Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: Ê-xê-chi-ên

Bản Dịch Việt Ngữ: Ê-xê-chi-ên

Ê-xê-chi-ên

1

  1. Thời gian trôi qua, bây giờ đã đến năm thứ ba mươi, vào ngày năm của tháng Tư, khi tôi đang ở giữa những người bị lưu đày bên sông Kê-ba, các tầng trời đã được mở ra và tôi thấy những khải tượng của Đức Chúa Trời.
  2. Vào ngày năm của tháng – trong năm thứ năm sau khi Vua Giê-hô-gia-kin bị lưu đày – 3. Lời của Đức Giê-hô-va đã đến thật rõ ràng cho Tư tế Ê-xê-chi-ên, con trai của Bu-xi, trong đất của người Canh-đê, bên sông Kê-ba. Tay Đức Giê-hô-va đã đặt trên ông tại đó.
  3. Sau đó, tôi nhìn – và xem kìa – có một cơn gió lốc từ phương bắc thổi đến, có một đám mây thật lớn, lửa chớp nhoáng ở chính giữa và tỏa sáng chung quanh; luồng sáng từ giữa đám lửa phát ra có màu như hổ phách. 5. Cũng từ bên trong đó, giống như có bốn sinh vật, hình dạng của các sinh vật như sau. Các sinh vật giống như người. 6. Mỗi sinh vật có bốn mặt và bốn cánh. 7. Chân của các sinh vật thẳng, nhưng bàn chân của chúng giống như bàn chân của bò con. Chúng lấp lánh như đồng được nung cháy. 8. Bên dưới những cánh, ở bốn phía, đều có những cánh tay giống như tay người. Cả bốn sinh vật đều có nhiều mặt và nhiều cánh: 9. cánh của các sinh vật chạm vào nhau; khi các sinh vật đi, thì không xoay, nhưng mỗi sinh vật cứ đi thẳng tới trước.
  4. Về hình dạng các khuôn mặt của những sinh vật, mỗi sinh vật đều có mặt người; bốn sinh vật đều có mặt sư tử ở bên phải; bốn sinh vật đều có mặt bò ở bên trái, và bốn sinh vật đều có mặt chim ưng. 11. Đó là các khuôn mặt của chúng. Các cánh của chúng thì giương lên trên. Mỗi sinh vật có hai cánh chạm vào nhau và có hai cánh che thân mình. 12. Mỗi sinh vật đi thẳng tới. Thần linh khiến đi đâu thì chúng đi đó, chúng không xoay khi chúng đi.
  5. Hình dạng của những sinh vật đó giống như những than lửa đang cháy, và giống như có những ngọn đuốc đang di chuyển tới lui giữa những sinh vật. Lửa cháy sáng, và có tia chớp từ lửa phát ra. 14. Các sinh vật chạy tới chạy lui, hiện ra như một tia chớp.
  6. Lúc này, khi tôi nhìn các sinh vật, tôi thấy có một bánh xe ở trên đất bên cạnh mỗi sinh vật có bốn mặt. 16. Hình dạng của những bánh xe và cấu trúc của chúng giống như bích ngọc; cả bốn đều giống nhau; hình dạng của cấu trúc giống như là bánh xe lồng trong bánh xe. 17. Khi chuyển động, chúng đi theo một trong bốn hướng và không xoay lại khi đi. 18. Các vành bánh xe thật cao, trông thật đáng sợ, và cả bốn vành bánh xe đều đầy những con mắt, bao quanh cả bốn đều như vậy. 19. Khi các sinh vật đi, thì các bánh xe cũng đi bên cạnh; và khi các sinh vật được cất lên khỏi đất, thì các bánh xe cũng được cất lên. 20. Thần muốn đi nơi nào, chúng đi nơi đó, vì khi thần đi, các bánh xe cùng được cất lên với chúng, bởi vì thần của các sinh vật ở trong những bánh xe. 21. Khi những cái đó đi, thì những cái này cũng đi; khi những cái đó dừng, thì những cái này cũng dừng; và khi những cái đó cất lên khỏi đất, thì các bánh xe cùng cất lên với chúng, bởi vì thần của sinh vật ở trong những bánh xe.
  7. Trên các đầu của những sinh vật có một cái vòm, giống như pha lê tuyệt đẹp, tỏa ra khắp đầu của chúng. 23. Dưới vòm đó, các cánh của chúng giương thẳng ra, cái nầy hướng về cái kia. Mỗi sinh vật đều có hai cánh ở một bên, và mỗi sinh vật đều có hai cánh ở bên kia của thân thể. 24. Khi chúng đi tới, tôi nghe tiếng động của những cánh, giống như tiếng động của những dòng nước, như tiếng của Đấng Toàn Năng, vang rền như tiếng động của một đoàn quân. Khi chúng đứng yên, chúng hạ các cánh xuống. 25. Một giọng nói vang ra từ cái vòm ở trên những cái đầu của chúng. Khi nào chúng đứng, chúng hạ những cánh xuống.
  8. Trên vòm phía trên đầu của các sinh vật có vật gì giống như một cái ngai, hình dạng như một ngai bằng bích ngọc, và trên ngai đó giống như có một người xuất hiện. 27. Tôi thấy từ thắt lưng của người ấy trở lên giống như hổ phách, có lửa bao quanh, và từ thắt lưng của người ấy trở xuống, tôi thấy lửa sáng rực bao quanh. 28. Hình dạng của ánh sáng bao quanh giống như hình dạng của một cầu vồng trong mây vào một ngày mưa. Đó là hình ảnh vinh quang của Đức Giê-hô-va.

Khi thấy vậy, tôi sấp mặt xuống, và tôi nghe tiếng của Đấng đang phán.

 

2

  1. Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người! Hãy đứng dậy trên chân của ngươi. Ta sẽ phán cùng ngươi. 2. Khi Ngài phán với tôi, Thần Linh đã ngự vào trong tôi, khiến tôi đứng dậy trên chân của mình, để tôi nghe tiếng phán của Ngài.
  2. Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người! Ta sai ngươi đến cùng dân Y-sơ-ra-ên, đến cùng một nước phản loạn đã phản loạn chống lại Ta. Chúng nó và tổ tiên của chúng nó đã phạm tội nghịch cùng Ta cho đến ngày nay. 4. Ðó là những đứa con chai mặt cứng lòng. Ta sai ngươi đến cùng chúng nó, rồi ngươi hãy nói cùng chúng nó: Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy.
  3. Bất kể chúng nó nghe hay không nghe – bởi vì chúng nó là một nhà phản loạn – chúng nó sẽ biết rằng ở giữa chúng nó, có một tiên tri. 6. Còn ngươi, hỡi con người! Đừng sợ chúng nó, cũng đừng sợ những lời của chúng nó. Dù gai góc bao quanh ngươi, dù ngươi ở giữa những bọ cạp, đừng sợ những lời của chúng nó, cũng đừng kinh hãi vì bộ mặt của chúng nó, bởi vì chúng nó là một nhà phản loạn. 7. Nhưng ngươi hãy truyền lời Ta phán cùng chúng nó cho dù chúng nó có nghe hay khước từ, bởi vì chúng nó là những kẻ phản loạn.
  4. Còn ngươi, hỡi con người! Hãy nghe lời Ta phán cùng ngươi. Đừng phản loạn như nhà phản loạn đó. Hãy mở miệng ra và ăn điều Ta ban cho ngươi.
  5. Tôi nhìn. Kìa! Có một bàn tay giang ra cho tôi, trong bàn tay có một cuộn sách. 10. Cuộn sách được trải ra trước mặt tôi. Nó được viết cả bên trong lẫn bên ngoài. Những lời được viết trong đó là những lời ai ca, than khóc, và nguyền rủa.
  6. Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, chân ngươi hãy đứng, ta sẽ phán cùng ngươi. 2. Ngài vừa phán cùng ta như vậy, thì Thần vào trong ta, làm cho chân ta đứng lên, và ta nghe Đấng đã phán cùng ta.
  7. Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, ta sai ngươi đến cùng con cái Y-sơ-ra-ên, đến các dân bạn nghịch nổi loạn nghịch cùng ta; chúng nó và tổ phụ mình đã phạm phép nghịch cùng ta cho đến chính ngày nay. 4. Ấy là con cái dày mặt cứng lòng, ta sai ngươi đến cùng chúng nó. Khá nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va có phán như vậy! 5. Còn như chúng nó, hoặc nghe ngươi, hoặc chẳng khứng nghe, vì là nhà bạn nghịch, ít nữa chúng nó cũng biết rằng ở giữa mình đã có một đấng tiên tri. 6. Nhưng, hỡi con người, ngươi chớ sợ chúng nó, và chớ sợ lời chúng nó, dầu gai gốc ở với ngươi, và ngươi ở giữa bọ cạp mặc lòng. Phải, dầu chúng nó là nhà bạn nghịch, ngươi cũng đừng sợ lời chúng nó, và đừng kinh hãi mặt chúng nó. 7. Vậy, ngươi khá đem lời ta nói cùng chúng nó, dầu nghe, dầu chẳng khứng nghe; vì chúng nó rất là bạn nghịch.
  8. Nhưng, hỡi con người, hãy nghe điều ta phán cùng ngươi; chớ bạn nghịch như nhà nổi loạn ấy; hãy mở miệng, ăn lấy vật ta ban cho. 9. Ta bèn xem, nầy, có một cái tay giơ đến ta, cầm một bản sách cuốn. 10. Bản ấy giở ra trước mặt ta, có chữ đã chép, cả trong và ngoài; ấy là những lời ca thương, than thở, khốn nạn đã chép vào đó.

 

3

  1. Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người! Hãy ăn vật ngươi thấy. Hãy ăn cuộn sách nầy, rồi đi nói cho nhà Y-sơ-ra-ên.
  2. Tôi mở miệng ra và Ngài đã ban cho tôi cuộn sách để ăn.
  3. Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người! Hãy ăn vào bụng đi. Hãy làm cho no bụng của ngươi bằng cuốn sách mà Ta ban cho ngươi.

Tôi đã ăn, và nó ngọt như mật trong miệng của tôi.

  1. Sau đó, Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người! Hãy đi đến nhà Y-sơ-ra-ên, rồi truyền những lời của Ta cho họ. 5. Vì ngươi không được sai đến cùng một dân tộc ngoại quốc, nói một ngôn ngữ khó hiểu, nhưng đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên, 6. cũng không phải đến cùng nhiều dân tộc ngoại quốc, nói một ngôn ngữ khó hiểu mà lời nói của họ ngươi không hiểu được. Nếu Ta sai ngươi đến với họ, thì họ sẽ lắng nghe ngươi. 7. Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên sẽ không nghe ngươi vì chúng nó không muốn nghe Ta, bởi vì cả nhà Y-sơ-ra-ên đều chai mặt và cứng đầu. 8. Nầy, Ta sẽ làm cho mặt của ngươi cứng như mặt của chúng nó, và trán của ngươi cứng như trán của chúng nó. 9. Ta sẽ ban cho ngươi trán cứng như kim cương, cứng hơn đá lửa. Đừng sợ chúng nó, cũng đừng kinh hãi vì bộ mặt của chúng nó, bởi vì chúng nó là một nhà phản loạn.
  2. Ngài cũng phán với tôi: Hỡi con người! Hãy tiếp nhận vào lòng và lấy tai nghe tất cả những lời Ta phán cùng ngươi. 11. Hãy đi đến với những người bị lưu đày, là những đứa con của dân tộc ngươi, rồi nói với họ rằng: “Chúa, là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy” – bất kể họ nghe hay họ khước từ.
  3. Sau đó, Thần Linh đã cất tôi lên, rồi tôi nghe phía sau của mình có một giọng nói vang rền rằng: “Đáng chúc tụng vinh quang của Đức Giê-hô-va từ nơi của Ngài!” 13. Tôi cũng nghe tiếng của cánh các sinh vật đập vào nhau, tiếng của những bánh xe bên cạnh các sinh vật đó, và một giọng nói vang rền.
  4. Thần Linh đã cất tôi lên, đem tôi đi. Tôi đi trong cay đắng và lòng tôi nóng giận, nhưng tay của Đức Giê-hô-va đè mạnh trên tôi. 15. Sau đó, tôi đến với những người bị lưu đày tại Tên A-bíp, họ đang sống bên bờ sông Kê-ba. Tôi ngồi tại nơi họ ngồi, và ở lại đó trong bảy ngày cùng bàng hoàng với họ.
  5. Sau bảy ngày, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 17. Hỡi con người! Ta lập ngươi làm người canh gác cho nhà Y-sơ-ra-ên. Mỗi khi ngươi nghe lời nào từ miệng của Ta, hay trao cho chúng sự cảnh cáo của Ta. 18. Khi Ta phán với kẻ ác rằng: “Ngươi chắc sẽ chết”, nhưng ngươi không trao sự cảnh cáo cho nó, cũng không nói lời cảnh cáo kẻ ác để nó tránh con đường ác để được sống. Kẻ ác đó sẽ chết vì tội lỗi của nó nhưng Ta sẽ đòi máu của nó nơi tay ngươi. 19. Nhưng nếu ngươi cảnh cáo kẻ ác mà nó không từ bỏ điều ác và cũng không lìa khỏi đường lối gian tà, thì nó sẽ chết vì tội lỗi nó, nhưng ngươi sẽ cứu được mạng sống của mình. 20. Cũng vậy, khi một người công chính từ bỏ sự công chính và phạm tội, Ta sẽ đặt chướng ngại trước mặt nó, và nó sẽ chết; nhưng vì ngươi không cảnh cáo nó, nó sẽ chết trong tội lỗi của mình, và việc công chính mà nó đã làm sẽ không còn được nhớ đến, nhưng Ta sẽ đòi máu của nó nơi tay ngươi. 21. Tuy nhiên, nếu ngươi cảnh cáo người công chính đừng nên phạm tội, và nó không phạm tội thì chắc chắn nó sẽ sống bởi vì nó đã nghe lời cảnh cáo; và ngươi sẽ cứu được mạng sống của mình.
  6. Tại đó, tay của Đức Giê-hô-va đã đặt trên tôi. Ngài phán với tôi: Hãy đứng dậy, đi vào thung lũng, rồi Ta sẽ phán với ngươi tại đó.
  7. Sau đó, tôi đã đứng dậy, đi vào thung lũng. Kìa, vinh quang của Đức Giê-hô-va đang hiện diện tại đó giống như vinh quang mà tôi đã thấy bên bờ sông Kê-ba. Tôi liền sấp mặt của mình xuống.
  8. Thần Linh đã vào trong tôi, nâng tôi đứng lên trên chân của mình, rồi phán với tôi: Hãy đi vào trong nhà của ngươi, rồi giam mình trong đó. 25. Hỡi con người! Nầy người ta sẽ lấy dây trói ngươi, cột ngươi lại, để ngươi không thể đi lại ở giữa họ. 26. Ta sẽ làm cho lưỡi của ngươi dính nơi vòm miệng, ngươi sẽ không thể nói được, và ngươi không thể quở trách chúng, bởi vì chúng là một nhà phản loạn. 27. Nhưng khi Ta phán cùng ngươi, Ta sẽ mở miệng cho ngươi, rồi ngươi hãy nói cùng chúng nó: Chúa, là Giê-hô-va phán như thế nầy: “Ai muốn nghe, hãy nghe! Ai khước từ, hãy khước từ!” Bởi vì họ là một nhà nổi loạn.

 

4

  1. Còn ngươi, hỡi con người! Hãy lấy một viên gạch để trước mặt ngươi, rồi hãy khắc trên đó thành Giê-ru-sa-lem. 2. Ngươi hãy công hãm thành, xây tường bao vây, đắp mô chung quanh, dựng doanh trại để tiến đánh, và đặt máy phá thành xung quanh nó. 3. Hãy lấy một cái chảo sắt, đặt nó như bức tường sắt ở giữa ngươi và thành. Hãy hướng mặt của ngươi về phía nó, nó sẽ bị bao vây, và ngươi hãy vây hãm nó. Đây là một dấu hiệu cho nhà Y-sơ-ra-ên.
  2. Sau đó, ngươi hãy nằm nghiêng bên trái, gánh chịu tội lỗi của nhà Y-sơ-ra-ên tại đó. Ngươi nằm như thế bao nhiêu ngày thì ngươi mang lấy tội lỗi của chúng nó cũng bấy nhiêu. 5. Ta đã định cho ngươi số ngày bằng với số năm tội lỗi của chúng. Ngươi sẽ mang tội lỗi của nhà Y-sơ-ra-ên ba trăm chín mươi ngày.
  3. Khi ngươi đã làm xong việc đó, ngươi phải nằm xuống một lần nữa. Lần nầy ngươi sẽ nằm nghiêng bên phải, để gánh chịu tội lỗi của nhà Giu-đa. Ta đã định cho ngươi bốn mươi ngày, mỗi ngày cho một năm. 7. Vì vậy, ngươi sẽ xây mặt hướng về Giê-ru-sa-lem đang bị bao vây, đưa cánh tay trần ra, rồi nói tiên tri chống lại nó. 8. Nầy Ta sẽ lấy dây cột ngươi để ngươi không thể xoay từ phía nầy sang phía khác, cho đến khi ngươi hoàn tất số ngày mà ngươi bị ràng buộc.
  4. Ngươi hãy lấy lúa mì, lúa mạch, đậu trắng, đậu đỏ, hạt kê, và bột mì, đem bỏ tất cả vào một cái vò, rồi dùng chúng làm bánh cho ngươi. Trong suốt thời gian ngươi nằm nghiêng một bên, ba trăm chín mươi ngày, ngươi sẽ ăn bánh như vậy. 10. Lương thực mà ngươi ăn sẽ được cân là hai mươi siếc-lơ cho mỗi ngày. Ngươi phải ăn theo thì giờ quy định. 11. Nước mà ngươi uống cũng sẽ được lường là một phần sáu hin. Ngươi phải uống theo giờ quy định. 12. Ngươi sẽ ăn bánh lúa mạch. Ngươi phải nướng bánh bằng phân người trước mặt người ta. 13. Đức Giê-hô-va phán: Dân Y-sơ-ra-ên sẽ ăn bánh ô uế như vậy giữa vòng các quốc gia mà Ta đuổi chúng nó đến.
  5. Nhưng tôi nói: Ôi! Thưa Chúa, là Đức Giê-hô-va. Từ nhỏ đến giờ con chưa bao giờ ăn thịt một con vật tự nó bị chết hoặc bị xé ra từng mảnh. Không có thịt gì bất khiết vào trong miệng con.
  6. Ngài phán: Được rồi! Ta cho ngươi dùng phân bò thay cho phân người để nướng bánh. 16. Rồi Ngài lại phán: Hỡi con người! Nầy Ta sẽ cắt đứt nguồn lương thực ở Giê-ru-sa-lem. Họ sẽ cân bánh mà ăn trong cơn sợ hãi, lường nước mà uống trong nỗi kinh hoàng. 17. Vì thiếu bánh và nước, chúng sẽ nhìn nhau trong kinh hãi, và chết dần chết mòn vì tội lỗi của chúng.

 

 

5

  1. Về phần ngươi, hỡi con người! Hãy lấy một thanh gươm bén như dao cạo của thợ hớt tóc, rồi dùng nó cạo đầu và râu của ngươi. Sau đó, ngươi hãy dùng cân để cân, rồi phân chia nó ra. 2. Ngươi hãy đốt một phần ba ở giữa thành vào lúc những ngày vây thành đã kết thúc; ngươi hãy lấy một phần ba khác dùng gươm mà đánh nó khắp mọi hướng; rồi rải một phần ba còn lại ra trước gió bởi vì chính Ta sẽ tuốt gươm đuổi theo chúng. 3. Ngươi hãy lấy một ít trong số đó cột vào vạt áo của ngươi. 4. Sau đó ngươi hãy lấy một ít trong số đó ném vào lửa để chúng cháy, rồi từ đó một ngọn lửa sẽ lan ra cháy cả nhà Y-sơ-ra-ên.
  2. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Đây là Giê-ru-sa-lem mà Ta đã đặt ở giữa các quốc gia. Các nước ở chung quanh nó. 6. Nhưng nó đã nổi loạn chống lại các mạng lịnh của Ta và những luật lệ của Ta. Nó đã trở nên gian ác hơn các dân tộc và các nước ở chung quanh nó. Nó đã bỏ các mạng lịnh của Ta, không vâng giữ những luật lệ của Ta, không bước đi trong những điều đó.
  3. Vì vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Vì ngươi đã dấy loạn nhiều hơn các dân tộc ở chung quanh ngươi, vì ngươi đã không bước đi theo các luật lệ của Ta, cũng không giữ những mạng lịnh của Ta, cũng không làm theo những mạng lịnh dành cho các dân tộc ở chung quanh ngươi.
  4. Vì vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Ta, chính Ta, sẽ chống lại ngươi. Ta sẽ thi hành án phạt đối với ngươi trước mắt các dân tộc. 9. Bởi vì tất cả những việc kinh tởm của ngươi, Ta sẽ làm cho ngươi những điều Ta chưa từng làm, và Ta sẽ không bao giờ làm giống như vậy nữa. 10. Cho nên, giữa vòng các ngươi, cha sẽ ăn thịt con, và con sẽ ăn thịt cha của mình. Ta sẽ thi hành sự đoán phạt giữa vòng các ngươi; và những người còn lại, Ta sẽ rải họ ra khắp các hướng gió.
  5. Vì vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Thật như Ta hằng sống, bởi vì ngươi đã làm ô uế nơi thánh của Ta bằng tất cả những việc gớm ghiếc của ngươi và tất cả những chuyện kinh tởm của ngươi, cho nên Ta sẽ triệt hạ ngươi. Mắt của Ta sẽ không đoái xem và cũng không tiếc thương ngươi. 12. Một phần ba của ngươi sẽ chết vì dịch bệnh, và bị tiêu hao vì nạn đói ở giữa ngươi; một phần ba sẽ chết vì gươm đao ở chung quanh ngươi; còn một phần ba nữa, Ta sẽ làm tan lạc theo mọi hướng gió, và Ta sẽ lấy gươm đuổi theo chúng. 13. Ta sẽ trút cơn thịnh nộ của Ta trên chúng, và cơn thịnh nộ của Ta sẽ được hoàn tất như vậy. Khi Ta đã trút cơn thịnh nộ của Ta trên chúng, thì chúng sẽ biết rằng vì sự tức giận yêu thương mà chính Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán với chúng.
  6. Hơn thế nữa, Ta sẽ làm cho ngươi trở nên hoang phế, làm cớ chế nhạo cho những nước chung quanh ngươi và trước mắt mọi kẻ qua lại. 15. Ngươi sẽ là sự chế nhạo và là sự chê cười, sự cảnh cáo và là nỗi kinh khiếp cho các nước chung quanh ngươi, khi Ta thi hành án phạt đối với ngươi trong cơn giận, trong cơn thịnh nộ, cùng với những lời quở trách đầy phẫn nộ.

Ta, là Đức Giê-hô-va, phán: 16. Ta sẽ bắn vào các ngươi những mũi tên độc của cơn đói kém để làm tổn hại các ngươi, mà Ta đã sai chúng đến để hủy diệt các ngươi. Ta sẽ gia tăng nạn đói trên các ngươi và sẽ cắt đứt nguồn lương thực của các ngươi. 17. Thật vậy, Ta sẽ sai nạn đói và những thú dữ, chúng sẽ đem sự tang thương cho các ngươi. Dịch bệnh và sự đổ máu sẽ trải qua giữa ngươi. Ta sẽ sai gươm giáo đến trên ngươi. Chính Ta là Đức Giê-hô-va đã phán vậy.

 

6

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy hướng mặt của ngươi về các ngọn núi đồi của Y-sơ-ra-ên, và hãy nói tiên tri chống lại chúng. 3. Hãy nói rằng: Hỡi các ngươi, là những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe lời của Chúa, là Đức Giê-hô-va.

Chúa, là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy với các ngọn núi và các ngọn đồi, với những dòng suối và các thung lũng rằng: Ta, chính Ta sẽ mang gươm đao đến trên các ngươi, và Ta sẽ tiêu diệt những nơi cao của các ngươi. 4. Những bàn thờ của các ngươi sẽ bị hoang tàn, những hương án của các ngươi sẽ bị ngã đổ. Ta sẽ ném những kẻ bị giết của các ngươi trước mặt những tượng thần của các ngươi. 5. Ta sẽ đặt những xác chết của dân Y-sơ-ra-ên trước mặt thần tượng của chúng, và rải hài cốt của các ngươi chung quanh bàn thờ của các ngươi. 6. Bất cứ nơi nào các ngươi ở thì thành trì sẽ bị tàn phá, những nơi cao sẽ bị hoang tàn đến nỗi những bàn thờ của các ngươi sẽ bị đổ nát và hoang tàn, thần tượng bị đập bể và kết liễu, những hương án của các ngươi sẽ bị triệt hạ, và mọi công việc của các ngươi sẽ bị xóa sạch. 7. Những kẻ bị giết sẽ gục ngã giữa vòng các ngươi, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va!

  1. Tuy nhiên, Ta sẽ chừa lại một số người. Một số trong các ngươi sẽ thoát khỏi lưỡi gươm, bị tan lạc trong các nước khắp trên đất. 9. Ai trong các ngươi thoát được sẽ nhớ đến Ta khi sống giữa các nước nơi chúng bị lưu đày; bởi vì lòng Ta tan vỡ vì sự dâm đãng của chúng khiến chúng đã lìa bỏ Ta, và cặp mắt dâm đãng của chúng đã đi theo những thần tượng. Chúng sẽ gớm ghiếc chính mình vì những việc gian ác mà chúng đã làm và mọi hành động kinh tởm của chúng. 10. Rồi chúng sẽ biết rằng chính Ta là Đức Giê-hô-va, và lời Ta đã phán về việc đem tai họa này đến cho chúng nó không phải là hư không.
  2. Chúa, là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy vỗ tay, giậm chân và nói: Thật đáng đời! Bởi vì những việc gian ác kinh tởm của nhà Y-sơ-ra-ên cho nên họ sẽ chết bởi gươm đao, đói kém và dịch bệnh. 12. Những kẻ ở xa, sẽ bị chết vì ôn dịch; những kẻ ở gần, sẽ ngã chết vì gươm; những kẻ còn lại và bị bao vây, sẽ chết vì nạn đói. Ta sẽ trút xong cơn giận của Ta trên chúng. 13. Và rồi các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va khi những kẻ bị giết của các ngươi nằm giữa các tượng thần, chung quanh các bàn thờ, trên mọi đồi cao, trên các đỉnh núi, dưới mọi cây xanh, dưới mọi cây sồi rậm rạp, là những nơi chúng nó dâng hương thơm ngào ngạt cho các tượng thần của chúng. 14. Ta sẽ đưa tay của Ta ra để chống lại chúng, làm cho xứ sở bị hoang tàn. Đúng như vậy! Khắp những nơi chúng ở sẽ bị hoang tàn hơn cả hoang mạc hướng về Đíp-lát. Bấy giờ, chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.

 

7

  1. Và rồi, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi. 2. Này ngươi, hỡi con người! Chúa, là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy về đất Y-sơ-ra-ên: Sự tận cùng đã đến! Sự tận cùng đã đến trên bốn phương của xứ sở. 3. Bây giờ, sự tận cùng đã đến trên ngươi. Ta sẽ đổ cơn thịnh nộ của Ta trên ngươi, và sẽ đoán phạt ngươi tùy theo những đường lối của ngươi. Ta sẽ báo trả cho ngươi tất cả những việc kinh tởm của ngươi. 4. Mắt của Ta sẽ không đoái xem ngươi và không thương xót ngươi. Ta sẽ trừng phạt ngươi vì những đường lối của ngươi và những việc kinh tởm của ngươi ở giữa ngươi. Bấy giờ, ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  2. Chúa, là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Tai họa! Kìa, một tai họa đang đến. 6. Thời tận cùng đang đến! Thời tận cùng đang đến! Nó đã thức dậy vì ngươi. Kìa nó đang đến. 7. Hỡi cư dân trong xứ! Ngày diệt vong của ngươi đã đến. Đã đến thời điểm, và ngày đã gần. Sẽ có sự náo loạn chứ không phải sự reo hò ở trên núi. 8. Bây giờ, Ta sẽ đổ cơn thịnh nộ của Ta trên ngươi và hoàn tất cơn giận của Ta trên ngươi. Ta sẽ đoán phạt ngươi tùy theo các đường lối của ngươi và sẽ báo trả cho ngươi tất cả những việc kinh tởm của ngươi. 9. Mắt của Ta sẽ không đoái xem ngươi và không thương xót ngươi. Ta sẽ trừng phạt ngươi vì những đường lối của ngươi và những việc kinh tởm của ngươi ở giữa ngươi. Bấy giờ, ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng trừng phạt.
  3. Kìa, đã đến lúc! Kìa, nó đang đến. Sự diệt vong đã bắt đầu. Cây gậy đã trổ hoa. Sự kiêu ngạo đã đâm chồi. 11. Sự cường bạo đã nổi lên như một cây gậy gian ác. Không một ai trong chúng còn sống sót, không còn đám đông, không còn những vật sở hữu của chúng, không còn ai than khóc chúng nữa. 12. Giờ đã điểm, ngày đã gần. Người mua đừng vui, kẻ bán đừng buồn, vì cơn thịnh nộ sẽ giáng xuống trên cả đoàn dân. 13. Cho dù người bán vẫn còn sống, người đó sẽ không thể chuộc lại sản nghiệp đã bán, bởi vì khải tượng đó sẽ ứng nghiệm trên cả đoàn dân, và nó sẽ không bị thu hồi, bởi vì không ai đã sống cuộc sống quá nhiều tội lỗi mà mong có thể được phục hồi như ngày trước.
  4. Kèn đã thổi, tất cả đã sẵn sàng nhưng không ai ra trận, bởi vì cơn giận của Ta giáng trên cả đoàn dân. 15. Bên ngoài có gươm đao, bên trong có dịch bệnh và nạn đói. Kẻ nào ở ngoài đồng sẽ chết bởi gươm đao. Kẻ nào ở trong thành sẽ bị nạn đói và dịch bệnh ăn nuốt. 16. Nếu ai thoát được, chúng sẽ phải trốn tránh trên núi như những bồ câu trong thung lũng. Tất cả đều than thở vì tội lỗi của mình. 17. Mọi bàn tay sẽ trở nên yếu đuối, mọi đầu gối sẽ mềm nhũn như nước. 18. Họ sẽ thắt lưng bằng vải sô, sự kinh hoàng bao phủ họ, ô nhục hiện lên trên mọi khuôn mặt, và mọi đầu đều bị cạo trọc. 19. Chúng sẽ ném bạc ra ngoài đường, và vàng của chúng giống như phân. Vàng bạc sẽ không giải cứu được chúng trong ngày thịnh nộ của Đức Giê-hô-va, cũng không thỏa mãn được khao khát của chúng, và cũng không làm cho chúng no bụng. Bởi vì đó là vật chướng ngại đã làm cho chúng phạm tội.
  5. Về vẻ đẹp của những vật trang sức, Ngài đã thiết lập những vật đó cho sự tráng lệ, nhưng chúng đã lấy những vật đó làm nên những hình tượng kinh tởm và những vật gớm ghiếc. Vì thế Ta sẽ biến những thứ đó thành những vật ô nhơ đối với chúng. 21. Ta sẽ ban những thứ đó cho quân ngoại xâm làm chiến lợi phẩm, cho những kẻ gian ác trên đất làm của cướp được; rồi những kẻ đó sẽ làm cho những thứ đó ra uế tục. 22. Ta sẽ quay mặt của Ta khỏi chúng, để những kẻ đó có thể vào làm ô uế tài sản của Ta. Quân cường bạo sẽ vào nơi đó, chúng sẽ làm nơi đó bị ô uế.
  6. Hãy làm một dây xiềng vì xứ sở đã đầy dẫy tội ác đẫm máu và thành phố thì đầy dẫy sự bạo hành. 24. Ta sẽ đem những kẻ độc ác nhất trong các dân ngoại đến để chiếm lấy nhà của chúng. Ta sẽ làm cho sự kiêu ngạo của kẻ mạnh chấm dứt, và những nơi thánh của chúng sẽ bị ô uế. 25. Khi thống khổ đến, chúng tìm kiếm sự bình an nhưng không thấy. 26. Tai họa chồng chất trên tai họa, tin dữ kế tiếp tin dữ. Chúng sẽ tìm khải tượng nơi tiên tri nhưng luật pháp đã lìa khỏi tư tế, và mưu trí đã lìa khỏi các trưởng lão. 27. Vua sẽ than khóc, người lãnh đạo sẽ mặc lấy sự kinh hãi, tay của dân trong đất đều run rẩy. Ta sẽ đối đãi với chúng tùy theo cách chúng ăn ở. Ta sẽ phán xét chúng tùy theo tội của chúng. Bấy giờ, chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.

