Bản Dịch Việt Ngữ: Ma-thi-ơ

Ma-thi-ơ
1
- Gia phổ của Đức Chúa Jesus Christ, thuộc dòng dõi của Đa-vít, thuộc dòng dõi của Áp-ra-ham.
- Áp-ra-ham sinh Y-sác; Y-sác sinh Gia-cốp; Gia-cốp sinh Giu-đa và anh em người. 3. Giu-đa bởi Ta-ma sinh Phê-rết và Sê-rách. Phê-rết sinh Hết-rôn; Hết-rôn sinh A-ram; 4. A-ram sinh A-mi-na-đáp; A-mi-na-đáp sinh Na-ha-sôn; Na-ha-sôn sinh Sanh-môn. 5. Sanh-môn bởi Ra-háp sinh Bô-ô. Bô-ô bởi Ru-tơ sinh Ô-bết. Ô-bết sinh Gie-sê; 6. Gie-sê sinh Vua Đa-vít.
Đa-vít bởi vợ của U-ri sinh Sa-lô-môn. 7. Sa-lô-môn sinh Rô-bô-am; Rô-bô-am sinh A-bi-gia; A-bi-gia sinh A-sa; 8. A-sa sinh Giê-hô-sa-phát; Giê-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Ô-xia. 9. Ô-xia sinh Giô-tham; Giô-tham sinh A-cha; A-cha sinh Ê-xê-chia. 10. Ê-xê-chia sinh Ma-na-se; Ma-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-a. 11. Giô-si-a, trước thời lưu đày sang Ba-by-lôn, sinh Giê-cô-nia và các em của ông.
- Sau khi bị lưu đày sang Ba-by-lôn, Giê-cô-nia sinh Sa-anh-thi-ên; Sa-anh-thi-ên sinh Xô-rô-ba-bên; 13. Xô-rô-ba-bên sinh A-bi-út; A-bi-út sinh Ê-li-a-kim; Ê-li-a-kim sinh A-xô. 14. A-xô sinh Sa-đốc; Sa-đốc sinh A-chim; A-chim sinh Ê-li-út; 15. Ê-li-út sinh Ê-lê-a-sa; Ê-lê-a-sa sinh Ma-than; Ma-than sinh Gia-cốp; 16. Gia-cốp sinh Giô-sép là chồng của Ma-ri, và qua người, Đức Chúa Jesus, Đấng được gọi là Christ, được sinh ra.
- Như vậy, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít có tất cả mười bốn thế hệ; từ Đa-vít cho đến khi bị lưu đày sang Ba-by-lôn có mười bốn thế hệ; và từ khi bị lưu đày sang Ba-by-lôn cho đến Đấng Christ cũng có mười bốn thế hệ.
- Sự giáng sinh của Đức Chúa Jesus Christ đã diễn ra như thế nầy. Ma-ri, mẹ của Ngài, đã hứa hôn với Giô-sép, nhưng trước khi chung sống với nhau thì nàng đã hoài thai bởi Đức Thánh Linh. 19. Giô-sép, chồng của nàng là người công chính, không muốn nàng bị bêu xấu cách công khai, nên định kín đáo từ hôn với nàng.
- Đang khi chàng ngẫm nghĩ về những việc nầy, một thiên sứ của Chúa đã hiện đến với chàng trong một giấc mơ và truyền rằng: “Giô-sép, con cháu Đa-vít! Đừng ngại nhận Ma-ri làm vợ của ngươi, bởi vì thai mà nàng đang mang đó là bởi Đức Thánh Linh. 21. Nàng sẽ sinh một con trai và ngươi hãy đặt tên là Jesus, bởi vì Ngài sẽ cứu dân của Ngài khỏi những tội lỗi của họ. 22. Những việc nầy xảy ra để ứng nghiệm lời Chúa đã phán bởi đấng tiên tri: 23. ‘Nầy, một trinh nữ sẽ mang thai và sẽ sinh một con trai; và họ sẽ gọi danh Ngài là Em-ma-nu-ên nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.”
- Thức dậy từ giấc ngủ, Giô-sép đã làm theo điều thiên sứ của Chúa đã truyền cho chàng và nhận Ma-ri làm vợ của chàng; 25. nhưng không ăn ở với nàng cho đến khi nàng sinh một con trai, và chàng đã đặt tên của Ngài là Jesus.
2
- Sau khi Đức Chúa Jesus đã được sinh ra tại Bết-lê-hem thuộc vùng Giu-đê, vào thời của Vua Hê-rốt, có những nhà thông thái từ miền đông đến Giê-ru-sa-lem hỏi: 2. “Vua của dân Do Thái vừa sinh tại đâu? Bởi vì từ miền đông, chúng tôi đã thấy ngôi sao của Ngài nên đến để tôn thờ Ngài.”
- Nghe vậy, Vua Hê-rốt bối rối – và rồi cả Giê-ru-sa-lem cũng bối rối với ông. 4. Vua đã triệu tập tất cả các thượng tế và các học giả giáo luật trong dân lại, rồi hỏi họ: “Đấng Christ đã sinh tại đâu?”
- Họ nói với ông: “Tại Bết-lê-hem thuộc Giu-đê; bởi vì có lời tiên tri chép: 6. ‘Bết-lê-hem, thuộc xứ Giu-đa! Ngươi không phải là nhỏ nhất giữa các lãnh tụ của Giu-đa, bởi vì từ ngươi sẽ phát sinh một lãnh tụ – là Người sẽ chăn dắt dân Y-sơ-ra-ên của Ta.’”
- Sau đó Hê-rốt đã bí mật gọi các nhà thông thái đến để hỏi họ chính xác về thời gian ngôi sao đã xuất hiện. 8. Vua sai họ đến Bết-lê-hem, và dặn: “Hãy đi, dò hỏi thật kỹ về Hài Nhi; và khi các ngươi đã gặp rồi, hãy báo cho ta, để ta cũng đến và tôn thờ Ngài.”
- Sau khi nghe vua truyền, họ đã ra đi. Kìa, ngôi sao mà họ đã thấy bên phương đông đã đi trước họ, cho đến nơi Hài Nhi ở, thì dừng lại. 10. Khi thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng.
- Họ vào trong nhà, thấy Hài Nhi cùng với Ma-ri, mẹ của Ngài. Họ đã phủ phục xuống và thờ phượng Ngài. Rồi họ mở những bửu vật của họ, rồi dâng cho Ngài những lễ vật là vàng, nhũ hương, và mộc dược.
- Sau đó, trong một chiêm bao, Đức Chúa Trời cảnh cáo họ đừng trở lại nơi vua Hê-rốt, cho nên họ đã đi đường khác mà trở về xứ của mình.
- Khi họ đã đi rồi, một thiên sứ của Chúa hiện đến với Giô-sép trong chiêm bao, và nói rằng: “Hãy đứng dậy đem Hài Nhi và mẹ của Ngài lánh sang Ai Cập, và hãy cứ ở tại đó cho đến khi ta truyền cho ngươi. Bởi vì Hê-rốt sắp tìm Hài Nhi để giết Ngài.”
- Ngay trong đêm, Giô-sép đã thức dậy đem Hài Nhi và mẹ Ngài lánh sang Ai Cập, 15. và cứ ở đó cho đến khi Hê-rốt chết. Như vậy, điều Chúa đã phán qua tiên tri “Ta gọi Con Ta ra khỏi Ai Cập” đã được ứng nghiệm.
- Sau đó, khi thấy rằng các nhà thông thái đã khôn hơn mình, Hê-rốt vô cùng tức giận. Vua truyền giết tất cả các bé trai tại Bết-lê-hem và những vùng phụ cận từ hai tuổi trở xuống, theo thời gian đã được xác định từ những nhà thông thái. 17. Vì vậy, lời Tiên tri Giê-rê-mi phán đã được ứng nghiệm: 18. “Người ta nghe tiếng than van từ Ra-ma. Đó là tiếng than khóc, thảm sầu thật thảm thiết. Bởi vì Ra-chên đang than khóc con cháu của mình. Nàng không chịu an ủi, bởi vì chúng không còn nữa.”
- Khi Hê-rốt đã chết, một thiên sứ của Chúa đã hiện đến với Giô-sép trong chiêm bao tại Ai Cập, và truyền rằng: 20. “Hãy trỗi dậy đem Hài Nhi và mẹ của Ngài đi về đất Y-sơ-ra-ên, bởi vì những kẻ tìm giết mạng sống của Hài Nhi đã chết rồi.”
- Giô-sép đứng dậy, đem Hài Nhi và mẹ của Ngài trở về Y-sơ-ra-ên. 22. Tuy nhiên khi nghe tin A-chê-la-u trị vì tại Giu-đê, thay cho cha của ông là Hê-rốt, Giô-sép sợ không dám đến đó. Lúc này, theo sự chỉ dẫn trong chiêm bao, ông lui về vùng Ga-li-lê, 23. đến sống trong một thành gọi là Na-xa-rét. Như vậy, lời của các tiên tri đã phán: “Ngài sẽ được gọi là người Na-xa-rét” đã được ứng nghiệm.
3
- Trong thời gian này, Giăng Báp-tít đã đến, rồi giảng trong vùng hoang mạc của Giu-đê. 2. Ông nói: “Hãy ăn năn bởi vì vương quốc thiên đàng đã gần!” 3. Ông chính là người mà Tiên tri Ê-sai đã nhắc đến, khi nói rằng: “Có tiếng gọi trong nơi hoang dã: ‘Hãy dọn đường cho Chúa! Hãy làm cho thẳng các lối đi của Ngài.’ ”
- Giăng mặc trang phục của ông bằng lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da; thức ăn của ông là châu chấu và mật ong rừng. 5. Dân chúng từ Giê-ru-sa-lem, khắp cả Giu-đê, và tất cả vùng phụ cận Giô-đanh đều đến với ông. 6. Họ xưng nhận tội lỗi của mình, rồi được ông làm báp-têm dưới sông Giô-đanh.
- Khi thấy nhiều người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến để ông làm báp-têm, Giăng đã nói với họ: “Hỡi dòng giống rắn độc! Ai đã báo cho các ngươi biết để chạy trốn cơn thịnh nộ sắp đến? 8. Vì vậy, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn, 9. và đừng tự nói với chính mình rằng: ‘Áp-ra-ham là tổ phụ của chúng ta’; bởi vì ta nói với các ngươi: Đức Chúa Trời có thể khiến những hòn đá nầy thành những con cháu của Áp-ra-ham. 10. Lúc nầy, lưỡi rìu đã để kề gốc cây, vì vậy cây nào không kết quả tốt, đều bị đốn và bị ném vào lửa. 11. Thật vậy, ta đang làm báp-têm cho các ngươi bằng nước để ăn năn; nhưng Đấng đến sau ta có uy quyền hơn ta. Ngài là Đấng mà ta không xứng đáng để xách dép cho Ngài. Ngài sẽ làm báp-têm cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và lửa. 12. Cái sàng đang ở trong tay của Ngài, và Ngài sẽ làm sạch sân đạp lúa của mình, rồi sẽ thu lúa vào kho, còn rơm rác thì đốt trong lửa chẳng hề tắt.”
- Sau đó, Đức Chúa Jesus từ Ga-li-lê đến với Giăng tại Giô-đanh để được báp-têm bởi ông. 14. Nhưng Giăng đã ngăn cản Ngài, và nói rằng: “Chính tôi cần được Ngài làm báp-têm, tại sao Ngài lại đến với tôi?”
- Tuy nhiên, Đức Chúa Jesus đã nói với ông rằng: “Bây giờ, ngươi được phép, bởi vì việc chúng ta hoàn tất mọi điều công chính là điều thích hợp.” Vì vậy, ông đã thuận phục Ngài. 16. Khi đã được báp-têm xong, vừa lúc Đức Chúa Jesus lên khỏi nước, thì kìa, các tầng trời mở ra với Ngài, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như một chim bồ câu đậu trên Ngài. 17. Kìa, có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, là người đẹp lòng Ta hoàn toàn.”
4
- Sau đó, Đức Chúa Jesus đã được Thánh Linh đưa vào hoang mạc để chịu ma quỷ cám dỗ. 2. Sau khi đã kiêng ăn bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, Ngài đói. 3. Kẻ cám dỗ đã đến, nó nói với Ngài: “Nếu ngươi là Con của Đức Chúa Trời, hãy truyền cho những viên đá nầy trở thành những ổ bánh.” 4. Nhưng Ngài đã trả lời: “Có lời chép rằng: ‘Con người sống không phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng cũng nhờ mọi lời nói ra từ miệng của Đức Chúa Trời.’ ”
- Sau đó ma quỷ đem Ngài đến thành thánh, đặt Ngài trên nóc của đền thờ, 6. rồi nói với Ngài: “Nếu ngươi là Con của Đức Chúa Trời, hãy lao mình xuống đi, bởi vì có lời chép rằng: ‘Ngài sẽ truyền lệnh cho các thiên sứ của Ngài gìn giữ ngươi’, và ‘Họ sẽ nâng ngươi trong tay của họ, không để cho chân của ngươi vấp vào đá.’ ” 7. Đức Chúa Jesus nói với nó: “Cũng có lời chép: ‘Ngươi đừng thử Chúa, là Đức Chúa Trời của ngươi.’ ”
- Ma quỷ lại đem Ngài lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Ngài thấy tất cả các vương quốc trên thế giới cùng sự huy hoàng của chúng, 9. rồi nó nói với Ngài: “Ta sẽ cho ngươi tất cả những thứ nầy, nếu ngươi sấp mình thờ lạy ta.” 10. Sau đó Đức Chúa Jesus phán với nó rằng: “Hỡi Sa-tan! Hãy tránh ra! Bởi vì có lời chép rằng: ‘Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài mà thôi.’ ”
- Sau đó ma quỷ đã lìa khỏi Ngài; và kìa, các thiên sứ đã đến và phục vụ Ngài.
- Lúc đó, khi nghe Giăng đã bị bắt, Ngài lui về Ga-li-lê. 13. Sau khi rời Na-xa-rét, Ngài đã đến rồi ở tại Ca-bê-na-um, bên bờ biển, thuộc vùng Sa-bu-lôn và Nép-ta-li, 14. để làm ứng nghiệm lời Tiên tri Ê-sai đã nói: 15. “Tại đất Sa-bu-lôn và đất Nép-ta-li, trên đường ra biển, bên kia sông Giô-đanh, thuộc vùng Ga-li-lê của dân ngoại, 16. những người đang ngồi trong bóng tối, đã thấy ánh sáng lớn; và ánh sáng bình minh đã chiếu soi trên những người đang ngồi trong bóng của sự chết tại trong xứ.”
- Từ lúc đó, Đức Chúa Jesus bắt đầu rao giảng: “Các ngươi hãy ăn năn, vì vương quốc thiên đàng đã đến gần.”
- Khi đang đi dọc theo biển Ga-li-lê, Ngài thấy hai anh em của Si-môn, còn gọi là Phi-e-rơ, và em của ông là Anh-rê, đang thả lưới dưới biển – họ là những ngư phủ. 19. Ngài nói với họ: “Hãy theo Ta, rồi Ta sẽ làm cho các ngươi trở nên những tay đánh lưới người.” 20. Họ lập tức bỏ lưới, rồi theo Ngài. 21. Từ đó, Ngài đi tiếp và thấy những người khác, đó là hai anh em, gồm có Gia-cơ, con trai của Xê-bê-đê, và em của ông là Giăng, đang vá lưới cùng với cha của họ là Xê-bê-đê ở trong thuyền. Ngài đã gọi họ. 22. Họ lập tức bỏ thuyền và cha của mình mà theo Ngài.
- Ngài đã đi khắp cả Ga-li-lê, giảng dạy trong các nhà hội, công bố Phúc Âm của vương quốc, rồi chữa lành mọi đau yếu bệnh tật trong dân chúng. 24. Tin tức về Ngài đã loan truyền khắp Sy-ri. Và rồi người ta đem đến cho Ngài tất cả những người đau, với rất nhiều loại bệnh, bị đau nhức, bị quỷ ám, bị động kinh, bị bại liệt, và Ngài đã chữa lành cho họ. 25. Nhiều đoàn người từ Ga-li-lê, Đê-ca-bô-lơ, Giê-ru-sa-lem, Giu-đê và phía bên kia sông Giô-đanh đã đi theo Ngài.
5
- Khi nhìn thấy những đám đông, Ngài đã đi lên núi, Ngài ngồi xuống, các môn đồ của Ngài đến với Ngài. 2. Và rồi Ngài mở miệng và dạy họ rằng:
- “Phước cho những người nghèo khó tâm linh, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ.
- Phước cho những người than khóc, vì họ sẽ được an ủi.
- Phước cho những người nhu mì, vì họ sẽ thừa hưởng đất. 6. Phước cho những người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được đầy đủ.
- Phước cho những người có lòng thương xót, vì họ sẽ được thương xót.
- Phước cho những người có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Đức Chúa Trời.
- Phước cho những người kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con của Đức Chúa Trời.
- Phước cho những người bị bắt bớ vì sự công chính, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ.
- Phước cho các ngươi, khi vì cớ Ta bị người ta nhục mạ, bách hại, và dùng tất cả những lời xấu xa chống lại các ngươi. 12. Hãy vui mừng và hân hoan, bởi vì phần thưởng của các ngươi ở trên trời rất lớn; bởi vì họ đã bách hại các tiên tri trước các ngươi cũng như vậy.”
- “Các ngươi là muối của đất, nhưng nếu muối mất mặn, thì điều gì sẽ làm cho nó mặn trở lại? Nó không còn dùng được vào việc gì nữa, ngoại trừ bị quăng ra ngoài và bị người ta giẫm đạp dưới chân.”
- “Các ngươi là ánh sáng của thế gian. Một cái thành nằm trên núi thì không thể nào bị che khuất. 15. Cũng không ai thắp đèn rồi đặt nó dưới cái thúng, nhưng đặt trên chân đèn, để nó soi sáng mọi người trong nhà. 16. Cũng vậy, hãy tỏa soi ánh sáng của các ngươi trước mặt người ta, để họ nhìn thấy những việc làm tốt đẹp của các ngươi, rồi tôn vinh Cha của các ngươi ở trên trời.”
- “Đừng nghĩ rằng Ta đến để hủy bỏ luật pháp hay lời tiên tri. Ta đến, không phải để hủy bỏ nhưng để hoàn thành. 18. Bởi vì thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không thể bỏ qua được, cho đến lúc mọi sự được thành tựu. 19. Do đó, nếu ai hủy bỏ một điều nhỏ nhất trong những điều răn nầy, và dạy những người khác làm như vậy, thì người đó sẽ bị coi là nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng; còn ai vâng giữ và dạy những điều đó, thì người nầy sẽ được gọi là lớn trong vương quốc thiên đàng. 20. Vì Ta nói cùng các ngươi rằng: Nếu sự công chính của các ngươi không hơn so với sự công chính của các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, các ngươi sẽ không vào vương quốc thiên đàng.”
- “Các ngươi đã nghe lời phán dạy cho những người xưa rằng: ‘Không được giết người. Ai giết người sẽ phải chịu trách nhiệm với tòa án.’ 22. Nhưng Ta nói với các ngươi: Ai giận dữ với anh em của mình, sẽ chịu trách nhiệm với tòa án; ai mắng anh em mình là ‘Đồ ngu’, sẽ chịu trách nhiệm với Hội Đồng Công Luận; còn ai nói ‘Đồ khùng’, thì sẽ chịu trách nhiệm với lửa hỏa ngục. 23. Vì vậy, nếu con sắp dâng lễ vật của mình nơi bàn thờ, và tại đó nhớ rằng anh em của mình đang có điều gì nghịch lại với mình, 24. hãy để lễ vật tại đó trước bàn thờ, rồi đi, và trước hết hãy giải hòa với anh em của mình, rồi hãy đến dâng lễ vật của con. 25. Hãy nhanh chóng giải hòa với người tố cáo con, trong khi con đang hiện diện với người đó, và còn đang trong tiến trình; nếu không, người tố cáo sẽ nộp con cho quan tòa, quan tòa giao cho một viên chức, và con sẽ bị bỏ tù. 26. Thật vậy, Ta nói cùng con, con sẽ không bao giờ ra khỏi cho đến khi trả xong đồng tiền cuối cùng.”
- “Các ngươi có nghe lời phán rằng: ‘Ngươi chớ phạm tội ngoại tình.’ 28. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: Ai nhìn một phụ nữ mà ham muốn nàng, thì trong lòng người đó đã phạm tội ngoại tình với nàng. 29. Nếu con mắt bên phải của con khiến con vấp phạm, hãy móc nó ra, và ném nó khỏi con; bởi vì thà rằng con mất một phần thân thể của con, để cả thân thể của con không bị ném vào hỏa ngục. 30. Nếu tay phải của con gây cho con vấp phạm, hãy chặt nó và ném nó khỏi con; bởi vì thà rằng con mất một phần thân thể của con, để cả thân thể của con không bị ném vào hỏa ngục.”
- “Cũng có lời phán rằng: ‘Người nào ly dị vợ của mình, người đó hãy cho nàng một giấy ly hôn.’ 32. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: ‘Ai ly dị vợ của mình, không phải vì lý do gian dâm, thì tạo cớ cho nàng phạm tội ngoại tình. Còn ai cưới một phụ nữ bị ly dị, thì phạm tội ngoại tình.”
- “Cũng vậy, các ngươi có nghe lời dạy cho những người xưa rằng: ‘Đừng thề nguyện cách gian dối, nhưng hãy giữ những lời hứa nguyện của mình với Chúa.’ 34. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: Đừng thề gì hết. Đừng chỉ trời mà thề, vì đó là ngai của Đức Chúa Trời; 35. đừng chỉ đất mà thề, vì đó là bệ chân của Ngài; cũng đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Vua lớn. 36. Cũng đừng chỉ đầu của con mà thề, vì con không thể tự làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được. 37. Nhưng lời xác nhận của con là ‘phải’, thì nói ‘Phải!’; hay ‘không’, thì nói ‘Không!’ Nhưng những gì thêm thắt thì đến từ kẻ xấu.”
