Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: Giê-rê-mi

Bản Dịch Việt Ngữ: Giê-rê-mi

Giê-rê-mi

1

  1. Đây là những lời của Giê-rê-mi, con trai của Hinh-kia, là một trong những tư tế tại A-na-tốt trong xứ Bên-gia-min. 2. Sứ điệp của Đức Giê-hô-va đã đến với ông vào năm thứ mười ba trong thời trị vì của Giô-si-a, con trai của A-môn, vua của Giu-đa. 3. Và sau đó đã đến trong thời của Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, vua của Giu-đa, cho đến cuối năm thứ mười một vào thời của Sê-đê-kia, con trai của Giô-si-a, vua của Giu-đa, và cho đến khi dân Giê-ru-sa-lem bị lưu đày vào tháng thứ năm.
  2. Lời của Đức Giê-hô-va đã đến với tôi rằng: 5. Trước khi Ta tạo thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi. Trước khi ngươi được sinh ra, Ta đã thánh hóa ngươi. Ta đã biệt riêng ngươi ra để làm tiên tri cho các nước.
  3. Tôi thưa: Lạy Chúa, là Giê-hô-va! Xin hãy xem! Con không thể nói được, bởi vì con còn trẻ!
  4. Nhưng Đức Giê-hô-va đã phán với tôi: Đừng nói “Con còn trẻ!” Bởi vì ngươi sẽ đến với tất cả người nào Ta sai ngươi đến, và ngươi sẽ nói bất kỳ điều gì Ta truyền cho ngươi nói. 8. Đừng sợ vẻ mặt của họ, bởi vì Ta ở cùng ngươi để giải cứu ngươi. – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  5. Đức Giê-hô-va đưa tay Ngài chạm vào miệng của tôi. Đức Giê-hô-va đã phán với tôi: Nầy, Ta đã đặt những lời của Ta trong miệng của ngươi. 10. Hãy xem! Ngày nay Ta đã lập ngươi trên các dân tộc và trên các vương quốc, để ngươi bứng gốc và giật sập, để hủy diệt và lật đổ, để xây dựng và vun trồng.
  6. Thêm vào đó, lời của Đức Giê-hô-va lại đến với tôi: Giê-rê-mi! Ngươi thấy gì? Tôi nói: Con thấy một nhánh cây hạnh nhân. 12. Và rồi Đức Giê-hô-va phán với tôi: Ngươi thấy đúng, bởi vì Ta đang thức để thực hiện lời của Ta.
  7. Lời của Đức Giê-hô-va lại đến với tôi lần thứ hai rằng: Ngươi thấy gì? Tôi thưa: Con thấy một nồi nước sôi, hướng ra từ phương bắc. 14. Rồi Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: Từ phương bắc tai họa sẽ giáng trên tất cả những cư dân trong xứ. 15. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì kìa, Ta đang gọi tất cả các gia tộc thuộc những vương quốc tại phương bắc. Họ sẽ đến đặt ngôi của mình tại lối vào các cổng thành của Giê-ru-sa-lem. Họ sẽ bao vây các vách thành của nó, cũng như tất cả các thành của Giu-đa. 16. Ta sẽ công bố sự trừng phạt của Ta chống lại chúng về tất cả những gian ác của chúng, bởi vì chúng đã lìa bỏ Ta, đã đốt hương cho các thần khác, và đã thờ phượng những công việc do chính tay chúng làm ra.
  8. Vì vậy, ngươi hãy chuẩn bị, hãy đứng lên, rồi nói với chúng tất cả mọi điều mà Ta truyền cho ngươi. Đừng khinh hãi trước mặt chúng, nhưng hãy để Ta làm cho chúng sợ hãi ngươi. 18. Bởi vì hãy nhìn xem, chính hôm nay, Ta đã lập ngươi làm một thành trì, làm một cột sắt, làm những bức tường bằng đồng để chống lại cả xứ, chống lại các vua của Giu-đa, chống lại những lãnh đạo, chống lại những tư tế, và chống lại dân chúng trong xứ. 19. Chúng sẽ giao chiến với ngươi nhưng chúng không thắng được ngươi, bởi vì Ta ở cùng ngươi để giải cứu ngươi — Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

2

  1. Lời của Đức Giê-hô-va đã truyền cho tôi: 2. Hãy đi, rồi nói vào tai của Giê-ru-sa-lem rằng Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy: Ta nhớ đến lòng trung thành của ngươi lúc còn thanh xuân, tình yêu của ngươi khi còn đính ước, lúc ngươi theo Ta trong hoang mạc, trong vùng đất không được gieo trồng. 3. Đối với Đức Giê-hô-va, Y-sơ-ra-ên là thánh, là trái đầu mùa của hoa lợi Ngài. Tất cả những người nào ăn nuốt nó sẽ phạm tội, và tai họa sẽ giáng trên những người đó. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  2. Hỡi nhà Gia-cốp và tất cả các gia tộc của Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 5. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Tổ phụ của các ngươi có tìm thấy điều nào bất công ở trong Ta mà chúng đã lìa xa Ta, để đi theo sự hư không, rồi trở thành những kẻ chẳng ra gì? 6. Chúng không hề hỏi: Đức Giê-hô-va, là Đấng đã dẫn chúng ta ra khỏi Ai Cập, dắt chúng ta qua hoang mạc, qua vùng đất hoang vu đầy hầm hố, là vùng đất khô cằn có bóng của sự chết, là nơi không có người qua lại, và không ai cư ngụ, ở đâu? 7. Ta đã đem các ngươi vào một xứ trù phú để hưởng hoa quả và các sản vật tốt đẹp của nơi đó. Nhưng khi đã vào đó, các ngươi đã làm ô uế đất của Ta, đã làm cho sản nghiệp Ta bị kinh tởm. 8. Các tư tế không hề hỏi: Đức Giê-hô-va ở đâu? Những người giảng dạy luật pháp không biết Ta. Những kẻ chăn chống lại Ta. Các tiên tri nhờ cậy Ba-anh mà nói tiên tri, rồi đi theo những thứ vô ích.
  3. Đức Giê-hô-va phán: Vì vậy, Ta luận tội các ngươi, luận tội con cháu của các ngươi. 10. Hãy qua đảo Kít-tim mà xem. Hãy cử người đến Kê-đa tìm hiểu thật kỹ càng, xem thử có bao giờ có một việc như vậy hay không. 11. Có dân tộc nào thay đổi thần của mình — dù chúng không phải là thần — hay không? Nhưng dân của Ta đã đổi vinh quang của mình cho những thứ vô ích. 12. Các tầng trời đã kinh ngạc, đã rúng động, và thật sự bàng hoàng về việc nầy. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Dân của Ta đã phạm hai điều ác: Chúng đã lìa bỏ Ta, là nguồn nước sống; và đào cho mình những nơi chứa nước, tuy nhiên những nơi chứa nước đã bị bể, không chứa nước được.
  5. Có phải Y-sơ-ra-ên là một nô lệ, hay là một đầy tớ đã được sinh ra trong nhà của chủ hay không? Tại sao nó lại bị cướp phá? 15. Các sư tử tơ đã gầm gừ, đã rống lên chống lại nó, đã làm cho đất của nó trở nên hoang vu. Các thành của nó bị thiêu hủy, không có người ở. 16. Thậm chí dân của Nốp và Tác-pha-nết cũng đã cạo trọc đầu của ngươi. 17. Không phải chính ngươi đã tự chuốc lấy điều nầy cho mình, bởi vì đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời trong lúc Ngài đang dẫn dắt ngươi trên hành trình hay sao? 18. Bây giờ, tại sao ngươi lại chọn con đường đi đến Ai Cập để uống nước tại Si-ho? Tại sao ngươi lại chọn con đường đi A-sy-ri để uống nước sông Cái? 19. Tội ác của ngươi sẽ sửa phạt ngươi. Sự sa ngã của ngươi sẽ cáo trách ngươi. Vì vậy, hãy nhận biết và nhìn thấy rõ rằng sự xấu xa và cay đắng đó là ngươi đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và ngươi không kính sợ Ta. Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, phán như vậy.
  6. Xưa kia, Ta đã bẻ gãy cái ách của ngươi, đã bứt đứt các xiềng xích của ngươi, và ngươi đã nói: Con sẽ không vi phạm nữa! Trong khi đó, trên mỗi đồi cao, dưới mỗi cây xanh, ngươi đã cúi xuống để làm điếm. 21. Ta đã trồng ngươi như một cây nho tuyển chọn, một giống nho thuần chủng. Làm thế nào ngươi lại thoái hóa trở thành một cây nho tạp chủng? 22. Dù cho ngươi có dùng thuốc tẩy, và thật nhiều xà phòng để tẩy rửa chính mình, thì trước mặt Ta, dấu vết tội ác ngươi vẫn còn. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán vậy.
  7. Làm sao ngươi có thể nói: Tôi không bị ô uế. Tôi không theo thần Ba-anh. Hãy nhìn vào đường lối của ngươi trong thung lũng. Hãy biết điều ngươi đã làm giống như một con lạc đà cái tơ lanh lẹ chạy luông tuồng; 24. giống như một con lừa rừng quen sống trong hoang mạc, hít gió khi động đực. Ai có thể kìm hãm cơn thèm khát của nó được? Tất cả những người muốn thỏa mãn với nó thì không có gì phải khó nhọc, cứ đến trong tháng nó động đực thì sẽ tìm thấy nó. 25. Hãy giữ cho bàn chân của ngươi đừng lộ ra và cổ của ngươi không bị khát. Nhưng ngươi đã nói: Không! Bởi vì tôi đã yêu các thần ngoại bang, nên sẽ đi theo họ.
  8. Giống như một kẻ trộm xấu hổ khi bị bắt quả tang, nhà Y-sơ-ra-ên, từ dân chúng cho đến các vua, các lãnh đạo, các tư tế, và các tiên tri, cũng bị xấu hổ như vậy. 27. Ngươi đã nói với gỗ rằng: Ngài là cha tôi, với đá rằng: Ngài đã sanh ra tôi. Thật vậy, các ngươi đã xây lưng lại cùng Ta, mà không xây mặt lại với Ta. Nhưng đến ngày hoạn nạn, chúng sẽ nói rằng: Xin hãy trỗi dậy! Xin giải cứu chúng tôi! 28. Nhưng các thần mà ngươi đã tự làm cho mình ở đâu? Hãy để chúng trỗi dậy, xem thử chúng có thể cứu giúp ngươi trong lúc hoạn nạn. Hỡi Giu-đa! Ngươi có bao nhiêu thành là có bấy nhiêu thần! 29. Tại sao ngươi còn dám tranh luận với Ta? Tất cả các ngươi đều phản nghịch Ta. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  9. Ta đã trừng phạt con cái của các ngươi, nhưng cũng vô ích. Chúng không đón nhận sự sửa dạy. Gươm của các ngươi đã giết hại các tiên tri giống như sư tử vồ mồi. 31. Hỡi những người thuộc thế hệ nầy! Hãy suy ngẫm lời của Đức Giê-hô-va. Có phải đối với Y-sơ-ra-ên, Ta giống như một hoang mạc, một vùng đất tối tăm mù mịt? Tại sao dân của Ta lại nói: Chúng tôi muốn đi đâu thì đi. Chúng tôi sẽ không đến với Ngài nữa.
  10. Có thể nào một thiếu nữ quên những nữ trang của mình, hay một cô dâu quên trang phục của mình, nhưng dân của Ta đã quên Ta từ ngày nào không ai đếm được. 33. Ngươi thành thạo trong phương cách thỏa mãn người tình, đến nỗi ngươi dạy cho các phụ nữ xấu xa những phương cách của ngươi. 34. Trên vạt áo ngươi cũng vấy máu của những người nghèo vô tội. Ta không cần phải bí mật tìm kiếm, nhưng tất cả những điều đó thật hiển nhiên. 35. Dầu vậy, ngươi vẫn nói: “Bởi vì tôi vô tội, chắc chắn Ngài sẽ xoay cơn giận của Ngài khỏi tôi!” Nầy, Ta sẽ xét xử ngươi, bởi vì ngươi nói: “Tôi không phạm tội.” 36. Tại sao ngươi tráo trở thay đổi đường lối của mình. Ngươi sẽ bị Ai Cập làm cho xấu hổ như ngươi đã bị A-sy-ri làm cho xấu hổ. 37. Thật vậy, ngươi sẽ rời khỏi đây với hai tay đặt trên đầu, nhưng Đức Giê-hô-va sẽ loại bỏ những liên minh tin cậy của ngươi, và chúng sẽ không làm cho ngươi được thịnh vượng.

3

  1. Nếu một người ly dị vợ của mình, nàng lìa khỏi người đó rồi trở thành vợ của người khác, người đó có nên quay lại với nàng hay không? Không phải là đất đã bị ô uế quá nhiều rồi hay sao? Ngươi đã đàng điếm với nhiều tình nhân mà còn muốn trở lại với Ta hay sao? Đức Giê-hô-va phán vậy. 2. Hãy ngước mắt của ngươi nhìn lên những đồi cao trần trụi, có nơi nào mà ngươi không ăn nằm với người khác hay không? Ngươi đã ngồi bên đường để chờ đợi chúng nó. Giống như một người Ả-rập trong hoang mạc, ngươi đã làm ô uế đất nầy bằng những trò dâm ô đồi trụy của ngươi. 3. Vì vậy, mưa đã bị giữ lại và cũng không có mưa cuối mùa. Ngươi có vầng trán của gái mại dâm. Ngươi không biết nhục.
  2. Không phải ngươi vừa gọi Ta: “Cha của con! Ngài là người bạn thân thiết của con từ lúc thanh xuân. 5. Lẽ nào Ngài căm giận mãi mãi và cố chấp cho đến đời đời hay sao?” – Nầy, dầu ngươi nói như vậy, nhưng ngươi đã làm mọi điều ác mà ngươi có thể làm!
  3. Vào thời của Vua Giô-si-a, Đức Giê-hô-va phán với tôi: Ngươi có thấy điều mà Y-sơ-ra-ên bội bạc đã làm hay không? Nó đã lên mọi núi cao, đến dưới mỗi cây xanh làm chuyện đàng điếm tại đó. 7. Ta nghĩ rằng sau khi nó đã làm mọi việc nầy nó sẽ trở về với Ta, nhưng nó đã không trở về. Em gái phản trắc của nó là Giu-đa đã thấy điều đó. 8. Ta thấy tất cả những việc nó đã gây ra, vì Y-sơ-ra-ên bội bạc đã ngoại tình, cho nên Ta đã từ bỏ nó, trao cho nó một giấy ly hôn, nhưng em gái phản trắc của nó là Giu-đa không sợ, cũng đã đi rồi làm chuyện đàng điếm của nó. 9. Và rồi, với những chuyện đàng điếm đó, nó đã làm ô uế cả đất, bởi vì nó đã phạm tội ngoại tình cả với gỗ và đá. 10. Thậm chí với tất cả những việc như vậy, em gái phản trắc của nó là Giu-đa đã không hết lòng trở lại với Ta, nhưng nó chỉ giả vờ. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Đức Giê-hô-va cũng phán với tôi rằng: Y-sơ-ra-ên bội bạc nhưng còn công chính hơn so với Giu-đa phản trắc. 12. Hãy đi và công bố những lời nầy cho phương Bắc rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên bội bạc! Hãy trở về. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ không giáng cơn giận của Ta trên các ngươi, bởi vì Ta là Đấng thương xót.

Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ không giận đến đời đời. 13. Ngươi chỉ cần nhìn nhận tội lỗi của mình rằng ngươi đã chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi. Ngươi đã theo đuổi các thần ngoại bang dưới mỗi cây xanh, và đã không nghe theo tiếng của Ta. Đức Giê-hô-va phán vậy.

  1. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi những đứa con bội nghịch! Hãy trở về. Bởi vì Ta là chủ của các ngươi. Ta sẽ lấy các ngươi từ mỗi một thành, từ mỗi gia tộc hai người, rồi đem đến Si-ôn. 15. Ta sẽ ban cho các ngươi những người chăn đẹp lòng Ta. Họ sẽ chăn dắt các ngươi bằng tri thức và sự khôn ngoan.
  2. Đức Giê-hô-va phán: Và rồi, khi các ngươi gia tăng và phát triển trong xứ, lúc đó người ta sẽ không nói đến Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va nữa. Người ta sẽ không nghĩ đến nó, hay nhớ đến nó, hay luyến tiếc nó, hay muốn làm một cái khác để thay thế cho nó nữa. 17. Lúc đó, Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là ngôi của Đức Giê-hô-va. Tất cả dân tộc sẽ quy tụ về Giê-ru-sa-lem trong danh của Đức Giê-hô-va. Khi đó, chúng sẽ không bướng bỉnh đi theo những ý nghĩ xấu xa trong lòng của chúng nữa. 18. Trong những ngày đó, nhà Giu-đa sẽ đi với nhà Y-sơ-ra-ên. Chúng sẽ cùng nhau ra khỏi đất phương bắc để đến đất mà Ta đã ban cho tổ phụ của các ngươi làm sản nghiệp.
  3. Ta đã nói: Làm thế nào Ta có thể đem ngươi vào trong số những đứa con của Ta, để ban cho ngươi một vùng đất tốt tươi làm cơ nghiệp quý giá ở giữa các dân. Ta nói: Ngươi sẽ gọi Ta là “Cha của con!” và sẽ không quay lưng lại với Ta. 20. Nhưng hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Giống như một người vợ phản trắc đối với chồng thể nào, ngươi cũng đã phản trắc đối với Ta như vậy. Đức Giê-hô-va phán.
  4. Có tiếng kêu than nghe được từ những đồi trọc, là tiếng của dân Y-sơ-ra-ên khóc lóc khẩn xin, bởi vì chúng đã đi theo con đường quanh quẹo của mình, và chúng đã quên Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của mình.
  5. Hỡi những đứa con bội bạc, hãy trở về! Ta sẽ chữa lành sự bội nghịch của các ngươi.

Vâng, chúng con đến với Ngài, bởi vì Ngài là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của chúng con.

  1. Thật vậy, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời là Đấng Giải Cứu của Y-sơ-ra-ên. Thật vậy, những đồi cao, đám đông, và những ngọn núi chỉ là sự giả đối.
  2. Từ thời niên thiếu của chúng con, sự ô nhục đã nuốt hết công lao của tổ phụ chúng con, cùng với bầy chiên, bầy bò, con trai, con gái của họ. 25. Chúng con nằm trong sự ô nhục của mình, đắp trên mình bằng sự nhục nhã, bởi vì chúng con đã phạm tội chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con. Chúng con và tổ phụ chúng con – từ thời niên thiếu cho đến ngày hôm nay – chúng con đã không vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con.

 

4

  1. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Nếu ngươi trở về. Đức Giê-hô-va phán: Nếu ngươi trở về cùng Ta, nếu ngươi dẹp bỏ những việc kinh tởm khỏi mặt Ta, và đừng dời đổi nữa. 2. Nếu ngươi thề nguyện cùng Đức Giê-hô-va hằng sống, chân thật, công chính, và ngay thẳng, thì các nước sẽ bởi Ngài nhận được phước cho chính mình, và được vinh hiển ở trong Ngài.
  2. Đức Giê-hô-va phán với người Giu-đa và dân Giê-ru-sa-lem như vầy: Hãy vỡ đất mới và đừng gieo gai gốc ở trong đó. 4. Hãy cắt bì cho Đức Giê-hô-va. Hỡi người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem! Hãy cắt bỏ dương bì khỏi lòng của các ngươi. Nếu không, cơn giận của Ta sẽ phừng lên như lửa, để thiêu đốt các ngươi, mà không ai dập tắt được, bởi vì việc gian ác mà các ngươi đã làm.
  3. Hãy loan báo trong Giu-đa và công bố trong Giê-ru-sa-lem rằng: Hãy thổi kèn khắp cả xứ. Hãy kêu gọi! Hãy tụ họp lại. Hãy nói rằng: Chúng ta hãy tập hợp lại vào trong những thành được bảo vệ.
  4. Hãy giương cờ hướng về Si-ôn. Hãy chạy trốn, đừng chậm trễ, bởi vì Ta sẽ đem một tai họa đến từ phương bắc, một sự tàn phá khủng khiếp. 7. Sư tử đã ra khỏi rừng rậm. Kẻ hủy diệt các quốc gia đã lên đường, đã rời khỏi chỗ của nó, để làm cho đất nước của ngươi hoang tàn, và các thành của ngươi bị hoang phế không có người ở. 8. Vì vậy, hãy mặc tang phục, hãy than khóc và kêu van bởi vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va chưa lìa khỏi chúng ta.
  5. Đức Giê-hô-va phán: Và rồi sẽ có ngày, vua và các lãnh đạo đều mất tinh thần, các thầy tế lễ bàng hoàng, các tiên tri sửng sốt.
  6. Tôi liền thưa: Ôi! Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va! Thật ra Ngài đã gạt dân nầy và Giê-ru-sa-lem. Ngài nói: Các ngươi sẽ được bình an – nhưng sinh mạng đang kề cận với gươm.
  7. Lúc đó người ta sẽ nói với dân nầy và dân Giê-ru-sa-lem: Một ngọn gió nóng do Ta thổi từ các đồi trọc trong sa mạc đang đến với con gái của dân Ta, không phải để rê cũng không phải để làm cho sạch, 12. bởi vì ngọn gió quá mạnh cho những việc đó. Bấy giờ Ta sẽ đến và Ta sẽ tuyên án để kết tội chúng nó.
  8. Kìa, người sẽ kéo đến như một cơn lốc, các chiến xa của người như những đám mây, ngựa chiến của người nhanh hơn đại bàng. Thật khốn nạn cho chúng tôi bởi vì chúng tôi sẽ bị tàn hại.
  9. Hỡi Giê-ru-sa-lem! Hãy tẩy sạch gian ác trong lòng của ngươi để ngươi được cứu. Những ý tưởng gian ác vẫn cư trú trong lòng của ngươi cho đến bao giờ? 15. Bời vì có một lời công bố đến từ Đan, và một thông báo tệ hại đến từ núi Ép-ra-im. 16. Hãy truyền cho các dân! Hãy báo cho Giê-ru-sa-lem rằng những kẻ dòm ngó từ phương xa đang đến. Chúng đang hò hét chống lại các thành của Giu-đa. 17. Giống như những người canh giữ ngoài đồng, chúng bao vây nó, bởi vì nó đã phản nghịch Ta. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  10. Những đường lối và những việc làm của ngươi đã đem những điều nầy đến cho ngươi. Sự gian ác của người đã đem lại sự cay đắng nầy. Sự cay đắng thấu tận tâm can.
  11. Tâm hồn của tôi! Tâm hồn của tôi! Tôi quặn thắt trong lòng. Lòng tôi xao xuyến ở trong tôi. Linh hồn của tôi ơi! Tôi không được bình an, bởi vì ngươi đã nghe tiếng kèn và tiếng thét xung trận. 20. Tiếng kêu thảm họa chồng lên thảm họa. Thình lình, cả xứ bị cướp phá, lều trại của tôi bị cướp phá. Trong phút chốc, màn trướng tả tơi. 21. Tôi sẽ phải nhìn thấy cờ và nghe tiếng kèn cho đến bao giờ?
  12. Bởi vì dân Ta thật dại dột, chúng không nhận biết Ta. Chúng là những đứa con khờ dại, không hiểu biết. Chúng thông minh trong việc làm điều ác, nhưng không biết làm điều thiện. 23. Ta nhìn xuống đất, kìa, nó đã trở nên hoang vắng và trống không. Ta nhìn lên trời, nó không còn ánh sáng. 24. Ta nhìn những ngọn núi, chúng liền run rẩy. Ta nhìn những ngọn đồi, tất cả đều dao động. 25. Ta nhìn quanh. Kìa, không còn một người. Tất cả chim trời đều chạy trốn. 26. Ta nhìn. Kìa, vùng đất màu mỡ đã trở thành hoang mạc. Tất cả các thành đều bị hủy phá trước mặt Đức Giê-hô-va bởi cơn thịnh nộ của Ngài.
  13. Vì Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Khắp đất sẽ hoang vu, dù Ta chưa tiêu diệt đến cùng. 28. Vì chính điều nầy, đất sẽ sầu thảm, trời sẽ tăm tối; bởi vì Ta đã phán, đã định, thì không hối tiếc, cũng không quay trở lại. 29. Khi nghe tiếng của kỵ binh và cung thủ, cả thành bỏ chạy vào rừng rậm, trèo lên những vầng đá. Mọi thành đều bị bỏ hoang, không một người nào cư ngụ tại đó. 30. Còn ngươi, lúc ngươi bị cướp phá, ngươi sẽ làm gì? Dù ngươi có mặc áo đỏ thắm, dù ngươi có trang sức bằng vàng ròng, dù ngươi có vẽ mắt cho lớn, ngươi tự làm đẹp cho mình cũng vô ích; bởi vì các tình nhân ngươi đã bỏ ngươi. Chúng muốn lấy mạng sống của ngươi. 31. Vì Ta nghe tiếng kêu như tiếng của một phụ nữ đang chuyển dạ, tiếng rên rỉ như tiếng của sản phụ sinh đứa con đầu tiên. Đó là tiếng của con gái Si-ôn thở hổn hển và dang tay than khóc: Bây giờ, thật khốn nạn cho tôi! Tôi ngất lịm trước những kẻ giết người.

