Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: Mác

Bản Dịch Việt Ngữ: Mác

Mác

1

  1. Khởi đầu Phúc Âm của Đức Chúa Jesus Christ, là Con của Đức Chúa Trời.
  2. Như điều đã được chép trong Tiên tri Ê-sai rằng: “Nầy! Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt ngươi. Người sẽ chuẩn bị đường cho ngươi. 3. Tiếng của người vang trong hoang mạc: Hãy chuẩn bị đường của Chúa. Hãy làm thẳng các lối đi cho Ngài.”
  3. Giăng đã đến làm báp-têm trong hoang mạc, và giảng về sự ăn năn qua lễ báp-têm để được tha tội. 5. Cả vùng Giu-đê và những người tại Giê-ru-sa-lem đã kéo đến với ông. Tất cả đã xưng nhận tội của mình và được ông làm báp-têm tại Giô-đanh.
  4. Giăng mặc áo bằng lông lạc đà, thắt dây lưng bằng da quanh hông. Ông ăn châu chấu và mật ong rừng. 7. Ông giảng rằng: “Đấng đến sau tôi có quyền năng hơn tôi. Tôi không xứng đáng quỳ xuống cởi quai dép cho Ngài. 8. Tôi đã làm báp-têm cho quý vị bằng nước nhưng Ngài sẽ làm báp-têm cho quý vị bằng Đức Thánh Linh.”
  5. Và rồi, trong những ngày đó, Đức Chúa Jesus đã từ Na-xa-rét tại Ga-li-lê đến, và được Giăng làm báp-têm tại Giô-đanh. 10. Ngay khi vừa lên khỏi nước, Ngài thấy các tầng trời mở ra, rồi Đức Thánh Linh giống như chim bồ câu đã ngự xuống trên Ngài. 11. Và rồi có tiếng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Ta! Ta rất hài lòng về Con.”
  6. Ngay lập tức, Đức Thánh Linh đưa Ngài vào trong hoang mạc. 13. Ngài đã ở trong hoang mạc bốn mươi ngày, bị cám dỗ bởi Sa-tan. Ngài sống với những thú hoang, và các thiên sứ đã phục vụ Ngài.
  7. Sau khi Giăng bị bắt, Đức Chúa Jesus đã đến Ga-li-lê để công bố Phúc Âm của Đức Chúa Trời. 15. Ngài phán: “Thời hạn đã trọn và vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần. Hãy ăn năn và tin nhận Phúc Âm.”
  8. Khi đi dọc theo biển Ga-li-lê, Ngài nhìn thấy Si-môn và Anh-rê, em trai của Si-môn, đang thả lưới dưới biển, bởi vì họ là những ngư phủ. 17. Đức Chúa Jesus phán với họ: “Hãy theo Ta! Ta sẽ khiến các ngươi trở nên những tay đánh lưới người.” 18. Họ đã lập tức bỏ lưới rồi theo Ngài.
  9. Đi một quãng nữa, Ngài thấy Gia-cơ, con trai của Xê-bê-đê, và Giăng, là em trai của ông. Họ đang sửa lưới trên thuyền. 20. Ngài lập tức gọi họ. Họ đã để cha của họ là Xê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm thuê, rồi họ đi theo Ngài.
  10. Và rồi họ đã đến Ca-bê-na-um. Vào ngày sa-bát ngay sau đó, Ngài đã vào nhà hội để giảng dạy. 22. Người ta kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài bởi vì Ngài dạy có thẩm quyền chứ không phải như các học giả giáo luật.
  11. Ngay lúc đó, trong nhà hội có một người bị tà linh, 24. người đó kêu lớn: “Jesus! Người Na-xa-rét! Ngài định làm gì với chúng tôi? Ngài đến để tiêu diệt chúng tôi hay sao? Tôi biết Ngài: Ngài là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.”
  12. Nhưng Ngài đã nghiêm trách tà linh rằng: “Hãy im đi và ra khỏi người.” 26. Tà linh đã vật mạnh người đó, thét lớn một tiếng, rồi xuất ra khỏi người.
  13. Mọi người đều kinh ngạc, nên họ đã tự hỏi nhau: “Giáo huấn mới cùng với thẩm quyền này là gì? Thậm chí tà linh mà Người đã ra lệnh, chúng cũng tuân theo Người!”
  14. Ngay lập tức, tin tức về Ngài đã được loan truyền khắp vùng phụ cận của Ga-li-lê.
  15. Vừa ra khỏi nhà hội, ngay lập tức họ đã đến nhà của Si-môn và Anh-rê, cùng với Gia-cơ và Giăng. 30. Nhạc mẫu của Si-môn đang nằm vì bị sốt. Ngay lập tức, họ thưa với Ngài về bà. 31. Ngài đến, cầm tay, đỡ bà dậy. Cơn sốt lìa khỏi bà, và bà đã thết đãi họ.
  16. Tối đến, khi mặt trời đã lặn, người ta mang đến cho Ngài tất cả những người bệnh và những người bị quỷ ám của họ. 33. Cả thành tụ họp tại trước cửa. 34. Ngài đã chữa lành nhiều người bệnh với nhiều chứng bệnh khác nhau. Ngài đã đuổi nhiều quỷ, nhưng Ngài không cho phép quỷ lên tiếng, bởi vì chúng biết Ngài là Đấng Christ.
  17. Sáng sớm, khi trời còn tối, Ngài đã thức dậy, đi ra, đến một nơi thanh vắng, và cầu nguyện tại đó. 36. Si-môn và những người cùng với ông đã đi tìm Ngài. 37. Khi tìm được Ngài, họ thưa với Ngài: “Mọi người đang tìm Thầy.”
  18. Ngài nói với họ: “Hãy đi đường khác vào những làng lân cận để Ta có thể giảng tại những nơi đó nữa. Thật vậy, chính vì điều này mà Ta đến.”
  19. Rồi Ngài đi khắp cả miền Ga-li-lê rao giảng trong các nhà hội và đuổi quỷ.
  20. Một người phung đã đến với Ngài, quỳ xuống, nài xin Ngài, rồi thưa với Ngài rằng: “Ngài có quyền làm cho con được tinh sạch nếu Ngài vui lòng.”
  21. Ngài động lòng thương xót, giang tay của Ngài ra. Ngài đã chạm vào người đó rồi phán với người: “Ta vui lòng! Hãy tinh sạch.” 42. Ngay lập tức bịnh phung đã lìa khỏi người và người được tinh sạch.
  22. Ngài đã nghiêm dặn người đó, rồi ngay lập tức cho người đó đi. 44. Ngài nói cùng người đó: “Đừng gặp ai và cũng đừng nói điều gì, nhưng hãy đi trình diện chính mình ngươi cho một tư tế, rồi dâng tế lễ về việc ngươi được tinh sạch như Môi-se đã truyền, để làm một bằng chứng cho họ.”
  23. Tuy nhiên người đó đã đi rồi bắt đầu công bố quá nhiều. Việc đó loan truyền đến nỗi Ngài không thể công khai vào trong thành, nhưng Ngài phải ở bên ngoài tại những nơi thanh vắng. Từ khắp nơi, người ta đã kéo đến với Ngài.

 

2

  1. Vài ngày sau, Ngài trở lại Ca-bê-na-um. Khi nghe rằng Ngài đang ở trong nhà, 2. người ta đã tụ họp lại rất đông, đến nỗi ngay trước cửa cũng không còn chỗ. Ngài đã giảng đạo cho họ.
  2. Và rồi, họ đem đến cho Ngài một người bị bại liệt, do bốn người khiêng. 4. Bởi vì có đám đông, họ không thể đến gần Ngài, cho nên họ đã gỡ mái nhà ngay trên chỗ Ngài đang ngồi để có được một khoảng trống, và rồi họ đã dòng tấm đệm xuống, trên đó có một người bị bại liệt đang nằm. 5. Đức Chúa Jesus thấy đức tin của họ, Ngài phán với người bị bại liệt: “Con ơi! Tội lỗi của con đã được tha.”
  3. Lúc đó có vài học giả giáo luật đang ngồi tại đó, họ lý luận trong lòng của họ rằng: 7. “Tại sao người nầy nói như vậy? Người đã phạm thượng. Ai có thể tha tội ngoại trừ một mình Đức Chúa Trời?”
  4. Ngay lập tức trong tâm linh của Ngài, Ðức Chúa Jesus biết rằng họ đang tự tranh luận với chính họ, Ngài đã nói với họ: “Tại sao các ngươi lý luận trong lòng của các ngươi về những điều nầy? 9. Nói với người bại liệt điều nào dễ hơn: ‘Tội của con đã được tha!’ hay: ‘Hãy đứng dậy! Vác tấm đệm của con, và đi!’? 10. Nhưng để cho các ngươi biết rằng Con Người có thẩm quyền tha tội trên thế gian” – Ngài nói với người bị bại liệt 11. “Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác tấm đệm của con, rồi đi về nhà của con!”
  5. Người đã đứng dậy ngay lập tức, vác tấm đệm, rồi đi trước mặt mọi người, khiến tất cả đều kinh ngạc. Người ta tôn vinh Đức Chúa Trời và nói rằng: “Chúng tôi chưa bao giờ thấy việc như vậy!”
  6. Sau đó, Đức Chúa Jesus lại đi về vùng ven biển. Cả đám đông đã đến với Ngài và Ngài đã dạy cho họ.
  7. Trên đường đi, Ngài thấy Lê-vi, con trai của A-phê, đang ngồi tại phòng thuế, Ngài nói với ông: “Hãy theo Ta!” Ông đã đứng dậy đi theo Ngài.
  8. Sau đó, Ngài dự tiệc tại nhà của Lê-vi, có nhiều người thu thuế và nhiều người tội lỗi cùng dự tiệc với Ngài và các môn đồ của Ngài – bởi vì có rất nhiều người như vậy và họ đã theo Ngài. 16. Các học giả giáo luật thuộc phái Pha-ri-si thấy Ngài ăn chung với những người tội lỗi và những người thu thuế thì nói với các môn đồ của Ngài: “Tại sao Ngài lại ăn chung với những người thu thuế và những người tội lỗi?”
  9. Nghe vậy, Đức Chúa Jesus nói với họ: “Những người mạnh khỏe không cần y sĩ, nhưng những người đang đau ốm. Ta đến không phải để gọi những người công chính, nhưng gọi những người tội lỗi.”
  10. Các môn đồ của Giăng và những người Pha-ri-si đang kiêng ăn. Họ đã đến và nói với Ngài: “Tại sao các môn đồ của Giăng và các môn đồ của phái Pha-ri-si kiêng ăn, còn các môn đồ của Thầy lại không kiêng ăn?” 19. Đức Chúa Jesus trả lời với họ: “Có thể nào những phụ rể lại kiêng ăn trong khi chàng rể còn ở với họ? Lúc nào chàng rể còn ở với họ, thì họ không thể kiêng ăn. 20. Nhưng đến khi chàng rể được đem đi khỏi họ, thì trong những ngày đó, họ sẽ kiêng ăn.”
  11. “Không ai vá một miếng vải mới vào cái áo cũ; nếu làm như vậy thì miếng vá mới sẽ chằng rách cái cũ, và chỗ rách sẽ tệ hơn. 22. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu làm như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, rượu chảy mất và bầu bị hư. Nhưng rượu mới phải được đựng trong bầu da mới.”
  12. Và sau đó, vào một ngày sa-bát, Đức Chúa Jesus đi ngang qua những đồng lúa. Dọc đường, các môn đồ của Ngài bắt đầu ngắt các bông lúa. 24. Những người Pha-ri-si nói với Ngài: “Kìa, tại sao họ làm điều trái luật trong ngày sa-bát?” 25. Ngài nói với họ: “Các ngươi chưa đọc về chuyện Đa-vít đã làm khi ông có nhu cầu vào lúc ông cùng với những người đi theo bị đói hay sao? 26. Ông đã vào trong nhà của Đức Chúa Trời vào lúc A-bia-tha làm thượng tế, ăn những bánh được cung hiến, là ăn trái với luật pháp, bởi vì bánh chỉ dành cho các các tư tế. Ông thậm chí còn trao bánh cho những người đang ở với ông.”
  13. Rồi Ngài nói với họ: “Ngày sa-bát đã được tạo nên vì loài người, chứ không phải loài người được tạo nên vì ngày sa-bát. 28. Như vậy, Con Người cũng là Chúa của ngày sa-bát.”