- “Các ngươi đã nghe lời phán rằng: ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’ 39. Nhưng Ta nói cùng các ngươi: Đừng chống cự kẻ ác. Tuy nhiên, nếu ai đánh vào má bên phải của con, hãy xoay luôn phía bên kia cho người đó; 40. nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngoài, hãy cho người ấy luôn áo trong; 41. nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. 42. Ai xin, hãy cho; ai mượn của con thì đừng tránh né.”
- “Các ngươi đã nghe lời phán rằng: ‘Hãy thương yêu người lân cận của mình, và hãy ghét kẻ thù của mình.’ 44. Nhưng Ta nói cùng các ngươi: Hãy thương yêu kẻ thù của mình và cầu nguyện cho kẻ bách hại các ngươi, 45. để các ngươi được trở thành những người con của Cha của các ngươi, là Đấng đang ở trên trời, bởi vì Ngài khiến mặt trời của Ngài mọc lên cho kẻ gian ác lẫn người lương thiện, và ban mưa cho người công chính lẫn người bất chính. 46. Nếu các ngươi chỉ yêu thương những ai yêu thương mình thì có gì đáng khen đâu? Không phải những người thu thuế cũng làm như vậy hay sao? 47. Nếu các ngươi chỉ chào đón những anh em của mình thì các ngươi có gì trổi hơn đâu? Không phải những người ngoại quốc cũng làm như vậy hay sao? 48. Vì vậy, các ngươi phải trở nên toàn vẹn như Cha của các ngươi ở trên trời là toàn vẹn.”
6
- “Hãy thận trọng, đừng phô trương sự công chính của mình trước mặt nhiều người với mục đích để cho họ nhìn thấy; nếu không, các ngươi sẽ không được phần thưởng từ Cha của các ngươi ở trên trời.”
- “Vì vậy, khi ngươi làm việc từ thiện, đừng thổi kèn trước mặt mình, như những người đạo đức giả đang làm trong các nhà hội và trong các đường phố để họ được người ta khen ngợi. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Những người đó đã nhận được phần thưởng của họ rồi. 3. Nhưng khi ngươi làm việc từ thiện, đừng cho tay trái của ngươi biết tay phải của ngươi làm điều gì 4. để việc từ thiện của ngươi được kín đáo. Và Cha của ngươi, là Đấng thấy trong nơi kín đáo, sẽ thưởng cho ngươi.”
- “Và khi các ngươi cầu nguyện, đừng làm như những người đạo đức giả; bởi vì họ thích đứng cầu nguyện trong các nhà hội và tại những góc đường để họ có thể được nhiều người nhìn thấy. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, họ đã nhận được phần thưởng của họ rồi. 6. Nhưng khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng của ngươi, đóng cửa của ngươi lại, rồi cầu nguyện với Cha của ngươi, là Đấng hiện diện trong nơi kín đáo. Và Cha của ngươi, là Đấng thấy trong nơi kín đáo, sẽ thưởng cho ngươi.”
- “Khi cầu nguyện, đừng lập đi lập lại những lời vô ích như những người ngoại đạo; bởi vì họ nghĩ rằng nhờ nhiều lời thì sẽ được lắng nghe. 8. Do đó, đừng cầu nguyện giống như họ, bởi vì Cha của các ngươi biết các ngươi cần gì trước khi các ngươi cầu xin Ngài. 9. Vì vậy, các ngươi hãy cầu nguyện như thế nầy: ‘Lạy Cha của chúng con ở trên trời. Danh Cha được tôn thánh. 10. Vương quốc của Cha hãy đến. Ý muốn của Cha được thực hiện tại dưới đất cũng như ở trên trời. 11. Xin cho chúng con hôm nay lương thực đủ ngày; 12. Xin tha tội cho chúng con, cũng như chúng con đã tha thứ cho những người có lỗi với chúng con. 13. Xin đừng để cho chúng con bị cám dỗ, nhưng xin cứu chúng con khỏi điều ác! [Vì vương quốc, quyền năng, và vinh quang đều thuộc về Ngài đời đời. A-men.]’”
- “Nếu các ngươi tha thứ cho những người khác về lỗi lầm của họ, thì Cha Thiên Thượng của các ngươi cũng sẽ tha thứ cho các ngươi. 15. Nhưng nếu các ngươi không tha lỗi cho người ta, thì Cha của các ngươi cũng sẽ không tha thứ cho các ngươi.”
- “Khi các ngươi kiêng ăn, đừng tỏ vẻ ảm đạm như những người đạo đức giả, bởi vì họ làm bộ thiểu não để những người khác biết họ đang kiêng ăn. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, những người đó đã nhận được phần thưởng của họ rồi. 17. Nhưng khi ngươi kiêng ăn, hãy xức dầu trên đầu, và rửa mặt, 18. để ngươi không thể hiện cho người ta là ngươi đang kiêng ăn, nhưng chỉ với Cha của ngươi, là Đấng hiện diện ở nơi kín đáo, và Cha của ngươi, là Đấng thấy trong nơi kín đáo, sẽ thưởng cho ngươi.”
- “Đừng tích trữ cho mình những của cải ở dưới đất, là nơi có mối mọt và rỉ sét làm hư, và là nơi những kẻ trộm xâm nhập vào để lấy cắp. 20. Nhưng hãy tích trữ những của cải của các ngươi ở trên trời, là nơi không có mối mọt và rỉ sét làm hư, cũng không có những kẻ trộm xâm nhập vào để lấy cắp. 21. Bởi vì của cải của các ngươi ở đâu, thì lòng của các ngươi cũng ở đó.”
- “Mắt là đèn của thân thể. Nếu mắt của ngươi trong sáng thì cả thân thể của ngươi sẽ đầy ánh sáng, 23. nhưng nếu mắt của ngươi bị đau thì cả thân thể của ngươi sẽ đầy bóng tối. Nếu ánh sáng trong ngươi chỉ là bóng tối thì bóng tối ấy sẽ lớn là dường nào!”
- “Không ai có thể phục vụ hai người chủ; vì sẽ ghét người chủ nầy mà yêu mến người chủ kia, hoặc tôn trọng người chủ nầy mà khinh dễ người chủ kia. Các ngươi không thể vừa phục vụ Đức Chúa Trời lại vừa phục vụ tiền tài.”
- “Bởi vì điều nầy, Ta nói với các ngươi: Đừng vì sự sống của mình mà lo phải ăn gì, uống gì; cũng đừng vì thân thể của mình mà lo phải mặc gì. Mạng sống không quý trọng hơn thức ăn, và thân thể không quý trọng hơn quần áo hay sao? 26. Hãy nhìn xem loài chim trời: Chúng không gieo, không gặt, cũng không tích trữ vào kho, nhưng Cha Thiên Thượng của các ngươi vẫn nuôi chúng. Các ngươi không quý trọng hơn chúng hay sao? 27. Hơn nữa, có ai trong các ngươi nhờ lo lắng mà làm cho cuộc đời của mình dài thêm một giờ hay không? 28. Còn về quần áo, tại sao các ngươi lo lắng? Hãy ngắm xem những hoa huệ ngoài đồng mọc lên thể nào: Chúng không làm việc khó nhọc, cũng không kéo chỉ; 29. nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng cho dù Vua Sa-lô-môn có sang trọng đến đâu, cũng không được mặc đẹp như một trong những đóa hoa đó. 30. Vì vậy, hỡi những kẻ ít đức tin, nếu hoa cỏ ngoài đồng, ngày nay còn tồn tại, ngày mai bị ném vào lò, mà Đức Chúa Trời còn cho chúng nó mặc đẹp như thế, huống chi là các ngươi? 31. Vì vậy, đừng lo lắng mà nói: ‘Chúng ta sẽ ăn gì?’ hay ‘Chúng ta sẽ uống gì?’ hay ‘Chúng ta sẽ mặc gì?’ 32. Bởi vì các dân ngoại vẫn tìm kiếm tất cả những điều nầy, và vì Cha Thiên Thượng của các ngươi biết tất cả những nhu cầu của các ngươi. 33. Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm vương quốc của Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, thì tất cả những điều này sẽ được ban thêm cho các ngươi. 34. Vì vậy, đừng lo lắng về những điều thuộc về ngày mai; bởi vì ngày mai sẽ tự lo cho nó. Sự khó nhọc của ngày nào đủ cho ngày đó.”
7
- “Đừng xét đoán, để các ngươi khỏi bị xét đoán. 2. Bởi vì các ngươi xét đoán thể nào, thì các ngươi cũng sẽ bị xét đoán thể ấy; các ngươi lường mực nào, thì các ngươi cũng sẽ bị lường lại mực ấy. 3. Tại sao ngươi thấy cái dằm trong mắt của anh em ngươi, mà lại không thấy cây đà trong mắt của mình? 4. Hay là thể nào ngươi có thể nói với anh em của ngươi rằng: ‘Hãy để tôi lấy cái dằm ra khỏi mắt của anh,’ trong lúc cây đà vẫn còn nằm trong mắt của ngươi? 5. Hỡi kẻ đạo đức giả! Trước hết, hãy lấy cây đà khỏi mắt của mình, rồi mới thấy rõ mà lấy cái dằm ra khỏi mắt của anh em ngươi được.”
- “Đừng cho những con chó vật thánh, cũng đừng ném những ngọc trai của các ngươi trước những con heo, kẻo chúng chà đạp những vật đó dưới chân của chúng, rồi quay lại cắn xé các ngươi.”
- “Hãy xin, các ngươi sẽ được ban cho; hãy tìm, các ngươi sẽ gặp; hãy gõ, cửa sẽ mở cho các ngươi. 8. Bởi vì ai xin thì được; ai tìm thì gặp; và ai gõ thì cửa sẽ được mở. 9. Có ai trong các ngươi là người khi con mình xin bánh, mà người đó lại lấy đá cho nó hay không? 10. Hay là nó xin cá, mà người đó lại cho rắn hay không? 11. Như vậy nếu các ngươi vốn là xấu, còn biết cho các con của mình những vật tốt, thì Cha của các ngươi, là Đấng ngự trên trời, lại không ban những vật tốt hơn gấp nhiều lần cho những người cầu xin Ngài hay sao?”
- “Vì vậy, tất cả những điều mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, các ngươi cũng hãy làm những điều đó cho họ, bởi vì đó là luật pháp và lời tiên tri.”
- “Hãy vào cửa hẹp, bởi vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hủy diệt; rất nhiều người đã vào đó. 14. Nhưng cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống; những người tìm được rất ít.”
- “Hãy đề phòng các tiên tri giả, là những kẻ đến với các ngươi trong trang phục của chiên, nhưng bên trong là lang sói cắn xé. 16. Các ngươi nhận biết chúng nhờ kết quả của chúng. Có ai hái những trái nho từ những bụi gai, hoặc những trái vả từ những bụi tật lê hay không? 17. Như vậy, nếu cây lành thì sinh những trái lành; còn cây độc thì sinh những trái độc. 18. Cây lành không thể sinh những trái độc, cũng vậy cây độc không thể sinh những trái lành. 19. Bất cứ cây nào không sinh trái lành, thì bị đốn và bị ném vào lửa. 20. Như vậy, các ngươi sẽ nhận biết chúng nhờ vào kết quả của chúng.”
- “Không phải hễ ai nói cùng Ta rằng ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ sẽ được vào vương quốc thiên đàng; nhưng chỉ người nào làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời. 22. Trong ngày đó, nhiều người sẽ nói với Ta: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa! Không phải chúng con đã nhân danh Ngài nói tiên tri, nhân danh Ngài đuổi quỷ, nhân danh Ngài thực hiện nhiều phép lạ hay sao?’ 23. Khi đó, Ta sẽ công bố với họ rằng: ‘Hỡi những kẻ làm việc vô luật lệ kia! Ta không hề biết các ngươi. Hãy lui ra khỏi Ta.’”
- “Vì vậy, ai nghe những lời nầy của Ta và làm theo, thì giống như một người khôn ngoan, xây nhà của mình trên vầng đá. 25. Dù có mưa tuôn xuống, lũ lụt tràn đến, gió xô mạnh, nhà ấy vẫn đứng và không bị ngã, vì đã được xây trên vầng đá. 26. Tuy nhiên người nào nghe những lời nầy của Ta, nhưng không làm theo những điều đó, thì giống như một người dại, xây nhà của mình trên cát. 27. Khi mưa tuôn xuống, lũ lụt tràn đến, gió xô mạnh thì căn nhà sẽ sập – sự sụp đổ thật nặng nề.”
- Khi Đức Chúa Jesus phán xong những lời nầy, đoàn dân kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài; 29. bởi vì Ngài dạy họ với thẩm quyền, chứ không giống như các học giả giáo luật.
8
- Khi Ngài từ trên núi đi xuống, có những đoàn người rất đông theo Ngài. 2. Kìa! Có một người bị bịnh phung đến quỳ trước mặt Ngài và nói: “Lạy Chúa! Nếu Chúa muốn, Chúa có thể làm cho con được sạch.” 3. Ngài đưa tay ra, chạm vào người đó, rồi nói: “Ta muốn. Hãy sạch đi.” Và ngay lập tức, bệnh phung của anh được sạch. 4. Đức Chúa Jesus nói với người đó: “Hãy xem. Đừng nói với bất cứ ai, nhưng hãy đi bày tỏ chính mình của ngươi với tư tế, rồi dâng lễ vật mà Môi-se đã truyền như một lời chứng cho họ.”
- Khi Ngài vào Ca-bê-na-um, có một viên đại đội trưởng đến gặp Ngài, nài xin Ngài, 6. và nói rằng: “Thưa Chúa! Đầy tớ của tôi bị bại, nằm liệt tại nhà, đau đớn lắm.” 7. Ngài nói với ông: “Ta sẽ đến, chữa lành cho nó.” 8. Viên đại đội trưởng đáp: “Lạy Chúa! Tôi không xứng đáng để Chúa đến dưới mái nhà của tôi, nhưng chỉ xin Chúa phán một lời để đầy tớ của tôi được lành. 9. Bởi vì chính tôi ở dưới quyền của một người, tôi cũng có quân lính ở dưới tôi; tôi bảo đứa nầy: ‘Đi!’ thì nó đi; bảo tên khác: ‘Đến!’ thì nó đến; và bảo đầy tớ của tôi: ‘Làm việc nầy!’ thì nó làm.” 10. Nghe vậy, Đức Chúa Jesus ngạc nhiên và nói với những người đang theo Ngài: “Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, Ta chưa thấy ai trong Y-sơ-ra-ên có đức tin như vậy. 11. Nầy, Ta nói cùng các ngươi rằng nhiều người từ phương đông và phương tây sẽ đến ngồi cùng với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp trong vương quốc thiên đàng. 12. Nhưng các con của vương quốc lại bị ném ra ngoài, vào chỗ tối tăm, tại nơi sẽ có than khóc và nghiến răng.” 13. Rồi Đức Chúa Jesus phán với viên đại đội trưởng: “Hãy về đi! Ngươi tin thể nào, thì sẽ được như vậy.” Chính trong giờ đó, người đầy tớ được lành.
- Và rồi Đức Chúa Jesus vào nhà của Phi-e-rơ, Ngài thấy mẹ vợ của ông đang nằm và bị sốt. 15. Ngài đã chạm vào tay của bà, và cơn sốt đã lìa khỏi bà; rồi bà đứng dậy phục vụ Ngài.
- Tối đến, người ta đem đến cho Ngài nhiều người bị quỷ ám; Ngài đã đuổi những tà linh bằng lời phán, và chữa lành tất cả những người đang bị bệnh. 17. Như vậy, lời của Tiên tri Ê-sai đã nói về Ngài được ứng nghiệm: “Chính Ngài đã lấy những tật nguyền của chúng ta, và gánh chịu những bệnh tật của chúng ta.”
- Khi Đức Chúa Jesus thấy một đoàn người rất đông vây quanh, Ngài truyền lệnh đi qua bờ bên kia. 19. Một học giả giáo luật đã đến, và nói với Ngài: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi sẽ theo đó.” 20. Đức Chúa Jesus đáp: “Những con cáo có hang, những chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu.” 21. Một môn đồ khác thưa với Ngài: “Lạy Chúa, xin cho phép con về chôn cất cha của con trước đã.” 22. Nhưng Đức Chúa Jesus đáp: “Hãy theo Ta! Hãy để kẻ chết chôn người chết của họ.”
- Ngài vào trong thuyền, các môn đồ của Ngài theo Ngài. 24. Kìa, có một trận bão rất lớn nổi lên trên biển, đến nỗi sóng ập vào thuyền; nhưng Ngài đang ngủ. 25. Họ đến đánh thức Ngài và kêu lên: “Lạy Chúa! Xin cứu chúng con! Chúng con sắp chết!” 26. Rồi Ngài nói với họ: “Hỡi những người ít đức tin! Tại sao các ngươi sợ?” Sau đó, Ngài đứng dậy quở gió và biển; và rồi có sự tĩnh lặng lạ thường. 27. Các môn đồ kinh ngạc, nói rằng: “Người nầy là ai mà ngay cả gió và biển cũng vâng lệnh người?”
- Khi Ngài sang bờ bên kia, vào địa phận của dân Ga-đa-ra, Ngài gặp hai người bị quỷ ám từ những phần mộ đi ra. Chúng rất hung dữ, đến nỗi không ai dám đi qua đường đó. 29. Kìa, chúng đã kêu lên rằng: “Con của Đức Chúa Trời! Có việc gì khiến Ngài đến với chúng tôi? Có phải Ngài đến đây trước thời hạn để làm khổ chúng tôi?” 30. Lúc này, cách đó khá xa, có một đàn heo rất đông đang ăn. 31. Các quỷ đã van xin Ngài rằng: “Nếu Ngài đuổi chúng tôi ra, xin cho chúng tôi nhập vào đàn heo.” 32. Ngài truyền cho chúng: “Hãy đi!” Và rồi chúng đã xuất ra, và nhập vào đàn heo. Kìa cả đàn từ triền dốc lao xuống biển, chết chìm trong nước. 33. Những người chăn bỏ chạy, vào trong thành, thuật lại mọi việc, kể cả việc xảy ra cho hai người bị quỷ ám. 34. Và rồi, cả thành đã đi ra gặp Đức Chúa Jesus; khi vừa thấy Ngài, họ nài xin Ngài rời khỏi địa phận của họ.
9
- Ngài vào thuyền, qua bờ bên kia, rồi trở về thành của Ngài. 2. Người ta đem đến cho Ngài một người bại liệt đang nằm trên một cái chõng. Đức Chúa Jesus thấy đức tin của họ, Ngài nói với người bại liệt rằng: “Hỡi con, hãy vững lòng! Tội lỗi của con đã được tha.” 3. Có vài học giả giáo luật nói với nhau: “Người nầy nói phạm thượng.” 4. Tuy nhiên Đức Chúa Jesus biết ý tưởng họ, Ngài nói: “Tại sao trong lòng các ngươi lại có ác ý như vậy? 5. Nói là ‘Tội lỗi của con đã được tha’ hoặc ‘Hãy đứng dậy bước đi’ cách nào dễ hơn? 6. Tuy nhiên, để các ngươi có thể biết rằng Con Người có thẩm quyền tha tội trên thế gian”; và sau đó Ngài đã phán với người bại liệt: “Hãy đứng dậy, vác chõng của ngươi, rồi trở về nhà của ngươi.” 7. Người đó đã đứng dậy, rồi đi về nhà của mình. 8. Đám đông đã chứng kiến điều nầy thì kinh ngạc và tôn ngợi Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban thẩm quyền như vậy trên loài người.
- Đức Chúa Jesus rời khỏi nơi đó, Ngài thấy một người tên là Ma-thi-ơ đang ngồi tại chỗ thu thuế. Ngài nói với ông: “Hãy theo Ta.” Ông đã trỗi dậy, và đi theo Ngài. 10. Và rồi chuyện đã xảy ra khi Ngài đang ngồi ăn tối trong nhà, có nhiều người thu thuế và những kẻ có tội đã đến, rồi cùng ngồi dự với Đức Chúa Jesus và các môn đồ của Ngài. 11. Những người Pha-ri-si thấy vậy, đã nói với các môn đồ của Ngài: “Tại sao Thầy của các anh ăn chung với bọn thu thuế và những kẻ tội lỗi?” 12. Khi nghe điều đó, Ngài nói: “Những người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, nhưng chỉ những người đang bệnh. 13. Tuy nhiên hãy đi, và học câu nầy: ‘Ta cần lòng thương xót, chứ không phải sinh tế.’ Bởi vì Ta đã đến không phải để gọi người công chính, nhưng gọi những kẻ có tội.”
- Sau đó, các môn đồ của Giăng đã đến gặp Ngài, và hỏi: “Tại sao chúng tôi và những người Pha-ri-si thường kiêng ăn, còn các môn đồ của Thầy không kiêng ăn?” 15. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Không lẽ các phụ rể lại sầu thảm trong lúc chàng rể còn đang ở với họ hay sao? Nhưng đến khi chàng rể được đem đi khỏi họ, lúc đó họ sẽ kiêng ăn. 16. Không ai vá miếng vải chưa hề nhăn nhúm vào áo cũ, bởi vì mảnh vá sẽ làm rách áo, và chỗ rách sẽ lộ ra. 17. Cũng không ai đổ rượu mới vào các bầu da cũ; nếu làm như vậy, các bầu da sẽ nổ, rượu bị chảy ra ngoài, và các bầu da cũng bị hư. Nhưng người ta đổ rượu mới vào những bầu da mới, để cả hai được bảo toàn.”
- Khi Ngài đang nói những lời nầy, có một vị lãnh đạo đã đến gặp Ngài, quỳ gối và thưa rằng: “Con gái của tôi vừa chết! Xin hãy đến đặt tay của Ngài trên cháu, để cháu được sống.” 19. Đức Chúa Jesus đứng dậy theo người đó, và các môn đồ cũng đi theo.