 

8

  1. Thời gian trôi qua, vào ngày năm, tháng Sáu, năm thứ sáu, khi tôi đang ngồi trong nhà của tôi, có các vị trưởng lão của dân Giu-đa đang ngồi trước mặt tôi, thì tay của Chúa, là Đức Giê-hô-va, đặt trên tôi.
  2. Tôi nhìn thì thấy có một đấng giống như lửa xuất hiện, từ thắt lưng trở xuống thì giống như lửa, từ thắt lưng trở lên thì sáng ngời giống như đồng thau bóng loáng. 3. Có một vật gì giống như hình một bàn tay đã đưa ra nắm lấy lọn tóc trên đầu của tôi. Thần nâng tôi lên giữa đất và trời. Trong khải tượng của Đức Chúa Trời, tôi được đem đến Giê-ru-sa-lem, đến cửa của cổng bên trong, hướng về phía bắc, là nơi đặt hình tượng ghen tuông, là vật làm cho nổi ghen. 4. Kìa vinh quang của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hiện diện tại đó, giống như tôi đã thấy trong khải tượng tại thung lũng.
  3. Ngài phán với tôi: Hỡi con người! Hãy ngước mắt về phía bắc. Vì vậy tôi ngước mắt về phía bắc, và kìa, về phía bắc của cổng bàn thờ, tại lối vào có hình tượng ghen tuông. 6. Ngài phán với tôi: Hỡi con người! Ngươi có thấy điều họ đang làm phải không? Những điều quá kinh tởm mà nhà Y-sơ-ra-ên đã phạm tại đây khiến Ta phải xa đền thánh của Ta. Nhưng hãy quay trở lại, ngươi sẽ còn thấy những điều kinh tởm hơn nữa.
  4. Sau đó, Ngài đem tôi đến cổng vào sân đền thờ. Tôi nhìn, và kìa, có một lỗ hổng trên tường. 8. Ngài phán với tôi: Hỡi con người! Hãy đục vào tường. Khi tôi đục tường xong, thì thấy có một cái cửa. 9. Ngài phán với tôi: Hãy vào và xem những điều kinh tởm mà họ đang làm ở đây. 10. Vì vậy, tôi đã vào và xem. Kìa, chung quanh tường có chạm đủ mọi thứ côn trùng, những thú vật kinh tởm, và tất cả những thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên. 11. Đứng trước những vật đó là bảy mươi trưởng lão của nhà Y-sơ-ra-ên, trong số đó có Gia-a-xa-nia, con trai của Sa-phan. Mỗi người tay cầm lư hương, khói hương bay lên nghi ngút.
  5. Sau đó, Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người! Ngươi có thấy những điều mà các trưởng lão của nhà Y-sơ-ra-ên đang làm trong bóng tối hay không? Mỗi người ở trong những cái phòng đầy hình tượng của mình, bởi vì chúng nói rằng: Đức Giê-hô-va không thấy chúng ta đâu. Đức Giê-hô-va đã từ bỏ đất nước này.
  6. Ngài phán với tôi: Hãy quay trở lại. Ngươi sẽ còn thấy những điều kinh tởm hơn nữa mà chúng đang làm. 14. Ngài dẫn tôi đến lối vào cổng phía bắc của nhà Đức Giê-hô-va. Kìa, tôi thấy các phụ nữ ngồi khóc thần Tham-mu tại đó. 15. Ngài phán với tôi: Hỡi con người! Ngươi có thấy điều đó không? Hãy quay trở lại. Ngươi sẽ còn thấy những điều kinh tởm hơn những điều nầy nữa.
  7. Sau đó, Ngài đem tôi vào sân bên trong của nhà Đức Giê-hô-va. Kìa, tại cổng của đền thờ Đức Giê-hô-va, ở giữa hiên cửa và bàn thờ, có khoảng hai mươi lăm người đàn ông, lưng quay về phía đền thờ của Đức Giê-hô-va, mặt hướng về phía đông và họ thờ lạy mặt trời ở phương đông.
  8. Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người! Ngươi đã thấy, phải không? Những điều kinh tởm mà nhà Giu-đa đã làm ở đây có phải là việc nhỏ hay sao? Nầy, chúng đã làm cho đất nước nầy đầy dẫy sự bạo ngược, rồi còn quay lại chọc giận Ta nữa? Nầy, chúng đã đặt một nhánh cây vào lỗ mũi của chúng. 18. Vì vậy, Ta sẽ đối xử với chúng theo cơn giận của Ta. Mắt của Ta sẽ không đoái xem và cũng không thương xót chúng. Dù cho chúng có khóc lóc lớn tiếng vào tai của Ta, Ta cũng sẽ không nghe chúng.

 

9

  1. Ngài nói thật lớn tiếng vào tai của tôi rằng: Những người chịu trách nhiệm trong thành! Hãy đến. Mỗi người hãy cầm vũ khí hủy diệt trong tay của mình.
  2. Kìa, có sáu người, từ cổng phía trên, hướng về phía bắc, đã đến. Mỗi người cầm vũ khí tàn sát trong tay. Có một người trong số những người đó mặc vải gai, đeo tráp bút mực ở bên hông. Họ đã bước vào và đứng bên cạnh bàn thờ bằng đồng.
  3. Sau đó, vinh quang của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã cất lên khỏi Chê-rúp, là nơi thường ngự, để đến tại ngưỡng cửa đền thờ. Ngài đã gọi người mặc vải gai, đeo tráp bút mực ở bên hông. 4. Đức Giê-hô-va phán với ông: Hãy đi khắp thành, khắp cả Giê-ru-sa-lem, đánh dấu trên trán những người đã than thở và khóc lóc về mọi việc kinh tởm đã xảy ra trong thành. 5. Tôi nghe Ngài phán với những người kia: Hãy đi theo người đó khắp cả thành để hủy diệt. Mắt của các ngươi đừng bỏ sót ai, và cũng đừng thương hại ai. 6. Các ngươi phải giết hết: người già, người trẻ, thiếu nữ, trẻ em, và phụ nữ, nhưng các ngươi đừng đụng đến những người có dấu trên trán. Các ngươi hãy bắt đầu từ nơi thánh của Ta.

Sau đó, họ bắt đầu giết các trưởng lão đang ở trước đền thờ.

  1. Ngài phán cùng những người đó: Hãy làm cho đền thờ bị ô uế. Hãy làm các sân đầy những xác chết. Hãy tiến hành.

Sau đó, họ đã đi ra rồi tàn sát trong thành.

  1. Trong khi họ đang tàn sát, chỉ còn lại một mình tôi, tôi đã sấp mặt xuống đất, cầu xin thật lớn: Ôi Chúa, là Đức Giê-hô-va! Không lẽ Ngài trút cơn giận trên Giê-ru-sa-lem mà hủy diệt tất cả dân còn sót lại của Y-sơ-ra-ên hay sao?
  2. Ngài phán với tôi: Tội ác của nhà Y-sơ-ra-ên và của Giu-đa thật quá lớn. Xứ sở đầy dẫy máu, thành phố đầy dẫy bất công, bởi vì họ nói rằng: Đức Giê-hô-va đã lìa bỏ đất nầy. Đức Giê-hô-va không nhìn thấy đâu. 10. Về phần Ta, mắt của Ta sẽ không đoái xem, và cũng không thương xót. Ta sẽ làm cho các đường lối của chúng đổ lại trên đầu của chúng.
  3. Bấy giờ người mặc y phục bằng vải gai mịn, đeo tráp bút mực ở bên hông, đã trở lại báo cáo vấn đề: Con đã làm xong những gì Ngài đã truyền cho con.

 

10

  1. Lúc đó tôi nhìn, và thấy trong vòm trời phía trên đầu của các chê-ru-bim xuất hiện một vật gì giống như một cái ngôi bằng đá bích ngọc. 2. Ngài phán cùng người mặc y phục bằng vải gai mịn rằng: Hãy đi vào, đến chỗ các bánh xe dưới chân của chê-rúp. Hãy hốt đầy những than lửa đang cháy ở giữa các chê-ru-bim vào tay của ngươi, rồi rải chúng khắp thành phố. Người đó đã đi vào, ngay trước mắt của tôi.
  2. Lúc đó các chê-ru-bim đang đứng ở phía nam của đền thờ. Khi người đó đi vào, có một đám mây phủ đầy sân trong. 4. Vinh quang của Đức Giê-hô-va từ chê-rúp đã cất lên, đến ngự tại ngưỡng cửa của đền thờ. Ðền thờ đầy mây và sân của đền thờ sáng rực bởi vinh quang của Đức Giê-hô-va. 5. Tiếng vỗ cánh của các chê-ru-bim có thể nghe rõ ở sân ngoài, giống như tiếng của Ðức Chúa Trời Toàn Năng khi Ngài tuyên phán.
  3. Sau khi Đức Giê-hô-va đã truyền cho người mặc y phục bằng vải gai mịn rằng: Hãy lấy lửa từ giữa các bánh xe ở giữa các chê-ru-bim. Người đó đã đi vào, rồi đứng bên cạnh một bánh xe. 7. Một chê-rúp trong các chê-ru-bim đã đưa tay ra lấy một ít lửa đang ở giữa các chê-ru-bim, đặt vào tay của người mặc y phục bằng vải gai mịn. Người đó đã nhận, rồi đi ra.
  4. Dưới các cánh của các chê-ru-bim có cấu trúc giống như bàn tay của loài người. 9. Tôi nhìn và thấy có bốn bánh xe bên cạnh các chê-ru-bim. Một bánh xe cho chê-rúp nầy, và một bánh xe cho chê-rúp khác. Các bánh xe xuất hiện có màu giống như bích ngọc. 10. Sự xuất hiện của cả bốn nhưng giống như một: giống như một bánh xe ở trong một bánh xe. 11. Khi họ di chuyển, họ đi theo một trong bốn hướng, họ cứ đi mà không phải quay lại để đi; bởi vì cái đầu nhìn về hướng nào thì các chê-ru-bim đi về hướng đó mà không quay lại khi đi. 12. Toàn thân của các chê-ru-bim, lưng, tay, cánh, và các bánh xe, đều có đầy những con mắt ở chung quanh. Các bánh xe của cả bốn đều có như vậy. 13. Tôi nghe các bánh xe đó được gọi là “những bánh xe quay.” 14. Mỗi chê-rúp có bốn mặt, mặt thứ nhất là mặt chê-rúp, mặt thứ hai là mặt người, mặt thứ ba là mặt sư tử, và mặt thứ tư là mặt chim đại bàng.
  5. Sau đó, các chê-ru-bim được cất lên. Đây là sinh vật mà tôi đã thấy bên bờ sông Kê-ba. 16. Khi các chê-ru-bim di chuyển, các bánh xe bên cạnh họ cũng di chuyển. Khi các chê-ru-bim cất cánh bay lên khỏi đất, các bánh xe không quay lại, nhưng vẫn ở bên cạnh họ. 17. Khi họ đứng yên, chúng đứng yên. Khi họ bay lên, chúng cũng bay lên, bởi vì Thần Linh của sinh vật ở trong chúng.
  6. Vinh quang của Đức Giê-hô-va rời khỏi ngưỡng cửa đền thờ, và ngự trên các chê-ru-bim. 19. Các chê-ru-bim cất cánh bay lên khỏi đất ngay trước mắt tôi. Khi họ ra đi, các bánh xe cũng đi bên cạnh. Họ đã đứng lại tại lối vào cổng phía đông của nhà Đức Giê-hô-va. Vinh quang của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ngự trên họ.
  7. Đây là những sinh vật mà tôi đã thấy bên dưới Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên bên bờ sông Kê-ba, và tôi biết rằng họ là các chê-ru-bim. 21. Mỗi chê-rúp có bốn mặt và bốn cánh, dưới các cánh có vật gì giống như những bàn tay của loài người. 22. Diện mạo của họ giống như diện mạo của các sinh vật mà tôi đã thấy nơi bờ sông Kê-ba – cả hình trạng lẫn bản thể. Mỗi vị đều nhìn thẳng và mỗi vị đều đi thẳng về phía trước.

 

11

  1. Thần đã cất tôi lên, rồi đem tôi đến cổng phía đông của nhà Đức Giê-hô-va, tức là cổng nhìn về hướng đông. Kìa, tại lối vào của cổng có hai mươi lăm người. Tôi thấy trong số đó có Gia-a-xa-nia, con trai của A-xua, và Phê-la-tia, con trai của Bê-na-gia, là những lãnh đạo của dân chúng.
  2. Ngài phán với tôi: Hỡi con người! Đây là những kẻ đang toan tính chuyện gian tà và lập mưu gian ác trong thành nầy. 3. Chúng nói: “Không phải gần đến thời điểm để xây nhà. Thành là cái nồi, và chúng ta hãy làm thịt.” 4. Vì vậy ngươi hãy nói tiên tri chống lại chúng. Hỡi con người! Hãy nói tiên tri.
  3. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên tôi, Ngài phán cùng tôi: Hãy công bố rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Các ngươi đã nói như vậy bởi vì Ta biết tất cả những suy nghĩ trong tâm trí của các ngươi. 6. Các ngươi đã giết rất nhiều người trong thành nầy, và làm cho những đường phố đầy xác chết. 7. Cho nên Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Những kẻ bị giết mà các ngươi đã đem đặt ở giữa thành là thịt, và thành là cái nồi, nhưng Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi đó. 8. Các ngươi sợ gươm đao nhưng Ta sẽ khiến gươm đao đến trên các ngươi. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy. 9. Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi thành nầy, Ta sẽ trao các ngươi vào tay của dân ngoại, rồi Ta sẽ thi hành án phạt trên các ngươi. 10. Các ngươi sẽ gục ngã bởi gươm. Ta sẽ trừng phạt các ngươi ngay trong biên giới của Y-sơ-ra-ên, để các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 11. Thành này không phải là cái nồi của các ngươi và các ngươi cũng không phải là thịt ở trong đó. Ta sẽ trừng phạt các ngươi ngay trong biên giới của Y-sơ-ra-ên. 12. Và rồi các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va, bởi vì các ngươi đã không bước theo những luật lệ của Ta, cũng không vâng giữ các phán quyết của Ta, nhưng các ngươi đã làm theo những tập tục của các nước ở chung quanh các ngươi.
  4. Khi tôi đang nói tiên tri thì Phê-la-tia, con trai của Bê-na-gia, chết. Tôi đã sấp mặt xuống và kêu lớn tiếng rằng: Ôi! Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va! Ngài sắp diệt hết dân còn sót lại của Y-sơ-ra-ên hay sao?
  5. Và rồi, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 15. Hỡi con người! Những người bà con của ngươi, những người thân thuộc của ngươi, những đồng hương của ngươi, và toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên, là những người đã bị dân cư ở Giê-ru-sa-lem nói rằng: “Hãy lìa xa Đức Giê-hô-va! Đất nầy đã được ban cho chúng tôi làm sản nghiệp.” 16. Vì vậy, ngươi hãy nói: Chúa, là Giê-hô-va, phán như thế nầy: Mặc dù Ta đã ném họ giữa vòng nhiều dân tộc xa lạ, đã phân tán họ trong nhiều nước, nhưng Ta vẫn là nơi thánh cho họ trong một thời gian ngắn tại những nước mà họ đã đến. 17. Vì vậy, ngươi hãy nói: Chúa, là Giê-hô-va, phán như thế nầy: Ta sẽ nhóm các ngươi lại từ các dân, Ta sẽ tập họp các ngươi lại từ các nước mà các ngươi đã bị phân tán, và Ta sẽ ban cho các ngươi đất Y-sơ-ra-ên. 18. Họ sẽ đến đó và sẽ dẹp bỏ tất cả những vật gớm ghiếc và tất cả những vật đáng kinh tởm khỏi nơi đó. 19. Ta sẽ ban cho họ một tấm lòng mới, Ta sẽ ban cho họ một tâm linh mới, Ta sẽ lấy tấm lòng bằng đá ra khỏi thân xác của họ, và ban cho họ một tấm lòng bằng thịt, 20. để họ sẽ đi theo những luật lệ của Ta, gìn giữ các mạng lịnh của Ta, và thực hiện những điều đó. Họ sẽ làm dân của Ta, và Ta sẽ là Ðức Chúa Trời của họ. 21. Nhưng những kẻ để lòng mình đi theo những vật gớm ghiếc và đáng kinh tởm, thì Ta sẽ báo trả trên đầu của chúng những gì mà chúng đã làm. Chúa, là Giê-hô-va, phán như vậy.
  6. Sau đó các chê-ru-bim đã cất cánh bay lên cùng với những bánh xe ở bên cạnh họ. Vinh quang của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ngự trên họ. 23. Vinh quang của Đức Giê-hô-va cất lên từ giữa thành rồi đứng lại trên ngọn núi về phía đông của thành.
  7. Trong khải tượng, Thần Linh đã cất tôi lên, tôi được Thần Linh của Đức Chúa Trời đem vào xứ Canh-đê, đến với những người bị lưu đày. Sau đó, khải tượng mà tôi đã thấy rời khỏi tôi. 25. Tôi thuật lại cho những người đang bị lưu đày tất cả những điều mà Đức Giê-hô-va đã bày tỏ cho tôi.

12

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Ngươi đang sống ở giữa một nhà phản loạn, là những kẻ có mắt để nhìn mà không thấy, những kẻ có tai để nghe nhưng không nghe. 3. Vì vậy, hỡi con người! Ngươi hãy chuẩn bị hành lý cho việc lưu đày, rồi hãy đi lưu đày ngay giữa ban ngày trước mắt của chúng. Ngươi hãy làm như kẻ bị lưu đày từ chỗ của ngươi đến một nơi khác, ngay trước mắt của chúng. Dù chúng là nhà nổi loạn, nhưng biết đâu chúng sẽ suy nghĩ lại. 4. Ban ngày, ngươi hãy mang hành lý của kẻ bị lưu đày ngay trước mắt của chúng. Tối lại, ngươi sẽ mang hành lý ra đi trước mắt của chúng như là bị đi lưu đày. 5. Ngươi hãy đục tường rồi đem hành lý của ngươi đi qua đó, ngay trước mắt của chúng. 6. Trước mắt của chúng, ngươi hãy vác hành lý trên vai rồi đi ra vào lúc trời sụp tối. Hãy che mặt của ngươi lại để ngươi không nhìn thấy đất này, vì Ta sắp đặt ngươi như là một dấu hiệu cho nhà Y-sơ-ra-ên.
  2. Tôi đã làm như tôi đã được truyền dặn. Ban ngày tôi mang hành lý ra đi giống như bị đi lưu đày. Tối đến, tôi dùng tay của tôi đào tường, rồi tôi mang hành lý ra đi vào lúc trời sụp tối. Tôi vác nó trên vai ngay trước mắt của họ.
  3. Ðến sáng, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 9. Hỡi con người! Nếu nhà Y-sơ-ra-ên, là nhà phản nghịch đó hỏi ngươi rằng: Ông đang làm gì vậy? 10. Ngươi hãy nói với chúng rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nỗi cưu mang nầy liên quan đến những người cầm quyền tại Giê-ru-sa-lem và toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên đang sống giữa nơi đó. 11. Ngươi hãy nói: “Tôi là một dấu hiệu cho các ngươi. Tôi đã làm điều gì thì họ sẽ làm như vậy. Họ sẽ bị bắt và bị lưu đày. 12. Người cầm quyền ở giữa họ sẽ vác đồ của mình trên vai và ra đi vào lúc trời sụp tối. Người ta sẽ đào tường để đem đồ đi qua đó. Người sẽ che mặt của mình lại để mắt của ông không nhìn thấy đất nầy.”
  4. Ta cũng sẽ giăng lưới của Ta trên người, và người sẽ vướng vào bẫy của Ta. Ta sẽ đem người qua Ba-by-lôn là đất của dân Canh-đê, nhưng người sẽ không thấy nó, mặc dù người sẽ chết tại đó. 14. Ta sẽ phân tán các cận thần đã giúp đỡ người và toàn thể quân lính của người ra khắp các hướng gió, và rồi Ta sẽ tuốt gươm theo đuổi chúng. 15. Khi Ta làm tản lạc chúng giữa các dân và phân tán chúng trong các nước thì chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 16. Nhưng Ta sẽ chừa lại một số ít người được thoát khỏi gươm đao, đói kém, dịch bệnh, để họ có thể thuật lại tất cả những chuyện kinh tởm của mình cho các dân tộc mà họ sẽ đi đến, và tại đó họ sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  5. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 18. Hỡi con người! Hãy vừa ăn bánh, vừa run. Hãy vừa uống nước, vừa hoang mang lo sợ. 19. Và rồi hãy nói với dân trong xứ rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy về cư dân tại Giê-ru-sa-lem và trong đất Y-sơ-ra-ên. Họ sẽ ăn bánh trong sự lo âu và uống nước trong sự sợ hãi, bởi vì đất nầy sẽ trở nên hoang tàn, do sự bạo tàn của tất cả những kẻ ở trong đó. 20. Những thành có dân ở sẽ trở nên hoang vắng, và xứ sở sẽ trở nên hoang vu. Như vậy, các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  6. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 22. Hỡi con người! Giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên có một tục ngữ: “Ngày tháng trôi qua, nhưng mọi khải tượng đều không ứng nghiệm.” 23. Vì vậy, ngươi hãy nói với họ: Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Ta sẽ làm cho câu tục ngữ đó chấm dứt, và sẽ không còn ai dùng nó làm tục ngữ trong Y-sơ-ra-ên nữa. Nhưng ngươi hãy nói với họ rằng: “Trong những ngày gần đến, mọi khải tượng sẽ trở thành sự thật!” 24. Thật vậy, rồi đây sẽ không còn những khải tượng giả hoặc sứ điệp tâng bốc trong nhà Y-sơ-ra-ên nữa. 25. Bởi vì Ta là Đức Giê-hô-va, Ta sẽ phán và lời mà Ta phán sẽ trở thành sự thật, sẽ không chậm trễ nữa đâu. Hỡi nhà nổi loạn! Chính trong thời của các ngươi, Ta sẽ công bố sứ điệp và Ta sẽ hoàn tất. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  7. Và rồi, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 27. Hỡi con người! Nhà Y-sơ-ra-ên nói rằng: Khải tượng mà người nầy thấy còn lâu mới thành sự thật. Ông ta nói tiên tri về một tương lai xa vời. 28. Vì vậy, hãy nói với chúng: Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Không có một lời nào của Ta sẽ bị trì hoãn, nhưng lời mà Ta phán sẽ được thực hiện. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.

 

 

13

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 2. Hỡi con người! Hãy nói tiên tri chống lại các tiên tri của Y-sơ-ra-ên, là những kẻ đang nói tiên tri. Hãy bảo những kẻ tự ý đặt ra những sứ điệp tiên tri đó rằng: Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 3. Chúa, là Đức Giê-hô-va phán: Khốn cho bọn tiên tri dại dột đã theo thần riêng của mình, và không nhìn thấy gì cả. 4. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Các tiên tri của ngươi giống như những con chồn ở chốn hoang tàn. 5. Các ngươi đã không đi lên để xây dựng lại những nơi đổ vỡ trong bức tường của nhà Y-sơ-ra-ên để nó được đứng vững khi bị tấn công trong ngày của Đức Giê-hô-va. 6. Chúng thấy điều hư không và tiên đoán bằng sự dối trá. Chúng nói rằng “Đức Giê-hô-va đã phán” nhưng Đức Giê-hô-va không hề sai chúng, dầu vậy chúng trông mong Ngài làm cho lời của chúng nói trở thành sự thật. 7. Không phải các ngươi đã thấy khải tượng hư không hay sao? Không phải các ngươi đã tiên đoán bằng sự dối trá hay sao? Các ngươi nói rằng: “Đức Giê-hô-va đã phán” mà thật ra Ta chưa hề phán.
  2. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì các ngươi đã nói những lời hư không và nhìn thấy những điều dối trá, cho nên Ta chống lại các ngươi – Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy – 9. Tay của Ta sẽ chống lại những tiên tri đã nhìn thấy những khải tượng hư không và tiên đoán những lời dối trá. Chúng sẽ không được hiện diện trong hội chúng của dân Ta, cũng không được ghi trong danh sách của nhà Y-sơ-ra-ên, và cũng không được bước vào đất của Y-sơ-ra-ên. Các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, là Đức Giê-hô-va.
  3. Bởi vì chúng đã lừa dối dân Ta, nói rằng: “Bình an!” nhưng chẳng có bình an gì cả. Khi có ai xây tường, thì chúng trét vôi trắng lên! 11. Hãy nói với bọn trét vôi trắng đó rằng bức tường đó sẽ sụp đổ. Mưa to sẽ đến. Hỡi mưa đá lớn! Hãy sa xuống. Gió bão sẽ xé nát bức tường đó. 12. Khi bức tường đổ xuống, không phải người ta hỏi các ngươi rằng: Vôi mà các ngươi đã trét trên bức tường bây giờ ở đâu rồi? 13. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Trong cơn giận, Ta sẽ khiến gió bão xé rách nó. Trong cơn thịnh nộ của Ta, Ta sẽ sai mưa lũ đến. Trong cơn giận dữ, Ta sẽ giáng mưa đá lớn để hủy diệt nó.
  4. Ta sẽ phá đổ bức tường mà các ngươi đã trét vôi trắng lên. Ta sẽ hạ nó sát đất đến nỗi chỉ còn trơ trọi cái nền của bức tường. Khi bức tường đổ xuống, các ngươi sẽ bị tiêu diệt giữa nơi đó và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 15. Ta sẽ trút cơn giận trên bức tường và kẻ đã trét vôi trắng trên nó. Ta sẽ nói với các ngươi rằng: Tường chẳng còn nữa, những kẻ trét vôi trắng cũng vậy. 16. Đó là những tiên tri của Y-sơ-ra-ên đã nói tiên tri về Giê-ru-sa-lem và nhìn thấy khải tượng bình an cho thành mà không có bình an gì cả – Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  5. Còn ngươi, hỡi con người! Hãy hướng mặt chống lại những con gái của dân Ta, là những kẻ đã nói tiên tri theo tâm ý của mình. Hãy nói tiên tri nghịch cùng chúng nó. 18. Hãy nói với chúng rằng: Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Khốn cho những kẻ đã may dải bùa để đeo nơi cổ tay, và làm khăn che đầu đủ cỡ để săn linh hồn. Các ngươi muốn săn đuổi linh hồn của dân Ta để bảo vệ linh hồn của các ngươi hay sao? 19. Các ngươi đã dám xúc phạm đến Ta giữa vòng dân sự của Ta. Chỉ vì vài nắm lúa mạch và vài miếng bánh mì mà các ngươi giết những người không đáng chết, và để sống những kẻ không đáng sống. Các ngươi đã lừa dối dân của Ta, là những kẻ nghe theo những lời nói dối.
  6. Vì vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Nầy Ta ghét những dải bùa của các ngươi mà các ngươi dùng để săn linh hồn như bẫy chim. Ta sẽ rút họ ra khỏi cánh tay của các ngươi, và những linh hồn mà các ngươi đã săn như chim sẽ được giải thoát. 21. Ta cũng sẽ xé khăn của các ngươi và cứu dân Ta khỏi tay của các ngươi. Họ sẽ không ở trong tay của các ngươi như miếng mồi nữa. Bấy giờ, các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  7. Bởi vì các ngươi đã lấy điều dối trá làm buồn lòng người công chính, dù chính Ta cũng chưa bao giờ làm cho họ buồn lòng. Nhưng các ngươi đã làm cho tay của kẻ ác được mạnh lên, để chúng không từ bỏ đường lối gian ác của mình, hầu cho chúng được sống; 23. vì vậy các ngươi sẽ không còn thấy khải tượng hư không và cũng không còn tiên đoán nữa. Ta sẽ cứu dân của Ta thoát khỏi tay của các ngươi, và bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.

 

14

  1. Một số trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đã đến với tôi, rồi ngồi trước mặt tôi.
  2. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 3. Hỡi con người! Những kẻ nầy thờ thần tượng trong lòng của chúng, và đã sắp đặt trước mặt chúng những tội lỗi gây cho vấp phạm. Ta có nên để cho chúng tiếp tục cầu hỏi Ta hay không?
  3. Vì vậy, ngươi hãy truyền cho chúng và hãy nói cho chúng rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Bất cứ ai trong nhà Y-sơ-ra-ên đã thờ thần tượng của chúng trong lòng của mình, và đã sắp đặt trước mặt chúng những tội lỗi gây cho vấp phạm, mà còn tìm đến với tiên tri, thì chính Ta là Đức Giê-hô-va sẽ trả lời cho kẻ đã tìm đến, theo như những thần tượng của kẻ đó, 5. để Ta sẽ chiếm lại tấm lòng của nhà Y-sơ-ra-ên, bởi vì tất cả chúng nó đã trở nên xa lạ với Ta vì cớ những thần tượng của chúng.
  4. Vì vậy, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Hãy quay trở lại, hãy từ bỏ những thần tượng của các ngươi, hãy quay mặt của các ngươi khỏi tất cả những sự gớm ghiếc của các ngươi. 7. Bởi vì bất cứ ai trong dân Y-sơ-ra-ên hay là những kiều dân trú ngụ trong Y-sơ-ra-ên, đã lìa xa Ta, đã thờ thần tượng của chúng trong lòng của mình và đã sắp đặt trước mặt chúng những tội lỗi gây cho vấp phạm, mà còn tìm đến với tiên tri để cầu hỏi, thì chính Ta là Đức Giê-hô-va sẽ trả lời cho kẻ đó. 8. Ta sẽ hướng mặt của Ta để chống lại kẻ đó. Ta sẽ khiến kẻ đó trở thành một biểu tượng cho những lời đàm tiếu. Ta sẽ loại bỏ kẻ đó khỏi dân của Ta. Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 9. Nếu tiên tri nào bị dụ dỗ mà nói điều gì, thì chính Ta, là Đức Giê-hô-va, đã để cho tiên tri đó bị dụ dỗ, và Ta sẽ giang tay của Ta ra để chống lại kẻ đó và tiêu diệt kẻ đó khỏi dân Y-sơ-ra-ên của Ta. 10. Chúng sẽ nhận hình phạt theo tội lỗi của chúng – hình phạt dành cho kẻ đi cầu hỏi và hình phạt dành cho kẻ nói tiên tri sẽ như nhau; 11. để nhà Y-sơ-ra-ên sẽ không còn đi lạc lìa xa Ta, và cũng không còn làm ô uế mình với tất cả những vi phạm nữa. Chúng sẽ làm dân của Ta và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của chúng. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  5. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 13. Hỡi con người! Nếu một đất nước nào phạm tội cùng Ta, bất trung với Ta, thì Ta sẽ giang tay ra trên nó, Ta sẽ phá vỡ nguồn lương thực của nó, Ta sẽ sai nạn đói đến với nó, và tiêu diệt cả loài người lẫn loài thú khỏi nó. 14. Dù có ba người là Nô-ê, Đa-ni-ên, và Gióp ở tại đó, họ cũng chỉ cứu được sinh mạng của họ nhờ sự công chính của họ. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  6. Nếu Ta sai những loài thú đến trong đất nước đó để làm cho nó trơ trụi, làm cho nó hoang tàn, không ai đi ngang qua đó nữa bởi vì những loài thú, 16. và nếu trong xứ có ba người đó, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Thật như Ta hằng sống, họ cũng không cứu được con trai hay con gái của mình, nhưng chỉ có họ được cứu, còn xứ sở thì bị hoang tàn.
  7. Hay là nếu Ta đem gươm đao đến trên đất nước đó, rồi phán: Hãy để cho gươm đao đi ngang qua xứ, để Ta sẽ tiêu diệt cả loài người lẫn loài thú khỏi nó, 18. và nếu trong xứ có ba người đó, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Thật như Ta hằng sống, họ cũng không cứu được con trai hay con gái của mình, nhưng chỉ có họ được cứu.
  8. Hay là nếu Ta sai dịch bệnh đến trong đất đó, rồi trút cơn giận để làm đổ máu, diệt hết người và thú vật khỏi nó, 20. thì dù có Nô-ê, Đa-ni-ên, và Gióp ở tại đó – Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Thật như Ta hằng sống, họ cũng không cứu được con trai hay con gái của mình, nhưng họ sẽ cứu được sinh mạng của họ nhờ sự công chính của họ.
  9. Thật vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va phán: Ta sai bốn sự trừng phạt nặng nề là gươm đao, đói kém, thú dữ, và dịch bệnh giáng trên Giê-ru-sa-lem để hủy diệt người và thú vật trong đó. Ta sẽ làm thêm gì nữa?
  10. Nhưng hãy xem! Có một số người sống sót – các con trai và các con gái – sẽ được đem ra khỏi đó; và rồi họ sẽ đến cùng ngươi. Khi ngươi thấy những đường lối của họ và những việc làm của họ, ngươi sẽ được an ủi về tai họa mà Ta đã đem đến trên Giê-ru-sa-lem, cùng tất cả những tai họa mà Ta đã giáng trên đó. 23. Họ sẽ an ủi các ngươi. Khi các ngươi thấy những đường lối của họ và những việc làm của họ thì các ngươi sẽ hiểu rằng không phải là vô cớ mà Ta đã giáng tất cả những điều đó cho nơi đó. Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

15

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 2. Hỡi con người! Gỗ cây nho có gì hơn gỗ của những cây khác, hay cành nho có gì khác hơn những cành cây khác trong rừng? 3. Gỗ của nó có làm được gì không? Người ta có dùng nó làm móc treo được vật gì không? 4. Hãy xem, nó bị ném vào lửa để làm củi đốt. Lửa đã thiêu rụi hai đầu của nó, và khúc giữa đã bị cháy, liệu nó có còn hữu dụng cho việc gì? 5. Nầy, khi nó còn nguyên, nó đã không dùng được vào việc gì, thì khi nó đã bị lửa thiêu và bị đốt cháy, thì nó còn dùng làm gì được nữa?
  2. Vì vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Giống như cây nho giữa vòng những cây trong rừng, là thứ mà Ta ném vào lửa để làm củi, thì Ta cũng sẽ phó cư dân của Giê-ru-sa-lem giống như vậy. 7. Ta sẽ hướng mặt của Ta để chống lại chúng. Chúng sẽ thoát ra khỏi một ngọn lửa, nhưng một ngọn lửa khác sẽ thiêu đốt chúng. Khi Ta hướng mặt của Ta để chống lại chúng thì các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 8. Ta sẽ làm cho xứ sở bị hoang tàn bởi vì chúng đã phản bội Ta. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.

 

 

16

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 2. Hỡi con người! Hãy nói cho Giê-ru-sa-lem biết những việc kinh tởm của nó.
  2. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán với Giê-ru-sa-lem như thế nầy: Nguồn gốc của ngươi và nơi sinh trưởng của ngươi là xứ Ca-na-an. Cha của ngươi là một người A-mô-rít và mẹ của ngươi là một người Hê-tít. 4. Lúc ngươi sinh ra, trong ngày ngươi chào đời, rốn của ngươi không được cắt, ngươi không được tắm trong nước cho sạch, không được xát bằng muối, và cũng không được bọc bằng khăn. 5. Không có mắt nào thương hại ngươi, không ai thương xót ngươi để làm cho ngươi những điều nầy. Trong ngày ngươi chào đời, chính mình ngươi trông thật ghê tởm, và ngươi đã bị quăng ra ngoài đồng trống.
  3. Khi Ta đi ngang qua ngươi, Ta thấy ngươi cựa quậy trong vũng máu của mình. Ta đã phán cùng ngươi khi ngươi đang ở trong vũng máu: Hãy sống! Thật vậy, Ta đã phán cùng ngươi khi ngươi đang ở trong vũng máu rằng: Hãy sống! 7. Ta đã làm cho ngươi thêm nhiều ra như nụ cây mọc ngoài đồng. Ta đã làm cho ngươi lớn lên, trưởng thành, và trở nên xinh đẹp. Ngực ngươi nẩy nở, tóc ngươi dài ra, nhưng ngươi vẫn còn trần truồng.
  4. Và rồi, khi Ta đi ngang qua ngươi, nhìn ngươi, thấy ngươi đã đến tuổi yêu đương. Ta lấy vạt áo che phủ ngươi, che đậy sự trần truồng của ngươi. Phải, Ta đã cam kết với ngươi, kết ước với ngươi và ngươi đã thuộc về Ta. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy. 9. Ta đã tắm cho ngươi trong nước, rửa sạch máu trên ngươi, và xức dầu cho ngươi. 10. Ta mặc áo dài thêu cho ngươi, mang giày da, vấn khăn vải mịn, và mặc vải lụa cho ngươi. 11. Ta trang điểm cho ngươi bằng những vật trang sức, đeo vòng nơi tay, đeo dây chuyền trên cổ; 12. đeo khoen trên mũi, đeo hoa tai nơi tai, và đội mão miện xinh đẹp trên đầu. 13. Ngươi được trang sức bằng vàng và bạc; trang phục bằng vải mịn, hàng lụa, và hàng thêu; ngươi ăn bột thượng hạng, mật ong, và dầu. Ngươi trở nên rất xinh đẹp và xứng đáng với hàng vương giả. 14. Danh tiếng của ngươi lừng lẫy trong các nước nhờ sắc đẹp của ngươi, và bởi sự tráng lệ mà Ta đã ban cho ngươi, khiến vẻ đẹp ngươi thêm toàn hảo. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  5. Nhưng ngươi đã cậy vào sắc đẹp của mình, dựa vào danh tiếng của mình, rồi trở nên dâm đãng. Ngươi làm chuyện dâm loạn với mọi kẻ qua lại, rồi thuộc về hắn. 16. Ngươi đã dùng trang phục của mình trang điểm sặc sỡ cho những nơi tế tự trên cao, để làm chuyện dâm loạn tại những nơi đó – là những chuyện mà trước kia và sau nầy cũng không bao giờ xảy ra. 17. Ngươi cũng đã lấy những đồ trang sức xinh đẹp của Ta, làm bằng vàng của Ta và bạc của Ta mà Ta đã ban cho ngươi, để làm những hình tượng đàn ông rồi làm chuyện dâm ô với chúng. 18. Ngươi đã lấy áo thêu của ngươi mặc cho chúng, rồi dâng dầu và hương liệu của Ta trước mặt chúng. 19. Ngươi cũng đã lấy thực phẩm mà Ta ban cho ngươi, tức là bột thượng hạng, mật ong, và dầu mà Ta cấp cho ngươi, để trình ra trước mặt chúng, rồi dâng làm tế lễ có mùi thơm cho chúng. Ngươi đã làm như vậy. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  6. Hơn thế nữa, ngươi đã bắt các con trai, con gái mà ngươi đã sinh ra cho Ta, đem dâng làm sinh tế để chúng bị thiêu nuốt. Những chuyện dâm loạn đó là nhỏ mọn hay sao? 21. Ngươi đã giết các con cái của Ta, đem thiêu chúng để dâng cho bọn đó. 22. Khi ngươi làm mọi chuyện gớm ghiếc và dâm đãng đó, ngươi đã không nhớ những ngày ngươi còn thơ ấu, khi ngươi bị trần truồng, trơ trụi, và bị vứt bỏ nhơ nhớp trong vũng máu.
  7. Chúa, là Đức Giê-hô-va phán: Khốn cho ngươi! Khốn cho ngươi! Sau mọi điều gian ác của ngươi, 24. ngươi còn xây cho mình miếu thờ và làm chỗ tế tự thật cao trên tất cả đường phố. 25. Ở mọi đầu đường, ngươi đã xây chỗ tế tự thật cao, rồi làm hoen ố vẻ đẹp của ngươi. Ngươi dang chân của mình cho khách qua đường, và rồi sự dâm loạn cứ gia tăng.
  8. Ngươi đã làm điếm với những người Ai-cập, những kẻ láng giềng thèm khát nhục dục. Ngươi đã gia tăng sự dâm đãng để chọc giận Ta. 27. Vì vậy, Ta đã giang tay của Ta ra để chống lại ngươi. Ta thu hẹp biên cương của ngươi và phó ngươi cho ý muốn của những kẻ ghét ngươi. Các con gái của Phi-li-tin cũng hổ thẹn về sự dâm ô của ngươi.
  9. Vì ngươi chưa thỏa mãn, cho nên ngươi làm điếm cho người A-sy-ri. Thật vậy, ngươi đã làm điều dâm đãng với chúng nhưng vẫn chưa thỏa mãn. 29. Thêm vào đó, ngươi cũng làm nhiều điều dâm đãng với người Canh-đê, là vùng đất thương mãi, dầu vậy ngươi vẫn chưa thỏa mãn.
  10. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Sao lòng của ngươi đồi bại như vậy! Ngươi đã phạm tất cả những việc của một phụ nữ tà dâm mà ngươi không biết xấu hổ. 31. Ngươi đã cất miếu thờ ở các đầu đường. Ngươi xây chỗ tế tự thật cao tại các góc phố. Tuy nhiên, ngươi không giống như các gái điếm bình thường, vì ngươi không cần tiền bán dâm. 32. Ngươi là đàn bà ngoại tình, lấy kẻ xa lạ thay vì chồng mình. 33. Đàn ông trả tiền cho gái điếm, nhưng ngươi trả tiền cho tất cả những tình nhân của ngươi, để mướn chúng. Và chúng từ khắp nơi đến để làm chuyện dâm đãng với ngươi. 34. Ngươi đã làm trái ngược với những phụ nữ khác trong chuyện dâm đãng. Không ai tìm ngươi để mua dâm, nhưng ngươi lại trả tiền cho khách thay vì khách trả tiền cho ngươi. Ngươi làm chuyện trái ngược là như vậy.
  11. Vậy nên, hỡi gái điếm! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 36. Chúa, là Giê-hô-va, phán: Bởi vì sự dơ bẩn của ngươi đã tuôn ra, sự lõa lồ của ngươi đã bị phơi bày qua những chuyện dâm đãng với các tình nhân của ngươi, cùng với tất cả những thần tượng kinh tởm của ngươi, bởi vì máu của con cái ngươi đã hiến tế cho chúng. 37. Vì vậy, Ta sẽ tụ họp tất cả tình nhân của ngươi, là những người đã nhận sự khoái lạc với ngươi, tất cả những người ngươi yêu cùng tất cả những người ngươi ghét. Ta sẽ tụ họp chúng nó từ khắp nơi để chống lại ngươi. Ta sẽ lột truồng ngươi trước mặt chúng và chúng sẽ thấy sự trần truồng của ngươi. 38. Ta sẽ đoán phạt ngươi như một người đàn bà phạm tội ngoại tình, một kẻ gây đổ máu bị đoán phạt. Ta sẽ đổ máu thịnh nộ và ghen tuông trên ngươi. 39. Ta sẽ trao ngươi vào tay của chúng. Chúng sẽ đạp đổ những miếu thờ của ngươi, phá tan những chỗ tế tự trên cao của ngươi. Chúng sẽ lột trang phục của ngươi, lấy hết những đồ trang sức đẹp đẽ của ngươi, để ngươi trần trụi lõa lồ. 40. Chúng sẽ tập hợp một hội chúng để chống lại ngươi. Họ sẽ ném đá ngươi, và dùng gươm của họ để đâm ngươi. 41. Chúng sẽ đốt nhà của ngươi, và thi hành sự trừng phạt ngươi trước mắt nhiều phụ nữ. Ta sẽ làm cho ngươi chấm dứt chơi trò dâm loạn, và ngươi cũng không còn đưa tiền cho ai nữa. 42. Và rồi, Ta sẽ để cho cơn giận của Ta đối với ngươi được an nghỉ, cơn ghen của Ta dành cho ngươi sẽ ra đi, và Ta sẽ không giận ngươi nữa. 43. Bởi vì ngươi không nhớ những ngày thơ ấu của mình, nhưng đã chọc giận Ta với tất cả những điều này, vì vậy Ta sẽ báo trả lên đầu ngươi những hành động của ngươi. Không phải ngươi đã thêm những chuyện dâm ô vào tất cả những việc kinh tởm kia hay sao? Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  12. Nầy, mọi người dùng châm ngôn sẽ dùng câu châm ngôn nầy để ám chỉ ngươi: “Mẹ nào con nấy.” 45. Ngươi là con gái của mẹ ngươi, là kẻ đã chán bỏ chồng con của mình. Ngươi là chị em với chị em của ngươi, là những kẻ đã chán bỏ chồng con của mình. Mẹ của ngươi là một người Hê-tít, và cha của ngươi là một người A-mô-rít. 46. Chị của ngươi là Sa-ma-ri, sống với các con gái của nó ở phía bắc của ngươi. Em của ngươi là Sô-đôm, sống với các con gái của nó ở phía nam của ngươi. 47. Ngươi không những đã đi theo những đường lối của chúng và hành động theo những điều gớm ghiếc của chúng, nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ mọn, ngươi đã tự làm cho mình băng hoại hơn chúng trong mọi đường lối của ngươi.
  13. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Thật như Ta hằng sống! Sô-đôm, em gái ngươi, chính nó và con gái của nó cũng chưa từng làm như ngươi và con gái ngươi đã làm. 49. Hãy xem! Đây là tội của Sô-đôm, em gái ngươi: Nó và các con gái của nó kiêu căng. Chúng có dư thừa thực phẩm và sống sung sướng nhàn hạ, nhưng không ra tay giúp đỡ người nghèo và người khốn cùng. 50. Chúng nó kiêu căng, làm những việc ghê tởm trước mặt Ta, nên Ta đã loại trừ chúng như ngươi đã thấy. 51. Sa-ma-ri đã phạm chưa đến một nửa tội lỗi mà ngươi đã phạm. Ngươi đã làm nhiều điều kinh tởm hơn chúng. So với mọi điều kinh tởm mà ngươi đã làm, thì các chị em gái của ngươi được xem như là công chính. 52. Ngươi, là kẻ đã phán xét các chị em của ngươi, hãy mang lấy sự nhục nhã cho mình, bởi vì những tội lỗi mà ngươi đã phạm còn kinh tởm hơn chúng, cho nên chúng công chính hơn ngươi. Thật vậy, ngươi hãy xấu hổ và mang lấy sự nhục nhã cho mình, bởi vì ngươi đã làm cho chị em của ngươi được xem như là công chính.
  14. Ta sẽ đem những kẻ bị lưu đày của Sô-đôm và các con gái của nó, những kẻ bị lưu đày của Sa-ma-ri và các con gái của nó, và những kẻ bị lưu đày của ngươi ở giữa chúng nó trở về, 54. để ngươi sẽ gánh chịu sự nhục nhã và xấu hổ về tất cả những điều mà ngươi đã làm, và ngươi sẽ trở thành cớ để chúng được an ủi. 55. Em gái của ngươi là Sô-đôm và các con gái của nó sẽ trở về tình trạng như trước, Sa-ma-ri và các con gái của nó sẽ trở về tình trạng như trước, ngươi và các con gái của ngươi sẽ trở về tình trạng như trước. 56. Trong ngày ngươi kiêu hãnh, miệng của ngươi không hề nhắc đến Sô-đôm, là em gái của ngươi. 57. Trước kia sự gian ác của ngươi chưa được phơi bày, nhưng bây giờ ngươi đã trở thành một đề tài chế giễu cho các con gái ở A-ram cùng tất cả những kẻ ở chung quanh nó, và cho các con gái của dân Phi-li-tin. Những kẻ ở chung quanh ngươi khinh miệt ngươi. 58. Ngươi phải gánh chịu hậu quả của sự dâm loạn và những chuyện kinh tởm của mình. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  15. Bởi vì Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Ngươi đã khinh thường lời thề và phá hủy giao ước, nên Ta sẽ đối xử với ngươi tương xứng với điều ngươi đã làm. 60. Dầu vậy, Ta sẽ nhớ lại giao ước mà Ta đã lập với ngươi khi ngươi còn thơ ấu, và Ta sẽ lập với ngươi một giao ước đời đời. 61. Ngươi sẽ nhớ lại đường lối của mình, và sẽ xấu hổ khi tiếp đón những chị em của mình, người già hơn cho đến người trẻ hơn. Ta ban chúng nó làm con gái của ngươi dù chúng nó không có trong giao ước giữa Ta với ngươi. 62. Ta sẽ lập giao ước của Ta với ngươi, và ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 63. Để rồi ngươi có thể nhớ lại và xấu hổ, không còn mở miệng nói hay hướng mặt về sự hổ nhục của ngươi nữa, bởi vì Ta đã tha thứ tất cả những điều mà ngươi đã làm – Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.

 
17

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 2. Hỡi con người! Hãy nói một ẩn dụ, hãy kể một ngụ ngôn về nhà Y-sơ-ra-ên. 3. Ngươi hãy nói Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như vầy: Có một con chim phượng hoàng thật lớn, cánh rộng, lông cánh dài, bộ lông đầy đặn và rực rỡ màu sắc, đã bay đến Li-ban, rồi chiếm lấy cành cao nhất của cây bá hương. 4. Nó cắn đứt đọt non của ngọn cây, tha về xứ của dân buôn bán, rồi đặt nó trong thành của các thương gia. 5. Nó lấy hạt giống của xứ đem trồng nơi đất tốt bên cạnh nơi có nhiều nước, như trồng cây liễu. 6. Hạt đã mọc lên trở thành một cây nho sum suê, thấp là đà. Các cành của nó hướng về phía chim ưng, những rễ của nó đâm sâu xuống bên dưới. Nó trở thành một cây nho, mọc nhiều cành và những chồi non. 7. Cũng có một con chim phượng hoàng khác thật lớn, cánh rộng, lông nhiều. Kìa, cây nho này đã từ luống đất mình đã được trồng, nhưng đâm rễ, trổ cành hướng về phía con chim phượng hoàng nầy để có thể được tưới nước.
  2. Cây nho đã được trồng nơi đất tốt, gần chỗ nhiều nước, để đâm cành, kết trái, để trở nên một cây nho sung mãn. 9. Ngươi hãy nói: Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như vầy: Nó có trở nên sung mãn được không? Không phải rễ của nó sẽ bị nhổ, trái của nó sẽ bị cắt, rồi nó sẽ bị để cho khô héo hay sao? Tất cả những lá mà nó mọc ra sẽ bị khô héo. Lúc đó, không cần một cánh tay mạnh mẽ hay phải có nhiều người để nhổ rễ của nó lên. 10. Nầy, nó đã được trồng, nhưng nó có thể trở nên tươi tốt được không? Lúc gió đông thổi qua thì nó sẽ không bị khô héo hoàn toàn hay sao? Nó sẽ khô héo ngay trên luống đất mà nó đã mọc lên.
  3. Và rồi, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 12. Hãy nói với nhà phản nghịch đó rằng các ngươi không biết điều đó có ý nghĩa gì hay sao? Hãy nói với chúng: Kìa, vua của Ba-by-lôn đã đến Giê-ru-sa-lem, đã bắt vua và các lãnh đạo, rồi đem họ đi với hắn về Ba-by-lôn. 13. Hắn đã bắt một người trong hoàng tộc, lập giao ước với hắn, cam kết với hắn, rồi hắn bắt đi những nhân vật quyền thế trong xứ, 14. để vương quốc chỉ còn lại sát móng, không thể tự vươn lên, nhưng phải giữ giao ước với hắn để giao ước đó được đứng vững. 15. Nhưng người đó đã nổi loạn chống lại hắn bằng cách sai những sứ giả đến Ai-cập để xin họ giúp thêm nhiều người và ngựa. Người đó có thể thành công được hay không? Một người làm những việc như vậy mà thoát khỏi hay sao? Có thể nào một người phản bội giao ước mà có thể thoát được?
  4. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Thật như Ta hằng sống! Người đó sẽ chết tại Ba-by-lôn, trong đất của vua đã tôn người lên ngôi, là vua mà người đã coi thường, là vua mà người đó đã hủy bỏ giao ước. 17. Pha-ra-ôn sẽ không đem một đạo binh lớn cùng một lực lượng đông đảo đến để giao tranh cứu viện lúc người ta đắp lũy, dựng đồn để hủy diệt nhiều người. 18. Hãy xem! Bởi vì người đó đã khinh thường sự cam kết, phá hủy giao ước, người đó đã đưa tay làm tất cả những điều này, cho nên người đó sẽ không thoát được.
  5. Vì vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như vầy: Thật như Ta hằng sống! Người đó đã khinh thường lời cam kết của Ta và hủy bỏ giao ước của Ta, cho nên Ta sẽ báo trả lại trên đầu của người đó. 20. Ta sẽ giăng lưới của Ta trên người đó. Người đó sẽ vướng vào lưới của Ta. Ta sẽ đem người đó đến Ba-by-lôn để xét xử người đó tại đó về tội bất trung với Ta. 21. Tất cả những kẻ trốn chạy và những nhóm người đi theo sẽ bị ngã gục bởi gươm. Những kẻ còn sót lại sẽ bị phân tán mọi hướng. Bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta, là Đức Giê-hô-va, đã phán như vậy.
  6. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như vầy: Ta sẽ cắt đọt cao nhất của cây bá hương thật cao, rồi bỏ nó. Ta sẽ ngắt một nhánh non của nó trong số các nhánh non trên cây đó, rồi Ta sẽ đem trồng nó trên một đỉnh núi thật cao. 23. Ta sẽ trồng nó trên một ngọn núi cao của Y-sơ-ra-ên. Nó sẽ đâm chồi, kết trái, và sẽ trở nên một cây bá hương xinh tốt. Đủ loài chim sẽ sống dưới cây đó, và đủ loài có cánh sẽ trú ngụ dưới bóng mát từ những cành của nó. 24. Tất cả những cây ở ngoài đồng sẽ biết rằng Ta, là Đức Giê-hô-va, đã hạ cây cao xuống và cất cây thấp lên, đã làm khô héo cây xanh và làm cho cây khô xanh tốt. Ta, là Đức Giê-hô-va, đã phán và đã thực hiện điều đó.

 

18

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Các ngươi muốn nói gì khi dùng câu tục ngữ nầy cho đất Y-sơ-ra-ên: “Cha ăn trái nho chua mà con bị ghê răng?” 3. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Thật như Ta hằng sống! Các ngươi sẽ không thường dùng câu tục ngữ đó trong Y-sơ-ra-ên nữa. 4. Nầy, tất cả linh hồn đều thuộc về Ta. Linh hồn của cha cũng như linh hồn của con đều thuộc về Ta. Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. 5. Nếu một người sống công chính, làm theo sự công minh, chính trực, 6. không ăn đồ cúng trên núi hoặc hướng mắt của mình về các thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên; không làm nhục vợ của người lân cận mình, cũng không lại gần phụ nữ đang có kinh nguyệt; 7. không áp bức ai, nhưng trả lại của cầm cho kẻ mắc nợ; không trộm cướp vật gì của ai, nhưng ban bánh cho người đói và mặc y phục cho người bị trần truồng; 8. không cho vay lấy lãi, không tăng tiền lãi; rút tay lại không làm điều tội lỗi; phân xử công minh giữa người nầy với người khác; 9. bước đi trong những luật lệ của Ta; vâng giữ những mệnh lệnh của Ta; cư xử chân thật, thì đó là người công chính và người đó chắc chắn sẽ sống. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  2. Nếu một người nào sinh con mà đứa con đó cướp của, giết người, hoặc làm bất cứ điều nào trong những điều sau; 11. dù cha nó không làm điều nào trong những điều đó, nhưng nó ăn đồ cúng trên núi; làm nhục vợ của người lân cận mình; 12. áp bức kẻ nghèo nàn thiếu thốn; dùng bạo lực để cướp đoạt; không trả lại vật bị cầm thế; hướng mắt của mình về những thần tượng và phạm những chuyện kinh tởm; 13. cho vay lấy lãi và tăng tiền lãi, thì đứa con đó sẽ được sống hay không? Không! Nó sẽ không sống bởi vì nó đã phạm những điều kinh tởm. Chắc chắn nó sẽ chết và máu của nó sẽ đổ lại trên nó.
  3. Nhưng nếu người đó sinh một con trai và đứa con trai đó thấy tất cả những tội lỗi mà cha mình đã phạm thì suy xét, không làm điều nào giống như vậy; 15. không ăn đồ cúng trên núi, không hướng mắt của mình về những thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên; không làm nhục vợ của người lân cận mình; 16. không áp bức một người nào, không giữ lại vật bị cầm thế, không cướp giật bằng bạo lực, nhưng ban bánh cho người đói và mặc y phục cho người bị trần truồng; 17. rút tay không hại người nghèo, không đòi lời hay tăng lãi, nhưng thực hành những mệnh lệnh của Ta và bước đi trong những luật lệ của Ta, thì nó sẽ không chết vì sự gian ác của cha nó, nhưng chắc chắn nó sẽ sống. 18. Còn về phần người cha của nó, bởi vì hắn đã ức hiếp cách tàn nhẫn, dùng bạo lực cướp bóc của anh em mình, và làm điều không tốt đẹp giữa vòng dân chúng của mình, thì hắn sẽ chết vì tội ác của mình.
  4. Nhưng các ngươi nói rằng: “Tại sao đứa con lại không gánh chịu tội ác của cha nó?” – Bởi vì đứa con đó đã làm theo sự công minh, chính trực, gìn giữ và thực hiện tất cả những luật lệ của Ta, cho nên chắc chắn nó sẽ sống. 20. Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Con sẽ không gánh chịu tội ác của cha, và cha cũng không gánh chịu tội ác của con. Sự công chính của người công chính sẽ thuộc về người đó. Sự gian ác của kẻ gian ác sẽ thuộc về kẻ đó.
  5. Nhưng nếu kẻ dữ từ bỏ tất cả những tội lỗi mà nó đã phạm, gìn giữ tất cả những luật lệ của Ta, làm theo sự công minh, chính trực, thì chắc chắn nó sẽ sống. Nó sẽ không chết. 22. Không một tội lỗi nào mà nó đã phạm sẽ bị ghi nhớ để chống lại nó. Nó sẽ sống bởi vì sự công chính mà nó đã làm. 23. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Ta có vui thích gì khi kẻ gian ác phải chết? Không phải Ta vui vì nó từ bỏ những đường lối của mình để được sống hay sao?
  6. Nhưng nếu người công chính từ bỏ sự công chính mà phạm tội, rồi làm mọi điều ghê tởm mà kẻ gian ác đã làm, thì người đó sẽ được sống hay sao? Tất cả những điều công chính mà người đó đã làm sẽ không được ghi nhớ. Do những việc bất trung mà người đó đã làm và những tội lỗi mà người đó đã phạm, người đó sẽ chết vì những điều đó.
  7. Nhưng các ngươi nói rằng: “Đường lối của Chúa là không công bằng.” Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe đây! Đường lối của Ta là không công bằng hay đường lối của các ngươi là không công bằng? 26. Nếu một người công chính từ bỏ sự công chính, rồi phạm tội, thì người đó sẽ chết. Người đó sẽ chết vì sự gian ác mà người đó đã phạm. 27. Nếu kẻ ác lìa khỏi việc gian ác mà nó đã phạm, rồi làm điều công minh chính trực, thì nó sẽ cứu được sinh mạng của mình. 28. Bởi vì nó đã suy xét và từ bỏ mọi tội lỗi mà nó đã phạm, nên chắc chắn nó sẽ sống. Nó sẽ không chết. 29. Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên đã nói: “Đường lối của Chúa là không công bằng.” Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Đường lối của Ta là không công bằng hay đường lối của các ngươi là không công bằng?
  8. Cho nên, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Ta sẽ phán xét các ngươi, mỗi người tùy theo đường lối của người đó. Hãy ăn năn và từ bỏ tất cả những tội lỗi của các ngươi. Như vậy, các ngươi sẽ không bị hủy hoại bởi tội lỗi. 31. Hãy quăng xa khỏi các ngươi tất cả những tội lỗi mà các ngươi đã phạm. Hãy làm cho mình một tấm lòng mới và một tâm linh mới. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Tại sao các ngươi muốn chết? 32. Bởi vì Ta không vui về cái chết của một người bị chết. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Hãy quay trở lại để ngươi được sống.

 

19

  1. Ngươi hãy cất tiếng hát một bài ai ca cho các lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên. 2. Hãy nói rằng: Mẹ của ngươi là ai? Là một sư tử cái giữa vòng những sư tử đực, nằm giữa những sư tử tơ, và nuôi nấng các sư tử con. 3. Nàng nuôi dưỡng một trong những sư tử con trở thành một sư tử tơ. Nó tập bắt mồi, và biết ăn nuốt người ta. 4. Các dân tộc nghe danh tiếng của nó. Nó bị mắc bẫy, và người ta dùng xiềng đem nó qua Ai-cập.
  2. Nàng đã thấy chuyện đó, nàng chờ đợi, nhưng niềm hy vọng của nàng không còn. Nàng lấy một sư tử con khác trong bầy, nuôi dưỡng nó trở thành một sư tử tơ. 6. Nó đi lại giữa những sư tử, trở thành một sư tử tơ, tập bắt mồi, và biết ăn nuốt người ta. 7. Nó biết cách làm cho những đền đài của họ hoang tàn, và tàn phá các thành của họ. Xứ sở bị hoang tàn. Tiếng gầm của nó vang vọng khắp nơi. 8. Các nước đã nổi lên chống lại nó. Họ giăng lưới khắp mọi vùng để bắt nó. Nó bị sa vào bẫy của họ. 9. Người ta xiềng nó lại, nhốt vào cũi, đem đến cho vua của Ba-by-lôn. Nó bị giam vào ngục, nên người ta không còn nghe tiếng của nó trên các núi của Y-sơ-ra-ên nữa.
  3. Mẹ của nó như một cây nho trong vườn, được trồng bên mé nước, nhiều cành, nhiều quả bởi vì nhờ có nhiều nước. 11. Nàng có những cành vững chắc có thể trở thành các vương trượng của những bậc cai trị. Vóc dáng của nàng được tôn cao với những cành lá sum suê. Nàng cao lớn với rất nhiều cành.
  4. Nhưng trong cơn thịnh nộ, nàng đã bị nhổ, rồi bị quăng xuống đất. Gió đông đã làm cho những trái của nàng bị khô héo. Những cành cứng nhất của nàng đã bị gãy, bị khô héo, rồi bị thiêu rụi trong lửa. 13. Bây giờ, nàng bị trồng nơi hoang mạc, trong một xứ khô khan, thiếu nước. 14. Lửa đã phát ra từ một trong những cành của nàng, thiêu đốt cả mầm và trái. Nàng không còn cành thật cứng để làm vương trượng nữa.

Đây là lời ai ca đã trở thành một bài ai ca.

 

 

20

  1. Ngày mồng mười, tháng Năm, năm thứ bảy, một số trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đến cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Họ ngồi trước mặt tôi.
  2. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 3. Hỡi con người! Hãy nói cho các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, hãy bảo chúng rằng: Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Có phải các ngươi đến cầu hỏi Ta hay không? Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống! Ta không cho các ngươi cầu hỏi Ta.
  3. Hỡi con người! Ngươi có kết án chúng hay không? Ngươi có kết án hay không? Hãy cho chúng biết những hành động gớm ghiếc mà tổ phụ của chúng đã làm. 5. Hãy nói với chúng Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Trong ngày Ta chọn Y-sơ-ra-ên, Ta đã dùng tay của Ta nâng đỡ dòng dõi của nhà Gia-cốp, và cho chúng biết về Ta tại Ai-cập. Ta đã dùng tay của Ta nâng đỡ chúng và nói rằng: Chính Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.
  4. Trong ngày đó, Ta đã đưa tay của Ta nâng đỡ chúng, đem chúng ra khỏi đất Ai-cập, để đưa chúng vào một xứ mà Ta đã tìm cho chúng, là một xứ đượm sữa và mật, một xứ xinh đẹp hơn tất cả những xứ khác. 7. Ta đã phán với chúng: Mỗi người hãy ném bỏ những vật gớm ghiếc trước mắt các ngươi. Đừng để cho các ngươi bị ô uế bởi những thần tượng của đất Ai-cập bởi vì Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi.
  5. Tuy nhiên, chúng đã nổi loạn chống lại Ta và không nghe Ta. Chúng không từ bỏ những vật gớm ghiếc trước mắt chúng và cũng không từ bỏ những thần tượng của Ai-cập. Khi đó Ta phán rằng Ta sẽ trút cơn giận của Ta trên chúng, để thực thi cơn thịnh nộ của Ta đối với chúng giữa đất Ai-cập. 9. Nhưng vì danh của Ta, Ta đã hành động để Ta không bị xúc phạm trước mắt các dân tộc nơi chúng đang sinh sống. Trước mắt các dân đó, Ta đã cho chúng biết rằng Ta sẽ đem chúng ra khỏi đất Ai-cập.
  6. Vì vậy, Ta đã đem chúng ra khỏi đất Ai-cập, rồi đem chúng vào trong hoang mạc. 11. Ta đã ban cho chúng những luật lệ của Ta và chỉ cho chúng những mạng lịnh của Ta để người nào vâng theo sẽ sống. 12. Thêm vào đó, Ta đã ban cho chúng những ngày Sa-bát để làm một dấu hiệu giữa Ta với chúng, để chúng biết rằng Ta là Giê-hô-va, là Ðấng thánh hóa chúng.
  7. Tuy nhiên, nhà Y-sơ-ra-ên đã nổi loạn chống lại Ta trong hoang mạc. Chúng không bước đi theo những luật lệ của Ta, xem thường những mạng lịnh của Ta, là những điều mà người nào thực hiện thì người đó sẽ được sống. Chúng cũng làm ô uế những ngày Sa-bát của Ta. Lúc đó, Ta phán Ta sẽ trút cơn giận Ta trên chúng và tiêu diệt chúng trong hoang mạc. 14. Nhưng vì danh của Ta, Ta đã hành động để không bị xúc phạm trước các dân tộc, tức là trước mắt các dân mà Ta đã đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi.
  8. Nhưng Ta đã giơ tay của Ta lên, phán với chúng trong hoang mạc rằng Ta sẽ không đem chúng vào trong xứ mà Ta đã ban cho chúng, là một xứ đượm sữa và mật, một xứ xinh đẹp hơn tất cả những xứ khác. 16. Bởi vì chúng đã xem thường những mạng lịnh của Ta, không bước đi theo những luật lệ của Ta, làm ô uế ngày Sa-bát của Ta, bởi vì lòng của chúng đã đi theo những thần tượng của chúng. 17. Dầu vậy, mắt của Ta vẫn dung thứ chúng và không hủy diệt chúng. Ta đã không tuyệt diệt chúng trong hoang mạc.
  9. Ta đã phán cùng những con cháu của chúng trong hoang mạc: Đừng đi theo thói tục của tổ phụ các ngươi, đừng tuân theo những tục lệ của chúng, cũng đừng để bị ô uế vì các thần tượng của chúng. 19. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Hãy bước đi theo những luật lệ của Ta, hãy vâng giữ những mạng lịnh của Ta, và thực hiện những điều đó. 20. Hãy biệt riêng những ngày sa-bát của Ta ra thánh. Chúng sẽ làm một dấu hiệu giữa Ta và các ngươi, để các ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.
  10. Nhưng con cháu của chúng đã nổi loạn chống lại Ta. Chúng không bước đi theo những luật lệ của Ta, cũng không vâng giữ những mạng lịnh của Ta, để người nào làm theo thì người đó sẽ sống. Chúng đã làm ô uế những ngày Sa-bát của Ta. Khi đó, Ta phán rằng Ta sẽ trút cơn thịnh nộ của Ta trên chúng để thi hành cơn giận của Ta trên chúng trong hoang mạc. 22. Tuy nhiên, Ta đã rút tay của Ta lại và đã hành động vì danh của Ta, để danh đó không bị xúc phạm trước mắt các dân ngoại, là những kẻ đã chứng kiến Ta đã đem chúng ra khỏi.
  11. Ta đã đưa tay của Ta lên, phán với chúng trong hoang mạc rằng Ta sẽ làm chúng bị tản lạc giữa các dân và phân tán chúng giữa các nước; 24. bởi vì chúng đã không thi hành những mạng lịnh của Ta, đã xem thường những luật lệ của Ta, đã làm ô uế những ngày Sa-bát của Ta, và mắt của chúng mãi nhìn theo những thần tượng của tổ phụ chúng. 25. Có phải Ta đã ban cho chúng những luật lệ không tốt và những mạng lịnh không đem lại sự sống hay không? 26. Ta đã làm cho chúng bị ô uế bởi vì chúng đem dâng tất cả những con đầu lòng qua lửa. Vì vậy, Ta làm cho chúng bị hoang tàn để cuối cùng chúng biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  12. Vì vậy, hỡi con người! Hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên và bảo chúng rằng Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Tổ phụ của các ngươi đã xúc phạm đến Ta khi chúng phạm tội và bất trung với Ta. 28. Ta đã đem chúng vào xứ mà Ta đã đưa tay của Ta lên để ban cho chúng. Nhưng khi chúng thấy mọi đồi cao và những đám cây rậm, thì chúng đã dâng những vật cúng tế của chúng tại đó. Chúng đã dâng những vật cúng tế để chọc giận Ta tại đó. Chúng cũng dâng hương và rượu tế tại đó. 29. Ta đã hỏi chúng: Nơi cao mà các ngươi đã đến để cúng tế là gì? Vì vậy, chúng đã gọi những nơi đó là “Nơi Cao” cho đến ngày nay.
  13. Vì vậy, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Các ngươi làm ô uế chính mình theo cách tổ phụ của các ngươi. Các ngươi hành dâm theo những việc kinh tởm của họ. 31. Khi các ngươi cúng tế và dâng con cái của các ngươi qua lửa, các ngươi đã làm ô uế chính mình vì tất cả những thần tượng của các ngươi cho đến ngày nay. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Ta có nên để các ngươi cầu khẩn Ta hay không? Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống! Ta không để cho các ngươi cầu hỏi Ta. 32. Những điều các ngươi suy nghĩ trong tâm trí sẽ không bao giờ xảy ra. Các ngươi nói rằng: Chúng tôi muốn giống các dân ngoại, các quốc gia trên đất, thờ phụng gỗ và đá.
  14. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống! Ta sẽ dùng bàn tay quyền năng, cánh tay giang ra, trút đổ cơn thịnh nộ ra để cai trị các ngươi! 34. Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi các dân, tụ họp các ngươi từ những xứ mà các ngươi bị tản lạc bằng bàn tay quyền năng, cánh tay giang ra, rồi trút đổ cơn thịnh nộ. 35. Ta sẽ đem các ngươi vào hoang mạc của các dân. Ta sẽ phán xét các ngươi mặt đối mặt tại đó. 36. Giống như Ta đã phán xét tổ phụ của các ngươi trong hoang mạc thuộc đất Ai-cập thể nào, thì Ta cũng phán xét các ngươi như vậy. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 37. Ta sẽ khiến các ngươi đi qua dưới cây gậy, và sẽ đem các ngươi vào trong mối liên kết của giao ước. 38. Ta sẽ loại bỏ khỏi các ngươi những kẻ phản loạn và những kẻ phạm tội cùng Ta. Ta sẽ đem chúng ra khỏi đất mà chúng đang kiều ngụ, nhưng chúng sẽ không được vào đất Y-sơ-ra-ên. Lúc đó các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  15. Còn ngươi, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Mỗi người hãy đi phục vụ các thần tượng của mình. Nhưng sau đó không phải các ngươi sẽ nghe theo Ta, không còn làm ô danh thánh của Ta bằng những vật cúng tế của các ngươi và những thần tượng của các ngươi nữa hay sao? 40. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Vì trên núi thánh của Ta, trên nơi cao của Y-sơ-ra-ên, cả nhà Y-sơ-ra-ên và tất cả những người ở trong xứ sẽ phục vụ Ta tại đó. Tại đó, Ta sẽ chấp nhận họ. Tại đó, Ta sẽ đòi lễ vật của các ngươi, những lễ vật bằng trái đầu mùa của các ngươi, cùng mọi vật thánh của các ngươi.
  16. Ta sẽ nhận các ngươi như một hương thơm khi Ta đem các ngươi ra khỏi các dân và gom các ngươi lại từ các nước mà các ngươi đã bị tản lạc, rồi Ta sẽ thánh hóa các ngươi ngay trước mắt của các dân. 42. Các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta đem các ngươi vào đất của Y-sơ-ra-ên, là đất mà Ta đã giơ tay của Ta lên để hứa ban cho tổ phụ của các ngươi. 43. Tại đó, các ngươi sẽ nhớ lại những đường lối của mình, và tất cả những hành động đã làm cho mình bị ô uế. Các ngươi sẽ kinh tởm chính mình về tất cả những việc gian ác mà mình đã phạm. 44. Các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta sẽ vì danh Ta mà đối đãi với các ngươi không theo những đường lối xấu xa và những việc làm băng hoại của các ngươi. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  17. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 46. Hỡi con người! Hãy quay mặt của ngươi về phương nam. Hãy tuyên bố sứ điệp chống lại phương nam. Hãy nói tiên tri chống lại khu rừng trong đồng bằng ở phương nam. 47. Hãy nói cùng khu rừng ở phương nam: Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, Ta sẽ nhen một ngọn lửa giữa các ngươi, nó sẽ thiêu đốt tất cả những cây xanh tươi cũng như tất cả những cây khô. Ngọn lửa hừng sẽ không tắt. Mọi khuôn mặt từ nam chí bắc đều sẽ bị cháy sém. 48. Mọi loài xác thịt sẽ thấy rằng chính Ta là Đức Giê-hô-va đã dấy lên ngọn lửa đó, và nó sẽ không bị dập tắt. 49. Bấy giờ tôi nói: Ôi lạy Chúa là Đức Giê-hô-va! Người ta đã nói về con rằng: Ông ấy cứ nói những chuyện ngụ ngôn.

 

21

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy hướng mặt về Giê-ru-sa-lem. Hãy giảng chống lại những nơi thánh. Hãy nói tiên tri chống lại đất Y-sơ-ra-ên. 3. Hãy nói với đất Y-sơ-ra-ên rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta chống lại ngươi. Ta sẽ rút gươm của Ta ra khỏi vỏ, rồi diệt người công chính và kẻ gian ác giữa các ngươi. 4. Bởi vì Ta sẽ diệt người công chính và kẻ gian ác giữa các ngươi, cho nên gươm của Ta sẽ được rút ra khỏi vỏ để chống lại mọi người từ nam cho tới bắc. 5. Tất cả mọi người sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va sẽ rút gươm của Ta ra khỏi vỏ, và nó sẽ không quay trở lại nữa.
  2. Vì vậy, hỡi con người! Lòng của ngươi sẽ tan vỡ rồi thở than cách cay đắng về những điều trước mắt. 7. Khi chúng nó hỏi ngươi: Tại sao ông than thở? Hãy nói với chúng: Bởi vì những tin tức đang đến sẽ khiến mọi tấm lòng tan chảy, mọi cánh tay bủn rủn, mọi tâm thần nao sờn, mọi đầu gối mềm như nước. Đức Giê-hô-va đã tuyên bố: Kìa, điều đó đang đến và sẽ được ứng nghiệm.
  3. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 9. Hỡi con người! Hãy nói tiên tri rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy nói về một thanh gươm, một thanh gươm bén nhọn đã được đánh bóng. 10. Nó đã được mài bén để chém giết, nó được đánh bóng lấp lánh, chúng ta làm sao vui được? Nó xem thường cây vương trượng của dòng dõi Ta cũng như tất cả những cây khác. 11. Ngài đã trao nó để được đánh bóng để được sử dụng. Thanh gươm sắc bén và được đánh bóng nầy đã được trao vào tay của kẻ sát hại. 12. Hỡi con người! Hãy kêu khóc, hãy than van, bởi vì lưỡi gươm đó đã được dành cho dân của Ta, cho tất cả những kẻ lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên. Hãy vỗ đùi của ngươi bởi vì những sự kinh hoàng từ lưỡi gươm sẽ đem đến cho dân của Ta. 13. Đó là một thử nghiệm. Nếu vương trượng đã bị thanh gươm coi thường thì vương trượng không còn nữa. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  4. Còn ngươi, hỡi con người! Hãy nói tiên tri. Hãy vỗ tay của ngươi vào nhau. Thanh gươm sẽ sát hại hai lần, ba lần. Thanh gươm đó tiến vào những phòng riêng, sát hại những người cao trọng. 15. Ta đã đặt mũi gươm hướng vào tất cả các cổng thành của chúng, làm cho mọi tấm lòng bị tan chảy và mọi sự chống đối đều ngã nhào. Ôi! Nó sáng loáng và được dùng để sát hại. 16. Mũi gươm hãy đâm vào bên nầy hay bên kia, bên phải hay bên trái, bất cứ nơi nào mà mặt của ngươi hướng về nơi đó. 17. Ta cũng sẽ vỗ tay của Ta vào nhau. Ta sẽ thỏa mãn cơn giận của Ta. Ta, là Đức Giê-hô-va, đã phán như vậy.
  5. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 19. Hỡi con người! Ngươi hãy vạch hai con đường cho gươm của vua Ba-by-lôn đến. Cả hai sẽ xuất phát từ cùng một nước. Tại mỗi đầu đường, hãy làm một bảng để chỉ đường đi vào thành. 20. Ngươi hãy vạch một con đường để gươm đi đến Ráp-ba, là thành của dân Am-môn, và một con đường đến Giê-ru-sa-lem tại Giu-đa, là một thành vững chắc. 21. Bởi vì vua của Ba-by-lôn sẽ đứng tại ngã rẽ của đường, tại đầu hai con đường để bói quẻ. Người sẽ xóc những mũi tên, cầu khẩn các thần, rồi xem xét lá gan. 22. Trong tay phải của người cầm thẻ xăm có chữ Giê-ru-sa-lem, rồi sắp đặt chiến cụ phá thành, ra lệnh chém giết, reo hò chiến đấu, đặt chiến cụ phá các cổng thành, đắp mô, và xây lũy bao vây. 23. Nhưng trước mắt dân chúng, đó là quẻ bói sai lầm bởi vì chúng đã long trọng thề với hắn khi kết ước với nhau rồi. Nhưng hắn sẽ làm cho chúng nhớ lại lỗi của chúng, khiến chúng bị bao vây công phá.
  6. Vì vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như vầy: Bởi vì các ngươi đã làm cho tội lỗi của mình bị ghi nhớ, sự vi phạm của mình bị phơi bày, để tất cả những hành động tội lỗi của các ngươi xuất hiện. Bởi vì các ngươi đã được nhớ lại, cho nên các ngươi sẽ bị còng tay dẫn đi. 25. Còn ngươi, kẻ lãnh đạo gian ác và phạm thượng của Y-sơ-ra-ên, ngày của ngươi đã đến, tội ác của ngươi đã đến kỳ kết liễu.
  7. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như vầy: Hãy cởi bỏ cái mấn vương giả. Hãy cất bỏ vương miện. Bây giờ không giống như trước nữa: Người ở dưới thấp sẽ được nâng lên, người ở trên cao sẽ bị hạ xuống. 27. Ta sẽ phá đổ, phá đổ, phá đổ. Nó sẽ không còn nữa. Khi nào người có thẩm quyền đến, Ta sẽ ban cho người đó.
  8. Còn ngươi, hỡi con người! Hãy tiên tri. Hãy nói rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy về dân Am-môn và về những lời miệt thị của chúng. Hãy nói: Một thanh gươm! Một thanh gươm đã được rút ra để tàn sát. Nó đã được đánh bóng và đã được mài để hủy diệt. 29. Sự hiện thấy của chúng là giả dối. Chúng đem sự tiên đoán giả dối đến cho các ngươi. Chúng đặt các ngươi trên cổ của kẻ hủy diệt, là kẻ gian ác, mà ngày của nó đã đến, tội ác của chúng đã đến kỳ kết thúc. 30. Ta phải tra gươm vào vỏ của nó hay sao? Ta sẽ phán xét ngươi trong nơi ngươi đã được tạo dựng, trong xứ mà ngươi đã được sinh ra. 31. Ta sẽ trút cơn giận của Ta trên ngươi, Ta sẽ thổi vào ngươi lửa thịnh nộ của Ta. Ta sẽ trao ngươi vào tay của quân tàn ác, là những kẻ thành thạo chuyện giết chóc. 32. Ngươi sẽ làm mồi cho lửa, máu của ngươi sẽ đổ trên đất, và người ta sẽ không còn nhớ đến ngươi nữa vì chính Ta, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.

 

22

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Nầy ngươi, hỡi con người! Ngươi có nên đoán xét, ngươi có nên đoán xét một thành phố làm đổ máu hay không? Hãy cho nó biết tất cả những chuyện kinh tởm của nó. 3. Hãy nói với nó rằng Chúa là Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy: Một thành phố đã làm đổ máu ở giữa chính mình, đã tạo các thần tượng cho mình để tự làm ô uế chính mình, thì thời hạn của nó đã đến. 4. Ngươi đã phạm tội về máu mà ngươi đã sát hại, ngươi đã bị ô uế vì những thần tượng mà ngươi đã làm, ngươi đã khiến cho những ngày của ngươi gần hơn và những năm của ngươi đến lúc cùng tận. Vì vậy, Ta đã làm cho ngươi trở thành sự sỉ nhục cho các dân tộc và sự chế nhạo cho tất cả các nước. 5. Những kẻ ở gần và những kẻ ở xa ngươi sẽ nhục mạ ngươi. Ngươi bị ô danh và đầy dẫy sự hỗn loạn.
  2. Xem nầy! Các lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên mỗi người đều dùng quyền lực của mình làm đổ máu ở giữa ngươi. 7. Cha mẹ bị khinh thường ở giữa ngươi, các kiều dân bị đàn áp ở giữa ngươi, cô nhi và góa phụ bị áp bức ở giữa ngươi. 8. Ngươi khinh miệt những vật thánh của Ta và vi phạm những ngày Sa-bát của Ta. 9. Ở giữa ngươi có những kẻ vu khống gây đổ máu. Ở giữa ngươi có những kẻ ăn vật cúng tế trên những ngọn núi. Ở giữa ngươi có những kẻ phạm tội dâm loạn. 10. Ở giữa ngươi có kẻ phơi bày sự lõa lồ của cha mình. Ở giữa ngươi có kẻ làm nhục phụ nữ đang có kinh nguyệt. 11. Kẻ nầy phạm điều kinh tởm với vợ của người lân cận mình, kẻ khác làm ô uế con dâu của mình, kẻ khác nữa thì làm nhục chị em của mình – là con gái của cha mình. 12. Ở giữa ngươi, người ta đã nhận hối lộ để làm đổ máu. Ngươi đã lấy lãi và tăng tiền lãi. Ngươi ức hiếp người lân cận để trục lợi – nhưng ngươi đã quên Ta. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Vì vậy, Ta đã đập nắm tay của Ta vào lợi tức phi nghĩa mà ngươi đã làm ra, và vì máu đã bị tuôn đổ ở giữa ngươi. 14. Liệu lòng ngươi có vững vàng và tay của ngươi có mạnh mẽ trong ngày Ta xét xử ngươi hay không? Ta là Đức Giê-hô-va! Ta đã phán thì Ta sẽ thực hiện. 15. Ta sẽ làm cho ngươi bị tan lạc giữa các dân, phân tán ngươi trong các nước, và Ta sẽ tiêu trừ sự ô uế khỏi giữa ngươi. 16. Ngươi sẽ bị khinh bỉ giữa các dân, và rồi ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  4. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 18. Hỡi con người! Nhà Y-sơ-ra-ên đối với Ta chỉ như cặn bã. Tất cả chỉ như đồng, thiếc, sắt, chì ở trong lò. Chúng chỉ như cặn bã của bạc. 19. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì tất cả các ngươi đã trở nên cặn bã, cho nên Ta sẽ gom các ngươi lại ở giữa Giê-ru-sa-lem. 20. Như người ta thu thập bạc, đồng, sắt, chì và thiếc để bỏ vào lò, thổi lửa để nung chảy, thì trong cơn giận và thịnh nộ của Ta, Ta sẽ thu thập các ngươi, để các ngươi vào trong đó, rồi nung chảy các ngươi. 21. Ta sẽ thu góp các ngươi, thổi lửa thịnh nộ của Ta trên các ngươi, và rồi các ngươi sẽ bị tan chảy ở trong đó. 22. Như bạc tan chảy ra trong lò thể nào thì các ngươi cũng sẽ bị tan chảy ra ở trong đó như vậy; và rồi các ngươi sẽ biết rằng Ta, là Đức Giê-hô-va, đã trút cơn thịnh nộ của Ta trên các ngươi.
  5. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 24. Hỡi con người! Hãy nói với nó rằng: Ngươi là xứ sở không thanh sạch, và cũng không có mưa trong ngày thịnh nộ. 25. Các tiên tri của nó mưu tính ở giữa nó giống như sư tử gầm gừ cắn xé mồi. Chúng nuốt mạng người, cướp lấy tài sản và những vật quý giá. Chúng làm cho số người góa bụa ở giữa nó gia tăng. 26. Các tư tế của nó đã vi phạm luật lệ của Ta và đã làm ô uế những vật thánh của Ta. Chúng không phân biệt giữa sự thánh khiết và uế tục, giữa thanh sạch và không thanh sạch. Chúng đã nhắm mắt lại để không nhìn thấy những ngày Sa-bát của Ta. Ta đã bị xúc phạm ở giữa chúng. 27. Các lãnh đạo ở giữa nó giống như những chó sói xé mồi; chúng chỉ lo làm đổ máu, hủy diệt linh hồn, và trục lợi bất chính. 28. Các kẻ tiên tri của nó tô vẻ cho chúng bằng những khải tượng hư không và sự tiên đoán giả dối. Chúng nói rằng: “Chúa là Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy” trong khi Đức Giê-hô-va không hề phán. 29. Dân chúng trong xứ bóc lột, cướp bóc, bức hiếp người nghèo khổ thiếu thốn, áp bức ngoại kiều, bất chấp công lý.
  6. Ta đã tìm một người trong chúng, vì xứ sở đứng lên trước mặt ta trong nơi đổ vỡ xây dựng lại vách tường để Ta không hủy diệt nó, nhưng Ta không tìm được một ai. 31. Do đó, Ta đã trút cơn giận của Ta trên chúng và lửa thịnh nộ của Ta để thiêu hủy chúng. Ta đã báo trả lại trên đầu của chúng những đường lối của chúng – Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

 

23

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Có hai phụ nữ là con gái của cùng một người mẹ. 3. Chúng đã làm điếm tại Ai-cập. Chúng đã làm điếm từ lúc chúng còn là thiếu nữ. Nhũ hoa của chúng đã bị vuốt ve; bộ ngực trinh nguyên của chúng đã bị mơn trớn. 4. Ô-hô-la là tên của đứa chị, và Ô-hô-li-ba là tên của đứa em. Chúng thuộc về Ta. Chúng đã sinh các con trai và các con gái. Ðây là tên của chúng: Ô-hô-la là Sa-ma-ri và Ô-hô-li-ba là Giê-ru-sa-lem.
  2. Ô-hô-la đã làm điếm lúc nó còn thuộc về Ta. Nó ham muốn những tình nhân của nó, theo đuổi những chiến binh A-sy-ri – 6. là những người mặc sắc phục màu tía, các tổng trấn, các sĩ quan, tất cả là những chàng trai tuấn tú, những kỵ binh cỡi ngựa. 7. Nó đã làm điếm với chúng, với tất cả những kẻ ưu tú của A-sy-ri. Nó đã làm ô uế chính mình với tất cả những thần tượng của những người mà nó ham muốn. 8. Nó không chịu từ bỏ tánh đàng điếm đã có từ Ai-cập. Từ khi nó còn trẻ, người ta đã ăn nằm với nó, mơn trớn bộ ngực trinh nguyên của nó, trút đổ dục tình của chúng trên nó. 9. Vì vậy, Ta đã trao nó vào tay những người tình của nó, vào tay những người A-sy-ri mà nó đã ham muốn. 10. Chúng đã phơi bày sự lõa lồ của nó, bắt các con trai và các con gái của nó, rồi dùng gươm giết nó. Nó bị tai tiếng giữa vòng những phụ nữ bởi vì án phạt của nó đã được thi hành.
  3. Em gái của nó là Ô-hô-li-ba thấy vậy lại càng băng hoại và dâm đãng hơn. Nó đàng điếm hơn chị nó đã đàng điếm. 12. Nó ham muốn người A-sy-ri, các tổng trấn, các sĩ quan, những chiến binh mặc sắc phục oai phong, những kỵ binh cỡi ngựa – tất cả là những chàng trai tuấn tú. 13. Ta thấy nó bị ô uế; cả hai chị em cùng theo một cách. 14. Nó lại càng đàng điếm hơn nữa khi thấy chân dung của những người được chạm trên vách tường, là những hình ảnh sơn son của người Canh-đê. 15. Họ nai nịt ngang lưng, khăn vấn trên đầu thật dài đã được buông thõng theo cách của người Ba-by-lôn tại Canh-đê, nơi họ sinh trưởng. Tất cả đều giống như những lãnh đạo. 16. Khi mắt của nó thấy những hình ảnh của chúng, nó đã ham muốn chúng. Nó sai các sứ giả đến Canh-đê. 17. Người Ba-by-lôn đã đến với nó, vào trong giường ân ái với nó. Chúng đã làm cho nó bị ô uế bằng sự đàng điếm của chúng. Nó đã bị ô uế bởi chúng, nhưng rồi nó xa lánh chúng. 18. Nó bày tỏ sự đàng điếm của mình, phô trương thân thể trần truồng của mình. Ta xa cách nó như Ta đã xa cách chị của nó. 19. Nó càng đàng điếm hơn khi nhắc lại những ngày còn trẻ lúc nó đã sống đàng điếm tại xứ Ai-cập. 20. Nó ham muốn những người tình của nó, những kẻ ham mê nhục dục như lừa, và dâm dật như những con ngựa. 21. Ngươi hồi tưởng lại thói dâm đãng từ thời còn trẻ khi người Ai-cập mơn trớn nhũ hoa của ngươi và vuốt ve bộ ngực của ngươi.
  4. Vì vậy, hỡi Ô-hô-li-ba! Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ thúc đẩy những người tình của ngươi, những kẻ mà ngươi đã chán bỏ, nổi lên chống lại ngươi. Ta sẽ đem chúng nó đến tấn công ngươi từ mọi hướng. 23. Tất cả dân Ba-by-lôn: người Canh-đê, Phê-cốt, Sô-a và Cô-a, với tất cả người A-sy-ri cùng với chúng, là những thanh niên tuấn tú; tất cả những tổng đốc và các cấp chỉ huy, các nhà lãnh đạo và các quan chức cao cấp – tất cả đều cưỡi ngựa. 24. Chúng nó sẽ đem xe chiến mã, xe tải và một đoàn quân đông đảo đến chống lại ngươi. Chúng mang những thuẫn, khiên và mũ trận vây chung quanh ngươi. Ta sẽ trao sự phán xét cho chúng và chúng sẽ xét xử ngươi theo luật của chúng. 25. Ta sẽ để sự ghen tuông của Ta chống lại ngươi, và chúng sẽ đối xử với ngươi trong cơn giận dữ. Chúng sẽ cắt mũi và tai của các ngươi; và những kẻ còn sót lại sẽ ngã gục bởi gươm. Chúng sẽ bắt các con trai và các con gái của ngươi; những kẻ còn sót lại sẽ bị lửa thiêu nuốt. 26. Chúng sẽ lột y phục của ngươi và lấy đi những đồ trang sức xinh đẹp của ngươi. 27. Ta sẽ chấm dứt sự dâm đãng của ngươi và thói đàng điếm mà ngươi đã đem theo từ xứ Ai-cập, để ngươi sẽ không ngước mắt nhìn vào chúng và sẽ không còn nhớ đến Ai-cập nữa.
  5. Vì Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ trao ngươi vào tay những kẻ mà ngươi ghét, vào tay những kẻ mà ngươi đã lìa bỏ. 29. Chúng sẽ đối xử với ngươi với sự thù ghét, chúng sẽ chiếm đoạt tất cả những công lao của ngươi, chúng sẽ để ngươi trần truồng, trơ trọi. Sự trần truồng của ngươi và thói đĩ điếm của ngươi sẽ bị phơi bày, tức là tánh dâm đãng và thói đĩ điếm của ngươi. 30. Ta sẽ làm những điều đó cho ngươi bởi vì ngươi đã hành dâm với các dân tộc và đã làm ô uế chính mình bằng những thần tượng của chúng. 31. Ngươi đã đi theo con đường của chị ngươi cho nên Ta sẽ đặt chén của nó vào trong tay của ngươi.
  6. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ngươi sẽ uống chén của chị ngươi – một cái chén sâu và rộng. Ngươi sẽ bị chế giễu và bị nhạo báng bởi vì chén đó chứa đựng rất nhiều. 33. Ngươi sẽ bị say khướt rồi bị sầu não. Đó là chén kinh hoàng và tàn hại, là chén của Sa-ma-ri, là chị của ngươi. 34. Ngươi sẽ uống chén đó và sẽ uống cạn. Ngươi sẽ đập cái chén cũng như tấm lòng của ngươi ra từng mảnh, bởi vì Ta đã phán như vậy.

Chúa là Đức Giê-hô-va phán: 35. Thật vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì ngươi đã quên Ta, ném Ta ra phía sau lưng của ngươi, cho nên ngươi phải gánh chịu tất cả hậu quả của thói dâm đãng và đàng điếm của ngươi.

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: Hỡi con người! Ngươi không xét đoán Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba hay sao? Hãy nói cho chúng biết những điều kinh tởm của chúng. 37. Chúng đã phạm tội ngoại tình và tay của chúng đã vấy máu. Chúng đã phạm tội ngoại tình với các thần tượng của chúng. Thậm chí chúng đã bắt con cái mà chúng đã sinh cho Ta đem thiêu trong lửa để làm thức ăn cho các thần tượng của chúng. 38. Chúng còn làm điều nầy cho Ta: Cùng trong một ngày chúng đã làm ô uế nơi thánh của Ta và vi phạm những ngày Sa-bát của Ta. 39. Chính trong ngày chúng giết các con của chúng để dâng cho các thần tượng của chúng, chúng đã vào trong nơi thánh của Ta rồi làm ô uế nơi đó. Hãy xem! Chúng đã làm giữa nhà của Ta như vậy.
  2. Hơn thế nữa, các ngươi đã sai sứ giả đi mời những người đàn ông từ phương xa đến. Rồi khi chúng đến, các ngươi vì chúng đã tắm rửa, vẽ mắt của mình, đeo đồ trang sức. 41. Ngươi ngồi trên một trường kỷ sang trọng, đặt trước đó một cái bàn, rồi bày trên đó hương liệu và dầu của Ta. 42. Có tiếng ồn ào huyên náo của một đám đông thoải mái với nó. Bọn đàn ông là những kẻ say sưa từ hoang mạc, đã đeo vòng vào tay và đội mão đẹp trên đầu của chúng.
  3. Ta nói: Nó đã quá già để ngoại tình. Không lẽ lúc nầy mà chúng còn làm chuyện đàng điếm với nó hay sao? 44. Nhưng chúng đã đến với nó như người ta đến với một phụ nữ làm điếm. Chúng đã đến với Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba, những dâm phụ, như vậy. 45. Nhưng những người công chính sẽ phán xét chúng về tội ngoại tình và về tội làm đổ máu, bởi vì chúng đã phạm tội ngoại tình và tay của chúng đã vấy máu.
  4. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Hãy tụ họp hội chúng để buộc tội chúng nó. Hãy để cho chúng nó bị trấn lột, bị kinh hoàng. 47. Hội chúng sẽ ném đá chúng nó, dùng gươm giết chúng nó, giết con trai con gái của chúng nó, rồi phóng hỏa thiêu hủy nhà của chúng nó. 48. Ta sẽ diệt trừ sự dâm đãng khỏi xứ sở. Tất cả phụ nữ sẽ được hướng dẫn để không còn hành động dâm đãng như các ngươi đã làm. 49. Người ta sẽ báo trả cho các ngươi về tội dâm đảng của các ngươi. Các ngươi sẽ mang hình phạt về tội thờ thần tượng của mình, và các ngươi sẽ biết rằng chính Ta là Chúa, là Đức Giê-hô-va.

 

 

24

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi vào ngày mười, tháng Mười, năm thứ chín rằng: 2. Hỡi con người! Hãy viết tên của ngày hôm nay. Bởi vì chính ngày nầy vua Ba-by-lôn sẽ bắt đầu bao vây để tấn công Giê-ru-sa-lem. 3. Hãy kể cho nhà phản loạn một ẩn dụ, và hãy nói với chúng rằng: Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Hãy đặt một cái nồi, hãy bắc một cái nồi, rồi đổ nước vào trong đó. 4. Hãy bỏ những miếng thịt vào trong đó. Hãy đổ cho đầy với tất cả những miếng ngon như đùi, vai, và những cục xương tuyển chọn. 5. Hãy chọn con vật tốt nhất trong bầy. Hãy chất xương vào nồi, rồi đun thật sôi bên dưới để hầm xương ở trong đó.
  2. Thật vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Khốn cho thành phố đẫm máu, giống như một cái nồi đã bị rỉ sét từ bên trong. Rỉ sét đến nỗi không gột bỏ được. Hãy lấy ra từng miếng, không lựa chọn gì cả. 7. Bởi vì máu mà nó đã đổ ra vẫn còn ở giữa nó, nó đã đổ máu trên tảng đá, nhưng không đổ ra trên đất để cho bụi đất lấp đi. 8. Cơn thịnh nộ đã nổi lên. Sự báo thù đã xảy ra. Ta đã đổ máu của nó trên một tảng đá để nó không bị che đậy.
  3. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Khốn cho thành phố đẫm máu! Ta cũng sẽ chất một đống thật lớn. 10. Hãy chất củi, hãy đốt lửa hực lên, hãy nấu cho rục thịt, hãy trộn gia vị vào, rồi để cho xương bị cháy. 11. Sau đó hãy đặt cái nồi trống không trên than lửa hực, đồng của nó bị đun nóng, bị chảy ra, để cặn bã dơ bẩn ở trong nó bị tan chảy, và những rỉ sét của nó bị thiêu rụi. 12. Nó đã nhọc công vô ích. Rỉ sét quá nhiều nên không thể tẩy sạch được. Hãy để rỉ sét bị nung trong lửa. 13. Sự ô nhơ của ngươi là thói dâm đãng. Ta đã tẩy sạch ngươi bởi vì ngươi chưa được tẩy sạch. Ngươi sẽ không được tẩy sạch nữa cho đến khi cơn giận của Ta nghịch cùng ngươi dịu xuống.
  4. Ta, là Đức Giê-hô-va, đã phán. Điều đó sẽ xảy ra và Ta sẽ thực hiện. Ta sẽ không kềm chế, không thương xót, không đổi ý. Người ta sẽ phán xét ngươi theo đường lối và việc làm của ngươi. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  5. Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 16. Hỡi con người! Ta sẽ cất niềm vui của mắt ngươi bằng một tai họa, nhưng ngươi không được than van, khóc lóc và cũng không được chảy nước mắt. 17. Hãy thương tiếc cách âm thầm. Đừng vì người chết mà than khóc. Hãy đội khăn trên đầu của ngươi, hãy mang giày vào chân của ngươi, đừng che râu mép của ngươi, đừng ăn lương thực của con người.
  6. Buổi sáng tôi nói với dân chúng, buổi chiều vợ tôi chết. Đến sáng tôi đã làm theo như lời đã phán với tôi. 19. Dân chúng nói với tôi: Ông không giải thích cho chúng tôi điều mà ông đang làm có nghĩa là gì hay sao?
  7. Tôi nói với họ: Có lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng: 21. Hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng Chúa là Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy: Nầy Ta sẽ làm ô uế nơi thánh của Ta, vốn là niềm hãnh diện về sức mạnh của các ngươi, là điều mắt các ngươi yêu thích và lòng các ngươi khao khát. Những con trai và những con gái của các ngươi mà các ngươi đã để lại sẽ bị ngã gục bởi gươm. 22. Khi đó, các ngươi sẽ làm như tôi đã làm: Các ngươi sẽ không che râu mép và không ăn bánh của con người. 23. Các ngươi hãy đội khăn trên đầu, hãy mang giày vào chân của mình, đừng than van, đừng khóc lóc. Các ngươi sẽ bị tàn lụi vì tội lỗi của mình, và hãy than thở với nhau. 24. Ê-xê-chi-ên sẽ là một dấu hiệu cho các ngươi. Tất cả những gì người đã làm, các ngươi cũng sẽ làm. Khi điều này xảy đến, các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa, là Đức Giê-hô-va.
  8. Về phần ngươi, hỡi con người! Trong ngày Ta cất đi sức mạnh của chúng, niềm vui, sự vinh quang, và niềm khao khát của mắt chúng, và điều mà chúng để tâm trí vào, đó là các con trai và các con gái của chúng. 26. Trong ngày đó, nếu người nào trốn thoát được, người đó sẽ không đến thuật vào tai của ngươi hay sao? 27. Trong ngày đó, miệng của ngươi sẽ được mở ra để nói chuyện với người đã trốn thoát. Ngươi sẽ được phép nói, chứ không còn câm lặng nữa. Ngươi sẽ là một dấu hiệu cho chúng, và chúng sẽ biết rằng Ta là Chúa, là Đức Giê-hô-va.

 

25

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy hướng mặt về phía dân Am-môn và nói tiên tri chống lại chúng. 3. Hãy nói với dân Am-môn hãy nghe lời của Chúa là Đức Giê-hô-va. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì ngươi đã nói “Ha ha!” chống lại nơi thánh của Ta khi nó bị ô uế, và về đất của Y-sơ-ra-ên khi nó bị hoang vu, và về nhà Giu-đa khi chúng bị bắt lưu đày; 4. vì vậy, Ta sẽ trao ngươi cho dân đông phương làm tài sản. Chúng sẽ đóng trại ở giữa ngươi, cư ngụ ở giữa ngươi. Chúng sẽ ăn hoa quả của ngươi và uống sữa của ngươi. 5. Ta sẽ làm cho Ráp-ba trở thành đồng cỏ cho lạc đà, và đất Am-môn làm chỗ nghỉ ngơi cho bầy súc vật. Lúc đó, các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 6. Vì Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì ngươi đã vỗ tay, giậm chân, reo mừng trong lòng, và vì tất cả các ngươi đã khinh miệt đất Y-sơ-ra-ên; 7. cho nên, nầy, Ta sẽ giương tay của Ta cùng ngươi. Ta sẽ trao ngươi cho các nước như của cướp; Ta sẽ loại bỏ ngươi khỏi các dân; Ta sẽ diệt ngươi khỏi các nước. Ta sẽ hủy diệt ngươi và ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  2. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì Mô-áp và Sê-i-rơ đã nói rằng: Kìa, nhà Giu-đa cũng giống như các nước khác, 9. vì vậy, Ta sẽ dọn sạch các thành trong bờ cõi của Mô-áp, từ các thành ở biên cương cho đến tất cả các thành làm vinh hiển cho xứ sở như Bết Giê-si-mốt, Ba-anh Mê-ôn và Ki-ri-a-ta-im. 10. Ta sẽ trao nó cùng với dân Am-môn cho dân đông phương làm tài sản, để dân Am-môn sẽ bị quên lãng giữa vòng các nước. 11. Ta cũng sẽ thi hành sự phán xét trên Mô-áp và chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  3. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì Ê-đôm đã trả thù nhà Giu-đa, và đã phạm tội nặng khi báo thù chúng nó, 13. vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ta sẽ giang tay của Ta chống lại Ê-đôm. Ta sẽ tiêu diệt người và vật khỏi nơi đó, và làm cho nó bị hoang tàn. Chúng sẽ bị ngã gục bởi gươm từ Thê-man cho đến Đê-đan. 14. Ta sẽ báo trả Ê-đôm bằng tay của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. Họ sẽ đối xử với dân Ê-đôm tùy theo cơn thịnh nộ và sự tức giận của Ta. Chúng sẽ biết sự báo thù của Ta. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì Phi-li-tin đã báo thù, chúng đã trả thù vì lòng khinh miệt, và đã hủy diệt vì sự ghen ghét xa xưa. 16. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ta sẽ giang tay của Ta chống lại Phi-li-tin, Ta sẽ tiêu diệt Cơ-rết, và hủy diệt những kẻ còn sót lại dọc theo vùng duyên hải. 17. Ta sẽ thi hành những án phạt nặng nề trên chúng để sửa trị chúng. Khi Ta báo trả chúng, chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.