5

  1. Hãy đi qua đi lại trên những đường phố của Giê-ru-sa-lem. Hãy nhìn quanh và tìm hiểu. Hãy tìm kiếm khắp các quảng trường của nó. Nếu các ngươi có thể tìm được một người – một người làm theo công lý, một người tìm kiếm chân lý – thì Ta sẽ tha cho thành đó. 2. Dù chúng nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống!” Nhưng chúng chỉ thề dối.
  2. Đức Giê-hô-va ôi! Mắt Ngài không nhìn thấy sự thật hay sao? Ngài đã đánh chúng, nhưng chúng không sợ. Ngài đã thiêu hủy chúng, nhưng chúng không chấp nhận sự sửa phạt. Chúng đã làm cho mặt của mình cứng hơn đá, và không chịu quay về.
  3. Tôi nói rằng: “Đây chỉ là những người nghèo khổ dại dột, bởi vì họ không biết đường lối của Đức Giê-hô-va, cùng luật pháp của Đức Chúa Trời của họ. 5. Tôi sẽ đến gặp những người có thế lực và nói với họ, bởi vì họ biết rõ đường lối của Đức Giê-hô-va, và luật pháp của Đức Chúa Trời của họ.” Nhưng những người đó đã cùng nhau bẻ ách, bứt dây. 6. Vì vậy, sư tử từ trong rừng sẽ giết họ, chó sói từ hoang mạc sẽ sát hại họ, beo sẽ rình rập bên ngoài thành của họ. Người nào đi ra khỏi thành sẽ bị cắn xé, bởi vì tội lỗi của họ rất nhiều, và sự bội bạc của họ vô số.
  4. Làm thế nào Ta có thể tha thứ cho ngươi? Con cái của ngươi đã lìa bỏ Ta, đã nhân danh những kẻ không phải là thần mà thề thốt. Ta đã nuôi chúng no nê, nhưng chúng đã phạm tội tà dâm, tụ họp trong nhà của gái mại dâm. 8. Chúng nó như những con ngựa được nuôi đầy đủ rồi động cỡn, mỗi người chạy theo hú hí vợ của người lân cận mình. 9. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ không trừng phạt chúng về những tội đó hay sao? Một dân tộc như vậy mà Ta không báo trả hay sao?
  5. Hãy trèo lên những vách tường của nó, rồi tàn phá, nhưng đừng diệt hết. Hãy cắt bỏ những nhánh của nó bởi vì chúng không thuộc về Đức Giê-hô-va, 11. bởi vì nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa đã đối xử vô cùng bội bạc với Ta. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  6. Chúng đã nói dối về Đức Giê-hô-va, chúng nói rằng: Ngài không làm gì đâu! Không có hoạn nạn nào giáng trên chúng ta. Chúng ta sẽ chẳng thấy gươm đao và đói kém. 13. Các tiên tri chỉ như gió. Lời của Chúa không ở trong họ. Điều gì họ nói sẽ xảy đến cho họ.
  7. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các đạo quân phán: Bởi vì các ngươi đã nói những lời đó, hãy xem, Ta sẽ khiến lời của Ta như lửa trong miệng của ngươi. Dân nầy sẽ như củi, và sẽ bị thiêu đốt.
  8. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Ta sẽ đem một dân tộc từ phương xa đến để chống lại ngươi. Đó là một dân tộc kiên cường, một dân tộc kỳ cựu, một dân tộc mà ngôn ngữ của chúng ngươi không biết, cũng không hiểu chúng nói gì. 16. Túi đựng tên của chúng như giống một phần mộ mở toang. Tất cả bọn chúng đều là những chiến binh hung bạo. 17. Chúng sẽ nuốt mùa màng và thực phẩm của ngươi. Chúng sẽ nuốt con trai và con gái ngươi. Chúng sẽ nuốt bầy chiên và bầy bò của ngươi. Chúng sẽ nuốt cây nho và cây vả của ngươi. Chúng sẽ dùng gươm tiêu diệt những thành trì kiên cố mà ngươi nương cậy.
  9. Đức Giê-hô-va phán: Dù vậy, trong những ngày đó, Ta sẽ không tận diệt các ngươi. 19. Để rồi khi các ngươi hỏi rằng: “Tại sao Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta lại giáng mọi điều nầy trên chúng ta?” thì ngươi hãy nói với họ rằng: “Các ngươi đã lìa bỏ Ta và phục vụ các thần ngoại bang ngay trong xứ của mình như thế nào, thì các ngươi cũng sẽ phục vụ các dân ngoại bang trong một xứ không thuộc về các ngươi cũng như vậy.”
  10. Hãy công bố điều nầy cho nhà Gia-cốp, hãy loan báo nó trong Giu-đa, rằng: 21. Hãy lắng nghe điều nầy! Hỡi một dân tộc dại dột, u mê, có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe. 22. Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi không kính sợ Ta, không run rẩy trước mặt Ta hay sao? Ta là Đấng đã lấy cát làm ranh giới của biển, làm một ranh giới vĩnh viễn không thể vượt qua. Những đợt sóng dù có tới lui dồi dập cũng không thắng được, dù chúng có gầm thét cũng không thể vượt qua. 23. Nhưng dân tộc nầy có một tấm lòng bội nghịch phản loạn, chúng đã tẽ tách rồi bỏ đi. 24. Chúng không bao giờ nói trong lòng rằng: Chúng ta hãy kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban mưa đúng mùa: mưa đầu mùa và mưa cuối mùa, là Đấng đã chỉ định các tuần lễ cho chúng ta thu hoạch mùa màng. 25. Những tội lỗi của các ngươi đã tước mất những điều đó, những gian ác của các ngươi đã cướp đi những phước hạnh của các ngươi. 26. Bởi vì có những kẻ gian ác ở giữa dân của Ta, chúng nằm chờ, chúng gài bẫy. Chúng gài bẫy để bắt người. 27. Giống như chiếc lồng đầy những chim, nhà của chúng đầy sự lừa đảo và gian dối; nhờ vậy chúng có quyền lực và giàu sang, 28. chúng mập béo bóng láng. Thật vậy, chúng vượt hơn những việc làm của những kẻ gian ác. Chúng không cân nhắc lý lẽ của người mồ côi giúp họ được ích lợi, cũng không bênh vực quyền lợi của người nghèo khó. 29. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ không trừng phạt chúng về những tội đó hay sao? Một dân tộc như vậy mà Ta không báo trả hay sao?
  11. Một việc rùng rợn và kinh tởm đã xảy ra trong xứ nầy: 31. Các tiên tri đã nói những lời tiên tri giả dối, các tư tế đã cai trị bằng quyền lực, và dân của Ta lại ưa thích như vậy! Nhưng đến hồi kết cục, các ngươi sẽ làm gì?

 

6

  1. Hỡi con cái của Bên-gia-min! Hãy chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem. Hãy thổi kèn tại Thê-cô-a, hãy nổi lửa làm dấu hiệu báo động tại Bết Hát-kê-rem, bởi vì tai ương từ phương bắc và sự tàn phá khủng khiếp đang ập đến.
  2. Ta đã so sánh con gái của Si-ôn là một phụ nữ dịu dàng đáng yêu. 3. Nhưng những người chăn sẽ kéo đến đó cùng với bầy chiên của mình, cắm lều dựng trại bao quanh nơi đó, rồi mỗi người sẽ thả bầy trên phần đất của mình. 4. Hãy đứng dậy chuẩn bị chiến tranh chống lại nàng. Hãy đứng lên để tấn công lúc giữa trưa. Nhưng khốn cho chúng ta, ngày đã qua và bóng chiều đang kéo dài. 5. Hãy đứng dậy! Chúng ta hãy tấn công nàng vào ban đêm. Chúng ta hãy tiêu diệt những lâu đài của nàng. 6. Bởi vì Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã phán như thế nầy: Hãy đốn cây và đắp lũy vây hãm Giê-ru-sa-lem! Đây là thành phố phải bị trừng phạt bởi vì ở giữa nó có đầy sự áp ức.
  3. Giống như một cái giếng để giữ nước mát thể nào, thì thành nầy cũng giữ sự gian ác của mình như vậy. Trong thành chỉ nghe những chuyện bạo hành và cướp phá, sầu khổ và đau thương diễn ra không ngớt trước mặt Ta. 8. Hỡi Giê-ru-sa-lem! Hãy lắng nghe lời răn bảo. Nếu không, Ta sẽ từ bỏ ngươi, làm cho ngươi thành một nơi hoang vu, một vùng đất không có người cư ngụ.
  4. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Người ta sẽ mót sạch dân còn sót lại của Y-sơ-ra-ên như mót nho. Hãy đưa tay của ngươi ra trên cành để hái.
  5. Ta sẽ nói với ai và cảnh cáo người nào, để họ nghe Ta? Nầy, tai của họ chưa cắt bì nên không thể nghe được. Nầy, họ coi thường lời của Đức Giê-hô-va và không ưa thích chút nào. 11. Vì vậy, Ta đầy dẫy cơn giận của Đức Giê-hô-va. Ta không kềm giữ nữa, và đã trút cơn giận đó trên trẻ con ngoài đường phố, trên những thanh niên đang tụ tập, cả vợ lẫn chồng, và thậm chí người già lớn tuổi đều sẽ bị bắt. 12. Nhà cửa, ruộng vườn, cùng vợ của họ sẽ thuộc về người khác, bởi vì Ta sẽ giang tay của Ta ra để chống lại dân cư của đất nầy. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  6. Bởi vì từ người nhỏ nhất cho đến người lớn nhất, tất cả đều tham lam; từ tiên tri cho đến tư tế đều hành động gian dối. 14. Chúng chữa vết thương của dân Ta một cách sơ sài, rồi nói: “Bình an! Bình an!” trong khi không có bình an. 15. Có khi nào chúng xấu hổ về những việc ghê tởm mà chúng đã phạm hay không? Chúng không biết xấu hổ, và cũng không biết nhục nhã. Vì vậy, chúng sẽ gục ngã giữa những người bị gục ngã. Đến ngày Ta trừng phạt, chúng sẽ bị triệt hạ. Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

7

  1. Đây là lời từ Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi: 2. Hãy đứng tại cửa nhà Đức Giê-hô-va và công bố lời nầy tại đó: Tất cả các ngươi là những người Giu-đa đi qua những cửa nầy để vào thờ phượng Đức Giê-hô-va, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 3. Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Hãy sửa lại những đường lối và những việc làm của các ngươi thì Ta sẽ cho các ngươi ở lại nơi nầy. 4. Đừng tin cậy vào những lời dối trá của những kẻ nói: “Đây chính là đền thờ của Đức Giê-hô-va, đền thờ của Đức Giê-hô-va, đền thờ của Đức Giê-hô-va!” 5. Vì nếu các ngươi thật sự sửa đổi những đường lối và những việc làm của mình, nếu các ngươi cư xử giữa một người với người láng giềng của mình một cách công bằng, 6. nếu các ngươi không ức hiếp ngoại kiều, kẻ mồ côi, người góa bụa, và không làm đổ máu vô tội tại nơi nầy, cũng không đi theo các thần khác để chuốc lấy tai họa cho chính mình, 7. thì Ta sẽ cho các ngươi ở lại nơi nầy, trong xứ mà Ta đã ban cho tổ phụ của các ngươi từ thuở xa xưa cho đến đời đời.
  2. Nhưng các ngươi lại tin cậy vào những lời dối trá không có lợi ích gì. 9. Các ngươi đã trộm cắp, giết người, phạm tội tà dâm, thề dối, dâng hương cho Ba-anh, chạy theo các thần khác, là các thần mà các ngươi không biết. 10. Và rồi các ngươi vào trong nhà nầy, là nơi được gọi bằng danh Ta, đứng trước mặt Ta, rồi nói: “Chúng con đã được giải cứu!” để các ngươi tiếp tục vi phạm những điều kinh tởm nầy. 11. Các ngươi xem nhà nầy – là nơi được gọi bằng danh của Ta – là hang trộm cướp hay sao? Nầy, chính Ta, Ta đã nhìn thấy tất cả. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Nhưng bây giờ, các ngươi hãy đi đến chỗ của Ta tại Si-lô, là nơi Ta đã đặt danh của Ta từ ban đầu, hãy xem Ta đã làm gì cho nó bởi vì tội ác của dân Ta là Y-sơ-ra-ên. 13. Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ, bởi vì các ngươi đã làm tất cả những việc nầy, Ta phán bảo với các ngươi từ rất sớm mà các ngươi không nghe; Ta đã gọi các ngươi mà các ngươi không trả lời. 14. Vì vậy, Ta cũng sẽ làm cho nhà nầy, tức là nhà được gọi bằng danh của Ta, là nhà mà các ngươi nhờ cậy, là nơi mà Ta đã ban cho các ngươi cùng tổ phụ các ngươi, những gì Ta đã làm cho Si-lô. 15. Ta sẽ đuổi các ngươi khỏi mặt Ta, như Ta đã đuổi tất cả những anh em của các ngươi, tức là toàn thể dòng dõi của Ép-ra-im.
  4. Còn con, con đừng cầu nguyện cho dân nầy, đừng cất tiếng kêu xin, khẩn cầu cho chúng, cũng đừng nài xin với Ta, bởi vì Ta sẽ không nghe con. 17. Con không thấy điều chúng làm trong các thành của Giu-đa và trên những đường của phố Giê-ru-sa-lem hay sao? 18. Con cái lượm củi, cha nhóm lửa, mẹ nhồi bột, để làm bánh dâng cho nữ hoàng trên trời. Chúng làm lễ quán cho các thần khác, để chọc giận Ta. 19. Đức Giê-hô-va phán: Không phải chúng chọc giận Ta hay sao? Không phải chúng tự làm sỉ nhục chính mình hay sao? 20. Vì vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán: Nầy, cơn giận của Ta và cơn thịnh nộ của Ta sẽ trút xuống nơi nầy, trên người và trên thú vật, trên cây cối ngoài đồng và trên hoa quả của đất; cơn thịnh nộ đó sẽ cháy bừng bừng, không hề tắt.
  5. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Hãy thêm tế lễ thiêu vào các sinh tế của các ngươi, rồi hãy ăn thịt. 22. Bởi vì trong ngày Ta đem tổ phụ các ngươi ra khỏi Ai Cập, Ta chưa phán hay truyền lệnh gì cho họ về tế lễ thiêu hay những sinh tế. 23. Nhưng đây là mệnh lệnh mà Ta đã truyền cho họ: Hãy nghe theo tiếng của Ta thì Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của các ngươi và các ngươi sẽ làm dân của Ta. Hãy bước theo mọi đường lối Ta dạy, để các ngươi được phước. 24. Nhưng họ không vâng lời không để tai nghe, cứ bước đi theo những toan tính riêng của mình, theo tâm địa gian ác và ương ngạnh của mình. Họ đã lùi lại chứ không tiến tới. 25. Từ ngày tổ phụ các ngươi ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay, mỗi ngày Ta dậy sớm sai tất cả những đầy tớ của Ta, tức là các tiên tri, đến với các ngươi. 26. Nhưng chúng không nghe Ta, không chú ý, lại còn cứng đầu cứng cổ, và làm xấu hơn tổ phụ của chúng.
  6. Vì vậy, con hãy nói cho họ tất cả những lời nầy, nhưng họ sẽ không nghe con. Con sẽ gọi, nhưng họ không trả lời. 28. Con hãy nói với họ: Đây là một dân tộc không vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, cũng không chịu sửa dạy. Sự chân thật đã không còn, đã biến mất khỏi môi miệng của họ.
  7. Hãy cắt tóc của ngươi rồi quăng nó đi. Hãy cất tiếng khóc than trong nơi tế tự trơ trụi ở trên cao, bởi vì Đức Giê-hô-va đã không chấp nhận và đã từ bỏ thế hệ nầy trong cơn giận của Ngài.
  8. Đức Giê-hô-va phán: Vì dân Giu-đa đã làm điều ác trước mặt Ta, chúng đã đặt những vật gớm ghiếc ngay trong nhà được gọi bằng danh của Ta, để làm cho nó ô uế. 31. Chúng đã xây những nơi cao của Tô-phết trong thung lũng Ben Hi-nôm, để đốt các con trai con gái của mình trong lửa. Đó là điều Ta không truyền dạy, và cũng không bao giờ đến trong tâm tư của Ta.
  9. Vì vậy – Đức Giê-hô-va phán – Hãy xem, sẽ có ngày người ta sẽ không gọi là Tô-phết hay là thung lũng Ben Hi-nôm nữa, nhưng sẽ gọi là thung lũng Tàn Sát, bởi vì người ta sẽ chôn cất tại Tô-phết cho đến khi không còn chỗ nữa. 33. Tử thi của dân nầy sẽ trở thành thức ăn cho chim trời và cho các thú hoang trên đất mà không ai xua đuổi chúng đi. 34. Ta sẽ làm cho các thành của Giu-đa và đường phố Giê-ru-sa-lem ngưng tiếng reo vui, tiếng mừng rỡ, tiếng của chú rể và cô dâu, bởi vì xứ nầy sẽ trở nên hoang vu.

 

8

  1. Lúc đó – Đức Giê-hô-va phán – người ta sẽ lấy hài cốt của các vua Giu-đa, hài cốt của các lãnh đạo, hài cốt của các tư tế, hài cốt của các tiên tri, và hài cốt của dân cư Giê-ru-sa-lem ra khỏi những phần mộ của chúng, 2. rồi chúng sẽ bị đem phơi dưới mặt trời, mặt trăng, và tất cả các thiên thể, là những thứ mà chúng đã yêu thích, là những thứ mà chúng đã phục vụ, là những thứ mà chúng đã đi theo, là những thứ mà chúng đã cầu vấn, là những thứ mà chúng đã phụng thờ. Chúng sẽ không được gom lại và không được chôn cất, nhưng sẽ như phân trên đất. 3. Tất cả những kẻ còn sót lại của gia tộc gian ác nầy ước ao được chết hơn là sống ở những nơi còn lại mà Ta đã đưa chúng đến đó. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán vậy.
  2. Ngươi hãy nói với chúng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Khi người ta ngã, không lẽ họ không đứng dậy hay sao? Khi người ta đi lạc đường, không lẽ họ không quay trở lại hay sao? 5. Tại sao dân này quay đi luôn? Tại sao Giê-ru-sa-lem lạc lối mãi? Chúng ôm chặt điều giả dối, không chịu quay trở về. 6. Ta đã chú ý lắng nghe nhưng chúng không nói thật, không một ai ăn năn tội ác của mình, nhưng nói rằng: “Tôi có làm gì đâu!” Tất cả đều theo đuổi con đường riêng, giống như con ngựa xông vào trận mạc. 7. Ngay cả chim hạc bay trên không còn biết mùa di chuyển; chim gáy, chim yến, chim nhạn, còn nhớ mùa trở về; nhưng dân Ta không biết phán quyết của Đức Giê-hô-va.
  3. Làm thế nào các ngươi có thể nói: Chúng tôi khôn ngoan. Luật pháp của Đức Giê-hô-va ở với chúng tôi! – Nhưng thật ra, ngọn bút giả dối của các học giả giáo luật đã làm cho nó thành dối trá! 9. Kẻ khôn ngoan sẽ xấu hổ, sợ hãi, và bị bắt. Hãy xem, chúng đã lìa bỏ lời của Đức Giê-hô-va, thì còn khôn ngoan nỗi gì? 10. Vì vậy, Ta sẽ phó vợ của chúng cho những người khác, ruộng của chúng sẽ được người khác thừa hưởng; bởi vì từ người nhỏ nhất cho đến người lớn nhất, tất cả đều tham lam; từ tiên tri cho đến tư tế đều hành động gian dối. 11. Chúng chữa vết thương của con gái dân Ta một cách sơ sài, rồi nói: “Bình an! Bình an!” trong khi không có bình an. 12. Chúng có xấu hổ về những việc ghê tởm mà chúng đã phạm hay không? Chúng không biết xấu hổ, và cũng không biết nhục nhã. Vì vậy, chúng sẽ gục ngã giữa những người bị gục ngã. Đến ngày Ta trừng phạt, chúng sẽ bị triệt hạ. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Đức Giê-hô-va phán: Thật vậy, Ta sẽ hủy diệt chúng. Sẽ không có trái nho trên cây nho, không có trái vả trên cây vả, lá sẽ khô héo. Những gì Ta đã ban cho chúng sẽ bị tước mất.
  5. Tại sao chúng ta cứ ngồi yên? Chúng ta hãy tập trung lại, cùng chạy vào các thành kiên cố, rồi yên lặng tại đó; bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta đã định cho chúng ta phải yên lặng. Ngài cho chúng ta uống nước độc, vì chúng ta đã phạm tội với Đức Giê-hô-va. 15. Chúng ta trông đợi bình an thịnh vượng, nhưng không thấy điều tốt đẹp nào đến. Chúng ta mong mỏi thời kỳ được chữa lành, nhưng chỉ có hoạn nạn. 16. Từ Đan, người ta đã nghe tiếng khịt mũi của ngựa; đất rung chuyển vì tiếng hí của những ngựa chiến. Chúng đã đến, nuốt đất, và tất cả những gì ở trong đó: thành phố và cư dân trong thành. 17. Nầy! Ta sẽ sai rắn đến giữa các ngươi. Đó là loài rắn độc không ai ếm chú được, và chúng sẽ cắn các ngươi.” – Đức Giê-hô-va phán.
  6. Trong nỗi buồn, tôi muốn an ủi chính mình, nhưng tâm thần tôi rã rượi bên trong tôi. 19. Nầy, có tiếng kêu cứu của con gái dân tôi, từ một đất nước xa xôi. Đức Giê-hô-va không còn ngự trong Si-ôn nữa hay sao? Vua của nơi đó không còn ngự trong thành nữa hay sao? Tại sao chúng chọc giận Ta bằng những tượng chạm của chúng và những thần tượng của dân ngoại?
  7. Mùa gặt đã qua, mùa hè đã hết, mà chúng ta vẫn chưa được cứu. 21. Vì nỗi đau của con gái dân tôi, nên tôi đau đớn. Tôi than khóc, và sự kinh hoàng bám chặt lấy tôi. 22. Tại Ga-la-át không có dầu để xoa hay sao? Tại đó không còn người chữa bệnh hay sao? Vậy thì tại sao vết thương của con gái dân tôi không được chữa lành?