- Lúc này, có một phụ nữ bị băng huyết đã mười hai năm, đến từ phía sau, rồi chạm vào viền áo của Ngài. 21. Bởi vì bà đã tự nhủ rằng: “Nếu ta chỉ chạm vào áo của Ngài, ta sẽ được lành.” 22. Đức Chúa Jesus đã quay lại, nhìn bà, Ngài nói: “Hỡi con, hãy vững lòng! Đức tin của con đã chữa lành cho con.” Ngay giờ đó, người phụ nữ nầy được chữa lành.
- Đức Chúa Jesus vào trong nhà của vị lãnh đạo, Ngài thấy những người thổi sáo và đám đông gây ồn ào, 24. Ngài nói: “Hãy tránh ra! Bởi vì bé gái nầy không chết đâu, nhưng đang ngủ.” Họ đã chế nhạo Ngài. 25. Khi đám đông bị đuổi ra rồi, Ngài bước vào, cầm tay bé gái, bé gái liền trỗi dậy. 26. Tin nầy được loan ra khắp vùng đó.
- Đức Chúa Jesus rời khỏi nơi đó, có hai người mù đi theo Ngài, van xin rằng: “Lạy con của Đa-vít! Xin thương xót chúng con!” 28. Sau khi Ngài đã vào nhà, những người mù đã đến với Ngài; rồi Đức Chúa Jesus hỏi họ: “Các ngươi có tin rằng Ta làm được điều nầy hay không?” Họ thưa với Ngài: “Thưa Chúa! Vâng.” 29. Rồi Ngài chạm vào mắt của họ, rồi nói: “Điều nầy sẽ xảy ra theo đức tin của các ngươi.” 30. Và rồi, mắt của họ được mở ra. Đức Chúa Jesus nghiêm khắc dặn họ: “Hãy xem! Đừng cho ai biết việc nầy.” 31. Tuy nhiên, họ đã đi ra rồi làm cho cả xứ biết Ngài.
- Khi họ rời nơi đó, người ta đem đến cho Ngài một người câm bị quỷ ám. 33. Ngài đuổi quỷ ra, và người câm đã nói được. Ðám đông kinh ngạc nói rằng: “Chưa bao giờ thấy một việc như vậy trong Y-sơ-ra-ên.” 34. Tuy nhiên, những người Pha-ri-si lại nói: “Ông ta nhờ vào quỷ vương để đuổi quỷ.”
- Đức Chúa Jesus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, công bố Phúc Âm của vương quốc, và chữa lành mọi thứ bệnh tật. 36. Khi thấy những đoàn người, Ngài động lòng thương xót, bởi vì họ mỏi mòn và tan lạc, như chiên không có người chăn. 37. Sau đó Ngài nói với các môn đồ của Ngài: “Mùa gặt thì thật là quá nhiều, nhưng những người làm việc thì ít. 38. Vì vậy, hãy cầu xin Chúa của mùa gặt, để Ngài sai những người làm việc vào trong mùa gặt của Ngài.”
10
- Ngài triệu tập mười hai môn đồ của Ngài, rồi ban cho họ thẩm quyền để họ đuổi các tà linh, chữa lành mọi bệnh tật và mọi đau yếu. 2. Đây là tên của mười hai sứ đồ: Trước nhất là Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ, và Anh-rê, em trai của ông; Gia-cơ, con trai của Xê-bê-đê, và Giăng, là em trai của ông; 3. Phi-líp và Ba-thê-lê-my; Thô-ma và Ma-thi-ơ, người thu thuế; Gia-cơ, con trai của A-phê, và Tha-đê; 4. Si-môn, người Ca-na-an, và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là kẻ phản bội Ngài.
- Đức Chúa Jesus sai mười hai sứ đồ nầy ra đi, và dặn họ rằng: “Đừng đi vào con đường đến với dân ngoại, cũng đừng vào bất cứ một thành nào của dân Sa-ma-ri. 6. Thay vào đó, hãy đến với những con chiên tản lạc của nhà Y-sơ-ra-ên. 7. Hãy tiếp tục loan báo rằng: ‘Vương quốc của thiên đàng đã đến gần.’ 8. Hãy chữa lành người đau yếu, khiến người chết sống lại, làm tinh sạch những người bị phung, và đuổi các quỷ. Các ngươi đã nhận cách miễn phí, thì hãy cho cách miễn phí. 9. Đừng đem vàng, bạc, hoặc đồng trong thắt lưng của các ngươi; 10. cũng đừng đem túi cho hành trình, đừng mang hai áo, nhiều giày, hay gậy, bởi vì người làm việc xứng đáng để được chu cấp. 11. Khi các ngươi vào bất cứ thành nào, hay làng nào, hãy dò hỏi tại đó có ai là người xứng đáng, rồi hãy ở lại tại đó cho đến lúc ra đi. 12. Khi vào nhà nào, hãy cầu chúc cho nhà đó; 13. nếu nhà đó xứng đáng, thì sự bình an của các ngươi sẽ đến với nơi đó; nếu không xứng đáng, sự bình an của các ngươi sẽ trở về với các ngươi. 14. Nếu ai không tiếp đón hoặc không nghe lời của các ngươi, hãy rời khỏi nhà đó hoặc thành đó, hãy phủi bụi đã dính nơi chân của các ngươi. 15. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm và Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành đó.”
- “Kìa, Ta sai các ngươi đi như những con chiên giữa bầy muông sói. Vì vậy hãy khôn như rắn, đơn thuần như chim bồ câu. 17. Tuy nhiên, hãy cẩn thận với những người đời, bởi vì họ sẽ nộp các ngươi cho các tòa án, và họ đánh đòn các ngươi trong những nhà hội của họ. 18. Các ngươi sẽ bị giải đến trước các thống đốc và các vua, để làm chứng về Ta cho những người đó và cho các dân ngoại. 19. Và khi họ đem nộp các ngươi, đừng lo sợ rằng các ngươi phải nói như thế nào hoặc nói những gì, bởi vì trong lúc đó những gì các ngươi cần phải nói sẽ được ban cho các ngươi. 20. Bởi vì các ngươi không phải là những người đang nói, nhưng Thánh Linh của Cha của các ngươi đang nói qua các ngươi.”
- “Lúc đó, anh em sẽ nộp anh em để bị giết; và rồi cha con. Con cái sẽ nổi lên nghịch lại cha mẹ, và khiến họ phải chết. 22. Các ngươi sẽ bị tất cả ghét vì danh của Ta, nhưng ai kiên trì cho đến cuối cùng sẽ được cứu. 23. Khi nào người ta bách hại các ngươi trong thành nầy, hãy chạy trốn sang thành kế cận. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Các ngươi chưa đi hết những thành của Y-sơ-ra-ên thì Con Người đã đến.”
- “Môn đồ không hơn thầy, đầy tớ không hơn chủ của mình. 25. Môn đồ trở nên giống như thầy của mình, đầy tớ được như chủ của mình, là đủ. Nếu họ đã gọi chủ nhà là Bê-ên-xê-bun, những người trong nhà sẽ bị gọi là gì nữa!”
- “Vì vậy, các ngươi đừng sợ họ; bởi vì không có điều gì che đậy mà không bị phơi bày; không có điều gì giấu kín mà không được biết. 27. Cho nên những gì Ta nói với các ngươi trong bóng tối, hãy nói ra ngoài ánh sáng; những gì các ngươi nghe thì thầm bên tai, hãy công bố trên mái nhà. 28. Đừng sợ những kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn, nhưng nên sợ Đấng có thể hủy diệt cả linh hồn lẫn thể xác trong hỏa ngục. 29. Không phải hai con chim sẻ chỉ bán được một cắc bạc hay sao? Tuy nhiên không một con nào rơi xuống đất ngoài ý muốn của Cha của các ngươi. 30. Ngay cả tóc trên đầu của các ngươi cũng đã được đếm. 31. Vì vậy, đừng sợ hãi, bởi vì các ngươi quý giá hơn nhiều chim sẻ.”
- “Vì vậy, ai xưng nhận Ta trước mặt những người đời, Ta cũng sẽ xưng nhận người đó trước mặt Cha Ta ở trên trời; 33. còn ai chối bỏ Ta trước mặt những người đời, Ta cũng sẽ chối bỏ người đó trước mặt Cha Ta ở trên trời.”
- “Đừng nghĩ rằng Ta đến để đem bình an cho thế giới; Ta đến không phải để đem bình an, nhưng là một lưỡi gươm. 35. Ta đến để phân rẽ con trai với cha của mình, con gái với mẹ của mình, con dâu với mẹ chồng của mình; 36. và kẻ thù của một người là những người nhà của người đó. 37. Người nào yêu cha hoặc mẹ hơn Ta thì không xứng đáng cho Ta; ai yêu con trai hoặc con gái hơn Ta cũng không xứng đáng cho Ta. 38. Ai không vác thập tự giá của mình và theo Ta thì không xứng đáng cho Ta. 39. Ai tìm kiếm mạng sống của mình thì sẽ mất; còn ai vì Ta mà mất mạng sống của mình thì sẽ tìm lại được.”
- “Ai tiếp các ngươi, là tiếp Ta; ai tiếp Ta, là tiếp Đấng đã sai Ta. 41. Ai tiếp một tiên tri vì là một tiên tri, sẽ nhận phần thưởng của tiên tri; ai tiếp một người công chính vì là người công chính, sẽ nhận phần thưởng của người công chính. 42. Ai cho một trong những người bé nhỏ nầy chỉ một ly nước lạnh, vì người đó là môn đồ của Ta; thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Người đó sẽ không mất phần thưởng của mình đâu.”
11
- Khi Đức Chúa Jesus ban huấn thị cho mười hai môn đồ xong, Ngài rời nơi đó để đi giảng và dạy trong các thành tại những vùng đó.
- Giăng đang ở trong tù, nghe về những công việc của Đấng Christ, cho nên đã sai hai môn đồ của ông đến 3. thưa với Ngài rằng: “Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi phải chờ đợi một đấng khác?” 4. Đức Chúa Jesus trả lời cho họ: “Hãy về, thuật lại cho Giăng những gì các ngươi nghe và nhìn thấy: 5. Người mù được sáng, người què bước đi, những người phung được tinh sạch, người điếc được nghe, người chết được sống lại, và người nghèo được nghe Phúc Âm. 6. Phước cho người nào không vấp ngã vì cớ Ta!”
- Khi những người này đã đi khỏi, Đức Chúa Jesus bắt đầu nói về Giăng với đám đông: “Các ngươi đã đi vào trong hoang mạc để xem gì? Có phải một cây sậy bị gió lay động? 8. Các ngươi đã đi ra để xem điều gì? Có phải một người mặc trang phục sang trọng? Kìa, những người mặc trang phục sang trọng thì ở trong cung vua. 9. Nhưng các ngươi đã đi ra để xem điều gì? Có phải một tiên tri? Phải! Ta nói với các ngươi, người còn hơn cả tiên tri nữa. 10. Bởi vì có lời đã chép về người rằng: ‘Nầy, Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, là người sẽ dọn đường của Con trước cho Con.’ 11. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Trong những người do các phụ nữ sinh ra, không có ai cao trọng hơn Giăng Báp-tít. Tuy nhiên, người nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng còn cao trọng hơn ông. 12. Từ thời của Giăng Báp-tít cho đến bây giờ, vương quốc thiên đàng đã chuyển động mạnh mẽ, và những người mạnh mẽ nắm giữ nó. 13. Tất cả các tiên tri và luật pháp đã nói tiên tri cho đến Giăng. 14. Và nếu các ngươi vui lòng đón nhận, ông ấy chính là Ê-li, là người phải đến. 15. Ai có tai, hãy lắng nghe!”
- “Ta sẽ so sánh thế hệ nầy với điều gì? Thế hệ nầy giống như những đứa trẻ ngồi ngoài chợ, rồi gọi những đứa khác, và nói: 17. ‘Chúng tôi đã thổi sáo cho các bạn, tại sao các bạn không nhảy múa? Chúng tôi hát bài ai ca, sao các bạn không than khóc?’”
- “Bởi vì Giăng đã đến, không ăn không uống thì họ nói rằng: ‘Người bị quỷ ám!’ 19. Con Người đến, ăn và uống thì họ lại nói: ‘Kìa, hãy xem người: Một kẻ ham ăn, mê uống; làm bạn với bọn thu thuế và những kẻ tội lỗi!’ Tuy nhiên, sự khôn ngoan được biện minh bằng những hành động của nó.”
- Sau đó, Ngài bắt đầu quở trách những thành phố là nơi có rất nhiều phép lạ của Ngài đã diễn ra, nhưng họ không ăn năn. 21. “Khốn cho ngươi, Cô-ra-xin! Khốn cho ngươi, Bết-sai-đa! Bởi vì nếu những phép lạ đã thực hiện giữa các ngươi, được thực hiện tại Ty-rơ và Si-đôn thì họ đã mặc vải sô, đội tro và ăn năn từ lâu rồi. 22. Vì vậy, Ta nói cùng các ngươi: Trong ngày phán xét, Ty-rơ và Si-đôn sẽ được xử nhẹ hơn các ngươi. 23. Còn ngươi, Ca-bê-na-um, ngươi sẽ không được nhắc cao lên đến tận trời, nhưng ngươi sẽ bị hạ xuống âm phủ. Bởi vì nếu những phép lạ đã thực hiện giữa ngươi, nếu được thực hiện tại Sô-đôm, thì nó vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. 24. Vì vậy, Ta nói cùng các ngươi: Trong ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ được xử nhẹ hơn các ngươi.”
- Lúc đó Đức Chúa Jesus thưa rằng: “Con nhận biết Cha, là Chúa của trời và đất, rằng Cha đã giấu những điều nầy khỏi những người thông minh và có học, nhưng bày tỏ cho những trẻ thơ. 26. Thật vậy, thưa Cha, bởi vì điều nầy đẹp ý Cha.”
- “Cha của Ta đã giao mọi sự cho Ta. Không ai biết Con, ngoại trừ Cha. Cũng không ai biết Cha, ngoại trừ Con và người nào Con chọn để bày tỏ.”
- “Tất cả những người mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, rồi Ta sẽ cho các ngươi được an nghỉ. 29. Hãy mang ách của Ta trên các ngươi và học từ Ta, thì tâm hồn của các ngươi sẽ tìm được sự yên nghỉ, bởi vì Ta có lòng khiêm tốn và dịu dàng. 30. Vì ách của Ta dễ chịu và gánh của Ta nhẹ nhàng.”
12
- Lúc đó, vào ngày sa-bát, Đức Chúa Jesus đi ngang qua một đồng lúa, các môn đồ của Ngài đói nên họ bắt đầu ngắt bông lúa mà ăn. 2. Những người Pha-ri-si thấy vậy, nói với Ngài: “Xem kìa, các môn đồ của Thầy làm điều không được phép làm trong ngày sa-bát.” 3. Nhưng Ngài nói với họ: “Các ngươi chưa đọc về việc Đa-vít đã làm, khi ông cùng những người theo ông bị đói hay sao? 4. Ông đã vào trong nhà của Đức Chúa Trời ăn bánh cung hiến, là loại bánh mà theo luật pháp, ông và những kẻ theo ông không được phép ăn, nhưng chỉ dành riêng cho các tư tế. 5. Hay là các ngươi chưa đọc trong sách luật rằng, vào ngày sa-bát, các tư tế trong đền thờ vi phạm luật ngày sa-bát mà vẫn không mắc tội hay sao? 6. Nhưng Ta nói với các ngươi, tại đây, có một Đấng cao trọng hơn cả đền thờ. 7. Nhưng nếu các ngươi hiểu được ý nghĩa của câu ‘Ta muốn lòng thương xót, chứ không phải sinh tế’ là gì, thì các ngươi đã không lên án người vô tội; 8. bởi vì Con Người là Chúa của ngày sa-bát.”
- Rời khỏi nơi đó, Ngài đi vào nhà hội của họ. 10. Kìa, tại đó có người liệt một bàn tay. Họ hỏi Ngài rằng: “Chữa bệnh trong ngày sa-bát có đúng theo luật pháp hay không?” để họ có thể tố cáo Ngài. 11. Ngài đã phán với họ: “Ai trong các ngươi có một con chiên bị ngã xuống hố trong ngày sa-bát, người đó không nắm lấy nó và kéo nó lên hay sao? 12. Thật vậy con người quý hơn con chiên là dường nào! Vì vậy, làm điều lành trong ngày sa-bát là hợp với luật pháp.” 13. Sau đó Ngài phán với người bệnh: “Hãy giơ tay ra!” Người đó giơ tay ra, thì tay được phục hồi và lành mạnh như tay kia.
- Những người Pha-ri-si đã đi ra, bàn mưu chống Ngài, và tìm cách để giết Ngài. 15. Đức Chúa Jesus biết, nên Ngài rời khỏi đó. Có một đoàn người rất đông đi theo Ngài, và Ngài đã chữa lành tất cả. 16. Ngài cảnh cáo họ rằng họ đừng cho ai biết về Ngài. 17. Như vậy, để lời của Tiên tri Ê-sai đã nói được ứng nghiệm: 18. “Nầy là đầy tớ của Ta, là người mà Ta đã chọn, là Người mà Ta yêu quý, và lòng của Ta tìm thấy sự vui thỏa trong Người. Ta sẽ ban Thánh Linh của Ta trên Người, và Người sẽ công bố công lý cho dân ngoại. 19. Người sẽ không cãi vã, không gào thét, không ai nghe tiếng của Người trên các đường phố. 20. Người sẽ không bẻ cây sậy đã giập, không tắt ngọn đèn gần tàn, cho đến chừng Người dẫn công lý đến chiến thắng. 21. Và các dân ngoại đặt hy vọng nơi danh của Người.”
- Sau đó họ đem đến cho Ngài một người bị quỷ ám, bị mù và bị câm; Ngài đã chữa lành cho người, khiến người câm nói được và thấy được. 23. Tất cả đám đông đều kinh ngạc, nói rằng: “Không phải người nầy là con của Đa-vít hay sao?” 24. Những người Pha-ri-si nghe vậy, nói rằng: “Nếu không nhờ Bê-ên-xê-bun, lãnh đạo của các quỷ, người nầy không thể đuổi quỷ được.”
- Biết được ý tưởng của họ, Ngài phán với họ rằng: “Vương quốc nào bị phân chia, chống lại chính mình, sẽ bị sụp đổ. Một thành nào hay một nhà nào bị phân chia, chống lại chính mình, sẽ không đứng vững. 26. Nếu Sa-tan đuổi Sa-tan, nó bị phân chia, chống lại chính nó. Làm thế nào vương quốc của nó sẽ đứng vững được? 27. Nếu Ta nhờ Bê-ên-xê-bun mà đuổi quỷ, thì con cái các ngươi nhờ ai mà đuổi quỷ? Dựa trên điều nầy, chúng nó sẽ phân xử các ngươi. 28. Nhưng nếu Ta nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà đuổi quỷ, thì vương quốc Đức Chúa Trời đã đến với các ngươi. 29. Hay là, có ai làm thế nào vào nhà của một người dũng mãnh để cướp tài sản của người đó, nếu trước hết không trói người dũng mãnh đó lại? Rồi sau đó mới cướp trong nhà của người đó được. 30. Ai không ở với Ta là chống lại Ta; ai không tụ họp quanh Ta thì bị tan tác. 31. Vì vậy, Ta nói cùng các ngươi: Mọi tội lỗi và lời nói phạm thượng đều được tha cho loài người; nhưng lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh sẽ không được tha thứ. 32. Ai nói một lời nghịch với Con Người, thì người đó sẽ được tha; nhưng ai nói nghịch với Đức Thánh Linh, thì cả trong đời nầy hay trong đời sau, người đó cũng sẽ không được tha.”
- “Nếu là cây tốt thì trái cũng tốt, nếu là cây xấu thì trái cũng xấu; xem trái thì biết cây. 34. Hỡi dòng dõi rắn độc kia! Các ngươi vốn là gian ác, làm sao có thể nói được điều tốt? Bởi vì do đầy dẫy trong lòng, thì miệng mới nói ra. 35. Người tốt, do tích lũy điều thiện, nên sản sinh ra những việc thiện; còn kẻ gian ác, do tích tụ điều ác, nên sản sinh ra những điều ác. 36. Nhưng Ta nói cùng các ngươi, trong ngày phán xét, người ta sẽ chịu trách nhiệm về mọi lời cẩu thả mà mình đã nói. 37. Vì bởi những lời nói của ngươi, ngươi sẽ được xưng công chính; và cũng bởi những lời nói của ngươi, ngươi sẽ bị định tội.”
- Sau đó, có một số học giả giáo luật và những người Pha-ri-si nói với Ngài rằng: “Thưa Thầy! Chúng tôi muốn xem Thầy làm một dấu lạ.” 39. Ngài đáp cùng họ rằng: “Thế hệ gian ác và ngoại tình nầy tìm kiếm một dấu lạ, nhưng sẽ không được ban cho một dấu lạ nào, ngoài dấu lạ của Tiên tri Giô-na. 40. Giống như Giô-na đã ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm; cũng vậy, Con Người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm. 41. Trong ngày phán xét, những người Ni-ni-ve sẽ đứng dậy với thế hệ nầy và kết án nó, bởi vì dân tộc đó đã ăn năn vì lời rao giảng của Giô-na, nhưng tại đây có một Đấng cao trọng hơn Giô-na! 42. Trong ngày phán xét, nữ hoàng nam phương sẽ đứng dậy trước thế hệ nầy và lên án nó, bởi vì bà đã từ tận cùng trái đất đã đến để nghe lời khôn ngoan của Sa-lô-môn; nhưng tại đây có một Đấng cao trọng hơn Sa-lô-môn!”