 

26

  1. Vào một ngày đầu tháng trong năm thứ mười một, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Bởi vì Ty-rơ đã nói về Giê-ru-sa-lem rằng: Ha ha! Những cái cổng của dân chúng đã bị sụp đổ. Thành sẽ thuộc về ta, ta sẽ được thịnh vượng, và nó sẽ bị điêu tàn. 3. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hỡi Ty-rơ! Nầy, Ta sẽ chống lại ngươi. Ta sẽ khiến nhiều nước chống lại ngươi như sóng biển cuồn cuộn kéo đến. 4. Chúng sẽ phá hủy những bức tường của Ty-rơ và triệt hạ những pháo đài của nó. Ta sẽ cào sạch bụi đất khỏi nó rồi làm cho nó nhẵn nhụi như một tảng đá. 5. Nó sẽ trở thành một nơi để phơi lưới ở giữa biển bởi vì Ta đã phán. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Nó sẽ là chiến lợi phẩm cho các nước. 6. Các con gái của nó đang ở ngoài đồng sẽ bị giết bằng gươm. Chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  2. Thật vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ đem Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, là vua của các vua, cùng với ngựa, xe chiến mã, kỵ binh, và một đạo quân đông đảo từ phương bắc đến tấn công Ty-rơ. 8. Người sẽ dùng gươm giết các con gái của ngươi đang ở ngoài đồng, sẽ xây đồn để chống lại ngươi, sẽ đắp lũy để chống lại ngươi, sẽ giương thuẫn để chống lại ngươi. 9. Người sẽ hướng những dụng cụ phá thành về phía ngươi, dùng búa rìu triệt hạ những tháp của ngươi. 10. Ngựa của người quá nhiều đến nỗi bụi của chúng che phủ ngươi. Tiếng động của kỵ binh, của xe chuyển vận, của xe chiến mã làm vách thành của ngươi lay động. Người tiến vào các cổng thành của ngươi như người ta tiến vào một cái thành đã bị chọc thủng. 11. Vó ngựa của người sẽ giẫm nát mọi đường phố của ngươi; người sẽ giết dân chúng của ngươi bằng gươm; những đền đài kiên cố của ngươi sẽ bị triệt hạ sát đất. 12. Chúng sẽ chiếm đoạt tài sản của ngươi, cướp giựt hàng hóa của ngươi, phá đổ những tường thành của ngươi, hủy diệt những căn nhà tốt đẹp của ngươi. Chúng sẽ đổ đá, gỗ và đất của ngươi xuống dưới biển. 13. Ta sẽ dứt tiếng hát của ngươi và tiếng đàn hạc của ngươi sẽ không còn được nghe nữa. 14. Ta sẽ làm cho ngươi bị nhẵn nhụi như một tảng đá. Ngươi sẽ trở thành một chỗ để phơi lưới và không bao giờ được xây dựng lại, vì Ta là Đức Giê-hô-va đã phán. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy về Ty-rơ: Dân cư ở các vùng duyên hải không run sợ khi nghe tiếng động từ sự sụp đổ của ngươi, tiếng kêu la của những kẻ bị thương, và sự tàn sát đang xảy ra ở giữa ngươi hay sao? 16. Lúc đó, tất cả các lãnh tụ ở miền duyên hải sẽ bước xuống khỏi ngai của chúng. Chúng sẽ cởi bỏ áo choàng rồi lột bỏ trang phục tráng lệ của chúng. Chúng sẽ mặc lấy sự run sợ, chúng sẽ ngồi dưới đất, chúng sẽ run rẩy bàng hoàng một lúc trước những gì đã xảy đến cho ngươi. 17. Chúng cất tiếng than khóc về ngươi, và nói với ngươi rằng: Hỡi thành danh tiếng, là chỗ ở của những người đi biển! Tại sao ngươi bị hủy diệt? Ngươi từng là một thế lực trên biển. Ngươi và dân cư của ngươi đã từng làm kinh hoàng tất cả những cư dân khác. 18. Giờ đây, các miền duyên hải run rẩy trong ngày ngươi sụp đổ. Dân ở các miền dọc theo bờ biển kinh hoàng về sự ra đi của ngươi.
  4. Bởi vì Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Khi Ta làm cho ngươi trở nên một thành hoang vu, một thành không có người ở; khi Ta đem vực sâu lên trên ngươi và những nguồn nước lớn tràn ngập ngươi; 20. lúc đó Ta sẽ đem ngươi đi xuống cùng với những kẻ đi xuống vực sâu, cùng với những người từ thời xa xưa. Ta sẽ đặt ngươi trong những nơi rất thấp của đất, trong những chỗ hoang vu xa xưa, cùng với những kẻ đã đi xuống vực sâu, để cho ngươi không còn có dân cư trú nữa, nhưng Ta sẽ đặt vinh hiển trong đất của người sống. 21. Ta sẽ làm cho ngươi trở thành một sự kinh khiếp, và ngươi sẽ không còn tồn tại. Dù có được tìm kiếm, người ta sẽ không bao giờ tìm thấy ngươi nữa. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

27

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Nầy ngươi, hỡi con người! Hãy cất tiếng than khóc Ty-rơ.
  2. Hãy nói với Ty-rơ rằng hỡi thành tọa lạc nơi cửa biển, buôn bán với dân cư của nhiều vùng duyên hải. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Ty-rơ! Ngươi có nói: Ta xinh đẹp toàn hảo. 4. Biên cương của ngươi ở giữa biển. Những thợ xây dựng của ngươi đã làm cho ngươi có vẻ đẹp toàn hảo. 5. Họ đã dùng gỗ tùng của Sê-nia làm ván đóng thuyền; lấy gỗ bá hương của Li-ban làm cột buồm cho ngươi. 6. Họ lấy gỗ sồi của Ba-san làm mái chèo của ngươi, lấy gỗ bách từ đảo Kít-tim làm ván, rồi cẩn bằng ngà voi. 7. Cánh buồm của ngươi là vải gai mịn được thêu từ Ai-cập, cờ hiệu màu xanh và tím bao bọc ngươi đến từ đảo Ê-li-sa. 8. Dân cư Si-đôn và A-vát là những tay chèo của ngươi, những người thông minh của Ty-rơ là các hoa tiêu của ngươi. 9. Những người thợ lão luyện và lành nghề từ Ghê-banh ở với ngươi để trám tàu. Tất cả những tàu biển cùng với những thủy thủ đều đến với ngươi để trao đổi hàng hóa của ngươi. 10. Người Ba Tư, người Lút, người Phút phục vụ trong quân đội của ngươi. Họ là những chiến binh của ngươi. Họ treo khiên và mũ bảo vệ ở giữa ngươi. Họ làm cho ngươi được vinh hiển. 11. Người A-vát phục vụ trong quân đội của ngươi, tuần hành quanh tường thành của ngươi. Người Ga-mát ở trên những tháp cao. Chúng treo thuẫn chung quanh tường thành của ngươi và làm cho vẻ đẹp của ngươi thêm hoàn hảo.
  3. Người Ta-rê-si mua bán với ngươi bởi vì ngươi có đủ loại hàng hóa sang trọng. Chúng dùng bạc, sắt, thiết và kẽm để trao đổi hàng hóa của ngươi. 13. Người Gia-van, Tu-banh và Mê-siếc là những người mua bán với ngươi. Họ đổi nô lệ và vật dụng bằng đồng để lấy hàng hóa ngươi. 14. Những người thuộc nhà Tô-ga-ma đem ngựa, ngựa chiến, la để đổi lấy những vật dụng của ngươi. 15. Những người Đê-đan là khách hàng của ngươi. Nhiều vùng duyên hải giao thương với ngươi, họ cung cấp cho ngươi ngà voi và gỗ mun. 16. A-ram mua bán với ngươi vì ngươi có nhiều hàng hóa. Họ đem bích ngọc, vải điều, vải thêu, vải mịn, san hô, và hồng ngọc để trao đổi hàng với ngươi. 17. Giu-đa và xứ Y-sơ-ra-ên mua bán với ngươi. Họ đem lúa mì ở Min-nít, bánh ngọt, mật ong, dầu, và dược liệu để trao đổi hàng hóa với ngươi. 18. Đa-mách mua bán với ngươi bởi vì ngươi có nhiều sản phẩm, kể cả những hàng hóa sang trọng như rượu Hê-bôn và vải len trắng. 19. Người Đan và Gia-van trao đổi hàng hóa với ngươi. Họ trả bằng sắt luyện, nhục quế và xương bồ để đổi lấy hàng hóa. 20. Người Đê-đan buôn bán với ngươi vải để làm yên ngựa. 21. Người Ả-rập cùng với tất cả những ông hoàng tại Kê-đa đem chiên con, chiên đực, và dê để mua bán với ngươi. 22. Những thương nhân ở Sê-ba và Ra-a-ma buôn bán với ngươi. Họ đem đủ thứ hương liệu thượng hạng, đủ thứ ngọc quý, và vàng để trao đổi hàng hóa của ngươi. 23. Ha-ran, Can-nê và Ê-đen cùng những thương nhân tại Sê-ba, A-sy-ri và Kin-mát là những người mua bán với ngươi. 24. Những người nầy bán những y phục tuyển chọn, vải tía, đồ thêu, thảm nhiều màu, dây thừng được bện thật chắc, tại chợ của ngươi.
  4. Những con tàu Ta-ri-si chuyên chở đầy hàng hóa của ngươi:

Hỡi con tàu trĩu nặng giữa biển khơi! 26. Những tay chèo của ngươi đã đưa ngươi ra biển, nhưng cơn gió đông đã đánh tan ngươi giữa biển khơi. 27. Sự giàu sang của ngươi, sản phẩm của ngươi, hàng hóa của ngươi, các thủy thủ của ngươi, các hoa tiêu của ngươi, những thợ trám tàu của ngươi, các thương gia của ngươi, tất cả những lính chiến ở trong ngươi, và mọi hành khách ở với ngươi, tất cả đều chìm xuống biển trong ngày ngươi bị sụp đổ. 28. Tiếng kêu của những viên hoa tiêu làm những vùng chung quanh rúng động. 29. Tất cả những người cầm chèo, những thủy thủ, tất cả những hoa tiêu sẽ rời khỏi tàu của họ, rồi đứng trên bờ biển. 30. Chúng sẽ cất tiếng than khóc ngươi, và kêu gào cay đắng vì ngươi. Chúng ném bụi trên đầu mình, và lăn lóc trong tro bụi. 31. Chúng sẽ cạo đầu vì ngươi, rồi quấn cả người trong vải tang. Chúng sẽ khóc thương ngươi cách đắng cay, và lòng sầu thảm trong cay đắng. 32. Trong khi khóc thương, chúng cất lên một bài ai ca cho ngươi. Chúng khóc thương ngươi rằng: Ai giống như Ty-rơ, bị hủy diệt giữa biển khơi? 33. Khi hàng hóa ngươi được ra khơi, ngươi đã làm cho nhiều người được thỏa mãn. Bởi vì những của cải và hàng hóa quá nhiều, ngươi đã làm giàu cho các vua trên đất. 34. Bây giờ ngươi bị vỡ tan giữa biển cả, chìm sâu dưới những dòng nước. Tất cả hàng hóa và những người đi theo đã chìm theo ngươi. 35. Tất cả dân cư ở vùng duyên hải đều bàng hoàng sửng sốt vì ngươi; các vua của chúng khiếp sợ, sắc diện hoảng hốt. 36. Thương nhân của các nước xầm xì về ngươi. Ngươi trở thành nỗi kinh khiếp, và bị hủy diệt vĩnh viễn.

 

28

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy nói với kẻ lãnh đạo của Ty-rơ rằng Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì lòng ngươi tự cao, ngươi nói rằng: Ta là một vị thần. Ta ngồi trên ngai của các thần, ở giữa biển cả. Tuy nhiên, ngươi chỉ là loài người chứ không phải là thần, dù ngươi tự cho tâm trí của ngươi giống như tâm trí của các thần. 3. Ngươi có khôn ngoan hơn Đa-ni-ên hay sao? Không có bí mật nào giấu kín với ngươi hay sao? 4. Ngươi đã được giàu có nhờ sự khôn khéo và thông sáng của mình. Ngươi đã thâu chứa vàng bạc trong kho tàng của ngươi. 5. Nhờ sự khôn khéo trong việc buôn bán, ngươi đã làm cho sự giàu có của mình gia tăng. Lòng ngươi đã tự cao vì sự giàu có của ngươi.
  2. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì ngươi tự cho tâm trí của mình giống như tâm trí của các thần. 7. Cho nên, Ta sẽ đem những người ngoại quốc tàn bạo nhất trong các quốc gia đến tấn công ngươi. Chúng sẽ rút gươm chống lại sự khôn ngoan hoa mỹ của ngươi và làm ô nhơ vinh quang của ngươi. 8. Chúng sẽ đẩy ngươi xuống vực sâu và ngươi sẽ chết. Đó là cái chết của những người bị giết ở giữa biển khơi. 9. Trước mặt kẻ sẽ giết ngươi, ngươi còn dám nói ta là thần hay không? Khi ngươi ở trong tay của kẻ sát hại ngươi, ngươi là một con người chứ không phải là thần. 10. Ngươi sẽ chết như những kẻ chưa chịu cắt bì, bởi tay của những người ngoại quốc, bởi vì Ta đã phán. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như vậy.
  3. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 12. Hỡi con người! Hãy cất tiếng khóc than về vua Ty-rơ. Hãy nói với người rằng Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Ngươi là một mẫu mực toàn hảo, đầy dẫy sự khôn ngoan và hoàn toàn xinh đẹp. 13. Ngươi đã ở trong Ê-đen, là vườn của Đức Chúa Trời. Ngươi được bao phủ bởi những loại ngọc quý giá là hồng bửu ngọc, hoàng bích ngọc, kim cương, lục bích ngọc, bạch bảo ngọc, lục bửu ngọc, lam bảo ngọc, lam lục ngọc, lam bích ngọc, cùng với vàng. Nghề làm trống cơm và ống sáo thuộc về ngươi. Những điều đó đã được chuẩn bị sẵn kể từ ngày ngươi được tạo dựng. 14. Ngươi là một chê-rúp được xức dầu để che chở. Ta đã sắp đặt cho ngươi và ngươi đã ở trên núi thánh của Đức Chúa Trời. Ngươi đã đi lại giữa những hòn đá rực lửa. 15. Kể từ ngày ngươi được tạo dựng, đường lối của ngươi không có gì đáng trách cho đến khi sự gian ác xuất hiện nơi ngươi. 16. Kinh doanh phát đạt đã đổ đầy trong ngươi sự gian ác, và ngươi đã phạm tội. Vì vậy Ta đã quăng ngươi như là một vật ô uế ra khỏi núi của Ðức Chúa Trời. Ta đã hủy diệt chê-rúp hộ vệ giữa những hòn đá rực lửa! 17. Lòng ngươi đã kiêu ngạo vì vẻ đẹp của ngươi, vinh quang của ngươi đã làm hư hỏng sự khôn ngoan của ngươi. Ta đã quăng ngươi xuống đất, đặt ngươi trước mặt các vua, để cho họ nhìn thấy ngươi. 18. Ngươi đã làm ô uế các nơi thánh của ngươi bởi nhiều tội ác và bởi sự buôn bán không chính trực của ngươi. Vì vậy, Ta đã khiến lửa ra từ giữa ngươi thiêu nuốt ngươi. Ta đã làm cho ngươi trở nên tro bụi trên đất, trước mặt tất cả những người đã nhìn thấy. 19. Tất cả những kẻ đã từng biết ngươi giữa vòng các dân tộc đều sửng sờ về ngươi. Ngươi sẽ là một nỗi kinh hoàng, và sẽ vĩnh viễn không tồn tại nữa.
  4. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 21. Hỡi con người! Hãy quay mặt của ngươi hướng về Si-đôn và nói tiên tri chống lại nó.
  5. Ngươi hãy nói Chúa là Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi Si-đôn! Ta chống lại ngươi. Ta sẽ được vinh quang ở giữa ngươi. Chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta thi hành sự phán xét cho nó và bày tỏ sự thánh khiết của Ta cho nó. 23. Ta sẽ sai dịch bệnh đến với nó, và máu đổ ra trong các đường phố của nó. Những kẻ bị thương sẽ ngã xuống ở giữa nó, bởi vì gươm từ mọi phía sẽ tấn công nó. Khi đó, chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  6. Nhà Y-sơ-ra-ên sẽ không còn bị gai đâm, dằm chích bởi tất cả những người ở chung quanh họ, là những người vẫn khinh bỉ họ. Khi đó, chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  7. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Khi Ta thu thập nhà Y-sơ-ra-ên lại từ giữa các dân tộc, giữa những người mà họ đã bị tan lạc, Ta sẽ bày tỏ sự thánh khiết của Ta ở giữa họ trước mắt các dân. Lúc đó, họ sẽ ở trong đất mà Ta đã ban cho đầy tớ của Ta là Gia-cốp. 26. Họ sẽ ở bình an tại đó, họ sẽ cất nhà và trồng vườn nho. Vâng! Họ sẽ ở bình an tại đó khi Ta đã thi hành sự phán xét của Ta chống lại những người ở chung quanh họ, là những kẻ đã đối xử với họ cách khinh miệt. Lúc đó, họ sẽ biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ.

 

29

  1. Vào ngày mười hai, tháng Mười, năm thứ mười, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy hướng mặt của ngươi chống lại Pha-ra-ôn, vua của Ai-cập. Hãy nói tiên tri chống lại nó và toàn dân Ai-cập.
  2. Hãy cất tiếng và nói Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Pha-ra-ôn, vua của Ai-cập! Nầy, Ta chống lại ngươi. Ngươi là con quái vật khổng lồ nằm giữa những dòng sông. Ngươi đã nói rằng: Sông Nin thuộc về ta. Chính ta đã làm ra nó.
  3. Ta sẽ đặt những móc trong hàm của ngươi, và khiến cá trong những dòng sông của ngươi dính vào vảy của ngươi. Ta sẽ kéo ngươi ra khỏi những dòng sông của ngươi, cùng với tất cả những cá trong những dòng sông đã dính vào vảy của ngươi. 5. Ta sẽ bỏ ngươi trong hoang mạc – ngươi cùng tất cả cá trong những dòng sông của ngươi. Ngươi sẽ ngã xuống trên cánh đồng trống, sẽ không được gom lại hay thu lại. Ta đã ban ngươi làm thức ăn cho thú vật dưới đất và những chim trên trời. 6. Tất cả cư dân Ai-cập sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, bởi vì chúng chỉ là một cây gậy bằng sậy đối với nhà Y-sơ-ra-ên. 7. Khi chúng đưa tay bám lấy ngươi, ngươi gãy ngang, và làm xước cả hai vai của chúng. Khi chúng dựa vào ngươi, ngươi gãy ngang, và làm chúng bị lảo đảo.
  4. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ta sẽ đem gươm đến chống lại ngươi và sẽ tiêu diệt cả người lẫn thú vật. 9. Ðất Ai-cập sẽ trở nên hoang tàn và đổ nát. Chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.

Bởi vì ngươi đã nói: Sông Nin thuộc về ta. Chính ta đã làm ra nó. 10. Vì vậy, Ta chống lại ngươi và chống lại những dòng sông của ngươi. Ta sẽ biến đất Ai-cập thành một nơi hoàn toàn đổ nát và hoang vu, từ Mít-đôn đến Sy-e-nê, và cho đến tận biên giới của Cút. 11. Không một bàn chân nào của con người hay của thú vật sẽ đi qua đó. Không ai cư trú tại đó trong bốn mươi năm. 12. Ta sẽ làm cho đất Ai-cập thành một nơi hoang vu giữa những đất nước bị hoang vu. Các thành của nó bị hoang vắng giữa những thành phố bị điêu tàn trong bốn mươi năm. Ta sẽ phân tán người Ai-cập ra giữa các dân, và rải chúng giữa các nước.

  1. Vì Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Mãn bốn mươi năm, Ta sẽ nhóm dân Ai-cập lại từ giữa các dân tộc mà chúng đã bị tản lạc tại đó. 14. Ta sẽ đem những kẻ lưu đày của Ai-cập trở về và đặt chúng về trong đất Pha-trốt, tại nguyên quán của chúng, nhưng chúng chỉ là một nước thấp hèn tại đó. 15. Nó sẽ là vương quốc thấp nhất trong các vương quốc. Nó sẽ không bao giờ trổi hơn các nước nữa. Ta sẽ làm cho nó nhỏ dần, để nó sẽ không bao giờ thống trị các nước nữa. 16. Nó sẽ không còn làm nguồn trông cậy cho nhà Y-sơ-ra-ên nữa, nhưng chúng sẽ nhớ lại tội lỗi của chúng khi chúng quay sang nhờ cậy nó. Chúng sẽ biết rằng Ta là Chúa, là Đức Giê-hô-va.
  2. Vào ngày mùng một, tháng Giêng, năm thứ hai mươi bảy, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 18. Hỡi con người! Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã bắt quân đội làm việc nặng nhọc để tấn công Ty-rơ. Mọi đầu đều bị cạo trọc, mọi vai đều bị trầy trụa, nhưng nó và quân đội của nó không đạt được lợi ích gì từ Ty-rơ để đền bù lại công lao mà chúng đã bỏ ra. 19. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ phó đất Ai-cập cho Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn. Nó sẽ đem của cải đi, chiếm đoạt những chiến lợi phẩm, và cướp phá đất. Đó là tiền công cho quân đội của nó. 20. Ta sẽ ban cho nó đất Ai-cập để trả lương cho những gì nó đã làm cho Ta, bởi vì chúng đã làm việc cho Ta. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Trong ngày đó, Ta sẽ khiến một sừng mọc lên cho nhà Y-sơ-ra-ên. Ta sẽ cho ngươi mở miệng ở giữa chúng và chúng sẽ biết rằng Ta là Chúa, là Đức Giê-hô-va.

 
30

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy nói tiên tri rằng Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy khóc lóc, hãy than van cho ngày đó, 3. bởi vì ngày đó đã gần. Thật vậy ngày của Đức Giê-hô-va đã gần. Đó là ngày của mây mờ u ám, là thời điểm dành cho các nước. 4. Gươm đao sẽ đến trên Ai-cập, sự đau đớn sẽ đến với Cút. Những kẻ bị giết sẽ gục ngã tại Ai-cập, người ta sẽ lấy đi của cải của nó, và những nền móng của nó sẽ bị phá hủy. 5. Cút, Phút, Lút, tất cả những dân pha trộn, Cúp và những nước đồng minh trong xứ sẽ cùng ngã chết vì gươm với nó.
  2. Thật vậy, Đức Giê-hô-va phán: Kẻ nào hỗ trợ Ai-cập sẽ bị ngã gục, sức mạnh kiêu hùng của nó sẽ sụp đổ. Chúng sẽ ngã gục bởi gươm từ Mít-đôn cho đến Sy-e-nê. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 7. Chúng sẽ trở nên hoang tàn giữa những nước bị hoang tàn. Các thành của chúng sẽ nằm trong số những thành bị hoang phế. 8. Khi Ta châm lửa, Ai-cập và tất cả những kẻ giúp đỡ nó bị tiêu diệt. Chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 9. Trong ngày đó, các sứ giả mà Ta sai đi bằng tàu sẽ làm cho người Cút, vốn bất cần, phải sợ hãi. Người ta sẽ bị đau đớn rất nhiều trong ngày tai họa của Ai-cập – bởi vì kìa, nó đang đến. 10. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ dùng tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, để tiêu diệt đạo quân đông đúc của Ai-cập. 11. Nó và những người của nó, là nỗi kinh hoàng của các quốc gia, sẽ được đem đến để tiêu diệt xứ đó. Chúng sẽ tuốt gươm ra để chống lại Ai-cập, và làm cho cả nước đầy dẫy người bị sát hại. 12. Ta sẽ làm cho những dòng sông của nó bị khô cạn, rồi bán đất đó vào tay của những kẻ gian ác. Ta sẽ dùng tay của người ngoại quốc làm cho đất đó và mọi vật ở trong đó hoang tàn. Ta là Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
  3. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ta sẽ hủy diệt các tượng thần và tiêu trừ những hình tượng tại Nốp. Đất Ai-cập sẽ không còn lãnh tụ nữa, và Ta sẽ đặt sự kinh hãi trong xứ Ai-cập. 14. Ta sẽ làm cho Pha-trốt bị hoang vu, phóng hỏa đốt Xô-an, và thi hành sự trừng phạt trên Nô. 15. Ta sẽ trút cơn giận của Ta trên Sin, là thành trì kiên cố của Ai-cập, và sẽ tiêu diệt dân chúng tại Nô. 16. Ta sẽ phóng hỏa đốt Ai-cập, Sin sẽ bị đau đớn, Nô sẽ bị chia cắt, và Nốp sẽ sầu muộn mỗi ngày. 17. Các thanh niên tại A-véc và Phi Bê-sết sẽ ngã chết bởi gươm, và những người sống tại đó sẽ bị lưu đày. 18. Tại Tác-pha-nết, ban ngày sẽ trở nên tối tăm. Khi Ta đập tan những cái ách của Ai-cập, sức mạnh kiêu hùng của nó cũng sẽ chấm dứt. Mây đen sẽ bao phủ nó và các con gái của nó sẽ bị lưu đày. 19. Ta sẽ thi hành sự phán xét trên Ai-cập như vậy, và chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
  4. Vào ngày mùng bảy, tháng Giêng, năm thứ mười một, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 21. Hỡi con người! Ta đã bẻ gãy cánh tay của Pha-ra-ôn, vua của Ai-cập. Nầy, không ai rịt thuốc để chữa lành, không ai băng bó vết thương để nó lấy lại sức mà cầm gươm. 23. Ta sẽ làm cho dân Ai-cập bị tan lạc giữa vòng các dân, và rải chúng ra trong các nước. 24. Ta sẽ làm cho cánh tay của vua Ba-by-lôn trở nên mạnh mẽ, và trao thanh gươm của Ta vào tay của nó; nhưng Ta sẽ bẻ gãy cánh tay của Pha-ra-ôn, và nó sẽ rên rỉ trước mặt kẻ thù của nó với những tiếng rên đau đớn của kẻ bị thương sắp chết. 25. Ta sẽ làm vững mạnh cánh tay của vua Ba-by-lôn, nhưng cánh tay của Pha-ra-ôn sẽ bị hạ xuống. Chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta trao thanh gươm của Ta vào tay của vua Ba-by-lôn. Nó sẽ vung gươm ra chống lại đất Ai-cập. 26. Ta sẽ làm cho dân Ai-cập bị tản lạc giữa các dân tộc, và phân tán chúng giữa các nước. Bấy giờ, chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.

 

31

  1. Ngày một, tháng Ba, năm thứ mười một, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 2. Hỡi con người! Hãy nói với Pha-ra-ôn, vua của Ai-cập, và với đạo quân đông đúc của nó: Ngươi so sánh sự vĩ đại của ngươi với ai? 3. Hãy xem, đã có lúc A-sy-ri giống như cây bá hương của Li-ban: Cành lá xinh đẹp, bóng rợp như rừng, vóc dáng cao lớn, ngọn của nó cao vút giữa những cành lá sum suê. 4. Các dòng nước đã nuôi dưỡng nó, nguồn nước ngầm đã làm cho nó cao lớn, những dòng sông chảy quanh chỗ nó được trồng, và những rạch nước đã nuôi mọi cây cối ngoài đồng. 5. Vì vậy thân của nó cao hơn tất cả những cây cối ngoài đồng, các chồi của nó mọc ra thật nhiều, những cành của nó dài ra. Nhờ có nước dồi dào, nên nó đâm chồi. 6. Ðủ loại chim trời làm tổ trên các cành của nó; đủ loại thú đồng sinh con dưới những nhánh của nó; đủ các dân tộc vĩ đại cư trú dưới bóng của nó. 7. Nó xinh tốt bởi thân to lớn, các nhánh của nó vươn dài ra, và vì rễ của nó đâm xuống chỗ có nhiều nước. 8. Những cây bá hương trong vườn của Đức Chúa Trời không thể che khuất nó. Những cây tùng không bằng những cành của nó. Những cây bàng cũng không bằng những nhánh của nó. Không có cây nào trong vườn của Đức Chúa Trời xinh tốt như nó. 9. Ta đã làm cho nó xinh tốt với cành lá sum suê. Tất cả những cây của Ê-đen, là những cây trong vườn của Đức Chúa Trời, ganh tị với nó.
  2. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì nó cao lớn, ngọn của nó vươn lên cao giữa những cành lá sum suê cho nên lòng nó sinh tự cao vì sự cao lớn của mình. 11. Cho nên Ta sẽ giao nó vào tay một kẻ quyền uy của các nước, và hắn sẽ đối xử thích đáng với nó. Ta đã đuổi nó ra bởi vì những tội ác của nó. 12. Những kẻ xa lạ từ những nước hung dữ nhất sẽ đốn ngã nó, rồi bỏ mặc nó trên những ngọn núi. Nhánh của nó sẽ rơi khắp các thung lũng, cành lá của nó tan tác khắp những khe trong xứ. Mọi dân trên đất lìa xa bóng của nó và từ bỏ nó. 13. Đủ loại chim trời sẽ đậu trên tàn tích của nó, và đủ loài thú đồng sẽ giẫm trên những cành của nó. 14. Như vậy, không có cây nào trồng gần những dòng nước dám kiêu ngạo về sự cao lớn của mình, và cũng không có cây nào để ngọn cây của mình vươn cao giữa những cành sum suê. Không có cây nào hút nước mà cao lớn như vậy nữa. Tất cả chúng nó đã bị phó cho tử thần để đến giữa những nơi sâu thẳm nhất của trái đất, cùng với con cái của loài người là những kẻ sa xuống hố thẳm.
  3. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ngày mà nó xuống âm phủ, Ta sẽ làm cho thảm sầu, bởi vì Ta che vực sâu, ngăn những dòng suối của nó, chận những dòng nước lớn. Ta khiến Li-ban than khóc vì nó, và mọi cây ngoài đồng bị héo tàn vì nó. 16. Ta làm cho các dân tộc bị rúng động khi nghe tiếng nó đổ xuống. Ta ném nó xuống tận âm phủ cùng với tất cả những kẻ sa xuống hố thẳm. Tất cả những cây của Ê-đen, những cây tuyển chọn và tốt nhất của Li-ban, tất cả những cây hút nước, đều được an ủi trong nơi sâu thẳm của trái đất. 17. Chúng cũng sa xuống âm phủ với nó, bên cạnh những kẻ bị giết bởi gươm, là những cánh tay của nó và đã ở dưới bóng của nó ở giữa các nước.
  4. Có cây nào trong các cây ở Ê-đen được vinh hiển và vĩ đại như ngươi hay không? Nhưng ngươi sẽ bị đốn xuống, chung với những cây ở Ê-đen, để đi vào nơi sâu thẳm của trái đất. Ngươi sẽ nằm chung với những kẻ không được cắt bì, với những kẻ bị giết bằng gươm. Ðây là số phận của Pha-ra-ôn và toàn thể đạo quân đông đúc của hắn. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như vậy.

 

32

  1. Vào ngày một, tháng Mười Hai, năm thứ mười hai, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy trỗi lên một bài ai ca cho Pha-ra-ôn, vua của Ai-cập. Hãy nói với hắn rằng: Ngươi giống như một con sư tử ở giữa các dân tộc, như một quái vật trong biển, vùng vẫy giữa những dòng nước. Ngươi lấy chân khuấy đục nước, rồi làm cho những dòng sông đầy bùn.
  2. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ giăng lưới của Ta trên ngươi cùng với một đoàn quân đông người. Ngươi sẽ bị kéo vào trong lưới của Ta. 4. Ta sẽ ném ngươi xuống đất. Ta sẽ quăng ngươi ra giữa đồng trống. Ta sẽ khiến đủ loài chim trời bu quanh ngươi. Ta sẽ dùng ngươi để làm cho những thú hoang trên khắp cả đất được no nê. 5. Ta sẽ rải thịt ngươi trên những ngọn núi, vứt thi thể của ngươi đầy những thung lũng. 6. Ta sẽ tưới máu của ngươi trên đất cho đến tận những ngọn núi, các dòng suối sẽ đầy máu của ngươi. 7. Khi Ta dập tắt ngươi, Ta sẽ che khuất các từng trời và làm cho những ngôi sao trên trời bị tăm tối. Ta sẽ dùng mây che khuất mặt trời, và mặt trăng không thể tỏa sáng. 8. Ta sẽ làm cho ánh sáng của những tinh tú ở trên trời trở thành tối tăm đối ngươi, và Ta sẽ đặt để sự tối tăm trên xứ sở của ngươi. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Ta sẽ làm cho lòng của nhiều dân tộc bối rối, khi Ta thi hành sự hủy diệt ngươi giữa vòng các dân tộc, trong những nước mà ngươi chưa từng biết. 10. Ta sẽ làm cho nhiều dân kinh hãi vì cớ ngươi, các vua của chúng sẽ kinh hoàng vì cớ ngươi khi Ta vung gươm của Ta trước mặt chúng. Vào ngày ngươi bị sụp đổ, mọi người kinh hãi lo lắng cho sinh mạng của mình.
  4. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Gươm của vua Ba-by-lôn sẽ đến với ngươi. 12. Ta sẽ khiến đoàn quân đông đảo của ngươi gục ngã dưới gươm của những kẻ bạo tàn, là những kẻ tàn ác nhất trong các dân tộc. Chúng sẽ đập tan sự kiêu ngạo của Ai-cập. Tất cả đoàn quân của nó sẽ bị tiêu diệt. 13. Ta cũng sẽ hủy diệt tất cả những thú vật đang ở bên cạnh những dòng nước lớn. Nước sẽ không còn bị khuấy đục bởi chân người và cũng không bị khuấy đục bởi móng chân của thú vật nữa. 14. Bấy giờ, Ta sẽ làm cho các dòng nước của chúng được trong sạch, và làm cho những dòng sông chúng chảy như dầu. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 15. Khi Ta làm cho đất Ai-cập trở thành một nơi hoang vu, của cải đầy dẫy trong xứ bị cướp sạch, khi Ta đánh tất cả những dân cư ở đó, thì chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  5. Đây là bài ai ca mà người ta sẽ hát. Con gái của các nước sẽ khóc than về nó. Người ta sẽ khóc than Ai-cập và đạo quân đông đúc của nó. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  6. Đến ngày mười lăm của tháng đó trong năm thứ mười hai, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 18. Hỡi con người! Hãy than khóc cho đoàn quân đông đúc của Ai-cập đã bị triệt hạ. Nó cùng với những con gái của các quốc gia danh tiếng sẽ đi xuống địa ngục, chung với những kẻ đi xuống vực sâu.
  7. Ngươi có gì đẹp hơn ai? Hãy đi xuống, và nằm chung với những kẻ không được cắt bì.
  8. Chúng sẽ ngã xuống giữa vòng những kẻ bị giết bằng gươm. Nó đã bị nộp cho gươm, bị kéo đi – cả nó và đoàn quân đông đúc của nó. 21. Từ Âm Phủ, một kẻ hùng mạnh giữa vòng những dũng sĩ đã nói về nó với những người đã giúp đỡ họ rằng: Chúng đã bị giết bằng gươm, chúng xuống đây, và nằm chung với những kẻ không được cắt bì.
  9. A-sy-ri, với cả đoàn quân của nó, ở đó. Mồ mả của chúng vây chung quanh nó. Tất cả chúng nó đều bị giết, bị ngã gục bởi gươm. 23. Mồ mả của nó được đặt ở đáy của vực sâu. Toàn thể đạo quân của nó ở chung quanh mộ của nó. Tất cả chúng nó đã bị giết, bị ngã gục bởi gươm, dù chúng từng là những kẻ đã đem kinh hoàng đến trong đất của người sống.
  10. Ê-lam cũng ở đó. Tất cả đoàn quân của nó với mồ mả của chúng vây chung quanh nó. Tất cả chúng nó đã bị giết, bị ngã gục bởi gươm. Chúng là những kẻ không cắt bì đã đi vào nơi sâu thẳm của trái đất. Chúng vốn là những kẻ đã đem kinh hoàng đến cho đất của người sống, nhưng chúng đã mang sự nhục nhã của chúng theo cùng với chúng đi xuống huyệt. 25. Chúng đã làm cho nó một cái giường ở giữa những kẻ bị giết. Tất cả đoàn quân của nó ở chung quanh mộ của nó. Tất cả chúng nó là những kẻ không cắt bì, bị giết bởi gươm. Mặc dầu chúng đã từng đem kinh hoàng đến trong đất của người sống, chúng đã mang theo sự nhục nhã của chúng cùng với chúng đi xuống huyệt, và bị đặt giữa vòng những kẻ bị giết.
  11. Tại đó có Mê-siếc, Tu-banh và đoàn quân của chúng. Mồ mả của chúng nó ở chung quanh chúng. Tất cả chúng nó đều là những kẻ không cắt bì, bị giết bởi gươm, mặc dù chúng đã từng đem kinh hoàng đến trong đất của người sống. 27. Chúng không nằm chung với những dũng sĩ không cắt bì đã ngã gục, tức là những người đã xuống âm phủ cùng với khí giới đánh trận của mình. Gươm của chúng được đặt dưới đầu của chúng, nhưng tội ác chúng chất chứa trong hài cốt của chúng, bởi vì chúng đã gieo rắc sự kinh hoàng cho những dũng sĩ trong đất của người sống.
  12. Nhưng ngươi sẽ bị đập tan tành giữa vòng những kẻ không cắt bì, và sẽ nằm chung với những kẻ bị giết bởi gươm.
  13. Ê-đôm cũng ở tại đó cùng những các vua và tất cả những lãnh đạo của nó. Dù chúng là những kẻ hùng mạnh, chúng cũng nằm chung với những kẻ bị giết bằng gươm. Chúng nằm chung với những kẻ không cắt bì và với những kẻ đi xuống huyệt. 30. Tất cả những lãnh đạo ở phương bắc, cùng toàn thể dân Si-đôn đều ở đó. Chúng đã từng gây kinh hoàng bằng sức mạnh của mình, nhưng chúng đã nhục nhã đi xuống đó cùng với những kẻ bị giết. Chúng nằm chung với những kẻ không cắt bì đã bị giết bằng gươm, và mang theo sự sỉ nhục của mình đi xuống huyệt.
  14. Pha-ra-ôn sẽ nhìn thấy chúng và được an ủi về đạo quân của mình, bởi vì Pha-ra-ôn và cả đạo quân của mình đã bị giết bằng gươm. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 32. Dù Ta đã để cho nó gieo rắc kinh khiếp của Ta trên đất của người sống, nhưng nó và cả đạo quân của nó sẽ nằm giữa vòng những kẻ không cắt bì, bị giết bởi gươm. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

 

33

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy nói với dân tộc của ngươi rằng: Khi Ta sai gươm đao đến trên xứ nào, dân chúng trong xứ đó phải chọn một người làm người canh gác cho họ. 3. Khi người đó thấy gươm đao đến trong xứ, người đó hãy thổi kèn để cảnh cáo dân chúng. 4. Ai nghe tiếng kèn mà không vâng theo lời cảnh cáo, rồi sau đó gươm đao đến cất mạng sống của người đó, thì máu của người đó sẽ đổ lại trên đầu của người đó; 5. bởi vì người đó đã nghe tiếng kèn mà không vâng theo lời cảnh cáo, nên máu của người đó sẽ đổ lại trên người đó. Nhưng ai vâng theo lời cảnh cáo, thì sẽ cứu được mạng sống của mình. 6. Tuy nhiên, nếu người canh gác thấy gươm đao đến mà không thổi kèn để cảnh cáo dân chúng, và rồi gươm đao đến cướp mạng sống của một người nào đó thì người đó sẽ chết trong sự gian ác mình, nhưng Ta sẽ đòi máu của người đó nơi tay của người canh gác.
  2. Hỡi con người! Ta đã lập ngươi làm người canh gác cho nhà Y-sơ-ra-ên. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng của Ta để cảnh cáo chúng. 8. Khi Ta phán với kẻ ác rằng: “Hỡi kẻ gian ác! Ngươi chắc chắn sẽ chết.” Nếu ngươi không cảnh cáo để kẻ ác từ bỏ con đường của nó, thì kẻ ác đó sẽ chết trong tội lỗi của mình, nhưng Ta sẽ đòi máu của nó nơi tay của ngươi. 9. Ngược lại, nếu ngươi cảnh cáo kẻ ác để nó quay trở lại khỏi con đường của nó, nhưng nó không chịu quay trở lại khỏi con đường của nó, thì nó sẽ chết vì tội lỗi của nó, nhưng ngươi sẽ cứu được sinh mạng của mình.
  3. Nầy, hỡi con người! Ngươi hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên như thế nầy: Các ngươi nói rằng bởi vì sự gian ác và tội lỗi của chúng tôi chất nặng trên chúng tôi, khiến chúng tôi bị hủy hoại vì nó. Làm thế nào chúng tôi có thể sống? 11. Ngươi hãy nói với chúng rằng: Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống! Ta không vui về cái chết của kẻ ác nhưng vui vì cớ nó từ bỏ đường lối của mình để được sống. Hãy quay trở lại! Hãy quay trở lại khỏi đường lối gian ác của mình. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Tại sao các ngươi muốn chết? 12. Còn ngươi, hỡi con người! Hãy nói với dân tộc của ngươi rằng: Sự công chính của người công chính sẽ không cứu được nó khi nó phạm tội. Sự gian ác của kẻ ác sẽ không làm cho nó ngã gục khi nó đã từ bỏ sự gian ác. Người công chính sẽ không nhờ sự công chính vốn có của mình mà được sống trong ngày người đó phạm tội. 13. Dù Ta có nói với người công chính rằng nó chắc chắn sẽ sống, nhưng nếu nó cậy vào sự công chính của mình mà phạm tội, thì chẳng có một việc công chính nào của nó được nhớ đến, nhưng nó sẽ chết trong sự gian ác mà nó đã phạm. 14. Khi Ta nói với kẻ dữ rằng “Ngươi chắc chắn sẽ chết!” Nếu nó từ bỏ tội lỗi của mình, và làm điều công bình chính trực; 15. trả lại vật bị thế cầm, bồi thường vật đã cướp, bước đi theo lệ luật của sự sống, và không phạm điều gian ác, thì chắc chắn nó sẽ không chết nhưng sẽ sống. 16. Không có một tội nào trong tất cả tội lỗi nó đã phạm sẽ bị nhớ lại để chống lại nó. Nó đã làm điều công bình và chính trực, chắc chắn nó sẽ sống.
  4. Nhưng dân tộc của ngươi đã nói rằng: “Đường lối của Chúa không công bình”, trong khi chính đường lối của chúng mới không công bình. 18. Khi một người công chính từ bỏ sự công chính của mình mà phạm điều gian ác, thì nó sẽ chết vì điều đó; 20. nhưng các ngươi nói rằng: “Đường lối của Chúa không công bình.” Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Ta sẽ phán xét các ngươi: Mỗi người tùy theo những đường lối của người đó.
  5. Vào ngày năm, tháng Mười, trong năm thứ mười hai sau khi chúng tôi bị lưu đày, có một người thoát nạn từ Giê-ru-sa-lem đã đến báo tin cho tôi rằng: “Thành phố đã bị thất thủ!”
  6. Buổi chiều trước khi người trốn thoát đó đến, tay của Đức Giê-hô-va đã ở trên tôi. Ngài đã mở miệng của tôi trước khi người trốn thoát đó đến vào buổi sáng. Vì vậy, miệng của tôi được mở ra và tôi không bị câm nữa. 23. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 24. Hỡi con người! Những kẻ đang sống trong những nơi hoang tàn của xứ Y-sơ-ra-ên nói rằng: “Áp-ra-ham chỉ có một mình mà đã hưởng được đất nầy. Chúng ta đông người. Đất nầy đã được ban cho chúng ta làm sản nghiệp.” 25. Vì vậy, hãy nói với chúng nó rằng Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Các ngươi ăn huyết, mắt hướng về những thần tượng, và làm đổ máu, mà các ngươi sẽ sở hữu đất này hay sao? 26. Các ngươi đã nhờ cậy vào gươm của mình, đã phạm những chuyện kinh tởm, mỗi người trong các ngươi đã làm nhục vợ của kẻ lân cận mình, mà các ngươi sẽ sở hữu đất này hay sao?
  7. Ngươi hãy nói điều nầy với chúng. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Thật như Ta hằng sống! Những người đang sống trong những nơi hoang tàn sẽ ngã chết bởi gươm. Ta sẽ phó những kẻ ở ngoài đồng cho thú vật cắn nuốt, còn những kẻ ở trong các đồn lũy và hang hố thì sẽ chết vì dịch bệnh. 28. Bởi vì Ta sẽ làm đất nầy trở nên hoang tàn và đổ nát, quyền thế mà nó tự hào sẽ bị chấm dứt; những núi của Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên hoang vu đến nỗi không có ai qua lại nữa. 29. Bấy giờ, chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. Ta đã làm cho đất nầy trở nên hoang tàn đổ nát vì mọi điều kinh tởm mà chúng đã làm.
  8. Còn ngươi, hỡi con người! Con cháu của dân tộc ngươi đang bàn tán về ngươi bên cạnh những bức tường ở bên trong những cái cửa của những căn nhà. Người này nói với người kia, người này nói với anh em của mình rằng: “Hãy đến nghe sứ điệp của Đức Giê-hô-va.” 31. Chúng đến cùng ngươi như dân Ta đã đến. Chúng ngồi trước mặt ngươi và nghe những lời của ngươi nhưng chúng không thực hành, bởi vì chúng dùng miệng bày tỏ tình thương thật nhiều, nhưng trong lòng thì tìm kiếm lợi lộc. 32. Thật vậy đối với chúng, ngươi là một người có giọng ca thật hay đang hát một bài ca trữ tình và biết đàn, chúng chỉ nghe lời ngươi nói mà không thực hành. 33. Thời gian trôi qua, khi điều đó xảy đến, thì chúng sẽ biết rằng ở giữa chúng có một tiên tri.

 

34

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy tiên tri chống lại những người chăn của Y-sơ-ra-ên. Hãy nói tiên tri với những người chăn đó rằng Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Khốn cho những kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên, là những kẻ chỉ lo nuôi chính mình! Không phải những người chăn sẽ nuôi bầy chiên hay sao? 3. Các ngươi đã ăn những vật béo bổ, mặc cho mình những áo lông, giết những con thú mập mạnh, nhưng các ngươi không chăm sóc cho bầy chiên. 4. Các ngươi không làm cho mạnh những con yếu; các ngươi không chữa lành những con bị bịnh; các ngươi không băng bó con bị thương; các ngươi không đem con bị xua đuổi trở về; các ngươi không đi tìm con bị lạc mất; nhưng các ngươi đã cai trị chúng bằng bạo lực và sự tàn ác. 5. Chúng đã bị tản lạc khắp nơi bởi vì không có người chăn, chúng đã trở thành mồi cho mọi loài thú ngoài đồng và đã bị tan lạc. 6. Chiên của Ta tan lạc trên những ngọn núi và trên mọi đồi cao. Chiên của Ta bị phân tán khắp mặt đất, không ai tìm, không ai kiếm.
  2. Vì vậy, các ngươi là những kẻ chăn, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: 8. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống! Bởi vì không có người chăn cho nên bầy chiên của Ta đã làm mồi và đã trở thành đồ ăn cho mọi loài thú ngoài đồng. Những người chăn của Ta cũng không tìm kiếm chiên của Ta, nhưng chúng chỉ lo nuôi chính mình mà không nuôi chiên của Ta. 9. Vì vậy, các ngươi là những kẻ chăn, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: 10. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy Ta sẽ chống lại những người chăn đó. Ta sẽ đòi lại bầy của Ta từ nơi tay của chúng. Ta sẽ không cho chúng chăn chiên nữa, và chúng cũng không thể tự nuôi chính mình nữa. Ta sẽ giải cứu chiên Ta khỏi miệng của chúng để chiên không làm đồ ăn cho chúng nữa.
  3. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, chính Ta sẽ tìm chiên của Ta, và sẽ kiếm chúng. 12. Như một người chăn, đang ở giữa bầy chiên trong ngày chúng bị tản lạc, đã đi ra tìm chiên của mình như thế nào, Ta cũng sẽ đi tìm chiên của Ta như vậy. Ta sẽ giải thoát chúng khỏi những nơi mà chúng đã bị tản lạc trong ngày mây mù tăm tối. 13. Ta sẽ đem chúng ra khỏi những dân tộc, Ta sẽ tập hợp chúng lại từ các nước, rồi đem chúng về trong đất riêng của chúng. Ta sẽ chăn nuôi chúng trên những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên, bên cạnh những dòng suối, và trong mọi nơi định cư ở trong xứ. 14. Ta sẽ chăn nuôi chúng trong một đồng cỏ phì nhiêu; chuồng của chúng sẽ ở trên các đỉnh núi của Y-sơ-ra-ên. Tại đó, chúng sẽ nằm trong chuồng của mình, và ăn trong một đồng cỏ phì nhiêu trên những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên. 15. Chính Ta sẽ chăn chiên của Ta và Ta sẽ cho chúng được nằm xuống an nghỉ. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 16. Ta sẽ đi tìm con nào bị mất, Ta sẽ mang về con nào xua đuổi, Ta sẽ băng bó con nào bị thương, Ta sẽ làm cho mạnh khỏe con nào yếu đuối, nhưng Ta sẽ tiêu diệt con nào mập béo và mạnh bạo. Ta sẽ nuôi chúng bằng sự công chính.
  4. Còn các ngươi, hỡi bầy chiên của Ta! Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ phán xét giữa chiên với chiên, giữa chiên đực với dê đực. 18. Các ngươi đã ăn trong đồng cỏ trù phú chưa đủ hay sao mà lại lấy chân giày đạp cỏ còn lại? Các ngươi đã uống nước trong lành chưa đủ hay sao mà lại lấy chân làm vẩn đục phần còn lại? 19. Bầy của Ta phải ăn cỏ mà chân các ngươi đã giày đạp, và uống nước mà chân các ngươi đã làm vẩn đục!
  5. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, chính Ta sẽ phán xét giữa những chiên mập và chiên gầy, 21. bởi vì các ngươi đã lấy hông, lấy vai mà đẩy, lấy sừng mà húc tất cả những con chiên yếu ớt cho đến chừng các ngươi đã làm tan lạc chúng ra bên ngoài. 22. Nhưng Ta sẽ giải cứu bầy chiên của Ta, chúng sẽ không bị làm mồi nữa, nhưng Ta sẽ phán xét giữa chiên và chiên.

23 Ta sẽ lập trên chúng một người chăn, và người sẽ chăn nuôi chúng. Đó là Đa-vít, đầy tớ của Ta. Chính người sẽ chăn nuôi chúng, và làm người chăn của chúng. 24. Ta, Đức Giê-hô-va, sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng; và Đa-vít, đầy tớ của Ta, sẽ làm lãnh đạo của chúng. Ta Đức Giê-hô-va đã phán vậy.

  1. Ta sẽ lập với chúng một giao ước hòa bình, diệt trừ những thú dữ ra khỏi xứ của chúng, để chúng có thể sống trong đồng hoang và ngủ bình an trong rừng. 26. Ta sẽ làm cho chúng và những nơi chung quanh ngọn đồi của Ta được phước hạnh. Ta sẽ khiến mưa rơi đúng mùa. Đó sẽ là những cơn mưa phước hạnh. 27. Cây ngoài đồng sẽ kết quả và đất sẽ sinh hoa lợi. Chúng sẽ sống bình an trong đất của mình, và chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta đã bẻ gãy những cái đòn trong ách của chúng, và giải cứu chúng khỏi tay những kẻ đã bắt chúng làm nô dịch. 28. Chúng sẽ không còn là miếng mồi cho các nước. Thú dữ trong xứ sẽ không ăn nuốt chúng. Chúng sẽ sống bình an và không còn sợ hãi. 29. Ta sẽ thiết lập cho chúng một nông trại danh tiếng. Chúng sẽ không còn ăn như trong xứ đang bị đói kém. Chúng sẽ không còn bị các nước sỉ nhục nữa. 30. Chúng sẽ biết Ta, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng đang ở với chúng, và nhà Y-sơ-ra-ên là dân của Ta. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 31. Các ngươi là bầy chiên của Ta, là chiên của đồng cỏ Ta. Các ngươi là loài người và Ta là Đức Chúa Trời của các ngươi. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

35

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy hướng mặt của ngươi đối diện với núi Sê-i-rơ. Hãy nói tiên tri chống lại nó.
  2. Hãy nói với nó: Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hỡi núi Sê-i-rơ! Ta chống lại ngươi. Ta giang tay của Ta chống lại ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi trở nên hoang phế và điêu tàn. 4. Ta sẽ làm cho các thành của ngươi bị hủy hoại và ngươi sẽ trở thành một nơi hoang vu. Bấy giờ, ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  3. Bởi vì ngươi vẫn giữ mối thù xa xưa, và đã nộp con cái của Y-sơ-ra-ên vào gươm đao trong ngày tai họa của họ vào thời điểm cuối cùng; 6. cho nên Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống! Ta sẽ phó ngươi trong máu, và máu sẽ đuổi theo ngươi. Bởi vì ngươi không ghét chuyện làm đổ máu, nên máu sẽ đuổi theo ngươi. 7. Vì vậy, Ta sẽ làm cho núi Sê-i-rơ bị hoang vu điêu tàn. Nó sẽ bị hủy diệt, không còn người qua lại nữa. 8. Những ngọn núi của ngươi sẽ đầy xác chết. Trên đồi, dưới thung lũng, tại mọi dòng suối đều có người ngã gục vì gươm. 9. Ta sẽ làm cho ngươi bị hoang tàn mãi mãi. Những thành phố của ngươi sẽ không có người cư trú, và ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  4. Bởi vì ngươi có nói rằng: Hai dân tộc đó và hai nước đó sẽ thuộc về ta. Chúng ta sẽ chiếm hữu chúng cho dù Đức Giê-hô-va đang ở đó. 11. Cho nên, Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống! Ta sẽ đối xử với ngươi theo cơn giận và lòng ghen ghét mà ngươi đã đối xử với họ khi thù ghét họ, và Ta sẽ bày tỏ chính mình Ta ở giữa họ khi Ta phán xét ngươi. 12. Ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, đã nghe những lời sỉ nhục mà ngươi đã nói ra để chống lại các núi của Y-sơ-ra-ên. Ngươi nói rằng: Những núi đó đã bị hoang tàn và chúng sẽ bị chúng ta nuốt. 13. Các ngươi đã nói những lời ngạo mạn chống lại Ta. Các ngươi đã nói nhiều điều xúc phạm Ta. Thật Ta, đã nghe điều đó!
  5. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Trong khi cả trái đất vui mừng thì Ta sẽ làm cho ngươi trở thành hoang vu. 15. Bởi vì ngươi đã vui mừng khi cơ nghiệp của nhà Y-sơ-ra-ên bị hoang tàn, cho nên Ta cũng sẽ đối xử với ngươi như vậy. Núi Sê-i-rơ và toàn thể Ê-đôm sẽ bị hoang tàn và chúng nó sẽ biết rằng chính Ta là Đức Giê-hô-va.

 

36

  1. Còn ngươi, hỡi con người! Hãy nói tiên tri về những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên. Hãy nói: Những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
  2. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì kẻ thù đã nói về các ngươi rằng: “Ha ha! Những đỉnh cao cổ xưa đã thuộc quyền sở hữu của chúng ta!” 3. Vì vậy, hãy nói tiên tri rằng Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật vậy, bởi vì chúng đã làm cho các ngươi trở nên điêu tàn, và đã tấn công các ngươi từ mọi phía để các ngươi trở thành vật sở hữu của những dân còn sót lại. Các ngươi đang là đề tài trên môi của những kẻ đàm tiếu và bị người ta phỉ báng. 4. Vì vậy, hỡi các núi của Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe lời của Chúa là Đức Giê-hô-va. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy về những ngọn núi, những ngọn đồi, những dòng suối, những thung lũng, những nơi đổ nát, những chốn hoang tàn, những thành phố bị bỏ hoang, tức là những nơi đã trở thành mục tiêu cho những cuộc cướp bóc và là đối tượng cho những dân còn sót lại cười chê. 5. Cho nên, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Thật vậy, trong lửa giận ghen tức, Ta đã công bố việc chống lại những dân còn sót lại của các nước và cả Ê-đôm, là những kẻ với lòng đầy vui mừng và khinh miệt, định lấy đất của Ta làm sản nghiệp riêng cho chúng, như là một của cướp. 6. Vì vậy, hãy nói tiên tri về đất của Y-sơ-ra-ên! Hãy nói với những ngọn núi, những ngọn đồi, những dòng suối, những thung lũng rằng: Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Thật vậy, Ta đã phán trong cơn ghen tức và nóng giận của Ta, bởi vì các ngươi đã chịu đựng những lời phỉ báng của các dân. 7. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ta đã đưa tay của Ta lên để xác quyết rằng không một nước nào chung quanh các ngươi mà không bị sỉ nhục.
  3. Về phần các ngươi, hỡi những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên, các ngươi sẽ trổ cành và kết quả cho dân Y-sơ-ra-ên của Ta, bởi vì chúng sắp sửa trở về. 9. Nầy, Ta hướng về các ngươi. Ta đã quay trở lại với các ngươi. Các ngươi sẽ cày cấy và gieo trồng. 10. Ta sẽ gia tăng người của các ngươi, cho toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên. Tất cả các thành sẽ có người ở, và những nơi đổ nát sẽ được xây dựng trở lại. 11. Ta sẽ gia tăng cả người lẫn súc vật; chúng sẽ gia tăng và sinh sản. Ta sẽ cho các ngươi được cư ngụ như thời xa xưa, và được thịnh vượng hơn thuở ban đầu; bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. 12. Ta sẽ làm cho có người bước đi trên ngươi, đó là người Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. Chúng nó sẽ chiếm hữu ngươi và ngươi sẽ trở thành cơ nghiệp của chúng nó. Ngươi sẽ không còn thiếu con cái nữa.
  4. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì chúng nói với ngươi: “Ngươi là xứ đã ăn nuốt người ta, và ngươi đã làm cho dân chúng của nước ngươi bị tang tóc”; 14. cho nên ngươi sẽ không ăn nuốt người ta nữa và ngươi cũng sẽ không làm cho dân chúng của nước ngươi bị tang tóc nữa. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 15. Ta sẽ không để cho ngươi phải nghe lời phỉ báng của các nước, và cũng không phải gánh chịu sự sỉ nhục từ các dân nữa. Ngươi sẽ không còn làm cho quốc gia của ngươi bị sụp đổ nữa. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  5. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 17. Hỡi con người! Lúc nhà Y-sơ-ra-ên ở trong đất của mình, họ đã làm ô uế đất đó bởi đường lối và việc làm của mình. Đường lối họ ở trước mặt Ta giống như sự ô uế của phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt. 18. Vì vậy, Ta đã đổ cơn thịnh nộ của Ta trên chúng về máu mà chúng đã làm đổ ra trong xứ và vì những thần tượng mà chúng đã làm cho cả xứ bị ô uế. 19. Ta đã rải chúng ra giữa các dân, và chúng đã bị phân tán giữa các nước. Ta đã đoán phạt chúng tùy theo đường lối và việc làm của chúng. 20. Tại những nước mà chúng đã đến, chúng đã làm cho danh thánh của Ta bị xúc phạm, bởi vì người ta đã nói về chúng: Những kẻ này là dân của Đức Giê-hô-va, nhưng chúng đã phải rời khỏi đất của Ngài.
  6. Nhưng Ta quan tâm về danh thánh của Ta, là danh mà nhà Y-sơ-ra-ên đã xúc phạm tại những nước chúng nó đi đến. 22. Vì vậy, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Ta không hành động vì cớ các ngươi, nhưng vì cớ danh thánh của Ta mà các ngươi đã xúc phạm giữa vòng các dân là nơi mà các ngươi đã đi đến. 23. Ta sẽ thánh hóa đại danh của Ta, là danh đã bị xúc phạm giữa các nước, là danh mà các ngươi đã làm cho bị xúc phạm giữa vòng chúng nó. Bấy giờ các nước sẽ biết rằng chính Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta bày tỏ sự thánh thiện của Ta giữa vòng các ngươi ngay trước mắt của chúng nó. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 24. Bởi vì Ta sẽ lấy các ngươi ra khỏi các dân, sẽ tụ họp các ngươi từ mọi nước, và sẽ đem các ngươi trở về đất của các ngươi. 25. Ta sẽ rảy nước tinh sạch trên các ngươi, và các ngươi sẽ được sạch. Ta sẽ tẩy sạch khỏi các ngươi mọi ô uế của các ngươi và mọi thần tượng của các ngươi. 26. Ta sẽ ban cho các ngươi một tấm lòng mới và đặt một thần linh mới vào trong các ngươi. Ta sẽ lấy tấm lòng bằng đá ra khỏi xác thịt của các ngươi, và Ta sẽ ban cho các ngươi một tấm lòng bằng thịt. 27. Ta sẽ đặt Thần của Ta trong các ngươi, khiến cho các ngươi đi theo những luật lệ của Ta và cẩn thận làm theo những mạng lịnh của Ta. 28. Các ngươi sẽ ở trong đất mà Ta đã ban cho tổ phụ của các ngươi. Các ngươi sẽ làm dân của Ta, và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của các ngươi. 29. Ta sẽ giải cứu các ngươi khỏi mọi ô uế. Ta sẽ truyền cho ngũ cốc gia tăng. Ta sẽ không đem nạn đói đến với các ngươi nữa. 30. Ta sẽ làm cho trái cây thêm nhiều và hoa lợi của ruộng đồng gia tăng, để các ngươi không còn bị nhục nhã với các nước vì bị đói. 31. Và rồi, các ngươi sẽ nhớ lại những đường lối xấu xa và những việc làm không tốt của mình. Các ngươi sẽ ghê tởm chính mình vì những tội lỗi và những điều kinh tởm của các ngươi. 32. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Hãy biết rõ điều đó! Không phải vì cớ các ngươi mà Ta hành động. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Các ngươi phải cảm thấy xấu hổ và nhục nhã vì những đường lối của mình. 33. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Trong ngày mà Ta tẩy sạch mọi tội lỗi của các ngươi, Ta sẽ làm cho các thành có dân ở và những nơi đổ nát sẽ được xây dựng trở lại. 34. Đất hoang vu sẽ được cày cấy thay vì bị bỏ hoang trước mắt mọi người qua lại. 35. Người ta sẽ nói: Đất hoang phế này đã trở nên như vườn Ê-đen, và những thành bị tàn phá, đổ nát, và hoang phế nay đã được củng cố và có người cư ngụ. 36. Bấy giờ, các dân tộc còn sót lại chung quanh các ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, đã xây dựng lại nơi bị tàn phá, và đã trồng lại nơi bị hoang tàn. Ta, là Đức Giê-hô-va, đã phán và sẽ thực hiện điều đó.
  7. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ta cũng sẽ cho nhà Y-sơ-ra-ên cầu hỏi Ta thực hiện điều này cho chúng. Ta sẽ gia tăng người của chúng đông như một đàn chiên. 38. Những thành đổ nát sẽ đầy những đoàn người, giống như một đàn chiên đã được biệt riêng ra, là đàn chiên của Giê-ru-sa-lem trong những ngày lễ. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

37

  1. Tay của Đức Giê-hô-va đặt trên tôi, Ngài đem tôi ra bởi Thần của Đức Giê-hô-va, rồi đặt tôi giữa một thung lũng. Nơi đó đầy những xương. 2. Ngài dẫn tôi đi một vòng chung quanh chúng để nhìn thấy. Có rất nhiều xương trên bề mặt của thung lũng, và chúng rất khô.
  2. Ngài phán với tôi: Hỡi con người! Những xương nầy có thể sống được không? Tôi trả lời: Chúa là Đức Giê-hô-va! Ngài biết điều đó. 4. Ngài phán với tôi: Hãy nói tiên tri với những xương nầy. Hãy truyền cho chúng: Hỡi những cái xương, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
  3. Chúa là Đức Giê-hô-va phán với những cái xương đó như thế nầy: Nầy, Ta sẽ ban hơi thở vào trong các ngươi và các ngươi sẽ sống. 6. Ta sẽ đặt gân vào trong các ngươi, sẽ khiến thịt mọc lên trên các ngươi, rồi bọc các ngươi bằng da. Ta sẽ ban hơi thở vào trong các ngươi, và rồi các ngươi sẽ sống. Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  4. Vì vậy, tôi đã nói tiên tri như tôi được truyền dặn. Khi tôi nói tiên tri, có một tiếng động lớn, và rồi thình lình có sự chuyển động, những cái xương ráp lại với nhau, xương gắn với xương. 8. Tôi nhìn xem. Kìa, các gân đã mọc lên, thịt xuất hiện, và da bao bọc ở bên ngoài, nhưng không có hơi thở ở bên trong của chúng.
  5. Ngài phán với tôi: Hỡi con người! Hãy nói tiên tri với gió. Hãy nói tiên tri và bảo gió rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Hỡi gió từ bốn phương! Hãy đến. Hỡi hơi thở! Hãy thổi vào bên trong những kẻ bị giết nầy, để cho chúng sống lại.
  6. Vì vậy, tôi đã nói tiên tri như tôi được truyền dặn. Hơi thở đã đến, rồi vào bên trong chúng. Chúng đã sống lại, rồi đứng trên chân của mình tạo thành một đạo quân thật đông và thật lớn.
  7. Ngài phán với tôi: Hỡi con người! Những hài cốt nầy là toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên. Kìa, chúng nói rằng: Xương của chúng tôi đã khô, niềm hy vọng của chúng tôi đã mất, và chúng tôi đã bị cắt đứt với nhau. 12. Vì vậy, hãy nói tiên tri và truyền cho chúng rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Hỡi dân của Ta! Hãy xem. Ta sẽ mở những mồ mả của các ngươi, khiến các ngươi ra khỏi những mồ mả của mình, rồi Ta sẽ đem các ngươi về trong đất của Y-sơ-ra-ên. 13. Hỡi dân của Ta! Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta đã mở những mồ mả của các ngươi, và đem các ngươi ra khỏi những mồ mả của mình. 14. Ta sẽ đặt Thần của Ta vào trong các ngươi, rồi các ngươi sẽ sống. Ta sẽ đặt các ngươi vào trong đất của các ngươi. Các ngươi sẽ biết rằng Ta, là Đức Giê-hô-va, đã phán và đã thực hiện. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  8. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: 16. Hỡi con người! Ngươi hãy lấy một cây gậy rồi viết trên đó: “Giu-đa và những người Y-sơ-ra-ên hiệp tác với nó.” Ngươi hãy lấy một cây gậy khác và viết trên đó: “Giô-sép – cây gậy của Ép-ra-im – và cả nhà Y-sơ-ra-ên hiệp tác với nó.” 17. Hãy nhập chúng, cái nầy với cái kia, vào nhau để thành một, và chúng sẽ trở thành một cây gậy trong tay của ngươi. 18. Khi người dân của ngươi hỏi ngươi: Lẽ nào ông không giải thích cho chúng tôi biết điều nầy có ý nghĩa gì hay sao? 19. Ngươi hãy nói với chúng Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ lấy cây gậy của Giô-sép, tức là cây gậy ở trong tay của Ép-ra-im, cùng những chi tộc Y-sơ-ra-ên hiệp tác với nó, Ta sẽ sáp nhập chúng với cây gậy của Giu-đa để thành một cây gậy. Chúng sẽ trở thành một trong tay của Ta. 20. Hãy đặt những cây gậy mà ngươi đã viết trên đó trước mắt của chúng. 21. Hãy nói với chúng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Hãy xem, chính Ta sẽ lấy con cái Y-sơ-ra-ên ra khỏi các nước mà chúng đã đi đến. Ta sẽ gom chúng lại từ mọi nơi, rồi đem chúng trở về đất của chúng. 22. Ta sẽ làm cho chúng thành một quốc gia tại trong xứ trên những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên. Chỉ có một vua sẽ làm vua trên chúng. Chúng không phải là hai quốc gia và sẽ không bị phân rẽ thành hai vương quốc để chống lại nhau nữa. 23. Chúng sẽ không làm cho chính mình bị ô uế vì những thần tượng, những điều ghê tởm, hoặc bởi những vi phạm nữa. Ta sẽ giải cứu chúng khỏi những nơi chúng tụ tập để phạm tội và Ta sẽ thanh tẩy chúng. Chúng sẽ là dân của Ta và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của chúng.
  9. Tôi tớ của Ta là Ða-vít sẽ làm vua cai trị chúng, và tất cả sẽ chỉ có một người chăn. Chúng sẽ bước đi theo những luật lệ của Ta, vâng giữ những mạng lịnh Ta, và thực hiện những điều đó. 25. Chúng sẽ sống trong đất mà Ta đã ban cho Gia-cốp, tôi tớ của Ta, là nơi tổ tiên của chúng đã sống. Chúng, con cháu của chúng, và con cháu của con cháu chúng sẽ sống tại đó mãi mãi. Đa-vít, là tôi tớ của Ta, sẽ là lãnh đạo của chúng đời đời. 26. Ta sẽ lập giao ước bình an với chúng. Đó là một giao ước đời đời dành cho chúng. Ta sẽ thiết lập và làm cho chúng gia tăng. Ta sẽ đặt Nơi Thánh của Ta ở giữa chúng đời đời. 27. Đền Tạm của Ta sẽ ở giữa chúng. Ta sẽ là Đức Chúa Trời của chúng, và chúng sẽ là dân của Ta. 28. Bấy giờ, các nước sẽ biết Ta, Đức Giê-hô-va, đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên ra thánh bởi vì Nơi Thánh của Ta sẽ ở giữa họ đời đời.