 

9

  1. Ôi! Ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lệ, để tôi có thể khóc suốt ngày đêm cho những người bị tàn sát của con gái dân tôi! 2. Ôi! Ước gì có ai cho tôi một chỗ trọ dành cho những lữ khách trong hoang mạc, để tôi có thể rời khỏi dân tộc của tôi mà đi xa khỏi họ, bởi vì tất cả bọn họ là những kẻ ngoại tình, là một bọn phản bội.
  2. Chúng uốn lưỡi của mình như một cây cung. Sự dối trá, không phải sự chân thật, đang lấn áp trong xứ. Chúng đi từ gian ác nầy đến gian ác khác, nhưng chúng không nhận biết Ta. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Mỗi người phải thận trọng với người lân cận của mình, cũng đừng tin tưởng anh em của mình, bởi vì anh em sẽ lừa gạt anh em, còn người lân cận thì đi vu khống. 5. Người nào cũng lừa gạt người lân cận của mình, không ai nói sự thật. Chúng luyện tập lưỡi của mình để nói dối, chúng miệt mài làm điều gian ác. 6. Nơi ngươi đang sống là trung tâm của sự gian dối, vì sự gian dối mà chúng không chịu nhận biết Ta. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Vì vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán như thế nầy: Nầy Ta sẽ luyện lọc và thử nghiệm chúng để Ta có thể làm gì đối với con gái của dân Ta? 8. Lưỡi của chúng là mũi tên ác độc buông lời dối trá – ngoài miệng thì nói lời bình an cho người lân cận nhưng trong lòng thì giăng bẫy để hãm hại.
  5. Đức Giê-hô-va phán: Ta không trừng phạt chúng về những điều đó hay sao? Một dân tộc như vậy mà Ta không báo trả hay sao?
  6. Tôi sẽ khóc cho những ngọn núi, thương tiếc các thảo nguyên, và cất tiếng ai ca cho những hoang mạc, bởi vì chúng đang bị thiêu đốt, không một người qua lại, không còn nghe tiếng súc vật, từ chim trời cho đến thú rừng, chúng đều chạy trốn.
  7. Ta sẽ làm cho Giê-ru-sa-lem trở thành một đống đổ nát, một hang của chó rừng, và các thành của Giu-đa trở nên hoang tàn không người cư ngụ. 12. Ai là người có đủ khôn ngoan để hiểu những việc nầy? Miệng Đức Giê-hô-va sẽ phán với ai? Tại sao xứ sở lại bị điêu tàn, bị thiêu đốt như hoang mạc, không một người qua lại?
  8. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì chúng đã từ bỏ luật pháp mà Ta đã thiết lập cho chúng, không vâng theo tiếng của Ta, và không đi theo điều đó. 14. Nhưng chúng đi theo sự ương ngạnh của lòng mình, theo các thần của Ba-anh mà tổ phụ của chúng đã dạy cho chúng. 15. Vì vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Nầy, Ta sẽ cho dân nầy ăn ngải cứu và uống nước độc. 16. Ta sẽ làm cho chúng tan lạc giữa các dân tộc mà cả chúng và tổ phụ của chúng chưa từng biết. Ta còn sai gươm đuổi theo chúng cho đến khi tận diệt chúng.
  9. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Các ngươi hãy suy gẫm! Hãy gọi những phụ nữ khóc mướn đến! Hãy gởi những phụ nữ giỏi than khóc đến. 18. Hãy bảo họ vội vàng than khóc, để mắt của chúng tôi rơi lệ, mi của chúng tôi đầm đìa nước mắt. 19. Bởi vì có tiếng than van từ Si-ôn rằng: Chúng tôi bị cướp phá, chúng tôi bị sỉ nhục vô cùng. Vì chúng tôi đã phải bỏ xứ, và nơi cư ngụ của chúng tôi đã xua đuổi chúng tôi.
  10. Hỡi các phụ nữ! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Hãy để tai của các ngươi tiếp nhận lời từ miệng của Ngài. Hãy dạy cho các con gái của mình than khóc, rồi mỗi người hãy dạy cho người lân cận của mình khóc than; 21. bởi vì sự chết đã vào qua những cửa sổ, đã đi qua những lâu đài của chúng ta, đã giết hại trẻ con ở bên ngoài và thanh niên trên các quảng trường. 22. Hãy nói: Đức Giê-hô-va phán thế như nầy: Thây người sẽ ngã xuống như phân đổ ngoài đồng, như gié lúa rơi xuống sau khi bị thợ gặt cắt mà không ai lượm.
  11. Đức Giê-hô-va phán: Người khôn đừng tự hào về sự khôn ngoan của mình. Người mạnh đừng tự hào về sức mạnh của mình. Người giàu đừng tự hào về sự giàu có của mình. 24. Nhưng ai tự hào hãy tự hào về sự hiểu biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng thực thi lòng nhân ái, đức liêm khiết, và sự công chính trên đất, bởi vì Ta ưa thích những điều đó – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  12. Đức Giê-hô-va phán: Sẽ có ngày Ta sẽ trừng phạt những người chịu cắt bì cùng với những người chưa cắt bì, 26. tức là Ai Cập, Giu-đa, Ê-đôm, con cháu của Am-môn và Mô-áp, cùng với tất cả các dân sống tại những vùng xó xỉnh xa xôi trong hoang mạc, bởi vì tất cả các dân đó đều không được cắt bì, với tất cả nhà Y-sơ-ra-ên chưa được cắt bì trong lòng.

 

10

  1. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va phán cùng các người. 2. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đừng học theo cách của các dân ngoại. Đừng sợ hãi những điềm ở trên trời như cách các dân ngoại sợ những điều đó. 3. Bởi vì hình tượng của các dân tộc chỉ là hư không. Người ta đốn cây trong rừng, người thợ dùng rìu đục đẽo bằng tay để tạo ra nó. 4. Người ta trang điểm cho nó bằng bạc và vàng, dùng búa và đinh đóng vào để cho nó khỏi ngã. 5. Chúng đứng thẳng như cây cọ, không biết nói, không biết đi nên phải khiêng. Đừng sợ chúng, bởi vì chúng không thể gieo họa và chúng cũng không thể ban phước.
  2. Đức Giê-hô-va ôi! Không ai sánh được với Ngài. Ngài thật vĩ đại. Danh Ngài thật vĩ đại và quyền uy. 7. Lạy Vua của các nước! Có ai mà không kính sợ Ngài? Bởi vì đối với tất cả những người khôn ngoan, đó là bổn phận đương nhiên. Trong tất cả các dân và trong tất cả các nước, không có ai giống như Ngài.
  3. Nhưng tất cả chúng đều đần độn và u mê, và giáo lý hư vô chính là một khúc gỗ, 9. được dát bạc từ Ta-rê-si, vàng từ U-pha, là tác phẩm của thợ chạm, bởi tay của thợ bạc, được khoác lên vải màu xanh màu đỏ tía làm áo – Tất cả đều bởi tay của người thợ tinh xảo.
  4. Nhưng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chân thật. Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống, là Vua đời đời. Đất rúng động khi Ngài nổi giận. Các dân không thể chịu đựng nổi cơn thịnh nộ của Ngài.
  5. Các ngươi hãy nói với họ như thế nầy: Các thần không dựng nên trời và đất sẽ bị diệt mất khỏi mặt đất và khỏi dưới bầu trời.
  6. Nhưng Ngài đã tạo dựng địa cầu bởi quyền năng của Ngài, đã sáng lập thế giới bởi sự khôn ngoan của Ngài, và đã giương các tầng trời ra bởi tri thức của Ngài. 13. Khi Ngài lên tiếng, các nguồn nước trên trời chuyển động. Ngài khiến hơi nước bốc lên từ tận cùng của trái đất, Ngài khiến chớp loé lên trong cơn mưa, và lùa gió ra khỏi những kho tàng của Ngài. 14. Mọi người đều trở nên u mê thiếu hiểu biết. Thợ bạc xấu hổ về tượng thần của mình, bởi vì các tượng đúc chỉ là giả dối, không có hơi thở bên trong. 15. Chúng chỉ là những vật vô dụng, là sản phẩm của ảo tưởng. Đến thời điểm, chúng sẽ bị tiêu diệt. 16. Nhưng phần sản nghiệp của Gia-cốp thì không giống như vậy, bởi vì Ngài là Đấng đã tạo dựng nên mọi vật, và Y-sơ-ra-ên là chi tộc của cơ nghiệp Ngài. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân.
  7. Hỡi dân thành bị bao vây! Hãy thu nhặt đồ đạc để lìa khỏi xứ. 18. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán thế nầy: Kìa, lần nầy Ta sẽ ném dân cư của đất nầy đi xa. Ta sẽ làm cho chúng khốn đốn, để chúng thức tỉnh.
  8. Khốn cho tôi vì vết thương của tôi. Vết thương tôi thật trầm trọng. Nhưng tôi nói rằng: Đây là nỗi đau của tôi mà tôi phải gánh chịu. 20. Trại của tôi đã bị cướp phá. Những dây căng trại đều đã bị cắt đứt. Các con của tôi đã bỏ đi, không còn đứa nào để dựng trại, không còn đứa nào để giăng màn nữa. 21. Vì những người chăn chiên đã trở nên ngu dại, không tìm kiếm Đức Giê-hô-va, vì vậy mà chúng không thịnh vượng, cả bầy của chúng bị tan lạc. 22. Kìa! Có tiếng đồn đang đến: Tiếng chuyển động ào ào từ phương bắc, để làm cho các thành của xứ Giu-đa trở nên hoang vu và thành một hang của chó rừng.
  9. Đức Giê-hô-va ôi! Con biết con đường của loài người đi không do họ làm chủ. Họ không thể điều khiển được những bước chân của mình. 24. Đức Giê-hô-va ôi! Xin sửa dạy con, nhưng không phải trong cơn giận của Ngài, mà trong chừng mực. Xin đừng để con bị tiêu tàn. 25. Xin trút cơn giận của Ngài trên các dân không nhận biết Ngài, trên những gia tộc không kêu cầu danh của Ngài bởi vì chúng đã ăn nuốt Gia-cốp, ăn nuốt và thiêu hủy người và làm cho chỗ cư trú của người thành ra chốn hoang tàn.

 

11

  1. Có lời phán từ Đức Giê-hô-va đến cùng Giê-rê-mi rằng: 2. Hãy nghe những lời của giao ước nầy và nói lại với người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem. 3. Hãy nói với chúng rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Đáng nguyền rủa cho kẻ nào không vâng theo những lời của giao ước nầy, 4. mà Ta đã truyền cho tổ phụ của các ngươi khi Ta đem họ ra khỏi xứ Ai Cập, ra khỏi cái lò luyện sắt, rằng: Hãy vâng theo tiếng của Ta và làm theo mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi, để các ngươi sẽ là dân của Ta, và Ta sẽ là Ðức Chúa Trời của các ngươi; 5. để Ta sẽ thực hiện lời cam kết Ta đã thề với tổ phụ của các ngươi, để ban cho chúng một xứ đượm sữa và mật như ngày nay.

Tôi đáp: Đức Giê-hô-va ôi! Thật đúng như vậy.

  1. Đức Giê-hô-va phán với tôi: Hãy công bố mọi lời nầy trong các thành của Giu-đa và trong các đường phố của Giê-ru-sa-lem: Hãy lắng nghe những lời của giao ước nầy và làm theo những điều đó. 7. Ta đã ân cần khuyên nhủ tổ phụ của các ngươi từ ngày Ta đem họ ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay. Ta đã dậy sớm khuyên nhủ họ rằng hãy nghe theo tiếng của Ta. 8. Nhưng họ không vâng lời cũng không lắng tai, mỗi người cứng cỏi bước đi theo lòng gian ác của mình. Vì vậy, Ta đã giáng trên họ tất cả những lời trong giao ước nầy, mà Ta đã truyền cho họ để thực hiện, nhưng họ đã không làm.
  2. Đức Giê-hô-va phán với tôi: Âm mưu phản loạn được khám phá giữa vòng người Giu-đa và giữa vòng dân cư Giê-ru-sa-lem. 10. Chúng đã trở lại với tội lỗi của tổ phụ của chúng, là những kẻ đã không chịu nghe lời của Ta. Chúng đã đi theo các thần khác và phục vụ các thần đó. Nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa đã phá bỏ giao ước của Ta, mà Ta đã lập với tổ phụ của chúng.
  3. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy xem, Ta sẽ giáng tai họa trên chúng và chúng không thể tránh khỏi. Dù chúng có kêu cầu cùng Ta, Ta cũng không nghe chúng. 12. Bấy giờ, các thành của Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ đi kêu cầu các thần mà chúng vẫn dâng hương, nhưng các thần đó sẽ không thể giải cứu chúng trong lúc hoạn nạn. 13. Hỡi Giu-đa! Ngươi có bao nhiêu thành, thì cũng có bấy nhiêu thần. Giê-ru-sa-lem có bao nhiêu đường phố thì ngươi cũng lập bấy nhiêu bàn thờ cho thứ đáng xấu hổ, là những bàn thờ dâng hương cho Ba-anh.
  4. Còn ngươi! Ngươi đừng cầu nguyện cho dân nầy, cũng đừng cất tiếng van xin hay cầu thay cho chúng, bởi vì trong lúc gian nguy, chúng sẽ kêu cầu Ta, nhưng Ta sẽ không lắng nghe.
  5. Người mà Ta yêu dấu đã làm nhiều chuyện đồi bại, ngươi đã vui vẻ khi phạm tội, thịt và thánh vật đã rời khỏi ngươi, thì ngươi còn vào nhà của Ta để làm gì? 16. Đức Giê-hô-va đã từng gọi tên của ngươi là “cây ô-liu xanh tươi, đẹp đẽ, sai trái, và tốt lành”; nhưng giữa tiếng cuồng phong thật lớn, Ngài đã châm lửa đốt nó, và các cành của nó đã bị bẻ gãy.
  6. Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đấng đã vun trồng ngươi, chính Ngài quyết định giáng tai họa trên ngươi, vì sự gian ác mà nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa đã tự gây cho mình, khi chúng chọc giận Ta bằng việc dâng hương cho Ba-anh.
  7. Đức Giê-hô-va đã tỏ cho tôi biết, cho nên tôi biết. Lúc đó Ngài đã bày tỏ cho tôi biết những việc làm của họ. 19. Nhưng tôi, giống như một con cừu ngoan ngoãn bị dắt đến lò sát sinh. Tôi không biết chúng âm mưu chống lại tôi: “Chúng ta hãy diệt cả cây và trái, loại nó khỏi đất của người sống, để không còn ai nhắc đến tên của nó nữa.”
  8. Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Ngài là Đấng phán xét công minh. Xin hãy dò xét lòng dạ và tâm trí. Xin cho con thấy sự báo thù Chúa dành cho chúng, bởi vì con đã trình bày duyên cớ của con với Ngài.
  9. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy về dân A-na-tốt, là những kẻ muốn cất mạng sống của ngươi, chúng nói rằng: “Đừng nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói tiên tri nữa, nếu không ngươi sẽ chết về tay của chúng ta.” 22. Vì vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Ta sẽ trừng phạt chúng: Thanh niên sẽ chết bởi gươm đao. Con trai và con gái của chúng sẽ chết bởi đói kém. 23. Chúng sẽ không còn một ai sống sót, bởi vì đến năm trừng phạt Ta sẽ giáng tai họa trên dân A-na-tốt.

 

12

  1. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài luôn công chính mỗi khi con biện luận cùng Ngài. Dầu vậy, con xin hỏi Ngài về sự đoán phạt. Tại sao con đường kẻ ác luôn hưng thịnh? Tại sao những kẻ sống gian trá vẫn bình an? 2. Ngài đã trồng chúng. Chúng đâm rễ, lớn lên, sinh hoa kết quả. Miệng lưỡi của chúng gần Ngài, nhưng lòng của chúng cách xa Ngài. 3. Đức Giê-hô-va ôi! Nhưng Ngài biết con. Ngài nhìn thấy con. Ngài đã xem xét tấm lòng của con đối với Ngài. Xin hãy tách bọn chúng ra như tách chiên để đem đến lò sát sinh, để dành cho ngày tàn sát. 4. Xứ sở phải bị thảm sầu và cây cỏ ngoài đồng bị khô héo cho đến bao giờ? Vì sự gian ác của những kẻ sống trong xứ mà thú vật và chim trời bị hủy diệt; nhưng chúng còn nói rằng: Ngài sẽ không thấy kết cục của chúng ta đâu!
  2. Nếu ngươi chạy đua với một người chạy bộ mà còn mỏi mệt, thì làm sao đua nổi với ngựa? Nếu ngươi mất tin cậy trong vùng đất an bình, thì làm sao ngươi có thể hành động trong vùng đất lởm chởm của sông Giô-đanh? 6. Ngay cả anh em của ngươi và những người trong nhà cha của ngươi đã tráo trở với ngươi. Sau lưng ngươi, họ đã nói xấu ngươi với nhiều người. Ðừng tin họ, dù ngoài miệng họ nói ngọt như thế nào cùng ngươi.
  3. Ta đã từ bỏ nhà của Ta. Ta đã rời khỏi cơ nghiệp của Ta. Ta đã trao những người mà Ta yêu quý vào tay kẻ thù của chúng. 8. Cơ nghiệp của Ta đối với Ta như sư tử trong rừng. Nó gầm gừ chống lại Ta, vì vậy Ta ghét nó. 9. Cơ nghiệp của Ta có phải là một con chim vằn vện bị săn đuổi. Chim săn mồi xông vào nó, các thú rừng vây quanh nó để tìm thức ăn. 10. Nhiều người chăn đã tàn phá vườn nho của Ta. Chúng đã giẫm nát phần sản nghiệp của Ta. Chúng đã làm cho phần sản nghiệp tốt đẹp của Ta thành một đồng hoang trơ trọi.
  4. Chúng đã làm cho nó hoang vắng điêu tàn. Nó đã than khóc với Ta về sự điêu tàn. Cả xứ đã trở nên hoang vu, vì không một ai quan tâm đến nó. 12. Những kẻ cướp phá đã xông đến tất cả những đỉnh cao trơ trọi. Gươm của Đức Giê-hô-va sẽ nuốt từ đầu nầy cho đến đầu kia của xứ. Không có loài xác thịt nào trong xứ được bình an. 13. Chúng đã gieo lúa mì, nhưng chỉ gặt gai góc. Chúng đã lao động vất vả, nhưng không được lợi ích gì. Chúng sẽ xấu hổ về sự thu hoạch của mình, bởi vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va.
  5. Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy: Tất cả những kẻ lân cận xấu xa của Ta, là những kẻ đã đụng đến sản nghiệp mà dân Y-sơ-ra-ên của Ta thừa hưởng, thì Ta sẽ bứng chúng khỏi đất của chúng, và bứng nhà Giu-đa ra khỏi chúng. 15. Nhưng sau khi Ta đã bứng chúng đi, Ta sẽ lại thương xót chúng, và đem mỗi người trở về với sản nghiệp và quê hương mình. 16. Nếu chúng chăm chỉ học tập những đường lối của dân Ta, nhân danh của Ta mà thề rằng: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống”, như cách chúng dạy cho dân Ta thề trước Ba-anh, thì lúc đó chúng sẽ được vững lập giữa dân Ta. 17. Nhưng nếu chúng nào không vâng lời, Ta sẽ bứng dân tộc đó và tiêu diệt nó. Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

13

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng tôi như thế nầy: Ngươi hãy đi và mua cho mình một dây thắt lưng bằng vải gai, rồi dùng nó buộc vào lưng của ngươi, nhưng đừng nhúng nó vào nước. 2. Vì vậy tôi đi mua một thắt lưng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền, rồi đeo nó quanh thắt lưng của tôi.
  2. Lời của Đức Giê-hô-va đến với tôi lần thứ hai rằng: 4. Hãy lấy thắt lưng mà ngươi đã mua đang buộc quanh lưng của ngươi. Hãy đứng dậy, đi đến sông Ơ-phơ-rát, rồi giấu nó trong một hang đá tại đó. 5. Vì vậy, tôi đã giấu nó gần sông Ơ-phơ-rát như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
  3. Thời gian trôi qua, Đức Giê-hô-va phán với tôi: Hãy đứng dậy, đến sông Ơ-phơ-rát. Hãy lấy thắt lưng mà Ta đã truyền cho ngươi giấu tại đó. 7. Tôi đã đến sông Ơ-phơ-rát, đào lên, rồi lấy cái đai ra từ chỗ mà tôi đã giấu nó tại đó. Nhưng cái đai đã mục, không còn dùng được nữa.
  4. Lời của Đức Giê-hô-va đến với tôi rằng: 9. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ phá đổ sự kiêu ngạo của Giu-đa và sự kiêu ngạo lớn của Giê-ru-sa-lem cũng như vậy. 10. Dân tộc gian ác này đã khước từ không chịu vâng lời Ta, đã đi theo sự cứng cỏi của lòng mình. Chúng đã đi theo phụng sự và thờ lạy các thần khác. Chúng sẽ giống như cái thắt lưng này, không dùng vào việc chi được nữa. 11. Bởi vì giống như cái thắt lưng cần được buộc vào lưng của một người thế nào, Ta đã buộc cả nhà Y-sơ-ra-ên và cả nhà Giu-đa vào Ta cũng như vậy. Đức Giê-hô-va phán: Để chúng làm dân của Ta, được nổi tiếng, được ca ngợi, và được tôn trọng, nhưng chúng đã không lắng nghe.
  5. Vì vậy, ngươi hãy nói lời nầy với chúng. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy: “Bình nào cũng phải đầy rượu.” Chúng sẽ nói với ngươi: “Chúng tôi không biết rằng bình nào cũng phải đầy rượu hay sao?” 13. Ngươi hãy nói với chúng như thế nầy: Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta sẽ khiến tất cả dân cư của xứ nầy: các vua ngồi trên ngôi của Đa-vít, các tư tế, các tiên tri, và toàn dân Giê-ru-sa-lem đều say sưa.” 14. Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ đập người này vào người khác, cha với con. Ta sẽ không thương xót, không chừa lại, cũng không tiếc nuối, nhưng Ta sẽ hủy diệt chúng.”
  6. Hãy lắng nghe! Hãy lắng tai! Đừng kiêu ngạo nữa – vì Đức Giê-hô-va đã phán. 16. Hãy dâng vinh quang cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, trước khi Ngài khiến tối tăm giáng xuống, trước khi chân của các ngươi vấp ngã trên những ngọn núi trong bóng tối của hoàng hôn. Các ngươi mong đợi ánh sáng, nhưng Ngài biến nó thành bóng của sự chết, trở thành một bóng đen dày đặc.
  7. Nhưng nếu các ngươi không lắng nghe, linh hồn của tôi sẽ khóc thầm cho sự kiêu ngạo của các ngươi. Tôi sẽ khóc lóc đắng cay, nước mắt đầm đìa, bởi vì bầy của Đức Giê-hô-va đã bị bắt lưu đày. 18. Hãy nói với vua và thái hậu rằng: Hãy hạ mình và ngồi xuống bởi vì vương miện vinh quang và sự tể trị đã sụp đổ. 19. Các thành ở phương nam bị phong tỏa, không ai giải vây cho chúng. Cả Giu-đa sẽ bị lưu đày. Tất cả sẽ bị lưu đày.
  8. Hãy ngước mắt lên nhìn những kẻ đến từ phương bắc! Bầy chiên đã được trao cho ngươi, bầy chiên xinh đẹp đó đâu rồi? 21. Ngươi sẽ nói gì khi Ngài trừng phạt ngươi. Vì ngươi đã dạy chúng làm lãnh đạo, làm lãnh tụ của ngươi. Lẽ nào ngươi không đau đớn quặn thắt như sản phụ lúc lâm bồn hay sao? 22. Nếu ngươi tự hỏi trong lòng: Tại sao những chuyện nầy lại xảy đến cho tôi? Đó là vì những tội lỗi nặng nề của ngươi mà ngươi đã bị tốc váy để những chỗ kín của ngươi đã bị phơi bày.
  9. Người Ê-thi-ô-pi có thể đổi được màu da, hay con beo có thể đổi được vằn của nó hay không? Nếu được, thì các ngươi vốn đã quen làm điều ác có thể làm được điều thiện. 24. Vì vậy, Ta sẽ rải các ngươi ra như trấu trước gió sa mạc. 25. Ðó là phần số của ngươi, là phần mà Ta đã chia cho ngươi. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì ngươi đã quên Ta, mà tin cậy vào các thần giả dối. 26. Ta sẽ cho tốc váy ngươi lên che phủ mặt ngươi, để phơi bày sự ô nhục của ngươi. 27. Ta đã nhìn thấy những việc làm gớm ghiếc của ngươi: Ngoại tình, hú hí dâm dật, hành dâm đồi bại trên những ngọn đồi và trong các cánh đồng. Hỡi Giê-ru-sa-lem! Khốn cho ngươi. Ngươi không chịu thanh tẩy cho đến khi nào?