- “Khi tà linh ra khỏi một người, nó đi qua những nơi khô cằn, tìm chỗ nghỉ, nhưng không tìm được. 44. Sau đó nó nói: ‘Ta sẽ trở về nhà của ta, nơi ta vừa ra khỏi.’ Khi về đến, nó thấy nhà trống, quét dọn sạch, sắp đặt ngăn nắp, 45. nó liền đi và đem về bảy quỷ khác dữ hơn, chúng cùng vào, và ở trong đó. Vì vậy, tình trạng sau cùng của người đó còn tệ hại hơn lúc ban đầu. Thế hệ gian ác nầy cũng sẽ như vậy.”
- Trong khi Đức Chúa Jesus còn đang nói với đám đông, thì mẹ và các em trai của Ngài đến, đang đứng ở bên ngoài, tìm cách nói chuyện với Ngài. 47. Lúc đó, có người thưa với Ngài rằng: “Kìa, mẹ của Thầy và các em trai của Thầy đang đứng ở bên ngoài, muốn nói chuyện với Thầy.” 48. Ngài trả lời và nói với người đó rằng: “Ai là mẹ của Ta? Ai là các em trai của Ta?” 49. Rồi Ngài đưa tay về phía các môn đồ của Ngài và nói: “Đây là mẹ của Ta và các em trai của Ta! 50. Bởi vì hễ ai làm theo ý muốn của Cha Ta, là Đấng ngự trên trời, thì người đó là các em trai, em gái, và là mẹ của Ta.”
13
- Trong ngày hôm đó, Đức Chúa Jesus ra khỏi nhà, rồi ngồi bên bờ biển. 2. Những đoàn người rất đông tụ họp quanh Ngài, cho nên Ngài phải vào trong thuyền ngồi tại đó, còn tất cả đám đông thì đứng trên bờ. 3. Ngài phán với họ nhiều điều qua các ẩn dụ: “Có một người đi ra để gieo giống. 4. Trong khi người đó gieo, một số rơi dọc đường, và rồi chim đã đến, ăn hết. 5. Một số khác rơi trên chỗ có đá, là nơi không có nhiều đất, và lập tức mọc lên, nhưng không thể xuyên sâu vào đất; 6. khi mặt trời mọc lên, nó bị héo, bởi vì không có rễ, nên đã chết khô. 7. Một số khác rơi giữa những bụi gai, những bụi gai đã mọc lên, làm cho chúng bị nghẹt ngòi. 8. Một số khác nữa rơi trên đất tốt, và đã kết quả: một số được một trăm lần, một số được sáu chục lần, một số được ba chục lần. 9. Ai có tai, hãy lắng nghe!”
- Các môn đồ đã đến, rồi thưa với Ngài: “Vì sao Thầy dùng những ẩn dụ để nói với họ?” 11. Ngài trả lời họ rằng: “Bởi vì các ngươi đã được cho phép để hiểu về những huyền nhiệm của vương quốc thiên đàng, còn họ thì chưa được cho phép. 12. Bởi vì người nào đang có, sẽ được cho thêm, để người đó được dư dật; còn người nào không có, sẽ bị cất luôn điều chính mình đang có nữa. 13. Chính vì điều nầy, nên Ta đã dùng những ẩn dụ để nói với họ, bởi vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu. 14. Để lời tiên tri của Ê-sai được ứng nghiệm nơi họ: ‘Các ngươi lắng tai để nghe, nhưng không hiểu; đưa mắt để nhìn, nhưng không thấy. 15. Bởi vì lòng dân nầy đã chai lì; tai rất khó nghe, mắt đã nhắm lại. Họ lo ngại rằng mắt thấy được, tai nghe được, lòng hiểu được, rồi hối cải, và Ta sẽ chữa lành cho họ chăng.’”
- “Nhưng phước cho mắt của các ngươi, vì thấy được; phước cho tai của các ngươi, vì nghe được! 17. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Có nhiều tiên tri, nhiều người công chính, mơ ước thấy điều các ngươi đang thấy, nhưng đã không thấy được; nghe điều các ngươi đang nghe, nhưng đã không nghe được.”
- “Vì vậy, các ngươi hãy lắng nghe ẩn dụ về người gieo giống. 19. Người nào nghe đạo của vương quốc thiên đàng mà không hiểu, thì quỷ dữ đến, rồi cướp đi điều đã gieo trong lòng của người đó. Đây là hạt giống đã gieo dọc đường. 20. Còn hạt giống đã được gieo vào chỗ có đá, là người khi nghe đạo liền vui mừng tiếp nhận; 21. tuy nhiên người đó không có rễ trong chính mình, nhưng chỉ là tạm thời, cho nên lúc vì đạo gặp hoạn nạn hay bị bắt bớ, thì người đó liền vấp ngã. 22. Còn hạt giống được gieo giữa những bụi gai là người nghe đạo, nhưng sự lo lắng về đời nầy, và sự quyến rũ của giàu sang, làm cho đạo bị nghẹt ngòi, cho nên không kết quả. 23. Nhưng hạt giống được gieo trên đất tốt, là người đã nghe và hiểu đạo, và thật sự đem lại kết quả: một số được một trăm lần, một số được sáu chục lần, một số được ba chục lần.”
- Ngài cho họ một ẩn dụ khác: “Vương quốc thiên đàng ví như một người đi ra gieo giống tốt trong đồng ruộng của mình. 25. Nhưng lúc mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của người ấy đã đến, gieo cỏ dại vào giữa lúa mì, rồi bỏ đi. 26. Khi lúa mọc lên và kết hạt thì cỏ dại cũng xuất hiện. 27. Các đầy tớ của chủ nhà đã đến nói với ông rằng: ‘Thưa chủ! Không phải chủ đã gieo giống tốt trong đồng ruộng của chủ hay sao? Như vậy, làm thế nào mà có cỏ dại?’ 28. Chủ trả lời họ: ‘Một kẻ thù đã làm điều nầy.’ Các đầy tớ đã nói với ông rằng: ‘Nếu vậy chủ có muốn chúng tôi nhổ chúng hay không?’ 29. Ông nói: ‘Không, e rằng khi nhổ cỏ dại, các ngươi nhổ luôn cả lúa chăng. 30. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho đến mùa gặt; và rồi vào mùa gặt, ta sẽ dặn thợ gặt thu gom cỏ dại trước, bó lại từng bó, rồi đốt chúng; còn lúa thì thu hoạch vào trong kho của ta.’”
- Ngài phán với họ một ẩn dụ khác: “Vương quốc thiên đàng giống như một hạt cải mà một người đã đem gieo trong ruộng của mình. 32. Hạt đó nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi mọc lên thì nó lớn nhất trong các loại rau, rồi trở thành một cái cây, đến nỗi chim trời đã đến và làm tổ trên các cành của nó.”
- Ngài phán với họ một ẩn dụ khác: “Vương quốc thiên đàng giống như men mà một phụ nữ đã lấy, ủ vào trong ba lường bột, cho đến khi tất cả dậy lên.”
- Đức Chúa Jesus đã nói tất cả những điều nầy với những đám đông bằng các ẩn dụ; Ngài không nói cho họ điều mà không dùng những ẩn dụ. 35. Như vậy, để lời tiên tri đã phán được ứng nghiệm: “Ta sẽ mở miệng để nói những ẩn dụ, Ta sẽ công bố những điều kín giấu từ lúc lập nền của thế gian.”
- Sau khi giải tán những đám đông, Ngài vào trong nhà. Các môn đồ của Ngài đã đến, thưa với Ngài rằng: “Xin giải thích ẩn dụ về cỏ dại trong đồng ruộng cho chúng con.” 37. Ngài đáp: “Người gieo giống tốt là Con Người; 38. đồng ruộng là thế gian; giống tốt là con cái của vương quốc; cỏ lùng là con cái của quỷ dữ; 39. kẻ thù đã gieo chúng là ma quỷ; mùa gặt là ngày tận thế; thợ gặt là các thiên sứ. 40. Như cỏ dại bị gom lại và đốt trong lửa thể nào, thì ngày tận thế cũng sẽ là như vậy; 41. Con Người sẽ sai thiên sứ của Ngài lấy mọi kẻ gian ác và mọi kẻ phạm pháp ra khỏi vương quốc của Ngài, 42. rồi ném chúng vào lò lửa, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. 43. Khi đó, những người công chính sẽ tỏa sáng như mặt trời trong vương quốc của Cha họ. Ai có tai, hãy lắng nghe!”
- “Vương quốc thiên đàng ví như một kho báu được chôn giấu trong một cánh đồng. Một người đã tìm được, rồi giấu đi, và vui mừng về nó, cho nên đã đi bán tất cả mọi thứ mà mình có, để mua cánh đồng đó.”
- “Vương quốc thiên đàng lại giống như một thương nhân đang tìm kiếm những viên ngọc trai quý; 46. khi đã tìm được một viên ngọc trai cực kỳ quý giá, người ấy đã bán tất cả những thứ mà người đó có để mua nó.”
- “Vương quốc thiên đàng cũng giống như một cái lưới được thả xuống biển, thu gom mọi thứ. 48. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bờ, rồi ngồi xuống, chọn loại tốt cho vào rổ, còn loại xấu thì vứt bỏ. 49. Ngày tận thế cũng sẽ như vậy, các thiên sứ sẽ đến, tách biệt kẻ ác ra khỏi những người công chính, 50. rồi ném họ vào lò lửa; tại đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.”
- “Các ngươi có hiểu tất cả những điều nầy không?” Họ nói với Ngài: “Thưa có.” 52. Rồi Ngài nói với họ: “Bởi vì điều này, các học giả giáo luật đã được giáo huấn về vương quốc thiên đàng, cũng giống như một người chủ nhà đem những vật mới lẫn cũ ra khỏi kho báu của mình.”
- Khi Đức Chúa Jesus đã hoàn tất những ẩn dụ này, Ngài rời khỏi nơi đó. 54. Khi về đến quê hương của Ngài, Ngài dạy dỗ dân chúng trong nhà hội của họ. Dân chúng đã kinh ngạc nói rằng: “Do đâu mà người nầy có được sự khôn ngoan và những quyền năng diệu kỳ như vậy? 55. Không phải người nầy là con trai của ông thợ mộc hay sao? Không phải mẹ của người là Ma-ri, và các em trai của người là Gia-cơ, Giô-sép, Si-môn, Giu-đe hay sao? 56. Tất cả các em gái của người không phải đều ở giữa chúng ta hay sao? Như vậy, do đâu người nầy có được tất cả những điều nầy?” 57. Và rồi họ đã vấp phạm vì Ngài. Nhưng Đức Chúa Jesus đã nói với họ: “Một tiên tri không hề thiếu sự tôn trọng, ngoại trừ tại quê hương của mình và trong gia đình của mình.” 58. Tại đó, Ngài không làm nhiều phép lạ, do sự vô tín của họ.
14
- Lúc đó, vua chư hầu Hê-rốt nghe tin về Đức Chúa Jesus, 2. ông đã nói với các quần thần của mình rằng: “Đây là Giăng Báp-tít! Người đã từ cõi chết sống lại, cho nên những quyền năng diệu kỳ mới ở trong người.”
- Bởi vì Hê-rốt đã bắt Giăng, xiềng ông, và bỏ ông vào tù, do việc Hê-rô-đia, vợ của Phi-líp, là em trai của vua. 4. Vì Giăng đã nói với vua rằng: “Bệ hạ lấy nàng là điều phạm pháp.” 5. Mặc dù muốn giết Giăng, nhưng vua sợ dân chúng, bởi vì họ đều tin rằng Giăng là một tiên tri.
- Lúc mừng sinh nhật của Hê-rốt, con gái của Hê-rô-đia nhảy múa giữa bữa tiệc, và làm hài lòng Hê-rốt, 7. đến nỗi vua đã thề hứa cho nàng bất cứ điều gì nàng xin. 8. Bị mẹ của nàng xúi giục, nàng đã nói rằng: “Xin cho con cái đầu của Giăng Báp-tít trên chiếc mâm nầy.” 9. Vua rất buồn rầu, nhưng vì đã lỡ thề trước những khách dự tiệc, nên đã truyền lệnh cho phép. 10. Vua sai người chém đầu của Giăng trong ngục, 11. rồi họ đặt cái đầu của ông trên mâm, trao cho cô gái, rồi cô đem đến cho mẹ của mình. 12. Sau đó, các môn đồ của Giăng đã đến, lấy xác của ông, đem chôn, rồi họ đi báo tin cho Đức Chúa Jesus.
- Nghe tin nầy, Đức Chúa Jesus rời khỏi nơi đó bằng thuyền để đến một nơi thanh vắng cho riêng Ngài. Nghe vậy, nhiều đám đông từ các thành đã đi bộ để theo Ngài. 14. Vừa ra khỏi thuyền, Ngài thấy một đoàn dân đông thì cảm thương họ, rồi chữa lành cho những người bệnh của họ.
- Chiều xuống, các môn đồ của Ngài đã đến, thưa với Ngài: “Nơi nầy thật hoang vắng, và đã quá giờ rồi, xin Thầy giải tán dân chúng để họ vào những làng để mua thức ăn cho họ.” 16. Đức Chúa Jesus nói: “Họ không cần phải đi; các ngươi hãy cho họ ăn.” 17. Họ thưa rằng: “Ở đây, chúng con chỉ có năm cái bánh và hai con cá.” 18. Ngài phán: “Hãy đem chúng đến đây cho Ta.” 19. Sau khi truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Ngài lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn, rồi bẻ ra, trao bánh cho các môn đồ, và họ phân phát cho đám đông. 20. Tất cả đã ăn thỏa thuê. Họ thu nhặt những mẩu bánh thừa, được mười hai giỏ đầy. 21. Số người ăn khoảng năm ngàn người, không kể những phụ nữ và trẻ em.
- Ngay lập tức, Ngài giục các môn đồ vào thuyền, đi trước Ngài để qua bờ bên kia, trong lúc Ngài cho dân chúng ra về. 23. Khi đã cho dân chúng ra về, chính Ngài đã đi lên núi để cầu nguyện. Tối đến, Ngài ở tại đó một mình.
- Lúc này, thuyền đã xa đất liền nhiều dặm, bị sóng dồi dập vì gió ngược. 25. Đến canh tư đêm đó, Đức Chúa Jesus bước đi trên mặt biển, để đến với họ. 26. Các môn đồ thấy Ngài bước đi trên mặt biển, thì kinh hoàng, và nói rằng: “Đó là ma!” Rồi họ la lên vì sợ hãi. 27. Ngay lập tức, Đức Chúa Jesus nói với họ: “Hãy can đảm, chính Ta đây, đừng sợ!”
- Phi-e-rơ đáp lời Ngài và nói: “Lạy Chúa! Nếu chính là Ngài, xin truyền cho con đến với Ngài trên mặt nước.” 29. Ngài phán: “Hãy đến!” Xuống khỏi thuyền, Phi-e-rơ bước đi trên mặt nước, và đến với Đức Chúa Jesus. 30. Nhưng khi thấy gió thổi, ông hoảng sợ, bắt đầu chìm xuống, nên đã la lên rằng: “Chúa ơi! Xin cứu con!” 31. Ngay lập tức, Đức Chúa Jesus đưa tay ra, nắm lấy ông, và nói với ông rằng: “Hỡi kẻ ít đức tin! Sao con lại nghi ngờ?” 32. Khi họ vào trong thuyền, gió ngưng hẳn. 33. Những người trên thuyền thờ lạy Ngài, và nói rằng: “Thật vậy, Thầy là Con của Đức Chúa Trời!”
- Khi đã qua đến bờ bên kia, họ đến xứ Ghê-nê-xa-rết. 35. Dân chúng tại đó nhận biết Ngài nên đã báo tin khắp các vùng lân cận, và rồi họ đem tất cả những người đang bị bệnh đến với Ngài. 36. Họ nài xin Ngài cho họ chỉ chạm vào vạt áo của Ngài mà thôi; và những ai chạm đến đều được lành.
15
- Sau đó, những người Pha-ri-si và các học giả giáo luật từ Giê-ru-sa-lem đến với Đức Chúa Jesus, rồi hỏi rằng: 2. “Tại sao các môn đồ của Thầy phá bỏ truyền thống của các trưởng lão? Bởi vì họ không rửa tay của họ trước khi ăn bánh?”
- Ngài trả lời họ: “Tại sao các ngươi cũng chỉ vì truyền thống của mình mà vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời? 4. Bởi vì Đức Chúa Trời đã truyền dạy rằng: ‘Hãy hiếu kính cha mẹ;’ và ‘Ai nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử.’ 5. Nhưng các ngươi lại nói: ‘Ai nói với cha mẹ rằng: Nếu là tặng vật của con, thì cha mẹ được lợi ích gì?’ 6. rồi người đó không cần hiếu kính cha mẹ nữa. Vì truyền thống của mình, các ngươi đã vô hiệu hóa mạng lệnh của Đức Chúa Trời. 7. Hỡi những kẻ đạo đức giả! Ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi rất đúng rằng: 8. ‘Dân nầy tôn kính Ta bằng môi miệng; nhưng lòng chúng nó xa cách Ta. 9. Chúng thờ phượng Ta cách vô ích, và dạy những giáo lý theo luật lệ của loài người.’ ”
- Và rồi Ngài đã gọi dân chúng đến và nói với họ: “Hãy nghe và hiểu! 11. Không phải vật gì vào miệng, làm cho con người bị ô uế; nhưng điều gì từ miệng ra, điều đó mới làm ô uế con người.”
- Sau đó các môn đồ đã đến gần, thưa với Ngài: “Thầy có biết những người Pha-ri-si bị xúc phạm khi nghe lời nầy không?”
- Ngài trả lời và nói: “Cây nào Cha của Ta ở trên trời không trồng thì phải nhổ đi. 14. Hãy mặc kệ họ! Họ là những kẻ mù dẫn đường cho những người mù. Nếu một người mù dẫn một người mù thì cả hai sẽ ngã xuống hố.”
- Sau đó, Phi-e-rơ đáp lại và nói với Ngài: “Xin Thầy giải thích ẩn dụ nầy cho chúng con.” 16. Ngài nói: “Các ngươi cũng vẫn chưa hiểu sao? 17. Các ngươi không biết rằng vật gì vào miệng, sẽ đi vào dạ dày, rồi bị thải ra ngoài hay sao? 18. Nhưng những gì từ miệng ra, đều phát xuất từ trong lòng, và những điều đó làm ô uế con người. 19. Bởi vì những ý tưởng xấu xa, giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cướp, làm chứng dối, và vu khống đều xuất phát từ trong lòng. 20. Đây là những điều làm ô uế con người; còn việc ăn không rửa tay, không làm ô uế con người.”
- Rời khỏi nơi đó, Đức Chúa Jesus lui vào khu vực của Ty-rơ và Si-đôn. 22. Kìa, có một phụ nữ Ca-na-an từ vùng nầy đến, và kêu xin rằng: “Lạy Chúa! Con của Đa-vít! Xin thương xót con. Con gái của con bị quỷ ám, khốn khổ lắm!” 23. Ngài không đáp lại cho bà một lời. Các môn đồ của Ngài đến, và nài xin Ngài rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy trở về, bởi vì bà cứ theo sau chúng ta kêu xin mãi.” 24. Ngài trả lời và nói rằng: “Nếu không phải vì những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên, thì Ta không được sai đến.” 25. Nhưng người phụ nữ nầy đã đến, phủ phục trước Ngài, và thưa rằng: “Lạy Chúa! Xin giúp con!” 26. Ngài trả lời và nói rằng: “Lấy bánh của con cái, mà ném cho những con chó, là điều không đúng.” 27. Người phụ nữ thưa: “Lạy Chúa! Đúng vậy! Tuy nhiên những con chó ăn những miếng bánh vụn từ bàn của chủ chúng rơi xuống.” 28. Sau đó, Đức Chúa Jesus trả lời và nói với bà: “Nầy người phụ nữ! Đức tin của ngươi rất lớn! Điều ngươi ao ước sẽ được thành tựu cho ngươi!” Ngay trong giờ đó, con gái của bà được lành.
- Đức Chúa Jesus rời khỏi nơi đó, đi dọc theo biển Ga-li-lê. Ngài lên núi và ngồi tại đó. 30. Có những đoàn người rất đông đến với Ngài, đem theo những người què, tàn tật, mù, câm, và nhiều chứng bệnh khác, rồi đặt họ nơi chân của Ngài; và Ngài đã chữa lành cho họ. 31. Vì vậy, đám đông kinh ngạc khi thấy người câm nói được, người tàn tật được lành, người què bước đi, người mù thấy được; và họ tôn vinh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
- Đức Chúa Jesus gọi các môn đồ của Ngài đến, và nói rằng: “Ta cảm thương đoàn dân nầy bởi vì họ đã ở với Ta liên tục ba ngày, và bây giờ thì không còn gì để ăn. Ta không muốn để họ nhịn đói ra về, kẻo họ bị xỉu dọc đường.” 33. Các môn đồ thưa với Ngài: “Giữa nơi hoang vu nầy, chúng ta kiếm đâu ra đủ bánh cho những đoàn dân rất đông nầy?” 34. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Các ngươi có bao nhiêu bánh?” Họ thưa: “Có bảy cái và vài con cá nhỏ.” 35. Ngài truyền cho đoàn dân ngồi xuống đất, 36. lấy bảy cái bánh và mấy con cá, tạ ơn, rồi bẻ ra, và trao cho các môn đồ, để các môn đồ phát cho dân chúng. 37. Tất cả đã ăn thỏa thuê; họ thu thập những mẩu bánh thừa, được bảy giỏ đầy. 38. Số người ăn là bốn ngàn người, không kể những phụ nữ và trẻ em.
- Sau khi cho dân chúng ra về, Ngài xuống thuyền đến vùng Ma-ga-đan.
16
- Những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đã đến, thử thách, xin Ngài tỏ cho họ một dấu lạ từ trời.