 

3

  1. Một lần nữa, Đức Chúa Jesus đi vào nhà hội, tại đó có một người đàn ông bị liệt một bàn tay. 2. Người ta theo dõi Ngài, xem Ngài có chữa lành cho người đó trong ngày sa-bát hay không, để họ có thể tố cáo Ngài.
  2. Ngài nói với người bị liệt bàn tay: “Hãy đứng dậy ngay giữa đây!” 4. Rồi Ngài nói với họ: “Trong ngày sa-bát, làm điều gì là hợp pháp: Điều thiện hay điều ác? Cứu người hay giết người?” Tuy nhiên họ im lặng.
  3. Ngài đưa mưa mắt nhìn họ, vừa giận vừa buồn, bởi vì lòng của họ cứng cỏi. Ngài nói với người bị liệt bàn tay: “Hãy giơ tay của ngươi ra.” Người đó đã giơ ra, và tay của người đó được bình phục.
  4. Những người Pha-ri-si ngay lập tức đi ra ngoài bàn mưu với những người của Hê-rốt để bắt đầu chống lại Ngài, và bàn cách nào họ có thể giết Ngài.
  5. Đức Chúa Jesus cùng các môn đồ của Ngài đã lui về miền biển. Một đoàn người rất đông từ Ga-li-lê đã đi theo, cùng với những người từ Giu-đê, 8. từ Giê-ru-sa-lem, từ Y-đu-mê, từ bên kia sông Giô-đanh, và những khu vực chung quanh của Ty-rơ và Si-đôn. Nghe tin về những việc Ngài đang làm, một đám đông rất lớn đã đến với Ngài.
  6. Vì cớ đám đông, Ngài đã truyền cho các môn đồ của Ngài chuẩn bị sẵn một chiếc thuyền cho Ngài, để họ không thể chèn ép Ngài. 10. Bởi vì Ngài đã chữa lành cho rất nhiều người, cho nên những người có bệnh đã chen lấn nhau đến với Ngài để họ có thể chạm vào Ngài. 11. Mỗi khi các tà linh thấy Ngài, chúng đều sấp mình xuống trước mặt Ngài, rồi la lên rằng: “Ngài là Con của Đức Chúa Trời!” 12. Tuy nhiên, Ngài nghiêm cấm chúng để chúng không tiết lộ Ngài là ai.
  7. Ngài đi lên núi, gọi những người Ngài muốn, và họ đã đến với Ngài. 14. Ngài lập nhóm Mười Hai Người – cũng gọi là các sứ đồ. Ngài gọi họ để họ ở với Ngài, và Ngài có thể sai họ đi truyền giảng, 15. ban cho họ quyền đuổi quỷ. 16. Ngài đã lập mười hai sứ đồ là: Si-môn – Ngài đã đặt tên là Phi-e-rơ; 17. Gia-cơ – con trai của Xê-bê-đê, và Giăng – em của Gia-cơ – Ngài đã đặt tên hai người này là Bô-a-nẹt, nghĩa là các con trai của sấm sét; 18. Anh-rê, Phi-líp, Ba-thê-lê-my, Ma-thi-ơ, Thô-ma, Gia-cơ – con trai của A-phê, Tha-đê, Si-môn – người Ca-na-an, 19. và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt – là kẻ phản Ngài.
  8. Khi Ngài đến một ngôi nhà, có một đám đông lại tụ họp tại đó, đến nỗi Ngài và các môn đồ không thể bẻ bánh ăn được.
  9. Các thân nhân của Ngài nghe lời đồn đãi, đã đến để giữ Ngài lại, bởi vì người ta đồn rằng Ngài bị mất trí.
  10. Các học giả giáo luật từ Giê-ru-sa-lem xuống nói rằng: “Người nầy bị Bê-ên-xê-bun ám – bởi vì đã dùng quyền của quỷ vương mà người đuổi quỷ.”
  11. Ngài đã gọi họ đến, rồi dùng ngụ ngôn đàm đạo với họ: “Làm thế nào Sa-tan có thể tự đuổi Sa-tan? 24. Nếu một vương quốc chia rẽ, tự chống nghịch nhau, thì vương quốc đó không thể đứng vững được. 25. Nếu một nhà chia rẽ tự chống nghịch nhau, thì nhà đó sẽ không thể đứng vững được. 26. Cũng vậy, nếu Sa-tan nổi lên tự chống lại chính nó và chia rẽ, thì nó không thể đứng vững được, và sự tận cùng đã đến. 27. Không ai có thể vào nhà của một người dũng mãnh để cướp tài sản của người đó, nếu trước hết không trói người dũng mãnh lại, rồi sau đó mới cướp đoạt trong nhà của người đó.”
  12. “Quả thật! Ta nói cùng các ngươi rằng loài người sẽ được tha thứ tất cả tội lỗi và những lời phạm thượng mà họ thốt ra. 29. Tuy nhiên, ai phạm thượng đến Đức Thánh Linh thì sẽ không bao giờ được tha, nhưng phải mắc tội đời đời.” 30. Ngài phán như vậy bởi vì họ đã nói rằng: “Người nầy bị tà linh ám.”
  13. Mẹ của Ngài và các em của Ngài đến, đứng bên ngoài, nhắn với Ngài và gọi Ngài. 32. Có một đám đông đang ngồi chung quanh Ngài. Họ nói với Ngài: “Kìa, mẹ của Thầy, các em trai của Thầy, và các em gái của Thầy, ở ngoài kia. Họ đang tìm Thầy.”
  14. Ngài nói với họ rằng: “Ai là mẹ của Ta? Ai là các em của Ta?” 34. Rồi Ngài đưa mắt nhìn những người ngồi chung quanh mình và nói: “Đây là mẹ của Ta và là các em của Ta! 35. Ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì người đó là em trai, em gái, và mẹ của Ta.”

 

4

  1. Ngài bắt đầu giảng dạy bên bờ biển trở lại. Có một đoàn người rất đông tụ họp chung quanh Ngài cho nên Ngài phải vào ngồi trong một chiếc thuyền trên biển, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ gần biển.
  2. Ngài đã dạy họ nhiều điều bằng ngụ ngôn. Trong một lần giảng dạy, Ngài đã nói với họ rằng: 3. “Hãy nghe! Có một người gieo giống đi ra để gieo. 4. Trong khi gieo, một số hạt đã rơi dọc đường. Sau đó, chim đã đến và ăn hết. 5. Một số khác rơi trên vùng sỏi đá, là nơi có ít đất. Nó đã mọc lên ngay lập tức, nhưng bởi vì đất không có chiều sâu, 6. cho nên sau khi mặt trời mọc lên, nó đã bị cháy sém, và vì không có rễ, cho nên nó đã khô héo. 7. Một số khác rơi giữa bụi gai; gai đã mọc lên, làm cho nó bị nghẹt ngòi nên không kết quả. 8. Một số khác rơi vào chỗ đất tốt, đã lớn lên, tăng trưởng, rồi bắt đầu kết quả: Một hạt sinh ba chục, có hạt được sáu chục, có hạt được một trăm.” 9. Ngài phán rằng: “Ai có tai để nghe, hãy nghe!”
  3. Khi Ngài còn lại một mình, những người ở chung quanh Ngài cùng với mười hai sứ đồ bắt đầu hỏi Ngài về những ngụ ngôn. 11. Ngài phán cùng họ: “Huyền nhiệm của vương quốc Đức Chúa Trời đã được ban cho các ngươi; nhưng đối với người ngoài, thì mọi sự đều chứa đựng trong các ngụ ngôn, 12. để: Họ xem và vẫn xem, nhưng không thấy; nghe và vẫn nghe, nhưng không hiểu; e rằng họ quay lại và được tha thứ.”
  4. Rồi Ngài nói: “Các ngươi không hiểu ngụ ngôn nầy hay sao? Như vậy làm sao các ngươi hiểu được tất cả những ngụ ngôn khác? 14. Gieo giống tức là gieo đạo. 15. Những hạt ở dọc đường là những kẻ đã chịu nghe đạo được gieo ra; nhưng họ vừa nghe xong thì Sa-tan lập tức đến, cất đi đạo đã gieo trong lòng của họ. 16. Cũng vậy, những hạt gieo vào những nơi đất đá sỏi là những người khi nghe đạo liền vui mừng tiếp nhận; 17. nhưng đạo không đâm rễ trong họ, chỉ tồn tại tạm thời. Do đó, khi vì đạo mà gặp hoạn nạn hay bắt bớ, họ liền vấp ngã. 18. Những hạt rơi giữa bụi gai giống như những người đã nghe đạo, 19. nhưng sự chăm lo về đời nầy, sự quyến rũ của giàu sang, và sự tham muốn những thứ khác xâm chiếm lòng của họ, làm cho đạo bị nghẹt ngòi, không kết quả được. 20. Còn những hạt được gieo trên đất tốt, giống như những người nghe đạo thì tiếp nhận và kết quả, hạt nầy sinh ba chục, hạt khác được sáu chục, hạt khác được một trăm.”
  5. Ngài nói với họ: “Có ai đem đèn đặt dưới cái thùng hoặc dưới giường hay không? Không phải được đặt trên chân đèn hay sao? 22. Bởi vì không có điều gì giấu kín mà không phải lộ ra, không có điều gì bí mật đã xảy ra mà không bị đưa ra ánh sáng. 23. Nếu ai có tai để nghe, thì hãy nghe!”
  6. Ngài lại phán: “Hãy suy xét về điều mình đã nghe. Các ngươi lường cho người ta mực nào thì các ngươi cũng sẽ được lường lại mực ấy, và còn được lường thêm nữa. 25. Bởi vì ai có, sẽ được cho thêm; còn ai không có, sẽ bị cất luôn điều mình đang có.”
  7. Ngài nói: “Vương quốc của Đức Chúa Trời giống như một người vãi giống xuống đất; 27. người ấy ngủ, rồi thức, đêm ngày trôi qua, hạt giống nẩy mầm và mọc lên, người ấy không biết thế nào. 28. Đất tự phát sinh hoa màu, lúc đầu là cây mạ, rồi làm đòng, và kết hạt. 29. Khi kết quả đầy trọn, người ấy liền mang lưỡi hái ra gặt, bởi vì mùa thu hoạch đã đến.”
  8. Ngài lại nói: “Chúng ta có thể lấy điều gì để so sánh với vương quốc của Đức Chúa Trời? Hoặc chúng ta sẽ trình bày bằng ngụ ngôn nào? 31. Giống như một hạt mù-tạt, khi đem gieo vào trong đất, nó nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống trên đất; 32. nhưng sau khi đã gieo, nó phát triển, trở thành lớn nhất trong những loại cây trong vườn, phát sinh những cành rất lớn, đến nỗi chim trời làm tổ dưới bóng của nó.”
  9. Ngài giảng đạo cho họ bằng nhiều ngụ ngôn như vậy, tùy theo khả năng hiểu biết của họ. 34. Ngài không bao giờ giảng cho họ mà không dùng ngụ ngôn; nhưng khi ở riêng, Ngài đã giải thích tất cả cho các môn đồ của Ngài.
  10. Ngày hôm đó, khi chiều đến, Ngài nói họ: “Chúng ta hãy qua bờ bên kia.” 36. Sau khi giải tán đám đông, Ngài vào trong thuyền và các môn đồ đã đưa Ngài đi. Có một số thuyền khác cùng đi với Ngài.
  11. Và rồi, một cơn bão với gió rất mạnh đã ập đến, sóng đập vào thuyền đến nỗi thuyền đầy nước. 38. Tuy nhiên, Ngài đang ở phía sau, tựa trên chiếc gối, mà ngủ. Họ đã đánh thức Ngài và thưa với Ngài: “Thầy ơi! Thầy không lo chúng ta chết sao?”
  12. Ngài thức dậy, quở trách gió, và nói với biển: “Hãy yên đi! Hãy tĩnh lặng!” Gió liền ngưng và có một sự tĩnh lặng lạ lùng. 40. Rồi Ngài nói với họ: “Tại sao các ngươi hoảng sợ? Các ngươi không có đức tin hay sao?” 41. Nhưng nỗi sợ hãi của họ lại càng lớn hơn. Họ nói với nhau: “Người nầy là ai mà ngay cả gió và biển cũng phải vâng lệnh người?”

 

5

  1. Sau đó, họ đã qua bờ biển bên kia, đến vùng Giê-ra-sê. 2. Lúc Ngài ra khỏi thuyền, ngay lập tức có một người bị tà linh ám đã từ nghĩa địa chạy đến trước mặt Ngài. 3. Người nầy sống giữa những phần mộ. Dù dùng xiềng, không ai có thể giữ được người, 4. bởi vì người thường bị cùm và xiềng, nhưng chúng đã bị người bẻ làm hai – cùm và xiềng đều tan nát – không ai có thể chế ngự người được. 5. Cả ngày lẫn đêm người gào thét trong nghĩa địa hay trên núi, rồi lấy đá rạch mình.
  2. Khi thấy Đức Chúa Jesus từ đằng xa, người đã chạy đến, sấp mình trước đầu gối của Ngài 7. rồi thốt lên rất lớn: “Lạy Jesus, Con của Đức Chúa Trời Chí Cao! Tôi nài xin Ngài bởi Đức Chúa Trời, đừng để tôi bị xâu xé nữa!”
  3. Vì vậy, Đức Chúa Jesus phán: “Hỡi tà linh, hãy ra khỏi người nầy.” 9. Rồi Ngài hỏi nó: “Tên ngươi là gì?” Nó đáp: “Tên của tôi là ‘Quân đoàn’ bởi vì chúng tôi rất đông.”
  4. Tà linh van xin Ngài nhiều lần đừng đuổi chúng ra khỏi vùng quê. 11. Lúc đó, có một đàn heo rất đông đang ăn trên một ngọn núi gần đó. 12. Chúng nài xin Ngài rằng: “Xin sai chúng tôi vào những con heo để chúng tôi có thể nhập vào chúng.”

Đức Chúa Jesus cho phép. 13. Các tà linh ra khỏi người đó và nhập vào đàn heo, cả đàn – khoảng hai ngàn con – lao từ trên bờ vực sâu xuống biển, và chúng chết chìm trong biển.