38

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Hỡi con người! Hãy hướng mặt của ngươi về Gót, về xứ Ma-gốc, là lãnh đạo của Rô-sơ, Mê-siếc và Tu-banh. Hãy nói tiên tri chống lại nó. 3. Hãy nói rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Hỡi Gót, lãnh đạo của Rô-sơ, Mê-siếc và Tu-banh! Hãy xem, Ta chống lại ngươi. 4. Ta sẽ đem ngươi trở lại, đặt móc vào những hàm của ngươi, dẫn ngươi ra cùng với toàn thể quân đội của ngươi, gồm những chiến mã, những kỵ binh, tất cả được trang phục lộng lẫy thành một đoàn quân đông đảo với thuẫn, khiên. Tất cả đều cầm gươm. 5. Ba-tư, Cút và Phút cùng đi với chúng. Tất cả đều mang thuẫn và mũ chiến. 6. Gô-me và tất cả quân đội của nó, nhà Tô-ga-ma ở phía cực bắc với cả đạo quân của nó, cùng nhiều dân tộc theo ngươi.
  2. Ngươi và toàn thể đoàn quân đã tụ tập chung quanh ngươi hãy sẵn sàng, hãy chuẩn bị. Chính ngươi hãy canh chừng chúng nó. 8. Sau nhiều ngày, ngươi sẽ được triệu tập. Trong những năm về sau, ngươi sẽ đến một xứ đã được giải cứu khỏi gươm đao và được thu thập từ nhiều dân tộc, được đem đến những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên, là nơi vẫn hoang phế. Họ đã được đem ra khỏi các quốc gia và tất cả đang sống yên lành. 9. Ngươi sẽ tiến tới, tấn công như bão táp. Ngươi cùng với cả đoàn quân và nhiều dân tộc đi theo ngươi sẽ giống như một đám mây che phủ cả đất.
  3. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như thế nầy: Thời gian trôi qua, sẽ có lúc những ý tưởng sẽ nổi lên trong tâm trí của ngươi, rồi ngươi sẽ lập một kế hoạch gian ác. 11. Ngươi sẽ nói: Ta sẽ tiến đánh một xứ mà những thành không có tường bảo vệ. Ta sẽ ập vào một dân hiền hòa, đang sống yên ổn. Tất cả bọn chúng đều sống trong những thành không có tường, cũng không cổng và then gài. 12. Ta sẽ cướp bóc, và đoạt lấy các chiến lợi phẩm. Tay của ngươi dang ra làm hoang tàn một nơi đã có người ở, chống lại những người đã được thu thập từ các nước trở về, họ đã gây dựng được những đàn súc vật và của cải, và bây giờ đang sống giữa xứ. 13. Sê-ba, Đê-đan, những thương gia từ Ta-rê-si, và tất cả những sư tử tơ của nó sẽ nói với ngươi: Có phải ngươi đến để cướp của? Có phải ngươi tập trung quân lính mình để đánh phá, cướp đi bạc và vàng, súc vật và của cải, và thu nhiều chiến lợi phẩm hay không?
  4. Vì vậy, hỡi con người! Hãy nói tiên tri và bảo Gót rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Trong ngày đó, ngươi không biết rằng dân Y-sơ-ra-ên của Ta đang sống bình yên hay sao? 15. Từ chỗ của ngươi tận phương bắc, ngươi cùng nhiều dân đi với ngươi, tất cả đều cỡi ngựa, một đại quân đông đảo, một đoàn quân hùng mạnh đã đến. 16. Hỡi Gót! Ngươi sẽ đến đánh dân Y-sơ-ra-ên của Ta như một đám mây che phủ đất. Thật vậy, trong những ngày sau rốt, Ta sẽ khiến ngươi chinh phạt đất của Ta để các dân tộc nhìn biết Ta, và qua ngươi, Ta sẽ được tôn thánh trước mắt của chúng.
  5. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Không phải ngươi là kẻ mà Ta đã nói từ những ngày xa xưa qua các đầy tớ của Ta là những tiên tri của Y-sơ-ra-ên. Họ đã tiên tri trong thời của họ nhiều năm rằng Ta sẽ đem ngươi đến để tấn công chúng hay sao? 18. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Đây là điều sẽ xảy ra trong ngày đó: Khi Gót tấn công đất Y-sơ-ra-ên thì cơn giận của Ta sẽ thể hiện trên mặt của Ta. 19. Trong cơn ghen, trong lửa giận Ta đã tuyên bố: Chắc chắn trong ngày đó sẽ có một cơn rung chuyển dữ dội trên đất Y-sơ-ra-ên. 20. Trước mặt Ta, cá biển, chim trời, thú đồng, mọi loài bò sát bò trên đất, cùng mọi người trên mặt đất đều run rẩy. Núi non sụp đổ, những vách đá bị ngã sập, và mọi thành lũy đều sụp đổ xuống đất. 21. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Ta sẽ gọi gươm đến chống lại nó trên mọi núi của Ta. Gươm của mỗi người sẽ chống lại anh em của mình. 22. Ta sẽ thi hành sự phán xét chống lại nó bằng dịch bệnh và đổ máu. Ta sẽ khiến những trận mưa lũ, mưa đá, lửa và diêm sinh đổ xuống trên nó, trên đạo quân của nó và nhiều dân đi với nó. 23. Ta sẽ bày tỏ sự vĩ đại và thánh khiết của Ta, và Ta sẽ được nhận biết trước mắt của nhiều dân tộc. Chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.

 

39

  1. Hỡi con người! Hãy nói tiên tri chống lại Gót. Hãy bảo nó rằng Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Hỡi Gót, lãnh đạo của Rô-sơ, Mê-siếc và Tu-banh! Nầy, Ta chống lại ngươi. 2. Ta sẽ đem ngươi trở lại, dẫn dắt ngươi, làm cho ngươi được trổi lên từ miền cực bắc, và rồi Ta sẽ đem ngươi đến để tấn công những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên. 3. Ta sẽ đánh rơi cây cung khỏi tay trái của ngươi và làm những mũi tên rơi khỏi tay phải của ngươi. 4. Ngươi sẽ ngã xuống trên những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên. Ta sẽ phó ngươi và tất cả đạo quân của ngươi, cùng với những dân tộc theo ngươi, làm mồi cho mọi loài chim và thú dữ ngoài đồng. 5. Ngươi sẽ ngã gục nơi đồng trống bởi vì chính Ta đã phán. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 6. Ta sẽ sai lửa giáng trên Ma-gốc, cùng những kẻ sống an toàn tại vùng duyên hải; và rồi chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
  2. Ta sẽ làm cho danh thánh của Ta được nhận biết giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên của Ta, và Ta sẽ không để cho danh thánh của Ta bị xúc phạm nữa. Các dân tộc sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. 8. Kìa, điều đó đang đến, nó sẽ xảy ra. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Đây là ngày mà Ta đã công bố.
  3. Những người cư ngụ trong các thành của Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra, họ sẽ đốt và thiêu hủy những vũ khí, cả khiên và thuẫn, cung và tên, giáo và mác. Chúng sẽ thiêu đốt bằng lửa trong bảy năm. 10. Chúng sẽ không cần kiếm củi ngoài đồng hay chặt cây trong rừng, nhưng sẽ chụm lửa bằng vũ khí. Chúng sẽ cướp những kẻ đã cướp phá chúng và tước đoạt những đã kẻ tước đoạt chúng. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Trong ngày đó, Ta sẽ cho Gót một chỗ làm mồ chôn tại Y-sơ-ra-ên trong thung lũng của những lữ khách, và về phía đông của biển. Mồ chôn đó là nơi dừng chân của lữ khách, bởi vì tại đó người ta sẽ chôn Gót và cả đoàn quân của nó. Người ta sẽ gọi nơi đó là thung lũng của Ha-môn Gót. 12. Trong bảy tháng, nhà Y-sơ-ra-ên sẽ chôn cất chúng nó để họ có thể tẩy sạch xứ sở. 13. Tất cả dân chúng trong xứ sẽ chôn chúng. Sẽ có một ngày trọng đại cho cả xứ, tức là ngày mà Ta sẽ được vinh hiển. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 14. Người ta sẽ cử những người thường trực đi lại khắp trong xứ để chôn cất những xác chết còn lại trên mặt đất để thanh tẩy. Sau bảy tháng họ bắt đầu cuộc tìm kiếm này. 15. Khi lữ khách đi ngang qua xứ, nếu thấy có xương người, thì họ cắm một cột mốc bên cạnh cho đến khi những người đào huyệt đến để chôn những xương đó trong thung lũng Ha-môn Gót. 16. Sẽ có một thành được đặt tên là Ha-môn. Người ta sẽ thanh tẩy cả xứ như vậy.
  5. Hỡi con người! Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy. Hãy nói với mọi loài chim và mọi loài thú đồng rằng: Các ngươi hãy nhóm lại. Hãy tụ họp từ mọi phương, rồi hãy đến để dự tế lễ mà Ta đã dọn cho các ngươi, là một tế lễ thật lớn trên những ngọn núi của Y-sơ-ra-ên. Các ngươi sẽ được ăn thịt và uống máu. 18. Các ngươi sẽ ăn thịt những dũng sĩ, uống máu của các lãnh tụ trên đất, như ăn thịt chiên đực, chiên con, dê, bò, mọi súc vật mập béo của Ba-san. 19. Các ngươi sẽ ăn mỡ no nê, uống máu cho đến say từ bữa tiệc tế lễ Ta chuẩn bị cho các ngươi. 20. Các ngươi sẽ được no nê tại bàn tiệc của Ta bằng thịt của những ngựa chiến, những kỵ binh, các dũng sĩ và mọi chiến binh. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  6. Ta sẽ bày tỏ vinh quang của Ta giữa các nước. Mọi nước sẽ nhìn thấy sự phán xét mà Ta đã thi hành, và thấy bàn tay của Ta áp đặt trên chúng nó. 22. Từ ngày đó về sau, nhà Y-sơ-ra-ên sẽ biết Ta là Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng. 23. Các nước cũng sẽ biết rằng nhà Y-sơ-ra-ên bị lưu đày vì tội lỗi của chúng; bởi vì chúng đã bội tín cùng Ta cho nên Ta đã ẩn mặt đi, Ta đã trao chúng vào tay kẻ thù của chúng, và tất cả đều ngã gục vì gươm. 24. Ta đã đối xử với chúng tùy theo sự ô uế và vi phạm của chúng, và Ta đã ẩn mặt Ta khỏi chúng.
  7. Cho nên, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bây giờ, Ta sẽ đem những kẻ lưu đày của Gia-cốp trở về. Ta sẽ thương xót cả nhà Y-sơ-ra-ên, và sẽ ghen vì danh thánh của Ta. 26. Sau khi chúng gánh chịu sự ô nhục về những điều bội tín mà chúng đã phạm cùng Ta, chúng sẽ được sống an toàn trong xứ, và không ai còn làm cho chúng sợ hãi nữa. 27. Khi Ta đem chúng về từ các dân, tập họp chúng lại từ những đất nước thù nghịch, Ta sẽ biệt riêng chúng ra thánh trước mắt nhiều dân tộc. 28. Bấy giờ chúng sẽ biết rằng chính Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng, dù Ta đã lưu đày chúng đến các nước, nhưng lại tụ họp chúng trở về đất của chúng. Không một người nào giữa vòng chúng bị bỏ lại để làm phu tù tại đó. 29. Ta sẽ không ẩn mặt của Ta với chúng nữa. Ta sẽ đổ Thần của Ta trên nhà Y-sơ-ra-ên. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

40

  1. Vào năm thứ hai mươi lăm kể từ khi chúng tôi bị lưu đày, đầu năm, vào ngày mùng mười của tháng, tức là mười bốn năm sau khi thành bị thất thủ, cũng trong ngày đó, tay của Đức Giê-hô-va đặt trên tôi, rồi Ngài đem tôi đến đó. 2. Trong khải tượng của Đức Chúa Trời, Ngài đem tôi vào trong đất Y-sơ-ra-ên, đặt tôi trên một ngọn núi rất cao, trên núi về phía nam, dường như có cấu trúc của một thành. 3. Ngài đem tôi đến đó. Kìa, có một người, hình dáng bên ngoài giống như bằng đồng, đang đứng ở cổng, tay cầm một sợi dây và một cái thước để đo. 4. Người đó nói với tôi: Hỡi con người! Hãy lấy mắt mà xem, lấy tai mà nghe, và hãy để vào lòng tất cả những gì mà tôi sẽ bày tỏ cho ông, bởi vì ông được đem đến đây để quan sát. Hãy công bố tất cả những gì ông thấy cho nhà Y-sơ-ra-ên.
  2. Kìa, có một bức tường bên ngoài bao bọc chung quanh khu vực đền thờ. Người đó cầm trong tay một cây sào dài sáu cu-bít, mỗi cu-bít dài một cánh tay. Người đó đo bề rộng của bức tường là một cây sào, và bề cao là một cây sào. 6. Người đó đi đến cổng hướng về phía đông, rồi bước lên những bậc thềm để đo ngạch cổng: bề rộng là một cây sào. Ngạch cổng rộng một cây sào. 7. Mỗi phòng dài một cây sào và rộng một cây sào. Giữa các phòng có một khoảng cách là năm cu-bít. Ngạch cổng, nơi dẫn vào tiền sảnh bên trong của ngạch cổng, là một cây sào. 8. Người ấy đo phía trong của tiền sảnh tại cổng là một cây sào. 9. Người đo tiền sảnh ở cổng là tám cu-bít; những cây trụ hai cu-bít ở bên trong tiền sảnh của cổng. 10. Cổng hướng về phía đông có những căn phòng: ba cái bên nầy và ba cái bên kia. Cả ba phòng đều có kích thước bằng nhau, và những trụ ở bên nầy và bên kia cũng có kích thước bằng nhau. 11. Người đo chiều rộng của lối vào cổng là mười cu-bít và chiều dài là mười ba cu-bít. 12. Có một khoảng cách ở phía trước của các phòng, một cu-bít bên nầy và một cu-bít bên kia. Mỗi phòng có chiều nầy sáu cu-bít và chiều kia sáu cu-bít. 13. Người đo cổng từ nóc của phòng bên này đến nóc của phòng bên kia là hai mươi lăm cu-bít; cửa nầy đối diện cửa kia. 14. Người đo các trụ là sáu mươi cu-bít. Trụ ở trong sân chung quanh cổng. 15. Từ mặt tiền của cổng ở lối vào cho đến tận cùng của mặt tiền bên trong cổng là năm mươi cu-bít. 16. Có những cửa sổ gắn trong các phòng, trên những trụ bên trong cổng bao bọc chung quanh, cũng như trong những tiền sảnh. Có những cửa sổ vòng quanh bên trong, và trên mỗi trụ có hình những cây chà là.
  3. Người đem tôi ra sân ngoài. Có nhiều phòng và có một lối đi lót đá vòng quanh sân. Ba mươi phòng hướng về lối đi lót đá. 18. Lối đi lót đá chạy dọc bên cạnh các cổng. Bề rộng của lối đi lót đá bằng phía dưới của cổng. 19. Người đo khoảng cách từ phía trước của bên dưới của cổng cho đến phía trước của sân trong là một trăm cu-bít về phía đông và về phía bắc.
  4. Người đo chiều dài và chiều rộng của cổng sân ngoài hướng về phía bắc. 21. Có ba phòng ở bên nầy và ba cái bên kia. Những trụ và tiền sảnh cũng đồng kích thước với cổng thứ nhất: chiều dài năm mươi cu-bít, chiều rộng hai mươi lăm cu-bít. 22. Những cửa sổ, những tiền sảnh và hình những cây chà là của nó cũng đồng kích thước với cổng phía đông. Có bảy bậc thềm dẫn lên cổng và một tiền sảnh ở bên trong nó. 23. Có một cổng của sân trong đối diện với cổng bắc, cũng giống như vậy về phía đông. Người đo từ cổng này đến cổng kia, một trăm cu-bít.
  5. Sau đó, người dẫn tôi đi về phía nam. Nầy, tại đó có cổng phía nam. Người đo các trụ và các tiền sảnh cũng đồng kích thước với nhau. 25. Chiều dài năm mươi cu-bít, chiều rộng hai mươi lăm cu-bít. Tiền sảnh có những cửa sổ chung quanh giống như những cửa sổ khác. 26. Có bảy bậc thềm dẫn lên tiền sảnh. Các trụ của nó có hình những cây chà là, một ở bên nầy và một ở bên kia. 27. Sân trong cũng có một cổng hướng về phía nam. Người đo từ cổng này đến cổng kia về phía nam là một trăm cu-bít.
  6. Người đem tôi vào sân trong bằng cổng phía nam. Người đo cổng phía nam; cổng có cùng một kích thước như các cổng kia. 29. Các phòng, các trụ và tiền sảnh của nó có kích thước tương tự như trước. Cổng và các tiền sảnh đều có những cửa sổ chung quanh. Các tiền sảnh có chiều dài là năm mươi cu-bít và rộng hai mươi lăm cu-bít. 30. Chung quanh có các tiền sảnh, chiều dài hai mươi lăm cu-bít, rộng năm cu-bít. 31. Các tiền sảnh của cổng đối diện hành lang ngoài đều có hình những cây chà là trên các trụ của nó, và có tám bậc thềm để bước lên.
  7. Người đem tôi vào sân trong về hướng đông; người đo cổng và nó có cùng một kích thước như các cổng trước. 33. Các phòng, các trụ và tiền sảnh của nó có kích thước tương tự như trước. Cổng và các tiền sảnh đều có những cửa sổ chung quanh. Các tiền sảnh có chiều dài là năm mươi cu-bít và rộng hai mươi lăm cu-bít. 34. Các tiền sảnh của cổng đối diện hành lang ngoài đều có hình những cây chà là trên các trụ của nó, một ở bên nầy và một ở bên kia, và có tám bậc thềm để bước lên.
  8. Người đem tôi vào cổng phía bắc; người đo nó và nó có cùng một kích thước như các cổng trước. 36. Các phòng, các trụ và tiền sảnh của nó có những cửa sổ chung quanh. Khu vực nầy có chiều dài là năm mươi cu-bít và rộng hai mươi lăm cu-bít. 37. Những trụ cổng đối diện hành lang ngoài đều có hình những cây chà là trên các trụ, một ở bên nầy và một ở bên kia. Có tám bậc thềm để bước lên đó.
  9. Một cái phòng có cửa ở gần các trụ của cổng, là nơi người ta rửa các tế lễ thiêu. 39. Trong tiền sảnh của cổng, có hai cái bàn ở bên nầy và hai cái bàn ở bên kia. Tại đó người ta giết những sinh tế dùng cho tế lễ thiêu, tế lễ chuộc sự mắc lỗi và tế lễ chuộc tội. 40. Phía ngoài của tiền sảnh, gần chỗ bước lên hướng về cổng phía bắc, có hai cái bàn; bên kia tiền sảnh của cổng cũng có hai cái bàn. 41. Bốn bàn ở bên này và bốn bàn ở bên kia của cổng, tức là tám cái bàn dùng để giết các sinh tế. 42. Cũng có bốn cái bàn bằng đá đẽo dùng để dâng tế lễ thiêu, dài một cu-bít rưỡi, rộng một cu-bít rưỡi, cao một cu-bít. Người ta để trên đó những dụng cụ dùng để giết các sinh tế cho tế lễ thiêu và sinh tế. 43. Có những cái móc dài một cánh tay, được gắn chung quanh ở phía trong. Thịt của những sinh tế được đặt trên những cái bàn.
  10. Ở phía ngoài của cổng trong, nơi sân trong, có các phòng cho ban hát, một ở bên cạnh cổng bắc hướng về phía nam, một ở bên cạnh cổng đông hướng về phía bắc. 45. Người nói với tôi: Phòng hướng về phía nam này dành cho các tư tế và những người coi sóc đền thờ. 46. Phòng hướng về phía bắc dành cho các tư tế và những người coi sóc bàn thờ. Họ là con cháu của Xa-đốc, thuộc dòng dõi Lê-vi, được phép đến gần Đức Giê-hô-va để phụng sự Ngài. 47. Người đo sân, dài một trăm cu-bít, rộng một trăm cu-bít, sân hình vuông; còn bàn thờ thì ở trước mặt đền thờ. 48. Người đem tôi vào tiền sảnh của đền thờ, rồi đo những trụ của tiền sảnh. Năm cu-bít ở bên nầy và năm cu-bít ở bên kia. Chiều dày của cổng là ba cu-bít ở bên nầy và ba cu-bít ở bên kia. 49. Tiền sảnh có chiều dài hai mươi cu-bít, rộng mười một cu-bít. Có những bậc thềm dẫn lên đó; bên cạnh các trụ có những cái cột, một cái bên nầy và một cái bên kia.

 

41

  1. Sau đó, người đem tôi vào trong Nơi Thánh để đo các trụ cổng: rộng sáu cu-bít bên nầy và rộng sáu cu-bít bên kia, theo chiều rộng của Đền Tạm. 2. Chiều rộng của lối vào là mười cu-bít; tường của lối vào dày năm cu-bít bên nầy và năm cu-bít bên kia. Người đo chiều dài của nó là bốn mươi cu-bít và chiều rộng là hai mươi cu-bít. 3. Người vào bên trong, để đo các cột của lối vào: hai cu-bít; lối vào: sáu cu-bít; chiều rộng của lối vào: bảy cu-bít. 4. Người đo phía bên kia của Nơi Thánh, chiều dài: hai mươi cu-bít, chiều rộng: hai mươi cu-bít; rồi nói với tôi: “Đây là Nơi Chí Thánh.”
  2. Người đo tường của tòa nhà, dày sáu cu-bít; chiều rộng của tường của mỗi phòng bao bọc khắp chung quanh tòa nhà là bốn cu-bít. 6. Những phòng bên hông có ba tầng, tầng nầy chồng trên tầng khác. Mỗi tầng có ba mươi phòng. Những phòng đó dựa trên những cây cột chạy dọc theo các phòng bên hông chung quanh đền thờ để chúng hỗ trợ, nhưng chúng không gắn vào tường của tòa nhà. 7. Các phòng bên hông từ tầng này đến tầng kia càng lên cao càng rộng hơn. Bởi vì cấu trúc bao quanh tòa nhà tăng dần từ tầng này lên tầng kia cho nên chiều rộng của tòa nhà cũng tăng lên khi lên cao từ tầng thấp nhất lên tầng cao nhất, qua tầng giữa. 8. Tôi thấy tòa nhà có một thềm cao bao quanh, đó là nền của những căn phòng; thềm đo đúng một cây sào, tức là sáu cu-bít. 9. Bề dày của bức tường phía ngoài của các phòng bên hông là năm cu-bít. Có một khoảng trống làm chỗ nghỉ ngơi cho các phòng bên hông chung quanh tòa nhà. 10. Khoảng cách giữa các phòng bên hông tòa nhà là hai mươi cu-bít, bao quanh mọi phía của tòa nhà. 11. Cửa của các phòng bên hông mở ra về khoảng trống, một cửa hướng về phía bắc, một cửa hướng về phía nam. Chiều rộng của khoảng trống là năm cu-bít vòng quanh như vậy.
  3. Tòa nhà đối diện với sân về hướng tây, rộng bảy mươi cu-bít; tường bao quanh tòa nhà dày năm cu-bít, dài chín mươi cu-bít.
  4. Người ấy đo tòa nhà, dài một trăm cu-bít. Khu vực trống giữa tòa nhà và bức tường cũng dài một trăm cu-bít. 14. Khoảng cách giữa mặt tiền của tòa nhà và sân ở phía đông là một trăm cu-bít.
  5. Người đo chiều dài của tòa nhà đối diện với sân phía sau, kể cả những hành lang ở bên nầy và bên kia là một trăm cu-bít. Bên trong tòa nhà, các hành lang trong sân, 16. các ngưỡng cửa, các cửa sổ, các hành lang chung quanh ba tầng, phía trước các ngưỡng cửa, tất cả đều bọc bằng ván chung quanh từ đất cho đến các cửa sổ. Các cửa sổ được che lại. 17. Khoảng trống ở trên cửa bên trong và bên ngoài tòa nhà, cũng như mọi bức tường bao bọc chung quanh cả bề trong và bề ngoài, 18. được chạm hình các chê-ru-bim và những cây chà là. Một cây chà là ở giữa hai chê-ru-bim và mỗi chê-ru-bim có hai mặt. 19. Mặt người hướng về hình cây chà là phía bên nầy, mặt của sư tử tơ hướng về hình cây chà là phía bên kia. Khắp cả tòa nhà đều chạm như vậy. 20. Các chê-ru-bim và những cây chà là được chạm từ nền cho đến phía trên cửa. Khắp cả tòa nhà đều chạm như vậy.
  6. Các khung cửa Đền Thờ hình vuông, và cửa ở phía trước Nơi Thánh cũng giống như vậy. 22. Một bàn thờ bằng gỗ cao ba cu-bít, dài hai cu-bít, ngang hai cu-bít. Các góc, bệ và những cạnh của bàn thờ đều bằng gỗ. Người bảo tôi rằng: Đây là cái bàn được đặt trước mặt Đức Giê-hô-va. 23. Đền Thờ và Nơi Thánh có hai cửa. 24. Có hai cửa, mỗi cửa có hai cánh khép lại. Hai cánh cho cửa nầy và hai cánh cho cửa kia. 25. Có những chê-ru-bim và những cây chà là chạm trên cửa Đền Thờ cũng như trên tường. Có một mái hiên bằng gỗ trước tiền sảnh, ở phía bên ngoài. 26. Trên tường của tiền sảnh là những cửa sổ có chạm những hình cây chà là ở bên nầy và bên kia. Các phòng bên cạnh đền thờ và mái che cũng được trang trí như vậy.

 

42

  1. Người dẫn tôi đến sân ngoài theo lối đi về phía bắc, rồi đem tôi đến các phòng đối diện với sân đền, tức là đối diện với tòa nhà về phía bắc. 2. Mặt tiền của nhà hướng về phía bắc rộng một trăm cu-bít, chiều ngang năm mươi cu-bít. 3. Trên một khoảng rộng hai mươi cu-bít đối diện với sân trong và nền đá sân ngoài, có các phòng ba tầng chồng lên nhau. 4. Trước các phòng là một lối đi rộng mười cu-bít, có khoảng cách một cu-bít với những cửa hướng về phía bắc. 5. Những phòng trên thì hẹp hơn những phòng dưới và những phòng giữa, bởi vì các hành lang khi lên trên thì rộng hơn. 6. Vì các phòng trong ba tầng nhưng không có cột như các cột của sân, cho nên các phòng ở trên thì hẹp hơn các phòng ở dưới đất và phòng ở tầng giữa. 7. Bức tường bên ngoài, chạy dọc theo các phòng về phía hành lang ngoài và đối diện với các phòng, dài năm mươi cu-bít. 8. Vì chiều dài của các phòng ở sân ngoài là năm mươi cu-bít, trong khi các phòng đối diện đền thờ là một trăm cu-bít. 9. Phía dưới các phòng này có một lối vào ở phía đông dành cho những người từ hành lang ngoài đi vào.
  2. Có những phòng dọc theo chiều ngang của bức tường của sân hướng về phía đông, đối diện với khoảng trống và đối diện với tòa nhà. 11. Có một con đường phía trước các phòng đó cũng như phía trước các phòng hướng về phía bắc. Tất cả các phòng đó đều có chiều dài và chiều ngang bằng nhau. Tất cả các lối ra, lối vào đều có kích thước giống nhau. 12. Các cửa phòng phía nam cũng giống như vậy. Ở đầu đường, có một cái cửa để người ta đi vào, đối diện với bức tường ở phía đông.
  3. Người đó nói với tôi: Các phòng ở phía bắc và các phòng ở phía nam ở ngay trước sân là những phòng thánh. Đó là nơi các tư tế đến gần Đức Giê-hô-va sẽ ăn những vật cực thánh. Họ sẽ cất giữ những lễ vật cực thánh như các của lễ chay, các của lễ chuộc tội, và các của lễ chuộc lỗi trong những phòng đó. 14. Một khi các tư tế đã vào trong khu vực thánh, họ không được phép đi ra sân ngoài cho đến khi họ cởi bộ lễ phục mà họ đã mặc để tế lễ ra, rồi để lại trong đó, bởi vì đó là những vật thánh. Họ phải thay y phục khác trước khi đến gần nơi dành cho dân chúng.
  4. Khi người đó đo xong bên trong của đền thờ, người dẫn tôi đi qua cánh cổng hướng về phía đông, để đo chung quanh. 16. Người đo cạnh ở phía đông bằng cây sào, đo được năm trăm sào, rồi dùng cây sào để đo chung quanh. 17. Người đo cạnh ở phía bắc là năm trăm cây sào, rồi dùng cây sào để đo chung quanh. 18. Người đo cạnh ở phía nam bằng cây sào được năm trăm cây sào. 19. Người quay về phía tây, đo bằng cây sào được năm trăm cây sào. 20. Người đo chung quanh cả bốn phía, có tường bao bọc chung quanh để phân cách giữa nơi thánh và nơi phàm tục, chiều dài là năm trăm cây sào, và chiều rộng là năm trăm cây sào.