- Ngài đáp: “Chiều đến, các ngươi nói: ‘Thời tiết sẽ tốt, bởi vì bầu trời màu đỏ.’ 3. Buổi sáng, các ngươi nói: ‘Hôm nay có giông bão, bởi vì bầu trời đỏ và âm u.’ Thật vậy, các ngươi biết phân biệt sắc trời, nhưng không thể phân biệt được các dấu hiệu của thời đại hay sao? 4. Thế hệ gian ác và bất trung nầy tìm kiếm một dấu lạ; nhưng sẽ không có một dấu lạ nào được ban cho họ, ngoài trừ dấu lạ của Giô-na.” Rồi Ngài bỏ họ mà đi.
- Các môn đồ qua đến bờ bên kia, nhưng họ quên đem theo bánh. 6. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Hãy thận trọng và đề phòng men của những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.” 7. Các môn đồ bàn luận với nhau và nói: “Tại vì chúng ta không đem theo bánh.” 8. Biết vậy, Đức Chúa Jesus nói: “Hỡi những kẻ ít đức tin! Tại sao các ngươi ngươi lại bàn luận với nhau về việc các ngươi không có bánh? 9. Các ngươi không hiểu và không nhớ rằng với năm cái bánh đủ cho năm ngàn người, và các ngươi đã thu lại được bao nhiêu giỏ? 10. Hay bảy cái bánh cho bốn ngàn người, và các ngươi thu lại được bao nhiêu giỏ? 11. Tại sao các ngươi không hiểu rằng Ta không nói với các ngươi về bánh? Hãy đề phòng men của những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.” 12. Sau đó, các môn đồ hiểu rằng Ngài không bảo họ đề phòng về men làm bánh, nhưng về những sự dạy dỗ của những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.
- Khi Đức Chúa Jesus đến vùng Sê-sa-rê Phi-líp, Ngài hỏi các môn đồ của Ngài rằng: “Người ta nói Con Người là ai?” 14. Họ nói: “Một số người nói là Giăng Báp-tít, những người khác nói là Ê-li, một số khác nữa nói là Giê-rê-mi, hay là một trong các tiên tri.” 15. Ngài nói với họ: “Còn các ngươi thì nói Ta là ai?” 16. Si-môn Phi-e-rơ trả lời, nói rằng: “Thầy là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời, là Đấng Hằng Sống.”
- Đức Chúa Jesus đáp lại, nói với ông: “Phước cho ngươi! Si-môn, con của Giô-na. Bởi vì không phải thịt và huyết giải bày điều nầy cho ngươi, nhưng là Cha của Ta, là Đấng đang ngự ở trên trời. 18. Này, Ta cũng nói với ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, và Ta sẽ xây dựng Hội Thánh của Ta trên đá nầy, và các cửa âm phủ sẽ không thắng được Hội Thánh đó. 19. Ta sẽ trao cho ngươi chìa khóa của vương quốc thiên đàng; bất cứ điều gì ngươi buộc dưới đất cũng sẽ bị buộc ở trên trời, và bất cứ điều gì ngươi mở dưới đất cũng sẽ được mở ở trên trời.” 20. Sau đó Ngài dặn các môn đồ rằng họ không được nói cho ai biết Ngài là Đấng Christ.
- Kể từ lúc đó, Đức Chúa Jesus bắt đầu bày tỏ cho các môn đồ của Ngài biết rằng Ngài cần đến Giê-ru-sa-lem, chịu nhiều thống khổ từ các trưởng lão, các thượng tế, các học giả giáo luật, và rồi bị giết, đến ngày thứ ba sẽ sống lại. 22. Phi-e-rơ đã đem Ngài riêng ra và trách rằng: “Lạy Chúa! Đức Chúa Trời không để Ngài bị như vậy đâu! Điều nầy sẽ không bao giờ xảy ra cho Ngài!” 23. Nhưng Ngài đã quay lại và phán với Phi-e-rơ: “Hỡi Sa-tan! Hãy lui ra đằng sau Ta! Ngươi là một vật ngăn trở Ta; bởi vì ngươi không nghĩ đến việc của Đức Chúa Trời, nhưng chỉ nghĩ đến việc của loài người.”
- Sau đó Đức Chúa Jesus nói với các môn đồ của Ngài: “Nếu ai muốn theo Ta, người đó hãy từ bỏ chính mình, rồi vác thập tự giá của mình mà theo Ta. 25. Bởi vì người nào muốn cứu mạng sống của mình, thì sẽ mất, nhưng người nào vì Ta, mà mất mạng sống của mình, thì sẽ tìm lại được. 26. Bởi vì nếu một người có được cả thế gian, nhưng mất linh hồn của chính mình, thì có lợi ích gì? Người đó sẽ lấy gì để trao đổi linh hồn của mình trở lại? 27. Bởi vì Con Người sắp đến trong vinh quang của Cha Ngài, cùng với các thiên sứ của Ngài. Lúc đó, Ngài sẽ ban thưởng cho mỗi người, tùy theo những việc người đó làm. 28. Thật vậy, Ta nói với các ngươi: Một vài người đang đứng đây sẽ không nếm trải sự chết trước khi thấy Con Người đến trong vương quốc của Ngài.”
17
- Sáu ngày sau, Đức Chúa Jesus đã đem riêng Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng, là em của ông, lên một ngọn núi cao. 2. Ngài biến hình trước mặt họ. Mặt của Ngài chói sáng như mặt trời, trang phục của Ngài trở nên trắng như ánh sáng. 3. Kìa, Môi-se và Ê-li xuất hiện, rồi nói chuyện với Ngài.
- Lúc đó, Phi-e-rơ thưa với Đức Chúa Jesus: “Lạy Chúa! Chúng ta ở đây rất tốt. Nếu Ngài muốn, con sẽ dựng tại đây ba cái trại: một cái cho Ngài, một cái cho Môi-se, và một cái cho Ê-li.” 5. Lúc ông còn đang nói, có một đám mây sáng rực che phủ họ; và kìa, có một tiếng phán từ trong đám mây nói rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn. Hãy lắng nghe Người!” 6. Nghe vậy, các môn đồ ngã sấp mặt của họ xuống đất, vô cùng kinh hãi. 7. Đức Chúa Jesus đến, chạm vào họ, và nói: “Hãy đứng dậy! Đừng kinh sợ!” 8. Ngước mắt lên, họ không thấy một ai khác ngoại trừ một mình Đức Chúa Jesus mà thôi.
- Khi họ từ trên núi đi xuống, Đức Chúa Jesus căn dặn họ rằng: “Đừng nói cho ai về khải tượng nầy cho đến khi Con Người từ cõi chết sống lại.” 10. Các môn đồ đã hỏi Ngài rằng: “Như vậy, tại sao các học giả giáo luật nói Ê-li phải đến trước?” 11. Ngài nói: “Thật vậy, Ê-li cần đến và khôi phục mọi việc. 12. Nhưng Ta nói với các ngươi: Ê-li đã đến, mà người ta không nhận biết người, nhưng đã đối xử với người theo ý muốn của họ. Và rồi Con Người cũng sẽ chịu khổ nạn bởi họ như vậy.” 13. Sau đó, các môn đồ hiểu rằng Ngài đang nói với họ về Giăng Báp-tít.
- Lúc Ngài và các môn đồ đang đi tới cùng đám đông, có một người đến, quỳ trước mặt Ngài, rồi thưa rằng: 15. “Lạy Chúa! Xin thương xót con trai của tôi! Nó bị mất trí và chịu đựng rất nhiều đau đớn; nó thường ngã vào lửa, và cũng thường ngã xuống nước. 16. Tôi đã đem nó đến cho các môn đồ của Ngài, nhưng họ không thể chữa lành cho nó.” 17. Đức Chúa Jesus trả lời và nói rằng: “Hỡi thế hệ vô tín và lầm lạc kia! Ta sẽ ở với các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ chịu đựng các ngươi bao lâu nữa? Hãy mang nó đến cho Ta.” 18. Đức Chúa Jesus quở trách quỷ, và quỷ liền ra khỏi đứa bé; ngay lúc đó, đứa bé được lành.
- Các môn đồ đã đến gặp riêng Đức Chúa Jesus và thưa rằng: “Vì sao chúng con không đuổi quỷ đó được?” 20. Ngài nói với họ: “Bởi vì các ngươi có ít đức tin. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Nếu các ngươi có đức tin chỉ bằng một hạt cải, các ngươi có thể bảo hòn núi nầy rằng: ‘Hãy dời từ đây qua đó’ thì nó sẽ dời; bởi vì không có điều gì các ngươi không làm được!” 21. [Tuy nhiên, quỷ nầy không thể xuất ra nếu không bởi sự kiêng ăn và cầu nguyện.]
- Khi họ họp nhau lại tại Ga-li-lê, Đức Chúa Jesus nói với họ rằng: “Con Người sắp bị nộp vào tay người đời. 23. Họ sẽ giết Ngài, nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.” Họ phiền muộn sâu xa.
- Khi đến Ca-bê-na-um, những người thu hai đồng tiền thuế của đền thờ đến hỏi Phi-e-rơ: “Thầy của các ông không nộp thuế hay sao?” 25. Ông trả lời: “Có!” Rồi ông vào trong nhà. Đức Chúa Jesus đã biết trước nên nói với ông: “Si-môn! Con nghĩ thế nào? Các vua thế gian nhận thuế và triều cống từ ai? Từ các con trai của mình hay từ những người ngoài?” 26. Ông nói: “Từ những người ngoài.” Đức Chúa Jesus nói với ông: “Như vậy các con trai được miễn. 27. Tuy nhiên, để chúng ta không gây khó chịu cho họ, con hãy ra biển, quăng lưỡi câu, bắt lấy con cá được kéo lên đầu tiên, mở miệng nó ra, sẽ thấy bốn đồng tiền của đền thờ. Hãy lấy đưa cho họ để trả cho Ta và cho con!”
18
- Lúc đó các môn đồ đến với Đức Chúa Jesus, rồi hỏi: “Ai là người cao trọng hơn hết trong vương quốc thiên đàng?” 2. Ngài gọi một đứa trẻ đến, đặt ở giữa họ, 3. rồi nói: “Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi. Nếu các ngươi không thay đổi và trở nên giống như một đứa trẻ, các ngươi sẽ không được vào vương quốc thiên đàng. 4. Cho nên ai khiêm nhường như đứa trẻ nầy, sẽ là người cao trọng hơn hết trong vương quốc thiên đàng. 5. Còn ai vì danh Ta tiếp một đứa trẻ như thế nầy, tức là tiếp Ta. 6. Tuy nhiên ai gây cho một trong những đứa trẻ đã tin Ta sa vào tội lỗi, thì thà người đó buộc cối đá vào cổ của mình, rồi người đó bị nhận chìm xuống biển sâu thì hơn.”
- “Khốn thay cho thế gian bởi vì những điều gây cho vấp phạm! Bởi vì những điều gây cho vấp phạm hiển nhiên là phải có, nhưng khốn thay cho người nào là kẻ đem đến sự vấp phạm! 8. Nếu tay của ngươi, hoặc chân của ngươi, gây cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó và ném nó đi! Vì thà ngươi bị thương tật hay bị què mà vào trong sự sống, còn hơn là đủ cả hai tay, hai chân mà bị ném vào lửa đời đời. 9. Còn nếu mắt của ngươi gây cho ngươi phạm tội, hãy móc và ném nó đi! Vì thà ngươi có một mắt mà vào trong sự sống, còn hơn là đủ cả hai mắt, mà bị ném vào lửa hỏa ngục.”
- “Hãy thận trọng! Đừng xem thường một đứa trẻ nào trong những đứa trẻ nầy! Bởi vì Ta nói với các ngươi rằng: Các thiên sứ của chúng ở trên trời luôn thấy mặt Cha của Ta, là Đấng ngự trên trời. [11. Vì Con Người đã đến để cứu người bị hư mất.]”
- “Các ngươi nghĩ thế nào? Nếu một người có một trăm con chiên, mà một trong những con đó bị lạc, người đó không để chín mươi chín con trên núi, rồi đi tìm con bị lạc hay sao? 13. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi. Nếu người đó tìm được con chiên lạc, thì sẽ vui mừng về con đó hơn chín mươi chín con không bị lạc. 14. Cũng vậy, Cha của các ngươi, là Đấng ngự trên trời, không muốn một ai trong những đứa trẻ nầy bị hư mất.”
- “Nếu một anh em của ngươi phạm lỗi với ngươi, hãy đi và nói cho người đó biết về lỗi của người đó, chỉ giữa ngươi và một mình người đó. Nếu người đó nghe ngươi, ngươi sẽ được lại người anh em của mình. 16. Nhưng nếu người đó không chịu nghe, thì hãy đem nhiều người cùng với ngươi – một hay hai người – để dựa trên sự xác nhận của hai hoặc ba nhân chứng, mà mọi lời nói được xác nhận. 17. Nếu người đó vẫn không chịu nghe họ, thì hãy nói cho Hội Thánh. Và nếu người đó cũng không nghe Hội Thánh, thì hãy xem người đó như là một người ngoại, và một kẻ thu thuế. 18. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Những gì các ngươi buộc ở dưới đất, cũng sẽ bị buộc ở trên trời; và những gì các ngươi mở ở dưới đất, cũng sẽ được mở ở trên trời.”
- “Thật vậy, Ta lại nói cùng các ngươi: Nếu hai người trong các ngươi đồng ý với nhau ở dưới đất và họ cầu xin về bất cứ điều gì, thì Cha của Ta, là Đấng ngự trên trời, sẽ thực hiện điều đó cho họ. 20. Bởi vì nơi nào có hai hay ba người nhân danh Ta họp nhau lại, thì Ta sẽ ở giữa họ.”
- Sau đó, Phi-e-rơ đã đến và hỏi Ngài: “Lạy Chúa! Nếu một anh em của con phạm lỗi với con, thì con sẽ tha thứ cho người đó mấy lần? Có phải đến bảy lần hay không?” 22. Đức Chúa Jesus nói với ông: “Ta không nói với ngươi chỉ là bảy lần đâu, nhưng là bảy mươi lần bảy.”
- “Vậy nên, vương quốc thiên đàng giống như vị vua kia muốn kết toán sổ sách với các đầy tớ của mình. 24. Khi người bắt đầu soát sổ, người ta đem đến cho người một kẻ mắc nợ mười ngàn ta-lâng. 25. Bởi vì người đó không có gì để trả nên người chủ ra lệnh bán người đó, vợ, các con, và tất cả tài sản, để trả nợ. 26. Vì vậy, người đầy tớ đã sấp mình, quỳ xuống trước người, van nài: ‘Xin hãy trì hoãn cho tôi thì tôi sẽ trả hết cho ngài!’ 27. Lúc đó người chủ cảm động nên ông thả người đó và tha nợ cho người đó. 28. Tuy nhiên, khi người đầy tớ đó đi ra, gặp một đồng bạn mắc nợ mình một trăm đơ-ni-ê, thì bắt lấy, nắm cổ, rồi nói: ‘Hãy trả cho hết nợ.’ 29. Vì vậy, người bạn của người đó đã sấp mình xuống, nài nỉ người đó: ‘Xin trì hoãn cho tôi, thì tôi sẽ trả cho anh.’ 30. Nhưng người đó không chịu, bắt người bạn bỏ tù cho đến khi trả xong hết nợ. 31. Những đồng bạn khác thấy những điều đó, họ rất buồn và đến thuật lại với người chủ của họ về mọi việc đã xảy ra. 32. Người chủ của người đó đã gọi người đó đến, rồi nói với người đó rằng: ‘Tên đầy tớ gian ác! Ta đã tha hết nợ cho ngươi, bởi vì ngươi đã nài xin ta. 33. Tại sao ngươi lại không bày tỏ lòng thương xót với người đồng bạn của mình, như ta đã thương xót ngươi?’ 34. Người chủ của người đó nổi giận, giao người đó cho các cai ngục cho đến khi người đó trả xong tất cả nợ nần.”
- “Cha của Ta ở trên trời cũng sẽ đối xử với các ngươi như vậy, nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha thứ cho anh em của mình.”
19
- Khi dạy xong những điều nầy, Đức Chúa Jesus rời khỏi Ga-li-lê và đến vùng Giu-đê thuộc phía bên kia của Giô-đanh. 2. Có nhiều đoàn người rất đông đã đi theo Ngài; và Ngài đã chữa lành cho họ tại đó.
- Những người Pha-ri-si đã đến để thử Ngài, họ nói với Ngài: “Có hợp pháp cho một người ly dị vợ của mình vì bất cứ lý do gì hay không?” 4. Ngài trả lời và nói: “Các ngươi chưa đọc hay sao? Từ ban đầu Đấng Tạo Hóa đã tạo nên người nam và người nữ, 5. rồi phán: ‘Vì lý do này, người nam sẽ lìa cha mẹ, rồi kết hiệp với vợ của mình; và cả hai sẽ trở nên một thịt’. 6. Như vậy, họ không còn là hai nữa, nhưng chỉ là một thịt. Vì vậy, loài người không được phân rẽ người mà Đức Chúa Trời đã kết hiệp!” 7. Họ nói với Ngài: “Nếu như vậy, tại sao Môi-se lại truyền cấp giấy ly hôn, rồi bỏ vợ?” 8. Ngài nói với họ: “Bởi vì tấm lòng cứng cỏi của các ngươi, cho nên Môi-se cho phép các ngươi ly dị vợ của các ngươi, tuy nhiên từ lúc ban đầu không có như vậy. 9. Ta nói cùng các ngươi: Người nào ly dị vợ của mình không phải vì lý do gian dâm, rồi đi cưới người khác, thì phạm tội ngoại tình. [Người nào cưới phụ nữ đã bị ly dị, thì phạm tội ngoại tình.]”
- Các môn đồ của Ngài nói với Ngài: “Nếu đây chỉ là lý do để giải quyết giữa chồng và vợ, chẳng thà đừng thành hôn.” 11. Nhưng Ngài nói với họ: “Không phải tất cả đều tiếp nhận lời nầy, nhưng chỉ có những người được ban cho. 12. Bởi vì có những người bị hoạn từ khi sinh ra khỏi lòng mẹ; có người bị hoạn do người ta làm cho họ bị hoạn, và có người tự làm cho mình bị hoạn vì vương quốc thiên đàng. Ai có thể tiếp nhận, hãy tiếp nhận.”
- Khi đó người ta đem những trẻ em đến với Ngài và Ngài đã đặt tay trên chúng rồi cầu nguyện. Tuy nhiên các môn đồ đã quở trách họ. 14. Đức Chúa Jesus phán: “Đừng ngăn cấm họ. Hãy để các trẻ em đến cùng Ta, bởi vì vương quốc thiên đàng thuộc về những người như vậy.” 15. Ngài đã đặt tay trên chúng, và rồi rời khỏi nơi đó.
- Kìa, có một người đến với Ngài, nói rằng: “Thưa Thầy! Tôi phải làm điều lành nào để được sự sống đời đời?” 17. Ngài nói với người đó: “Sao ngươi hỏi Ta về điều lành? Chỉ có một Đấng trọn lành. Nếu ngươi muốn vào trong sự sống, hãy tuân giữ những điều răn.” 18. Người đó hỏi Ngài: “Điều nào?” Đức Chúa Jesus nói: “Đừng giết người; đừng ngoại tình; đừng trộm cắp; đừng chứng dối; 19. hãy hiếu kính cha mẹ, và hãy yêu thương người lân cận của mình như chính mình.” 20. Người thanh niên nói với Ngài: “Tôi đã vâng giữ tất cả những điều nầy. Tôi còn thiếu điều gì?” 21. Đức Chúa Jesus nói với chàng: “Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi, bán những gì ngươi đang sở hữu, rồi đem tặng cho những người nghèo, và ngươi sẽ có kho báu ở trên trời; rồi hãy đến, và theo Ta.” 22. Khi chàng thanh niên nghe lời nầy, anh ta buồn bã bỏ đi, bởi vì anh ta có rất nhiều tài sản.
- Đức Chúa Jesus nói với các môn đồ của Ngài: “Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Người giàu khó vào vương quốc thiên đàng. 24. Ta lập lại cùng các ngươi: Lạc đà đi qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc của Đức Chúa Trời.” 25. Các môn đồ nghe điều nầy, thì vô cùng kinh ngạc và nói rằng: “Như vậy thì ai có thể được cứu?” 26. Đức Chúa Jesus nhìn họ, rồi nói với họ: “Đối với loài người, điều nầy không thể được, tuy nhiên với Đức Chúa Trời, tất cả đều có thể được.”
- Sau đó, Phi-e-rơ đáp lại và nói với Ngài: “Kìa, chúng con đã bỏ tất cả mà theo Ngài, như vậy chúng con sẽ thế nào?” 28. Đức Chúa Jesus đáp: “Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi. Vào lúc tái tạo, khi Con Người sẽ ngự trên ngôi vinh quang của Ngài, các ngươi cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, để xét xử mười hai chi tộc của Y-sơ-ra-ên. 29. Người nào vì danh Ta đã lìa khỏi nhà cửa, anh em, chị em, cha, mẹ, vợ, con, đất đai, sẽ nhận được gấp trăm lần, và thừa hưởng sự sống đời đời. 30. Tuy nhiên, nhiều người đứng đầu sẽ trở nên cuối, và những người cuối sẽ trở nên đầu.”
20
- “Vương quốc thiên đàng giống như một người chủ đất, sáng sớm đi ra, thuê những người làm công vào trong vườn nho của mình. 2. Sau khi đã thỏa thuận với những người làm công mỗi ngày một đơ-ni-ê, người đó sai họ vào trong vườn nho của mình. 3. Vào khoảng giờ thứ ba, người đó đi ra, thấy những người khác đang đứng ở không ngoài chợ, 4. nên nói với họ: ‘Các anh cũng hãy vào trong vườn nho, tôi sẽ trả công xứng đáng.’ Vì vậy, họ đã đi vào. 5. Sau đó, người trở ra vào khoảng giờ thứ sáu và giờ thứ chín, và cũng làm như vậy. 6. Khoảng giờ thứ mười một, người chủ đi ra, và thấy những người khác đang đứng, thì nói với họ rằng: ‘Tại sao các anh đứng không ở đây cả ngày?’ 7. Họ nói với người: ‘Bởi vì không ai thuê chúng tôi cả.’ Người nói với họ: ‘Các anh cũng hãy đi vào trong vườn nho. [Các anh sẽ được trả công xứng đáng.]’