14

  1. Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi về những cơn hạn hán: 2. Giu-đa tang tóc, các thành phố tiêu điều, dân chúng thảm sầu, tiếng kêu ai oán vang lên từ Giê-ru-sa-lem. 3. Những nhà quyền quý sai các đầy tớ đi kiếm nước. Chúng đi đến nơi chứa nước, nhưng không tìm thấy nước, nên chúng xách bình không đi về. Chúng cảm thấy xấu hổ ngượng ngùng, trùm đầu lại. 4. Đất nứt nẻ vì không có mưa rơi trong xứ. Các nông dân xấu hổ, trùm đầu lại. 5. Thật vậy, nai cái sinh con ngoài đồng, rồi bỏ, vì không có cỏ. 6. Lừa rừng đứng trên những đồi trọc, thở hổn hển như chó hoang kiệt sức, mắt lờ đờ vì không có cỏ.
  2. Dù tội lỗi của chúng con làm chứng chống lại chúng con, Đức Giê-hô-va ôi, xin hãy hành động vì danh thánh của Ngài. Những sự phản nghịch của chúng con thật nhiều, chúng con đã phạm tội với Ngài.
  3. Đấng giải cứu trong thời hoạn nạn, là Nguồn Hy Vọng của Y-sơ-ra-ên ôi! Tại sao Ngài trở thành như một ngoại kiều ở trong xứ, như một lữ khách chỉ trọ qua đêm? 9. Tại sao Ngài lại giống như một người dửng dưng, một người hùng mạnh mà không giải cứu? Đức Giê-hô-va ôi! Ngài vẫn ở giữa chúng con. Chúng con được gọi bằng danh của Ngài. Xin đừng lìa bỏ chúng con.
  4. Đức Giê-hô-va phán về dân này như vầy: Chúng nó thích đi lang thang như vậy, chúng không biết kiềm chế chân của mình, cho nên Đức Giê-hô-va không tiếp nhận chúng. Bây giờ, Ngài nhớ lại những tội ác của chúng, nên Ngài sẽ trừng phạt những tội lỗi của chúng.
  5. Đức Giê-hô-va phán với tôi: Ngươi đừng cầu xin điều tốt đẹp cho dân nầy. 12. Dù chúng có kiêng ăn, Ta cũng sẽ không nghe lời kêu cầu của chúng; dù chúng có dâng tế lễ thiêu và tế lễ chay, Ta cũng không nhậm; nhưng gươm đao, đói kém, và dịch bệnh sẽ tiêu diệt chúng.
  6. Nhưng tôi thưa: Ôi! Lạy Chúa, là Giê-hô-va! Có những tiên tri nói với họ rằng: Các ngươi sẽ không thấy gươm đao, cũng không có đói kém, vì Ta sẽ ban cho các ngươi nền hòa bình vững chắc tại nơi nầy.
  7. Đức Giê-hô-va phán với tôi: Các kẻ tiên tri đó đã nhân danh Ta tiên báo những điều dối trá. Ta không hề sai chúng cũng không truyền lệnh hay phán bảo gì với chúng cả. Chúng đã nói với họ bằng khải tượng giả dối, bằng bói toán, hão huyền và sự lừa dối từ lòng dạ xấu xa của chúng.
  8. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy về những tiên tri, mà Ta không hề sai chúng, đã nhân danh Ta nói tiên tri sẽ không có gươm đao và nạn đói trong xứ: Nầy, gươm đao và nạn đói sẽ tiêu diệt những tiên tri đó. 16. Còn những người đã nghe chúng nói tiên tri cũng sẽ cùng vợ, con trai, và con gái của mình bị giết vì đói kém và gươm đao. Chúng sẽ bị ném ra ngoài đường phố Giê-ru-sa-lem, không ai chôn cất. Ta sẽ khiến tội ác của chúng đổ lại trên đầu của chúng.
  9. Ngươi hãy nói lời nầy với chúng: Xin cho mắt của tôi ngày đêm không ngớt tuôn trào giọt lệ, bởi vì trinh nữ của dân tôi bị đánh quá mạnh, một thương tích quá trầm trọng. 18. Nếu tôi đi ra ngoài đồng, kìa, người ta bị giết bằng gươm! Nếu tôi đi vào trong thành, kìa, người ta đau ốm vì đói! Bởi vì các tiên tri và các tư tế đi khắp xứ, nhưng họ không biết gì.
  10. Không lẽ Ngài đã hoàn toàn loại bỏ Giu-đa? Không lẽ Ngài đã kinh tởm Si-ôn? Tại sao Ngài đánh chúng con, mà không chữa lành cho chúng con? Chúng con trông đợi bình an, nhưng không thấy điều tốt đẹp. Chúng con mong mỏi thời kỳ được chữa lành, nhưng chỉ thấy kinh hoàng.
  11. Đức Giê-hô-va ôi! Chúng con nhìn nhận sự gian ác của chúng con, và tội lỗi của tổ phụ chúng con, bởi vì chúng con đã phạm tội với Ngài. 21. Vì danh của Ngài, xin đừng từ bỏ chúng con. Xin đừng làm tổn thương ngôi vinh quang của Ngài. Xin Ngài hãy nhớ lại và đừng hủy bỏ giao ước của Ngài với chúng con.
  12. Có thần nào của các dân tộc làm mưa được hay không, hay là do bầu trời tự đổ mưa? Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con ôi! Không phải Ngài chính là Đấng đó hay sao? Vì vậy, chúng con trông đợi Ngài, bởi vì chính Ngài đã làm nên tất cả những điều đó.

 

15

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: Dù Môi-se và Sa-mu-ên đứng trước mặt Ta, lòng Ta cũng không thương dân nầy. Hãy đuổi chúng khỏi mặt của Ta và bảo chúng hãy đi đi! 2. Và rồi, khi chúng hỏi ngươi: “Chúng tôi sẽ đi đâu?” thì hãy bảo chúng rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ai bị định cho dịch bệnh, phải chịu dịch bệnh. Ai bị định cho gươm đao, phải chịu gươm đao. Ai bị định cho đói kém, phải chịu đói kém. Ai bị định cho lưu đày, phải chịu lưu đày. 3. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ giáng trên chúng bốn sự hủy hoại: gươm để giết chết, chó để phanh thây, chim trời và thú vật trên đất để ăn nuốt và hủy diệt. 4. Ta sẽ khiến chúng trở thành nỗi kinh hoàng cho mọi vương quốc trên đất, bởi vì những gì Ma-na-se, con trai của Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, đã làm tại Giê-ru-sa-lem. 5. Hỡi Giê-ru-sa-lem! Ai sẽ thương xót ngươi? Ai sẽ thương tiếc ngươi? Ai sẽ quay lại để thăm hỏi ngươi?
  2. Đức Giê-hô-va phán: Ngươi đã từ bỏ Ta. Ngươi đã thối lui, nên Ta sẽ giang tay của Ta để chống lại ngươi. Ta sẽ không còn thương xót mà tiêu diệt ngươi. 7. Ta sẽ dùng nia sàng sảy chúng tại các cổng thành trong xứ. Ta sẽ cất bỏ con cái của chúng. Ta sẽ tiêu diệt dân của Ta, bởi vì chúng không từ bỏ những con đường của chúng để quay trở lại. 8. Các góa phụ sẽ gia tăng nhiều hơn cát biển. Ta đã sai kẻ hủy diệt đến ngay giữa trưa, tấn công mẹ của các thanh niên. Thình lình, Ta sẽ giáng trên chúng sự sầu não và kinh khiếp. 9. Người phụ nữ đã sinh bảy đứa con bây giờ đang thở những hơi thở cuối cùng. Ngày vẫn còn mà mặt trời của bà đã lặn. Bà bị sỉ nhục và hổ thẹn. Ta sẽ nộp những kẻ còn sót lại trước gươm giáo của những kẻ thù của chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Mẹ ơi! Khốn khổ cho con, vì mẹ đã sinh con ra để làm người tranh luận, làm người đối đầu với cả xứ. Con không cho ai vay mượn, cũng chẳng vay mượn của ai, nhưng mọi người nguyền rủa con.
  4. Đức Giê-hô-va phán: Thật vậy, phần còn lại của ngươi sẽ tốt đẹp. Trong lúc tai ương, trong lúc hoạn nạn, Ta sẽ khiến kẻ thù đến van xin ngươi.
  5. Ai có thể bẻ gãy sắt – sắt và đồng từ phương bắc? 13. Ta sẽ ban tài sản và sự giàu có của ngươi cho kẻ cướp ở bên ngoài mà không phải trả giá, bởi vì tất cả những tội lỗi của ngươi trong khắp cả xứ. 14. Ta sẽ khiến ngươi bị đem đến trong một xứ thù nghịch mà ngươi chưa từng biết. Vì khi cơn giận của Ta phừng lên, nó sẽ thiêu hủy các ngươi.
  6. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài biết rõ. Xin hãy nhớ đến con và thăm viếng con. Xin vì con, đừng chậm nóng giận, nhưng hãy báo trả những kẻ đã bắt bớ con. Xin đừng cất con đi. Xin biết rằng con vì Ngài chịu sỉ nhục.
  7. Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Con gặp được lời của Ngài và con đã ăn nuốt chúng. Lời của Ngài là niềm vui, là sự hân hoan của lòng con; bởi vì con được gọi bằng danh của Ngài. 17. Con không ngồi chung hoặc vui chơi với những kẻ chế giễu. Con ngồi một mình, bởi vì tay của Ngài đè nặng trên con, bởi vì Ngài đổ đầy sự phẫn nộ trong con. 18. Tại sao nỗi đau đớn của con không dứt, vết thương của con trầm trọng không được chữa lành? Chắc chắn đối với con, Ngài không phải là một người nói dối hay giống như những dòng nước không đáng tin cậy?
  8. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nếu ngươi trở lại, Ta sẽ phục hồi ngươi. Ta sẽ cho ngươi được đứng trước mặt của Ta. Nếu ngươi nói những lời cao quý, không phải những lời chẳng ra gì, thì ngươi sẽ là cái miệng của Ta. Hãy để cho chúng trở lại với ngươi, nhưng ngươi đừng trở lại với chúng. 20. Ta sẽ khiến ngươi là một bức tường bằng đồng kiên cố chống lại dân nầy. Chúng sẽ đánh với ngươi, nhưng không thắng nổi ngươi, bởi vì Ta ở với ngươi để cứu ngươi và giải thoát ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy. 21. Ta sẽ giải thoát ngươi khỏi tay của những kẻ gian ác. Ta sẽ cứu chuộc ngươi khỏi tay của những kẻ bạo tàn.

 

16

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 2. Ngươi đừng cưới vợ, cũng đừng sinh con trai con gái tại nơi nầy. 3. Vì Đức Giê-hô-va phán như thế nầy về những con trai con gái sẽ sinh tại đây, về những người mẹ sẽ cưu mang chúng và những người cha sẽ sinh chúng tại xứ nầy. 4. Chúng sẽ chết vì dịch bệnh, không ai khóc than cũng không ai chôn cất. Chúng sẽ trở thành phân trên mặt đất. Chúng sẽ chết vì gươm và đói kém. Xác của chúng sẽ làm thức ăn cho chim trời và thú rừng.
  2. Đức Giê-hô-va phán: Đừng vào nhà đang có tang, cũng đừng than khóc hay phân ưu với chúng, bởi vì Ta đã rút sự bình an, tình yêu và lòng thương xót ra khỏi dân nầy.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Người cao trọng kẻ thấp hèn đều sẽ chết trong đất nầy. Không có ai chôn cất, không có ai khóc thương, cũng không ai tự rạch mình hay cạo đầu vì chúng. 7. Không ai bẻ bánh cho người thọ tang để an ủi họ về người đã chết; cũng không ai trao chén để chia buồn vì sự chết của cha mẹ của họ. 8. Ngươi cũng đừng vào nhà có yến tiệc để ngồi ăn uống với họ. 9. Vì Đức Giê-hô-va của các đạo quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Nầy, ngay trước mắt các ngươi, trong đời các ngươi, Ta sẽ làm cho xứ nầy im tiếng reo vui rộn rã, không còn tiếng của chú rể cô dâu.
  4. Khi ngươi trình bày cho dân nầy tất cả những lời nầy, chúng sẽ hỏi ngươi: Tại sao Đức Giê-hô-va quyết định giáng tai họa lớn lao nầy trên chúng tôi? Tội ác của chúng tôi là gì? Chúng tôi đã phạm tội gì với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi?
  5. Ngươi hãy nói với họ rằng Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì tổ phụ của các ngươi đã bỏ Ta đi theo các thần khác, đã phục vụ chúng và thờ lạy chúng. Chúng đã từ bỏ Ta và không tuân giữ luật pháp của Ta. 12. Nhưng các ngươi đã hành động còn tệ hại hơn tổ phụ của các ngươi. Hãy xem! Người nào cũng bướng bỉnh đi theo tấm lòng gian ác của mình, không một ai lắng nghe Ta. 13. Vì vậy, Ta sẽ ném các ngươi khỏi đất nầy, vào trong một xứ mà các ngươi và tổ phụ các ngươi chưa từng biết. Tại đó, các ngươi sẽ phục vụ các thần khác ngày và đêm, bởi vì Ta sẽ không thương xót các ngươi nữa.
  6. Đức Giê-hô-va phán: Tuy nhiên, hãy xem! Sẽ có ngày người ta không còn nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đem con dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập”; 15. nhưng “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đem con dân Y-sơ-ra-ên trở về từ phương bắc và từ các nước mà họ đã bị đưa đến đó.” Bởi vì Ta sẽ đem chúng trở về xứ mà Ta đã ban cho tổ phụ của chúng.
  7. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ sai nhiều ngư phủ để bắt chúng. Sau đó, Ta sẽ sai tìm nhiều thợ săn để săn chúng trên mọi núi, mọi đồi, và những hốc đá. 17. Bởi vì mắt Ta theo dõi mọi đường lối chúng, chúng không thể trốn khỏi mặt Ta và tội ác của chúng cũng không thể giấu khỏi mắt Ta. 18. Trước hết, Ta sẽ báo trả chúng gấp đôi sự gian ác và tội lỗi mà chúng đã phạm, bởi vì chúng đã làm ô uế đất của Ta bởi thây của những thần tượng kinh tởm. Chúng đã làm đầy dẫy sản nghiệp của Ta bằng những vật ghê tởm.
  8. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là sức mạnh của con, và đồn lũy của con, là nơi ẩn náu của con trong ngày hoạn nạn. Từ tận cùng trái đất, các dân tộc sẽ đến với Ngài và thưa rằng: Tổ phụ của chúng con chỉ thừa hưởng những điều giả dối, những điều hư không, và vô ích.
  9. Loài người có thể tự tạo cho mình những thần được sao? Chúng đâu phải là thần. 21. Vì vậy, Ta sẽ làm cho chúng biết. Thật vậy, lần nầy Ta sẽ dạy cho chúng biết sức mạnh và năng quyền của Ta. Chúng sẽ biết danh Ta là Giê-hô-va.

 

17

  1. Tội lỗi của Giu-đa được ghi bằng bút sắt, được khắc bằng mũi kim cương trên bảng lòng của chúng, và trên các sừng bàn thờ của chúng. 2. Con cháu của chúng chỉ nhớ đến những bàn thờ và những trụ thờ mà chúng lập dưới các cây xanh và trên các đồi cao, 3. trên các ngọn núi, và trong những cánh đồng. Ta sẽ ban của cải của ngươi và tất cả các kho tàng của ngươi làm chiến lợi phẩm cho kẻ cướp phá, bởi vì tội lỗi của ngươi trong khắp bờ cõi của ngươi. 4. Ngươi sẽ tự đánh mất cơ nghiệp mà Ta đã ban cho ngươi. Ta sẽ khiến ngươi phục dịch kẻ thù của ngươi trong một xứ mà ngươi chưa từng biết; bởi vì ngươi đã nhen lửa giận của Ta lên, thì nó sẽ cháy mãi.
  2. Đức Giê-hô-va phán: Đáng nguyền rủa cho kẻ nhờ cậy loài người, dựa vào sức mạnh của loài xác thịt, và lòng dạ lìa khỏi Đức Giê-hô-va. 6. Người đó sẽ như thạch thảo trong hoang mạc, không còn thấy khi phước hạnh đến. Người đó phải sống trong đồng hoang khô hạn, trong vùng đất mặn không người cư trú.
  3. Phước cho người nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va là nguồn tin cậy của người đó. 8. Người đó sẽ như một cây được trồng bên dòng nước, rễ lan tỏa quanh dòng suối; không sợ hãi khi trời nắng nóng nhưng lá vẫn xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng không lo gì nhưng vẫn ra trái không dứt.
  4. Lòng người dối trá hơn muôn vật và rất là xấu xa. Ai có thể biết được? 10. Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét tâm trí và thử nghiệm trong lòng. Ta báo đáp cho mỗi người tùy theo con đường họ đi, và tùy theo kết quả công việc họ làm. 11. Kẻ làm giàu bất chính giống như chim đa đa ấp trứng không do nó đẻ ra; đến nửa chừng, của cải ra đi, và đến cuối cuộc đời, hắn là kẻ ngu dại.
  5. Từ ban đầu, ngôi vinh quang cao quý ngự trong nơi thánh của chúng con. 13. Đức Giê-hô-va! Niềm Hy Vọng của Y-sơ-ra-ên! Tất cả những kẻ lìa bỏ Ngài sẽ bị hổ thẹn. Những kẻ quay lưng lìa bỏ Ngài sẽ bị ghi vào cát bụi, bởi vì chúng đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va là nguồn nước hằng sống. 14. Đức Giê-hô-va ôi! Xin chữa lành cho con, thì con sẽ được chữa lành. Xin cứu con, thì con sẽ được giải cứu, bởi vì Ngài là Ðấng con ca ngợi.
  6. Kìa, chúng nói với con: “Lời phán của Đức Giê-hô-va ở đâu? Tại sao không ứng nghiệm?” 16. Về phần con, con không vội vàng bỏ chức vụ chăn bầy nhưng cứ theo Ngài. Ngài biết! Con không trông mong ngày tai họa, và lời từ miệng của con thốt ra đều ở trước mặt Ngài. 17. Xin đừng để cho con bị khiếp sợ. Ngài là nơi ẩn náu của con trong ngày hoạn nạn. 18. Xin làm cho những kẻ bách hại con bị xấu hổ, nhưng con không bị xấu hổ. Xin làm cho chúng bị khiếp đảm, nhưng con không bị khiếp đảm. Xin giáng tai họa trên chúng. Xin ban sự tàn hại gấp đôi để hủy diệt chúng.
  7. Đức Giê-hô-va phán với tôi: Hãy đi và đứng nơi cổng Dân, là nơi dân chúng và các vua Giu-đa đi ra đi vào, và cũng hãy đến đứng tại các cổng thành của Giê-ru-sa-lem, 20. rồi hãy nói với chúng: Hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va! Hỡi các vua của Giu-đa, hỡi toàn thể dân Giu-đa, hỡi toàn thể dân cư của Giê-ru-sa-lem, và những người ra vào những cổng nầy. 21. Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi hãy cẩn trọng giữ mình, đừng khiêng gánh trong ngày Sa-bát, cũng đừng mang vác gì qua các cổng thành Giê-ru-sa-lem, 22. cũng đừng khiêng vật gì ra khỏi nhà của các ngươi trong ngày Sa-bát. Đừng làm bất cứ công việc gì, nhưng hãy biệt riêng ngày Sa-bát làm ngày thánh, y như Ta đã truyền cho tổ phụ của các ngươi. 23. Nhưng chúng đã không vâng lời, không lắng tai, nhưng cứng cổ, không chịu nghe và không nhận sự dạy dỗ.
  8. Đức Giê-hô-va phán: Nếu các ngươi chăm chú nghe Ta, không khiêng gánh vào các cổng thành nầy trong ngày Sa-bát, nhưng biệt riêng ngày Sa-bát ra thánh và không làm việc gì trong ngày đó, 25. thì các vua nối ngôi Đa-vít và các thủ lĩnh sẽ ngồi xe, cưỡi ngựa, cùng với các quan chức Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ đi vào các cổng thành; và thành nầy sẽ còn mãi mãi. 26. Dân chúng từ các thành của Giu-đa và các vùng phụ cận Giê-ru-sa-lem, từ đất Bên-gia-min, từ đất Sơ-phê-la, từ vùng đồi núi, từ miền Nam, sẽ kéo đến, đem tế lễ thiêu và các sinh tế, tế lễ chay và nhũ hương, cùng tế lễ cảm tạ, đến nhà của Đức Giê-hô-va. 27. Nhưng nếu các ngươi không vâng lời Ta mà biệt riêng ngày Sa-bát ra thánh, lại còn khiêng gánh đi vào cổng thành Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát, thì Ta sẽ nhen lửa tại cổng thành, và lửa đó sẽ thiêu hủy các lâu đài của Giê-ru-sa-lem, không hề bị dập tắt.

18

  1. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 2. Hãy đứng dậy, đi xuống nhà của người thợ gốm. Tại đó, Ta sẽ cho ngươi nghe sứ điệp của Ta.
  2. Tôi đi xuống nhà của người thợ gốm. Ông đang chế tạo một vật gì nơi bàn quay. 4. Khi cái bình được làm bằng đất sét trong tay của người thợ gốm bị hư, ông làm lại một chiếc bình khác cho đến khi nào nó được tốt đẹp theo ý của người thợ gốm.
  3. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 6. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Ta không thể đối xử với ngươi như người thợ gốm nầy hay sao? Đức Giê-hô-va phán: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Đất sét trong tay của người thợ gốm thể nào, thì các ngươi ở trong tay của Ta cũng như vậy. 7. Có khi Ta tuyên bố sẽ nhổ, triệt hạ, hay tiêu diệt một dân tộc hoặc một vương quốc, 8. nhưng nếu dân tộc mà Ta phán sẽ trừng phạt đó từ bỏ điều ác, thì Ta sẽ thay đổi ý định giáng họa trên nó. 9. Có khi Ta tỏ ý định xây dựng và vun trồng một dân tộc hoặc một vương quốc, 10. nhưng nếu dân tộc đó làm điều ác trong mắt của Ta, không vâng lời Ta, thì Ta sẽ thay đổi ý định ban phước cho nó.
  4. Vì vậy, bây giờ, ngươi hãy nói với dân Giu-đa và dân cư của Giê-ru-sa-lem rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta đang chuẩn bị một tai họa để giáng trên các ngươi và soạn thảo một kế hoạch để làm hại các ngươi. Bây giờ, mỗi người trong các ngươi hãy quay trở lại từ lối sống gian ác của mình. Hãy thực hiện những điều tốt đẹp trong lối sống và trong những việc làm của mình. 12. Nhưng chúng nói: Vô ích! Chúng tôi cứ đi theo kế hoạch của chúng tôi. Mỗi người trong chúng tôi sẽ hành động theo lòng cứng cỏi và gian ác của mình.
  5. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Hãy hỏi trong các nước có ai đã từng nghe những việc như vậy hay không? Trinh nữ Y-sơ-ra-ên đã làm một việc vô cùng kinh tởm. 14. Tuyết của Li-ban có bao giờ rời khỏi vầng đá ở ngoài đồng hoặc những dòng nước có lìa bỏ nguồn chảy mát dịu để theo kẻ xa lạ hay không? 15. Nhưng dân của Ta đã quên Ta. Chúng đã đốt hương cho các tà thần, là những kẻ đã làm cho chúng vấp ngã trong những đường lối của mình, trên những hành trình trong thời xa xưa, để chúng đi trong những đường lối, những con đường không được thăng tiến. 16. Chúng đã làm cho đất nước của chúng ra điêu tàn, bị phỉ nhổ muôn đời. Mọi người qua lại đều sững sờ, rồi lắc đầu. 17. Ta sẽ làm cho chúng bị tan tác trước mặt kẻ thù như một trận gió đông. Trong ngày chúng bị tai họa, Ta sẽ quay lưng ngoảnh mặt khỏi chúng.
  6. Chúng đã nói: Hãy đến! Chúng ta hãy lập mưu chống lại Giê-rê-mi; bởi vì thầy tế lễ không thiếu luật pháp, người khôn ngoan không thiếu lời khuyên, tiên tri không thiếu sứ điệp. Hãy đến! Chúng ta sẽ dùng lưỡi của mình công kích hắn, và đừng để ý đến bất cứ lời nói nào của hắn.
  7. Đức Giê-hô-va ôi! Xin lắng nghe con. Xin nghe tiếng của những kẻ chống lại con. 20. Có ai lấy ác báo thiện hay không? Nhưng chúng đã đào hố hại con. Xin Ngài nhớ rằng con đã từng đứng trước mặt Ngài để nói điều tốt đẹp cho chúng, và xin Ngài chuyển cơn giận của Ngài khỏi chúng. 21. Vì vậy, xin Ngài hãy để cho con cái của chúng bị đói kém, khiến chúng bị đổ ra dưới sức mạnh của gươm đao, vợ của chúng bị mất con trở thành góa phụ, đàn ông bị giết, và các thanh niên bị sát hại bởi gươm trong chiến trận. 22. Khi Ngài thình lình sai giặc đến tấn công, nguyện tiếng kêu khóc vang ra từ trong nhà của chúng; bởi vì chúng đã đào hố để giam giữ con, và đã giăng bẫy cho chân của con vấp ngã. 23. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài biết tất cả những âm mưu mà chúng đã lập ra để giết con. Xin đừng tha thứ sự gian ác của chúng, và cũng đừng bôi xóa tội lỗi của chúng khỏi mặt của Ngài. Xin khiến chúng vấp ngã trước mặt Ngài. Xin thực hiện những điều đó cho chúng khi Ngài nổi giận.