  1. Những người chăn bỏ chạy và loan truyền việc đó khắp thành thị và thôn quê. Dân chúng đã kéo đến để xem điều gì đã xảy ra. 15. Khi họ đến với Đức Chúa Jesus, và thấy người đã từng bị quỷ ám đang ngồi đó, mặc quần áo, và tâm trí tỉnh táo, thì họ kinh sợ. 16. Những người đã chứng kiến sự việc thuật cho họ nghe chuyện gì đã xảy đến cho người bị tà linh và cho đàn heo. 17. Họ nài xin Ngài rời khỏi địa phận của họ.
  2. Khi Ngài xuống thuyền, người vốn bị quỷ ám nài xin Ngài để người đó được ở với Ngài. 19. Nhưng Ngài không cho phép, và Ngài đã nói với người: “Hãy trở về nhà của con, đến với những người thân thuộc của con, và thuật lại cho họ những điều lớn lao mà Chúa đã làm cho con và đã thương xót con như thế nào.”
  3. Người đó đã rời khỏi nơi đó, và đã công bố khắp vùng Đê-ca-bô-lơ về những việc lớn lao mà Đức Chúa Jesus đã làm cho mình – và tất cả đều kinh ngạc.
  4. Đức Chúa Jesus đã vào thuyền vượt qua bờ bên kia một lần nữa. Một đoàn người rất đông đã tụ họp chung quanh Ngài, lúc Ngài đang ở bên bờ biển.
  5. Có một người tên là Giai-ru, là một trong những lãnh đạo của nhà hội, đã đến. Khi thấy Đức Chúa Jesus, ông liền phủ phục dưới chân của Ngài. 23. Ông khẩn xin Ngài rằng: “Con gái nhỏ của tôi đang hấp hối. Xin Thầy đến và đặt tay trên cháu, để cháu được chữa lành, và cháu sẽ sống.” 24. Ngài đã đi với ông. Có một đoàn người rất đông cùng đi theo, và lấn ép Ngài.
  6. Có một phụ nữ bị rong huyết đã mười hai năm, 26. chịu khốn khổ dưới nhiều thầy thuốc, tiêu tốn tất cả những gì bà đã có nhưng không được lợi ích gì, lại càng tệ hơn. 27. Bà đã nghe nói về Đức Chúa Jesus nên đã đến lẩn vào trong đám đông, rồi từ phía sau bà chạm vào y phục của Ngài; 28. bởi vì bà nói rằng: “Nếu mình chạm được y phục của Ngài, mình sẽ được lành.” 29. Ngay lập tức, chỗ bị chảy máu trong người của bà khô lại, và bà cảm biết trong thân thể rằng bà đã được chữa lành khỏi bịnh.
  7. Ngay lập tức, Đức Chúa Jesus nhận biết có một năng quyền vừa ra từ Ngài, nên Ngài quay sang đám đông và hỏi: “Ai đã chạm vào y phục của Ta?”
  8. Các môn đồ của Ngài nói với Ngài: “Thầy nhìn thấy đám đông chen lấn Thầy. Tại sao Thầy còn hỏi: Ai chạm đến Ta?”
  9. Nhưng Ngài vẫn nhìn chung quanh xem ai đã làm. 33. Người phụ nữ biết điều đã xảy đến cho mình, run sợ, đến phủ phục trước Ngài, rồi kể cho Ngài tất cả sự thật.
  10. Đức Chúa Jesus nói với bà: “Con gái ơi! Đức tin của con đã cứu con. Hãy đi bình an, và được lành bệnh.”
  11. Khi Ngài còn đang nói, có người từ nhà của vị lãnh đạo nhà hội đến, nói với ông: “Con gái của ông đã chết. Tại sao ông còn làm phiền Thầy?”
  12. Đức Chúa Jesus nghe những lời nói đó, Ngài bảo vị lãnh đạo nhà hội rằng: “Đừng sợ! Chỉ tin mà thôi.” 37. Ngài không cho ai theo Ngài, ngoại trừ Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng, là em của Gia-cơ.
  13. Khi họ đến nhà của vị lãnh đạo nhà hội, Ngài nhìn thấy cảnh kêu gào, khóc lóc, và than van. 39. Ngài bước vào nói với họ: “Tại sao các ngươi kêu gào và khóc lóc như vậy? Đứa bé không chết, nhưng đang ngủ.”
  14. Họ nhạo cười Ngài. Ngài đuổi mọi người ra ngoài, rồi đưa cha mẹ đứa trẻ cùng những người theo Ngài vào chỗ của đứa trẻ. 41. Ngài cầm tay đứa trẻ và phán: “Ta-li-tha! Cum.” – nghĩa là: “Bé gái! Ta truyền cho con hãy trỗi dậy.” 42. Lập tức bé gái đã trỗi dậy và bước đi, bởi vì cô bé đã được mười hai tuổi. Ngay lập tức, tất cả đều kinh ngạc. 43. Ngài nghiêm khắc truyền cho họ không nên cho ai biết việc nầy, và Ngài bảo họ cho đứa trẻ ăn.

 

6

  1. Ngài đã rời nơi đó và trở về quê hương của mình. Các môn đồ của Ngài cùng đi theo Ngài.
  2. Đến ngày sa-bát, Ngài bắt đầu dạy trong nhà hội. Nhiều người nghe Ngài giảng thì kinh ngạc và nói: “Do đâu người nầy có được những điều nầy? Sự khôn ngoan được ban cho người, và thậm chí những phép lạ do tay người thực hiện, là gì? 3. Không phải người nầy là thợ mộc, con trai của Ma-ri, anh của Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đe, và Si-môn hay sao? Không phải các em gái của người đang ở đây với chúng ta hay sao?” Rồi họ vấp phạm về Ngài.
  3. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Không có tiên tri nào là không được tôn trọng, ngoại trừ tại quê hương của mình, tại giữa vòng bà con của mình và gia đình của mình.” 5. Tại đó Ngài đã không thực hiện việc quyền năng nào, ngoại trừ việc Ngài đặt tay trên vài người bệnh và chữa lành. 6. Ngài ngạc nhiên vì sự vô tín của họ. Và rồi Ngài đã đến những làng chung quanh để giảng dạy.
  4. Ngài đã gọi mười hai sứ đồ đến gần, rồi bắt đầu sai họ đi từng đôi. Ngài ban cho họ thẩm quyền trên những tà linh. 8. Ngài truyền cho họ đừng mang gì theo cho cuộc hành trình, ngoại trừ chỉ một cây gậy, không có bánh, không bao bị, cũng không có tiền thắt lưng; 9. nhưng chỉ mang dép, không mặc hai áo. 10. Ngài dặn họ: “Khi các ngươi vào một nhà nào, hãy cứ ở tại đó cho đến lúc các ngươi ra đi. 11. Nếu có nơi nào người ta không tiếp và cũng không nghe các ngươi thì hãy rời khỏi đó. Hãy phủi bụi nơi chân của các ngươi như một bằng chứng chống lại họ.”
  5. Vì vậy, họ đã đi ra, và họ đã rao giảng rằng mọi người phải ăn năn. 13. Họ đã đuổi nhiều quỷ, xức dầu và chữa lành nhiều người bệnh.
  6. Vua Hê-rốt nghe rằng tên của Ngài đã trở thành nổi tiếng. Có người nói đó là Giăng Báp-tít đã từ cõi chết sống lại cho nên Ngài mới có thể thực hiện được những việc quyền năng kỳ diệu nầy. 15. Những người khác thì nói Ngài là Ê-li. Một số khác nữa thì nói đó là một tiên tri, giống như một trong những tiên tri.” 16. Khi nghe như vậy, Hê-rốt nói: “Đây chính là Giăng, người mà ta đã chém đầu, sống lại.”
  7. Bởi vì chính Hê-rốt đã sai bắt Giăng và xiềng ông trong ngục, bởi vì chuyện của Hê-rô-đia, là vợ của Phi-líp, em trai của vua, và vua đã cưới nàng. 18. Giăng đã nói với Hê-rốt rằng: “Ngài lấy vợ của em trai của mình là điều trái luật pháp.” 19. Vì vậy, Hê-rô-đia đã căm giận và muốn giết ông, nhưng không thể, 20. bởi vì Hê-rốt sợ Giăng, biết ông là một người công chính và thánh thiện, nên giữ sự an toàn cho ông. Vua thích nghe ông, dù khi nghe, vua thường bối rối.
  8. Nhưng một ngày kia, cơ hội đã đến, nhân dịp sinh nhật của mình, Hê-rốt đã mở tiệc chiêu đãi các đại thần của ông, các tướng lãnh, cùng với những nhân vật quan trọng trong vùng Ga-li-lê. 22. Con gái riêng của Hê-rô-đia đã đến, nhảy múa, làm hài lòng Hê-rốt và khách dự tiệc. Vua đã nói với cô gái: “Hãy xin bất cứ điều gì con muốn, ta sẽ cho con.” 23. Rồi vua lại thề cùng nàng: “Bất kỳ điều gì con xin, ta cũng sẽ cho, dù một nửa vương quốc của ta.” 24. Nàng đi ra và nói với mẹ của mình: “Con nên xin điều gì?” Bà nói: “Cái đầu của Giăng Báp-tít.” 25. Ngay lập tức, nàng vội vàng trở vào và xin nhà vua: “Con muốn ngài cho con cái đầu của Giăng Báp-tít để trên mâm ngay bây giờ.” 26. Vua đau lòng lắm, nhưng vì những lời đã thề, và vì khách dự tiệc nên vua không thể thất hứa với nàng. 27. Ngay lập tức, vua sai một đao phủ thi hành, và truyền lệnh hãy đem đầu của Giăng đến. 28. Người đó đi, chặt đầu của Giăng trong ngục, mang đầu để trên mâm, rồi trao cho cô gái. Cô gái đã trao nó cho mẹ của mình. 29. Các môn đồ của Giăng nghe tin đã đến nhận xác của người, rồi chôn trong mộ.
  9. Các sứ đồ đã họp lại chung quanh Đức Chúa Jesus, tường trình cho Ngài mọi việc họ đã làm và đã dạy dỗ. 31. Ngài nói với họ: “Các ngươi hãy gác lại chuyện riêng của mình. Hãy đến một nơi thanh vắng và nghỉ ngơi một lúc” – bởi vì họ không có thì giờ để ăn, do những người đến và những người đi quá nhiều. 32. Vì vậy, họ đã dùng thuyền đi đến một nơi thanh vắng.
  10. Người ta thấy họ đi, và biết, nên tất cả mọi người từ nhiều thành phố đã cùng nhau chạy bộ đến đó, và đã đến đó trước họ.
  11. Vừa ra khỏi thuyền, Đức Chúa Jesus thấy một đoàn dân rất đông thì cảm thương họ, bởi vì họ như chiên không có người chăn. Ngài bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.
  12. Đến lúc xế chiều, các môn đồ của Ngài đến thưa với Ngài: “Nơi nầy hoang vắng và đã xế chiều. 36. Xin cho họ về, để họ đi vào những vùng chung quanh và các làng mạc, để họ có thể mua thức ăn.” 37. Nhưng Ngài trả lời họ: “Chính các ngươi hãy cho họ ăn.” Họ thưa với Ngài: “Chúng con phải đi mua đến hai trăm đơ-ni-ê bánh cho họ ăn hay sao?” 38. Ngài nói với họ: “Hãy đi xem các ngươi có bao nhiêu bánh?” Sau khi xem xét, họ nói: “Năm cái, cùng với hai con cá.”
  13. Ngài truyền cho họ ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh. 40. Họ đã ngồi xuống thành từng nhóm, nhóm một trăm, nhóm năm chục. 41. Ngài lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mặt lên trời, tạ ơn, rồi bẻ bánh, và trao cho các môn đồ của Ngài để phân phát cho dân chúng. Ngài cũng chia hai con cá cho mọi người. 42. Tất cả đã được ăn thỏa thuê. 43. Họ thu lại được mười hai giỏ đầy những mẩu bánh và cá. 44. Số người đã ăn bánh là năm ngàn người.
  14. Ngay lập tức, Ngài giục các môn đồ của Ngài vào thuyền, đi trước qua bờ bên kia, đến Bết-sai-đa, trong khi Ngài cho đám đông ra về. 46. Sau khi từ biệt họ, Ngài đi lên núi để cầu nguyện.
  15. Tối đến, thuyền ở giữa biển, còn Ngài thì ở một mình trên đất liền. 48. Ngài thấy họ chèo chống vất vả bởi vì gió ngược. Khoảng canh tư đêm đó, Ngài bước đi trên mặt biển, đến với họ, và Ngài muốn vượt qua họ. 49. Khi thấy Ngài bước đi trên mặt biển, họ nghĩ đó là ma, nên thét lên. 50. Tất cả đều thấy Ngài và hoảng sợ. Nhưng lập tức, Ngài đã phán với họ và nói cùng họ rằng: “Hãy dạn dĩ, Ta đây, đừng sợ!” 51. Rồi Ngài bước lên thuyền với họ, thì gió lặng yên. Họ kinh ngạc quá chừng, 52. bởi vì họ đã không hiểu về phép lạ hóa bánh, nhưng cũng vì lòng họ còn cứng cỏi.
  16. Khi đã qua đến đất liền, họ đã đến Ghê-nê-xa-rết, rồi thả neo tại đó. 54. Khi họ ra khỏi thuyền, dân chúng liền nhận ra Ngài, 55. họ chạy khắp vùng thôn quê, rồi họ bắt đầu khiêng những người bệnh nằm trên đệm đến bất kỳ nơi nào họ nghe rằng Ngài đang ở đó. 56. Bất cứ Ngài vào nơi nào – những làng mạc, những thành thị, những cánh đồng, những khu chợ – người ta đều đem đến những người bệnh, và nài xin Ngài cho họ ít ra cũng được chạm vào gấu áo của Ngài. Những ai đã chạm đến Ngài đều được chữa lành.