- Sau đó, tối đến, người chủ vườn nho nói với viên quản lý của mình: ‘Hãy gọi những người làm công đến và trả công cho họ, bắt đầu từ người cuối đến người đầu.’ 9. Những người được thuê vào giờ thứ mười một, mỗi người lãnh được một đơ-ni-ê. 10. Khi những người đã đến từ ban đầu, họ tưởng rằng họ sẽ nhận được nhiều hơn; nhưng mỗi người trong số họ cũng lãnh được một đơ-ni-ê. 11. Lúc nhận tiền công, họ cằn nhằn với người chủ 12. rằng: ‘Những người đến cuối cùng chỉ làm có một giờ, mà ông cũng đối xử ngang bằng với chúng tôi, là những người đã làm nặng nhọc và dang nắng cả ngày.’ 13. Tuy nhiên người chủ trả lời với một người trong bọn họ rằng: ‘Bạn ơi! Tôi không đối xử bất công với bạn đâu! Không phải bạn đã thỏa thuận với tôi là một đơ-ni-ê đó sao? 14. Hãy nhận những gì thuộc về mình, rồi đi đi; tôi muốn trả cho người cuối nầy như đã trả cho bạn vậy. 15. Tôi không được phép sử dụng những gì thuộc về tôi theo ý của tôi hay sao? Hay là bạn thấy tôi rộng lượng mà ganh tị?’ 16. Người cuối sẽ trở nên đầu, còn những người đầu sẽ nên cuối là như vậy. [Bởi vì nhiều người sẽ được gọi, nhưng ít người được chọn.]”
- Đức Chúa Jesus đi lên Giê-ru-sa-lem. Trên đường đi, Ngài đem mười hai môn đồ riêng ra, rồi nói với họ: 18. “Nầy, chúng ta đi lên Giê-ru-sa-lem, Con Người sẽ bị phản nộp cho các thượng tế và các học giả giáo luật; họ sẽ kết án tử hình Ngài, 19. rồi giao Ngài cho dân ngoại để chúng chế nhạo, đánh đòn, và đóng đinh trên thập tự; nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.”
- Sau đó, mẹ của các con trai Xê-bê-đê cùng những con trai của bà đã đến gặp Đức Chúa Jesus, bà quỳ xuống và xin Ngài một việc. 21. Ngài hỏi: “Bà muốn điều gì?” Bà thưa với Ngài: “Xin hãy nói cho hai đứa con trai của tôi được ngồi trong vương quốc của Ngài, một đứa bên phải của Ngài, một đứa bên trái của Ngài.” 22. Đức Chúa Jesus trả lời và nói rằng: “Các ngươi không biết điều mình đang xin. Các ngươi có thể uống chén Ta sắp uống hay không?” Họ nói với Ngài: “Chúng con có thể.” 23. Ngài nói với họ: “Các ngươi sẽ uống chén của Ta; còn việc ngồi bên phải hay bên trái của Ta, thì điều nầy Ta không cho được, nhưng thuộc về những người mà Cha của Ta đã chuẩn bị.”
- Mười môn đồ kia nghe điều đó rất giận hai anh em. 25. Nhưng Đức Chúa Jesus gọi họ đến và nói: “Các ngươi biết những người cầm quyền của dân ngoại thì thống trị dân, và những quan chức cao cấp thì dùng quyền lực mà cai trị. 26. Nhưng giữa các ngươi thì không phải vậy; ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì phải làm đầy tớ; 27. còn ai muốn đứng đầu, thì phải làm nô lệ cho các ngươi. 28. Ngay cả Con Người, đã đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ, và ban mạng sống của Ngài làm giá chuộc cho nhiều người.”
- Khi họ ra khỏi Giê-ri-cô, một đoàn người rất đông đi theo Ngài. 30. Kìa, có hai người mù đang ngồi bên đường, nghe rằng Đức Chúa Jesus đang đi qua, họ đã kêu lớn, và nói rằng: “Lạy Chúa! Con của Đa-vít! Xin thương xót chúng con!” 31. Đám đông quở trách họ, bảo họ im lặng; nhưng họ càng kêu lớn hơn rằng: “Lạy Chúa! Con của Đa-vít! Xin thương xót chúng con!” 32. Đức Chúa Jesus đã dừng lại, gọi họ, và nói rằng: “Các ngươi muốn Ta làm gì cho các ngươi?” 33. Họ thưa với Ngài: “Lạy Chúa! Xin cho mắt của chúng con được mở ra!” 34. Đức Chúa Jesus cảm thương, nên đã chạm vào mắt của họ. Lập tức, họ nhìn thấy được, rồi họ đi theo Ngài.
21
- Khi họ gần tới Giê-ru-sa-lem, sau khi đến Bết-pha-giê, trên núi Ô-liu, Ngài sai hai môn đồ đi, 2. và dặn họ rằng: “Hãy đi vào ngôi làng trước mặt, ngay lập tức các ngươi sẽ gặp một con lừa bị buộc, bên cạnh còn có một con lừa con. Hãy mở dây và dắt chúng về cho Ta. 3. Nếu có ai nói gì, các ngươi hãy trả lời rằng: ‘Chúa cần chúng’, người đó sẽ cho dắt lừa đi ngay.” 4. Việc nầy đã xảy ra để ứng nghiệm lời tiên tri nói rằng: 5. “Hãy nói với các con gái của Si-ôn rằng: Kìa, Vua của ngươi đến cùng ngươi, thật nhu mì, cưỡi trên một con lừa, chỉ là một con lừa con, là con của một lừa cái.”
- Sau đó, các môn đồ đã đi và làm đúng như lời Đức Chúa Jesus đã truyền cho họ. 7. Họ dắt con lừa và lừa con về, trải áo của họ trên lưng của chúng, rồi Ngài ngồi lên trên. 8. Có một đoàn người rất đông trải áo của họ trên đường, những người khác chặt những nhánh cây và rải trên đường. 9. Lúc này đoàn người đi trước Ngài, cùng những người theo sau, đã hô vang rằng: “Hô-sa-na! Con của Đa-vít! Chúc tụng cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na trên nơi chí cao!”
- Khi Ngài vào Giê-ru-sa-lem, cả thành phố náo động, hỏi rằng: “Người nầy là ai?” 11. Đám đông trả lời: “Đây là Đấng Tiên Tri Jesus từ Na-xa-rét thuộc Ga-li-lê.”
- Đức Chúa Jesus vào trong đền thờ, đuổi tất cả những người bán và mua trong đền thờ, Ngài lật bàn của những người đổi tiền, và ghế của những người bán bồ câu. 13. Ngài nói với họ: “Có lời chép rằng: ‘Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện’, nhưng các ngươi làm nơi đó thành hang trộm cướp.”
- Những người mù và những người què đến với Ngài trong đền thờ, và Ngài đã chữa lành cho họ. 15. Các thượng tế và các học giả giáo luật thấy những việc diệu kỳ Ngài đã làm, và trẻ em reo lên trong đền thờ: “Hô-sa-na! Con của Đa-vít!” thì họ tức giận, 16. rồi nói với Ngài: “Thầy có nghe những đứa trẻ nầy nói gì không?” Đức Chúa Jesus trả lời họ: “Có! Các ngươi chưa bao giờ đọc: ‘Ngài đã chuẩn bị sẵn lời ca ngợi Ngài từ miệng trẻ em và trẻ thơ còn đang bú’ hay sao?” 17. Rồi Ngài rời khỏi họ, ra khỏi thành, đến Bê-tha-ni, và nghỉ đêm tại đó.
- Sáng hôm sau, khi trở lại thành thì Ngài đói. 19. Ngài thấy một cây vả bên đường, nên Ngài đến gần, nhưng không tìm thấy gì trên nó ngoại trừ lá. Ngài nói với nó: “Từ nay về sau, ngươi sẽ không bao giờ ra trái nữa!” Ngay lập tức, cây vả liền bị khô. 20. Thấy vậy, các môn đồ kinh ngạc, nói rằng: “Làm thế nào mà cây vả lại khô nhanh như vậy?” 21. Đức Chúa Jesus trả lời và nói: “Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Nếu các ngươi có đức tin và không nghi ngờ, không những các ngươi có thể làm được việc nầy cho cây vả, mà còn có thể bảo hòn núi nầy rằng: ‘Hãy nhấc lên và quăng mình xuống biển,’ thì điều đó sẽ xảy ra. 22. Bất kỳ điều gì các ngươi xin trong khi cầu nguyện với đức tin, các ngươi sẽ nhận được.”
- Khi Ngài vào đền thờ; lúc Ngài đang giảng dạy, các thượng tế và các trưởng lão trong dân đã đến chất vấn: “Bởi thẩm quyền nào mà Thầy làm những việc nầy? Ai đã cho Thầy thẩm quyền nầy?” 24. Đức Chúa Jesus trả lời và nói với họ: “Ta cũng hỏi các ngươi một điều. Nếu các ngươi trả lời cho ta điều đó, thì Ta sẽ nói cho các ngươi biết Ta làm những việc nầy bởi thẩm quyền nào. 25. Báp-têm của Giăng đến từ đâu? Từ trời hay từ loài người?” Họ bàn luận với nhau: “Nếu chúng ta nói: ‘Từ trời’ thì ông ấy sẽ nói với chúng ta: ‘Như vậy, tại sao các ngươi không tin người?’ 26. Còn nếu chúng ta nói: ‘Từ loài người’ thì chúng ta sợ dân chúng, bởi vì mọi người đều cho rằng Giăng là một nhà tiên tri.” 27. Vì vậy, họ đã trả lời Đức Chúa Jesus: “Chúng tôi không biết.” Ngài nói với họ: “Ta cũng sẽ không nói cho các ngươi biết bởi thẩm quyền nào Ta làm những việc nầy.”
- “Các ngươi nghĩ thế nào? Một người kia có hai con trai. Ông đến nói với đứa con thứ nhất: ‘Con ơi! Hôm nay con hãy đi làm trong vườn nho.’ 29. Người con trả lời: ‘Con sẽ không đi’. Nhưng sau đó, nó đổi ý, rồi đi. 30. Ông đến với đứa con thứ hai, và cũng nói như vậy. Người nầy thưa: ‘Vâng! Con sẽ đi’, nhưng rồi không đi. 31. Trong hai con trai đó, người nào làm theo ý muốn của cha?” Họ đáp: “Người con thứ nhất.” Đức Chúa Jesus phán với họ: “Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Những người thu thuế và gái mãi dâm sẽ vào vương quốc của Đức Chúa Trời trước các ngươi. 32. Bởi vì Giăng đã đến để chỉ cho các ngươi đường lối công chính, nhưng các ngươi không tin; tuy nhiên những người thu thuế và gái mãi dâm đã tin người; cuối cùng ngay cả khi các ngươi đã thấy như vậy, các ngươi vẫn không ăn năn và tin người.”
- “Hãy nghe một ẩn dụ khác. Có một người chủ đất trồng một vườn nho, rào chung quanh nó, bên trong đào một hầm ép rượu, xây một cái tháp, cho các tá điền mướn, rồi đi qua xứ khác. 34. Sau đó, khi mùa thu hoạch gần đến, chủ sai những đầy tớ của mình đến gặp các tá điền để thu hoa lợi của ông. 35. Nhưng chúng đã bắt những đầy tớ của ông, đánh người nầy, giết người kia, và ném đá người nọ. 36. Người chủ lại sai những đầy tớ khác, đông hơn lần đầu, nhưng chúng vẫn đối xử với họ như vậy. 37. Cuối cùng, người chủ sai chính con trai của mình đến với chúng, vì nghĩ rằng: ‘Chúng sẽ kính nể con ta.’ 38. Nhưng khi thấy người con trai, các tá điền nói với nhau: ‘Đây là kẻ thừa kế. Hãy đến, chúng ta hãy giết nó, rồi đoạt gia tài của nó.’ 39. Họ bắt người con, ném ra ngoài vườn nho, rồi giết chết. 40. Vì vậy khi chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì với bọn tá điền đó?”
- Họ trả lời Ngài: “Ông ta sẽ giết chết bọn gian ác ấy một cách thê thảm, rồi ông sẽ cho những tá điền khác thuê vườn nho, là những người sẽ nộp hoa lợi cho ông đúng mùa vụ.”
- Đức Chúa Jesus nói với họ: “Các ngươi chưa bao giờ đọc lời nầy trong Kinh Thánh hay sao: ‘Tảng đá bị những thợ xây loại ra, đã trở nên đá đầu góc nhà. Điều nầy đến từ Chúa, và đó là việc diệu kỳ trong mắt của chúng ta’? 43. Vì điều nầy, Ta nói cùng các ngươi: Vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ bị cất khỏi các ngươi và ban cho một dân tộc đem lại những kết quả. 44. Ai ngã trên đá nầy sẽ bị tan nát, còn đá đó rơi nhằm ai thì sẽ nghiền nát người đó.”
- Các thượng tế và những người Pha-ri-si nghe những ẩn dụ nầy thì biết rằng Ngài đang nói về họ. 46. Họ tìm cách để bắt Ngài nhưng sợ dân chúng, bởi vì dân chúng công nhận Ngài là một Đấng tiên tri.
22
- Đức Chúa Jesus lại dùng những ẩn dụ để nói với họ:
- “Vương quốc thiên đàng đối với loài người giống như một vị vua kia tổ chức tiệc cưới cho con trai của mình. 3. Vua sai các đầy tớ của mình gọi những người đã được mời đến dự tiệc cưới, nhưng họ không đến. 4. Vua lại sai những đầy tớ khác và dặn rằng: ‘Hãy nói với những người được mời rằng: Kìa, dạ tiệc đã chuẩn bị xong, bò và các thú béo của ta đã được giết thịt, mọi thứ đã sẵn sàng. Hãy đến dự tiệc cưới.’ 5. Tuy nhiên họ không chú ý, rồi bỏ đi: Người thì đi ra ruộng của mình, người thì đi đến nơi buôn bán của mình; 6. số còn lại bắt những đầy tớ của vua, đối xử cách thậm tệ, rồi giết đi. 7. Vua nổi giận, sai các binh lính của mình hủy diệt những kẻ đó, và thiêu hủy thành của họ. 8. Sau đó, vua nói với các đầy tớ: ‘Thật vậy, tiệc cưới đã sẵn sàng, tuy nhiên những người đã được mời không ai xứng đáng. 9. Vì vậy, hãy đi đến những nơi hội tụ của những con đường, các ngươi sẽ gặp rất nhiều người, hãy mời họ đến dự tiệc cưới.’ 10. Những đầy tớ đó đi vào các ngả đường, tập hợp tất cả những người nào họ gặp, cả xấu lẫn tốt. Vì vậy, phòng tiệc đầy những người dự tiệc.
- Sau đó, vua đã đi vào, để xem những người dự tiệc, và thấy có một người không mặc trang phục cho tiệc cưới 12. thì nói với người đó rằng: ‘Nầy bạn, làm thế nào bạn đã vào đây mà không mặc trang phục cho tiệc cưới?’ Người đó không nói được lời nào. 13. Vua truyền cho các đầy tớ: ‘Hãy trói tay và chân của hắn, rồi ném hắn ra chỗ tối tăm ở bên ngoài, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.’ 14. Bởi vì nhiều người được gọi, nhưng ít người được chọn.”
- Sau đó, những người Pha-ri-si đi ra, bàn mưu tìm cách làm thế nào để gài bẫy Đức Chúa Jesus trong lời nói. 16. Và rồi họ sai các môn đồ của họ cùng với những người thuộc phe Hê-rốt đến nói rằng: “Thưa Thầy! Chúng tôi biết Thầy là người chân chính và dạy đường lối của Đức Chúa Trời cách chân thật; và Thầy không vị nể ai bởi vì Thầy không nhìn theo bề ngoài của con người. 17. Vì vậy, xin Thầy cho chúng tôi biết Thầy nghĩ thế nào: Nộp thuế cho Sê-sa có đúng luật hay không?”
- Tuy nhiên Đức Chúa Jesus biết sự thâm độc của họ, nên Ngài trả lời: “Hỡi những kẻ đạo đức giả! Tại sao các ngươi thử Ta? 19. Hãy cho Ta xem một đồng tiền dùng để nộp thuế.” Họ trình cho Ngài một đơ-ni-ê. 20. Ngài hỏi họ: “Hình nầy là của ai? Những dòng chữ chạm khắc nầy là của ai?” 21. Họ nói: “Của Sê-sa.” Sau đó, Ngài nói với họ: “Vì vậy, hãy trả lại cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và trả lại cho Đức Chúa Trời những gì của Đức Chúa Trời.” 22. Khi nghe như vậy, họ kinh ngạc, họ rời khỏi Ngài, rồi lánh đi.
- Cũng trong ngày đó, những người Sa-đu-sê, là những người không tin có sự sống lại, đã đến với Ngài, rồi họ hỏi Ngài rằng: 24. “Thưa Thầy! Môi-se nói: ‘Nếu một người chết mà không có con, thì em trai của người đó phải cưới vợ của người đó, để gây dựng dòng dõi cho anh của mình.’ 25. Bây giờ, trong chúng tôi có bảy anh em; người anh cả lấy vợ, rồi chết, không có con; để lại vợ của mình cho em trai của mình. 26. Người thứ hai, người thứ ba, rồi đến người thứ bảy cũng vậy. 27. Sau những người đó, cuối cùng, người đàn bà cũng chết. 28. Như vậy, lúc sống lại, người đàn bà sẽ là vợ của ai trong bảy người đó? Bởi vì tất cả đều đã lấy nàng.”
- Đức Chúa Jesus trả lời và nói với họ: “Các ngươi thật sai lầm, vì không hiểu Kinh Thánh, cũng không hiểu quyền năng của Đức Chúa Trời. 30. Bởi vì lúc sống lại, người ta sẽ không thành hôn, cũng không sống trong tình trạng hôn nhân, nhưng sẽ giống như các thiên sứ ở trên trời. 31. Còn về sự sống lại của những người chết, các ngươi chưa đọc lời Đức Chúa Trời đã phán cho các ngươi hay sao? 32. ‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp’. Ngài không phải là Đức Chúa Trời của những người chết, nhưng của những người sống.” 33. Nghe vậy, đám đông kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài.
- Những người Pha-ri-si nghe Đức Chúa Jesus đã làm cho những người Sa-đu-sê phải im miệng, họ đã họp lại cùng nhau. 35. Sau đó, một người của họ, là một luật gia, đặt câu hỏi để thử Ngài: 36. “Thưa Thầy! Trong luật pháp, điều răn nào quan trọng nhất?” 37. Đức Chúa Jesus đáp: “‘Ngươi phải yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời của ngươi, với tất cả tấm lòng của ngươi, với tất cả linh hồn của ngươi, và với tất cả tâm trí của ngươi.’ 38. Đây là điều răn thứ nhất và quan trọng. 39. Điều răn thứ hai cũng như vậy: ‘Ngươi phải yêu người lân cận của mình như chính mình.’ 40. Tất cả luật pháp và lời tiên tri đều tùy thuộc vào hai điều răn nầy.”
- Trong khi những người Pha-ri-si còn đang tụ họp lại, Đức Chúa Jesus hỏi họ 42. rằng: “Các ngươi nghĩ thế nào về Đấng Christ? Ngài là Con của ai?” Họ trả lời Ngài: “Của Đa-vít.” 43. Ngài nói với họ: “Như vậy, làm thế nào khi Đa-vít được Thánh Linh cảm thúc, lại gọi Ngài là Chúa, và nói rằng: 44. ‘Chúa phán với Chúa của tôi: Hãy ngồi bên phải của Ta, cho đến khi Ta đặt những kẻ thù của Con như là một bệ chân ở dưới chân của Con’? 45. Nếu Đa-vít gọi Ngài là ‘Chúa’, làm thế nào Ngài là con của ông được?” 46. Không một ai có thể đáp một lời nào với Ngài; và cũng từ ngày hôm ấy, không còn ai dám hỏi Ngài điều gì nữa.
23
- Sau đó, Đức Chúa Jesus nói với đám đông và các môn đồ của Ngài rằng: 2. “Những người Pha-ri-si và các học giả giáo luật ngồi vào địa vị của Môi-se. 3. Vì vậy, hãy làm theo và vâng giữ những gì họ truyền cho các ngươi; nhưng đừng bắt chước những gì họ làm, bởi vì họ chỉ nói mà không thực hành. 4. Họ trói buộc những gánh nặng rất khó mang, rồi đặt trên vai của người ta, nhưng chính họ thì chẳng động ngón tay của họ vào những điều đó. 5. Họ làm tất cả mọi việc với mục đích để cho người ta thấy. Vì vậy, họ làm những hộp đựng kinh luật thật lớn, và những tua áo thật rộng; 6. họ thích ngồi chỗ cao trọng trong các bữa tiệc, và những ghế đầu trong các nhà hội, 7. được chào hỏi giữa chợ, và được người ta gọi là thầy! 8. Tuy nhiên, các ngươi đừng để cho người nào gọi mình là thầy; bởi vì các ngươi chỉ có một Thầy, còn mọi người đều là anh em. 9. Cũng đừng gọi bất cứ người nào trên đất nầy là cha; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ngự trên trời. 10. Cũng đừng gọi những người nào là các lãnh đạo; bởi vì các ngươi chỉ có một Đấng lãnh đạo, là Đấng Christ. 11. Người lớn hơn hết giữa các ngươi sẽ là người phục vụ của các ngươi. 12. Hễ ai tự tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn người nào tự hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”
- “Khốn cho các ngươi là các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Bởi vì các ngươi đã đóng cửa vương quốc thiên đàng trước mặt nhiều người. Các ngươi đã không vào, nhưng cũng không muốn cho những người khác vào nữa.”