 

19

  1. Đức Giê-hô-va phán rằng: Hãy đi mua một cái bình bằng đất nung của người thợ gốm. Ngươi hãy mời một số trưởng lão trong dân và một vài trưởng tế. 2. Hãy đi đến thung lũng Ben Hi-nôm, gần lối vào cửa Gốm. Tại đó, hãy công bố những lời Ta sẽ phán cùng ngươi. 3. Ngươi hãy nói: Các vua của Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Hãy xem! Ta sẽ giáng tai họa xuống nơi nầy, đến nỗi ai nghe đến phải lùng bùng tai của mình, 4. bởi vì chúng đã lìa bỏ Ta, biến xứ nầy thành một nơi xa lạ. Tại đây, chúng dâng hương cho các thần khác, là các tà thần mà chúng cũng như tổ phụ chúng và các vua Giu-đa đều không biết. Chúng đã làm cho nơi nầy đầy máu vô tội. 5. Chúng xây cất những nơi cao cho Ba-anh, rồi đốt các con trai của mình trong lửa để làm tế lễ thiêu cho Ba-anh. Đó là điều Ta không hề truyền, không phán dạy, và tâm trí của Ta cũng không bao giờ nghĩ đến.
  2. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày sắp đến, nơi nầy sẽ không gọi là Tô-phết hay thung lũng Ben Hi-nôm nữa, nhưng sẽ là Thung Lũng Tàn Sát. 7. Tại nơi nầy, Ta sẽ vô hiệu hóa âm mưu của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Ta sẽ làm cho chúng ngã gục bởi lưỡi gươm trước mặt quân thù của chúng, và bởi tay của những kẻ muốn tìm hại mạng sống của chúng. Ta sẽ phó thây của chúng làm thức ăn cho chim trời và thú đồng. 8. Ta sẽ làm cho thành phố nầy thành chốn hoang tàn và thở than. Người nào đi qua đó cũng sững sờ và thở dài về tất cả những tai họa dành cho nó. 9. Ta sẽ khiến chúng ăn thịt con trai, ăn thịt con gái của mình. Mỗi người sẽ ăn thịt những người thân cận của mình trong cảnh cùng quẫn và tuyệt vọng, vì bị quân thù, là những kẻ tìm hại mạng sống của chúng, vây hãm.
  3. Ngươi hãy đập vỡ cái bình trước mặt những người cùng đi với ngươi. 11. Hãy nói với họ rằng Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Ta sẽ đập tan dân nầy và thành nầy như đập một chiếc bình gốm, không thể hàn gắn lại được. Người ta sẽ chôn cất tại Tô-phết cho đến khi không còn chỗ để chôn nữa.
  4. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ xử nơi nầy cùng dân cư của nó như vậy. Ta sẽ làm cho thành nầy giống như Tô-phết. 13. Những căn nhà tại Giê-ru-sa-lem và cung điện của các vua Giu-đa, tức là tất cả những căn nhà đã đốt hương cúng thờ các cơ binh trên trời và đã làm lễ quán cho các thần khác tại trên mái nhà, đều sẽ bị ô uế như Tô-phết.
  5. Sau khi Giê-rê-mi rời Tô-phết, là nơi Đức Giê-hô-va đã sai ông đi nói tiên tri, ông đứng tại sân đền thờ của Đức Giê-hô-va, rồi nói với toàn dân: 15. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Nầy, Ta sắp giáng trên thành nầy và các thành phụ cận tất cả những tai họa mà Ta đã báo trước, bởi vì chúng cứng đầu cứng cổ không chịu nghe lời của Ta.

 

20

  1. Pha-su-rơ, con trai của Tư tế Y-mê, là quản đốc của nhà Đức Giê-hô-va, đã nghe Giê-rê-mi tiên báo những việc nầy. 2. Pha-su-rơ đã đánh Tiên tri Giê-rê-mi, rồi cùm ông tại cổng Bên-gia-min, là cổng trên của nhà Đức Giê-hô-va.
  2. Hôm sau, Pha-su-rơ truyền tháo cùm cho Giê-rê-mi. Giê-rê-mi nói với ông: Đức Giê-hô-va không gọi ông là Pha-su-rơ nữa mà gọi là Ma-go Mít-sa-bíp, 4. bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy: Hãy xem! Ta sẽ khiến ngươi trở thành nỗi kinh hoàng cho chính mình và cho tất cả những bạn bè của ngươi. Chúng nó sẽ bị ngã gục dưới gươm của quân thù, và chính mắt ngươi sẽ chứng kiến điều đó. Ta cũng sẽ ban toàn dân Giu-đa vào tay của vua Ba-by-lôn. Vua đó sẽ đày chúng sang Ba-by-lôn rồi dùng gươm giết chúng. 5. Ta sẽ ban tất cả sự giàu có của thành nầy, tất cả những sản vật của nó, tất cả những gì quý giá của nó, và tất cả kho tàng của các vua Giu-đa vào tay quân thù của chúng. Họ sẽ cướp phá, tịch thu, rồi mang về Ba-by-lôn. 6. Còn ông, Pha-su-rơ! Chính ông và những người ở trong nhà của ông sẽ bị lưu đày. Ông sẽ đến Ba-by-lôn, sẽ chết và chôn tại đó cùng với tất cả những bạn bè của ông, là những người mà ông đã nói những lời tiên tri giả dối cho họ.
  3. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài đã thuyết phục con, và con đã bị Ngài thuyết phục. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng. Suốt ngày con cứ làm trò cười cho thiên hạ, và mọi người chế giễu con. 8. Mỗi lần con nói thì con phải la lớn, con phải gào lên: “Bạo lực và hủy diệt!” Vì lời của Đức Giê-hô-va mà con bị sỉ nhục và bị chế giễu suốt ngày.
  4. Nhưng nếu con nói: “Tôi sẽ không đề cập đến Ngài nữa. Tôi sẽ không nhân danh của Ngài mà nói nữa”, thì lời của Ngài như ngọn lửa thiêu đốt trong lòng của con, âm ỉ trong xương cốt của con. Con mệt mỏi vì kềm chế, và không sao chịu được. 10. Bởi vì con có nghe những lời thì thầm, sợ hãi từ mọi phía. “Hãy tố cáo! Chúng ta hãy tố cáo!” Mỗi người quen biết con đều trông chờ con vấp ngã, nói rằng: “Có thể hắn đã bị mắc lừa. Chúng ta sẽ thắng hắn và sẽ trả thù hắn.” 11. Nhưng Đức Giê-hô-va ở với con như một dũng sĩ đáng sợ. Vì vậy những kẻ bách hại con sẽ vấp ngã, không thắng nổi con. Chúng sẽ không thành công và bị nhục nhã ê chề, một nỗi nhục muôn đời, không bao giờ quên được.
  5. Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Ngài là Đấng thử thách người công chính, nhìn thấu lòng dạ và tâm trí. Xin cho con nhìn thấy sự báo thù của Ngài dành cho chúng, bởi vì con đã trình dâng duyên cớ của con cho Ngài. 13. Hãy hát cho Đức Giê-hô-va! Hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va! Vì Ngài đã giải cứu linh hồn của người khốn cùng khỏi tay những kẻ làm ác.
  6. Ðáng nguyền rủa cho ngày mà tôi đã chào đời! Nguyện ngày mà mẹ tôi đã sinh ra tôi không phải là ngày được phước. 15. Đáng nguyền rủa cho người đã báo tin cho cha tôi rằng: “Ông có một đứa con, một con trai”, khiến ông mừng rỡ. 16. Nguyện người đó giống như những thành mà Đức Giê-hô-va đã triệt hạ không chút thương xót. Hãy để cho người đó buổi sáng nghe tiếng kêu cứu, buổi trưa nghe tiếng báo động. 17. Sao tôi không chết đi trong lòng của mẹ, để lòng của mẹ tôi trở thành nấm mồ cho tôi, và tôi mãi mãi vẫn là bào thai! 18. Tại sao tôi phải ra khỏi lòng mẹ để nhìn thấy cảnh cực nhọc lo buồn, và cả đời cưu mang sỉ nhục?

 

21

  1. Lời Đức Giê-hô-va đến cùng Giê-rê-mi khi vua Sê-đê-kia sai Pha-su-rơ, con trai Manh-ki-gia, và Sô-phô-ni, con trai Tư tế Ma-a-xê-gia, đến gặp ông và nói: 2. Xin vui lòng cầu xin Đức Giê-hô-va cho chúng tôi, bởi vì Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, tiến đánh chúng ta. Có thể Đức Giê-hô-va sẽ vì chúng ta mà làm mọi việc lạ lùng của Ngài và khiến họ rút lui khỏi chúng ta.
  2. Giê-rê-mi trả lời: Các ông hãy tâu lại với Sê-đê-kia như thế nầy: 4. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Nầy, Ta sẽ quay ngược vũ khí mà các ngươi đang cầm trong tay để đánh đuổi vua Ba-by-lôn và những người Canh-đê hiện bao vây các ngươi bên ngoài tường thành. Ta sẽ gom chúng lại vào trong giữa thành nầy. 5. Chính Ta sẽ chiến đấu chống lại các ngươi với bàn tay mở rộng và cánh tay mạnh mẽ, trong cơn giận lôi đình và phẫn nộ mãnh liệt. 6. Ta sẽ giết hại dân cư thành này, cả người và thú vật sẽ chết vì dịch bệnh khủng khiếp. 7. Đức Giê-hô-va phán: Sau đó, Ta sẽ phó Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, các triều thần, và dân chúng, những người còn sống sót trong thành này, chưa chết vì bệnh dịch, gươm dao, hoặc đói kém, vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, vào tay của những kẻ thù, vào tay của những người tìm hại mạng sống chúng. Người sẽ dùng gươm giết chúng, không tiếc nuối, không nương tay, cũng không thương xót.
  3. Ngươi hãy nói với dân nầy. Đức Giê-hô-va phán thế nầy: Này, Ta đặt trước mặt các ngươi một con đường sống và một con đường chết. 9. Ai ở lại trong thành này sẽ chết vì gươm đao, đói kém, hoặc dịch bệnh. Nhưng ai ra khỏi thành, đầu hàng quân Canh-đê đang vây hãm các ngươi, người đó sẽ sống. Người đó vẫn còn mạng sống của mình. 10. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì Ta đã quyết định giáng họa thay vì ban phước trên thành nầy, cho nên thành nầy sẽ bị phó vào tay của vua Ba-by-lôn, và người sẽ phóng hỏa đốt thành.
  4. Hãy nói với triều thần của vua Giu-đa: Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 12. Hỡi nhà Đa-vít! Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Buổi sáng hãy làm điều công chính! Hãy giải cứu người bị cướp bóc khỏi tay kẻ hà hiếp. Đừng để vì các ngươi làm điều ác, mà cơn giận của Ta bừng lên như lửa, không ai dập tắt được.
  5. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi cư dân trong thung lũng. Hỡi vầng đá trong đồng bằng. Ta chống lại các ngươi! Các ngươi là những người đã nói: Ai sẽ đến chống lại chúng ta? Ai sẽ vào chỗ chúng ta cư trú?
  6. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ trừng phạt các ngươi theo kết quả những việc làm của các ngươi. Ta sẽ đốt lửa trong rừng, và nó sẽ thiêu nuốt mọi vật chung quanh nó.

 

22

  1. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đi xuống cung điện của vua Giu-đa rồi công bố điều nầy tại đó: 2. Hỡi vua của Giu-đa đang ngồi trên ngôi của Ða-vít! Vua cùng với triều thần và thần dân của vua là những người đi vào cổng thành nầy. Hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va.
  2. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy thực hiện sự công minh chính trực. Hãy giải cứu người bị bóc lột khỏi tay kẻ hà hiếp. Đừng hãm hại hay đối xử tàn bạo với ngoại kiều, kẻ mồ côi, người góa phụ. Đừng làm đổ huyết vô tội tại nơi nầy. 4. Nếu các ngươi thật lòng thực hiện những điều nầy, các ngươi sẽ có các vua tiếp nối nhau ngồi trên ngôi của Ða-vít. Họ sẽ ngồi trên xe, cùng với các triều thần cưỡi ngựa, và thần dân đi vào các cổng của nơi nầy. 5. Nhưng nếu các ngươi không lắng nghe những lời nầy, thì Ta là Đức Giê-hô-va, chỉ chính mình mà thề rằng: Nơi nầy sẽ trở nên hoang tàn.
  3. Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán về cung điện của vua Giu-đa: Đối với Ta, ngươi giống như Ga-la-át, như đỉnh núi Li-ban, nhưng chắc chắn Ta sẽ làm cho ngươi trở thành hoang mạc. Các thành phố sẽ không có người ở. 7. Ta sẽ chuẩn bị những kẻ hủy diệt, mỗi người với vũ khí của mình để chống lại ngươi. Chúng sẽ chặt những cây bá hương tốt nhất của ngươi rồi ném vào lửa. 8. Nhiều dân tộc đi ngang qua thành nầy sẽ hỏi người lân cận của mình: Vì điều gì mà Đức Giê-hô-va đã đối xử với thành lớn nầy như vậy? 9. Người ta sẽ trả lời rằng: Bởi vì họ đã bỏ giao ước của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của họ, mà thờ lạy và phục vụ những thần khác.
  4. Đừng khóc cho người chết, cũng đừng thương tiếc họ; nhưng hãy khóc cho kẻ bị lưu đày, vì người đó sẽ không trở về, và sẽ không còn thấy nơi mình đã sinh ra nữa.
  5. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán về Sa-lum, con trai của Giô-si-a, vua của Giu-đa, là người kế vị của cha mình là Giô-si-a, là người đã rời khỏi nơi nầy, như thế nầy: Người sẽ không trở về nơi nầy nữa, 12. nhưng sẽ chết tại xứ bị lưu đày và không còn thấy lại đất nầy nữa. 13. Khốn thay cho kẻ đã cất nhà bằng sự bất chính, xây phòng bằng sự bất nghĩa, dùng người lân cận làm việc không công, không trả thù lao nào cho người đó. 14. Hắn nói: Ta sẽ xây một tòa nhà đồ sộ, với nhiều phòng thênh thang, trổ nhiều cửa sổ, vách tường bằng gỗ bá hương, rồi sơn son. 15. Có phải ngươi được làm vua để được bao bọc bằng gỗ bá hương? Không phải cha của ngươi đã ăn uống, làm điều công minh chính trực và được hưng thịnh hay sao? 16. Người xét xử công minh cho người nghèo khó và thiếu thốn, cho nên đã được hưng thịnh. Đức Giê-hô-va phán: Sự nhận biết Ta không phải như vậy hay sao? 17. Nhưng mắt và lòng của ngươi chỉ biết trục lợi, làm đổ huyết vô tội, thực hành sự đàn áp và bạo hành.
  6. Vì vậy, đây là điều Đức Giê-hô-va phán về Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, vua của Giu-đa: Dân chúng sẽ không thương khóc về người khác rằng: “Ô! Anh của tôi.” hay “Ô! Chị của tôi.” Người ta cũng không thương tiếc người rằng: “Ô! Chủ của tôi.” hay “Ô! Vinh quang của người.” 19. Người sẽ bị chôn như chôn một con lừa, sẽ bị kéo đi, rồi bị vứt bên ngoài những cổng thành của Giê-ru-sa-lem. 20. Hãy lên núi Li-ban kêu la, hãy cất tiếng than tại Ba-san, hãy kêu gào tại A-ba-rim, bởi vì tất cả những người yêu của ngươi đã bị tiêu diệt. 21. Khi ngươi còn thịnh vượng, Ta đã nhắc nhở ngươi; nhưng ngươi đã nói: Tôi không muốn nghe! Đó là lối sống của ngươi từ thời thanh xuân. Ngươi không vâng lời Ta. 22. Gió sẽ lùa đi tất cả những kẻ chăn dắt ngươi; những tình nhân của ngươi sẽ bị đi đày. Lúc đó, ngươi sẽ xấu hổ và nhục nhã vì tất cả những việc gian ác của ngươi. 23. Hỡi cư dân của Li-ban, là những kẻ xây tổ ấm giữa những cây bá hương! Ngươi sẽ rên rỉ khi cơn đau ập đến trên ngươi, đau như một sản phụ quằn quại lúc lâm bồn.
  7. Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống! Dù Giê-cô-nia, con trai của Giê-hô-gia-kim, vua của Giu-đa, là chiếc nhẫn trên tay phải của Ta, Ta cũng sẽ lột bỏ ngươi. 25. Ta sẽ trao ngươi vào tay của những kẻ tìm cách lấy mạng ngươi, vào tay của những kẻ ngươi sợ hãi khi thấy mặt chúng, tức là vào tay của Nê-bu-cát-nê-xa, vua của Ba-by-lôn, và vào tay của người Canh-đê. 26. Ta sẽ ném ngươi và người mẹ đã sinh ra ngươi vào một nước khác – không phải là nơi ngươi đã được sinh ra – và các ngươi sẽ chết tại đó. 27. Còn xứ mà linh hồn chúng khao khát trở về, thì sẽ không được trở về.
  8. Có phải Giê-cô-nia là cái bình bị bể vô dụng, hay người nầy là một món đồ không ai muốn dùng hay không? Tại sao người và con cháu của người bị lùa đi và bị vứt trong một nước mà họ chưa hề biết? 29. Hỡi đất, đất, đất! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 30. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy ghi nhận người nầy như là kẻ tuyệt tự không có con, một người cả đời không thành đạt, bởi vì cả dòng dõi của người không một ai thịnh vượng để được ngồi trên ngôi của Đa-vít và cai trị trong Giu-đa nữa.

 

23

  1. Đức Giê-hô-va phán: Khốn thay cho những kẻ chăn bầy đã hủy hoại và làm tản lạc bầy chiên thuộc đồng cỏ của Ta. 2. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán như vầy về những người chăn có trách nhiệm chăn giữ dân Ta: Các ngươi đã làm cho bầy chiên của Ta tan tác, đã xua đuổi chúng đi, nhưng không quan tâm đến chúng. Đức Giê-hô-va phán: Nhưng Ta sẽ quan tâm đến những hành động gian ác của các ngươi. 3. Ta sẽ gom những bầy chiên còn sót lại của Ta từ mọi nước mà Ta đã đưa chúng đến đó. Ta sẽ đem chúng trở về đồng cỏ của chúng, rồi chúng sẽ sinh sản và gia tăng. 4. Ta sẽ lập những người chăn để chăm sóc chúng. Chúng sẽ không còn sợ hãi, không còn kinh khiếp, hay không được quan tâm. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  2. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh Công Chính. Ngài sẽ cai trị như một vị vua, cư xử cách khôn ngoan, thực thi điều công minh chính trực trên đất. 6. Trong đời vua đó, Giu-đa sẽ được cứu, Y-sơ-ra-ên sẽ sống an bình. Đây là danh xưng mà Ngài sẽ được gọi: “Đức Giê-hô-va – Đấng Công Chính của chúng ta!”
  3. Đức Giê-hô-va phán: Vì vậy, trong những ngày đến, người ta sẽ không còn nói: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi đất Ai Cập. 8. Nhưng sẽ nói: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đưa dắt dòng dõi nhà Y-sơ-ra-ên từ phương bắc trở về, từ các nước mà Ngài đã đưa họ đến. Họ sẽ cư ngụ trong đất của mình.
  4. Nói về các tiên tri, lòng tôi tan nát từ bên trong, tất cả xương cốt của tôi rã rời. Tôi giống như một người say rượu, một người bị chế ngự bởi Đức Giê-hô-va và những lời thánh của Ngài.
  5. Do đất nước đầy dẫy những kẻ ngoại tình cho nên đất nước bị thảm sầu bởi sự nguyền rủa, các đồng cỏ trong hoang mạc bị khô cằn. Đường lối của chúng là gian tà, quyền lực của chúng là bất chính, 11. bởi vì cả tiên tri lẫn tư tế đều bại hoại. Đức Giê-hô-va phán: Đúng như vậy! Ta đã thấy sự gian ác của chúng ngay trong nhà của Ta. Vì vậy, đường lối của chúng sẽ thành trơn trợt cho chúng. Chúng sẽ bị đưa vào trong sự tối tăm và gục ngã tại đó. Ta sẽ giáng tai họa trên chúng trong năm chúng bị đoán phạt. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  6. Về các tiên tri tại Sa-ma-ri: Ta đã thấy sự ngu xuẩn bởi vì chúng đã nhờ Ba-anh mà nói tiên tri. Chúng đã khiến cho Y-sơ-ra-ên, dân của Ta, bị lầm lạc. 14. Về các tiên tri tại Giê-ru-sa-lem: Ta đã thấy điều kinh tởm. Chúng đã phạm tội ngoại tình và bước đi trong sự gian dối. Chúng tiếp tay củng cố quyền lực cho những kẻ làm ác để không một ai lìa bỏ khỏi sự gian ác. Ðối với Ta, tất cả bọn chúng giống như Sô-đôm, dân cư của nó giống như Gô-mô-rơ. 15. Vì vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán về các tiên tri như thế nầy: Hãy xem! Ta sẽ cho chúng ăn ngải cứu, khiến chúng phải uống nước đắng, bởi vì các tiên tri ở Giê-ru-sa-lem đã làm cho sự bại hoại lan tràn khắp cả xứ.
  7. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Đừng nghe những lời mà các tiên tri đó tiên báo cho các ngươi. Chúng nói với các ngươi những khải tượng do lòng chúng suy tưởng chứ không phải những lời từ miệng của Đức Giê-hô-va. 17. Chúng tiếp tục nói với những kẻ khinh thường Ta rằng: “Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi sẽ được bình an!” Chúng nói với những kẻ bước đi theo tấm lòng bướng bỉnh của mình rằng: “Không có tai họa nào giáng trên các ngươi cả!” 18. Nhưng có người nào đứng trong cuộc họp của Đức Giê-hô-va để tiếp nhận và nghe lời của Ngài? Có ai đã chú ý và lắng nghe lời của Ngài? 9. Kìa, trong cơn giận của Ngài, trận cuồng phong của Đức Giê-hô-va đã nổi lên. Giông bão cuồn cuộn sẽ giáng trên đầu của những kẻ ác. 20. Cơn giận của Đức Giê-hô-va sẽ không nguôi cho đến khi Ngài thực thi và hoàn tất những ý định trong lòng của Ngài. Trong những ngày cuối cùng, các ngươi sẽ hoàn toàn hiểu rõ về điều đó. 21. Ta không sai những tiên tri nầy đi, nhưng chúng đã chạy. Ta không phán bảo chúng, nhưng chúng đã nói tiên tri. 22. Nếu chúng đứng trong cuộc họp của Ta, thì dân của Ta đã nghe lời của Ta, họ đã từ bỏ đường lối xấu xa của mình và lìa khỏi những việc làm gian ác của họ.
  8. Đức Giê-hô-va phán: Có phải Ta là Đức Chúa Trời chỉ là ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa hay sao? 24. Đức Giê-hô-va phán: Có ai ẩn mình trong những nơi bí mật để Ta không nhìn thấy chăng? Đức Giê-hô-va phán: Không phải Ta hiện diện khắp các tầng trời và đất hay sao?
  9. Ta đã nghe những gì các tiên tri đã nhân danh Ta nói tiên tri giả dối rằng: Tôi thấy chiêm bao! Tôi thấy chiêm bao! 26. Lòng của các tiên tri đó cứ tiếp tục nói tiên tri giả dối với những lời lường gạt từ lòng của chúng cho đến bao giờ? 27. Chúng cố tình làm cho dân Ta quên danh của Ta bằng những chiêm bao mà chúng kể cho người thân cận với mình, giống như tổ phụ của chúng đã quên danh của Ta để theo Ba-anh.
  10. Tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật lại chiêm bao. Ai có lời của Ta, hãy trung tín truyền lại lời của Ta. Rơm rạ làm thể nào so sánh được với lúa mì? Đức Giê-hô-va phán vậy.
  11. Đức Giê-hô-va phán: Lời của Ta không giống như lửa hay sao? Lời của Ta không giống như búa đập vỡ đá tan tành hay sao? 30. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Ta chống lại những tiên tri là kẻ đã ăn cắp lời của Ta từ những người lân cận của mình. 31. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta chống lại những tiên tri dùng lưỡi của riêng mình mà nói. Ngài phán như vậy.
  12. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta chống lại những kẻ dùng chiêm bao giả dối để nói tiên tri. Chúng thuật lại những điều đó, rồi dùng lời dối trá, vô trách nhiệm mà làm cho dân của Ta bị lầm lạc. Ta đã không sai phái và cũng không truyền dạy cho chúng. Chúng không ích lợi gì cho dân nầy cả. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  13. Khi dân nầy, hoặc một tiên tri, hoặc một tư tế nào hỏi ngươi: Sứ điệp của Đức Giê-hô-va phán là gì? Ngươi hãy trả lời chúng: Sứ điệp đó là: Ta sẽ vứt bỏ các ngươi. Đức Giê-hô-va phán. 34. Còn tiên tri, tư tế, hay người nào tự ý truyền sứ điệp của Đức Giê-hô-va, Ta sẽ phạt nó và gia đình của nó.
  14. Thật vậy, các ngươi sẽ hỏi người lân cận của mình, mỗi người hãy hỏi anh em của mình: “Đức Giê-hô-va đã trả lời thế nào?” hay là “Đức Giê-hô-va đã phán điều gì?” 36. Nhưng các ngươi không được gọi là “Sứ điệp của Đức Giê-hô-va” nữa, bởi vì “sứ điệp” chỉ lời riêng của mỗi người. Các ngươi đã xuyên tạc lời của Đức Chúa Trời hằng sống, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, và là Đức Chúa Trời của chúng ta.
  15. Vì vậy, ngươi hãy hỏi tiên tri rằng: “Đức Giê-hô-va đã trả lời cho ông điều gì?” hay là “Đức Giê-hô-va đã phán như thế nào?”. 38. Nhưng nếu người nói: “Sứ điệp của Đức Giê-hô-va” thì Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì các ngươi đã nói “Đây là sứ điệp của Đức Giê-hô-va” trong khi Ta đã sai người đến và dặn các ngươi không được nói “Sứ điệp của Đức Giê-hô-va”; 39. vì vậy Ta sẽ hoàn toàn quên các ngươi và loại bỏ các ngươi cùng với thành mà Ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ của các ngươi khỏi mặt của Ta. 40. Ta sẽ đem sự xấu hổ miên trường và sự sỉ nhục đời đời không bao giờ quên được giáng trên các ngươi.