 

7

  1. Có một số người Pha-ri-si và những học giả giáo luật từ Giê-ru-sa-lem đến tụ họp chung quanh Ngài. 2. Họ thấy vài môn đồ của Ngài ăn bánh với những bàn tay không tinh sạch – nghĩa là chưa rửa. 3. Bởi vì theo truyền thống của người xưa, người Pha-ri-si và tất cả người Do Thái đều không ăn nếu họ chưa rửa tay thật cẩn thận. 4. Khi từ chợ về, nếu họ chưa rửa tay, họ cũng không ăn. Nhiều thứ khác mà họ đã nhận hay cầm, cũng cần phải được rửa như những ly tách, những bình lọ, các vật dụng, và các tấm đệm dùng lúc đãi tiệc. 5. Vì vậy, những người Pha-ri-si và các học giả giáo luật đã hỏi Ngài: “Tại sao các môn đồ của Thầy không đi theo truyền thống của người xưa, nhưng ăn bánh với những bàn tay chưa rửa?”
  2. Ngài nói với họ: “Ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi: Hỡi những kẻ đạo đức giả! Vì có lời chép rằng: ‘Dân nầy lấy môi miệng tôn kính Ta, nhưng lòng của họ thì lại cách xa Ta. 7. Họ thờ phượng Ta cách vô ích; dạy những giáo lý là luật lệ của loài người.’ 8. Các ngươi đã bỏ điều răn của Đức Chúa Trời mà giữ theo truyền thống của loài người!” 9. Rồi Ngài nói với họ: “Các ngươi đã khéo léo bỏ qua một bên điều răn của Đức Chúa Trời, để các ngươi có thể giữ truyền thống của mình! 10. Bởi vì Môi-se đã nói: ‘Hãy hiếu kính cha của ngươi và mẹ của các ngươi’ và ‘Ai nói xấu cha mẹ thì phải bị xử tử’. 11. Nhưng các ngươi lại bảo: ‘Một người có quyền nói với cha mẹ rằng những gì con có thể giúp cho cha mẹ đã co-ban – nghĩa là đã đem dâng hiến rồi. 12. Các ngươi đã cho phép người đó không phải làm gì cho cha hay cho mẹ của mình nữa, 13. và đã làm vô hiệu lời của Đức Chúa Trời, để giữ truyền thống được truyền xuống cho mình. Các ngươi cũng làm nhiều việc khác tương tự như vậy.”
  3. Rồi Ngài lại gọi đám đông đến, và nói với họ: “Tất cả hãy nghe Ta và hiểu rằng: 15. Không có vật gì từ bên ngoài vào trong con người có thể làm ô uế con người; nhưng những gì từ con người phát ra mới là những vật làm ô uế con người.”
  4. Khi Ngài đã rời đám đông, vào trong nhà, các môn đồ đã hỏi Ngài về ngụ ngôn đó. 18. Ngài nói với họ: “Các con cũng không hiểu sao? Các con không biết rằng mọi vật gì từ bên ngoài vào trong con người không thể làm ô uế con người được, 19. bởi vì nó không đi vào lòng người, nhưng vào bụng, rồi được thải ra nơi kín đáo.” Tất cả thức ăn là tinh sạch. 20. Ngài nói tiếp: “Điều gì ra từ con người mới làm ô uế con người. 21. Bởi vì từ bên trong lòng người phát sinh ra những ý tưởng xấu xa như tà dâm, trộm cướp, giết người, 22. ngoại tình, tham lam, độc ác, dối trá, phóng túng, ganh tị, phạm thượng, kiêu ngạo, ngông cuồng. 23. Tất cả những điều xấu xa đó đều xuất phát từ bên trong, và làm ô uế con người.”
  5. Từ đó, Ngài đứng dậy đi đến địa phận Ty-rơ và Si-đôn. Ngài đã vào một ngôi nhà kia, không muốn cho ai biết, nhưng Ngài không thể ẩn dật được. 25. Một phụ nữ đã nghe về Ngài – bà có một con gái bị tà linh ám – nên lập tức đến phủ phục dưới chân của Ngài. 26. Người phụ nữ là một người Hy Lạp, thuộc chủng tộc Sy-rô-phê-ni-xi, bà cứ van xin Ngài để Ngài đuổi quỷ ra khỏi con gái của mình. 27. Ngài nói cùng bà: “Hãy để cho các con được thỏa thuê trước đã, bởi vì lấy bánh của các con mà ném cho chó là không tốt.” 28. Tuy nhiên bà đã trả lời và nói với Ngài: “Thưa Chúa! Đúng vậy. Nhưng mấy con chó ở dưới bàn có thể ăn những mảnh vụn của các con.” 29. Ngài nói cùng bà: “Hãy đi! Vì cớ lời này, quỷ đã ra khỏi con gái của con.” 30. Về đến nhà, bà thấy con mình đang nằm trên giường, và quỷ đã ra khỏi.
  6. Và rồi, Ngài lại rời địa phận Ty-rơ, đi ngang qua Si-đôn, đến biển Ga-li-lê, xuyên qua địa phận của Đê-ca-bô-lơ. 32. Người ta đem đến cho Ngài một người điếc và ngọng, họ nài xin Ngài đặt tay trên người ấy. 33. Ngài đem người ấy riêng ra khỏi đám đông, đặt ngón tay của Ngài vào những lỗ tai của anh ta; và Ngài nhổ nước bọt và thấm vào lưỡi của anh ta; 34. rồi Ngài ngước mắt lên trời, thở thật dài, rồi Ngài phán cùng anh ta: “Ép-pha-ta!” nghĩa là: “Hãy mở ra!” 35. Ngay lập tức, tai của người đó được mở ra, và lưỡi được thong thả, rồi anh ta bắt đầu nói rõ ràng. 36. Ngài truyền cho họ đừng thuật chuyện nầy cùng ai. Nhưng Ngài càng cấm chừng nào, họ lại càng công bố nhiều chừng nấy. 37. Tất cả đều vô cùng ngạc nhiên và nói: “Ngài đã làm tất cả những điều thật tốt lành: Ngài khiến người điếc nghe được, người câm nói được!”

 

8

  1. Trong những ngày đó, lại có một đoàn dân rất đông và họ không có gì để ăn, Ngài đã gọi các môn đồ đến rồi nói với họ: 2. “Ta thương đoàn dân, bởi vì họ đã ở với Ta liên tục ba ngày, và họ không có gì ăn. 3. Nếu Ta cho họ về nhà của họ trong khi đang đói, họ sẽ xỉu dọc đường. Bởi vì trong số họ có một số người đến từ rất xa.” 4. Các môn đồ đã trả lời với Ngài rằng: “Giữa nơi hoang vu nầy, ai có thể kiếm từ đâu cho đủ bánh?” 5. Ngài hỏi họ: “Các con có bao nhiêu bánh?” Họ nói: “Bảy cái.”
  2. Ngài hướng dẫn cho đoàn dân ngồi xuống đất. Rồi Ngài lấy bảy cái bánh, tạ ơn, Ngài bẻ ra và trao cho các môn đồ của Ngài để phân phát. Họ đã phân phát cho dân chúng. 7. Họ cũng có vài con cá nhỏ. Ngài tạ ơn, rồi cũng truyền đem phân phát như vậy. 8. Họ ăn và được thỏa thuê. Họ thu lại những mảnh vụn được hơn bảy giỏ đầy. 9. Có khoảng bốn ngàn người. Sau đó, Ngài cho họ về. 10. Ngài lập tức vào trong thuyền rồi cùng các môn đồ đi sang vùng Đa-ma-nu-tha.
  3. Có vài người Pha-ri-si đã đến và bắt đầu tranh luận với Ngài. Họ tìm nơi Ngài một dấu lạ từ trời, để thử Ngài. 12. Ngài đã thở dài trong lòng, rồi nói: “Tại sao thế hệ nầy lại tìm kiếm dấu lạ? Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, chẳng có một dấu lạ nào được ban cho thế hệ nầy cả.” 13. Rồi Ngài rời họ, trở lại thuyền, và sang phía bên kia.
  4. Các môn đồ quên đem bánh theo. Họ chỉ có một cái bánh trong thuyền. 15. Ngài dạy họ: “Hãy thận trọng! Hãy đề phòng men của những người Pha-ri-si và men của Hê-rốt.” 16. Các môn đồ bàn luận với nhau bởi vì họ không có bánh. 17. Biết điều đó, Ngài phán với họ: “Tại sao các con lại bàn luận về việc các con không có bánh? Các con vẫn còn chưa nhận biết và chưa hiểu sao? Lòng các con vẫn cứng cỏi hay sao? 18. Tại sao các con có mắt mà không thấy? Các con có tai mà không nghe? Các con không nhớ hay sao? 19. Khi Ta bẻ năm cái bánh cho năm ngàn người, các con thu được bao nhiêu giỏ đầy những miếng bánh?” Họ thưa với Ngài: “Mười hai giỏ.” 20. “Cũng vậy, khi bảy cái bánh được phát cho bốn ngàn người, các con thu được bao nhiêu giỏ đầy những miếng bánh?” Họ thưa: “Bảy giỏ.” 21. Ngài phán cùng họ rằng: “Các con vẫn chưa hiểu sao?”
  5. Rồi họ đến Bết-sai-đa. Người ta đem cho Ngài một người mù và nài xin Ngài chạm vào ông. 23. Ngài nắm tay người mù, dắt ông khỏi làng, phun nước miếng lên mắt của ông, rồi đặt tay trên ông. Ngài hỏi ông: “Con có thấy gì không?” 24. Ông ngước lên rồi thưa: “Con thấy người ta, nhưng trông họ giống như cái cây đang di chuyển.” 25. Rồi Ngài lại đặt tay trên mắt của ông. Ông nhìn trở lại, thị lực được phục hồi và thấy mọi vật rõ ràng. 26. Ngài cho ông về nhà và dặn: “Đừng trở vào trong làng.”
  6. Đức Chúa Jesus cùng các môn đồ đi khỏi đó, vào các làng thuộc Sê-sa-rê Phi-líp. Dọc đường, Ngài hỏi các môn đồ của Ngài rằng: “Người ta nói Ta là ai?” 28. Họ trả lời Ngài rằng: “Giăng Báp-tít”, những người khác nói: “Ê-li”, và những người khác nói: “Là một trong những tiên tri”.
  7. Rồi Ngài hỏi họ: “Còn các con thì nói Ta là ai?” Phi-e-rơ thưa rằng: “Ngài là Đấng Christ.” 30. Đức Chúa Jesus truyền cho họ rằng họ không được nói với ai về Ngài. 31. Rồi Ngài bắt đầu dạy cho họ rằng Con Người phải chịu nhiều đau khổ, phải bị các trưởng lão, các trưởng tế và các thầy dạy giáo luật từ bỏ, bị giết, và sau ba ngày sẽ sống lại.
  8. Ngài đã công khai nói điều này. Nhưng Phi-e-rơ đã đem Ngài riêng ra, và bắt đầu trách Ngài. 33. Tuy nhiên, Ngài quay lại, nhìn các môn đồ của Ngài, rồi Ngài quở trách Phi-e-rơ, và nói rằng: “Hỡi Sa-tan! Hãy lui ra phía sau của Ta, bởi vì ngươi chẳng lưu tâm đến việc của Đức Chúa Trời, nhưng chỉ suy nghĩ đến việc của loài người.”
  9. Sau đó, Ngài đã gọi đám đông và các môn đồ của Ngài đến, rồi Ngài nói với họ: “Nếu ai muốn theo Ta, người đó hãy từ bỏ chính mình, rồi vác thập tự của mình, và theo Ta. 35. Bởi vì ai muốn cứu mạng sống của mình thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống vì Ta và Phúc Âm, thì sẽ cứu được nó. 36. Một người nếu được cả thế giới mà mất linh hồn của chính mình thì có ích lợi gì? 37. Người ấy sẽ lấy gì mà đổi lại linh hồn của mình? 38. Bởi vì nếu ai hổ thẹn về Ta và đạo của Ta giữa vòng thế hệ gian dâm và tội lỗi nầy, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn về người đó khi Ngài ngự đến trong vinh quang của Cha Ngài, cùng với các thiên sứ thánh.”

 