[14. “Khốn cho các ngươi là các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Bởi vì các ngươi đã nuốt tài sản của những góa phụ, nhưng làm bộ cầu nguyện cho dài; do đó các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn.”]
- “Khốn cho các ngươi là các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Bởi vì các ngươi đã vượt biển và đất liền để đem được một người vào đạo; nhưng khi người đó vào đạo rồi, thì các ngươi làm cho người đó trở nên con của hỏa ngục gấp hai lần các ngươi.”
- “Khốn cho các ngươi là những kẻ hướng dẫn mù quáng! Các ngươi bảo rằng: ‘Nếu người nào chỉ đền thờ mà thề thì không sao; nhưng nếu chỉ vàng của đền thờ mà thề thì bị ràng buộc với lời thề.’ 17. Hỡi những kẻ ngu dại và mù quáng! Vàng, hay đền thờ làm cho vàng nên thánh, điều nào trọng hơn? 18. Các ngươi bảo rằng: ‘Nếu người nào chỉ bàn thờ mà thề thì không sao, nhưng nếu chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề thì bị ràng buộc với lời thề.’ 19. Hỡi những kẻ mù quáng! Lễ vật, hay bàn thờ làm cho lễ vật nên thánh, điều nào trọng hơn? 20. Bởi vì người nào chỉ bàn thờ mà thề tức là chỉ bàn thờ lẫn lễ vật trên đó mà thề. 21. Người nào chỉ đền thờ mà thề tức là chỉ đền thờ lẫn Đấng ngự tại đó mà thề. 22. Người nào chỉ trời mà thề, tức là chỉ ngôi của Đức Chúa Trời lẫn Đấng ngự trên đó mà thề.”
- “Khốn cho các ngươi là các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Bởi vì các ngươi dâng một phần mười bạc hà, hồi hương và tiểu hồi, nhưng lại lãng quên những phần quan trọng hơn của luật pháp đó là công lý, tình thương, và đức tin. Các ngươi phải thực hiện những điều nầy, nhưng đừng lãng quên những điều kia. 24. Hỡi những kẻ hướng dẫn mù quáng! Các ngươi lọc con ruồi mà lại nuốt con lạc đà!”
- “Khốn cho các ngươi là các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Bởi vì các ngươi rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy dẫy sự cướp bóc và trụy lạc. 26. Hỡi người Pha-ri-si mù quáng! Trước hết, phải rửa sạch bên trong chén đĩa, để bên ngoài cũng được sạch.”
- “Khốn cho các ngươi là các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Bởi vì các ngươi giống như những mồ mả tô trắng, bên ngoài có vẻ đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương người chết, và đủ mọi thứ ô nhơ. 28. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài làm ra vẻ công chính trước mặt người ta, nhưng bên trong thì đầy những điều bất hợp pháp và đạo đức giả.”
- “Khốn cho các ngươi là các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Bởi vì các ngươi xây những phần mộ cho các tiên tri, trang hoàng những đài kỷ niệm cho những người công chính, 30. rồi các ngươi nói: ‘Nếu chúng tôi sống trong thời của các tổ phụ của chúng ta, chúng tôi không tham dự với họ trong việc làm đổ máu các tiên tri.’ 31. Như vậy, các ngươi đã tự xác nhận rằng chính các ngươi là con cháu của những kẻ đã sát hại các tiên tri. 32. Các ngươi đổ đầy theo mức của tổ phụ các ngươi. 33. Hỡi loài rắn, là dòng dõi của rắn độc, làm thế nào các ngươi sẽ thoát khỏi sự đoán phạt của hỏa ngục!”
- “Vì vậy, Ta sẽ sai những tiên tri, những người khôn ngoan, những học giả giáo luật đến với các ngươi. Các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên thập tự một số người, các ngươi đánh đòn những người khác trong các nhà hội của các ngươi, và bắt bớ họ từ thành nầy đến thành khác, 35. để cho máu của tất cả những người công chính đã đổ ra trên đất đều đổ trên các ngươi, từ máu công chính của A-bên cho đến máu của Xa-cha-ri, con trai Ba-ra-chi, là người mà các ngươi đã giết giữa Đền Thờ và bàn thờ. 36. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Tất cả những điều nầy sẽ xảy đến cho thế hệ nầy.”
- “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem! Ngươi giết các tiên tri và ném đá những người được sai đến với ngươi! Đã bao lần Ta muốn gom các con của ngươi, như gà mẹ gọi những gà con của mình vào dưới cánh của mình, nhưng các ngươi không muốn! 38. Nầy, nhà của các ngươi sẽ bị bỏ cho hoang tàn! 39. Bởi vì Ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ không thấy Ta nữa, cho đến khi các ngươi nói: ‘Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!’”
24
- Khi Đức Chúa Jesus đang ra khỏi đền thờ, để rời khỏi nơi đó, các môn đồ của Ngài đã đến chỉ cho Ngài những công trình kiến trúc của đền thờ. 2. Ngài nói với họ: “Các ngươi nhìn thấy tất cả những điều nầy phải không? Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Tại đây sẽ không còn một viên đá nào chồng trên một viên đá khác mà không bị đổ xuống.”
- Lúc Ngài đang ngồi trên núi Ô-liu, các môn đồ đã đến gặp riêng Ngài, và hỏi rằng: “Xin nói cho chúng con biết khi nào những việc nầy sẽ xảy ra, cùng với dấu hiệu về sự trở lại của Ngài, và thời kỳ tận thế?”
- Đức Chúa Jesus trả lời, và nói với họ: “Hãy coi chừng! Đừng để ai lừa dối các ngươi. 5. Bởi vì có nhiều kẻ sẽ mạo danh Ta đến và nói rằng: ‘Ta là Đấng Christ’ và sẽ lừa dối nhiều người. 6. Các ngươi sẽ nghe về chiến tranh và tin đồn về chiến tranh. Hãy cảnh giác, bởi vì việc nầy cần phải xảy ra, nhưng chưa phải là cuối cùng. 7. Bởi vì dân nầy sẽ nổi lên chống lại dân khác, nước nầy chống lại nước kia; đói kém và động đất sẽ xảy ra tại nhiều nơi. 8. Tất cả những điều nầy chỉ là khởi đầu như những cơn đau chuyển dạ.”
- “Sau đó, người ta sẽ nộp các ngươi để bị bách hại, họ sẽ giết các ngươi; và các ngươi sẽ bị mọi dân tộc ghét vì danh của Ta. 10. Sau đó, nhiều người sẽ vấp ngã, người ta sẽ phản bội nhau, và sẽ thù ghét lẫn nhau. 11. Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và lừa gạt nhiều người. 12. Bởi vì tội ác gia tăng, cho nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội dần. 13. Nhưng người nào bền chí cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu. 14. Tin Lành về vương quốc sẽ được rao giảng khắp đất để làm chứng cho tất cả các dân tộc; sau đó sự cuối cùng sẽ đến.”
- “Vì vậy, khi các ngươi thấy sự gớm ghiếc gây nên cảnh hoang tàn cho Nơi Thánh, như lời Tiên tri Đa-ni-ên đã nói – người đọc cần hiểu – 16. thì những người nào ở trong vùng Giu-đê, hãy trốn lên núi; 17. người nào ở trên mái nhà, đừng xuống chuyển đồ đạc ra khỏi nhà của mình; 18. người nào đang ở ngoài đồng, cũng đừng trở về lấy áo choàng của mình. 19. Trong những ngày đó, khốn cho những người mang thai và những người đang cho con bú! 20. Nhưng hãy cầu nguyện để các ngươi không phải trốn chạy vào mùa đông, hay vào ngày sa-bát. 21. Bởi vì lúc đó sẽ có một cơn hoạn nạn rất lớn, đến nỗi từ lúc khởi đầu thế giới cho đến bây giờ chưa từng có, và về sau cũng sẽ không bao giờ có như vậy. 22. Nếu những ngày đó không được rút ngắn, thì sẽ không có một người nào được cứu; nhưng vì cớ những người được chọn, cho nên những ngày đó sẽ được rút ngắn.”
- “Khi đó, nếu có ai nói với các ngươi rằng: ‘Kìa Đấng Christ ở đây’ hay ‘ở đó’ thì đừng tin. 24. Bởi vì nhiều Christ giả và nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên, và họ sẽ làm nhiều dấu lạ cùng những việc diệu kỳ để lừa dối; và nếu có thể, sẽ lừa dối cả những người được chọn. 25. Này, Ta đã nói trước cho các ngươi như vậy.”
- “Vì vậy, nếu họ nói với các ngươi: ‘Kìa, Ngài ở trong hoang mạc’, thì đừng đến; ‘Kìa, Ngài ở trong nhà’, thì đừng tin. 27. Bởi vì như chớp phát ra từ phương đông và chiếu sáng đến tận phương tây, thì Con Người cũng sẽ đến như vậy. 28. “Bởi vì xác chết ở đâu, kên kên họp lại tại đó.”
- “Ngay sau những ngày hoạn nạn đó, mặt trời sẽ bị tối, mặt trăng sẽ không tỏa sáng, các ngôi sao từ trời sẽ sa xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị rúng động. 30. Khi đó, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; tất cả các chi tộc trên đất sẽ than khóc, và họ sẽ thấy Con Người ngự đến trên mây trời với vinh quang và quyền lực vĩ đại. 31. Ngài sẽ sai các thiên sứ của Ngài dùng một tiếng kèn lớn để tụ họp những người được chọn của Ngài từ khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến cuối phương trời kia.”
- “Bây giờ, hãy học ẩn dụ về cây vả: Khi cành vừa đâm chồi và ra lá, thì các ngươi biết mùa hạ gần đến. 33. Cũng vậy, khi các ngươi thấy tất cả những điều nầy, hãy biết rằng Con Người đã đến gần – ngay trước cửa. 34. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, thế hệ nầy sẽ không qua đi cho tới khi mọi điều nầy xảy ra. 35. Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ không bao giờ qua đâu.”
- “Tuy nhiên, về ngày và giờ đó thì không ai biết, cả thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, ngoại trừ chỉ một mình Cha mà thôi. 37. Bởi vì như trong thời Nô-ê thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. 38. Giống như trong thời trước nạn lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả, cho đến ngày Nô-ê vào trong tàu; 39. họ không biết, cho tới khi nước lụt đến, cuốn đi tất cả. Con Người đến cũng sẽ như vậy. 40. Lúc đó, có hai người đang ở ngoài đồng: một người được đem đi, một người bị bỏ lại; 41. có hai người đang xay cối: một người được đem đi, một người bị bỏ lại. 42. Vì vậy, hãy tỉnh thức, bởi vì các ngươi không biết ngày nào Chúa của các ngươi sẽ đến.”
- “Hãy hiểu điều nầy, nếu chủ nhà biết lúc nào trong đêm kẻ trộm đến, thì sẽ tỉnh thức, không để nó xâm nhập vào nhà của mình. 44. Cũng vậy, các ngươi phải sẵn sàng, bởi vì Con Người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.”
- “Ai là đầy tớ trung thành và khôn ngoan sẽ là người được chủ giao quản lý nhà của mình, để cấp phát thức ăn cho đúng giờ? 46. Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy người đó đang làm như vậy! 47. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi: Người chủ sẽ giao cho đầy tớ đó quản lý toàn bộ tài sản của mình. 48. Tuy nhiên, nếu là đầy tớ gian ác, hắn nghĩ trong lòng rằng: ‘Chủ ta về trễ’, 49. và rồi bắt đầu đánh đập các bạn cùng làm đầy tớ như mình, rồi ăn, và uống với những kẻ say sưa. 50. Người chủ sẽ đến trong ngày người đầy tớ không ngờ, trong giờ nó không biết, 51. sẽ phân thây nó, và cho nó vào cùng một chỗ với những kẻ đạo đức giả, tại nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.”
25
- “Và rồi, vương quốc thiên đàng sẽ giống như mười trinh nữ, là những người đem đèn của mình, đi đón chàng rể. 2. Trong số những người đó, có năm người dại và năm người khôn. 3. Những người dại bởi vì họ đem đèn của mình nhưng không mang dầu theo với mình; 4. tuy nhiên những người khôn thì đem theo dầu trong những chiếc bình, cùng với đèn của mình. 5. Và rồi chàng rể đến trễ, tất cả các cô đều buồn ngủ, và đã ngủ thiếp đi. 6. Sau đó đến nửa đêm, có tiếng gọi: ‘Kìa, chàng rể đến! Hãy ra đón chàng!’ 7. Tất cả các trinh nữ đó đã thức dậy, và chuẩn bị đèn của họ. 8. Các cô dại nói với những cô khôn rằng: ‘Hãy cho chúng tôi dầu của các chị, bởi vì đèn của chúng tôi sắp tắt.’ 9. Những cô khôn đã trả lời, và nói rằng: ‘Không có đủ cho chúng tôi và các chị; các chị nên đi đến với người bán và mua cho chính mình thì tốt hơn.’ 10. Trong lúc họ đi mua, chàng rể đến; và những người đã sẵn sàng, đã cùng đi với chàng đến tiệc cưới, rồi cửa được đóng lại. 11. Cuối cùng, các trinh nữ kia cũng đến, nói rằng: ‘Chủ ơi, chủ ơi, xin mở cửa cho chúng tôi!’ 12. Tuy nhiên ông đã trả lời: ‘Thật vậy, tôi nói cùng các cô, tôi không biết các cô.’ 13. Vì vậy, hãy tỉnh thức, bởi vì các ngươi không biết ngày, cũng không biết giờ [khi Con Người đến].”
- “Có một người sắp đi xa, gọi các đầy tớ của mình, rồi trao cho họ những vật sở hữu của mình. 15. Ông trao cho một người năm ta-lâng, một người khác hai ta-lâng, và một người nữa một ta-lâng, tùy theo khả năng của từng người; rồi ông lên đường. 16. Người đã nhận năm ta-lâng lập tức đi kinh doanh với số đó, và được thêm năm ta-lâng nữa. 17. Người nhận hai ta-lâng cũng vậy, được thêm hai ta-lâng nữa. 18. Tuy nhiên người đã nhận một ta-lâng thì đi đào đất, rồi giấu tiền của chủ mình.”
- “Sau một thời gian dài, người chủ của những đầy tớ đó trở về, rồi tính sổ với họ. 20. Người đã nhận năm ta-lâng đến, đem thêm năm ta-lâng nữa, rồi nói: ‘Thưa chủ! Chủ đã giao cho tôi năm ta-lâng. Đây nầy, tôi đã làm lợi thêm năm ta-lâng nữa.’ 21. Chủ nói với người đó: ‘Này đầy tớ giỏi và trung thành! Tốt lắm! Ngươi đã trung tín trên một số việc, ta sẽ đặt ngươi cai quản trên nhiều việc. Hãy vào chung vui với chủ của ngươi.’ 22. Sau đó, người đã nhận hai ta-lâng cũng đến, và nói: ‘Thưa chủ! Chủ đã giao cho tôi hai ta-lâng. Đây nầy, tôi đã làm lợi thêm hai ta-lâng nữa.’ 23. Chủ nói với người đó rằng: ‘Này đầy tớ giỏi và trung thành! Tốt lắm! Ngươi đã trung tín trên một số việc, ta sẽ đặt ngươi cai quản trên nhiều việc. Hãy vào chung vui với chủ của ngươi.’”
- “Sau đó, người đã nhận một ta-lâng cũng đến, và nói: ‘Thưa chủ! Tôi biết chủ là người cương nghị, gặt tại chỗ mình không gieo, thu tại chỗ mình không rải ra; 25. vì sợ hãi nên tôi đã đi và giấu ta-lâng của chủ ở dưới đất. Đây nầy, xin chủ nhận vật thuộc về chủ.’ 26. Người chủ trả lời và nói với người đó rằng: ‘Hỡi đầy tớ gian ác và lười biếng! Ngươi biết rằng ta gặt tại chỗ ta không gieo, và thu tại chỗ ta không rải ra. 27. Do đó, lẽ ra ngươi phải đưa tiền của ta cho những người kinh doanh tiền bạc, để khi ta trở về, sẽ nhận cả vốn lẫn lời. 28. Vì vậy, hãy lấy ta-lâng khỏi tên nầy, và cho người đã có mười ta-lâng. 29. Bởi vì ai có, sẽ được cho thêm và được dư dật; nhưng ai không có, thậm chí điều người đó đang có, sẽ bị lấy khỏi người đó. 30. Còn tên đầy tớ vô dụng này, hãy ném nó ra ngoài, vào chỗ tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.’”
- “Và rồi, khi Con Người ngự đến trong vinh quang của Ngài, cùng với tất cả các thiên sứ của Ngài, Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh quang của Ngài. 32. Tất cả các dân tộc sẽ tụ họp trước mặt Ngài; rồi Ngài sẽ chia những người này ra khỏi những người khác, như người chăn tách chiên ra khỏi dê: 33. Ngài sẽ để chiên bên tay phải của Ngài, và dê bên tay trái của Ngài.”
- “Lúc đó, Vua sẽ nói với những người ở bên phải của Ngài rằng: ‘Hỡi những người được Cha của Ta ban phước! Hãy đến thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị sẵn cho các ngươi từ lúc tạo dựng vũ trụ. 35. Bởi vì Ta đói, các ngươi cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi tiếp Ta; 36. Ta trần truồng, các ngươi mặc cho Ta; Ta bị bệnh, các ngươi chăm sóc Ta; Ta bị tù, các ngươi thăm viếng Ta.’ 37. Khi đó, những người công chính nói với Ngài rằng: ‘Lạy Chúa! Có khi nào chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, hoặc khát mà cho uống? 38. Có khi nào chúng con thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà mặc cho Ngài? 39. Hay có khi nào chúng con thấy Chúa bị bệnh, hoặc bị tù mà đến thăm Ngài?’ 40. Đức Vua sẽ trả lời, nói với họ: ‘Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi. Khi các ngươi làm như vậy cho một người thấp kém nhất trong những người em nầy của Ta, tức là đã làm cho Ta.’
- “Sau đó, Ngài nói với những người ở bên trái rằng: ‘Hỡi những kẻ bị nguyền rủa! Hãy lìa ra khỏi Ta, vào trong lửa đời đời, đã chuẩn bị sẵn cho quỷ vương và những quỷ sứ của nó. 42. Bởi vì Ta đói, các ngươi không cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi không cho Ta uống; 43. Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp Ta; Ta trần truồng, các ngươi không mặc cho Ta; Ta bị bệnh và bị tù, các ngươi không thăm viếng Ta.’ 44. Lúc đó, họ cũng sẽ nói với Ngài: ‘Lạy Chúa! Có khi nào chúng tôi thấy Chúa đói, hoặc khát, hoặc là khách lạ, hoặc bị trần truồng, hoặc bị bệnh, hoặc bị tù mà không phục vụ Ngài đâu?’ 45. Sau đó Ngài trả lời họ và nói rằng: ‘Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi. Các ngươi đã không làm điều đó cho người thấp kém nhất trong những người nầy, các ngươi cũng đã không làm cho Ta.’”
- “Và rồi những người đó sẽ đi vào hình phạt đời đời, còn những người công chính sẽ vào sự sống đời đời.”
26
- Sau khi Đức Chúa Jesus hoàn tất những lời nầy, Ngài nói với các môn đồ của Ngài: 2. “Các ngươi biết rằng còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp, và bị đóng đinh trên thập tự giá.”
- Lúc đó, các trưởng tế và các trưởng lão của dân chúng đã họp lại tại dinh của thượng tế, tên là Cai-phe, 4. họ bàn mưu với nhau để bắt và giết Đức Chúa Jesus. 5. Tuy nhiên, họ nói rằng: “Đừng làm trong dịp lễ, để không gây náo động trong dân chúng.”
- Đức Chúa Jesus đang ở tại Bê-tha-ni, trong nhà của Si-môn, một người phung, 7. có một phụ nữ đến với Ngài, đem một bình bằng ngọc đựng dầu thơm đắt tiền, rồi rót trên đầu của Ngài trong lúc Ngài đang ngồi dự tiệc. 8. Các môn đồ thấy vậy, thì tức giận, nói rằng: “Tại sao lại lãng phí như vậy? 9. Bởi vì có thể bán nó được nhiều tiền, để giúp những người nghèo.” 10. Biết được điều đó, Đức Chúa Jesus nói với các môn đồ: “Tại sao các ngươi gây khó khăn cho người phụ nữ nầy? Vì nàng đã thực hiện một công việc tốt đẹp cho Ta. 11. Bởi vì các ngươi luôn luôn có những người nghèo ở với các ngươi, tuy nhiên các ngươi không luôn luôn có Ta. 12. Khi nàng xức dầu nầy trên thân thể của Ta, nàng đã chuẩn bị cho việc chôn cất Ta. 13. Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, khắp thế giới, bất kỳ nơi nào Phúc Âm nầy được rao giảng, thì việc người phụ nữ nầy đã làm, sẽ được nhắc đến để tưởng nhớ nàng.”
- Sau đó, một người trong Mười Hai, tên là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, đã đến gặp các trưởng tế 15. rồi nói: “Các ông sẽ trả cho tôi bao nhiêu nếu tôi nộp Người cho các ông?” Họ thoả thuận trả cho hắn ba mươi miếng bạc. 16. Kể từ lúc đó, hắn tìm cơ hội để phản nộp Ngài.
- Vào ngày thứ nhất của lễ Bánh Không Men, các môn đồ đến với Đức Chúa Jesus, thưa rằng: “Thầy muốn ăn lễ Vượt Qua tại đâu để chúng con chuẩn bị?” 18. Ngài nói: “Hãy vào thành, đến với một người kia, rồi nói với người đó rằng: ‘Thầy bảo: Giờ của Ta gần đến, Ta cùng các môn đồ của Ta sẽ dự lễ Vượt Qua với ngươi.’ ” 19. Các môn đồ làm đúng như lời Đức Chúa Jesus hướng dẫn họ, rồi chuẩn bị lễ Vượt Qua.