 

24

  1. Đức Giê-hô-va đã chỉ cho tôi thấy hai giỏ trái vả được đặt trước đền thờ của Đức Giê-hô-va. Việc nầy xảy ra sau khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, bắt Giê-cô-nia, con trai của Giê-hô-gia-kim, vua của Giu-đa, cùng với các lãnh đạo của Giu-đa, các thợ thủ công và thợ rèn đưa ra khỏi Giê-ru-sa-lem, đem họ lưu đày tại Ba-by-lôn. 2. Một giỏ đựng những trái vả rất tốt, như trái vả đầu mùa; còn giỏ kia thì đựng trái rất xấu, bị hư đến nỗi không thể ăn được. 3. Đức Giê-hô-va hỏi tôi: Giê-rê-mi! Ngươi thấy gì? Tôi thưa: Con thấy những trái vả. Những trái tốt thì rất tốt, còn những trái xấu thì rất xấu, chúng bị hư không thể ăn được.
  2. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi: 5. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy: Giống như những trái vả tốt nầy, Ta sẽ quan tâm và làm phước cho những người Giu-đa bị lưu đày, là những người mà Ta đã đem từ nơi nầy vào đất của người Canh-đê. 6. Bởi vì Ta sẽ để mắt đến chúng để ban phước cho chúng, rồi đưa chúng trở về xứ nầy. Ta sẽ xây dựng mà không phá đổ. Ta sẽ trồng mà không nhổ. 7. Ta sẽ ban cho chúng một tấm lòng nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va. Chúng sẽ làm dân của Ta và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng, bởi vì chúng sẽ hết lòng trở về cùng Ta.
  3. Về những trái vả xấu không thể ăn được bởi vì chúng bị hư, Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ta sẽ xử Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, các lãnh đạo, dân còn sót lại của Giê-ru-sa-lem đang ở trong xứ, và những người đang sống tại Ai Cập, cũng như vậy. 9. Ta sẽ làm cho chúng bị tổn thương và bị cất bỏ khỏi tất cả các vương quốc trên trái đất. Chúng sẽ bị sỉ nhục, bị đàm tiếu, bị chế nhạo, bị nguyền rủa trong tất cả những nơi mà Ta đưa chúng đến. 10. Ta sẽ sai gươm đao, đói kém, dịch bệnh đến giữa chúng, cho đến khi chúng bị tiêu diệt khỏi đất mà Ta đã ban cho chúng và tổ phụ của chúng.

 

25

  1. Có lời phán cùng Giê-rê-mi về dân Giu-đa, vào năm thứ tư của Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, làm vua Giu-đa, tức là năm thứ nhất đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn. 2. Tiên tri Giê-rê-mi nói với toàn dân Giu-đa và toàn thể dân cư của Giê-ru-sa-lem như thế nầy: 3. Kể từ năm thứ mười ba đời Giô-si-a, con trai của A-môn, vua của Giu-đa, cho đến nay, là hai mươi ba năm, Đức Giê-hô-va đã phán cùng tôi, và tôi đã truyền đạt lại cho quý vị. Tôi đã dậy sớm để nói nhưng quý vị không chịu nghe. 4. Đức Giê-hô-va đã sai những đầy tớ của Ngài, là các tiên tri, đến cùng quý vị. Ngài đã dậy sớm để sai họ, nhưng quý vị không nghe và cũng không lắng tai để nghe. 5. Họ nói: Các ngươi hãy quay trở lại, mỗi người trong các ngươi hãy từ bỏ đường lối xấu xa và những việc làm gian ác của mình, thì các ngươi sẽ được ở trong đất mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi và tổ phụ của các ngươi từ thời xa xưa và mãi cho đến đời đời. 6. Đừng đi theo những thần khác để phục vụ chúng và thờ lạy chúng, và cũng đừng chọc giận Ta với những công việc do tay của các ngươi, thì Ta sẽ không giáng họa trên các ngươi. 7. Nhưng các ngươi đã không nghe Ta, nhưng các ngươi chọc cho Ta giận bằng những công việc của tay mình, cho nên Ta sẽ trừng phạt các ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  2. Vì vậy, đầy là điều Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã phán: Bởi vì các ngươi không chịu nghe theo lời của Ta, 9. nầy, Ta sẽ sai tất cả các dòng tộc ở phương bắc và Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, là đầy tớ của Ta, đến chống lại xứ nầy, chống lại dân cư tại đó, chống lại các dân tộc chung quanh. Ta sẽ tuyệt diệt chúng, làm cho chúng trở nên một vật đáng kinh tởm, một trò cười, trở thành những nơi hoang tàn vĩnh viễn. Đức Giê-hô-va phán vậy. 10. Ta sẽ cất khỏi chúng những âm thanh vui vẻ, âm thanh mừng rỡ, là tiếng của chàng rể, tiếng của cô dâu, tiếng động của cối xay, và ánh đèn. 11. Cả vùng đất nầy sẽ trở thành một chỗ hoang tàn, một chốn kinh hoàng. Các dân tộc nầy sẽ phải phục dịch vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm.
  3. Đức Giê-hô-va phán: Thời gian trôi qua, khi bảy mươi năm đã mãn, Ta sẽ phạt vua Ba-by-lôn và quốc gia đó, tức xứ sở của người Canh-đê, vì tội lỗi của chúng, rồi biến xứ sở đó thành một nơi hoang tàn vĩnh viễn. 13. Ta sẽ giáng trên xứ đó tất cả những lời Ta đã phán chống lại nó, tức là mọi lời đã chép trong sách nầy, mà Giê-rê-mi đã tiên báo để chống lại tất cả nước. 14. Vì nhiều quốc gia và những vua vĩ đại sẽ đến bắt chúng làm nô lệ cho họ, và Ta sẽ báo trả chúng về những việc chúng mà đã làm, tùy theo những gì tay chúng đã gây ra.
  4. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán với tôi như thế nầy: Hãy lấy chén rượu thịnh nộ nầy nơi tay của Ta, rồi bắt tất cả các nước mà Ta sai ngươi đến, uống chén đó. 16. Chúng sẽ uống, sẽ đi lảo đảo, và điên cuồng vì gươm đao mà Ta sẽ sai đến giữa chúng.
  5. Vì vậy, tôi đã lấy chén ấy từ tay của Đức Giê-hô-va, rồi bắt tất cả các nước mà Đức Giê-hô-va đã sai tôi đến phải uống là: 18. Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa, các vua và những lãnh đạo của thành, để chúng trở nên một chốn hoang tàn, một nơi hoang phế, bị chê cười và nguyền rủa như ngày nay. 19. Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, các triều thần, các lãnh đạo và dân chúng của ông. 20. Tất cả các dân lai tạp, tất cả vua của xứ Út-xơ, tất cả các vua của xứ Phi-li-tin, là Ách-ca-lôn, Ga-xa, Éc-rôn, và những người còn sót lại tại Ách-đốt. 21. Ê-đôm, Mô-áp, và con cháu của Am-môn. 22. Các vua của Ty-rơ, tất cả các vua tại Si-đôn, và tất cả các vua tại những hải đảo ngoài biển. 23. Đê-đan, Thê-ma, Bu-xơ, tất cả những nơi xó xỉnh. 24. Tất cả các vua Ả-rập, các vua của các dân lai tạp sống trong hoang mạc. 25. Tất cả các vua của Xim-ri, tất cả các vua của Ê-lam, tất cả các vua của Mê-đi. 26. Tất cả các vua của phương bắc, ở gần hoặc ở xa, từ nơi nầy đến nơi khác; tất cả các vương quốc trong thế gian trên mặt đất. Vua của Sê-sác sẽ uống sau cùng.
  6. Sau đó, ngươi hãy nói với chúng rằng Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Hãy uống cho say, ói mửa, rồi gục xuống, và không đứng dậy được nữa, bởi vì gươm giáo mà Ta sẽ sai đến giữa vòng các ngươi. 28. Nếu chúng từ chối, không chịu uống chén nơi tay của ngươi, ngươi hãy bảo chúng: Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán như thế nầy: Các ngươi phải uống! 29. Bởi vì, hãy xem nầy, ngay cả thành được gọi bằng danh của Ta mà Ta còn giáng họa trên nó thì làm sao các ngươi có thể khỏi bị trừng phạt? Các ngươi sẽ không khỏi bị trừng phạt, bởi vì Ta sẽ kêu gọi gươm đao đến nghịch lại mọi dân trên đất. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán như vậy. 30. Vì thế, ngươi phải dùng mọi lời nầy để nói tiên tri chống lại chúng. Hãy bảo chúng rằng, Đức Giê-hô-va sẽ thét lớn từ trên cao. Ngài sẽ cất tiếng từ trong nơi ngự thánh của Ngài. Ngài sẽ thét dữ dội trên dân của Ngài. Ngài sẽ hét to như tiếng reo hò của những người đạp nho, để chống lại tất cả những cư dân trên đất. 31. Tiếng ồn sẽ vang đến tận cùng trái đất, bởi vì Đức Giê-hô-va đã tranh luận với tất cả các nước. Ngài sẽ phán xét mọi xác thịt, rồi trao kẻ ác cho gươm đao. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  7. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Nầy, tai họa sẽ lan tràn từ nước nầy sang nước khác. Một trận bão dữ dội sẽ nổi lên từ những miền xa xăm của trái đất. 33. Trong ngày đó, xác của những kẻ bị Đức Giê-hô-va giết chết sẽ nằm la liệt khắp mặt đất. Chúng không được ai than khóc, gom lại, hay chôn cất. Chúng sẽ trở thành phân trên mặt đất.
  8. Hỡi những người chăn! Hãy than khóc, hãy kêu than. Hỡi các chủ của bầy chiên! Hãy lăn trong tro bụi, bởi vì ngày các ngươi bị giết, lúc các ngươi bị tan lạc đã đến. Các ngươi sẽ ngã xuống như một chiếc bình quý giá. 35. Người chăn sẽ không có đường chạy trốn, và các chủ của bầy chiên cũng không tìm ra lối thoát. 36. Hãy nghe tiếng khóc của những người chăn, và tiếng rên từ những chủ của bầy chiên, bởi vì Đức Giê-hô-va đang phá hủy đồng cỏ của chúng. 37. Những đồng cỏ yên bình đã trở thành hoang vu vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va. 38. Giống như sư tử, Ngài đã rời khỏi nơi trú ẩn của Ngài. Vùng đất của họ đã trở nên chốn hoang tàn, vì sự bạo tàn của kẻ áp bức và vì cơn thịnh nộ của Ngài.

 

26

  1. Khi Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, vua của Giu-đa, bắt đầu trị vì, thì có lời phán từ Đức Giê-hô-va. 2. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ngươi hãy đứng trong sân của nhà Đức Giê-hô-va, công bố mọi lời Ta truyền cho ngươi phải nói với tất cả các thành của Giu-đa đã đến thờ phượng trong nhà của Đức Giê-hô-va, mà không được bớt một lời nào. 3. Nếu chúng nghe, rồi mỗi người sẽ lìa bỏ con đường tà, thì Ta sẽ đổi ý về tai họa mà Ta định giáng trên chúng, vì những việc ác mà chúng đã làm. 4. Ngươi hãy nói với họ, Đức Giê-hô-va phán: Nếu các ngươi không chịu nghe Ta, để bước đi theo luật pháp mà Ta đã đặt trước mặt các ngươi, 5. và làm theo lời của các đầy tớ Ta, là các tiên tri của Ta, mà Ta đã dậy sớm sai họ đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không lắng nghe, 6. thì Ta sẽ làm cho nhà nầy trở nên giống như Si-lô, và Ta sẽ làm cho thành nầy trở thành một lời nguyền rủa cho mọi dân trên đất.
  2. Các tư tế, các tiên tri, và toàn thể dân chúng đã nghe Giê-rê-mi nói những lời đó trong nhà của Đức Giê-hô-va. 8. Khi Giê-rê-mi nói xong mọi điều Đức Giê-hô-va truyền ông phải nói cho toàn thể dân chúng, thì các tư tế, các tiên tri, và toàn thể dân chúng đã bắt ông, rồi nói: Ngươi chắc chắn phải chết! 9. Tại sao ngươi dám nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói tiên tri rằng: Nhà nầy sẽ trở nên như Si-lô, và thành nầy sẽ hoang tàn không có dân cư trú? Lúc đó, tất cả dân chúng đã vây quanh Giê-rê-mi trong nhà của Đức Giê-hô-va.
  3. Khi các lãnh đạo của Giu-đa nghe những điều nầy, họ đã từ cung vua lên nhà của Đức Giê-hô-va. Họ ngồi tại lối vào Cổng Mới của nhà Đức Giê-hô-va. 11. Các tư tế và các tiên tri đã nói với các lãnh đạo và toàn thể dân chúng: Người nầy đáng tội chết, bởi vì hắn đã nói tiên tri chống lại thành nầy, như chính tai của quý vị đã nghe.
  4. Nhưng Giê-rê-mi đã nói với tất cả lãnh đạo và toàn thể dân chúng rằng: Chính Đức Giê-hô-va đã sai tôi nói tất cả những lời tiên tri về nhà nầy và thành nầy như quý vị đã nghe. 13. Bây giờ quý vị hãy sửa lại đường lối và những việc làm của mình. Hãy vâng lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của quý vị, thì Đức Giê-hô-va sẽ đổi ý về những tai họa mà Ngài đã cảnh báo quý vị. 14. Còn tôi, nầy, tôi đang ở trong tay của quý vị. Quý vị cứ xử tôi theo điều quý vị cho là phải và nên làm. 15. Tuy nhiên, quý vị hãy biết chắc rằng nếu quý vị giết tôi, quý vị sẽ chuốc lấy án phạt cho mình, cho thành nầy, và cho dân cư của thành, vì đã làm đổ huyết vô tội, bởi vì Đức Giê-hô-va thật sự đã sai tôi đến để công bố mọi lời nầy vào tai của quý vị.
  5. Các lãnh đạo và toàn thể dân chúng đã nói với các tư tế và các tiên tri rằng: Người nầy không đáng chết, bởi vì ông ấy đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta mà nói với chúng ta. 17. Một vài trưởng lão trong xứ đứng dậy nói với cả hội chúng: 18. Mi-chê ở Mô-rê-sết, tiên tri dưới thời Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, đã nói với toàn dân Giu-đa rằng: Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Si-ôn sẽ bị cày như ruộng, Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành những đống đổ nát hoang tàn, núi của đền thờ sẽ trở nên một đỉnh cao ở giữa rừng. 19. Nhưng Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, và cả Giu-đa có tử hình ông ấy không? Không phải vua đã kính sợ Đức Giê-hô-va và nài xin ơn Đức Giê-hô-va, cho nên Đức Giê-hô-va đã đổi ý không giáng tai họa mà Ngài đã báo trước cho họ hay sao? Nhưng chúng ta lại muốn rước tai họa khủng khiếp chống lại chính mình.
  6. Lúc đó, có một người khác cũng đã nhân danh Đức Giê-hô-va nói tiên tri, đó là U-ri, con trai của Sê-ma-gia, ở Ki-ri-át Giê-a-rim. Ông cũng nói tiên tri chống lại thành và đất nầy, giống như những gì mà Giê-rê-mi đã nói. 21. Khi vua Giê-hô-gia-kim cùng tất cả những người có quyền lực, và các lãnh đạo của vua, nghe lời của ông, thì vua tìm cách giết ông. Nghe tin nầy, ông hoảng sợ nên đã chạy trốn sang Ai Cập. 22. Vua Giê-hô-gia-kim đã sai Ên-na-than, con trai của Ạc-bồ, và một số người khác đến Ai Cập. 23. Họ đã đem U-ri ra khỏi Ai Cập, giải về cho Giê-hô-gia-kim. Vua đã giết ông ấy bằng gươm, rồi ném xác vào nghĩa trang của thường dân.
  7. Nhưng A-hi-cam, con trai của Sa-phan, đã bênh vực Giê-rê-mi, không để ông chết vào tay của dân chúng.

 

27

  1. Khi Sê-đê-kia, con trai của Giô-si-a, vua của Giu-đa, bắt đầu trị vì, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 2. Đức Giê-hô-va phán với tôi: Ngươi hãy làm cho mình những dây trói và những cái ách, rồi mang vào cổ. 3. Sau đó, ngươi hãy gửi thông điệp đến cho vua của Ê-đôm, vua của Mô-áp, vua của con cháu Am-môn, vua của Ty-rơ, và vua của Si-đôn, qua trung gian của các sứ thần đến Giê-ru-sa-lem yết kiến Sê-đê-kia, vua của Giu-đa. 4. Hãy truyền cho chúng thưa lại với các chủ của chúng rằng: Đức Giê-hô-va của các đạo quân, Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Ðây là những gì các ngươi phải thưa lại với chủ của các ngươi. 5. Ta là Đấng đã dùng quyền năng lớn lao của Ta và cánh tay giang ra mà tạo dựng trái đất, loài người và loài thú trên mặt đất, rồi ban đất ấy cho ai tùy ý của Ta. 6. Bây giờ, Ta ban tất cả những xứ nầy vào tay của Nê-bu-cát-nê-xa, vua của Ba-by-lôn, là đầy tớ của Ta. Ta cũng ban cho người những thú ngoài đồng để phục vụ người. 7. Tất cả các nước sẽ thần phục người, con trai của người, và cháu nội của người, cho đến khi thời điểm của đất nước đó đến. Lúc đó, nhiều nước và nhiều vua vĩ đại sẽ bắt người làm nô lệ cho chúng.
  2. Nếu dân nào hoặc nước nào không phục dịch vua đó, tức Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, và không mang ách của vua Ba-by-lôn vào cổ của mình, thì Ta sẽ dùng gươm đao, đói kém, dịch bệnh mà trừng phạt dân đó, cho đến khi tay của vua Nê-bu-cát-nết-sa tận diệt chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy. 9. Vì vậy, đừng nghe lời các tiên tri, thầy bói, kẻ bàn mộng, chiêm tinh, phù thủy. Chúng nói với các ngươi rằng: “Quý vị sẽ không phục vụ vua Ba-by-lôn.” 10. Vì chúng chỉ tiên báo giả dối, để các ngươi bị dời khỏi đất nước của mình, khiến Ta phải đuổi các ngươi đi, và rồi các ngươi sẽ bị tiêu diệt. 11. Nhưng dân nào mang ách của vua Ba-by-lôn vào cổ, và phục dịch vua đó, thì Ta sẽ cho tiếp tục ở lại trong xứ của mình để cày cấy và cư ngụ tại đó. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Tôi cũng nói với Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, những điều tương tự: Hãy mang ách của vua Ba-by-lôn vào cổ. Hãy phục dịch vua và dân của vua đó, thì các ngươi sẽ được sống. 13. Tại sao vua và dân của vua lại muốn chết bởi gươm đao, đói kém, dịch bệnh, như lời của Đức Giê-hô-va đã phán với dân tộc nào không phục dịch vua của Ba-by-lôn? 14. Đừng nghe theo lời của bọn tiên tri nói với các ngươi: “Quý vị sẽ không phục dịch vua Ba-by-lôn”, bởi vì đó chỉ là lời tiên tri giả dối mà chúng nói với các ngươi. 15. Đức Giê-hô-va phán: Ta không sai phái chúng, nhưng chúng nhân danh Ta nói tiên tri giả dối. Vì vậy, Ta sẽ đuổi các ngươi đi và tiêu diệt các ngươi chung với các tiên tri đã nói tiên tri cho các ngươi.
  4. Tôi cũng nói với các tư tế và toàn thể dân chúng rằng Đức Giê-hô-va phán: Đừng nghe lời các tiên tri tiên báo với các ngươi rằng: “Không bao lâu nữa các dụng cụ trong nhà Đức Giê-hô-va sẽ được mang trở về từ Ba-by-lôn!” Chúng đã nói những lời tiên tri giả dối với các ngươi. 17. Đừng nghe chúng. Hãy phục vụ vua Ba-by-lôn thì các ngươi sẽ sống. Tại sao thành nầy phải bị hoang tàn? 18. Nếu chúng thật sự là các tiên tri, và lời của Đức Giê-hô-va ở với chúng, thì chúng hãy cầu xin Đức Giê-hô-va vạn quân để những dụng cụ còn sót lại trong nhà của Đức Giê-hô-va, trong cung vua của Giu-đa, và tại Giê-ru-sa-lem, sẽ không bị mang qua Ba-by-lôn.
  5. Vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã phán về các trụ đồng, các bể nước, các chân đế, và những dụng cụ còn sót lại trong thành nầy, 20. tức là những thứ mà Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, chưa mang đi khi bắt Giê-cô-nia, con trai của Giê-hô-gia-kim, vua của Giu-đa, để đày từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn, cùng với những quý tộc của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 21. Thật vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán về các vật dụng còn sót lại trong nhà của Đức Giê-hô-va, trong cung vua của Giu-đa, và trong Giê-ru-sa-lem, rằng: 22. Những vật dụng đó sẽ bị đem qua Ba-by-lôn và giữ tại đó cho đến ngày Ta thăm viếng chúng. Bấy giờ, Ta sẽ đem những thứ đó trở về và để lại chỗ nầy. Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

28

  1. Trong năm đó, khi Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, bắt đầu trị vì, vào tháng Năm của năm thứ tư, Tiên tri Ha-na-nia, con trai của A-xua, từ Ga-ba-ôn, đã nói với tôi trong nhà của Đức Giê-hô-va, trước mặt các tư tế và toàn thể dân chúng rằng: 2. Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán: Ta đã bẻ gãy cái ách của vua Ba-by-lôn. 3. Trong vòng hai năm, Ta sẽ đem trở về nơi nầy tất cả những vật dụng trong nhà của Đức Giê-hô-va mà Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã lấy đi khỏi nơi nầy và đã mang qua Ba-by-lôn. 4. Ta cũng sẽ đem Giê-cô-nia, con trai của Giê-hô-gia-kim, vua của Giu-đa, và mọi người Giu-đa bị lưu đày qua Ba-by-lôn, trở về tại nơi nầy, bởi vì Ta sẽ bẻ gãy cái ách của vua Ba-by-lôn. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  2. Sau đó, Tiên tri Giê-rê-mi đã trả lời Tiên tri Ha-na-nia trước mặt các tư tế và toàn thể dân chúng trong nhà của Đức Giê-hô-va. 6. Tiên tri Giê-rê-mi nói: A-men! Cầu xin Đức Giê-hô-va làm như vậy. Nguyện Đức Giê-hô-va làm ứng nghiệm những lời ông đã nói tiên tri, đem trở về nơi nầy tất cả những vật dụng của nhà Đức Giê-hô-va, và đem về tất cả những người đã bị lưu đày từ Ba-by-lôn. 7. Nhưng bây giờ xin hãy lắng nghe lời nầy, mà tôi nói vào tai của ông và vào tai của toàn thể dân chúng. 8. Các tiên tri sống trước ông và tôi trong thời xa xưa đã nói tiên tri về chiến tranh, nạn đói, và ôn dịch chống lại các dân và các vương quốc lớn. 9. Tiên tri nào nói tiên tri về hòa bình, chỉ khi nào hòa bình thật sự xảy ra thì người ta mới biết rằng quả thật Đức Giê-hô-va đã sai tiên tri đó.
  3. Sau đó, Tiên tri Ha-na-nia đã lấy cái ách ra khỏi cổ của Tiên tri Giê-rê-mi, rồi bẻ gãy nó. 11. Ha-na-ni-a nói trước mắt toàn thể dân chúng rằng: Đức Giê-hô-va phán: Trong vòng hai năm, Ta cũng sẽ bẻ gãy cái ách của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, khỏi cổ của mọi dân tộc giống như vậy. Sau đó, Tiên tri Giê-rê-mi đã rời đi.
  4. Sau khi Tiên tri Ha-na-nia bẻ gãy cái ách ra khỏi cổ của Tiên tri Giê-rê-mi, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 13. Hãy đi nói với Ha-na-nia rằng Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi đã bẻ gãy cái ách bằng gỗ, nhưng ngươi sẽ làm cái ách bằng sắt để thế vào đó. 14. Bời vì Đức Giê-hô-va của các đạo quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Ta đã đặt cái ách bằng sắt trên cổ tất cả các nước nầy, để chúng phải phục dịch Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, nên chúng đã phải phục dịch vua đó. Ngay cả thú vật ngoài đồng Ta cũng giao cho vua đó.
  5. Tiên tri Giê-rê-mi đã nói với Tiên tri Ha-na-nia: Hỡi Ha-na-nia, hãy nghe! Đức Giê-hô-va không hề sai phái ông, nhưng ông đã làm cho dân nầy tin cậy vào sự dối trá. 16. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ cất ngươi khỏi mặt đất. Ngươi sẽ chết trong năm nay vì ngươi đã hô hào nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va.
  6. Tiên tri Ha-na-nia đã chết vào tháng bảy cùng năm đó.

 

29

  1. Đây là lời của bức thư mà Tiên tri Giê-rê-mi đã gởi từ Giê-ru-sa-lem cho các trưởng lão còn sống sót bị lưu đày, cùng với các tư tế, các tiên tri, và tất cả những người đã bị Nê-bu-cát-nết-sa lưu đày từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn. 2. Điều nầy xảy ra sau khi vua Giê-cô-nia, thái hậu, các hoạn quan, các lãnh đạo của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, những người thợ thủ công và thợ rèn đã bị đem đi khỏi Giê-ru-sa-lem. 3. Bức thư, đã được trao cho Ê-lê-a-sa, con trai của Sa-phan, và Ghê-ma-ria, con trai của Hinh-kia, là hai người mà Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, đã cử sang Ba-by-lôn để yết kiến Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, nói rằng:
  2. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán với những người bị lưu đày, tức là những người mà Ta khiến phải bị lưu đày từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn. 5. Hãy xây nhà và ở. Hãy trồng vườn cây và ăn trái. 6. Hãy cưới vợ, sinh con trai con gái. Hãy cưới vợ cho con trai, gả chồng cho con gái, để chúng sinh con cái. Hãy gia tăng tại đó, đừng suy giảm. 7. Hãy tìm cầu sự bình an thịnh vượng cho thành phố nơi Ta đày các ngươi đến. Hãy vì thành đó mà cầu xin Đức Giê-hô-va, bởi vì sự bình an thịnh vượng của các ngươi tùy thuộc vào sự bình an thịnh vượng của thành đó.
  3. Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Đừng để các tiên tri, các thầy bói ở giữa các ngươi lừa gạt các ngươi. Cũng đừng chú ý đến các chiêm bao của các ngươi, là những điều các ngươi mơ ước. 9. Bởi vì chúng đã nhân danh Ta nói với các ngươi những lời dối trá. Ta không hề sai chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Bởi vì đây là điều Đức Giê-hô-va phán: Sau khi bảy mươi năm tại Ba-by-lôn hoàn tất, Ta sẽ thăm viếng các ngươi, sẽ làm trọn những lời tốt lành dành cho các ngươi, và sẽ khiến cho các ngươi được trở về nơi nầy. 11. Đức Giê-hô-va phán: Vì Ta biết những chương trình của Ta sẽ làm cho các ngươi, đó là những chương trình để các ngươi được bình an thịnh vượng, không phải bị tổn hại, nhưng để ban cho các ngươi một tương lai và hy vọng. 12. Lúc đó các ngươi sẽ kêu cầu Ta. Các ngươi hãy đến và cầu nguyện với Ta, Ta sẽ nhậm lời cầu xin của các ngươi. 13. Các ngươi sẽ tìm kiếm Ta và sẽ gặp, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng. 14. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ cho các ngươi gặp được Ta. Ta sẽ phục hồi các ngươi. Ta sẽ tập họp các ngươi lại từ mọi nước và mọi nơi mà Ta đã đưa các ngươi đến. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ đem các ngươi trở về nơi mà từ đó Ta đã khiến các ngươi bị lưu đày.
  5. Bởi vì các người nói Đức Giê-hô-va đã dấy lên cho chúng tôi những tiên tri tại Ba-by-lôn, 16. cho nên Đức Giê-hô-va đã phán thế như nầy về vị vua đang ngồi trên ngôi Đa-vít và tất cả những người đang cư ngụ trong thành nầy, cũng như về anh em của các ngươi, là những người đã không bị lưu đày với các ngươi. 17. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán như vầy: Nầy, Ta sẽ sai gươm đao, đói kém, và dịch bệnh đến trên chúng. Ta sẽ làm cho chúng giống như những trái vả thối rữa, chúng bị hư hoại nên không thể ăn được. 18. Ta sẽ sai gươm đao, đói kém và dịch bệnh đuổi theo chúng, và khiến chúng bị xua đuổi trong mọi vương quốc trên đất, trở thành một lời nguyền rủa, bị kinh tởm, bị đàm tiếu, bị sỉ nhục trong tất cả những nước mà Ta đưa chúng đến. 19. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì chúng đã không nghe những lời của Ta, mà Ta đã truyền cho chúng bởi những đầy tớ của Ta, là các tiên tri mà Ta đã dậy sớm sai đến, nhưng chúng không nghe. Đức Giê-hô-va phán. 20. Vì vậy, các ngươi là những kẻ lưu đày mà Ta đã đem từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
  6. Đây là điều mà Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán về A-háp, con trai của Cô-la-gia, và về Sê-đê-kia, con trai của Ma-a-xê-gia, là những kẻ đã nhân danh Ta nói tiên tri giả dối. Nầy, Ta sẽ phó chúng vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn. Người sẽ giết chúng trước mắt các ngươi. 22. Tất cả những người Giu-đa bị lưu đày tại Ba-by-lôn sẽ dùng chúng làm lời nguyền rủa: “Nguyện Đức Giê-hô-va làm cho ngươi giống như Sê-đê-kia và A-háp, là hai kẻ mà vua Ba-by-lôn đã quay trong lửa.” 23. Bởi vì chúng đã làm những chuyện đồi bại trong Y-sơ-ra-ên. Chúng đã phạm tội ngoại tình với vợ của những người khác, và chúng đã nhân danh Ta mà nói dối, nói những lời Ta không hề truyền cho chúng. Ta biết và xác chứng điều đó. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  7. Ngươi hãy nói với Sê-ma-gia ở Nê-hê-lam. 25. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Ngươi đã nhân danh chính mình gởi thư cho tất cả những người ở Giê-ru-sa-lem, cho Sô-phô-ni, con trai tư tế Ma-a-xê-gia, và cho tất cả tư tế rằng: 26. Đức Giê-hô-va đã lập ông làm tư tế thay cho Tư tế Giê-hô-gia-đa để cai quản nhà của Đức Giê-hô-va, để ra lệnh cùm chân, đeo gông vào cổ mọi kẻ điên khùng nổi lên nói tiên tri. 27. Như vậy tại sao ông không khiển trách Giê-rê-mi, người A-na-tốt, đang nói tiên tri về các ông? 28. Người đã gởi thư đến Ba-by-lôn, nói với chúng tôi: Thời kỳ lưu đày còn lâu. Hãy xây nhà và ở. Hãy trồng vườn cây và ăn trái.
  8. Tư tế Sô-phô-ni đã đọc thư nầy vào tai của Tiên tri Giê-rê-mi. 30. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi: 31. Hãy gửi thông điệp nầy đến tất cả những người đang bị lưu đày. Đức Giê-hô-va phán về Sê-ma-gia, người Nê-hê-lam như sau: Sê-ma-gia đã nói tiên tri cho các ngươi, làm cho các ngươi tin vào điều gian dối, dù Ta không hề sai pnó. 32. Vì vậy, đây là điều mà Đức Giê-hô-va đã phán: Nầy, Ta sẽ trừng phạt Sê-ma-gia, người Nê-hê-lam, và dòng dõi của nó. Không một ai trong dòng dõi của nó sẽ còn sống ở giữa dân nầy. Chính nó cũng sẽ không thấy phước lành mà Ta sẽ làm cho dân của Ta, bởi vì nó đã dạy dỗ sự phản loạn cùng Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

30

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 2. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Hãy chép mọi lời mà Ta đã truyền cho ngươi vào một quyển sách. 3. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ đem Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, là dân của Ta, trở về từ cảnh lưu đày. Ta sẽ khiến chúng trở về trong xứ mà Ta đã ban cho tổ phụ của chúng, và chúng sẽ nhận đất đó làm sản nghiệp. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  2. Đây là những lời Đức Giê-hô-va đã phán về Y-sơ-ra-ên và Giu-đa: 5. Đức Giê-hô-va phán: Vì chúng ta nghe có tiếng run rẩy, sợ hãi, nhưng không phải là bình an; 6. hãy dò hỏi xem đàn ông có sinh được không? Tại sao Ta thấy tất cả những người nam mặt mày đều tái xanh, hai tay ôm bụng như phụ nữ đang sinh đẻ? 7. Ôi! Ngày đó thật kinh hoàng, chưa có ngày nào giống như ngày đó. Đó là thời kỳ khốn đốn cho Gia-cốp, nhưng nó sẽ được giải cứu.
  3. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Trong ngày đó, Ta sẽ bẻ cái ách khỏi cổ của chúng, sẽ bứt dây trói buộc chúng, dân ngoại sẽ không bắt chúng phục dịch nữa. 9. Nhưng chúng sẽ phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng, và vua của chúng là Đa-vít, mà Ta sẽ dấy lên cho chúng.
  4. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Gia-cốp, tôi tớ của Ta, đừng khiếp sợ. Hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ kinh hãi. Vì nầy, Ta sẽ cứu ngươi từ chốn xa xăm, và cứu dòng dõi của ngươi từ đất lưu đày. Gia-cốp sẽ trở về, nghỉ ngơi, yên ổn, không còn sợ hãi ai cả. 11. Bởi vì Ta đang ở với ngươi để giải cứu ngươi – Đức Giê-hô-va phán – Ta sẽ hủy diệt cho đến tận cùng những nước mà Ta đã phân tán các ngươi đến, nhưng Ta sẽ không hoàn toàn hủy diệt ngươi. Ta sẽ sửa trị ngươi đúng mức. Ta chắc chắn sẽ không để cho ngươi thoát khỏi bị sửa phạt.
  5. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Vết thương của ngươi không thể chữa lành. Thương tích của ngươi quá trầm trọng. 13. Không ai nài xin cho ngươi, không ai băng bó, nên vết thương sẽ không được lành. 14. Tất cả những tình nhân của ngươi đã quên ngươi, chúng không còn tìm kiếm ngươi nữa; vì Ta đã đánh ngươi trọng thương như đả thương một kẻ thù và dùng một hình phạt khốc liệt, bởi vì tội của ngươi gia tăng và tội lỗi của ngươi quá nhiều. 15. Tại sao ngươi kêu van vì vết thương của ngươi? Thương tích của ngươi không thể chữa lành được, bởi vì tội của ngươi gia tăng và tội lỗi của ngươi quá nhiều cho nên Ta đã làm những điều nầy cho ngươi.
  6. Vì vậy, tất cả những kẻ đã ăn nuốt ngươi sẽ bị ăn nuốt; tất cả những kẻ thù của ngươi, không chừa một người nào, sẽ bị đem đi lưu đày; những kẻ cướp đoạt ngươi sẽ bị cướp đoạt; tất cả những kẻ đã rình rập hãm hại ngươi sẽ bị rình rập hãm hại. 17. Nhưng Ta sẽ phục hồi sức khỏe của ngươi, chữa lành những vết thương của ngươi – Đức Giê-hô-va phán – Bởi vì chúng đã gọi ngươi là kẻ bị ruồng bỏ, là Si-ôn không ai thèm ngó ngàng.
  7. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ đem lều trại của Gia-cốp trở về từ chốn lưu đày. Ta thương xót những nơi ở của nó. Thành nầy sẽ được xây lại trên đống hoang tàn, và cung điện sẽ được dựng lại ngay trên vị trí cũ. 19. Từ những nơi đó sẽ vang lên tiếng cảm tạ và âm thanh của những kẻ vui mừng. Ta sẽ làm cho chúng gia tăng không bị suy giảm. Ta sẽ làm cho chúng được tôn trọng, không yếu hèn. 20. Con cái của chúng sẽ trở lại như trước. Cộng đồng của chúng sẽ được vững lập trước mặt Ta. Ta sẽ trừng phạt tất cả những kẻ hà hiếp chúng. 21. Lãnh đạo của chúng sẽ là một người ở giữa chúng. Kẻ cầm quyền của chúng sẽ từ giữa chúng mà ra. Ta sẽ cho người đó đến gần, và người đó sẽ được đến gần Ta, bởi vì ai dám cả gan tự động đến gần Ta? Đức Giê-hô-va phán vậy. 22. Các ngươi sẽ là dân của Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của các ngươi.
  8. Kìa, cơn bão của Đức Giê-hô-va! Cơn giận của Ngài đã bừng lên. Giông bão đang quay cuồng và sẽ giáng xuống trên đầu của những kẻ gian ác. 24. Cơn giận bừng bừng của Đức Giê-hô-va sẽ không nguôi cho đến khi Ngài thực hiện và hoàn tất tất cả những điều mà lòng Ngài đã định. Ðiều đó sau này các ngươi sẽ hiểu.

 

31

  1. Đức Giê-hô-va phán: Lúc đó, Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của tất cả các gia tộc của Y-sơ-ra-ên, và chúng sẽ làm dân của Ta.
  2. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Những kẻ thoát khỏi gươm đao đã tìm được ân huệ trong nơi hoang vắng. Ta đã đến để ban cho Y-sơ-ra-ên được an nghỉ. 3. Từ xưa, Đức Giê-hô-va đã hiện ra cùng tôi: Ta đã yêu thương ngươi bằng một tình yêu đời đời. Vì vậy, Ta lấy lòng nhân từ mà thu hút ngươi. 4. Ta sẽ xây dựng ngươi trở lại, rồi ngươi sẽ được xây dựng lại. Hỡi trinh nữ của Y-sơ-ra-ên! Ngươi hãy trang hoàng các trống tay, rồi đi ra nhảy múa cách vui mừng. 5. Ngươi sẽ trồng các vườn nho trở lại trên những ngọn núi tại Sa-ma-ri. Các nông dân sẽ trồng trọt và họ sẽ vui hưởng hoa lợi của mình. 6. Bởi vì sẽ có ngày những người canh giữ những ngọn núi của Ép-ra-im sẽ hô lên: Hãy đứng dậy! Chúng ta hãy đi lên Si-ôn để đến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta.
  3. Vì Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy trỗi tiếng hoan ca về Gia-cốp. Hãy reo hò về lãnh tụ của các dân tộc. Hãy công bố, hãy ca ngợi, rồi nói rằng: Đức Giê-hô-va ôi! Xin giải cứu dân của Ngài – là những người còn sót lại của Y-sơ-ra-ên.
  4. Nầy, Ta sẽ đem chúng từ đất phương bắc trở về. Ta sẽ tụ họp chúng từ các nơi tận cùng của trái đất. Giữa vòng họ, có người mù, người què, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang chuyển bụng. Họ sẽ hợp thành một đoàn người đông đảo để trở về nơi nầy.
  5. Họ sẽ đến, khóc lóc, và thỉnh cầu. Ta sẽ dẫn họ đi bên cạnh những dòng nước, trên con đường ngay thẳng để họ không bị vấp ngã; bởi vì Ta là cha của Y-sơ-ra-ên, và Ép-ra-im là con đầu lòng của Ta.
  6. Hỡi các dân tộc! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Hãy công bố lời của Ngài cho các hải đảo xa xôi rằng Đấng đã làm tan lạc Y-sơ-ra-ên sẽ tập trung chúng lại. Ngài sẽ chăn giữ họ như người chăn canh giữ bầy chiên; 11. bởi vì Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, Ngài đã giải cứu họ khỏi tay kẻ mạnh hơn họ. 12. Họ sẽ đến hát trên đỉnh Si-ôn. Họ sẽ rạng rỡ vì những phước hạnh của Đức Giê-hô-va, về lúa mì, rượu mới, và dầu, chiên con và bò con. Tâm hồn của họ sẽ như một khu vườn năng tưới. Họ không còn u sầu nữa. 13. Bấy giờ, các trinh nữ sẽ vui mừng nhảy múa, thanh niên và bô lão sẽ hiệp với nhau. Ta sẽ biến tang chế ra vui mừng. Ta sẽ an ủi họ, ban cho họ niềm vui thay vì thảm sầu. 14. Ta sẽ ban cho các tư tế được thỏa thuê dư dật. Dân của Ta sẽ đầy dẫy những vật tốt lành. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  7. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Tiếng than khóc nghe vang từ Ra-ma. Ra-chên đang khóc các con cháu của mình cách cay đắng. Nàng khước từ an ủi bởi vì con cháu của nàng không còn nữa.
  8. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy ngừng khóc than! Hãy kiềm chế nước mắt, bởi vì công việc của ngươi sẽ được tưởng thưởng. Từ xứ sở của kẻ thù, họ sẽ trở về. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  9. Đức Giê-hô-va phán: Có hy vọng cho tương lai. Con cháu của ngươi sẽ trở về những bờ cõi của chúng. 18. Thật vậy, Ta đã nghe tiếng thở than của Ép-ra-im: Ngài đã sửa phạt con. Con bị sửa phạt giống như một con bò tơ chưa quen ách. Xin phục hồi con, thì con sẽ được trở về, bởi vì Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. 19. Thật vậy, sau khi con tẻ hướng, con đã ăn năn. Sau khi con hiểu biết, con đã vỗ đùi tiếc nuối. Con bị xấu hổ thậm chí bị sỉ nhục. Con đã bị khiển trách vì những lỗi lầm cưu mang trong thời niên thiếu của con.
  10. Ép-ra-im không phải là con yêu dấu của Ta hay sao? Nó không phải là đứa con mà Ta yêu thích hay sao? Dù Ta thường la rầy nó, Ta vẫn luôn nhớ nó tha thiết và lòng Ta mong chờ nó. Thật vậy, Ta sẽ thương xót nó. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  11. Hãy dựng những bảng chỉ đường. Ngươi hãy làm những vật đánh dấu cho chính mình. Hãy nhớ lại con đường chính, và con đường mà ngươi đã đi qua. Hỡi các trinh nữ Y-sơ-ra-ên, hãy trở về. Hãy trở về những thành phố của ngươi. 22. Đứa con gái bội nghịch ơi! Ngươi còn do dự cho đến bao giờ? Vì Đức Giê-hô-va đã làm một điều mới trên đất: Người nữ sẽ bảo bọc người nam.
  12. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên, phán: Khi Ta đem những người lưu đày trở về, thì lời nầy sẽ được dùng trở lại trong xứ Giu-đa và trong các thành của nó: “Hỡi nơi ngự của sự công chính! Hỡi núi thánh! Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi!” 24. Giu-đa cùng với tất cả những thành của nó tự sống với nhau cùng với các nông dân và những người chăn bầy. 25. Bởi vì Ta đã làm cho những tấm lòng mệt mỏi được tươi mới, và mọi người kiệt quệ được bồi bổ.
  13. Đến đây, tôi thức giấc, nhìn chung quanh, và giấc ngủ của tôi thật tốt lành.
  14. Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đến, Ta sẽ lấy giống người và giống thú vật mà gieo trong nhà của Y-sơ-ra-ên và trong nhà của Giu-đa. 28. Như Ta đã canh chừng để chúng bị bứng gốc, bị phá sập, bị triệt hạ, bị tiêu diệt và bị giáng họa thế nào, thì Ta cũng sẽ canh chừng để chúng được xây dựng, được vun trồng cũng như vậy.

Đức Giê-hô-va phán: 29. Trong những ngày đó, người ta sẽ không còn nói: “Ông cha ăn nho chua mà con cháu bị ê buốt răng.” 30. Nhưng mỗi người sẽ chết vì sự sai phạm của chính mình. Người nào ăn nho chua thì răng của người đó bị ê buốt.

  1. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. 32. Giao ước nầy sẽ không giống như giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ của chúng trong ngày Ta cầm tay dắt chúng ra khỏi đất Ai Cập. Chúng đã phá vỡ giao ước của Ta, dù Ta là Chồng của chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  2. Sau những ngày đó, đây là giao ước mà Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên – Đức Giê-hô-va phán – Ta sẽ đặt luật pháp của Ta vào tâm trí của chúng, và khắc ghi lên tấm lòng của chúng. Ta sẽ là Đức Chúa Trời của chúng và chúng sẽ là dân của Ta. 34. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo từng người lân cận của mình hay từng anh em của mình rằng: “Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va!” – bởi vì tất cả sẽ biết Ta, từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì Ta sẽ tha thứ những sai phạm của chúng và không nhớ đến tội lỗi của chúng nữa.
  3. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đấng ban mặt trời làm ánh sáng ban ngày, ban những quy luật cho mặt trăng, các ngôi sao soi sáng ban đêm, và khuấy động biển cả cho sóng của nó gào thét – Danh của Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. 36. Khi nào những quy luật đó lìa khỏi trước mặt Ta, thì khi đó dòng giống Y-sơ-ra-ên mới vĩnh viễn không còn là một dân tộc trước mặt của Ta nữa. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nếu các tầng trời trên cao có thể đo được, hay những nền tảng bên dưới đất có thể thăm dò được; thì Ta sẽ từ bỏ tất cả dòng giống Y-sơ-ra-ên vì tất cả những việc mà chúng đã làm. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  5. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, khi thành được xây lại cho Đức Giê-hô-va, từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến Cổng Góc, 39. nhưng dây đo sẽ đi ra xa hơn chạy thẳng đến đồi Ga-rép, rồi vòng qua Gô-a. 40. Cả thung lũng đầy xác chết và tro, cả cánh đồng chạy đến suối Xết-rôn và đến góc Cổng Ngựa về phía đông sẽ được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Nó sẽ vĩnh viễn không bị đào lên hay triệt hạ nữa.