9

  1. Ngài phán với họ rằng: “Thật vậy, Ta nói cho các ngươi: Một vài người trong những người đang đứng đây sẽ không nếm trải sự chết cho tới khi họ thấy vương quốc của Đức Chúa Trời cùng với uy quyền sẽ đến.”
  2. Sáu ngày sau, Đức Chúa Jesus đã đem Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng, chỉ một mình họ đã cùng với Ngài lên một ngọn núi cao, và Ngài đã hóa hình trước mặt họ. 3. Y phục của Ngài trở nên sáng rực và trắng xóa đến nỗi không có thợ giặt nào trên thế gian nầy có thể tẩy trắng được như vậy. 4. Ê-li và Môi-se đã xuất hiện, và họ đàm đạo với Đức Chúa Jesus. 5. Phi-e-rơ nói cùng Đức Chúa Jesus rằng: “Thưa Thầy! Thật tốt cho chúng ta ở đây. Xin để chúng con dựng ba cái lều: một cái cho Thầy, một cái cho Môi-se, và một cái cho Ê-li.” 6. Phi-e-rơ không biết mình đang nói gì bởi vì họ đều quá khiếp sợ. 7. Và rồi, có một đám mây che phủ họ; từ trong đám mây có tiếng phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta! Hãy nghe lời Người!” 8. Và thình lình, họ nhìn chung quanh, không còn ai, chỉ thấy một mình Đức Chúa Jesus ở với họ mà thôi.
  3. Khi họ từ trên núi xuống, Ngài dặn họ rằng họ không được kể cho ai những gì họ đã thấy cho đến khi Con Người từ cõi chết sống lại. 10. Họ đã vâng giữ lời đó – nhưng tự hỏi nhau: “Sống lại từ cõi chết” nghĩa là gì?
  4. Rồi họ hỏi Ngài rằng: “Tại sao các thầy dạy giáo luật nói rằng Ê-li phải đến trước?” 12. Ngài nói với họ: “Thật vậy, Ê-li đã đến trước, phục hồi mọi việc; còn lời chép về Con Người rằng Ngài phải chịu nhiều thống khổ và bị ngược đãi thì thế nào? 13. Nhưng Ta nói cho các con: Ê-li đã đến rồi, và họ đã đối xử với người theo họ muốn, đúng như lời đã chép về người.”
  5. Khi trở lại với các môn đồ, họ nhìn thấy một đám đông đang vây quanh những người đó. Các học giả giáo luật đang tranh luận với những người đó. 15. Cả đám đông rất ngạc nhiên khi nhìn thấy Ngài, ngay lập tức họ chạy đến chào Ngài. 16. Ngài hỏi họ: “Các ngươi tranh luận với họ về điều gì?” 17. Một người trong đám đông đã trả lời Ngài: “Thưa Thầy! Tôi đem con trai của tôi đến cho Thầy. Cháu bị quỷ câm ám. 18. Mỗi lần nó nhập vào cháu, nó vật cháu ngã xuống, làm cháu sùi bọt, nghiến răng, rồi cứng đờ người ra. Tôi đã nhờ các môn đồ của Thầy để họ đuổi nó ra, nhưng họ không có quyền.”
  6. Ngài trả lời ông rằng: “Hỡi thế hệ vô tín! Ta sẽ ở với các ngươi cho đến khi nào? Ta sẽ chịu đựng các ngươi cho đến khi nào? Hãy đem nó đến cho Ta.” 20. Họ mang nó đến với Ngài. Vừa thấy Ngài, quỷ lập tức vật mạnh đứa trẻ, nó ngã xuống đất, lăn lộn, sùi bọt mép. 21. Đức Chúa Jesus hỏi người cha: “Cháu đã bị thế nầy bao lâu rồi?” Người đó nói: “Từ lúc còn bé. 22. Quỷ thường ném cháu vào lửa, vào nước, để giết cháu. Tuy nhiên nếu Thầy có thể làm được gì, xin thương xót chúng tôi và giúp chúng tôi!” 23. Đức Chúa Jesus nói cùng người: “Nếu Thầy có thể? Ai tin thì mọi việc đều được cả.” 24. Cha của đứa trẻ lập tức thốt lên: “Tôi tin! Xin Ngài giúp cho sự vô tín của tôi!” 25. Khi thấy đoàn dân đổ xô đến, Đức Chúa Jesus quở trách tà linh và truyền cho nó: “Quỷ câm và điếc kia! Ta truyền cho ngươi hãy ra khỏi đứa trẻ nầy, và ngươi không được nhập vào nó nữa!” 26. Quỷ rú lên, quật mạnh đứa trẻ làm co giật nhiều lần, rồi xuất ra; đứa trẻ trông như chết, nên nhiều người nói rằng: “Nó đã chết.” 27. Nhưng Đức Chúa Jesus nắm tay đứa trẻ, đỡ nó lên, và nó đứng dậy.
  7. Khi Ngài đã vào trong nhà rồi, các môn đồ của Ngài hỏi riêng Ngài: “Tại sao chúng con không thể đuổi được quỷ ấy?” 29. Ngài nói với họ: “Thứ nầy có thể bị đuổi ra không bằng điều gì khác, nếu không phải là sự cầu nguyện.”
  8. Rời khỏi nơi đó, họ đi ngang qua miền Ga-li-lê; và Ngài không muốn ai biết; 31. bởi vì Ngài đang dạy các môn đồ của Ngài, và Ngài nói với họ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta. Họ sẽ giết Ngài; và ba ngày sau khi bị giết, Ngài sẽ sống lại.” 32. Các môn đồ không hiểu lời đó, và họ sợ hỏi Ngài.
  9. Rồi họ đến Ca-bê-na-um. Khi đã vào trong nhà, Ngài hỏi họ: “Lúc đi đường, các con bàn cãi với nhau việc gì?” 34. Nhưng họ làm thinh, bởi vì dọc đường họ đã cãi nhau xem ai là lớn hơn hết. 35. Ngài ngồi xuống, gọi mười hai sứ đồ, và Ngài nói với họ: “Nếu ai muốn làm đầu, thì người đó là cuối cùng và làm đầy tớ cho mọi người.”
  10. Rồi Ngài đem một đứa trẻ, đặt giữa các môn đồ; Ngài ẵm em bé trong tay và nói cùng họ: 37. “Người nào, vì danh Ta, tiếp một đứa trẻ như thế nầy, tức là tiếp Ta; còn ai tiếp Ta, thì không phải tiếp Ta, nhưng tiếp Đấng đã sai Ta.”
  11. Giăng thưa với Ngài: “Thưa Thầy! Chúng con đã thấy có người nhân danh Thầy mà đuổi quỷ, và chúng con đã cấm người đó, bởi vì người đó không theo chúng ta.” 39. Đức Chúa Jesus nói: “Đừng ngăn cấm người đó, bởi vì không ai có thể vừa nhân danh Ta làm phép lạ, lại vừa nói xấu Ta. 40. Ai không chống chúng ta là ủng hộ chúng ta. 41. Còn ai nhân danh Ta cho các con một chén nước, vì các con thuộc về Đấng Christ, Ta nói thật cho các con, người ấy sẽ không mất phần thưởng của mình. 42. Nhưng ai gây cho một trong những đứa bé nầy, đã tin Ta, sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối đá vào cổ người đó và ném người đó xuống biển còn hơn.”
  12. “Nếu tay của con gây cho con phạm tội, hãy chặt nó đi, vì thà cho con bị què tay mà vào sự sống, còn hơn có cả hai tay mà đi vào hỏa ngục, vào trong lửa chẳng hề tắt. 44. Nơi giòi bọ không chết, và lửa không hề tắt. 45. Nếu chân của con gây cho con phạm tội, hãy chặt nó đi, vì thà cho con bị què chân mà vào sự sống, còn hơn có cả hai chân mà bị ném vào hỏa ngục, vào trong lửa không hề tắt. 46. Nơi giòi bọ không chết, và lửa không hề tắt. 47. Và nếu mắt của con gây cho con phạm tội, hãy móc nó đi, vì thà cho con có một mắt mà được vào vương quốc của Đức Chúa Trời, hơn là có cả hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục, 48. nơi giòi bọ không chết, và lửa không hề tắt.”
  13. “Mỗi người sẽ được nêm mặn bằng lửa. Mỗi sinh tế sẽ được nêm mặn bằng muối. 50. Muối là vật tốt, nhưng nếu muối mất mặn, các con sẽ nêm bằng gì? Hãy có muối trong chính các con, và hãy hòa thuận với nhau.”

 

10

  1. Ngài đứng dậy, từ đó đi vào địa phận Giu-đê và bên kia của Giô-đanh. Những đám đông lại tụ họp chung quanh Ngài, và như thường lệ, Ngài dạy dỗ họ.
  2. Những người Pha-ri-si đến hỏi Ngài: “Chồng có được phép ly dị vợ không?” – để thử Ngài. 3. Ngài trả lời họ: “Môi-se đã truyền cho các ngươi điều gì?” 4. Họ nói: “Môi-se cho phép viết giấy ly hôn để ly dị vợ.” 5. Tuy nhiên, Đức Chúa Jesus đã nói với họ: “Chính vì sự cứng lòng của các ngươi mà người đã viết ra mạng lệnh nầy. 6. Nhưng từ buổi sáng thế, Ngài đã tạo dựng một người nam và một người nữ. 7. Vì điều này, người nam phải lìa cha mẹ của mình và kết hợp với vợ của mình, 8. và hai người sẽ trở nên một thịt. Vì vậy, họ không còn là hai nữa, nhưng là một thịt. 9. Do đó, loài người không được phân rẽ điều gì mà Đức Chúa Trời đã phối hợp.”
  3. Khi ở trong nhà, các môn đồ lại hỏi Ngài về vấn đề nầy; 11. Ngài nói với họ: “Người nào ly dị vợ của mình, để cưới người khác, là phạm tội ngoại tình đối với nàng. 12. Còn nếu một phụ nữ ly dị chồng của mình, để kết hôn với người khác, nàng phạm tội ngoại tình.”
  4. Người ta đem đến cho Ngài những đứa trẻ để Ngài tiếp xúc với chúng, nhưng các môn đồ trách họ. 14. Thấy vậy, Ngài phẫn nộ và nói với các môn đồ: “Hãy cho phép trẻ em đến với Ta, đừng ngăn trở chúng nó! Bởi vì vương quốc Đức Chúa Trời thuộc về những người giống như vậy. 15. Thật vậy, Ta nói với các ngươi: Ai không tiếp nhận vương quốc của Đức Chúa Trời như một đứa trẻ, thì sẽ không vào đó được.” 16. Rồi Ngài ẵm chúng trên tay, đặt tay trên chúng, và ban phước.
  5. Khi Ngài khởi hành đi tiếp hành trình, có một người chạy đến, quỳ trước mặt Ngài và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” 18. Đức Chúa Jesus nói với người: “Tại sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Ngoại trừ một mình Đức Chúa Trời, không ai là nhân lành cả. 19. Ngươi biết những điều răn: Đừng giết người; đừng phạm tội ngoại tình; đừng trộm cắp; đừng làm chứng dối; đừng lừa đảo; hãy hiếu kính cha mẹ của ngươi.” 20. Người ấy nói với Ngài: “Thưa Thầy! Tôi đã tuân giữ tất cả những điều đó từ thời thanh xuân.” 21. Đức Chúa Jesus trìu mến nhìn người đó và nói với người: “Ngươi còn thiếu một điều. Hãy đi, bán những gì ngươi có, và phân phát cho những người nghèo, rồi ngươi sẽ có châu báu ở trên trời; rồi hãy đến theo Ta.” 22. Buồn bã vì lời đó, người đó đã bỏ đi trong đau đớn, bởi vì người đó có quá nhiều của cải.
  6. Đức Chúa Jesus nhìn chung quanh rồi nói với các môn đồ của Ngài: “Thật khó cho những người có sự giàu có vào vương quốc của Đức Chúa Trời” 24. Các môn đồ ngạc nhiên về những lời của Ngài. Nhưng Đức Chúa Jesus lại nói với họ: “Các con! Thật khó cho những người nương cậy vào sự giàu có để được vào vương quốc của Đức Chúa Trời. 25. Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc của Đức Chúa Trời.” 26. Các môn đồ ngạc nhiên tột bậc, họ nói với nhau: “Như vậy ai có thể được cứu?” 27. Đức Chúa Jesus nhìn họ và nói: “Loài người không thể, nhưng đối với Đức Chúa Trời thì không như vậy; bởi vì Đức Chúa Trời làm được mọi sự.”
  7. Phi-e-rơ liền nói với Ngài: “Thưa Thầy! Chúng con đã từ bỏ tất cả mà theo Thầy.” 29. Đức Chúa Jesus đáp: “Thật vậy! Ta nói với các con. Không một ai vì Ta và vì Phúc Âm từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất đai, 30. mà bây giờ, ngay trong đời nầy, lại không nhận gấp trăm lần hơn về nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con cái, đất ruộng, cùng với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau. 31. Nhưng có nhiều người ban đầu sẽ trở nên cuối, và những người cuối sẽ trở nên đầu.”
  8. Họ lên đường đi lên Giê-ru-sa-lem, Đức Chúa Jesus đi trước họ. Các môn đồ thì kinh ngạc, còn những người đi theo thì sợ hãi. Ngài lại đem Nhóm Mười Hai riêng ra và nói cho họ những gì sẽ xảy đến cho Ngài. 33. Ngài nói: “Kìa, chúng ta đang lên Giê-ru-sa-lem, Con Người sẽ bị phản bội, bị nộp cho các trưởng tế và các thầy dạy giáo luật. Họ sẽ kết án tử hình Người, và sẽ phản bội giao Người cho dân ngoại. 34. Chúng sẽ chế nhạo Người, khạc nhổ trên Người, đánh đòn và giết chết Người. Tuy nhiên, đến ngày thứ ba Người sẽ sống lại.”
  9. Gia-cơ và Giăng – hai con trai của Xê-bê-đê – đã đi lên gặp Đức Chúa Jesus và nói với Ngài: “Thưa Thầy! Chúng con mong Thầy thực hiện điều chúng con cầu xin.” 36. Ngài nói với họ: “Các con muốn Ta làm gì cho các con?” 37. Họ nói với Ngài: “Xin cho chúng con có thể một đứa ngồi bên phải, một đứa ngồi bên trái của Thầy, khi Thầy được vinh hiển.” 38. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Các con không biết điều mình xin. Các con có thể uống được chén Ta uống, và nhận báp-têm mà Ta đã nhận hay không?” 39. Họ thưa với Ngài: “Chúng con có thể!” Rồi Đức Chúa Jesus nói với họ: “Các con sẽ uống chén Ta uống, và các con sẽ nhận báp-têm mà Ta đã nhận; 40. nhưng việc ngồi bên phải hay bên trái Ta thì không do Ta ban cho, nhưng được dành cho những người đã được định sẵn.”
  10. Nghe vậy, mười sứ đồ kia nổi giận với Gia-cơ và Giăng. 42. Đức Chúa Jesus đã gọi họ đến gần, rồi nói với họ: “Các con biết rằng những người được trao trách nhiệm cầm quyền dân ngoại thì thống trị dân; các quan chức cao cấp thì dùng quyền lực mà cai trị. 43. Nhưng giữa vòng các con thì không phải như vậy. Ngược lại, ai muốn làm lớn trong các con thì sẽ làm đầy tớ của các con, 44. còn ai muốn đứng đầu trong các con thì sẽ làm nô lệ cho mọi người. 45. Bởi vì ngay cả Con Người đã đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ, và hiến dâng mạng sống của Ngài làm một giá chuộc cho nhiều người.”
  11. Rồi họ đến Giê-ri-cô. Khi Ngài cùng các môn đồ và đoàn dân đông từ Giê-ri-cô đi ra, có một người mù ăn xin, tên là Ba-ti-mê, con trai của Ti-mê, đang ngồi bên đường. 47. Nghe nói đây là Đức Chúa Jesus, người Na-xa-rét, anh bắt đầu kêu lớn và nói rằng: “Đức Chúa Jesus! Con của Đa-vít! Xin đoái thương con.” 48. Nhiều người rầy anh, truyền cho anh hãy im lặng, nhưng anh càng kêu lớn hơn: “Lạy Con của Đa-vít! Xin đoái thương con.” 49. Đức Chúa Jesus đã dừng lại và truyền cho gọi anh. Họ đã gọi người mù và nói với anh: “Hãy vui lên! Hãy đứng dậy! Ngài gọi anh đó.” 50. Người mù quăng áo choàng, đứng dậy, rồi đến với Đức Chúa Jesus. 51. Đức Chúa Jesus hỏi người: “Con muốn Ta làm gì cho con?” Người mù nói với Ngài: “Thưa Thầy! Xin phục hồi thị lực cho con.” 52. Đức Chúa Jesus nói với người: “Hãy đi! Đức tin của con đã chữa lành cho con.” Ngay lập tức, thị lực người được phục hồi và người lên đường đi theo Ngài.