- Tối đến, Ngài ngồi chung với mười hai môn đồ. 21. Khi họ đang ăn, Ngài nói với họ: “Thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, một người trong các ngươi sẽ phản Ta.” 22. Họ bắt đầu buồn bã vô cùng, từng người đã hỏi Ngài: “Lạy Chúa! Không phải là con, phải không?” 23. Ngài đáp: “Người nào đã chấm tay vào đĩa với Ta, người đó sẽ phản Ta. 24. Thật vậy, Con Người sẽ đi như điều đã chép về Ngài; nhưng khốn cho kẻ phản Con Người! Thà nó đừng sinh làm người thì tốt hơn!” 25. Lúc này Giu-đa, kẻ phản Ngài, nói: “Thưa thầy! Không phải là con, phải không?” Ngài nói với hắn: “Như ngươi đã nói.”
- Khi họ đang ăn, Đức Chúa Jesus lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đồ, rồi phán: “Hãy nhận, và ăn, đây là thân thể của Ta.” 27. Ngài lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho họ, và nói: “Tất cả các ngươi, hãy uống! 28. Vì đây là huyết của Ta, huyết của giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội. 29. Ta nói cùng các ngươi, Ta sẽ không uống nước nho nầy nữa, cho đến ngày Ta sẽ cùng các ngươi uống nước nho mới trong vương quốc của Cha Ta.”
- Sau khi hát thánh ca, họ đi ra để lên núi Ô-liu.
- Sau đó, Ngài nói với họ rằng: “Đêm nay, tất cả các ngươi sẽ lìa bỏ Ta, như có chép rằng: ‘Ta sẽ đánh người chăn, và chiên trong bầy sẽ tan lạc.’ 32. Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đến Ga-li-lê trước các ngươi.” 33. Phi-e-rơ đáp lại, thưa với Ngài: “Dù tất cả lìa bỏ Ngài, con sẽ không bao giờ lìa bỏ Ngài.” 34. Đức Chúa Jesus nói với ông: “Thật vậy, Ta nói với con: Chính đêm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần.” 35. Phi-e-rơ nói với Ngài: “Thậm chí nếu cần để con phải chết với Ngài, con cũng sẽ không chối Ngài.” Tất cả các môn đồ đều nói như vậy.
- Sau đó, Đức Chúa Jesus cùng họ đến một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê, rồi Ngài bảo các môn đồ: “Hãy ngồi tại đây, trong lúc Ta đi cầu nguyện ở đằng kia.” 37. Ngài đem theo Phi-e-rơ và hai con trai của Xê-bê-đê. Ngài bắt đầu buồn và sầu não. 38. Rồi Ngài nói với họ: “Linh hồn Ta buồn cho đến chết; hãy ở đây và tỉnh thức với Ta.”
- Đi xa hơn một chút, Ngài sấp mặt của Ngài xuống và cầu nguyện rằng: “Cha ơi! Nếu có thể được, xin cho chén nầy qua khỏi con! Dù vậy, không theo ý của con, nhưng theo ý của Cha.” 40. Rồi Ngài trở lại với các môn đồ và thấy họ đang ngủ, Ngài nói với Phi-e-rơ rằng: “Các ngươi không thể thức với Ta được một giờ hay sao? 41. Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để các ngươi khỏi sa vào sự cám dỗ. Tâm linh thì muốn, nhưng xác thịt thì yếu đuối.”
- Ngài lại đi lần thứ nhì, cầu nguyện, và thưa rằng: “Cha của Con! Nếu việc con không uống chén, và nếu điều nầy không thể bỏ qua được, xin ý Cha được nên.” 43. Ngài trở lại, thấy họ đang ngủ, vì mắt của họ trĩu nặng. 44. Ngài rời họ một lần nữa, đi một khoảng, rồi cầu nguyện lần thứ ba, và cầu xin y như đã nói lần trước. 45. Rồi Ngài trở lại với các môn đồ và nói với họ rằng: “Các ngươi vẫn còn ngủ và nghỉ ngơi sao? Kìa, giờ sắp đến, và rồi Con Người bị phản nộp vào tay của những kẻ có tội. 46. Hãy đứng dậy, chúng ta hãy đi! Kìa, kẻ phản Ta đã đến gần.”
- Trong lúc Ngài còn đang nói, thì Giu-đa, là một người trong nhóm Mười Hai, đã đến cùng với một đám người rất đông, từ các trưởng tế và các trưởng lão của dân chúng, họ mang theo gươm và gậy. 48. Kẻ phản Ngài đã cho họ một dấu hiệu rằng: “Tôi hôn người nào thì chính là Người đó, hãy bắt lấy Người.” 49. Ngay lập tức, hắn đến gần Đức Chúa Jesus, nói: “Chào thầy”, rồi hôn Ngài. 50. Đức Chúa Jesus nói với hắn rằng: “Bạn ơi! Vì điều này mà bạn đến hay sao?” Sau đó, họ đến, tra tay trên Đức Chúa Jesus, rồi bắt Ngài.
- Kìa, có một người trong những người thuộc về Đức Chúa Jesus, giang tay rút gươm của mình, đánh một đầy tớ của thượng tế, rồi chém đứt tai của hắn. 52. Đức Chúa Jesus nói với người đó: “Hãy nạp gươm của ngươi vào chỗ của nó. Bởi vì tất cả những người nào cầm gươm, sẽ bị tiêu diệt bởi gươm. 53. Con tưởng rằng Ta không thể xin Cha, và Ngài sẽ lập tức sai đến cho Ta hơn mười hai quân đoàn thiên sứ hay sao? 54. Và rồi làm thế nào ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã nói rằng việc nầy phải xảy ra như vậy?”
- Ngay lúc đó, Đức Chúa Jesus nói với đám đông rằng: “Tại sao các ngươi đem gươm và gậy đến bắt Ta như chống lại một tên cướp? Hằng ngày Ta ngồi giảng dạy trong đền thờ, sao các ngươi không bắt Ta? 56. Tuy nhiên tất cả những điều nầy đã xảy ra để những lời tiên tri trong Kinh Thánh được ứng nghiệm.” Sau đó, tất cả môn đồ đều bỏ Ngài, chạy trốn.
- Những người đã bắt Đức Chúa Jesus dẫn Ngài đến thượng tế Cai-phe, nơi có các học giả giáo luật và các trưởng lão đang họp. 58. Phi-e-rơ đi theo Ngài khá xa, thậm chí cho đến sân của thượng tế. Ông đã vào bên trong ngồi với những người canh gác để xem kết cuộc ra sao.
- Các trưởng tế và cả Hội Đồng tìm chứng dối, chống lại Đức Chúa Jesus, để họ có thể kết án tử hình Ngài. 60. Tuy nhiên họ không tìm được điều nào cả; nhiều người đã tiến ra nhưng đều là những nhân chứng gian dối. Cuối cùng, có hai người tiến ra, 61. họ nói: “Người nầy đã nói rằng: ‘Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày.’” 62. Thượng tế đứng dậy, hỏi Ngài: “Ngươi không trả lời những điều họ cáo buộc ngươi hay sao?” 63. Đức Chúa Jesus vẫn im lặng. Thượng tế nói với Ngài rằng: “Ta xin ngươi nhân danh Đức Chúa Trời hằng sống, hãy nói cho chúng ta biết, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hay không?” 64. Đức Chúa Jesus nói với ông: “Đúng như ngươi đã nói, và Ta nói cùng các ngươi, từ nay các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Đấng Quyền năng và sẽ ngự đến trên mây trời.”
- Sau đó, thượng tế xé trang phục của mình, rồi nói: “Hắn phạm thượng! Chúng ta còn cần nhân chứng để làm gì nữa? Kìa, các ông vừa nghe lời phạm thượng. Các ông nghĩ thế nào?” 66. Họ trả lời: “Hắn đáng chết!”
- Sau đó họ khạc nhổ trên mặt của Ngài, và đánh Ngài. Những người khác tát Ngài, 68. nói rằng: “Đấng Christ! Hãy nói tiên tri cho chúng ta. Ai là người đã đánh ngươi?”
- Phi-e-rơ đang ngồi ở ngoài sân; có một đầy tớ gái đến cùng ông, nói rằng: “Ông cũng là người theo Jesus, người Ga-li-lê.” 70. Ông đã chối trước tất cả mọi người rằng: “Tôi không biết cô nói gì.” 71. Sau đó ông ra ngoài hiên, một đầy tớ khác thấy Phi-e-rơ thì nói với những người ở đó rằng: “Ông nầy ở với Jesus, người Na-xa-rét.” 72. Một lần nữa ông đã chối và thề rằng: “Tôi không hề biết người đó.” 73. Một lúc sau, những người đứng gần đó nói với Phi-e-rơ rằng: “Chắc chắn ông cũng là một người trong bọn họ, bởi vì giọng nói của ông đã tố cáo ông.” 74. Sau đó Phi-e-rơ đã nguyền rủa và thề rằng: “Tôi không biết người đó.” Và ngay lập tức, gà gáy. 75. Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jesus đã nói: “Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối Ta ba lần.” Ông đã đi ra ngoài, và khóc lóc cách đắng cay.
27
- Đến sáng, tất cả các trưởng tế và các trưởng lão của dân chúng bàn với nhau chống lại Đức Chúa Jesus để giết Ngài. 2. Họ trói Ngài lại, rồi giải đi giao nộp cho Tổng trấn Phi-lát.
- Sau đó Giu-đa, kẻ phản nộp Ngài, thấy Ngài bị kết án, thì hối hận, đem ba mươi miếng bạc trả lại cho các trưởng tế và các trưởng lão, 4. rồi nói: “Tôi đã phạm tội vì đã nộp huyết vô tội!” Nhưng họ đáp: “Anh thấy đó! Chuyện này đâu có liên quan gì đến chúng tôi?” 5. Hắn ném bạc vào trong đền thờ, rồi trở ra, đi ra ngoài, rồi thắt cổ tự tử.
- Các trưởng tế nhặt những miếng bạc, nói rằng: “Để bạc nầy vào công quỹ là không hợp pháp, bởi vì là giá của máu.” 7. Sau đó họ bàn với nhau dùng số tiền đó mua cho họ cánh đồng của thợ gốm để làm nơi chôn cất các kiều dân. 8. Vì vậy, cánh đồng đó vẫn được gọi là Cánh Đồng Huyết cho đến ngày nay. 9. Như vậy, lời Tiên tri Giê-rê-mi phán đã được ứng nghiệm: “Họ lấy ba mươi miếng bạc, là giá của Đấng bị định giá, là Đấng mà con cái Y-sơ-ra-ên đã định giá cho Ngài, 10. và họ dùng chúng mua đồng ruộng của thợ gốm, như Chúa đã truyền cho ta.”
- Đức Chúa Jesus đứng trước mặt tổng trấn; tổng trấn hỏi Ngài: “Ngươi có phải là vua của dân Do Thái hay không?” Đức Chúa Jesus đáp: “Ngươi nói như vậy.” 12. Nhưng khi các trưởng tế và các trưởng lão tố cáo Ngài, Ngài không trả lời. 13. Sau đó Phi-lát nói với Ngài: “Ngươi không nghe biết bao điều họ làm chứng chống lại ngươi sao?” 14. Nhưng Ngài không đáp lại ông một lời nào, khiến viên tổng trấn cực kỳ kinh ngạc.
- Theo thông lệ, vào dịp lễ, tổng trấn ân xá cho một tù nhân cho dân chúng, là người theo ý dân muốn. 16. Lúc nầy, họ đang giữ một tù nhân nổi tiếng tên là Ba-ra-ba. 17. Vì vậy, khi họ họp lại, Phi-lát hỏi họ: “Ta sẽ tha ai cho các ngươi: Ba-ra-ba, hay Jesus, gọi là Đấng Christ?” 18. Bởi vì ông biết, do lòng ganh tỵ nên họ đã nộp Ngài. 19. Khi ông đang ngồi xử án, vợ ông đã nhắn cho ông rằng: “Xin ông đừng làm gì với người công chính đó, chính vì người mà hôm nay tôi bị dằn vặt nhiều trong chiêm bao.”
- Các trưởng tế và các trưởng lão xúi giục đám đông xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Chúa Jesus. 21. Tổng trấn hỏi họ: “Trong hai người nầy các ngươi muốn ta tha ai?” Họ nói: “Ba-ra-ba.” 22. Phi-lát nói với họ: “Như vậy ta phải làm gì với Jesus, được gọi là Đấng Christ?” Tất cả trả lời: “Đóng đinh hắn trên cây thập tự!” 23. Ông hỏi: “Người đã phạm điều gian ác gì?” Họ cứ la lớn hơn rằng: “Đóng đinh hắn trên cây thập tự!”
- Phi-lát thấy rằng không thể làm gì được, nhưng có thể nẩy sinh bạo động, cho nên đã lấy nước, và rửa tay trước đám đông, rồi nói: “Ta vô tội về huyết của người nầy. Đó là việc của các ngươi.” 25. Tất cả dân chúng đều trả lời và nói rằng: “Huyết của hắn đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi!” 26. Sau đó Phi-lát đã tha Ba-ra-ba cho họ, và cho đánh đòn Đức Chúa Jesus, rồi giao Ngài, để Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá.
- Sau đó, lính của tổng trấn đem Đức Chúa Jesus vào dinh tổng trấn, rồi tập trung cả đội binh chung quanh Ngài. 28. Chúng lột trần Ngài, rồi khoác cho Ngài một chiếc áo điều. 29. Chúng đan một chiếc mão bằng gai, rồi đội trên đầu của Ngài, và đặt một cây sậy vào tay phải của Ngài. Chúng quỳ trước mặt Ngài, nhạo báng Ngài, rồi nói rằng: “Lạy Vua dân Do Thái!” 30. Chúng khạc nhổ trên Ngài, chúng lấy cây sậy đánh trên đầu của Ngài. 31. Sau khi đã chế nhạo Ngài, chúng lột áo điều ra, mặc trang phục của Ngài vào, rồi giải Ngài đi để đóng đinh trên cây thập tự.
- Khi đi ra, chúng gặp một người Sy-ren, tên là Si-môn. Chúng bắt người vác cây thập tự của Ngài. 33. Khi đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, được gọi là Chỗ Sọ, 34. chúng cho Ngài uống rượu hòa với mật đắng; nhưng khi nếm, thì Ngài không uống.
- Sau khi đã đóng đinh Ngài vào thập tự, chúng chia y phục của Ngài bằng cách bắt thăm. [Như vậy để lời tiên tri đã phán được ứng nghiệm: Chúng chia nhau trang phục của Ta, và bắt thăm áo của Ta]. 36. Rồi chúng ngồi xuống, và canh giữ Ngài tại đó. 37. Chúng đặt trên đầu của Ngài một cáo trạng, ghi rằng: “ĐÂY LÀ JESUS, VUA DÂN DO THÁI.”
- Cùng lúc đó, có hai tên cướp cũng bị đóng đinh với Ngài: một tên ở bên phải, một tên bên trái.
- Những kẻ qua lại xúc phạm Ngài, họ lắc đầu, 40. rồi nói: “Kẻ phá hủy đền thờ và xây lại trong ba ngày, hãy tự cứu chính mình! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự.”
- Các trưởng tế, các học giả giáo luật, và các trưởng lão cũng chế nhạo Ngài, họ nói rằng: 42. “Hắn đã cứu những người khác, nhưng hắn không thể tự cứu chính mình. Hắn là vua của Y-sơ-ra-ên! Nếu bây giờ hắn giáng xuống khỏi cây thập tự, chúng ta sẽ tin hắn. 43. Hắn tin cậy Đức Chúa Trời. Nếu Ngài cần hắn, bây giờ hãy để Ngài cứu hắn; bởi vì hắn đã nói: ‘Ta là Con Đức Chúa Trời.’ ”
- Những tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng mắng nhiếc Ngài như vậy.
- Từ giờ thứ sáu cho đến giờ thứ chín, bóng tối bao trùm khắp đất. 46. Khoảng giờ thứ chín, Đức Chúa Jesus kêu lớn tiếng rằng: “Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni?” nghĩa là: “Đức Chúa Trời của con! Đức Chúa Trời của con! Sao Ngài lìa bỏ con?” 47. Một số người đứng gần đó, nghe như thế, nói: “Người nầy gọi Ê-li.” 48. Một người trong bọn họ liền chạy đi lấy một miếng xốp thấm đầy giấm, để trên đầu cây sậy, rồi đưa cho Ngài uống. 49. Những người còn lại nói rằng: “Hãy đợi, để xem Ê-li có đến giải cứu hắn không.” 50. Đức Chúa Jesus kêu một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn.
- Kìa, bức màn bên trong đền thờ bị xé làm đôi, từ trên xuống dưới, đất rúng động, đá vỡ ra; 52. mồ mả mở ra, nhiều thi thể của các thánh qua đời đã sống lại 53. và đi ra khỏi mộ. Sau khi Ngài sống lại, họ đã đi vào thành thánh và hiện ra cho nhiều người.
- Viên đội trưởng và những quân lính cùng canh giữ Đức Chúa Jesus với ông, thấy động đất và những gì đang xảy ra, họ rất sợ hãi, và nói: “Thật vậy, Người nầy là Con Đức Chúa Trời.”
- Tại đó có nhiều phụ nữ đang nhìn từ xa. Họ đã theo Đức Chúa Jesus từ Ga-li-lê, để phục vụ Ngài. 56. Trong số nầy có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ và Giô-sép, cùng với mẹ của các con trai của Xê-bê-đê.
- Đến chiều tối, có một người giàu từ A-ri-ma-thê, tên là Giô-sép, cũng là một môn đồ của Đức Chúa Jesus, đến. 58. Ông đến gặp Phi-lát để xin thi thể của Đức Chúa Jesus. Phi-lát ra lệnh cho phép. 59. Giô-sép nhận xác và quấn xác bằng vải gai sạch, 60. rồi đặt nó trong ngôi mộ mới của mình mà ông đã cho đục trong đá. Ông lăn một tảng đá lớn làm cửa mộ, rồi đi. 61. Có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đang ngồi đối diện ngôi mộ.
- Hôm sau, tức là sau ngày Chuẩn Bị, các trưởng tế và những người Pha-ri-si họp lại trước mặt Phi-lát, 63. rồi nói: “Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên lừa bịp nầy lúc còn sống có nói: ‘Sau ba ngày Ta sẽ sống lại.’ 64. Vì vậy, xin ra lệnh canh giữ chặt chẽ ngôi mộ cho đến ngày thứ ba, đừng để các môn đồ của hắn đến lấy trộm xác hắn, rồi nói với mọi người rằng ‘Ngài đã từ cõi chết sống lại’. Sự lừa dối sau cùng còn tệ hại hơn sự lừa dối ban đầu.” 65. Phi-lát nói với họ: “Các ngươi có lính canh, hãy đi canh giữ chặt chẽ theo ý của các ngươi.” 66. Vì vậy họ đã đi canh giữ chặt chẽ ngôi mộ, niêm phong tảng đá, rồi đặt lính giữ.
28
- Sau ngày sa-bát, lúc rạng sáng của ngày thứ nhất trong tuần lễ, Ma-ri Ma-đơ-len và một Ma-ri khác đến thăm mộ. 2. Kìa, đất rung chuyển dữ dội, bởi vì một thiên sứ của Chúa từ trời đã giáng xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi bên trên. 3. Hình dạng của thiên sứ giống như chớp, và trang phục của thiên sứ trắng như tuyết. 4. Các lính canh sợ hãi thiên sứ, run rẩy, trở nên như những người chết.
- Thiên sứ nói với các phụ nữ rằng: “Các ngươi đừng sợ. Bởi vì ta biết các ngươi tìm Đức Chúa Jesus, Đấng đã bị đóng đinh vào thập tự. 6. Ngài không ở đây đâu, bởi vì Ngài đã sống lại như lời Ngài đã nói. Hãy đến xem nơi Ngài đã nằm. 7. Hãy nhanh chóng đi nói cho các môn đồ của Ngài biết rằng Ngài đã từ cõi chết sống lại, và kìa, Ngài đang đi đến Ga-li-lê trước các ngươi. Các ngươi sẽ gặp Ngài tại đó. Hãy xem điều ta đã báo cho các ngươi.”
- Họ nhanh chóng rời khỏi mộ, vừa sợ vừa rất mừng, họ chạy đi báo cho các môn đồ của Ngài. 9. Bất chợt, Đức Chúa Jesus gặp họ và nói: “Chào các ngươi!” Họ đến, ôm chân của Ngài và thờ phượng Ngài. 10. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Đừng sợ! Hãy đi nói cho các anh em của Ta đến Ga-li-lê. Họ sẽ gặp Ta tại đó.”
- Trong khi họ đang đi, vài lính canh đã đi vào trong thành, báo cáo cho các trưởng tế tất cả những chuyện đã xảy ra. 12. Sau khi bàn bạc với các trưởng lão, họ cho những tên lính rất nhiều miếng bạc, 13. rồi dặn: “Hãy nói rằng: ‘Các môn đồ của hắn, đã đến vào ban đêm, lúc chúng tôi đang ngủ, rồi lấy trộm xác của hắn.’ 14. Nếu việc nầy đến tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thuyết phục ông ấy, để tránh phiền phức cho các anh.” 15. Vì vậy họ đã nhận tiền và làm y như lời đã được hướng dẫn. Việc nầy được lan truyền giữa dân Do Thái cho đến ngày nay.
- Mười một môn đồ đi đến Ga-li-lê, tới ngọn núi mà Đức Chúa Jesus đã chỉ cho họ. 17. Khi thấy Ngài thì họ thờ phượng Ngài. Tuy nhiên có vài người nghi ngờ. 18. Đức Chúa Jesus đến và nói với họ rằng: “Tất cả thẩm quyền trên trời và dưới đất đã giao cho Ta. 19. Vì vậy, hãy đi làm cho tất cả các dân tộc trở thành môn đồ của Ta; hãy nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh làm báp-têm cho họ 20. và dạy họ giữ tất cả những điều Ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, Ta ở với tất cả các ngươi luôn cho đến tận thế.”
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl