. 31. Trong nhiều ngày, Ngài đã hiện ra cho những người đã theo Ngài từ Ga-li-lê đến Giê-ru-sa-lem; họ là những nhân chứng của Ngài cho dân chúng. 32. Còn chúng tôi thì rao truyền cho anh em Phúc Âm về lời hứa đã được thiết lập với các tổ phụ của chúng ta, 33. mà Đức Chúa Trời đã làm ứng nghiệm lời hứa đó cho con cháu của họ, tức là cho chúng ta, bằng cách Ngài đã khiến Đức Chúa Jesus sống lại, như đã được chép trong Thi Thiên thứ hai: ‘Con là Con của Ta! Ngày nay Ta đã sinh Con.’ 34. Ngài đã khiến Đức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết, mà không trở về với sự hư nát, giống như lời của Ngài đã phán: ‘Ta sẽ ban cho các con một Đấng Thánh từ Đa-vít, chắc chắn là như vậy.’ 35. Vì vậy, trong một chỗ khác Ngài cũng nói: ‘Chúa không để cho Đấng Thánh, của Ngài thấy sự hư nát.’ 36. Thật vậy, Đa-vít sau khi phục vụ cho mục đích của Đức Chúa Trời trong thế hệ của mình, đã an giấc, đã được gia nhập với các tổ phụ của mình, và đã thấy sự hư nát; 37. tuy nhiên Đấng mà Đức Chúa Trời đã khiến sống lại thì không thấy sự hư nát.
  12. Do đó thưa các anh em! Anh em hãy nhận biết rằng nhờ Đấng nầy mà sự tha tội được công bố cho anh em; 39. nhờ Ngài, tất cả những người tin đều được xưng là công chính về mọi điều mà luật pháp Môi-se không thể xưng công chính được. 40. Cho nên hãy lưu ý, đừng để mắc phải điều các tiên tri đã nói: 41. ‘Nầy những kẻ ngạo mạn! Cứ kinh ngạc và rồi hư mất! Bởi vì trong thời của các ngươi, Ta sẽ làm một việc, cho dù có ai thuật lại, các ngươi cũng không tin!’”
  13. Sau đó, khi hai vị ra đi, người ta thỉnh cầu họ tiếp tục nói những lời nầy cho dân chúng vào ngày sa-bát sắp đến. 43. Khi buổi nhóm tại hội đường đã tan, nhiều người Do Thái và những người ngoại quốc theo Do Thái giáo đã đi theo Phao-lô và Ba-na-ba. Hai ông đã nói chuyện và khích lệ họ cứ đứng vững trong ân điển của Đức Chúa Trời.
  14. Ngày sa-bát sau đó, gần như cả thành phố đã họp lại để nghe lời của Chúa. 45. Tuy nhiên những người Do Thái, khi thấy đám đông, thì đầy ganh tị, họ bắt đầu đả kích những điều Phao-lô nói và rồi phỉ báng. 46. Phao-lô và Ba-na-ba cũng mạnh dạn nói với họ: “Đạo của Đức Chúa Trời trước hết cần được truyền cho quý vị; nhưng kể từ khi quý vị khước từ, và tự xét mình không xứng đáng nhận sự sống đời đời, hãy nhìn xem, chúng tôi quay sang với những người ngoại quốc. 47. Bởi vì Chúa có truyền cho chúng tôi: ‘Ta đã lập các ngươi làm ánh sáng cho những người ngoại quốc, để đem sự cứu rỗi đến tận cùng trái đất.’ ”
  15. Khi những người ngoại quốc nghe lời nầy, họ vui mừng, tôn vinh đạo của Chúa; rất nhiều người được định cho sự sống đời đời, đã tin. 49. Sau đó, đạo của Chúa đã được loan truyền cho cả vùng đó.
  16. Nhưng những người Do Thái đã kích động những phụ nữ sùng đạo thuộc giới thượng lưu và những người lãnh đạo trong thành phố, xúi giục họ bách hại Phao-lô và Ba-na-ba, rồi đuổi ra khỏi khu vực của họ. 51. Hai ông đã phủi bụi nơi chân của mình để phản đối họ, rồi đi đến I-cô-ni.
  17. Các môn đồ được tràn đầy niềm vui và Đức Thánh Linh.

 

14

  1. Sau đó tại I-cô-ni, họ đã vào hội đường của những người Do Thái và cũng giảng như vậy, đến nỗi rất nhiều người Do Thái và Hy Lạp đã tin. 2. Tuy nhiên những người Do Thái không tin thì khuấy động, và đầu độc tâm trí của những người ngoại quốc để chống lại các anh em. 3. Dầu vậy, họ đã ở lại đó một thời gian dài, giảng về Chúa một cách mạnh dạn; Ngài đã ban những dấu kỳ và phép lạ, được thực hiện bởi tay của họ, để làm chứng cho đạo ân điển của Ngài. 4. Lúc này dân chúng trong thành bị phân chia: một số theo những người Do Thái, một số theo các sứ đồ.
  2. Sau đó, khi có một nỗ lực của những người ngoại quốc và người Do Thái, cùng với các lãnh đạo của họ, nhằm ngược đãi và ném đá các sứ đồ, 6. biết như vậy, các sứ đồ đã lánh đến các thành phố của Ly-cao-ni là Lít-trơ, Đẹt-bơ, và vùng phụ cận, 7. rồi tiếp tục giảng Phúc Âm tại đó.
  3. Tại Lít-trơ có một người bị liệt đôi chân; anh ta bị què từ lúc lọt lòng mẹ, chưa bao giờ đi được, đang ngồi đó. 9. Anh ta lắng nghe Phao-lô giảng. Phao-lô nhìn chăm chăm vào anh và thấy anh có đức tin để được chữa lành 10. nên đã nói lớn: “Hãy đứng thẳng lên trên chân của ngươi!” Anh đã bật dậy và bước đi.
  4. Đám đông thấy việc Phao-lô đã làm thì la lớn bằng tiếng Ly-cao-ni của họ rằng: “Các thần đã lấy hình người hiện xuống cùng chúng ta!” 12. Họ gọi Ba-na-ba là thần Dớt, còn Phao-lô là thần Hẹc-mê bởi vì ông là người thuyết giảng chính. 13. Thầy tế lễ của thần Dớt có đền thờ ở bên ngoài thành đã đem những bò đực và các tràng hoa đến các cổng, muốn cùng với dân chúng dâng tế lễ.
  5. Tuy nhiên, khi nghe như vậy các sứ đồ Ba-na-ba và Phao-lô đã xé trang phục của mình, vội vàng xông vào giữa đám đông, rồi nói lớn 15. rằng: “Thưa quý vị! Tại sao quý vị lại làm những điều nầy? Chúng tôi chỉ là loài người, giống như quý vị; chúng tôi giảng Phúc Âm để quý vị xây bỏ những thần hư không nầy để trở về cùng Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng đã tạo dựng trời, đất, biển, và tất cả mọi vật ở trong đó. 16. Trong những thế hệ trước, Ngài đã để cho tất cả các dân tộc đi theo đường lối của họ. 17. Dầu vậy, Ngài đã không rời khỏi mà không để lại bằng chứng về sự hiện hữu của Ngài, qua việc ban phước lành, ban mưa từ trời, làm cho mùa màng sung túc, thực phẩm dồi dào, khiến lòng quý vị được tràn ngập niềm vui.” 18. Dầu đã nói những lời nầy, họ phải vất vả mới ngăn cản được đám đông dâng tế lễ cho họ.
  6. Tuy nhiên, những người Do Thái từ An-ti-ốt và I-cô-ni đã đến, họ xúi giục đám đông, rồi họ ném đá Phao-lô. Họ tưởng ông đã chết, cho nên đã kéo ông ra ngoài thành. 20. Tuy nhiên lúc các môn đồ vây quanh ông, ông đã đứng dậy và đi vào trong thành. Hôm sau, ông cùng với Ba-na-ba đến Đẹt-bơ.
  7. Sau khi đã công bố Phúc Âm cho thành phố và môn đồ hóa nhiều người, họ trở về Lít-trơ, I-cô-ni, và An-ti-ốt. 22. Họ làm vững lòng các môn đồ, khích lệ họ tiếp tục trong đức tin, và bảo rằng: “Chúng ta phải trải qua nhiều hoạn nạn rồi mới vào vương quốc của Đức Chúa Trời.”
  8. Sau khi đã bổ nhiệm các trưởng lão trong mỗi Hội Thánh, họ đã kiêng ăn cầu nguyện, rồi giao phó những người đó cho Chúa, là Đấng mà họ tin cậy.
  9. Họ đã đi xuyên qua Pi-si-đi, đến Pam-phi-ly; 25. sau khi đã giảng đạo tại Pẹt-giê, họ xuống Át-ta-li, 26. rồi từ đó, họ đáp thuyền đến An-ti-ốt, là nơi họ đã được giao phó cho ân điển của Đức Chúa Trời để thực hiện công tác mà họ vừa hoàn thành.
  10. Khi họ đến nơi, họ đã triệu tập Hội Thánh, thuật lại mọi việc mà Đức Chúa Trời đã làm với họ, và việc Ngài đã mở cửa đức tin cho những người ngoại quốc. 28. Sau đó, họ đã ở lại đó với các môn đồ một thời gian khá lâu.

 

15

  1. Và rồi có một số người từ Giu-đê xuống, dạy các anh em rằng: “Nếu quý vị không chịu cắt bì theo truyền thống của Môi-se thì quý vị không thể được cứu.”
  2. Sau đó, có sự xáo trộn xảy ra, và có một cuộc tranh luận không nhỏ giữa Phao-lô và Ba-na-ba với họ. Phao-lô và Ba-na-ba cùng với vài người trong số họ đã được chỉ định đi lên Giê-ru-sa-lem để hỏi về việc nầy với các sứ đồ và các trưởng lão.
  3. Vì vậy, khi đã được Hội Thánh gởi đi, họ đã trải qua cả Phê-ni-xi và Sa-ma-ri, thuật lại cách chi tiết sự quy đạo của những người ngoại quốc, và họ đã đem lại niềm vui rất lớn cho tất cả các anh em.
  4. Sau đó họ đến Giê-ru-sa-lem, họ được Hội Thánh, các sứ đồ và các trưởng lão tiếp đón. Họ bắt đầu tường thuật lại tất cả những gì Đức Chúa Trời đã cùng làm với họ.
  5. Tuy nhiên có một số những người đã tin, thuộc về phái Pha-ri-si, đã đứng dậy nói: “Cần phải làm cắt bì cho họ, và rồi truyền cho họ tuân giữ luật pháp của Môi-se.”
  6. Sau đó các sứ đồ và các trưởng lão đã họp lại để xem xét vấn đề nầy. 7. Sau khi đã thảo luận rất nhiều, Phi-e-rơ đã đứng dậy nói với họ rằng: “Thưa quý vị, thưa các anh em! Quý vị biết rằng từ những ngày đầu, Đức Chúa Trời đã chọn tôi ở giữa anh em, để những người ngoại quốc được nghe sứ điệp của Phúc Âm qua môi miệng của tôi, và họ đã tin. 8. Đức Chúa Trời là Đấng biết rõ tấm lòng, đã làm chứng cho họ, đã ban Đức Thánh Linh cho họ cũng như cho chúng ta. 9. Ngài không phân biệt giữa chúng ta với họ, nhưng bởi đức tin đã thanh tẩy tấm lòng của họ. 10. Vì vậy bây giờ, tại sao quý vị lại thử Đức Chúa Trời, gán cho các môn đồ cái ách mà tổ phụ của chúng ta, hoặc chính chúng ta, cũng không thể mang nổi? 11. Tuy nhiên chúng tôi tin rằng bởi ân điển của Chúa, là Đức Chúa Jesus, họ cũng được cứu cùng một cách như vậy.”
  7. Lúc đó cả đám đông đều im lặng lắng nghe Ba-na-ba và Phao-lô thuật lại những dấu kỳ và phép lạ mà Đức Chúa Trời đã làm qua họ ở giữa những người ngoại quốc.
  8. Khi họ đã dứt lời, Gia-cơ đã kết luận rằng: “Thưa quý vị, thưa các anh em! Xin hãy nghe tôi! 14. Si-môn đã thuật lại thế nào Đức Chúa Trời lần đầu tiên đã thăm viếng và lấy ra từ những người ngoại quốc một dân cho danh của Ngài. 15. Điều nầy phù hợp với những lời của các tiên tri đã chép: 16. ‘Sau những việc nầy, Ta sẽ trở lại và sẽ tái thiết nhà của Đa-vít đã bị sụp đổ. Ta sẽ trùng tu những nơi bị tàn phá của nó và dựng nó lên; 17. để những người còn lại, và tất cả những người ngoại quốc, là những người được gọi bằng danh của Ta, có thể tìm kiếm Chúa. Chúa, là Đấng đang thực hiện những việc nầy, phán như vậy, 18. đó là những điều đã được biết đến từ ngàn xưa.’ 19. Vì vậy, tôi xét rằng không nên quấy rối những người ngoại quốc đang trở về cùng Đức Chúa Trời; 20. nhưng hãy viết để dặn họ giữ khỏi bị ô uế bởi các thần tượng, sự gian dâm, thú vật chết ngạt, và huyết. 21. Bởi vì từ những thế hệ xa xưa, trong mỗi thành đều có những người đã đọc và giảng dạy về Môi-se tại các nhà hội trong mỗi ngày sa-bát.”
  9. Sau đó, các sứ đồ và các trưởng lão cùng cả Hội Thánh nghĩ rằng nên chọn vài người trong số họ, để gởi đến An-ti-ốt cùng với Phao-lô và Ba-na-ba: Đó là Giu-đa, cũng gọi Ba-sa-ba, và Si-la – là những nhân vật hàng đầu ở giữa anh em, 23. bởi tay của họ viết rằng: “Các sứ đồ và các trưởng lão xin gởi đến các anh em, là những người đang sống tại An-ti-ốt, Sy-ri, Si-li-si, và các anh em đang ở giữa những dân tộc ngoại quốc, lời chào thăm. 24. Chúng tôi có nghe rằng có một vài người trong chúng tôi đã đi ra dùng lời nói để gây khó khăn và làm rối trí anh em – họ là những người không được chúng tôi ủy nhiệm. 25. Vì vậy, chúng tôi đã đồng ý và nghĩ rằng nên chọn vài người, rồi cử họ đi cùng hai anh em rất yêu dấu của chúng tôi là Ba-na-ba và Phao-lô, 26. là những người đã liều mạng sống của họ vì danh Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus Christ. 27. Do đó chúng tôi đã cử Giu-đa và Si-la để chính miệng họ nói với anh em những điều tương tự. 28. Bởi vì Đức Thánh Linh và chúng tôi thấy rằng không nên chất thêm gánh nặng cho anh em, ngoại trừ những điều cần yếu nầy: 29. Phải kiêng những đồ cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngạt, và sự gian dâm. Hãy giữ chính mình khỏi những điều nầy, anh em sẽ được tốt đẹp. Xin tạm biệt!”
  10. Vì vậy, sau khi họ được tiễn đi, họ đã đến An-ti-ốt, triệu tập hội chúng lại, và rồi trao bức thư. 31. Sau khi đọc, hội chúng vui mừng về sự khích lệ.
  11. Giu-đa và Si-la, cả hai đều là những tiên tri, họ đã dùng nhiều lời khích lệ, và làm cho các anh em vững mạnh. 33. Họ tiếp tục như vậy một thời gian, sau đó họ được các anh em đưa tiễn một cách bình an để trở về với những người đã sai họ đi. 34. [Tuy nhiên, Si-la nên ở lại đó thì tốt hơn.] 35. Nhưng Phao-lô và Ba-na-ba đã ở lại An-ti-ốt, hiệp với nhiều người khác, giảng Phúc Âm và dạy đạo của Chúa.
  12. Sau một thời gian, Phao-lô nói với Ba-na-ba: “Chúng ta hãy trở lại mỗi thành mà chúng ta đã rao giảng đạo Chúa để thăm viếng các anh em và xem họ thế nào.” 37. Khi đó, Ba-na-ba muốn đem theo Giăng cũng gọi là Mác. 38. Tuy nhiên Phao-lô nghĩ rằng không nên đem Mác theo, bởi vì ông đã lìa bỏ hai người tại Pam-phi-ly, đã không cùng họ tiếp tục công tác. 39. Vì vậy, có sự bất đồng sâu sắc nỗi lên đến nỗi họ phân rẽ nhau: Ba-na-ba đã đem Mác đáp tàu đi đến Chíp-rơ. 40. Còn Phao-lô đã chọn Si-la rồi lên đường sau khi được các anh em giao phó cho ân điển Chúa. 41. Sau đó, ông đã đi qua Sy-ri và Si-li-si, làm vững mạnh các Hội Thánh.

 

16

  1. Sau đó Phao-lô cũng đến Đẹt-bơ và Lít-trơ. Tại đó, có một môn đồ tên là Ti-mô-thê, là con trai của một nữ tín hữu người Do Thái, và cha là người Hy Lạp. 2. Anh đã được các anh em tại Lít-trơ và I-cô-ni làm chứng tốt. 3. Phao-lô muốn đem người nầy theo nên ông đã làm lễ cắt bì cho anh, bởi vì người Do Thái tại những nơi đó đều biết rằng cha của anh là người Hy Lạp.
  2. Sau đó, trong lúc đi qua các thành phố, họ cũng căn dặn các tín hữu phải giữ những quy định của các sứ đồ và các trưởng lão tại Giê-ru-sa-lem đã thiết lập. 5. Vì vậy, các Hội Thánh được vững mạnh trong đức tin, và số tín hữu gia tăng mỗi ngày.
  3. Họ đã đi qua khắp miền Phi-ri-gi và Ga-la-ti, Đức Thánh Linh ngăn cấm họ truyền đạo tại A-sia. 7. Sau đó họ xuống My-sia, họ cố gắng đi vào Bi-thi-ni, nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Jesus không cho phép 8. nên họ đã đi ngang qua My-sia rồi xuống Trô-ách. 9. Có một khải tượng hiện ra cho Phao-lô trong ban đêm: Có một người Ma-xê-đô-nia đứng nài xin ông rằng: “Xin hãy qua Ma-xê-đô-nia cứu giúp chúng tôi!”
  4. Khi ông thấy khải tượng đó, ngay lập tức chúng tôi tìm cách đến Ma-xê-đô-nia vì kết luận rằng Đức Chúa Trời kêu gọi chúng tôi công bố Phúc Âm tại đó. 11. Sau đó từ Trô-ách chúng tôi đáp tàu thẳng đến Sa-mô-tra-xơ. Hôm sau, đến Nê-a-pô-li, 12. và từ nơi đó, đến Phi-líp, là thành phố hàng đầu của tỉnh Ma-xê-đô-nia, là một thuộc địa. Chúng tôi lưu lại tại thành phố này vài ngày.
  5. Sau đó vào ngày sa-bát, chúng tôi đã ra ngoài cổng thành, gần bờ sông, theo truyền thống là nơi cầu nguyện. Chúng tôi ngồi xuống và bắt đầu giảng cho các phụ nữ đang tụ họp tại đó.
  6. Có một phụ nữ lắng nghe chúng tôi, tên là Ly-đi, quê ở Thi-a-ti-rơ, là một người bán vải sắc tía, và là người thờ kính Đức Chúa Trời. Bà được Chúa mở lòng cho nên đã chú ý đến những điều Phao-lô nói. 15. Sau khi đã nhận báp-têm cùng với cả nhà của mình, bà nài nĩ rằng: “Nếu các ông xét rằng tôi là trung thành với Chúa, xin hãy vào, và ở lại trong nhà của tôi.” Rồi bà thuyết phục chúng tôi.
  7. Chuyện xảy ra khi chúng tôi đang đi đến chỗ cầu nguyện, có một cô gái, bị quỷ Phi-tôn nhập, đã gặp chúng tôi; cô là người đã mang lại nhiều lợi nhuận cho các chủ nhân qua việc bói toán. 17. Cô đã đi theo Phao-lô và chúng tôi, và la lớn rằng: “Những người nầy là đầy tớ của Đức Chúa Trời Chí Cao, là những người rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi.” 18. Cô cứ tiếp tục làm như vậy trong nhiều ngày. Và rồi Phao-lô bực mình nên quay lại nói với quỷ rằng: “Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, ta truyền cho ngươi phải ra khỏi nàng.” Ngay giờ đó, quỷ liền ra khỏi.
  8. Khi các chủ nhân của nàng thấy không còn hy vọng kiếm lợi cho họ được nữa, họ đã bắt Phao-lô và Si-la, kéo vào trong quảng trường, đến trước những người cầm quyền. 20. Họ mang hai ông đến các thẩm phán, rồi nói rằng: “Những người nầy là những người Do Thái đã gây rối loạn trong thành phố của chúng ta, 21. họ dạy những phong tục không hợp pháp, mà chúng ta – là những người Rô-ma – không thể chấp nhận hay thực hành.”
  9. Đám đông cũng nổi lên chống lại hai ông. Các thẩm phán đã ra lệnh xé trang phục của hai ông, rồi đánh hai ông bằng roi. 23. Sau khi bị đánh đòn rất nhiều, họ quăng hai ông vào ngục, rồi truyền cho viên cai ngục phải canh giữ nghiêm ngặt. 24. Nhận được chỉ thị như vậy, viên cai ngục đã giam hai ông vào căn ngục ở bên trong, rồi cùm chân của hai ông lại.
  10. Khoảng nửa đêm, Phao-lô và Si-la đang cầu nguyện và ca ngợi Đức Chúa Trời. Các tù nhân lắng nghe họ. 26. Thình lình, có một cơn động đất rất lớn, đến nỗi những nền của nhà ngục bị rúng động. Ngay lập tức, tất cả các cửa mở tung, tất cả xiềng của các tù nhân đều tháo ra cả.
  11. Sau đó, viên cai ngục thức dậy, thấy các cửa ngục mở toang, tưởng rằng các tù nhân đã trốn thoát hết, nên rút gươm định tự sát. 28. Tuy nhiên Phao-lô đã kêu thật lớn tiếng rằng: “Đừng sát hại chính mình! Tất cả chúng tôi đều còn ở đây!”
  12. Viên cai ngục đã gọi lấy đèn, rồi chạy thật nhanh vào trong ngục, và kinh hãi quỳ dưới chân của Phao-lô và Si-la. 30. Ông đưa hai người ra ngoài, rồi hỏi: “Thưa các chúa! Tôi phải làm gì để được cứu?”
  13. Họ nói: “Hãy tin Chúa, là Đức Chúa Jesus, thì ông và cả gia đình ông sẽ được cứu.” 32. Và rồi họ nói với ông, và tất cả những người ở trong nhà của ông, về đạo của Chúa.
  14. Ngay trong ban đêm, vào chính giờ đó, viên cai ngục đã đem hai ông ra rửa những vết thương. Và rồi ngay lập tức, ông và cả gia đình đều nhận báp-têm. 34. Sau đó, ông mời họ vào trong nhà, dọn bàn, rồi vui vẻ cùng với cả gia đình bởi vì họ đã tin Đức Chúa Trời.
  15. Và rồi đến sáng, các thẩm phán sai các cảnh vệ đến nói: “Hãy thả những người đó.”
  16. Sau đó, viên cai ngục cho truyền đạt những lời nầy với Phao-lô: “Các thẩm phán đã nhắn rằng các ông có thể đi. Vì vậy, hãy ra, và đi bình an.”
  17. Nhưng Phao-lô nói với họ: “Chúng tôi là công dân Rô-ma, khi chưa định tội, họ đã đánh đòn chúng tôi giữa công chúng rồi tống giam vào ngục; bây giờ họ lại lén lút thả chúng tôi hay sao? Không thể được! Họ phải đích thân đến đây để thả chúng tôi!”
  18. Sau đó các cảnh vệ đã trình lại những lời này với các thẩm phán. Sau khi nghe hai ông là công dân Rô-ma thì họ sợ hãi. 39. Vì vậy, họ đã đến, năn nỉ hai ông, đưa hai ông ra ngoài, rồi khẩn nài hai ông hãy rời khỏi thành phố.
  19. Khi đã ra khỏi tù, họ đến thăm Ly-đi; khi đã gặp, họ khích lệ các anh em, rồi rời đi.

 

17

  1. Sau khi đã đi qua Am-phi-pô-lít và A-pô-lô-nia, họ đến Tê-sa-lô-ni-ca, nơi có một hội đường của người Do Thái. 2. Theo thói quen, Phao-lô đã vào tại đó với họ. Trong ba ngày sa-bát, ông thảo luận Kinh Thánh với họ, 3. ông giải thích và chứng minh rằng Đấng Christ phải chịu thương khó, rồi sống lại từ cõi chết, rồi ông nói rằng: “Đức Chúa Jesus mà tôi rao truyền cho quý vị chính là Đấng Christ.”
  2. Có một số người trong số họ, được thuyết phục, cùng với rất nhiều người Hy Lạp tin kính, và không ít phụ nữ thuộc giới thượng lưu, đã gia nhập với Phao-lô và Si-la.
  3. Lúc nầy những người Do Thái bèn ganh tị, họ đã rủ những kẻ hung ác, những côn đồ ngoài đường phố tập hợp đám đông, rồi gây rối loạn trong thành phố. Chúng kéo đến nhà của Gia-sôn tìm bắt hai ông để đưa ra trước dân chúng. 6. Khi tìm không được, chúng kéo Gia-sôn và vài anh em đến trước chính quyền thành phố, rồi gào lên rằng: “Những tên nầy đã gây rối loạn trong thiên hạ, bây giờ chúng cũng đến đây, 7. và Gia-sôn đã chứa chấp chúng! Tất cả những kẻ nầy hành động chống lại luật lệ của Sê-sa, đã công bố rằng có một vua khác là Jesus.” 8. Chúng đã xách động dân chúng và bậc cầm quyền của thành phố bằng những lời nầy. 9. Họ đã nhận tiền thế chân từ Gia-sôn và những người còn lại, rồi thả ra.
  4. Ngay trong đêm đó, các anh em đã đưa Phao-lô và Si-la đến Bê-rê; khi đến nơi, họ đã vào hội đường của người Do Thái. 11. Những người tại đây cao trọng hơn những người ở Tê-sa-lô-ni-ca, họ đã tiếp nhận đạo với tất cả sự sẵn sàng, ngày nào cũng nghiên cứu Kinh Thánh để xét xem những điều này có đúng không. 12. Vì vậy, nhiều người trong số họ đã tin, cùng với không ít phụ nữ thượng lưu Hy Lạp và cả những người nam nữa.
  5. Tuy nhiên khi những người Do Thái từ Tê-sa-lô-ni-ca biết rằng Phao-lô cũng truyền đạo của Đức Chúa Trời tại Bê-rê, thì họ đã đến đó để khuấy rối và kích động đám đông. 14. Ngay lập tức, các anh em đã đưa Phao-lô đi về phía biển, tuy nhiên cả Si-la và Ti-mô-thê thì ở lại Bê-rê.
  6. Những người hộ tống Phao-lô đã đưa ông đến A-thên; sau đó khi Si-la và Ti-mô-thê nhận được chỉ thị truyền phải đến với ông càng sớm càng tốt, họ đã khởi hành.
  7. Trong khi Phao-lô đang đợi họ tại A-thên, tâm linh bên trong ông khó chịu khi thấy thành phố đầy dẫy những hình tượng. 17. Vì vậy, ông biện luận tại nhà hội với người Do Thái và những người ngoại quốc đang thờ phượng, cũng như với những người mà ông gặp ngoài chợ mỗi ngày. 18. Sau đó, có vài triết gia thuộc phái Khoái lạc và Khắc kỷ cũng đã tranh luận với ông. Một số nói: “Kẻ lắm lời nầy muốn nói gì?” Tuy nhiên những người khác thì nói: “Dường như ông ta là người rao giảng về các thần ngoại quốc” — bởi vì ông đã giảng về Phúc Âm của Đức Chúa Jesus và sự sống lại.
  8. Họ đã bắt ông, dẫn đến đồi A-rê-ô, rồi hỏi rằng: “Chúng tôi có thể biết về giáo thuyết mới nầy mà ông đang giảng dạy đó không? 20. Bởi vì một số điều ông đem đến, thật lạ tai với chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi muốn biết những điều đó có nghĩa gì.” 21. Thật vậy, khi đó tất cả người A-thên và những ngoại kiều đến thăm nơi nầy chỉ dành thì giờ, không có gì khác hơn là để nói và nghe về điều mới lạ.
  9. Sau đó Phao-lô đứng giữa đồi A-rê-ô nói rằng: “Thưa quý vị là người A-thên! Tôi nhận thấy trên mọi phương diện, quý vị thật là những người sùng đạo. 23. Bởi vì khi đi khắp thành phố, quan sát những nơi thờ phượng của quý vị, tôi thấy có một bàn thờ khắc chữ: THỜ THẦN KHÔNG BIẾT. Cho nên, Đấng mà quý vị đang thờ và không biết đó, chính là Đấng mà tôi đang rao truyền cho quý vị tại đây. 24. Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng thế giới và mọi vật ở trong đó. Ngài là Chúa của trời và đất, Ngài không ngự trong các đền miếu bởi tay con người dựng nên. 25. Ngài cũng không cần tay loài người phục vụ như là Ngài cần đến điều gì. Ngài là Đấng ban sự sống cho tất cả, và hơi thở cho tất cả. 26. Từ một người, Ngài đã làm nên mọi dân tộc và khiến họ sống trên khắp mặt đất. Ngài ấn định thời hạn và ranh giới cho họ cư ngụ, 27. để họ tìm kiếm Đức Chúa Trời, và rồi may ra họ có thể cảm nhận và tìm được Ngài, mặc dù Ngài không ở xa mỗi người chúng ta. 28. Chính vì nhờ ở trong Ngài, chúng ta được sống, hoạt động và hiện hữu – như vài thi nhân của quý vị đã nói: ‘Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài.’ 29. Bởi vì là dòng dõi của Đức Chúa Trời, chúng ta không nên nghĩ rằng Đấng Thiêng Liêng giống như một vật bằng vàng, bằng bạc, hay bằng đá, được chạm khắc theo trí tưởng tượng của con người. 30. Thật vậy, Ðức Chúa Trời đã không còn chú tâm đến những thời kỳ thiếu hiểu biết đó, nhưng bây giờ Ngài truyền mọi người ở khắp mọi nơi phải ăn năn. 31. Bởi vì Ngài đã ấn định một ngày, là lúc Ngài sẽ phán xét thế giới trong sự công chính, bởi một Đấng mà Ngài đã chỉ định, là một sự bảo chứng cho tất cả mọi người, Ngài đã khiến Đấng đó sống lại từ cõi chết.”
  10. Khi nghe về sự sống lại từ cõi chết, một số người đã chế giễu ông; tuy nhiên những người khác đã nói: “Chúng tôi muốn nghe ông nói về chuyện nầy một lần nữa.”
  11. Vì vậy, Phao-lô đã lìa khỏi họ. 34. Tuy nhiên có vài người đã tin, và gia nhập với ông, trong số đó có Đê-ni, một thành viên hội đồng A-rê-ô-pa, và một phụ nữ tên Đa-ma-ri, và những người khác cùng với họ.

 

18

  1. Sau những việc nầy, Phao-lô đã rời A-thên đến Cô-rinh-tô. 2. Tại đó, ông gặp một người Do Thái tên là A-qui-la, nguyên quán tại Pông, cùng với vợ là Pê-rít-sin, vừa từ I-ta-li-a đến, bởi vì Hoàng đế Cơ-lốt đã truyền lệnh cho tất cả người Do Thái phải rời khỏi Rô-ma. Phao-lô đã đến thăm họ; 3. vì cùng nghề, nên ông đã ở lại với họ rồi làm việc. Về chuyên môn, họ là những người may trại,
  2. Vào mỗi ngày sa-bát, Phao-lô diễn giải trong hội đường, thuyết phục cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp. 5. Khi Si-la và Ti-mô-thê từ Ma-xê-đô-nia đã đến, Phao-lô chuyên lo việc giảng đạo, sốt sắng minh chứng cho người Do Thái rằng Đức Chúa Jesus chính là Đấng Christ. 6. Tuy nhiên, vì sự chống đối và phạm thượng của họ, nên ông đã giũ áo rồi nói với họ: “Nguyện huyết của quý vị đổ lại trên đầu của quý vị! Còn tôi thì tinh sạch. Kể từ nay, tôi sẽ đến với những người ngoại quốc.”
  3. Phao-lô đã rời khỏi nơi đó để đến nhà của một người tên là Ti-ti-u Giút-tu, là một người tin thờ Đức Chúa Trời. Nhà của ông ở bên cạnh hội đường. 8. Lúc đó Cơ-rít-pu, viên quản lý hội đường, cùng cả nhà của ông đã tin Chúa. Nhiều người Cô-rinh-tô nghe giảng, đã tin và nhận báp-têm.
  4. Chúa đã phán với Phao-lô trong ban đêm, qua một khải tượng: “Đừng sợ! Nhưng hãy tiếp tục nói và đừng im lặng; 10. vì Ta sẽ ở cùng con, không ai tra tay trên con để làm hại con, bởi vì Ta có nhiều người trong thành nầy.” 11. Ông đã ở lại đó một năm sáu tháng dạy đạo của Đức Chúa Trời cho họ.
  5. Tuy nhiên, khi Ga-li-ôn làm tổng đốc A-chai, những người Do Thái đã nổi dậy hiệp nhau tấn công Phao-lô, rồi dẫn ông ra tòa, 13. họ nói rằng: “Người nầy cổ vũ sự thờ phượng Đức Chúa Trời trái luật pháp.” 14. Khi Phao-lô sắp sửa mở miệng, thì Ga-li-ôn đã nói với những người Do Thái: “Hỡi người Do Thái! Nếu là việc phạm pháp hay là tội ác, thì ta nhẫn nại nghe các ngươi là điều hợp lý. 15. Nhưng nếu vấn đề chỉ là ngôn từ, danh xưng, và luật pháp riêng của các ngươi, thì hãy tự xử lấy. Ta không xét xử những việc nầy đâu.” 16. Rồi ông đuổi họ ra khỏi tòa án. 17. Sau đó, họ đã bắt Sốt-then, viên quản lý nhà hội, đánh đòn trước tòa án; Ga-li-ôn chẳng quan tâm đến những việc này.
  6. Phao-lô đã ở lại tại đó thêm nhiều ngày nữa, sau đó ông đã từ giã anh em, đáp tàu đến Sy-ri, cùng với Pê-rít-sin và A-qui-la. Tại Sen-cơ-rê, ông đã cạo đầu bởi vì có lời thề nguyện. 19. Khi họ đến Ê-phê-sô, ông để các bạn đồng hành tại đó. Ông đích thân đến hội đường, rồi biện luận với những người Do-thái. 20. Họ mời ông ở lại lâu hơn, nhưng ông từ chối. 21. Ông giã từ họ và nói: “Tôi sẽ trở lại với quý vị nếu Đức Chúa Trời muốn.” Rồi ông đáp tàu rời Ê-phê-sô.
  7. Khi đến Sê-sa-rê, ông lên bờ chào thăm Hội Thánh, rồi xuống An-ti-ốt. 23. Sau khi ở đó ít lâu, ông lên đường, lần lượt đi khắp vùng Ga-la-ti và Phi-ri-gi, làm vững mạnh tất cả các môn đồ.
  8. Lúc đó, có một người Do Thái tên A-pô-lô, quê ở A-léc-xan-đria, đến Ê-phê-sô; ông là người có khả năng diễn thuyết và thông thạo Kinh Thánh. 25. A-pô-lô đã được hướng dẫn về đạo của Chúa. Ông có tinh thần sốt sắng giảng dạy cách nhiệt thành những điều liên quan đến Đức Chúa Jesus, mặc dù ông chỉ biết về báp-têm của Giăng mà thôi. 26. Sau đó, A-pô-lô bắt đầu giảng một cách dạn dĩ trong hội đường. Tuy nhiên, khi Pê-rít-sin và A-qui-la lắng nghe ông, họ đã đem ông về, giải nghĩa đạo của Đức Chúa Trời cách chính xác hơn cho ông. 27. Sau đó, khi A-pô-lô muốn đi qua A-chai, các anh em đã khích lệ ông, và viết thư dặn các môn đồ hoan nghênh ông. Khi đến nơi, A-pô-lô đã giúp đỡ rất nhiều cho những người đã nhờ ân điển mà tin Chúa. 28. Ông đã công khai phản bác người Do Thái cách mạnh mẽ, dùng Kinh Thánh chứng minh rằng Đức Chúa Jesus chính là Đấng Christ.

 

19

  1. Thời gian trôi qua, trong khi A-pô-lô đang ở Cô-rinh-tô, Phao-lô đã đi qua những vùng ở phía trên để đến Ê-phê-sô. Và rồi ông đã gặp một số môn đồ, 2. ông đã hỏi họ: “Anh em đã tin, nhưng anh em đã nhận lãnh Đức Thánh Linh chưa?” Họ trả lời ông: “Chúng tôi chưa từng nghe nói có Đức Thánh Linh nào cả.” 3. Sau đó ông hỏi: “Như vậy anh em đã nhận báp-têm nào?” Họ đáp: “Báp-têm của Giăng.” 4. Sau đó Phao-lô nói: “Giăng đã làm báp-têm về sự ăn năn, rồi ông truyền cho dân chúng phải tin Đấng sẽ đến sau ông, nghĩa là tin Đức Chúa Jesus.” 5. Nghe như vậy, sau đó họ đã nhận báp-têm nhân danh Chúa, là Đức Chúa Jesus. 6. Và rồi khi Phao-lô đặt tay trên họ, Đức Thánh Linh đã giáng trên họ. Sau đó, họ đã nói nhiều ngôn ngữ và lời tiên tri. 7. Tất cả có khoảng mười hai người.
  2. Sau đó ông vào hội đường, giảng dạy một cách dạn dĩ, lý giải và thuyết phục về vương quốc của Đức Chúa Trời trong ba tháng. 9. Tuy nhiên, khi có một số người ngoan cố, không tin, nói xấu về đạo trước đông người, ông đã rời khỏi họ; tách các môn đồ riêng ra, hằng ngày thảo luận trong trường học của Ti-ra-nu. 10. Và rồi việc nầy đã tiếp tục trong hai năm, đến nỗi tất cả những người cư ngụ tại A-sia, cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp, đều nghe về đạo của Chúa.
  3. Sau đó Đức Chúa Trời đã dùng tay của Phao-lô làm những phép lạ phi thường, 12. đến nỗi người ta lấy khăn và áo choàng đã chạm trên da của ông, đặt trên những người bệnh thì bệnh tật lìa khỏi họ và tà linh đã xuất ra.
  4. Khi đó có những kẻ đuổi quỷ là người Do Thái, đi từ nơi nầy đến nơi khác nhân danh Chúa, là Đức Chúa Jesus, để đuổi tà linh khỏi những người bị ám. Họ nói: “Ta nhân danh Chúa là Đức Chúa Jesus, là Đấng mà Phao-lô rao giảng, truyền lệnh cho các ngươi.” 14. Những người làm việc nầy là bảy con trai của Thượng tế Sê-va, người Do Thái. 15. Tuy nhiên quỷ đã nói với họ: “Ta biết Đức Chúa Jesus và cũng biết rõ Phao-lô, nhưng các ngươi là ai?” 16. Và rồi người bị quỷ ám đã xông vào họ, áp đảo họ, đánh bại họ, đến nỗi họ phải trần truồng và đầy thương tích bỏ chạy ra khỏi nhà. 17. Tất cả những người sống tại Ê-phê-sô, cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp, biết việc này thì nỗi kinh hoàng giáng trên họ. Danh Chúa, là Đức Chúa Jesus, càng được tôn kính.
  5. Nhiều người đã tin, đã đến xưng tội, công khai những việc họ đã làm. 19. Có một số người trước kia hành nghề phù thủy đem những sách của họ đốt trước mọi người. Người ta tính trị giá những sách đó lên đến năm mươi ngàn miếng bạc. 20. Như vậy, với quyền năng của Chúa, đạo cứ tiếp tục tăng trưởng và vững mạnh.
  6. Sau khi những việc nầy đã xong, Phao-lô dự định trong lòng sẽ đi qua Ma-xê-đô-nia và A-chai rồi đến Giê-ru-sa-lem. Ông nói: “Sau khi đi đến đó, tôi cũng phải đến thăm Rô-ma nữa.” 22. Sau đó ông sai hai phụ tá của mình là Ti-mô-thê và Ê-rát đi trước qua Ma-xê-đô-nia; còn ông thì ở lại A-sia thêm một thời gian nữa.
  7. Lúc nầy, có một cuộc xáo trộn không nhỏ đã xảy ra liên quan đến đạo. 24. Bởi vì có một người thợ bạc, tên là Đê-mê-triu, làm các miễu thờ Ác-tê-mít bằng bạc, công việc này đã đem lại dịch vụ không nhỏ cho những thợ thủ công. 25. Ông đã tập hợp những người làm các công việc đó lại, rồi nói: “Thưa các ông! Các ông biết rằng sự thịnh vượng của chúng ta là từ dịch vụ này. 26. Như các ông đã thấy và nghe, không phải chỉ tại Ê-phê-sô, nhưng gần như cả A-sia, tên Phao-lô nầy đã thuyết phục và làm cho nhiều người xoay chuyển. Hắn nói rằng những vật gì do tay người làm ra thì không phải là các thần. 27. Điều này không chỉ đem đến nguy hại là việc kinh doanh của chúng ta bị gièm chê, nhưng đền thờ của đại nữ thần Ác-tê-mít cũng bị xem thường; và rồi nữ thần được cả A-sia và thế giới tôn kính sẽ bị hạ bệ khỏi vinh quang của mình.”
  8. Nghe như vậy, họ đầy dẫy sự cuồng nộ, đã gào lên rằng: “Ác-tê-mít của Ê-phê-sô thật vĩ đại!” 29. Cả thành đều rối loạn; họ hiệp nhau xông vào nhà hát, kéo theo Gai-út, A-ri-tạc, là những bạn đồng hành người Ma-xê-đô-nia của Phao-lô. 30. Mặc dầu Phao-lô muốn vào bên trong với dân chúng, nhưng các môn đồ không cho ông. 31. Sau đó, vài viên chức tại A-sia, là những người bạn của ông, cũng sai người đến khuyên ông đừng mạo hiểm vào trong nhà hát.
  9. Cuộc hội họp thật hỗn loạn: Người hô thế này, kẻ gào thế khác. Phần đông không biết vì lý do gì mà họ tụ họp. 33. Lúc đó, từ trong đám đông, những người Do Thái đã đẩy A-léc-xan-đơ ra, để giải thích. A-léc-xan-đơ lấy tay ra hiệu để bào chữa với dân chúng. 34. Tuy nhiên khi họ nhận ra ông là một người Do Thái, tất cả đã đồng thanh hô lớn trong suốt hai giờ: “Ác-tê-mít của Ê-phê-sô thật vĩ đại!”
  10. Sau đó viên thư ký của thành phố đã bảo đám đông yên lặng, rồi nói: “Thưa các ông là những người Ê-phê-sô! Ai lại không biết thành phố Ê-phê-sô là người canh giữ đền thờ của đại nữ thần Ác-tê-mít, đã từ trời giáng xuống? 36. Những điều này không thể chối cãi được, cho nên đồng bào hãy bình tĩnh, đừng vội vã làm điều gì. 37. Bởi vì những người mà quý vị đã giải đến đây không trộm cắp của đền thờ, và cũng không phạm thượng đến nữ thần của chúng ta. 38. Do đó, nếu Đê-mê-triu và những thợ thủ công cùng với ông có muốn kiện cáo ai về việc gì, thì đã có các tòa án và các tổng trấn giải quyết, hãy để họ kiện cáo nhau. 39. Tuy nhiên, ngoài việc nầy, nếu đồng bào yêu cầu việc gì khác, điều đó sẽ được giải quyết tại một cuộc hội họp hợp pháp. 40. Bởi vì chúng ta đang có nguy cơ bị truy tố về vụ nổi loạn hôm nay, và chúng ta không thể cung cấp một lý do nào để giải thích cho sự tụ họp náo loạn nầy.”
  11. Nói xong những điều này, ông đã giải tán đám đông.

 

20

  1. Khi vụ rối loạn đã chấm dứt, Phao-lô mời các môn đồ đến để khích lệ, rồi từ giã, và đi Ma-xê-đô-nia. 2. Và rồi ông đã đi qua những khu vực đó, dùng lời khích lệ họ, rồi đến Hy Lạp. 3. Sau ba tháng, khi ông sắp đón tàu đi Sy-ri, người Do Thái lập mưu hãm hại ông, nên ông quyết định qua Ma-xê-đô-nia để trở về. 4. Sau đó, cùng đi với ông có Sô-ba-tê Pi-ru, là người Bê-rê; A-ri-tạc và Sê-cun-đu từ Tê-sa-lô-ni-ca; Gai-út từ Đẹt-bơ; Ty-chi-cơ và Trô-phim ở A-sia, và Ti-mô-thê. 5. Những người nầy đã đi trước và đợi chúng tôi tại Trô-ách. 6. Sau kỳ lễ Bánh Không Men, chúng tôi xuống thuyền rời Phi-líp; năm ngày sau chúng tôi gặp họ tại Trô-ách, rồi ở lại đó bảy ngày.
  2. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng tôi nhóm lại để bẻ bánh. Phao-lô đã giảng luận cho họ. Vì ngày mai phải lên đường, cho nên ông tiếp tục giảng cho đến nửa đêm. 8. Có nhiều đèn trong phòng cao nơi chúng tôi đang nhóm lại. 9. Trong lúc Phao-lô giảng rất dài, có một thanh niên, tên là Ơ-tích, đang ngồi trên cửa sổ ngủ gục. Vì ngủ quá say, anh đã từ tầng thứ ba té xuống; khi đỡ dậy thì anh đã chết. 10. Tuy nhiên Phao-lô đã xuống, nghiêng mình trên anh, ôm lấy anh rồi nói: “Đừng náo động! Bởi vì sự sống của anh ta vẫn còn trong anh ta!” 11. Sau đó Phao-lô đã quay lại, bẻ bánh, rồi ăn; vì ông nói chuyện rất lâu cho đến sáng, rồi lên đường. 12. Sau đó người ta đã đưa cậu bé về nhà, nó vẫn sống cho nên mọi người đều được an ủi không ít.
  3. Tuy nhiên chúng tôi đã đi trước đến thuyền, rồi giong buồm đến A-sốt, là nơi chúng tôi sẽ đón Phao-lô; bởi vì ông định đi đường bộ nên mới sắp đặt như vậy. 14. Khi gặp ông tại A-sốt, chúng tôi đón ông, rồi chúng tôi đến Mi-ti-len. 15. Giong buồm từ đó, ngày hôm sau chúng tôi đến đối ngang của Chi-ô. Ngày kế tiếp, chúng tôi vượt qua Sa-mốt, và ngày hôm chúng tôi đến Mi-lê. 16. Vì Phao-lô đã quyết định chỉ đi ngang qua Ê-phê-sô, chứ không dừng lại để khỏi mất thì giờ tại A-sia, ông đi vội vàng để nếu có thể được thì sẽ hiện diện tại Giê-ru-sa-lem vào ngày lễ Ngũ Tuần.
  4. Sau đó, từ Mi-lê, ông đã sai người đến Ê-phê-sô để mời các trưởng lão trong Hội Thánh. 18. Khi họ đến, ông đã nói với họ: “Anh em biết rằng từ ngày đầu tiên tôi đến A-sia, tôi đã cư xử với anh em như thế nào suốt cả thời gian tôi ở với anh em. 19. Tôi đã phục vụ Chúa với tất cả sự khiêm nhường, với nhiều nước mắt, và nhiều thử thách do người Do Thái lập mưu hại tôi. 20. Tôi đã không giữ lại bất cứ điều gì có lợi cho anh em mà không tỏ cho anh em biết. Tôi đã giảng dạy cho anh em tại nơi công cộng và tại các tư gia; 21. đã nhiệt tâm khuyến cáo cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời và đức tin nơi Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus. 22. Hãy xem, hiện nay tôi được Thánh Linh thúc giục đến Giê-ru-sa-lem, tôi không biết điều gì sẽ xảy đến cho tôi tại đó; 23. ngoại trừ Đức Thánh Linh đã báo trước cho tôi rằng trong mỗi thành, xiềng xích và hoạn nạn đang chờ đợi tôi. 24. Nhưng tôi không kể sự sống của mình là quý, miễn sao hoàn tất sứ mạng và chức vụ của tôi, mà tôi đã nhận lãnh nơi Chúa, là Đức Chúa Jesus, để công bố thật trọn vẹn về Phúc Âm ân điển của Đức Chúa Trời. 25. Bây giờ, tôi biết rằng tất cả anh em mà tôi đã rao giảng về vương quốc của Đức Chúa Trời, không một ai sẽ thấy mặt tôi nữa. 26. Do đó, hôm nay tôi xác nhận với anh em rằng tôi vô tội về huyết của tất cả anh em. 27. Bởi vì tôi đã công bố toàn bộ mục đích của Đức Chúa Trời cho anh em, không giữ lại điều gì. 28. Anh em hãy giữ chính mình và luôn cả bầy chiên mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn dắt Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết của Ngài. 29. Tôi biết rằng sau khi tôi rời khỏi, sẽ có muông sói dữ tợn vào giữa anh em, chúng không tiếc bầy. 30. Ngay từ giữa anh em, cũng sẽ dấy lên những người giảng những điều sai lạc để lôi cuốn các môn đồ theo họ. 31. Vì vậy, hãy tỉnh thức và nhớ lại rằng trong suốt ba năm, hằng đêm và ngày, tôi không ngừng đổ nước mắt mà khuyên dạy mọi người. 32. Bây giờ, tôi ký thác anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo ân điển của Ngài, là đạo có thể xây dựng và ban cơ nghiệp cho anh em, ở giữa tất cả những người được thánh hóa. 33. Tôi không ham bạc, vàng, hay là quần áo của ai hết. 34. Chính các anh em biết các bàn tay nầy đã cung ứng những nhu cầu của tôi và của các bạn đồng lao của tôi. 35. Trong mọi sự, tôi đã bày tỏ cho anh em thấy rằng chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, cho nên chúng ta phải làm việc vất vả như vậy. Cũng hãy nhớ lại lời của Chúa, là Ðức Chúa Jesus, mà chính Ngài đã phán: ‘Ban cho có phước hơn nhận lãnh.’”
  5. Nói xong những lời nầy, ông đã quỳ xuống trên gối của mình và cầu nguyện với tất cả. 37. Mọi người đều khóc rất nhiều, ôm lấy cổ của Phao-lô, và họ hôn ông. 38. Họ đặc biệt đau buồn về lời mà ông nói rằng họ sẽ không bao giờ thấy mặt của ông nữa. Rồi họ tiễn ông xuống tàu.

 

21

  1. Sau khi từ giã họ, chúng tôi giong buồm và đi thẳng đến Cốt; ngày hôm sau, đến Rô-đơ, và từ đó đến Pa-ta-ra. 2. Chúng tôi gặp một chiếc tàu đi qua Phê-ni-xi, chúng tôi đã xuống tàu, rồi đi. 3. Khi nhìn thấy Chíp-rơ, chúng tôi giữ nó ở phía trái, rồi đi thẳng đến Sy-ri và cập bến ở Ty-rơ, vì tàu phải dỡ hàng hóa tại đó.
  2. Sau khi tìm được các môn đồ, chúng tôi ở lại với họ bảy ngày. Họ được Đức Thánh Linh cảm động, khuyên Phao-lô đừng lên Giê-ru-sa-lem. 5. Nhưng khi những ngày tạm trú đã qua rồi, chúng tôi tiếp tục hành trình. Tất cả các môn đồ, cùng với vợ và con của họ, đã đưa tiễn chúng tôi đến ngoài thành. Họ đã quỳ gối trên bờ biển và cầu nguyện. 6. Sau khi từ giã nhau, chúng tôi lên tàu, còn họ thì trở về nhà.
  3. Chúng tôi hoàn tất chuyến hải hành từ Ty-rơ xuống Pê-tô-lê-mai, chúng tôi chào thăm các anh em rồi ở lại với họ một ngày. 8. Hôm sau, chúng tôi lên đường đến Sê-sa-rê, vào nhà của Phi-líp, là nhà truyền giảng, và cũng là một trong bảy chấp sự, chúng tôi đã ở lại với ông. 9. Ông có bốn người con gái, là những trinh nữ, có ơn nói tiên tri.
  4. Trong những ngày chúng tôi ở lại đó, có một tiên tri tên A-ga-bút từ Giu-đê xuống. 11. Ông đã đến thăm chúng tôi, lấy dây thắt lưng của Phao-lô trói chân tay của mình, rồi nói: “Đây là lời của Đức Thánh Linh phán: ‘Tại Giê-ru-sa-lem, người có dây thắt lưng nầy sẽ bị những người Do Thái trói như vậy, và họ sẽ nộp người vào trong tay những người ngoại quốc.’”
  5. Sau khi chúng tôi nghe những lời này, cả những người tại đó lẫn chúng tôi, đều xin Phao-lô đừng lên Giê-ru-sa-lem. 13. Nhưng Phao-lô đã trả lời: “Tại sao các anh em khóc lóc và làm cho tôi đau lòng. Bởi vì tôi sẵn sàng không những bị trói, mà ngay cả chịu chết vì danh của Chúa, là Đức Chúa Jesus, tại Giê-ru-sa-lem.” 14. Sau đó, vì không thể thuyết phục ông được nữa, chúng tôi đành yên lặng, và nói: “Xin ý Chúa được nên!”
  6. Sau những ngày này, chúng tôi sửa soạn hành lý để bắt đầu lên Giê-ru-sa-lem. 16. Có vài môn đồ từ Sê-sa-rê cùng đi, họ dẫn chúng tôi đến ở trọ với Ma-na-sôn, quê ở Síp, là một trong những môn đồ đầu tiên.
  7. Chúng tôi đến Giê-ru-sa-lem và được các anh em đón tiếp vui vẻ. 18. Hôm sau, Phao-lô cùng đi với chúng tôi đến thăm Gia-cơ. Tất cả các trưởng lão đã đến. 19. Sau khi chào thăm họ, ông đã thuật lại từng việc mà Đức Chúa Trời đã thực hiện ở giữa những người ngoại quốc qua chức vụ của ông. 20. Sau khi nghe những điều đó, họ bắt đầu tôn ngợi Đức Chúa Trời. Rồi họ nói với ông: “Anh ơi! Anh thấy đó, có hàng vạn người Do Thái đã tin; tất cả đều sốt sắng về luật pháp. 21. Họ đã nghe đồn về anh rằng anh dạy những người Do Thái trong các dân ngoại phải bỏ luật Môi-se, đừng cắt bì cho con cái, và đừng tuân giữ các tục lệ nữa. 22. Chuyện gì sẽ xảy ra? Bởi vì chắc chắn họ biết anh đã đến rồi. 23. Vì vậy, hãy làm theo điều chúng tôi căn dặn. Có bốn người mắc lời khấn nguyện đang ở với chúng tôi. 24. Hãy dẫn những người nầy, làm lễ thanh tẩy cùng với họ, rồi chịu chi phí cho họ để họ cạo đầu; sau đó mọi người sẽ biết rằng những tin đồn về anh là không đúng, nhưng anh vẫn tuân giữ luật pháp. 25. Còn về phần những người ngoại quốc đã tin, chúng tôi đã viết thư cho họ biết về quyết định của chúng tôi, đó là: Không ăn vật cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngạt, và đừng gian dâm.”
  8. Ngày hôm sau, Phao-lô đã dẫn những người này, cùng làm lễ thanh tẩy với họ; rồi ông vào trong đền thờ, báo cáo ngày nào thời kỳ thanh tẩy sẽ hoàn tất cho tới khi lễ vật được dâng cho mỗi một người trong số họ.
  9. Khi bảy ngày sắp hết, những người Do Thái quê ở A-sia thấy Phao-lô trong đền thờ nên xúi giục đám đông tra tay bắt ông. 28. Họ la lớn: “Quý vị, những người Y-sơ-ra-ên, làm ơn giúp! Đây là kẻ đã giảng dạy khắp nơi, chống lại dân tộc, luật pháp và cả nơi nầy. Hơn thế nữa, nó còn dẫn những người Hy Lạp vào trong đền thờ, và làm ô uế nơi thánh nầy.”
  10. Bởi vì trước đó họ đã thấy Trô-phim, một người Ê-phê-sô, cùng với Phao-lô trong thành phố, cho nên họ tưởng rằng Phao-lô đã dẫn người đó vào trong đền thờ. 30. Cả thành đều náo động, dân chúng chạy lại. Họ bắt Phao-lô kéo ra khỏi đền thờ, rồi lập tức đóng các cửa lại.
  11. Sau đó họ tìm cách giết ông, viên chỉ huy đội quân đồn trú được báo cáo rằng cả thành Giê-ru-sa-lem đang nổi loạn. 32. Ngay lập tức, ông đem quân lính và sĩ quan xông vào họ. Khi thấy viên chỉ huy và binh lính, họ ngừng đánh Phao-lô. 33. Viên chỉ huy đến gần, bắt Phao-lô và ra lệnh trói ông lại bằng hai dây xích, rồi hỏi họ: “Ông là ai và đã làm những việc gì?” 34. Tuy nhiên, từ trong đám đông, người kêu lên thể nầy, kẻ la lên thể khác; viên chỉ huy không thể biết được điều gì đã gây nên cuộc rối loạn, cho nên đã ra lệnh giải ông về đồn.
  12. Lúc Phao-lô đến trước những bậc thềm, quân lính phải khiêng ông đi, bởi vì đám đông quá hung bạo. 36. Đoàn dân kéo theo sau, hét lên: “Hãy giết hắn đi!” 37. Khi sắp được đem vào đồn, Phao-lô nói với viên chỉ huy: “Tôi có thể nói với ông đôi lời không?” Viên chỉ huy hỏi: “Ngươi biết nói tiếng Hy Lạp sao? 38. Như vậy, ngươi không phải là tên Ai Cập kia, trước đây đã nổi loạn, rồi kéo bốn nghìn kẻ giết người vào nơi hoang mạc sao?”
  13. Nhưng Phao-lô đã trả lời: “Tôi là dân Do Thái, quê tại Tạt-sơ, xứ Si-li-si, công dân của một thành phố quan trọng. Xin hãy cho phép tôi nói với dân chúng.” 40. Khi đã được phép rồi, Phao-lô đứng trên bậc thềm, giơ tay ra hiệu cho dân chúng. Khi mọi người yên lặng, ông nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ rằng:

 

22

  1. “Thưa các ông, các anh, và các cha! Xin hãy nghe sự biện hộ của tôi với quý vị!” 2. Khi nghe ông nói với họ bằng tiếng Hê-bơ-rơ, họ im lặng hơn. Ông nói:
  2. “Tôi là một người Do Thái, sinh tại Tạt-sơ thuộc Si-li-si, nhưng được trưởng dưỡng trong thành phố nầy, học dưới chân của Ga-ma-li-ên. Tôi được giáo dục đúng theo luật pháp của tổ tiên chúng ta, đầy lòng nhiệt thành với Đức Chúa Trời, cũng giống như tất cả quý vị hôm nay. 4. Tôi đã từng bách hại những người theo đạo nầy cho đến chết; bắt trói và bỏ tù bất kể đàn ông hay đàn bà. 5. Về điều này, vị thượng tế và tất cả trưởng lão làm chứng cho tôi; tôi đã nhận từ họ những bức thư gửi cho các anh em tại Đa-mách, và tôi đã đi đến đó để bắt trói những người tại đó, dẫn về Giê-ru-sa-lem để trừng trị.
  3. Tuy nhiên, có một chuyện đã xảy ra cho tôi trên hành trình. Vào khoảng giữa trưa, khi gần đến Đa-mách, thình lình có một ánh sáng chói lòa từ trời chiếu xuống bao phủ tôi. 7. Tôi đã ngã xuống đất và nghe có một tiếng phán với tôi: ‘Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ! Tại sao ngươi bắt bớ Ta?’ 8. Tôi thưa: ‘Lạy Chúa! Chúa là ai?’ Ngài phán: ‘Ta là Jesus người Na-xa-rét mà ngươi đang bắt bớ.’ 9. Những người đi với tôi nhìn thấy ánh sáng đó, nhưng họ không nghe tiếng của Đấng đã phán với tôi. 10. Sau đó tôi đã thưa: ‘Lạy Chúa! Con phải làm gì?’ Và rồi Chúa nói với tôi: ‘Hãy đứng dậy, đi đến Đa-mách, tại đó con sẽ được hướng dẫn cho biết điều Ta chỉ định cho con phải làm.’ 11. Vì ánh sáng chói lòa, trong lúc tôi không thể thấy, các bạn đồng hành đã nắm tay dắt tôi, và tôi đã đến Đa-mách. 12. Sau đó, có một người tên là A-na-nia, là một người mộ đạo theo luật pháp, được tất cả người Do Thái sống tại đó làm chứng tốt. 13. Ông đã đến với tôi, đứng bên cạnh tôi, rồi nói với tôi: ‘Anh Sau-lơ! Hãy nhận thị lực trở lại!’ Ngay chính giờ đó, tôi nhìn lên và thấy ông ta. 14. Rồi ông nói: ‘Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã chọn anh để biết ý muốn của Ngài, để thấy Đấng Công Chính, và nghe tiếng phán từ miệng của Ngài. 15. Bởi vì anh sẽ làm nhân chứng cho Ngài với tất cả mọi người về những điều anh đã thấy và nghe. 16. Bây giờ, tại sao anh còn chần chờ? Hãy trỗi dậy, nhận báp-têm, thanh tẩy tội lỗi của mình, và kêu cầu danh của Ngài.’
  4. Chuyện xảy ra sau đó lúc tôi trở về Giê-ru-sa-lem; đang khi cầu nguyện trong đền thờ, tôi xuất thần 18. và thấy Ngài đang phán với tôi rằng: ‘Hãy vội vã, nhanh chóng ra khỏi Giê-ru-sa-lem, vì họ sẽ không chấp nhận lời làm chứng của con về Ta!’ 19. Tôi thưa: ‘Lạy Chúa! Chính họ biết con đã từng bỏ tù và đánh đòn những người tin Chúa trong các hội đường. 20. Và khi máu của Ê-tiên, nhân chứng của Ngài, bị đổ ra, thì chính con cũng đứng bên cạnh, tán đồng, và canh giữ trang phục của những người giết ông ta.’ 21. Ngài phán với tôi: ‘Hãy đi, bởi vì Ta sẽ sai con đến cùng những người ngoại quốc ở xa.’”
  5. Họ chịu lắng nghe ông nói cho đến lời nầy, thì họ cất lớn giọng của họ nói rằng: “Hãy diệt hạng người đó khỏi mặt đất! Nó chẳng đáng sống!” 23. Sau đó, họ hò hét, tung áo xống, vẩy bụi lên trời. 24. Viên chỉ huy ra lệnh dẫn ông vào trong đồn, dùng roi tra khảo ông để biết tại sao dân chúng la hét chống lại ông như vậy.
  6. Tuy nhiên, khi họ lấy dây căng ông ra, Phao-lô đã nói với viên đội trưởng đang đứng gần đó: “Có hợp pháp để các ông đánh đòn một người, là một công dân Rô-ma, khi chưa thành án sao?” 26. Nghe như vậy, viên đội trưởng đã trình với vị chỉ huy rằng: “Ông định làm gì đây? Vì người nầy là một công dân Rô-ma.” 27. Sau đó vị chỉ huy đã đến gặp Phao-lô rồi hỏi: “Hãy nói cho tôi, anh có phải là công dân Rô-ma không?” Ông đã trả lời: “Phải.” 28. Vị chỉ huy nói: “Tôi đã mua quyền công dân này với giá rất cao.” Nhưng Phao-lô nói rằng: “Còn tôi thì có lúc mới sinh.” 29. Vì vậy, ngay lập tức, những kẻ chuẩn bị tra khảo ông đều bỏ đi, và vị chỉ huy rất sợ hãi khi biết rằng người mà mình đã trói đó chính là một công dân Rô-ma.
  7. Hôm sau, muốn biết chắc tại sao ông bị người Do Thái tố cáo, vị chỉ huy đã mở trói cho Phao-lô, và ra lệnh cho các trưởng tế cùng toàn thể Hội đồng họp lại. Ông dẫn Phao-lô, rồi đặt ở giữa họ.

 

23

  1. Sau đó Phao-lô nhìn chăm vào Hội Đồng, rồi nói: “Thưa quý ông! Thưa các anh em! Tôi đã sống với cả một lương tâm trong sáng trước mặt Đức Chúa Trời cho đến ngày nay.”
  2. Lúc đó, Thượng tế A-na-nia đã truyền cho những người đứng gần Phao-lô vả miệng ông. 3. Phao-lô nói với người rằng: “Hỡi bức tường tô trắng kia! Đức Chúa Trời sẽ đánh ông. Ông ngồi để xử đoán tôi theo luật pháp, nhưng lại vi phạm luật pháp, ra lệnh để họ đánh tôi!” 4. Những người đứng gần đó nói: “Ngươi nguyền rủa thượng tế của Đức Chúa Trời như vậy sao?” 5. Phao-lô trả lời: “Thưa anh em, tôi không biết ông ấy là thượng tế; bởi vì có chép rằng: ‘Đừng nói xấu lãnh đạo của dân mình.’ ”
  3. Phao-lô nhận biết rằng có một nhóm bao gồm những người Sa-đu-sê, và một nhóm khác bao gồm những người Pha-ri-si, cho nên ông đã nói lớn trong Hội Đồng: “Thưa các anh em, tôi là người Pha-ri-si, con của những người Pha-ri-si. Chính vì niềm hy vọng về sự sống lại từ cõi chết mà tôi bị đem ra xét xử.” 7. Sau khi ông nói xong điều này, có một cuộc tranh luận giữa những người Pha-ri-si và những người Sa-đu-sê đã nổi lên, đám đông bị phân chia. 8. Bởi vì những người Sa-đu-sê nói rằng không có sự sống lại, cũng không có thiên sứ hay thần linh gì cả; còn những người Pha-ri-si thì lại thừa nhận tất cả. 9. Thế rồi cuộc cãi vã to tiếng đã nổi lên. Vài học giả giáo luật của phái Pha-ri-si đã đứng dậy phản bác mạnh mẽ nói: “Chúng tôi không tìm thấy người nầy có tội ác gì. Biết đâu là thần linh hoặc thiên sứ đã nói với người?” 10. Cuộc tranh luận càng lúc càng trở nên gay gắt hơn. Vị chỉ huy không muốn cho Phao-lô bị họ xé xác, cho nên đã ra lệnh cho binh sĩ kéo xuống, dùng vũ lực đem ông ra khỏi họ, rồi đem ông vào đồn.
  4. Qua đêm sau, Chúa đứng bên Phao-lô và nói: “Hãy can đảm! Con đã làm chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem thể nào thì con cũng phải làm chứng cho Ta tại Rô-ma thể ấy.”
  5. Đến sáng, những người Do Thái đã lập mưu và thề với nhau rằng họ sẽ không ăn không uống cho đến khi giết được Phao-lô. 13. Có hơn bốn mươi người đã dự vào âm mưu này. 14. Họ là những người đã đến với các thượng tế và các trưởng lão, nói rằng: “Chúng tôi đã thề với nhau không ăn gì cả cho đến khi giết được Phao-lô. 15. Vì vậy bây giờ, xin quý vị và Hội Đồng hãy yêu cầu viên chỉ huy để ông giải hắn xuống, giả vờ như quý vị muốn điều tra về trường hợp của hắn cho kỹ càng hơn; còn chúng tôi thì chuẩn bị sẵn sàng để giết hắn trước khi hắn đến đây.”
  6. Tuy nhiên con trai của chị Phao-lô biết được âm mưu phục kích, cho nên đã đến, rồi vào trong đồn để báo cho Phao-lô. 17. Sau đó Phao-lô đã cho gọi một trong những viên đội trưởng, rồi nói: “Hãy đem chàng thanh niên nầy đến với vị chỉ huy, anh ta có việc muốn trình báo với ngài.” 18. Vì vậy, viên đội trưởng đã đem chàng đi, dẫn đến vị chỉ huy, rồi nói: “Tù nhân Phao-lô đã gọi tôi, yêu cầu tôi dẫn thanh niên nầy đến với ngài, bởi vì anh ta có điều muốn báo với ngài.” 19. Vị chỉ huy nắm tay của chàng thanh niên, dẫn đến một nơi riêng tư, rồi bắt đầu hỏi: “Cậu có việc gì cần trình báo cho tôi?” 20. Chàng nói: “Những người Do Thái đã đồng mưu xin ngài giải Phao-lô xuống Hội Đồng vào ngày mai, như là để điều tra ông cho kỹ càng hơn. 21. Tuy nhiên xin ngài đừng để bị thuyết phục bởi họ, bởi vì có hơn bốn mươi người trong bọn họ đang nằm chờ phục kích ông ấy. Họ đã thề với nhau không ăn uống gì cả cho đến khi họ giết được ông ấy. Bây giờ, họ đã sẵn sàng, chỉ chờ ngài hứa mà thôi.” 22. Do đó, vị chỉ huy đã cho chàng trai về, và căn dặn: “Đừng cho ai biết ngươi đã báo điều này cho ta!”
  7. Viên chỉ huy trưởng đã gọi hai đội trưởng và dặn: “Hãy chuẩn bị sẵn sàng hai trăm bộ binh để đi đến Sê-sa-rê, cùng với bảy mươi kỵ binh và hai trăm lính cầm giáo, khởi hành vào giờ thứ ba trong đêm. 24. Hãy chuẩn bị yên cương cho Phao-lô cỡi, để họ đưa ông đến Tổng đốc Phê-lít một cách an toàn.”
  8. Ông cũng viết cho tổng đốc một văn thư với hình thức như sau:
  9. “Cơ-lốt Ly-si-a kính gửi ngài Tổng đốc Phê-lít. Xin kính chào ngài! 27. Người Do Thái đã bắt người nầy, và khi họ sắp sửa giết, thì tôi đã đem quân đến giải thoát, bởi vì biết rằng đương sự cũng là một công dân Rô-ma. 28. Để hiểu rõ lý do họ tố cáo đương sự, tôi đã giải đương sự đến Hội Đồng của họ. 29. Tôi tìm thấy đương sự bị tố cáo về những vấn đề liên quan đến giáo luật của họ, nhưng không phạm một tội nào đáng chết hay đáng bị gông cùm cả. 30. Sau đó, tôi được báo rằng có một âm mưu ám sát đương sự cho nên tôi lập tức giải đương sự đến trước ngài, và tôi cũng ra lệnh cho các nguyên cáo phải trình bày lời cáo buộc người này trước mặt ngài.”
  10. Vì vậy, những người lính tuân lệnh đã được truyền cho họ, giải Phao-lô và đem ông đi trong ban đêm đến An-ti-pa-tri. 32. Ngày hôm sau, kỵ binh tiếp tục đi với ông, còn họ thì trở về đồn. 33. Khi các kỵ binh đến Sê-sa-rê, họ đã trao bức thư cho tổng đốc và trình Phao-lô với ông. 34. Sau khi đã đọc, tổng đốc hỏi Phao-lô thuộc tỉnh nào; khi biết ông là người Si-li-si 35. thì nói: “Khi nào các nguyên cáo đến đây, ta sẽ nghe đầy đủ việc của ngươi”, và rồi truyền lệnh canh giữ Phao-lô trong dinh của Hê-rốt.

 

24

  1. Năm ngày sau, Thượng tế A-na-nia đã đến, cùng với vài trưởng lão, và một luật sư tên Tẹt-tu-lu, để khiếu nại Phao-lô với tổng đốc.
  2. Sau khi Phao-lô được gọi vào, Tẹt-tu-lu bắt đầu tố cáo như sau: “Nhờ ngài mà chúng tôi nhận được nhiều bình an; nhờ viễn tượng của ngài mà nhiều cải cách tốt đẹp đã được thực hiện cho dân tộc nầy. 3. Thưa ngài Phê-lít, bất cứ tại đâu và bất cứ lúc nào, chúng tôi cũng đều ghi nhận những điều đó với lòng tri ân sâu xa. 4. Tuy nhiên để khỏi làm phiền ngài thêm nữa, tôi xin ngài lấy lòng khoan nhân mà nghe lời trình bày ngắn gọn của chúng tôi: 5. Thật vậy, chúng tôi đã gặp người nầy như là một loài ôn dịch đã khuấy rối và gây xích động giữa vòng những người Do Thái khắp thế giới, và hắn cũng là một lãnh đạo của tà giáo Na-xa-rét. 6. Thậm chí hắn cố gắng làm ô uế đền thờ, cho nên chúng tôi đã bắt hắn [và dự định xử theo luật của chúng tôi]. 7. [Tuy nhiên, Ly-si-a, vị chỉ huy, với một lực lượng rất lớn đã đến, bắt hắn khỏi tay của chúng tôi,] 8. [rồi ra lệnh rằng những người tố cáo phải đến gặp ngài.] Xin chính ngài hãy tra hỏi hắn để có thể biết mọi điều mà chúng tôi tố cáo hắn.” 9. Sau đó, những người Do Thái cũng đồng tình, quả quyết những điều này là đúng như vậy.
  3. Sau khi tổng đốc ra hiệu cho Phao-lô phúc đáp, ông nói: “Tôi biết ngài làm thẩm phán trong nước nầy đã lâu năm, cho nên tôi rất vui được tự biện hộ về những điều này. 11. Như ngài có thể biết, tôi vừa lên Giê-ru-sa-lem chưa được mười hai ngày để thờ phượng. 12. Người ta không hề thấy tôi tranh cãi với ai, hay xúi giục dân chúng nổi loạn, hoặc trong đền thờ, hoặc nơi hội đường, hay là trong thành phố. 13. Ngay bây giờ, họ cũng không thể đưa ra một bằng chứng nào cho ngài về điều mà họ đã tố cáo tôi. 14. Tuy nhiên tôi thừa nhận với ngài điều nầy: Đó là tôi theo đạo mà họ gọi là tà giáo. Tôi thờ phượng Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi. Tôi tin mọi điều được chép trong luật pháp và các tiên tri. 15. Tôi có một hy vọng nơi Đức Chúa Trời cũng như chính họ vậy: Đó là trông chờ sự sống lại của cả người công chính lẫn người bất chính. 16. Cũng chính vì điều nầy, trong mọi sự, tôi cố gắng để có được một lương tâm không bị cáo trách trước Đức Chúa Trời và trước loài người. 17. Nhiều năm đã trôi qua, bây giờ tôi trở về đất nước, đem theo vật cứu trợ và những sinh lễ. 18. Họ gặp tôi đang làm lễ thanh tẩy trong đền thờ, chứ không có tụ tập đám đông hoặc gây rối loạn gì cả. Tuy nhiên, có một vài người Do Thái từ A-sia, 19. họ là những người đáng lý phải gặp ngài hôm nay để tố cáo tôi, nếu họ tìm thấy tôi có điều gì đáng để tố cáo; 20. còn nếu không, chính những người ở đây hãy nói rằng họ đã thấy điều gì bất chính trong tôi khi tôi đang đứng trước Hội Đồng. 21. Nếu có, chỉ là một lời mà tôi đã thốt lên khi đứng ở giữa họ: ‘Chỉ vì sự sống lại của những người chết mà hôm nay tôi bị xử đoán trước mặt các ông.’”
  4. Tuy nhiên, Phê-lít biết rất chính xác nhiều điều về đạo, cho nên đã trì hoãn, ông nói: “Khi nào chỉ huy Ly-si-a xuống, ta sẽ xem xét việc nầy cho các ngươi.” 23. Ông ra lệnh cho đội trưởng, là người đang canh giữ Phao-lô, dễ dãi hơn hơn với ông, và đừng ngăn cấm thân nhân của ông đến chăm sóc ông. 24. Vài ngày sau, Phê-lít cùng với Đơ-ru-si, vợ của ông, là một phụ nữ Do Thái, đã đến; ông mời Phao-lô để nghe Phao-lô nói về đức tin trong Đấng Christ Jesus. 25. Tuy nhiên khi Phao-lô nói về sự công chính, sự tiết độ và sự phán xét sẽ đến, thì Phê-lít run sợ và nói: “Bây giờ ông có thể lui; khi nào có dịp, tôi sẽ gọi ông trở lại!” 26. Đồng thời, Phê-lít cũng hy vọng Phao-lô đút lót tiền cho mình, cho nên thường đòi Phao-lô đến và nói chuyện với ông.
  5. Hai năm trôi qua, Pốt-tiu Phê-tu kế vị Phê-lít. Vì muốn được lòng dân Do Thái nên sau khi Phê-lít đi, ông đã giam Phao-lô vào ngục.

 

25

  1. Sau khi đến nhiệm sở được ba ngày, Phê-tu từ Sê-sa-rê đi lên Giê-ru-sa-lem. 2. Các thượng tế và các lãnh đạo Do Thái đã trình bày với ông, đã tố cáo Phao-lô, và họ nài xin, 3. khẩn nài ông một ân huệ đó là ông hãy cho giải Phao-lô trở về Giê-ru-sa-lem – vì họ định phục kích giết Phao-lô dọc đường. 4. Tuy nhiên Phê-tu đã trả lời rằng Phao-lô đang bị giam tại Sê-sa-rê, và chính ông sắp sửa đi. 5. Ông nói: “Vì vậy, những người có thẩm quyền trong vòng các ngươi hãy xuống đó; nếu người ấy có tội gì, hãy để họ tố cáo người.”
  2. Sau đó ông đã ở lại với họ không hơn tám hoặc mười ngày, rồi ông đi xuống Sê-sa-rê. Ngày hôm sau, ông ngồi tại tòa án và ra lệnh dẫn Phao-lô vào. 7. Khi Phao-lô vừa đến thì những người Do Thái từ Giê-ru-sa-lem xuống, đã vây quanh ông, rồi dùng nhiều lời tố cáo nặng nề để buộc tội, nhưng họ không chứng minh được. 8. Phao-lô đã biện hộ: “Tôi không phạm tội nào chống lại luật pháp của người Do Thái, hoặc chống lại đền thờ, hay chống lại Sê-sa.” 9. Tuy nhiên bởi vì Phê-tu muốn được lòng người Do Thái, cho nên đã hỏi Phao-lô rằng: “Anh có muốn lên Giê-ru-sa-lem để ta xét xử về những cáo buộc nầy hay không?”
  3. Sau đó Phao-lô đã trả lời: “Tôi đang đứng trước tòa án của Sê-sa, là nơi tôi phải chịu xét xử; bởi vì tôi không có tội gì với người Do Thái cả, như ngài đã biết rất rõ. 11. Vì vậy, nếu thật sự tôi đã làm điều gì sai trái và đáng chết, tôi không từ chối chết. Tuy nhiên, nếu họ không có chứng cớ gì để buộc tội tôi, thì không ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài đến Sê-sa.”
  4. Sau khi Phê-tu bàn luận với Hội Đồng, ông trả lời: “Ngươi đã khiếu nại lên Sê-sa, ngươi sẽ đến hầu Sê-sa.”
  5. Vài ngày sau, vua Ạc-ríp-pa và Bê-rê-nít đến Sê-sa-rê để chào Phê-tu. 14. Bởi vì họ ở lại đó nhiều ngày cho nên Phê-tu đã trình những việc liên quan đến Phao-lô với vua, ông nói rằng: “Tại đây có một tù nhân mà Phê-lít đã để lại. 15. Lúc tôi ở tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng tế và các trưởng lão của người Do Thái đã buộc tội người này và yêu cầu tôi kết án. 16. Tôi đã trả lời họ rằng người Rô-ma không có thông lệ giao nộp một bị cáo trước khi đương sự có dịp đối mặt với các nguyên cáo để biện hộ về lời buộc tội chống lại mình. 17. Vì vậy, sau khi họ đến đây, không một chút trì hoãn, ngay hôm sau tôi đã ngồi nơi tòa án và ra lệnh dẫn đương sự đến. 18. Các nguyên cáo đều đứng trước tòa, nhưng không thể cáo buộc đương sự được một tội nào như tôi tưởng. 19. Nhưng họ chỉ tranh luận với hắn vài vấn đề liên hệ trong tôn giáo của họ, và về một Jesus nào đó đã chết, nhưng Phao-lô quả quyết rằng người đó đang sống. 20. Tôi bối rối bởi vì tôi không biết về vấn đề nầy, cho nên tôi đã hỏi hắn có muốn đến Giê-ru-sa-lem để được xét xử vụ nầy tại đó hay không. 21. Nhưng Phao-lô đã khiếu nại, xin được giam giữ, chờ cho chính hoàng đế quyết định. Tôi đã ra lệnh giam hắn cho đến khi tôi có thể gởi hắn đến Sê-sa.” 22. Sau đó Ạc-ríp-pa đã nói với Phê-tu: “Chính ta cũng muốn nghe người.” Phê-tu đáp: “Ngày mai vua sẽ nghe hắn.”
  6. Vì vậy, ngày hôm sau, vua Ạc-ríp-pa và Bê-rê-nít đã đến một cách thật long trọng, rồi vào sảnh đường dành cho quan khách, cùng với các vị chỉ huy và những nhân vật quan trọng trong thành phố. Phê-tu truyền lệnh dẫn Phao-lô vào.
  7. Phê-tu nói: “Tâu vua Ạc-ríp-pa cùng với tất cả quý vị hiện diện tại đây với chúng tôi. Như quý vị đã thấy, đây là người mà rất nhiều người Do Thái, cả tại Giê-ru-sa-lem cũng như tại đây, đã nài xin tôi và đã kêu gào rằng không để cho đương sự được sống nữa. 25. Tuy nhiên tôi biết đương sự không làm điều gì đáng chết; và chính đương sự cũng đã khiếu nại việc nầy lên hoàng đế, cho nên tôi quyết định sẽ gởi đi. 26. Tuy nhiên tôi không có điều gì xác quyết về đương sự để trình lên chủ của tôi; vì vậy tôi đem đương sự đến trước mặt tất cả quý vị, và đặc biệt là trước mặt vua Ạc-ríp-pa, để sau khi điều tra xong, tôi có dữ kiện mà viết; 27. bởi vì tôi nghĩ rằng giải một tù nhân mà không nói rõ tội trạng thì thật là vô lý.”

 

26

  1. Sau đó Vua Ạc-ríp-pa đã nói với Phao-lô: “Ngươi được phép biện hộ cho chính mình.” Sau đó Phao-lô đã đưa tay ra, và bắt đầu biện hộ:
  2. “Tâu Vua Ạc-ríp-pa! Thật là may mắn cho tôi hôm nay được hiện diện trước mặt vua, để tự biện hộ về tất cả những điều mà người Do Thái đã cáo buộc tôi; 3. đặc biệt là vì vua biết rõ mọi phong tục cũng như những vấn đề tranh cãi của người Do Thái. Do đó, xin vua hãy kiên nhẫn nghe tôi. 4. Thật vậy, nếp sống của tôi từ lúc còn thanh niên – bắt đầu từ quốc gia của tôi, cũng như tại Giê-ru-sa-lem – tất cả đều được người Do Thái biết. 5. Nếu họ muốn tường trình, thì điểm đầu tiên mà họ biết về tôi đó là tôi đã sống như một người Pha-ri-si, là phái nghiêm nhặt nhất trong tôn giáo của chúng tôi. 6. Tôi đứng đây để bị xét xử ngay lúc nầy, đó là vì niềm hy vọng nơi lời hứa mà Đức Chúa Trời đã lập với tổ phụ của chúng tôi. 7. Chính vì lời hứa đó mà mười hai chi tộc của chúng tôi đã lấy lòng nhiệt thành phục vụ ngày và đêm, và hy vọng để được hưởng. Tâu vua! Chính vì niềm hy vọng đó mà tôi bị người Do Thái tố cáo. 8. Nếu Đức Chúa Trời làm cho người chết sống lại, tại sao quý vị tại đây nghĩ rằng đó là điều không thể tin được?
  3. Thật vậy, chính tôi đã nghĩ rằng tôi phải làm nhiều việc để chống lại danh Jesus, người Na-xa-rét. 10. Tôi đã làm như vậy tại Giê-ru-sa-lem. Dựa vào thẩm quyền mà tôi đã nhận nơi các thượng tế, tôi đã tống giam rất nhiều thánh đồ trong các nhà tù, sau đó tôi cũng đã bỏ phiếu tán đồng để đưa họ vào chỗ chết. 11. Tôi thường trừng phạt họ trong các hội đường ở khắp mọi nơi, rồi tôi buộc họ phạm thượng. Trong cơn cuồng nộ quá mức chống lại họ, tôi đã bách hại họ đến tận các thành phố ngoại quốc.
  4. Với nhận thức như vậy, cùng với thẩm quyền và sự ủy nhiệm của các thượng tế, tôi đã đi đến Đa-mách. 13. Trên đường đi, vào lúc giữa trưa, tâu vua, tôi thấy có một ánh sáng từ trời, sáng rực như mặt trời, chói lòa chung quanh tôi, và những người cùng đi. 14. Tất cả chúng tôi đã ngã xuống đất, tôi nghe có một giọng nói phán với tôi bằng tiếng Hê-bơ-rơ, rằng: ‘Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ! Tại sao ngươi bắt bớ Ta? Bởi vì đá vào mũi nhọn thì thật khó chịu cho ngươi.’ 15. Và rồi tôi thưa: ‘Thưa Chúa! Ngài là ai?’ Chúa phán: ‘Ta là Jesus mà ngươi đang bách hại. 16. Nhưng hãy trỗi dậy và đứng trên chân của ngươi, bởi vì Ta đã hiện ra với ngươi chính vì mục đích này, là để lập ngươi làm đầy tớ và làm nhân chứng về những điều ngươi đã thấy nơi Ta, và về những điều Ta sẽ tỏ cho ngươi biết. 17. Ta sẽ giải cứu ngươi khỏi dân nầy và những người ngoại quốc, là nơi Ta sẽ sai ngươi đến 18. để mở mắt của họ, để chuyển họ từ tối tăm qua ánh sáng, từ quyền lực của Sa-tan đến cùng Đức Chúa Trời; để nhờ đức tin nơi Ta, họ có thể nhận được sự tha tội và được thừa kế cùng với các thánh đồ.’
  5. Tâu Vua Ạc-ríp-pa! Vì vậy, tôi không dám bất tuân một khải tượng thiên thượng; 20. nhưng tôi đã giảng trước hết cho những người tại Đa-mách, cho cả Giê-ru-sa-lem và tất cả vùng Giu-đê, rồi cho những người ngoại quốc, hãy ăn năn và quay về với Đức Chúa Trời, và hãy thực hiện những công việc xứng đáng với sự ăn năn. 21. Chính vì những việc này, người Do Thái đã bắt tôi trong đền thờ, và dự định giết tôi. 22. Tôi đã nhận sự cứu giúp của Đức Chúa Trời cho đến ngày nay, và vì vậy, tôi đang đứng tại đây để làm chứng cho những nhân vật trọng đại cũng như những người thấp hèn, tôi không nói điều gì khác hơn là điều mà cả các tiên tri và Môi-se đã nói phải xảy ra: 23. Tức là Đấng Christ trước hết phải chịu thương khó, rồi sống lại từ cõi chết, và Ngài rao truyền ánh sáng cho cả dân Do Thái cũng như cho những người ngoại quốc.”
  6. Khi ông đang nói những điều này để tự biện hộ, thì Phê-tu nói thật lớn: “Phao-lô! Ngươi mất trí rồi! Ngươi đã học quá nhiều cho nên loạn trí!” 25. Nhưng Phao-lô đã trả lời: “Thưa ngài Phê-tu! Tôi không loạn trí đâu, nhưng tôi đang nói những lời chân thật và minh mẫn. 26. Bởi vì đức vua biết rõ những điều nầy cho nên tôi đã mạnh dạn tâu với người; vì tôi tin chắc rằng không có điều nào mà đức vua không biết, bởi vì mọi việc đó đã không được thực hiện trong một nơi xó xỉnh. 27. Tâu vua Ạc-ríp-pa! Vua có tin các tiên tri không? Tôi biết ngài tin!”
  7. Vua Ạc-ríp-pa nói với Phao-lô: “Chỉ trong một thời gian rất ngắn, ngươi tưởng có thể thuyết phục được ta trở thành một Cơ Đốc nhân hay sao.” 29. Phao-lô tâu: “Dù cho dài hay ngắn, tôi cầu xin Đức Chúa Trời rằng: Không phải chỉ có ngài, nhưng tất cả những người nghe tôi hôm nay đều trở nên giống như tôi, ngoại trừ cái xiềng nầy mà thôi!”
  8. Sau đó vua, tổng đốc, Bê-rê-nít, và những người cùng ngồi với họ đã đứng dậy. 31. Khi họ ra về, họ nói với nhau: “Người nầy không đáng để bị giết hay mang gông cùm.” 32. Sau đó Vua Ạc-ríp-pa nói với Phê-tu: “Nếu chưa khiếu nại lên Sê-sa thì người nầy có thể tha .”

 

 

27

  1. Lúc nầy sau khi đã quyết định rằng chúng tôi sẽ đi thuyền qua Y-ta-li, họ đã giao Phao-lô và một số tù nhân khác cho một viên đội trưởng tên là Giu-lơ, thuộc binh đoàn Au-gút-tơ. 2. Chúng tôi xuống một chiếc tàu từ A-tra-mít sắp sửa đi đến một vài nơi của A-sia, và rồi chúng tôi đã ra khơi. Cùng đi với chúng tôi có A-ri-tạc, một người Ma-xê-đô-nia ở Tê-sa-lô-ni-ca.
  2. Ngày hôm sau, chúng tôi đến Si-đôn. Giu-lơ đối xử tử tế với Phao-lô, đã cho phép ông đến thăm những người bạn, và nhận được sự chăm sóc. 4. Từ đó, chúng tôi ra khơi, giong buồm nương theo Chíp-rơ, bởi vì gió ngược. 5. Và sau khi đã đi dọc theo duyên hải của Si-li-si và Pam-phi-ly, chúng tôi vượt biển đến Mi-ra, thuộc Ly-sia. 6. Tại đó, viên đội trưởng thấy có một chiếc tàu từ A-léc-xan-đria sẽ đi Y-ta-li, cho nên đã đem chúng tôi xuống tàu đó. 7. Trong suốt nhiều ngày, chúng tôi đi rất chậm và phải khó khăn lắm mới đến được Cơ-nít. Bởi vì gió ngược không cho phép tàu tiếp tục đi xa hơn, cho nên chúng tôi đã giong buồm nương theo Cơ-rết, qua khỏi Sa-môn. 8. Chúng tôi đã đi dọc theo bờ, và với nhiều khó khăn, đã đến được một nơi gọi là Mỹ Cảng, gần thành phố La-sê.
  3. Vì đã mất rất nhiều thời gian, thậm chí kỳ kiêng ăn đã qua rồi, và vì cuộc hải hành lúc nầy trở nên nguy hiểm, cho nên Phao-lô đã khuyên họ 10. rằng: “Thưa các ông! Tôi thấy cuộc hành trình sắp đến sẽ nguy hiểm và sẽ gây nhiều mất mát, không phải chỉ cho hàng hóa và chiếc tàu, nhưng cả đến tính mạng của chúng ta nữa.” 11. Tuy nhiên, viên đội trưởng bị thuyết phục bởi người lái tàu và chủ tàu hơn là những điều mà Phao-lô đã nói.
  4. Bởi vì hải cảng đó không phù hợp để qua mùa đông, đa số đã đồng ý nên rời khỏi đó; và bằng cách nào đó đến được Phê-nít, một hải cảng của Cơ-rết, nhìn về hướng tây nam và tây bắc, để qua mùa đông tại đó.
  5. Khi gió nam bắt đầu thổi nhẹ, họ tưởng có thể thực hiện được kế hoạch, cho nên đã nhổ neo và đi dọc theo duyên hải Cơ-rết. 14. Tuy nhiên không bao lâu, có một trận cuồng phong gọi là Ơ-ra-qui-lôn đã quật xuống. 15. Sau đó tàu bị cuốn đi – bởi vì không thể đương đầu nổi với sức gió cho nên chúng tôi để nó trôi giạt. 16. Khi tàu trôi đến phía dưới của một hòn đảo nhỏ, được gọi là Cơ-lô-đa, chúng tôi phải khó nhọc lắm mới kiểm soát được chiếc xuồng cứu sinh. 17. Sau đó, họ đã kéo tàu lên, và rồi bắt đầu dùng dây nịt chặc con tàu. Sau đó vì sợ bị mắc cạn trên bãi Si-rơ-tơ, cho nên họ đã hạ nó xuống, vì vậy chúng tôi bị trôi dạt. 18. Ngày hôm sau, chúng tôi bị bão dồi dập thật dữ dội, cho nên họ đã bắt đầu ném hàng hóa. 19. Đến ngày thứ ba, họ tự tay vất bỏ những trang thiết bị của chiếc tàu. 20. Trong suốt nhiều ngày, không có mặt trời cũng chẳng có ngôi sao nào xuất hiện, cơn bão đang ập trên chúng tôi không suy giảm. Kể từ lúc đó tất cả đánh mất hy vọng rằng chúng tôi sẽ được cứu.
  6. Vì họ đã không ăn trong một thời gian dài, lúc này Phao-lô đã đứng lên ở giữa họ, nói: “Thưa các ông! Thật vậy, nếu các ông đã nghe lời tôi, đừng rời khỏi Cơ-rết, chúng ta đã tránh được sự thiệt hại và mất mát nầy. 22. Nhưng bây giờ, tôi khuyên các ông hãy vui lên; bởi vì không ai trong các ông sẽ mất mạng, chỉ mất chiếc tàu mà thôi! 23. Bởi vì trong đêm qua, một thiên sứ của Đức Chúa Trời, là Đấng mà tôi thuộc về và phục vụ, đã đến bên tôi, 24. nói rằng: ‘Hỡi Phao-lô! Đừng sợ! Con phải ứng hầu trước Sê-sa; và nầy, Đức Chúa Trời đã ban cho con tất cả những người cùng đi với con.’ 25. Vì vậy, xin các ông hãy vui lên, bởi vì tôi tin chắc nơi Đức Chúa Trời rằng điều đó sẽ xảy ra đúng theo phương cách đã được truyền cho tôi. 26. Nhưng chắn chắn chúng ta sẽ tấp vào một đảo nào đó.”
  7. Đến đêm thứ mười bốn, chúng tôi vẫn lênh đênh trên biển A-đria-tích. Vào khoảng nửa đêm, các thủy thủ nghĩ rằng họ đang đến gần đất liền. 28. Họ đã dò thử, họ thấy là hai chục sải. Sau đó, khi đã đi xa thêm một ít nữa, họ dò trở lại, họ thấy là mười lăm sải. 29. Sau đó, họ sợ đụng phải những nơi có đá, nên họ đã thả bốn chiếc neo ở phía đuôi tàu, rồi mong cho trời mau sáng. 30. Tuy nhiên, các thủy thủ đã tìm cách trốn khỏi tàu, họ đã thả xuồng cứu sinh xuống biển, giả vờ đi thả neo ở trước mũi tàu. 31. Vì vậy, Phao-lô đã nói với viên đội trưởng và những người lính: “Nếu những người nầy không ở lại trong tàu, các ông sẽ không thể được cứu.” 32. Do đó những người lính đã cắt dây buộc chiếc xuồng cứu sinh, cho nó rơi xuống trôi đi.
  8. Khi ngày gần đến, Phao-lô khuyên mọi người hãy ăn. Ông nói: “Các ông đã trông đợi liên tục cho đến hôm nay là ngày thứ mười bốn, không ăn gì cả. 34. Vì vậy, tôi khuyên các ông hãy nhận thức ăn; hãy làm điều này là vì sự bảo tồn của các ông, bởi vì không có một sợi tóc nào trên đầu của các ông sẽ bị mất.” 35. Nói xong những điều nầy, ông đã lấy bánh, tạ ơn Đức Chúa Trời trước mặt mọi người, rồi bẻ ra và bắt đầu ăn. 36. Lúc đó tất cả được khích lệ, nên cũng nhận thức ăn cho chính mình. 37. Chúng tôi có tất cả hai trăm bảy mươi sáu linh hồn trong tàu. 38. Sau khi ăn no, họ ném lúa mì xuống biển để làm cho nhẹ tàu.
  9. Đến sáng ngày, họ không nhận biết đó là đất nào, nhưng họ thấy có một cái vịnh, với bãi biển, nên dự định nếu có thể được thì lái tàu vào. 40. Vì vậy, họ đã cắt neo, bỏ lại dưới biển, đồng thời tháo dây buộc các bánh lái; rồi họ giương buồm thuận theo chiều gió, đi vào bờ. 41. Tuy nhiên, con tàu chạy vào nơi có hai dòng nước và họ bị mắc cạn. Mũi tàu kẹt cứng không thể di động, còn đuôi tàu thì bị sóng mạnh đánh bể nát.
  10. Khi đó những người lính dự định sẽ giết các tù nhân để không một ai bơi đi và trốn thoát. 43. Tuy nhiên viên đội trưởng muốn cứu Phao-lô cho nên đã ngăn cản ý định này của họ. Rồi ông ra lệnh cho ai biết bơi thì nhảy xuống trước và bơi vào bờ; 44. sau đó là những người còn lại, người thì cỡi trên ván, kẻ thì trên những vật của tàu. Vì vậy, sau đó tất cả đều được lên bờ an toàn.

 

28

  1. Sau khi đã được cứu thoát, chúng tôi biết hòn đảo nầy có tên là Man-ta. 2. Dân địa phương đặc biệt bày tỏ sự tử tế với chúng tôi. Vì mưa đang đến và trời rất lạnh cho nên họ đã đốt lửa, rồi tiếp đón tất cả chúng tôi.
  2. Lúc đó Phao-lô lượm một số củi, rồi đem đặt trên đống lửa. Một con rắn độc bị nóng bò ra, đã quấn chặt vào tay của ông. 4. Dân địa phương khi thấy con vật đeo trên tay của Phao-lô, thì họ bắt đầu nói với nhau: “Người nầy thật là kẻ giết người, cho nên dù được thoát chết ngoài biển khơi, công lý vẫn không cho phép sống!” 5. Phao-lô đã rảy con vật vào trong lửa; ông không bị nguy hại gì. 6. Nhưng họ nghĩ rằng Phao-lô sẽ bị sưng lên, hoặc ngã xuống, chết ngay. Tuy nhiên sau khi chờ đợi một thời gian, họ không thấy điều gì khác thường xảy ra cho Phao-lô, họ đã đổi ý và nói rằng ông là một vị thần.
  3. Khu vực chung quanh đó là đất của vị lãnh đạo của đảo, tên là Púp-li-u. Ông đã tiếp chúng tôi, đối đãi thật hiếu khách và niềm nở trong ba ngày. 8. Sau đó, thân phụ của Púp-li-u bị sốt và bị kiết lỵ phải nằm liệt. Phao-lô đã vào gặp ông, cầu nguyện, đặt tay trên ông, rồi chữa lành cho ông. 9. Sau khi việc nầy xảy ra, những người đau yếu còn lại trên đảo đã đến và được chữa lành. 10. Dân chúng rất quý trọng chúng tôi; khi chúng tôi ra đi, họ đã đem cho chúng tôi rất nhiều đồ cần dùng.
  4. Ba tháng sau, chúng tôi ra đi trên một chiếc tàu đã từ A-léc-xan-đria đã đến trú đông tại đảo, tàu có tên Đi-ô-cua. 12. Chúng tôi đã đến Sy-ra-cu-sơ rồi ở lại đó ba ngày. 13. Từ đó, chúng tôi đi vòng để đến Rê-ghi-um. Sau đó một ngày, có gió nam nổi lên, cho nên đến ngày thứ hai, chúng tôi đã đến Pu-xô-lơ.
  5. Chúng tôi đã gặp các anh em tại đó; chúng tôi được mời ở lại với họ bảy ngày. Và rồi từ đó chúng tôi đến Rô-ma. 15. Những anh em tại đó đã nghe tin về chúng tôi nên đã đến khu chợ Áp-pi-u và Ba Lữ Quán để đón chúng tôi. Phao-lô thấy họ thì cảm tạ Đức Chúa Trời và được vững lòng.
  6. Khi chúng tôi đến Rô-ma [- viên đội trưởng đã giao các tù nhân cho vị chỉ huy ngự lâm quân của hoàng đế La Mã -], Phao-lô được phép ở riêng với một người lính để canh giữ ông.
  7. Ba ngày sau đó, Phao-lô đã cho mời các lãnh đạo của người Do Thái đến; khi họ họp lại, ông nói: “Thưa quý ông, thưa các anh em! Mặc dù tôi không làm điều gì chống lại dân tộc hoặc phong tục của tổ phụ chúng ta, tại Giê-ru-sa-lem tôi đã bị bắt và bị nộp vào tay của người La Mã. 18. Họ đã tra xét tôi, họ muốn thả cho tôi đi vì thấy tôi không làm điều gì đáng chết. 19. Tuy nhiên vì bị người Do Thái phản đối nên tôi buộc phải khiếu nại đến Sê-sa chứ tôi không có ý gì để tố cáo dân tộc của mình! 20. Chính vì lý do nầy, tôi đã xin gặp và thưa chuyện với quý vị. Chỉ vì niềm hy vọng của dân Y-sơ-ra-ên mà tôi mang xiềng xích nầy.”
  8. Rồi họ nói với ông: “Chúng tôi không nhận được thư từ nào từ Giu-đê nói về ông, và cũng không có anh em nào đã đến đây để báo cáo hay là nói xấu về ông. 22. Tuy nhiên, chúng tôi muốn nghe từ ông những suy nghĩ thật sự của ông về tà giáo này, bởi vì chúng tôi biết nó bị chống đối khắp nơi.”
  9. Sau khi đã định ngày gặp Phao-lô, rất nhiều người đã đến nhà trọ để gặp ông. Từ sáng đến chiều, ông giải thích đầy đủ cho họ về vương quốc của Đức Chúa Trời, dùng cả luật pháp của Môi-se và những lời tiên tri, cố gắng thuyết phục họ về Đức Chúa Jesus.
  10. Một số người chịu thuyết phục bởi lời mà ông đã giảng, tuy nhiên những người khác thì không tin. 25. Họ bất đồng với nhau, sắp sửa ra về nên Phao-lô nói thêm một lời nầy: “Đức Thánh Linh đã rất đúng khi Ngài phán qua Tiên tri Ê-sai với tổ phụ của quý vị rằng: 26. ‘Hãy đi đến với dân nầy và nói: Các ngươi nghe, nghe mà không hiểu. Các ngươi nhìn, nhìn mà không thấy. 27. Bởi vì lòng của dân nầy đã trở nên chai lỳ, tai của họ đã khó nghe, mắt của họ đã nhắm lại. E rằng mắt họ thấy được, tai họ nghe được, lòng họ hiểu được, rồi trở lại, để Ta chữa lành cho họ.’ 28. Cho nên, quý vị hãy biết rằng sự cứu rỗi nầy của Đức Chúa Trời đã được truyền cho những người ngoại quốc và họ sẽ lắng nghe.” [ 29. Sau khi ông nói những điều nầy, những người Do-thái đã bỏ đi, và tranh cãi rất nhiều với nhau. ]
  11. Sau đó Phao-lô đã ở trọn hai năm tại căn nhà mà ông đã thuê cho mình. Ông tiếp tất cả những người đến thăm ông, 31. giảng về vương quốc của Đức Chúa Trời, và dạy những điều liên hệ đến Chúa, là Đức Chúa Jesus Christ, một cách công khai vững vàng.

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top