 

11

  1. Khi họ đến gần Giê-ru-sa-lem, khoảng Bết-pha-giê và Bê-tha-ni, gần núi Ô-liu, Ngài sai hai môn đồ của Ngài, 2. rồi nói với họ: “Hãy đi vào trong ngôi làng trước mặt các con. Vừa vào trong làng, các con sẽ thấy một con lừa con, chưa có người nào cưỡi, đang buộc sẵn ở đó. Hãy mở nó ra, và dắt về. 3. Nếu có ai hỏi các con: Tại sao các ông làm như vậy? thì hãy đáp: Chúa cần nó, và Ngài sẽ gửi trả trở lại đây.”
  2. Họ đi và thấy ở bên đường có một con lừa con đang buộc ngoài cửa, rồi họ mở dây của nó. 5. Vài người trong số những người đang đứng tại đó nói với họ: “Các ông mở lừa con đó làm gì?” 6. Và họ đã trả lời những người đó như Đức Chúa Jesus đã truyền; rồi những người đó cho phép họ.
  3. Họ đã dắt lừa con đến cùng Đức Chúa Jesus. Họ trải những áo choàng của họ trên lưng của nó, để Ngài cưỡi lên trên. 8. Nhiều người trải áo choàng của họ trên đường; những người khác trải các nhánh cây vừa chặt từ các cánh đồng. 9. Những người đi trước, những kẻ theo sau đều tung hô rằng: “Hô-sa-na! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! 10. Phước cho vương quốc sắp đến của Đa-vít, tổ phụ của chúng ta! Hô-sa-na trên nơi chí cao!”
  4. Ngài đã vào Giê-ru-sa-lem và đi vào đền thờ. Ngài nhìn mọi việc chung quanh, rồi Ngài cùng với Nhóm Mười Hai trở ra Bê-tha-ni, bởi vì lúc đó đã đến lúc xế chiều.
  5. Ngày hôm sau, khi họ rời Bê-tha-ni, Ngài đói. 13. Từ xa, Ngài thấy một cây vả đầy lá, Ngài đến xem thử Ngài có tìm được gì trên nó hay không. Khi Ngài đến, Ngài không thấy gì khác ngoài lá, bởi vì không phải mùa vả. 14. Ngài phán với cây vả: “Từ nay trở đi, không ai ăn trái của mầy nữa!” Các môn đồ của Ngài nghe lời đó.
  6. Họ đến Giê-ru-sa-lem. Ngài vào trong đền thờ, bắt đầu đuổi những kẻ bán, người mua trong đền thờ; và Ngài lật bàn của những kẻ đổi tiền, lật ghế của những người bán bồ câu. 16. Ngài không cho phép bất cứ ai đem vật gì qua đền thờ. 17. Rồi Ngài bắt đầu dạy và nói với họ: “Không phải có lời chép rằng: Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc hay sao, nhưng các ngươi đã biến nó thành hang trộm cướp.” 18. Các thượng tế và các thầy dạy giáo luật nghe lời nầy, họ tìm cách nào để họ có thể giết Ngài; bởi vì họ sợ Ngài, và vì tất cả đám đông đều kinh ngạc trước sự dạy dỗ của Ngài.
  7. Tối đến, họ ra khỏi thành. 20. Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, họ thấy cây vả đã khô đến tận rễ; 21. Phi-e-rơ nhớ, nên thưa với Ngài: “Thưa Thầy! Xem kìa! Cây vả mà Thầy quở đã chết khô rồi.”
  8. Đức Chúa Jesus đáp, rồi nói với họ rằng: “Hãy có đức tin nơi Đức Chúa Trời! 23. Thật vậy, Ta bảo cho các con: Ai nói với hòn núi nầy: Ngươi hãy nhấc lên, rồi ngươi quăng xuống biển – nếu trong lòng người ấy không có chút nghi ngờ, nhưng tin điều mình nói sẽ xảy ra, thì điều đó sẽ được thực hiện cho người đó. 24. Bởi vì điều này, Ta nói với các con: Bất cứ điều gì các con xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin rằng các con sẽ nhận được, và rồi điều ấy sẽ thành cho các con. 25. Khi các con đang đứng cầu nguyện, nếu các con có bất bình với ai bất cứ điều gì, hãy tha thứ, thì Cha của các con, là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ tha thứ những vi phạm của các con. 26. Nhưng nếu các con không tha thứ, thì Cha của các con, là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha thứ những vi phạm của các con.
  9. Rồi họ trở lại Giê-ru-sa-lem. Khi Ngài đang đi trong đền thờ, các trưởng tế, các học giả giáo luật, và các trưởng lão đã đến cùng Ngài. 28. Họ nói với Ngài: “Bởi thẩm quyền nào mà Thầy làm những việc nầy? Ai đã cho Thầy thẩm quyền để làm những việc nầy?” 29. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Ta cũng hỏi các ngươi một câu; và các ngươi hãy trả lời cho Ta, rồi Ta sẽ nói cho các ngươi biết bởi thẩm quyền nào Ta làm những việc nầy. 30. Báp-têm của Giăng đến từ trời hay từ loài người? Hãy trả lời cho Ta.”
  10. Và rồi, họ đã tranh luận với nhau: “Chúng ta nên nói gì? Nếu chúng ta nói: Từ trời, thì ông ấy sẽ nói: Như vậy, tại sao các ngươi không tin người? 32. Còn nếu chúng ta nói: Từ loài người, ….” — Họ sợ dân chúng, bởi vì mọi người đều cho rằng Giăng thật sự là một tiên tri. 33. Để trả lời Đức Chúa Jesus, họ nói: “Chúng tôi không biết.” Và Đức Chúa Jesus nói với họ: “Ta cũng sẽ không nói cho các ngươi biết bởi thẩm quyền nào Ta làm những việc nầy.”

 

12

  1. Ngài bắt đầu dùng những ngụ ngôn nói với họ: “Có một người kia trồng một vườn nho, rào chung quanh, đào hầm ép rượu, xây một tháp canh, rồi cho các tá điền thuê, và đi xa. 2. Đến mùa, chủ vườn sai một đầy tớ đến gặp những tá điền thuê vườn nho để thu một phần hoa lợi của vườn nho từ những tá điền đã thuê. 3. Nhưng họ bắt người đó, đánh đập rồi đuổi về tay không. 4. Người chủ lại sai một đầy tớ khác đến với họ; họ đánh vào đầu của người nầy, rồi nhục mạ anh ta. 5. Người chủ đã sai một đầy tớ khác, nhưng họ đã giết người đó. Nhiều đầy tớ khác cũng bị đối xử như vậy: người thì bị đánh, kẻ thì bị giết. 6. “Chủ vườn có một con trai một yêu dấu; cuối cùng, ông sai con trai mình đến với họ, và tự nhủ: ‘Chúng sẽ kính nể con trai của ta.’ 7. Nhưng những tá điền đó đã bàn với nhau: ‘Đây là kẻ thừa kế! Hãy đến, chúng ta hãy giết nó thì gia tài sẽ thuộc về chúng ta.’ 8. Họ đã bắt, rồi giết người, và ném ra ngoài vườn nho. 9. Vì vậy, chủ vườn nho sẽ làm gì? Ông sẽ đến để hủy diệt những tá điền, rồi giao vườn nho cho những người khác. 10. Các ngươi chưa từng đọc lời Kinh Thánh nầy sao? ‘Hòn đá bị thợ xây loại ra, đã trở nên đá góc nhà. 11. Đây là công việc đến từ Chúa, và là việc diệu kỳ trong mắt của chúng ta’.” 12. Họ biết Ngài đã dùng ngụ ngôn để ám chỉ họ. Họ đã tìm cách bắt Ngài, nhưng họ sợ đám đông, cho nên họ đã bỏ Ngài mà đi.
  2. Sau đó, họ sai những người Pha-ri-si và những người của Hê-rốt đến với Ngài để gài bẫy Ngài trong lời nói. 14. Họ đã đến nói với Ngài: “Thưa Thầy! Chúng tôi biết Thầy là người chân chính, không vị nể ai; vì Thầy không nhìn bề ngoài của con người, nhưng dạy đường lối của Đức Chúa Trời cách trung thực. Việc nộp thuế cho Sê-sa có đúng luật pháp hay không? Chúng tôi có nên nộp hay không?” 15. Biết thái độ đạo đức giả của họ, Ngài phán với họ: “Tại sao các ngươi thử Ta? Hãy đem đến cho Ta một đồng đơ-ni-ê.” 16. Họ đem nó cho Ngài. Ngài hỏi họ: “Hình và dòng chữ được khắc nầy là của ai?” Họ trả lời Ngài: “Của Sê-sa.” 17. Đức Chúa Jesus phán cùng họ: “Hãy trả lại cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và hãy trả cho Đức Chúa Trời những gì của Đức Chúa Trời.” Họ kinh ngạc về Ngài.
  3. Những người Sa-đu-sê, là những người nói rằng không có sự sống lại, đã đến gặp Ngài. Họ hỏi Ngài rằng: 19. “Thưa Thầy! Môi-se đã viết cho chúng ta rằng: Nếu người nào có anh em qua đời, để vợ lại nhưng không có con, người ấy phải lấy vợ của anh em mình, và lưu truyền giòng giống cho anh em của mình. 20. Có bảy anh em kia, người đầu tiên cưới vợ, rồi chết, không có con. 21. Người thứ hai lấy nàng, rồi chết, cũng không có con; người thứ ba cũng vậy. 22. Cả bảy người đều không để lại đứa con nào. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23. Lúc sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ của ai? Vì cả bảy người đều đã lấy nàng làm vợ.”
  4. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Có phải các ngươi đã sai lầm vì không hiểu biết Kinh Thánh hoặc quyền năng của Đức Chúa Trời? 25. Bởi vì khi từ cõi chết sống lại, người ta không cưới, cũng không gả, nhưng giống như các thiên sứ ở trên trời. 26. Còn việc người chết được sống lại, các ngươi chưa đọc trong sách của Môi-se về bụi gai. Đức Chúa Trời đã phán với ông như thế nào? ‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp.’ 27. Ngài không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng của người sống. Lầm lỗi của các ngươi thật quá lớn.”
  5. Nghe họ tranh luận với nhau, và thấy Ngài đối đáp hay, nên một trong những học giả giáo luật đã đến hỏi Ngài: “Trong các điều răn, điều nào quan trọng nhất?” 29. Đức Chúa Jesus đáp: “Điều răn quan trọng nhất đó là: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy lắng nghe! Chúa, là Đức Chúa Trời của chúng ta, là Chúa duy nhất, 30. và ngươi phải yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời của ngươi, với tất cả tấm lòng của ngươi, tất cả linh hồn của ngươi, tất cả tâm trí của ngươi, tất cả sức lực của ngươi. 31. Điều thứ hai là điều nầy: Ngươi phải yêu người lân cận của ngươi như chính mình. Không có điều răn nào lớn hơn hai điều nầy.” 32. Thầy dạy giáo luật nói với Ngài: “Đúng vậy! Thưa Thầy! Thầy nói đúng sự thật. Đức Chúa Trời chỉ có một, ngoài Ngài ra, không có Đấng nào khác, 33. và việc yêu mến Ngài với tất cả tấm lòng, với tất cả tâm trí, với tất cả sức lực; và yêu người lân cận như chính mình là quan trọng hơn việc dâng mọi lễ vật toàn thiêu và những sinh tế khác.” 34. Đức Chúa Jesus thấy người ấy trả lời cách khôn ngoan, Ngài nói với ông: “Ngươi không xa vương quốc của Đức Chúa Trời.” Sau đó, không còn ai dám hỏi Ngài nữa.
  6. Khi đang giảng dạy trong đền thờ, Đức Chúa Jesus đặt câu hỏi: “Làm thế nào các học giả giáo luật có thể nói Đấng Christ là con của Đa-vít? 36. Chính Đa-vít được Đức Thánh Linh cảm thúc, đã nói: ‘Chúa phán với Chúa tôi: Hãy ngồi bên phải của Ta, cho đến khi Ta đặt những kẻ thù của Con làm bệ chân nơi chân của Con.’ 37. Chính Đa-vít đã gọi Ngài là Chúa, như vậy làm sao Ngài là con của người được?” Đoàn dân đông lắng nghe Ngài một cách thích thú.
  7. Trong lúc giảng dạy, Ngài nói: “Hãy đề phòng những học giả giáo luật, là những người thích mặc áo choàng đi dạo, thích được chào ngoài chợ, 39. thích những ghế đầu tiên trong các hội đường, và những chỗ danh dự trong các buổi tiệc. 40. Họ nuốt nhà của các bà góa, và giả bộ cầu nguyện dài dòng. Họ sẽ bị phán xét nhiều hơn.”
  8. Ngồi đối diện với thùng lạc hiến, Ngài quan sát đám đông dâng tiền vào thùng lạc hiến. 42. Nhiều người giàu đã dâng vào rất nhiều. Nhưng có một phụ nữ góa bụa nghèo đến dâng hai đồng tiền nhỏ, trị giá một phần tư xu. 43. Ngài gọi các môn đồ đến và nói với họ: “Thật vậy, Ta nói với các con, phụ nữ góa bụa nghèo nầy đã dâng vào thùng lạc hiến nhiều hơn tất cả những người khác. 44. Bởi vì tất cả đã dâng từ những điều dư thừa của họ; nhưng bà, dù rất nghèo túng, đã dâng tất cả những gì mình có, là tất cả những gì để nuôi sống mình.”

 

13

  1. Khi Ngài đang ra khỏi đền thờ, một môn đồ của Ngài đã nói với Ngài: “Thưa Thầy! Hãy nhìn những tảng đá và các tòa nhà!” 2. Đức Chúa Jesus nói với người đó: “Con thấy những tòa nhà vĩ đại nầy phải không? Rồi đây sẽ không còn tảng đá nào chồng trên tảng đá khác, mà không bị đổ xuống.”
  2. Lúc Ngài ngồi trên núi Ô-liu, đối diện với đền thờ, Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, và Anh-rê đến hỏi riêng Ngài: 4. “Xin Thầy nói cho chúng con biết lúc nào những điều nầy sẽ xảy ra? Và có dấu hiệu nào cho biết khi nào tất cả những điều ấy sẽ được ứng nghiệm?”
  3. Đức Chúa Jesus bắt đầu nói với họ: “Hãy thận trọng! Đừng để ai lừa gạt các con. 6. Nhiều kẻ sẽ đến trong danh của Ta và nói rằng: Chính ta là đấng đó, và họ sẽ lừa gạt nhiều người. 7. Rồi khi các con nghe về chiến tranh và tin đồn về chiến tranh, thì đừng bối rối. Điều đó phải xảy đến, nhưng chưa phải là cuối cùng. 8. Bởi vì dân nầy sẽ nổi lên nghịch lại dân khác, nước nọ chống với nước kia. Sẽ có động đất, và sẽ có những nạn đói tại nhiều nơi. Những điều đó chỉ là khởi đầu như những đau đớn lúc sinh. 9. Nhưng các con phải thận trọng cho mình, họ sẽ phản nộp các con cho các tòa án; các con sẽ bị đánh trong các nhà hội; và vì Ta, các con sẽ phải đứng trước mặt các tổng đốc và các vua để làm chứng cho họ.”
  4. “Nhưng trước hết, Phúc Âm phải được rao giảng cho tất cả các dân tộc. 11. Khi họ giải các con, để nộp các con, đừng lo trước về điều mình sẽ nói, nhưng trong giờ đó, hãy nói theo lời sẽ được ban cho các con; bởi vì không phải các con nói, nhưng là Đức Thánh Linh. 12. Anh em sẽ nộp nhau để bị giết; cha sẽ nộp con; con cái sẽ nổi lên nghịch lại cha mẹ, và khiến họ phải chết. 13. Các con sẽ bị tất cả ghét vì danh của Ta. Nhưng người nào bền chí cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu.”
  5. “Nhưng khi các con thấy sự kinh tởm của cảnh hoang tàn, diễn ra tại nơi lẽ ra không nên có – ai đọc phải hiểu – thì ai đang ở trong miền Giu-đê, hãy trốn lên núi; 15. ai ở trên mái nhà, đừng xuống hoặc chạy vào nhà để lấy bất cứ vật gì khỏi nhà của mình; 16. ai ở ngoài đồng, đừng trở về lấy vật bỏ lại hay quần áo của mình. 17. Trong những ngày đó, thật khốn khổ cho những người mang thai và những người còn cho con bú! 18. Hãy cầu nguyện cho việc đó không xảy ra vào mùa đông. 19. Bởi vì trong những ngày đó, sẽ có hoạn nạn mà từ thuở sáng tạo – là lúc Đức Chúa Trời tạo dựng vũ trụ cho đến bây giờ – cũng chưa từng có, và về sau cũng chẳng bao giờ có như vậy. 20. Nếu Chúa không rút ngắn những ngày đó thì không một thể xác nào sẽ được cứu. Tuy nhiên, vì những người Ngài đã chọn cho nên Ngài rút ngắn các ngày ấy. 21. Khi đó, nếu có ai nói với các con: Kìa, Đấng Christ ở đây, hay ở đó, thì các con đừng tin. 22. Những kẻ giả mạo Đấng Christ và những tiên tri giả sẽ đứng lên. Chúng sẽ làm các dấu lạ, phép mầu, và nếu có thể được, sẽ lừa gạt cả những người được chọn. 23. Nhưng hãy thận trọng bởi vì Ta đã nói trước cho các con tất cả những điều đó.”
  6. “Trong những ngày đó, sau lúc hoạn nạn, mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng sẽ không chiếu sáng, 25. các ngôi sao sẽ từ trời sa xuống, và những quyền lực trên trời sẽ bị rúng động. 26. Bấy giờ người ta sẽ thấy Con Người đến giữa đám mây với quyền năng và vinh quang rất lớn. 27. Ngài sẽ sai các thiên sứ tập hợp những người được chọn của Ngài từ bốn phương, từ cùng trời đến cuối đất. 28. Hãy rút ra bài học từ ngụ ngôn về cây vả, vừa lúc cành còn non, lá đang trổ, thì các con biết mùa hạ sắp đến. 29. Cũng vậy, khi các con thấy những điều đó xảy ra, hãy biết rằng Ngài đã gần, ngay trước cửa. 30. Thật vậy, Ta nói cho các con, thời đại nầy sẽ không qua đi, trước khi tất cả những điều này xảy ra. 31. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Ta nói sẽ không bao giờ qua đâu.”
  7. “Về ngày hay giờ, thì không ai biết, ngay cả các thiên sứ trên trời, hay là Con, nhưng chỉ một mình Cha mà thôi. 33. Hãy thận trọng, hãy tỉnh thức, bởi vì các con không biết khi nào điều đó sẽ đến. 34. Giống như một người kia rời nhà của mình, lên đường đi xa, rồi trao quyền cho những đầy tớ của mình, mỗi người một việc. Rồi ông truyền cho người gác cửa rằng người đó phải tỉnh thức. 35. Vì vậy, hãy tỉnh thức bởi vì các con không biết khi nào chủ nhà sẽ trở về, hoặc chiều tối, lúc nửa đêm, lúc gà gáy, hay tảng sáng, 36. Đừng để chủ về thình lình, ông bắt gặp các con đang ngủ chăng. 37. Những gì Ta nói với các con, Ta cũng nói cho mọi người: Hãy tỉnh thức!”

 

14

  1. Lúc này, còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các trưởng tế và các học giả giáo luật lập mưu bắt Ngài, để họ có thể giết Ngài. 2. Họ nói: “Đừng làm trong ngày lễ, để không tạo sự khích động trong dân chúng.”
  2. Ngài đang ở tại Bê-tha-ni, trong nhà của Si-môn, là người đã bị bịnh phung. Khi Ngài đang ngồi tại bàn ăn, có một phụ nữ đã đến, mang theo một bình bằng ngọc đựng dầu cam tùng nguyên chất rất đắt giá. Bà đập bể bình ngọc và rót dầu thơm trên đầu của Ngài. 4. Lúc nầy, có vài người tức giận nói với nhau: “Sao lại phung phí dầu thơm như vậy? 5. Bởi vì dầu nầy có thể bán được hơn ba trăm đơ-ni-ê, để bố thí cho những người nghèo.” Và họ đã nặng lời với bà. 6. Nhưng Đức Chúa Jesus nói: “Hãy để yên cho bà. Tại sao các ngươi lại gây phiền hà cho bà? Bà đã làm một việc tốt cho Ta. 7. Bởi vì các ngươi luôn luôn có những người nghèo bên mình, và khi nào muốn, các ngươi luôn luôn có thể làm điều tốt cho họ. Tuy nhiên các ngươi không luôn luôn có Ta. 8. Bà đã làm điều mình có thể làm. Bà đã xức xác của Ta trước, để chuẩn bị cho việc chôn cất. 9. Thật vậy, Ta nói với các ngươi: Trên cả thế giới nầy, bất kỳ nơi nào Phúc Âm được rao giảng, việc mà người phụ nữ nầy đã làm sẽ được nhắc lại để tưởng nhớ người.”
  3. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đã đến gặp các trưởng tế để phản nộp Ngài cho họ. 11. Nghe vậy họ mừng lắm, họ hứa cho hắn tiền bạc. Và rồi hắn tìm cơ hội thuận tiện để hắn có thể giao nộp Ngài.
  4. Vào ngày thứ nhất của lễ Bánh Không Men, là ngày người ta hiến dâng chiên con của lễ Vượt Qua, các môn đồ của Ngài đã thưa với Ngài: “Thầy muốn chúng con đi và chuẩn bị cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua tại đâu?” 13. Sau đó, Ngài sai hai môn đồ của Ngài đi và dặn: “Hãy vào trong thành. Có một người mang vò nước sẽ gặp các ngươi, và hãy đi theo người đó. 14. Người đó vào nhà nào, hãy nói với chủ nhà đó rằng: Thầy hỏi: Phòng khách, là nơi Ta và các môn đồ của Ta sẽ ăn lễ Vượt Qua, ở đâu? 15. Người sẽ chỉ cho các ngươi một phòng lớn trên lầu đã được sắp đặt sẵn sàng. Hãy chuẩn bị cho chúng ta tại đó.” 16. Hai môn đồ đã đi, vào trong thành phố, và gặp mọi việc như lời Ngài đã nói, rồi họ chuẩn bị cho lễ Vượt Qua.
  5. Tối đến, Ngài cùng với Nhóm Mưới Hai đến. 18. Khi họ đang ăn, Đức Chúa Jesus phán: “Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, một người trong các ngươi sẽ phản Ta, người đó đang ngồi ăn với Ta.” 19. Họ bắt đầu buồn bã, rồi từng người một lần lượt hỏi Ngài: “Chắc chắn không phải là con, phải không?” 20. Ngài đáp: “Đó là một người trong Nhóm Mười Hai, là người đang chấm chung một chén với Ta. 21. Thật vậy, Con Người phải ra đi như lời đã chép về Ngài, nhưng khốn thay cho kẻ phản bội Con Người! Thà hắn đừng sinh ra thì tốt hơn cho hắn.”
  6. Khi họ đang ăn, Đức Chúa Jesus đã lấy bánh, cảm tạ, bẻ ra, rồi trao cho họ và nói: “Hãy nhận lấy! Đây là thân thể của Ta.” 23. Ngài đã lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho họ, và tất cả đều uống. 24. Ngài nói với họ: “Đây là huyết của Ta, của giao ước đã đổ ra cho nhiều người. 25. Thật vậy, Ta nói với các ngươi, Ta sẽ không uống nước nho nữa cho đến ngày Ta sẽ uống thức mới trong vương quốc của Đức Chúa Trời.” 26. Sau khi hát thánh ca, họ đã đi ra để đến núi Ô-liu.
  7. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Tất cả các ngươi sẽ vấp ngã, vì có lời chép rằng: Ta sẽ đánh người chăn, thì chiên sẽ bị tan tác. 28. Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đến Ga-li-lê trước các ngươi.” 29. Phi-e-rơ nói với Ngài: “Dù cho tất cả có vấp ngã, nhưng không phải con.” 30. Đức Chúa Jesus nói với ông: “Thật vậy, Ta nói cho con, với chính con. Hôm nay, chính đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối Ta ba lần.” 31. Nhưng ông quả quyết nói rằng: “Nếu cần cho con cùng chết với Thầy, con cũng sẽ không chối Thầy.” Tất cả đều nói như vậy.
  8. Rồi họ đến một nơi, có tên là Ghết-sê-ma-nê, Ngài nói với các môn đồ của Ngài: “Hãy ngồi đây trong khi Ta cầu nguyện.” 33. Ngài đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng cùng với Ngài. Ngài bắt đầu bâng khuâng và sầu não. 34. Ngài nói với họ: “Linh hồn của Ta đau buồn cho đến chết. Hãy ở đây, và tỉnh thức.”
  9. Đi thêm một quãng nữa, Ngài sấp mình xuống đất và cầu nguyện nếu có thể được thì xin giờ nầy có thể qua khỏi Ngài. 36. Ngài nói: “A-ba! Cha ơi! Mọi việc đều là có thể cho Ngài. Xin cất chén nầy khỏi Con, nhưng không theo ý của Con mà theo ý của Ngài.” 37. Rồi Ngài trở lại, thấy họ đang ngủ. Ngài nói với Phi-e-rơ: “Si-môn! Con ngủ sao? Con không thể tỉnh thức được một giờ hay sao? 38. Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để các ngươi không sa vào sự cám dỗ. Tâm linh thì muốn, nhưng xác thịt thì yếu đuối.”
  10. Ngài lại đi, và cầu nguyện, giống như lời cầu nguyện mà Ngài đã nói. 40. Rồi Ngài trở lại và thấy họ vẫn đang ngủ. Bởi vì mắt họ đã trĩu nặng, và họ không biết gì để trả với lời Ngài.
  11. Ngài trở lại lần thứ ba, và nói với họ: “Các ngươi vẫn còn ngủ và nghỉ ngơi sao? Đủ rồi! Kìa, giờ Con Người bị phản nộp vào tay những kẻ có tội đã đến. 42. Hãy đứng dậy! Chúng ta hãy đi! Kìa, kẻ phản Ta đã đến gần.”
  12. Trong khi Ngài còn đang nói, Giu-đa, một người trong Nhóm Mười Hai, đã đến. Cùng với hắn có một đám người từ các trưởng tế, các học giả giáo luật, và các trưởng lão, họ cầm gươm và gậy. 44. Kẻ phản nộp đã cho họ một dấu hiệu: “Hễ tôi hôn ai, đó là người ấy. Hãy bắt Người và giải đi cho cẩn thận.” 45. Ngay khi vừa đến, hắn đã đến gần Ngài và nói: “Thưa Thầy” – rồi hắn hôn Ngài. 46. Chúng liền ra tay trên Ngài và bắt Ngài. 47. Một trong những người đứng cạnh đó rút gươm, đánh một đầy tớ của thượng tế và chém đứt tai của hắn.
  13. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Tại sao các ngươi đem gươm và gậy đến bắt Ta như bắt một tên cướp? 49. Hằng ngày Ta ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, tại sao các ngươi không bắt Ta. Dù vậy, hãy để cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.”
  14. Tất cả đều bỏ Ngài chạy trốn. 51. Có một thanh niên đi theo Ngài, trên người chỉ khoác một tấm vải. Họ tóm lấy chàng 52. nhưng chàng bỏ tấm vải lại, mình trần chạy trốn.
  15. Họ giải Đức Chúa Jesus đến nhà của vị thượng tế. Tất cả các trưởng tế, các trưởng lão và các học giả giáo luật đều tụ họp tại đó.
  16. Phi-e-rơ theo Ngài xa xa, vào đến sân dinh của vị thượng tế; ông ngồi với những người lính, và sưởi ấm bên đống lửa.
  17. Các trưởng tế và toàn thể Hội Đồng cố tìm bằng chứng chống lại Đức Chúa Jesus, để giết Ngài, nhưng họ không tìm được gì cả. 56. Bởi vì có nhiều người làm chứng dối chống lại Ngài, nhưng lời chứng của họ không phù hợp nhau. 57. Có vài người đứng lên làm chứng dối nghịch lại Ngài rằng: 58. “Chúng tôi có nghe Người nói: Ta sẽ phá hủy đền thờ do tay người xây dựng; trong ba ngày Ta sẽ xây một đền thờ khác không phải bởi tay loài người.” 59. Nhưng ngay ở điểm nầy, lời chứng của họ cũng không phù hợp nhau.
  18. Vị thượng tế đã đứng lên ở giữa, và hỏi Đức Chúa Jesus rằng: “Ngươi không trả lời gì về những cáo buộc mà những người nầy tố cáo ngươi sao?” 61. Nhưng Ngài vẫn yên lặng, không đáp lại gì cả. Vị thượng tế lại hỏi Ngài: “Ngươi có phải là Đấng Christ, Con của Đấng Đáng Tôn Ngợi hay không?” 62. Đức Chúa Jesus đáp: “Chính Ta! Rồi đây các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên phải của Đấng Quyền Năng, và sẽ đến giữa những đám mây trên trời.” 63. Vị thượng tế đã xé trang phục của mình, rồi nói: “Chúng ta có cần thêm những nhân chứng nào nữa? 64. Quý vị đã nghe lời phạm thượng. Quý vị quyết định thế nào?” Tất cả đã kết án Ngài đáng tội chết. 65. Vài người bắt đầu khạc nhổ vào Ngài, bịt mặt Ngài, rồi đấm Ngài, và nói với Ngài: “Hãy nói tiên tri đi!” Các lính canh cũng túm lấy và tát Ngài.
  19. Phi-e-rơ đang ở dưới sân, một trong những tớ gái của vị thượng tế đến, 67. nhìn thấy Phi-e-rơ đang sưởi, thì nhìn vào ông, và nói: “Ông cũng đã ở với Jesus, người Na-xa-rét.” 68. Nhưng ông chối rằng: “Tôi không biết, và cũng không hiểu cô nói gì.” Rồi ông bỏ đi ra sân trước; thì gà gáy. 69. Đầy tớ gái đó thấy ông, lại nói với những người đứng gần: “Người nầy cũng thuộc về bọn chúng.” 70. Nhưng ông lại chối một lần nữa. Một lúc sau, những người đứng gần lại nói với Phi-e-rơ: “Chắc chắn ngươi cũng thuộc về bọn chúng, bởi vì ngươi là người Ga-li-lê.” 71. Nhưng ông bắt đầu nguyền rủa và thề: “Tôi không hề quen biết người mà các ông đang nói đây.” 72. Ngay lập tức, gà gáy lần thứ hai. Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jesus đã nói với ông: “Trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối Ta ba lần.” Ông bắt đầu bật khóc.