 

43

  1. Sau đó, người đem tôi đến cổng, là cổng hướng về phía đông. 2. Kìa, vinh quang của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đến từ phía đông. Tiếng của Ngài giống như tiếng của nhiều dòng nước. Đất rạng rỡ vinh quang của Ngài.
  2. Khải tượng mà tôi thấy giống như khải tượng tôi đã nhìn thấy khi Ngài đến để hủy diệt thành, và cũng giống như khải tượng mà tôi đã nhìn thấy bên bờ sông Kê-ba, cho nên tôi đã sấp mặt xuống đất.
  3. Vinh quang của Đức Giê-hô-va vào trong đền thờ bằng cổng phía đông. 5. Thần cất tôi lên, rồi đem tôi vào sân trong. Kìa, vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy cả đền thờ.
  4. Trong khi người đó đứng bên cạnh tôi, tôi nghe từ trong đền thờ có tiếng nói với tôi. 7. Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người! Đây là nơi Ta đặt ngai của Ta, là nơi Ta đặt những bàn chân của Ta, là nơi Ta ngự ở giữa dân Y-sơ-ra-ên mãi mãi. Nhà Y-sơ-ra-ên, tức chúng và các vua của chúng, sẽ không làm ô danh thánh của Ta bằng những việc làm đàng điếm cùng với những xác chết của các vua của chúng trong các đền miếu tại những nơi cao nữa. 8. Khi chúng đặt những ngạch cửa của chúng bên cạnh ngạch cửa của Ta, những trụ cửa của chúng bên cạnh trụ cửa của Ta, chỉ có một bức tường ngăn cách giữa Ta với chúng, và chúng đã làm ô danh thánh của Ta bằng những việc gớm ghiếc mà chúng đã làm. Vì vậy, Ta phải tiêu diệt chúng trong cơn giận của Ta. 9. Bây giờ, chúng hãy từ bỏ sự đàng điếm của chúng, và đem những xác của các vua của chúng xa khỏi Ta, thì Ta ngự ở giữa chúng mãi mãi.
  5. Về phần ngươi, hỡi con người, hãy mô tả đền thờ này cho nhà Y-sơ-ra-ên để chúng xấu hổ về những tội lỗi của chúng. Hãy để chúng đối chiếu với khuôn mẫu. 11. Nếu chúng xấu hổ về tất cả những điều chúng đã làm, hãy cho chúng biết về thiết kế của đền thờ, trang trí, đường ra, lối vào, tất cả những thiết kế, những quy định, và tất cả luật lệ về nó. Hãy viết những điều đó trước mắt của chúng để chúng giữ lấy tất cả những thiết kế lẫn luật lệ của nó để tuân theo. 12. Đây là luật về đền thờ: Tất cả khu vực chung quanh đỉnh núi là nơi rất thánh. Đó là luật về đền thờ.
  6. Đây là kích thước của bàn thờ đo bằng cu-bít – một cu-bít bằng một cánh tay. Cái bệ cao một cu-bít, rộng một cu-bít, cái viền chung quanh dày một gang tay. Đây là phần phía trên của bàn thờ: 14. Từ cái bệ dưới đất đến bệ dưới là hai cu-bít, rộng một cu-bít; từ bệ nhỏ đến bệ lớn là bốn cu-bít, rộng một cu-bít. 15. Bàn thờ cao bốn cu-bít; có bốn sừng hướng về phía trên. 16. Mặt bàn thờ dài mười hai cu-bít, rộng mười hai cu-bít, vuông vức bốn cạnh. 17. Cái bệ dài mười bốn cu-bít, rộng mười bốn cu-bít, vuông vức bốn cạnh. Cái viền bao quanh bệ: nửa cu-bít; bệ chân bao quanh: một cu-bít. Những bậc thềm của nó hướng về phía đông.
  7. Người nói với tôi: Hỡi con người! Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đây là những quy định về bàn thờ: Lúc nó được xây xong, nó sẽ được rưới huyết, và rồi được dùng để dâng tế lễ thiêu. 19. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Khi các tư tế, người Lê-vi thuộc dòng Xa-đốc đến gần Ta để phục vụ Ta, ngươi hãy trao cho họ một con bò đực tơ để làm lễ chuộc tội. 20. Ngươi hãy lấy một ít huyết bôi trên bốn cái sừng của bàn thờ, trên bốn góc của cái đế, và trên cái viền chung quanh. Ngươi sẽ thanh tẩy và chuộc tội cho nó như vậy. 21 Ngươi hãy lấy con bò làm tế lễ chuộc tội đem thiêu nó tại một nơi được chỉ định của đền thờ, bên ngoài nơi thánh.
  8. Vào ngày thứ hai, ngươi hãy dâng một con dê đực không tì vết để làm tế lễ chuộc tội. Họ sẽ thanh tẩy bàn thờ như họ đã dùng bò đực để thanh tẩy. 23. Khi đã thanh tẩy bàn thờ xong rồi, ngươi hãy dâng một con bò tơ đực không tì vết và một con chiên đực không tì vết từ trong bầy. 24. Ngươi hãy dâng chúng trước mặt Đức Giê-hô-va. Các tư tế sẽ rắc muối lên chúng và họ sẽ dâng chúng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. 25. Trong bảy ngày, mỗi ngày ngươi phải dâng một con dê đực để làm lễ chuộc tội, và họ cũng dâng một con bò tơ đực và một con chiên đực không tì vết từ trong bầy. 26. Trong bảy ngày, họ sẽ làm lễ chuộc tội và thanh tẩy cho bàn thờ để biệt riêng nó ra thánh. 27. Khi những ngày đó qua rồi, từ ngày thứ tám trở đi, các tư tế sẽ dâng những tế lễ thiêu và những tế lễ bình an của các ngươi trên bàn thờ, và Ta sẽ chấp nhận các ngươi. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.

44

  1. Sau đó, người đem tôi trở lại cổng ở bên ngoài đền thánh, tức là cổng nhìn về hướng đông. Cổng đang bị đóng. 2. Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: Cổng này sẽ bị đóng. Nó sẽ không được mở. Không ai được vào đó bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã vào đó. Vì vậy, nó phải bị đóng. 3. Nó được dành cho người lãnh đạo. Người lãnh đạo có thể được ngồi tại đó để ăn bánh trước mặt Đức Giê-hô-va. Người sẽ đi vào bởi vòm cổng và cũng đi ra bởi đó.
  2. Sau đó, người đem tôi đi qua cổng bắc để vào phía trước đền thờ. Tôi nhìn, kìa, vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ của Đức Giê-hô-va. Tôi liền sấp mặt xuống.
  3. Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: Hỡi con người! Hãy để ý. Hãy lấy mắt mà nhìn, lấy tai mà nghe tất cả những điều Ta truyền cho ngươi về mọi quy luật liên quan đến đền thờ của Đức Giê-hô-va và tất cả những luật lệ liên hệ. Hãy chú tâm đến những người vào đền thờ và tất cả những người ra khỏi nơi thánh. 6. Ngươi hãy nói với kẻ phản loạn, với nhà Y-sơ-ra-ên: Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Những điều ghê tởm của các người đã quá đủ rồi! 7. Các ngươi đã đem người ngoại quốc, không cắt bì trong lòng, không cắt bì trong thể xác, vào nơi thánh của Ta, làm ô uế nhà của Ta. Các ngươi dâng bánh, mỡ và huyết, nhưng các ngươi phá bỏ giao ước của Ta bằng tất cả những việc kinh tởm của các ngươi. 8. Các ngươi không giữ những vật thánh của Ta, nhưng các ngươi sắp đặt để giữ và điều hành đền thánh của Ta cho các ngươi.
  4. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Không một người ngoại quốc nào, ngay cả những người ngoại quốc ở giữa vòng con cái Y-sơ-ra-ên, mà lòng không được cắt bì, xác không được cắt bì, sẽ được vào trong nơi thánh của Ta. 10. Những người Lê-vi sẽ gánh chịu tội lỗi của mình, bởi vì khi người Y-sơ-ra-ên lìa bỏ Ta để theo những thần tượng của chúng, thì họ cũng xa cách Ta và lìa bỏ Ta. 11. Dù vậy, họ sẽ phục vụ trong nơi thánh của Ta, canh gác ở các cổng đền thờ, và phục vụ tại đền thờ. Họ sẽ giết các sinh tế để làm tế lễ thiêu và những tế lễ khác cho dân chúng. Họ sẽ đứng trước mặt dân chúng để phục vụ. 12. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì họ đã phục vụ dân chúng trước mặt những thần tượng của chúng và đã làm cho nhà Y-sơ-ra-ên sa vào tội lỗi; vì vậy, Ta đã giơ tay của Ta lên để chống lại họ, và họ sẽ gánh chịu tội lỗi của mình. 13. Họ sẽ không được đến gần Ta để làm những công việc của chức vụ tư tế ở trước mặt Ta, và cũng không được đến gần những vật thánh nào của Ta hay Nơi Chí Thánh, nhưng họ sẽ mang lấy sự hổ nhục về những việc ghê tởm mà họ đã phạm. 14. Nhưng Ta sẽ lập họ làm những kẻ quản lý đền thờ, tất cả những công việc tại đền thờ, và thực hiện tất cả những công việc cần phải làm tại đó.
  5. Nhưng các tư tế thuộc dòng Lê-vi, con cháu của Xa-đốc, là những người đã trung tín quản lý nơi thánh của Ta khi dân Y-sơ-ra-ên lìa bỏ Ta, họ sẽ đến gần Ta để phục vụ Ta. Họ sẽ đến trước mặt Ta để dâng mỡ và huyết. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy. 16. Họ sẽ vào trong Nơi Thánh của Ta. Họ sẽ đến gần bàn của Ta để phục vụ Ta. Họ sẽ giữ trách nhiệm phục vụ Ta. 17. Khi họ đi vào các cổng để vào sân trong, họ phải mặc y phục bằng vải gai mịn. Họ không được mặc đồ bằng len khi phục vụ nơi cổng của sân trong hay trong đền thờ. 18. Họ sẽ đội khăn bằng vải gai mịn trên đầu và mặc đồ lót bằng vải gai mịn đến ngang lưng. Họ sẽ không được mặc loại vải nào làm đổ mồ hôi. 19. Khi họ đi ra sân ngoài, sân ngoài là nơi có dân chúng, họ phải cởi y phục họ đã mặc khi phục vụ, để chúng lại nơi phòng thánh, rồi mặc y phục khác. Như vậy, họ sẽ không làm cho dân chúng nên thánh vì y phục thánh của mình. 20. Họ sẽ không được cạo đầu, hay để tóc dài, nhưng phải tỉa tóc. 21. Không một tư tế nào được uống rượu khi vào sân trong. 22. Họ không được cưới những góa phụ hay những phụ nữ ly dị làm vợ, nhưng họ phải cưới các trinh nữ trong dòng dõi của Y-sơ-ra-ên, hay vợ góa của các tư tế. 23. Họ sẽ dạy dân Ta phân biệt giữa điều thánh khiết với điều phàm tục, giữa điều tinh sạch với điều ô uế. 24. Khi có sự tranh tụng, họ phải đứng ra làm thẩm phán để tuyên án theo phán quyết của Ta. Họ phải tuân giữ luật pháp của Ta và luật lệ của Ta trong những kỳ lễ đã ấn định. Họ phải biệt ra thánh những ngày sa-bát của Ta. 25. Họ sẽ không được đến gần xác chết để khỏi bị ô uế. Nhưng họ có thể bị ô uế nếu đó là cha, mẹ, con trai, con gái, anh em, hay chị em chưa có chồng. 26. Sau khi được tẩy sạch, cần phải chờ bảy ngày. 27. Vào ngày người vào nơi thánh, đi vào sân trong để phục vụ trong nơi thánh, người sẽ dâng một tế lễ chuộc tội cho mình. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  6. Về sản nghiệp dành cho họ: Ta chính là sản nghiệp của họ. Các ngươi sẽ không cho họ phần sở hữu nào trong Y-sơ-ra-ên, vì Ta là sản nghiệp của họ. 29. Họ sẽ ăn những tế lễ chay, tế lễ chuộc sự mắc lỗi và tế lễ chuộc tội. Bất cứ vật gì dân Y-sơ-ra-ên hiến dâng sẽ thuộc về họ. 30. Tất cả hoa quả đầu mùa tốt nhất trong mọi sản vật cùng tất cả tế lễ chay mà các ngươi dâng, đều sẽ thuộc về tư tế. Các ngươi cũng sẽ dâng cho các tư tế bột nhồi tốt nhất của mình để phước hạnh sẽ tuôn đổ trên gia đình của các ngươi. 31. Các tư tế sẽ không được ăn thịt bất cứ con vật nào tự nhiên bị chết hay bị cắn xé – bất kể đó là chim hay thú vật.

 

45

  1. Khi các ngươi phân chia đất để làm sản nghiệp, các ngươi hãy dâng một khu vực cho Đức Giê-hô-va, và đó sẽ là phần đất thánh có chiều dài là hai mươi lăm ngàn cu-bít, rộng mười ngàn cu-bít. Toàn thể khu vực này và ranh giới của nó sẽ trở nên thánh. 2. Trên phần đất đó, sẽ có một mảnh đất vuông, chiều nầy năm trăm cu-bít và chiều kia năm trăm cu-bít, để làm nơi thánh, và sẽ có một khoảng cách năm mươi cu-bít chung quanh đó. 3. Vì vậy, khu vực mà ngươi sẽ đo với chiều dài hai mươi lăm ngàn cu-bít, rộng mười ngàn cu-bít, bên trong sẽ là nơi thánh và Nơi Chí Thánh. 4. Đó sẽ là phần đất thánh dành cho các tư tế, là những người phục vụ nơi thánh, sẽ đến gần để phục vụ Đức Giê-hô-va. Đó sẽ là nơi để làm nhà cho họ và là một nơi thánh để xây đền thánh. 5. Khu vực dài hai mươi lăm ngàn cu-bít rộng mười ngàn cu-bít thuộc về người Lê-vi, là những người phục vụ đền thờ. Họ sẽ sở hữu hai mươi căn phòng.
  2. Các ngươi hãy dành một khu vực cho thành phố, rộng năm ngàn cu-bít, dài hai mươi lăm ngàn cu-bít, kế cận khu vực thánh. Nó sẽ thuộc về cả nhà Y-sơ-ra-ên.
  3. Phần đất của những người cầm quyền được giới hạn bởi một bên là khu vực thánh và một bên là đất của thành phố. Ở phía tây, nó sẽ chạy về phía tây; và ở phía đông, nó sẽ chạy về phía đông. Chiều dài từ ranh giới phía đông đến ranh giới phía tây dựa vào phần đất kế cận. 8. Đó sẽ là phần đất thuộc về bậc cầm quyền của Y-sơ-ra-ên. Những người cầm quyền của Ta sẽ không áp bức dân của Ta nữa, nhưng sẽ phân chia đất đai cho các chi tộc của Y-sơ-ra-ên.
  4. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hỡi những kẻ cầm quyền trong Y-sơ-ra-ên! Ðã đủ rồi! Hãy từ bỏ sự hung tàn và bạo ngược. Hãy thi hành công lý và công chính. Hãy ngừng cướp bóc tài sản của dân Ta. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  5. Hãy dùng cái cân chính xác, cái ê-pha chính xác, cái bát chính xác. 11. Cái ê-pha và cái bát bằng nhau: Dung tích của cái bát là một phần mười hô-me, và dung tích của cái ê-pha là một phần mười của hô-me. Hô-me là tiêu chuẩn để đo lường.
  6. Một siếc-lơ bằng hai mươi ghê-ra. Hai mươi siếc-lơ cộng với hai mươi lăm siếc-lơ, cộng với mười lăm siếc-lơ là một min.
  7. Đây là phần dâng hiến mà các ngươi phải dâng: Một phần sáu ê-pha cho mỗi hô-me lúa mì, và một phần sáu ê-pha cho mỗi hô-me lúa mạch. 14. Quy định về dầu tính theo bát dầu: Một phần mười bát cho mỗi cô-rơ. Một hô-me là mười bát, vì mười bát là một hô-me. 15. Khi dâng tế lễ chay, tế lễ thiêu, và tế lễ bình an cho những cánh đồng trù phú của Y-sơ-ra-ên, hãy dâng một con chiên cho mỗi đàn chiên có hai trăm con để làm tế lễ chuộc tội cho chúng. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  8. Toàn dân trong xứ phải chu cấp lễ vật này cho lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên. 17. Những tế lễ thiêu, tế lễ chay và lễ quán trong các lễ hội, ngày trăng mới, ngày sa-bát cùng mọi ngày lễ của nhà Y-sơ-ra-ên là phần của bậc lãnh đạo. Người sẽ chuẩn bị tế lễ chuộc tội, tế lễ chay, tế lễ thiêu, tế lễ bình an để chuộc tội cho nhà Y-sơ-ra-ên.
  9. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ngày mồng một tháng Giêng, ngươi hãy lấy một con bò đực tơ không khiếm khuyết để thanh tẩy nơi thánh. 19. Tư tế sẽ lấy huyết của sinh tế chuộc tội bôi trên các trụ cửa của đền thờ, trên viền tại bốn góc của bàn thờ, và trên các trụ cổng của sân trong. 20. Ngày bảy của tháng đó ngươi cũng sẽ làm như vậy cho những ai không cố ý phạm tội hoặc phạm tội mà không biết. Ngươi sẽ chuộc tội cho đền thờ như vậy.
  10. Ngày mười bốn tháng Giêng, các ngươi phải giữ lễ Vượt Qua và ăn bánh không men trong bảy ngày. 22. Trong ngày đó, người cầm quyền sẽ dâng một con bò đực để làm của lễ chuộc tội cho chính mình và cho toàn dân trong nước. 23. Trong bảy ngày của kỳ lễ, người sẽ dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va cả trong bảy ngày: Mỗi ngày bảy con bò đực và bảy con chiên đực không khiếm khuyết, và mỗi ngày một con dê đực để làm tế lễ chuộc tội. 24. Về tế lễ chay, một ê-pha cho mỗi con bò, một ê-pha cho mỗi con chiên đực, người sẽ dâng một hin dầu cho mỗi ê-pha. 25. Vào ngày mười lăm của tháng Bảy, người cũng sẽ dâng tế lễ chuộc tội, tế lễ thiêu, tế lễ chay và dầu như vậy trong bảy ngày.

 

46

  1. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Cổng tại sân trong hướng về phía đông sẽ được đóng lại trong sáu ngày làm việc, nhưng đến ngày Sa-bát nó sẽ được mở ra; và vào ngày trăng mới, nó cũng sẽ được mở ra. 2. Từ bên ngoài, vị lãnh đạo sẽ vào bằng tiền sảnh của cổng, rồi đứng gần trụ cổng. Các tư tế sẽ dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an của người. Người sẽ sấp mình thờ phượng nơi lối vào của cổng rồi bước vào, nhưng cổng sẽ không đóng lại trước khi chiều tối. 3. Cũng vậy, vào những ngày sa-bát và những ngày trăng mới, dân chúng trong xứ sẽ sấp mình thờ phượng trước mặt Đức Giê-hô-va tại nơi lối vào của cổng.
  2. Tế lễ thiêu mà vị lãnh đạo sẽ dâng cho Đức Giê-hô-va trong ngày sa-bát là sáu con chiên con không khiếm khuyết và một con chiên đực không khiếm khuyết. 5. Tế lễ chay sẽ là một ê-pha cho con chiên đực, còn tế lễ chay dâng với các chiên con thì người muốn dâng bao nhiêu tùy ý, cùng với mỗi ê-pha là một hin dầu. 6. Lễ vật vào ngày trăng mới là một con bò đực tơ không khiếm khuyết, sáu con chiên con và một con chiên đực không khiếm khuyết. 7. Người sẽ dâng tế lễ chay là một ê-pha cho con bò đực, một ê-pha cho con chiên đực, mỗi ê-pha kèm theo một hin dầu, còn những chiên con thì người dâng bao nhiêu tùy ý.
  3. Khi vị lãnh đạo đi vào, người sẽ đi vào qua tiền sảnh của cổng; và rồi người cũng sẽ theo đường đó mà đi ra. 9. Khi dân chúng trong xứ đến trình diện trước mặt Đức Giê-hô-va trong những ngày lễ ấn định, người nào đi vào theo đường ở cổng phía bắc để thờ phượng, thì sẽ đi ra theo đường ở cổng phía nam; và người nào đi vào theo đường ở cổng phía nam, thì sẽ đi ra theo đường ở cổng phía bắc. Người đó sẽ không quay trở lại nơi cổng mà người đó đã đi vào, nhưng người đó sẽ đi thẳng về phía trước. 10. Vị lãnh đạo sẽ ở giữa họ. Khi họ đi vào, người đi vào với họ; khi họ đi ra, người đi ra.
  4. Trong các lễ hội và những ngày lễ ấn định, tế lễ chay sẽ là một ê-pha cho con bò đực, một ê-pha cho con chiên đực, những chiên con thì dâng bao nhiêu tùy ý, cùng với mỗi ê-pha là một hin dầu. 12. Khi vị lãnh đạo dâng tế lễ thiêu tự nguyện hoặc tế lễ bình an tự nguyện cho Đức Giê-hô-va, thì cổng ở phía đông sẽ được mở ra cho người. Người sẽ dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an như đã làm trong ngày sa-bát, rồi người đi ra. Khi người đã ra khỏi, cổng sẽ được đóng lại.
  5. Mỗi ngày, ngươi hãy dâng một con chiên con một tuổi, không khiếm khuyết, làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. Ngươi hãy dâng nó vào buổi sáng. 14. Ngươi hãy dâng tế lễ chay vào mỗi buổi sáng là một phần sáu ê-pha và một phần ba hin dầu để trộn với bột làm tế lễ chay dâng cho Đức Giê-hô-va. Đây là một quy luật liên tục thường xuyên mãi mãi. 15. Mỗi buổi sáng, người ta sẽ dâng chiên con, tế lễ chay, và dầu để làm tế lễ thiêu thường xuyên như vậy.
  6. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nếu người lãnh đạo tặng quà cho một trong những đứa con của mình, đó là sản nghiệp của người dành cho những đứa con của mình, và đó là tài sản mà chúng thừa hưởng. 17. Nhưng nếu người lấy một phần sản nghiệp của mình tặng cho một trong những tôi tớ của mình, thì phần sản nghiệp đó sẽ thuộc về người tôi tớ đó cho đến năm ân xá. Sau đó, nó sẽ được trả lại cho người lãnh đạo. Sản nghiệp của người chỉ thuộc về con cháu của người. 18. Người lãnh đạo không được phép lấy bất cứ sản nghiệp nào của dân bằng cách cưỡng ép họ phải từ bỏ phần sản nghiệp của mình. Người chỉ có thể lấy sản nghiệp của mình để chia gia tài cho các con của mình mà thôi, để không ai trong dân của Ta bị mất quyền sở hữu sản nghiệp của mình.
  7. Sau đó, người đã đem tôi đi qua lối vào ở bên cạnh cổng, để đến những căn phòng thánh dành cho các tư tế, hướng về phía bắc. Kìa, có một nơi ở tận cùng về phía tây. 20. Người nói với tôi: Ðây là nơi các tư tế nấu thịt của các tế lễ chuộc lỗi và các tế lễ chuộc tội, cùng nướng bánh cho tế lễ chay, để khỏi phải đem những vật thánh ra sân ngoài, rồi làm thánh cho dân chúng. 21. Người cũng đem tôi ra sân ngoài, dẫn tôi đi quanh bốn góc sân. Kìa, mỗi góc sân có một cái sân nhỏ. 22. Ở bốn góc sân có những cái sân dài bốn mươi cu-bít, rộng ba mươi cu-bít. Cả bốn góc đều có cùng một kích thước. 23. Có một bức tường bao quanh chúng, bao bọc cả bốn cái, và những bếp lửa được lập bên dưới chân của bức tường bao quanh. 24. Người nói với tôi: Đây là những cái bếp, là nơi những người phục vụ trong đền thờ nấu những sinh tế của dân chúng.

 

47

  1. Sau đó, người đem tôi trở lại cửa của đền thờ. Kìa, có nước từ dưới ngạch cửa của đền thờ chảy về hướng đông, bởi vì phía trước của đền thờ hướng về phía đông. Nước chảy ra từ bên dưới ở bên phải của đền thờ, tại phía nam của bàn thờ. 2. Người đem tôi ra ngoài bằng cổng phía bắc, dẫn tôi đi vòng phía ngoài đến cổng ngoài, theo con đường hướng về phía đông. Kìa, có nước chảy ra từ phía bên phải.
  2. Người cầm dây đo trong tay rồi đi về hướng đông, đo một ngàn cu-bít. Người dẫn tôi đi qua nước, nước đã cao đến mắt cá chân. 4. Người đo một ngàn nữa rồi dẫn tôi đi qua nước, nước cao đến đầu gối. Người lại đo một ngàn nữa, rồi dẫn tôi đi qua nước, nước đã cao đến ngang hông. 5. Người lại đo một ngàn nữa. Bây giờ nó trở thành một dòng sông, tôi không thể đi qua được. Dòng sông không thể đi qua được bởi vì nước sông dâng cao, cho nên phải bơi ở trong nước.
  3. Người nói với tôi: Hỡi con người! Ngươi có thấy không? Người dẫn tôi trở lại bờ sông. 7. Khi tôi trở lại, kìa có rất nhiều cây, ở bên nầy và ở bên kia. 8. Rồi người nói với tôi: Những dòng nước nầy sẽ chảy về vùng phía đông, xuống hoang mạc rồi đổ vào biển. Khi đổ vào biển, nước biển sẽ được chữa lành. 9. Và rồi, khi dòng nước chảy đến đâu, thì mọi sinh vật, là những động vật ở trong nước, sẽ sống. Sẽ có rất nhiều cá bởi vì nước chảy đến đâu thì những nơi đó sẽ được chữa lành. Sông chảy đến nơi nào thì mọi vật tại đó sẽ sống. 10. Các ngư phủ sẽ đứng dọc trên bờ từ Ên Ghê-đi cho đến Ên Ê-la-im. Họ sẽ giăng lưới của mình bắt cá đủ loại và sẽ rất nhiều – nhiều như cá ngoài Biển Lớn. 11. Tuy nhiên, những đầm lầy và bưng biền thì không được chữa lành; chúng vẫn còn bị mặn. 12. Dọc theo bờ sông ở bên nầy và ở bên kia, người ta sẽ trồng đủ loại thực vật để làm lương thực, lá của chúng sẽ không tàn và trái của chúng sẽ không dứt. Mỗi tháng, cây đều sinh trái nhờ nước từ đền thờ chảy ra. Trái sẽ được dùng làm thực phẩm và lá được dùng làm thuốc.
  4. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đây là ranh giới để các ngươi phân chia đất làm sản nghiệp cho mười hai chi tộc của Y-sơ-ra-ên. Giô-sép sẽ được hai phần. 14. Các ngươi, người nầy cũng như người khác, sẽ nhận nó làm sản nghiệp, bởi vì Ta đã thề sẽ ban đất nầy cho tổ phụ của các ngươi. Xứ nầy sẽ là sản nghiệp của các ngươi.
  5. Đây là ranh giới của đất: Về phía bắc, từ Biển Lớn theo con đường Hết-lôn đi đến Xê-đát, 16. Ha-mát, Bê-rốt, và Síp-ra-im – là biên giới ở giữa Đa-mách và Ha-mát – Hát-se Hát-thi-côn, thuộc biên giới của Ha-vơ-ran. 17. Như vậy, ranh giới nầy chạy dài từ biển đến Hát-sa-ê-nôn, đến Đa-mách, rồi hướng về phía bắc, đến biên giới của Ha-mát. Đây là ranh giới phía bắc.
  6. Về phía đông, các ngươi hãy đo từ giữa Ha-vơ-ran và Đa-mách, giữa Ga-la-át và đất của Y-sơ-ra-ên, giữa ranh giới dọc theo Giô-đanh và bờ biển ở phía đông. Đây là ranh giới phía đông.
  7. Phía nam chạy từ Tha-ma cho đến những dòng nước Mê-ri-ba gần Ca-đe, theo những dòng suối cho đến Biển Lớn. Đây là ranh giới phía nam.
  8. Ranh giới phía tây sẽ là Biển Lớn, từ biên giới phía nam cho đến lối vào Ha-mát. Đây là ranh giới phía tây.
  9. Hãy phân chia xứ này giữa vòng các ngươi tùy theo những chi tộc của Y-sơ-ra-ên. 22. Các ngươi hãy bắt thăm để chia sản nghiệp cho các ngươi và cho những người ngoại quốc đã định cư ở giữa các ngươi, tức là những người đã sinh con cái ở giữa các ngươi. Đối với các ngươi, họ phải được đối xử như những người đã được sinh ra trong xứ, giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên. Họ sẽ được hưởng sản nghiệp chung với các ngươi ở giữa các chi tộc của Y-sơ-ra-ên. 23. Những người ngoại quốc nầy định cư tại chi tộc nào, thì các ngươi phải cho họ sản nghiệp tại đó. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

48

  1. Đây là tên của các chi tộc: Từ vùng duyên hải cực bắc theo con đường Hết-lôn vào Ha-mát, đến Hát-se Ê-nôn, biên giới phía bắc của Đa-mách, hướng về Ha-mát, chạy từ đông sang tây, là phần của Đan. 2. Tiếp giáp với ranh giới của Đan, từ đông sang tây, là A-se. 3. Tiếp giáp với ranh giới của A-se, từ đông sang tây, là Nép-ta-li. 4. Tiếp giáp với ranh giới của Nép-ta-li, từ đông sang tây, là Ma-na-se. 5. Tiếp giáp với ranh giới của Ma-na-se, từ đông sang tây, là Ép-ra-im. 6. Tiếp giáp với ranh giới của Ép-ra-im, từ đông sang tây, là Ru-bên. 7. Tiếp giáp với ranh giới của Ru-bên, từ đông sang tây, là Giu-đa.
  2. Tiếp giáp với ranh giới của Giu-đa, từ đông sang tây, các ngươi phải biệt riêng ra một khu vực rộng hai mươi lăm ngàn cu-bít, chiều dài từ ranh giới phía đông đến ranh giới phía tây cũng giống như những phần đất khác. Nơi thánh sẽ ở giữa phần đất đó. 9. Phần đất mà các ngươi sẽ dâng cho Đức Giê-hô-va có chiều dài là hai mươi lăm ngàn cu-bít, rộng mười ngàn cu-bít. 10. Ðây là khu vực thánh, dành cho các tư tế. Phía bắc dài hai mươi lăm ngàn cu-bít, phía tây rộng mười ngàn cu-bít, phía đông rộng mười ngàn cu-bít, phía nam dài hai mươi lăm ngàn cu-bít. Đền thánh của Đức Giê-hô-va sẽ ở giữa phần đất này. 11. Phần này dành cho các tư tế đã được thánh hóa thuộc dòng dõi Xa-đốc, là những người đã vâng giữ mệnh lệnh của Ta, không lầm lạc như những người Lê-vi đã lầm lạc khi dân Y-sơ-ra-ên đi lầm lạc. 12. Có một khu vực được trích ra cho họ từ phần rất thánh tiếp giáp với địa phận của người Lê-vi. 13. Người Lê-vi có một phần đất dọc theo ranh giới phần đất của các tư tế, dài hai mươi lăm ngàn cu-bít, rộng mười ngàn cu-bít; tức là cả chiều dài hai mươi lăm ngàn cu-bít và rộng mười ngàn cu-bít. 14. Họ sẽ không được bán, hoặc trao đổi, hoặc chuyển nhượng phần đất ưu tú nầy cho người khác, bởi vì nó đã được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va.
  3. Phần đất còn lại rộng năm ngàn cu-bít, dài hai mươi lăm ngàn cu-bít, để sử dụng cho mục đích công cộng của thành phố như làm nhà ở và làm đất công, còn thành phố thì ở chính giữa. 16. Kích thước của nó: Phía bắc bốn ngàn năm trăm cu-bít, phía nam bốn ngàn năm trăm cu-bít, phía đông bốn ngàn năm trăm cu-bít và phía tây bốn ngàn năm trăm cu-bít. 17. Vùng đất trống của thành phố: phía bắc hai trăm năm mươi cu-bít, phía nam hai trăm năm mươi cu-bít, phía đông hai trăm năm mươi cu-bít và phía tây hai trăm năm mươi cu-bít. 18. Phần đất còn lại, chiều ngang giáp ranh với phần đất thánh, phía đông mười ngàn cu-bít, phía tây mười ngàn cu-bít giáp ranh với phần đất thánh. Hoa lợi của nó sẽ được dùng làm lương thực cho những người phục vụ trong thành phố. 19. Những nhân viên thành phố từ mọi chi tộc Y-sơ-ra-ên sẽ canh tác phần đất này. 20. Tổng diện tích của phần đất được biệt riêng ra là hai mươi lăm ngàn cu-bít chiều nầy và hai mươi lăm ngàn cu-bít chiều kia. Các ngươi phải dâng phần đất vuông vức để làm tài sản cho thành phố.
  4. Phần đất còn lại ở bên nầy và bên kia của phần đất thánh và địa phận thành phố, phía đông dài hai mươi lăm ngàn cu-bít đến ranh giới phía đông, phía tây dài hai mươi lăm ngàn cu-bít đến ranh giới phía tây, đối diện với các phần đất khác, sẽ thuộc về người lãnh đạo. Phần đất thánh và đền thánh sẽ ở giữa phần đất nầy. 22. Như vậy, sản nghiệp của người Lê-vi và sản nghiệp của thành phố sẽ nằm giữa phần đất của người lãnh đạo. Phần đất ở giữa ranh giới của Giu-đa và ranh giới của Bên-gia-min thuộc về người lãnh đạo.
  5. Về các chi tộc còn lại, từ đông sang tây, là Bên-gia-min. 24. Tiếp giáp với ranh giới của Bên-gia-min, từ đông sang tây, là A-se. 2. Tiếp giáp với ranh giới của Bên-gia-min, từ đông sang tây, là Si-mê-ôn. 25. Tiếp giáp với ranh giới của Si-mê-ôn, từ đông sang tây, là Y-sa-ca. 26. Tiếp giáp với ranh giới của Y-sa-ca, từ đông sang tây, là Sa-bu-lôn. 27. Tiếp giáp với ranh giới của Sa-bu-lôn, từ đông sang tây, là Gát. 28. Tiếp giáp với ranh giới của Gát, ở phía nam và hướng về phương nam, ranh giới sẽ chạy từ Tha-ma cho đến những dòng nước Mê-ri-ba gần Ca-đe, dọc theo dòng suối cho đến Biển Lớn.
  6. Đây là đất mà các ngươi sẽ bắt thăm để chia cho các chi tộc của Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp, và đó là những phần của họ. Chúa là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  7. Đây là những lối ra của thành. Về phía bắc bốn ngàn năm trăm cu-bít. 31. Các cổng của thành sẽ được đặt tên theo tên các chi tộc của Y-sơ-ra-ên. Ba cổng ở phía bắc: Một cổng cho Ru-bên, một cổng cho Giu-đa, và một cổng cho Lê-vi. 32. Về phía đông, bốn ngàn năm trăm cu-bít. Có ba cổng: Một cổng cho Giô-sép, một cổng cho Bên-gia-min, và một cổng cho Đan. 33. Về phía nam, bốn ngàn năm trăm cu-bít. Có ba cổng: Một cổng cho Si-mê-ôn, một cổng cho Y-sa-ca, và một cổng cho Sa-bu-lôn. 33. Về phía tây, bốn ngàn năm trăm cu-bít. Có ba cổng: Một cổng cho Gát, một cổng cho A-se, và một cổng cho Nép-ta-li. 35. Chu vi của thành sẽ là mười tám ngàn cu-bít. Từ nay tên của thành sẽ là: “Đức Giê-hô-va ngự tại đó!”

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top