 

15

  1. Sáng sớm, các trưởng tế, các trưởng lão, và các học giả giáo luật đã họp lại cùng với tất cả Hội Đồng. Họ đã trói Đức Chúa Jesus, và dẫn Ngài giao cho Phi-lát. 2. Phi-lát hỏi Ngài: “Ngươi có phải là Vua của dân Do Thái hay không?” Ngài đáp cùng ông: “Ông đã nói như vậy.” 3. Các trưởng tế tố cáo Ngài nhiều điều. 4. Sau đó, Phi-lát lại bắt đầu hỏi Ngài: “Ngươi không trả lời gì sao? Hãy xem! Bao nhiêu thứ họ đã tố cáo ngươi!” 5. Nhưng Đức Chúa Jesus không trả lời thêm nữa khiến Phi-lát phải ngạc nhiên.
  2. Vào dịp lễ, Phi-lát thường trả tự do cho họ một tù nhân, là người mà họ yêu cầu. 7. Khi đó, có một người tên là Ba-ra-ba đang bị tù chung với những kẻ phiến loạn, là những kẻ đã phạm tội giết người trong lúc nổi dậy. 8. Đám đông bắt đầu kêu gào xin ông thực hiện điều ông thường làm cho họ. 9. Nhưng Phi-lát trả lời họ rằng: “Các ngươi có muốn ta tha Vua dân Do Thái cho các ngươi không?” 10. Vì ông biết rõ các trưởng tế đã nộp Ngài do lòng ghen ghét. 11. Nhưng các trưởng tế xúi giục đám đông xin ông tha Ba-ra-ba cho họ. 12. Rồi Phi-lát đáp lại cùng họ rằng: “Như vậy, các ngươi muốn ta làm gì với người mà các ngươi gọi là Vua dân Do Thái?” 13. Và họ lại la lên: “Hãy đóng đinh hắn trên thập tự!” 14. Phi-lát nói với họ: “Nhưng người nầy đã phạm tội ác gì?” Họ càng hét lớn hơn: “Hãy đóng đinh hắn trên thập tự!” 15. Để thỏa mãn yêu cầu của đám đông, Phi-lát đã tha Ba-ra-ba cho họ. Ông sai đánh đòn Đức Chúa Jesus, rồi trao Ngài để bị đóng đinh trên thập tự.
  3. Quân lính đã giải Đức Chúa Jesus vào dinh – đó là dinh tổng đốc; rồi họ tập hợp cả đơn vị lại. 17. Họ khoác cho Ngài một tấm vải điều, đội cho Ngài một vương miện được bện bằng gai, 18. rồi họ chào Ngài: “Kính chào Vua dân Do Thái!” 19. Họ đánh vào đầu của Ngài bằng một cây sậy, khạc nhổ lên Ngài, rồi họ quỳ gối xuống trước mặt Ngài. 20. Sau khi đã chế nhạo Ngài, quân lính lột tấm vải điều, rồi mặc y phục của Ngài trở lại trên Ngài. Họ dẫn Ngài đi ra để đóng đinh Ngài trên thập tự. 21. Họ buộc Si-môn, người Sy-ren, là cha của A-léc-xan-đơ và Ru-phu, vừa từ miền quê lên đi ngang qua đó, vác thập tự của Ngài.
  4. Họ đem Đức Chúa Jesus đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là đồi Sọ. 23. Họ cho Ngài uống rượu pha với mộc dược, nhưng Ngài không nhận. 24. Khi đã đóng đinh Ngài vào thập tự, họ chia nhau y phục của Ngài, bắt thăm xem ai sẽ được. 25. Họ đã đóng đinh Ngài trên thập tự vào giờ thứ ba. 26. Có một dòng chữ được khắc và ghi lời buộc tội cho Ngài là Vua của dân Do Thái. 27. Họ cũng đóng đinh hai tên cướp cùng với Ngài; một tên bên phải và một tên bên trái của Ngài. [ 28. Lời Kinh Thánh nói rằng “Ngài bị kể như những tội phạm” đã được ứng nghiệm. ]
  5. Những người đi qua đó, đã chế giễu, lắc đầu của họ và nói: “Hỡi người phá hủy đền thờ và xây lại trong ba ngày! 30. Hãy tự cứu lấy chính mình và xuống khỏi thập tự đi.” 31. Cũng vậy, các trưởng tế và và các học giả giáo luật cũng chế nhạo Ngài. Họ nói: “Hắn đã cứu những người khác, nhưng không thể tự cứu mình! 32. Hỡi Đấng Christ, Vua Y-sơ-ra-ên! Bây giờ hãy xuống khỏi thập tự để chúng ta thấy và tin!” Hai tên cướp cùng bị đóng đinh trên thập tự với Ngài cũng mắng nhiếc Ngài nữa.
  6. Vào giờ thứ sáu, bóng tối đã bao trùm cả xứ cho đến giờ thứ chín. 34. Đến giờ thứ chín, Đức Chúa Jesus kêu lớn tiếng: “Ê-lô-i! Ê-lô-i! Lam-ma-sa-bách-ta-ni?” – nghĩa là: Đức Chúa Trời của Con! Đức Chúa Trời của Con! Sao Ngài lìa bỏ Con? 35. Vài người đứng gần, nghe vậy, nói rằng: “Kìa! Hắn gọi Ê-li!” 36. Một người đã chạy đi lấy một miếng xốp thấm đầy giấm, gắn trên cây sậy, đưa cho Ngài uống, rồi nói: “Chúng ta hãy chờ xem Ê-li có đến đem hắn xuống không.” 37. Nhưng Đức Chúa Jesus kêu lên một tiếng thật lớn, rồi trút hơi thở cuối cùng. 38. Bức màn trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới. 39. Viên đội trưởng đứng đối diện Ngài, thấy Ngài trút hơi thở cuối cùng như vậy thì nói: “Thật vậy, người nầy là Con Đức Chúa Trời!”
  7. Cũng có các phụ nữ đứng nhìn từ xa; trong số những người đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ nhỏ và Giô-sép, và Sa-lô-mê. 41. Những phụ nữ nầy đã theo Ngài và phục vụ Ngài từ khi Ngài còn ở Ga-li-lê. Cũng có nhiều người khác là những người đã cùng lên Giê-ru-sa-lem với Ngài.
  8. Trời đã tối, vì hôm ấy là ngày Chuẩn Bị, tức là ngày trước ngày sa-bát, 43. cho nên Giô-sép, người A-ri-ma-thê, là một thành viên khả kính của Hội Đồng, và là người đang trông đợi vương quốc của Đức Chúa Trời, đã mạnh dạn đến gặp Phi-lát, xin thi hài của Đức Chúa Jesus. 44. Phi-lát không rõ Ngài đã chết nên ông đã gọi viên đội trưởng đến, và hỏi xem Ngài đã chết hay chưa. 45. Khi đã biết từ viên đội trưởng, ông cho phép giao thi hài cho Giô-sép.
  9. Giô-sép đã mua một tấm vải gai, đem Ngài xuống, quấn Ngài trong tấm vải gai, rồi đặt Ngài vào một phần mộ đã được đục từ trong đá. Rồi ông lăn một tảng đá ngăn chặn cửa mộ. 47. Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri, là một thân nhân của Giô-sép, nhìn thấy nơi Ngài được an táng.

 

16

  1. Ngày sa-bát đã qua rồi, Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ, và Sa-lô-mê đã mua hương liệu để họ có thể đến xức xác của Ngài.
  2. Vào ngày thứ nhất trong tuần lễ, vào lúc thật sớm, khi mặt trời vừa mọc, họ đã đến phần mộ. 3. Họ nói với nhau: “Ai sẽ lăn tảng đá khỏi cửa mộ cho chúng ta?” 4. Nhưng khi nhìn lên, họ thấy tảng đá đã được lăn ra – đó là một tảng đá rất lớn.
  3. Khi vào trong phần mộ, họ thấy một thanh niên mặc áo dài trắng, ngồi bên phải, họ vô cùng kinh ngạc. 6. Rồi người đó nói với họ: “Đừng kinh ngạc! Các ngươi tìm Đức Chúa Jesus, người Na-xa-rét, là Đấng đã bị đóng đinh trên thập tự. Ngài đã sống lại rồi. Ngài không còn ở đây. Hãy xem nơi họ đã đặt Ngài. 7. Nhưng các ngươi hãy đi nói cho các môn đồ của Ngài và Phi-e-rơ rằng Ngài sẽ đi trước các ngươi đến Ga-li-lê. Các ngươi sẽ gặp Ngài tại đó – như Ngài đã phán với các ngươi.” 8. Khi đã ra bên ngoài, họ chạy khỏi khu mộ. Sự kinh ngạc và run sợ bao trùm lấy họ. Họ không nói gì với ai, bởi vì họ quá sợ.
  4. Sau khi Đức Chúa Jesus đã sống lại vào sáng sớm của ngày thứ nhất trong tuần lễ, trước hết Ngài hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len – là người đã được Ngài trừ khỏi bảy con quỷ. 10. Bà đã đi báo tin cho những người theo Ngài đang thảm sầu và khóc lóc. 11. Nhưng khi họ nghe rằng Ngài đang sống và bà đã gặp Ngài, thì họ không tin.
  5. Sau những chuyện này, Đức Chúa Jesus – trong một hình dạng khác – đã xuất hiện ra cho hai người của họ, đang trên đường về miền quê. 13. Những người này đã đi, báo cho những người còn lại, nhưng họ cũng không tin.
  6. Sau đó, Ngài xuất hiện cho mười một môn đồ khi họ đang ăn, rồi quở trách sự vô tín và cứng lòng của họ, bởi vì họ không tin những người đã gặp Ngài sống lại từ cõi chết.
  7. Ngài đã truyền cho họ: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Phúc Âm cho mọi người. 16. Ai tin và được báp-têm, sẽ được cứu; nhưng ai không tin sẽ bị kết tội. 17. Những người tin sẽ được những dấu lạ nầy kèm theo: Họ sẽ nhân danh Ta đuổi quỷ; họ sẽ nói nhiều ngôn ngữ mới; 18. họ sẽ bắt rắn trong tay của họ, hay nếu họ uống chất độc, họ cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, những người đó sẽ được lành.”
  8. Sau khi phán với họ như vậy, Đức Chúa Jesus được cất lên trời, và ngồi bên phải Đức Chúa Trời. 20. Lúc này, họ đi ra truyền giảng khắp nơi. Chúa cùng làm việc với họ, và dùng các dấu lạ kèm theo để làm cho vững đạo.

 

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top