 

32

  1. Vào năm thứ mười khi Sê-đê-kia làm vua của Giu-đa, tức là năm thứ mười tám của triều đại Nê-bu-cát-nết-sa, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 2. Lúc đó quân đội của vua Ba-by-lôn đang bao vây Giê-ru-sa-lem và Tiên tri Giê-rê-mi đang bị giam giữ trong sân của vệ binh tại cung điện của vua Giu-đa.
  2. Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, đã giam ông và nói: Tại sao ngươi dám nói tiên tri là Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay của vua Ba-by-lôn và người sẽ chiếm thành. 4. Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, sẽ không thoát khỏi tay của người Canh-đê, nhưng sẽ bị nộp vào tay của vua Ba-by-lôn. Ông sẽ nhìn thấy người tận mắt và sẽ nói chuyện mặt đối mặt. 5. Người sẽ giải Sê-đê-kia sang Ba-by-lôn, và sẽ ở đó cho đến khi Ta thăm viếng. Dù các ngươi có kháng cự người Canh-đê, cũng sẽ không thành công. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Giê-rê-mi nói: Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 7. Nầy, Ha-na-mê-ên, con trai của Sa-lum – chú của ngươi, sẽ đến nói với ngươi rằng: Anh hãy mua cánh đồng của tôi tại A-na-tốt, bởi vì đó là quyền của anh để mua chuộc nó.
  4. Sau đó, đúng như lời của Đức Giê-hô-va, Ha-na-mê-ên, con trai của chú tôi, đã đến gặp tôi bị giam giữ trong sân của vệ binh, rồi nói: “Xin anh hãy mua lại cánh đồng của tôi tại A-na-tốt trong xứ Bên-gia-min, bởi vì anh có quyền chuộc và sở hữu nó. Xin hãy mua nó cho chính anh.” Khi đó, tôi biết rằng đó là lời của Đức Giê-hô-va.
  5. Vì vậy, tôi đã mua cánh đồng của Ha-na-mê-ên, con trai của chú tôi, tại A-na-tốt. Tôi đã cân cho mười bảy siếc-lơ bạc cho người. 10. Tôi đã ký giấy chủ quyền, và niêm phong lại trước những nhân chứng, rồi cân bạc để trả. 11. Tôi nhận giấy chủ quyền đã mua, được niêm phong với những điều khoản quy định, và một bản để ngỏ.
  6. Tôi trao cho Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia, cháu của Ma-a-xê-gia, trước sự hiện diện của Ha-na-mê-ên, con trai của chú tôi, và trước sự hiện diện của những người làm chứng đã ký tên vào giấy chủ quyền đã mua, cũng như trước mặt tất cả những người Giu-đa đang ngồi tại nơi bị giam giữ trong sân của vệ binh. 13. Trước mặt những người đó, tôi ra lệnh cho Ba-rúc rằng: 14. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Hãy đem những giấy chủ quyền nầy, cả giấy chủ quyền đã mua được niêm phong lẫn giấy chủ quyền để ngỏ, cất vào một chiếc bình bằng đất, để chúng được bảo quản lâu ngày. 15. Vì Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Người ta sẽ mua nhà, ruộng, và vườn nho trong xứ nầy trở lại.
  7. Sau khi tôi trao giấy chủ quyền đã mua cho Ba-rúc, con của Nê-ri-a, tôi đã cầu nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: 17. Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va. Ngài đã dựng nên trời và đất bằng quyền năng lớn lao và bằng cánh tay giang ra của Ngài. Không có việc gì khó quá cho Ngài. 18. Ngài bày tỏ lòng nhân từ cho hằng ngàn đời, nhưng chỉ phạt tội của cha ông đến đời con cháu. Đức Chúa Trời vĩ đại quyền uy! Danh của Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. 19. Kế hoạch của Ngài thật lớn lao, công việc của Ngài thật quyền năng. Mắt của Ngài nhìn thấy mọi đường lối của con cái loài người để báo trả cho mỗi người tùy theo đường lối của họ và tùy theo hậu quả của việc họ làm. 20. Ngài đã thực hiện những dấu kỳ phép lạ trong đất Ai Cập, và cho đến ngày nay, trong Y-sơ-ra-ên và trong những nơi khác. Ngài đã làm cho danh của Ngài nổi tiếng như hiện nay. 21. Ngài đã đem Y-sơ-ra-ên, là dân của Ngài ra khỏi đất Ai Cập bằng những dấu kỳ và phép lạ, bằng bàn tay quyền năng và cánh tay giang ra với sự kinh khiếp lớn lao. 22. Ngài đã ban cho họ xứ nầy, là xứ mà Ngài đã thề ban cho tổ phụ của họ, một vùng đất đượm sữa và mật. 23. Họ đã vào và nhận nó làm sản nghiệp, nhưng họ không vâng theo tiếng của Ngài, hay đi theo luật pháp của Ngài. Họ không thực hành một điều nào trong tất cả những điều mà Ngài truyền cho họ. Vì vậy, Ngài đã giáng tất cả những tai ương nầy trên họ. 24. Kìa! Những ụ đất tấn công đã vươn tới thành để chiếm lấy nó. Vì gươm đao, đói kém, dịch bệnh, nên thành bị trao vào tay của người Canh-đê đang tranh chiến với nó. Điều Ngài phán đã xảy ra, và Ngài thấy điều đó. 25. Lạy Chúa, là Giê-hô-va! Ngài đã bảo con: “Hãy lấy bạc mua cánh đồng, và mời người làm chứng”, nhưng thành đã rơi vào tay của người Canh-đê.
  8. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 27. Nầy, Ta là Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của mọi loài xác thịt. Có việc gì quá khó cho Ta chăng? 28. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay của người Canh-đê, vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn. Người sẽ chiếm thành. 29. Những người Canh-đê đang tấn công thành nầy sẽ tiến vào, phóng hỏa đốt thành nầy, thiêu hủy những căn nhà mà người ta đã dâng hương cho Ba-anh trên mái và làm lễ quán cho các thần khác, để chọc giận Ta. 30. Vì con cái của Y-sơ-ra-ên và con cái của Giu-đa từ thời niên thiếu, chỉ biết làm điều gian ác trước mặt Ta. Thật vậy, con cái của Y-sơ-ra-ên chỉ biết chọc giận Ta bằng những công việc của tay chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy. 31. Từ ngày được dựng lên cho đến bây giờ, thành nầy đã làm cho Ta bực tức và giận dữ. Ta sẽ loại bỏ nó khỏi mặt của Ta. 32. Bởi vì tất cả những gian ác mà con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa đã làm để chọc giận Ta – Chúng nó, các vua của chúng nó, các lãnh đạo của chúng nó, các tiên tri của chúng nó, các tư tế của chúng nó, dân Giu-đa, và dân cư tại Giê-ru-sa-lem 33. không quay mặt nhưng quay lưng lại với Ta. Dù Ta có dạy chúng, dậy sớm để hướng dẫn chúng, chúng vẫn không nghe và không tiếp nhận lời dạy dỗ. 34. Chúng đã đặt những vật kinh tởm trong nhà được gọi bằng danh của Ta, để làm cho nơi đó bị ô uế. 35. Chúng đã xây những nơi cao cho Ba-anh trong thung lũng Ben Hi-nôm để dâng con trai con gái mình cho Mo-lóc. Đó là điều mà Ta không truyền dạy, cũng không nghĩ rằng chúng có thể làm điều ghê tởm như thế, để làm cho Giu-đa phạm tội.
  9. Vì vậy, bây giờ Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán về thành nầy, mà các ngươi nói rằng nó sẽ rơi vào tay của vua Ba-by-lôn bởi gươm đao, đói kém, dịch bệnh, như sau: 37. Nầy, Ta sẽ tập hợp chúng từ mọi nước mà Ta đã đưa chúng đến đó trong cơn nóng giận, thịnh nộ và phẫn nộ của Ta. Ta sẽ đem chúng trở về nơi nầy và cho chúng sống bình yên. 38. Chúng sẽ làm dân của Ta, và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng. 39. Ta sẽ ban cho chúng một tấm lòng, một đường lối, để chúng luôn luôn kính sợ Ta, vì lợi ích của chúng và con cháu hậu tự của chúng. 40. Ta sẽ lập với chúng một giao ước đời đời. Ta sẽ không lìa bỏ chúng nhưng ban phước cho chúng. Ta sẽ đặt sự kính sợ Ta vào trong lòng của chúng để chúng không lìa bỏ Ta. 41. Ta sẽ lấy làm vui mà ban phước cho chúng. Với tất cả tấm lòng và tất cả tâm trí, chắc chắn Ta sẽ trồng chúng trong đất này. 42. Đức Giê-hô-va phán: Như Ta đã giáng tất cả những tai vạ khủng khiếp trên dân nầy, Ta cũng sẽ giáng trên chúng mọi phước lành mà Ta đã hứa với chúng. 43. Người ta sẽ mua ruộng trong xứ nầy, là xứ mà các ngươi nói rằng: Đó là một nơi hoang vu, không có loài người, cũng không có loài thú, đã bị trao vào tay của người Canh-đê. 44. Người ta sẽ dùng bạc để mua ruộng, ký giấy chủ quyền, rồi niêm phong lại trước những nhân chứng trong đất Bên-gia-min, trong các miền chung quanh Giê-ru-sa-lem, trong các thành của Giu-đa, trong các thành trên các cao nguyên, trong các thành dưới các thung lũng, và trong các thành ở miền nam, vì Ta sẽ đem những kẻ bị lưu đày của họ trở về. Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

33

  1. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va đến với Giê-rê-mi lần thứ hai trong khi ông bị giam trong sân của vệ binh.
  2. Đức Giê-hô-va là Đấng đã làm nên việc nầy. Đức Giê-hô-va là Đấng đã hình thành và thiết lập việc nầy, danh Ngài là Đức Giê-hô-va, đã phán: 3. Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời. Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và diệu kỳ, là những việc ngươi chưa từng biết. 4. Bởi vì đây là điều mà Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán về những ngôi nhà trong thành nầy và những cung điện của vua Giu-đa đã bị triệt hạ vì chống lại việc đắp đồn vây hãm và gươm đao. 5. Khi giao chiến với người Canh-đê, những ngôi nhà nầy sẽ đầy xác của những kẻ mà Ta đã giết trong cơn nóng giận và thịnh nộ của Ta, bởi vì tất cả những sự gian ác của thành nầy đã khiến Ta ngoảnh mặt khỏi nó.
  3. Nầy, Ta sẽ đem đến cho nó sự phục hồi và chữa lành. Ta sẽ chữa lành cho chúng và bày tỏ cho chúng sự hòa bình thịnh vượng và ổn định. 7. Ta sẽ đem những kẻ lưu đày của Giu-đa và Y-sơ-ra-ên trở về, rồi tái lập chúng như thuở ban đầu. 8. Ta sẽ thanh tẩy tất cả những việc gian ác mà chúng đã phạm cùng Ta. Ta sẽ tha thứ tất cả những việc gian ác mà chúng đã làm để chống lại Ta. 9. Nó sẽ đem lại cho Ta danh tiếng, sự vui mừng, ca ngợi, và vinh quang trước mặt tất cả các dân tộc trên trái đất. Những người nào nghe về tất cả những phước hạnh mà Ta đã ban cho chúng, họ sẽ khiếp sợ và kinh ngạc trước tất cả những phước hạnh và tất cả sự hòa bình thịnh vượng mà Ta ban cho nó.
  4. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đây là nơi mà các ngươi đã nói “Đó là một nơi hoang vu, không còn có người, cũng không có loài thú”, thì các thành của Giu-đa và các đường phố của Giê-ru-sa-lem – tức là những nơi đã bị hoang vu không có người, không có dân cư, cũng không có loài thú – sẽ huyên náo trở lại, 11. sẽ có tiếng reo mừng, tiếng hân hoan, tiếng của chàng rể, tiếng của cô dâu, tiếng hát của những người đem tế lễ tạ ơn vào trong nhà của Đức Giê-hô-va, rằng: “Hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va của các đạo quân, vì Đức Giê-hô-va thật tốt lành và tình thương của Ngài còn đến đời đời.” Bởi vì Ta sẽ đem những kẻ lưu đày trở về xứ sở như lúc ban đầu. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  5. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Tại nơi hoang vu nầy, là nơi không có người hay thú vật, thì trong mọi thành của nó sẽ có chỗ cho người chăn chiên và bầy súc vật nằm nghỉ. 13. Trong các thành ở miền núi, các thành ở Sơ-phê-la, các thành ở miền Nam, trong đất Bên-gia-min, trong các làng phụ cận của Giê-ru-sa-lem, và trong các thành của Giu-đa, những bầy chiên sẽ lại đi qua dưới bàn tay của người đếm chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  6. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ hoàn thành điều tốt lành mà Ta đã hứa với nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa. 15. Trong những ngày đó, vào đúng thời điểm, Ta sẽ khiến một Nhánh công chính đâm chồi từ dòng Đa-vít. Người sẽ thực thi sự công lý và chính trực trên đất. 16. Trong những ngày đó, Giu-đa sẽ được giải cứu và Giê-ru-sa-lem sẽ sống an bình. Thành sẽ mang tên là: “Đức Giê-hô-va, sự công chính của chúng tôi.” 17. Vì đây là điều Đức Giê-hô-va phán: Đa-vít sẽ không thiếu người ngự trên ngôi của nhà Y-sơ-ra-ên. 18. Các tư tế thuộc dòng Lê-vi cũng không bao giờ thiếu người đứng trước mặt Ta để dâng tế lễ thiêu, đốt tế lễ chay, và dâng sinh tế hằng ngày.
  7. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi: 20. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nếu các ngươi có thể phá vỡ giao ước của Ta với ban ngày và giao ước của Ta với ban đêm, để chúng không đến đúng chu kỳ của ngày và đêm, 21. thì giao ước của Ta với Ða-vít, là tôi tớ của Ta, sẽ không có con cháu trị vì trên ngôi của nó, và với các tư tế và dòng Lê-vi, là những người phục vụ Ta, có thể bị phá bỏ. 22. Không ai có thể đếm được số lượng các tinh tú ở trên trời hay đo lường cát của biển. Ta cũng sẽ làm cho con cháu của Đa-vít, là tôi tớ của ta, và con cháu của Lê-vi, người phục vụ Ta, gia tăng như vậy.
  8. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi: 24. Ngươi không thấy những người nầy đã nói: “Hai gia tộc mà Đức Giê-hô-va đã chọn, Ngài đã bỏ họ rồi.” Vì vậy, chúng khinh bỉ dân của Ta, và chúng không xem họ là một dân nữa. 25. Đức Giê-hô-va phán: Nếu Ta không lập giao ước với ngày và đêm, và không chỉ định luật lệ cho trời và đất, 26. thì Ta sẽ từ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và Đa-vít, là đầy tớ của Ta, và sẽ không chọn một ai trong dòng dõi của người để cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Bởi vì Ta sẽ đem những kẻ lưu đày trở về và sẽ thương xót chúng.

 

34

  1. Khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, cùng toàn thể quân lực của vua, tất cả những vương quốc trên đất dưới quyền tể trị của vua và tất cả những dân tộc dưới quyền tể trị của vua, tấn công Giê-ru-sa-lem và những thành trực thuộc, có lời từ Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 2. Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Ngươi hãy đến nói với Sê-đê-kia, vua của Giu-đa. Hãy bảo người rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay của vua Ba-by-lôn, người sẽ dùng lửa đốt nó. 3. Ngươi sẽ không thoát khỏi tay của người, nhưng chắc chắn ngươi sẽ bị bắt, và bị nộp vào tay người. Ngươi sẽ thấy vua Ba-by-lôn mắt tận mắt và nói chuyện với người mặt tận mặt, rồi ngươi sẽ đi qua Ba-by-lôn. 4. Hỡi Sê-đê-kia, vua của Giu-đa. Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ngươi sẽ không chết vì gươm. 5. Ngươi sẽ chết cách bình an. Người ta đã đốt hương để tưởng nhớ đến tổ tiên của ngươi, tức các vua trước ngươi, họ cũng sẽ đốt hương cho ngươi và thương tiếc ngươi: “Ôi, chúa thượng!” Vì chính Ta phán những điều nầy. Đức Giê-hô-va phán như vậy.
  2. Tiên tri Giê-rê-mi đã thuật lại cho Sê-đê-kia, vua Giu-đa, tất cả những lời nầy tại Giê-ru-sa-lem, 7. trong khi quân đội của vua Ba-by-lôn đang đánh Giê-ru-sa-lem, và tấn công những thành còn lại của Giu-đa: tấn công La-ki, tấn công A-xê-ca, bởi vì đó là những thành kiên cố còn sót lại của Giu-đa.
  3. Sau khi vua Sê-đê-kia lập giao ước với toàn thể dân chúng tại Giê-ru-sa-lem, công bố sự tự do cho họ, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 9. Mỗi người phải phóng thích nam nô lệ và nữ nô lệ của mình, là người Hê-bơ-rơ nam và người Hê-bơ-rơ nữ, để không một người anh em Do-thái nào còn bị giữ để làm nô lệ.
  4. Tất cả các quan chức và dân chúng, là những người tham dự vào giao ước nầy, khi nghe mỗi người phải trả tự do cho nam nô lệ và nữ nô lệ của mình, không ai được giữ lại nô lệ nữa. Họ đã vâng lời và phóng thích những người đó. 11. Nhưng sau đó họ đã đổi ý. Họ bắt lại những nam nô lệ và nữ nô lệ mà họ đã phóng thích, buộc họ phải làm nam nô lệ và nữ nô lệ.
  5. Vì vậy, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 13. Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Ta đã lập giao ước với tổ phụ của các ngươi khi Ta đem họ ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ. Ta đã truyền: 14. Đến năm thứ bảy, mỗi người trong các ngươi phải trả tự do cho những đồng hương người Hê-bơ-rơ đã bị bán cho mình làm nô lệ. Ngươi phải trả tự do cho người đã phục vụ ngươi sáu năm. Tuy nhiên, tổ phụ các ngươi đã không vâng lời Ta và cũng không lắng tai nghe. 15. Gần đây, các ngươi đã trở lại, làm một điều đúng trước mặt Ta. Mỗi người công bố sự phóng thích những đồng hương của mình. Các ngươi đã lập một giao ước trước mặt Ta trong nhà được gọi bằng danh của Ta. 16. Nhưng các ngươi đã thay đổi, đã làm nhục danh của Ta, mỗi người đã bắt lại nam nô lệ và nữ nô lệ đã được phóng thích theo lòng mong ước của họ. Các ngươi đã buộc họ làm nam nô lệ và nữ nô lệ cho các ngươi.
  6. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Các ngươi đã không vâng lời Ta công bố sự phóng thích những người đồng chủng tộc với các ngươi và những người thân cận với các ngươi để họ được tự do. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ phóng thích những thứ nầy để chúng được tự do đến với các ngươi là gươm đao, ôn dịch, và nạn đói. Ta sẽ khiến các ngươi bị kinh tởm trong mọi vương quốc trên đất. 18. Những người vi phạm giao ước của Ta, không thực hiện những lời trong giao ước mà chúng đã lập trước mặt Ta, khi chúng xẻ đôi con bò con để đi ngang qua giữa hai phần. 19. Các lãnh đạo của Giu-đa, các lãnh đạo của Giê-ru-sa-lem, các thái giám, các tư tế, và tất cả những kẻ ở trong xứ đã đi ngang qua giữa những phần của con bò con. 20. Ta sẽ trao chúng vào tay những kẻ thù của chúng, tức là vào tay những kẻ tìm cách lấy sinh mạng của chúng. Thây của chúng sẽ làm thức ăn cho chim trời và thú dữ trên đất. 21. Ta sẽ trao Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, cùng với những triều thần vào tay quân thù của chúng, vào tay những kẻ tìm cách lấy sinh mạng của chúng, vào tay quân đội của vua Ba-by-lôn đã rút khỏi các ngươi. 22. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ truyền cho chúng quay trở lại thành nầy. Chúng sẽ đánh, sẽ chiếm, rồi phóng hỏa đốt thành. Ta sẽ làm cho các thành của Giu-đa trở nên hoang tàn không có người cư ngụ.

 

35

  1. Vào thời Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, làm vua Giu-đa, có lời từ Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 2. Hãy đến nhà của gia tộc Rê-cáp, nói chuyện với họ, đem họ đến nhà của Đức Giê-hô-va, đưa họ vào một trong những căn phòng, rồi cho họ uống rượu.
  2. Sau đó, tôi đã dẫn Gia-a-xa-nia, con trai của Giê-rê-mi, cháu của Ha-bát-si-nia, những người anh em, cùng tất cả các con trai của ông, và cả gia tộc Rê-cáp, 4. đem họ đến nhà của Đức Giê-hô-va, rồi đưa họ vào phòng của các con trai Ha-nan, con của Gi-đa-lia, là người của Đức Chúa Trời, bên cạnh phòng của các lãnh đạo, và ở trên phòng của Ma-a-xê-gia, con trai của Sa-lum, là người giữ cửa. 5. Sau đó, tôi đặt trước mặt con cháu của gia tộc Rê-cáp những cái bình đầy rượu và những cái ly. Tôi nói với họ: Xin mời quý vị dùng rượu.
  3. Tuy nhiên họ đã trả lời: Chúng tôi không uống rượu! Bởi vì Giô-na-đáp, con trai của Rê-cáp, là tổ phụ của chúng tôi, đã truyền cho chúng tôi rằng: Các ngươi và dòng dõi của các ngươi sẽ không bao giờ uống rượu. 7. Các ngươi không được xây nhà, gieo giống, trồng vườn nho, hay làm những công việc tương tự, nhưng hãy sống trong những lều trại trọn đời của các ngươi, để các ngươi có thể sống lâu dài trong xứ mà các ngươi chỉ là khách trọ. 8. Vì vậy, chúng tôi đã vâng theo tất cả những lời của Giô-na-đáp, con trai của Rê-cáp, là tổ phụ của chúng tôi, đã truyền. Trọn cả cuộc đời, chúng tôi, vợ, con trai, và con gái của chúng tôi không uống rượu. 9. Chúng tôi không xây nhà để ở, cũng không có vườn nho, đồng ruộng, và hột giống, 10. nhưng chúng tôi cứ ở trong những lều trại. Chúng tôi đã vâng lời và làm theo tất cả những lời mà tổ phụ của chúng tôi, là Giô-na-đáp, đã truyền. 11. Tuy nhiên, khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, tấn công xứ sở nầy, chúng tôi đã nói: Hãy đi đến Giê-ru-sa-lem để tránh quân Canh-đê và tránh quân Sy-ri. Vì vậy, chúng tôi đã cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem.
  4. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 13. Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Hãy đi nói với người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem rằng: “Các ngươi không chịu tiếp nhận sự sửa dạy và không nghe theo lời của Ta hay sao?” Đức Giê-hô-va phán: 14. Mạng lệnh của Giô-na-đáp, con của Rê-cáp, đã được thực hiện. Người đã truyền dặn con cháu của mình không được uống rượu, và họ đã vâng theo, không uống rượu cho đến ngày nay. Họ đã vâng giữ lời truyền dạy của tổ phụ họ. Dù Ta đã dậy sớm phán dạy cho các ngươi, các ngươi vẫn không vâng theo lời phán của Ta. 15. Ta đã sai tất cả các đầy tớ Ta của, là các tiên tri, đến cùng các ngươi. Ta đã dậy sớm, sai họ đi, và nói rằng: “Mỗi người trong các ngươi phải từ bỏ đường lối xấu xa, sửa đổi việc làm của các ngươi, đừng đi theo phục vụ các thần khác, thì các ngươi sẽ ở trong đất mà Ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi.” Nhưng các ngươi không lắng tai nghe, và cũng không vâng lời Ta. 16. Con cháu của Giô-na-đáp, con trai của Rê-cáp, đã vâng giữ lời truyền dạy của tổ phụ họ, nhưng dân này không vâng lời Ta. 17. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, Ta sẽ giáng trên Giu-đa và toàn thể dân cư Giê-ru-sa-lem tất cả tai họa mà Ta đã báo trước cho chúng, bởi vì Ta nói với chúng nhưng chúng không nghe, Ta đã gọi chúng nhưng chúng không trả lời.
  5. Giê-rê-mi nói với gia tộc của Rê-cáp: Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán thế nầy: Bởi vì các ngươi đã vâng theo mạng lịnh của Giô-na-đáp, tổ phụ của các ngươi, đã gìn giữ tất cả những điều căn dặn của người, và làm theo mọi điều người đã truyền dạy cho các ngươi; 19. vì vậy Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Giô-na-đáp, con trai của Rê-cáp, sẽ không bao giờ thiếu người đứng trước mặt Ta.

 

36

  1. Thời gian trôi qua, vào năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, làm vua Giu-đa, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 2. Hãy lấy một cuốn sách, rồi viết vào đó tất cả những lời mà Ta đã phán với ngươi để nghịch lại Y-sơ-ra-ên, nghịch lại Giu-đa, nghịch lại tất cả các nước, kể từ ngày Ta phán cùng ngươi vào thời Giô-si-a cho đến ngày nay. 3. Có thể cả nhà Giu-đa khi nghe về tất cả những tai họa mà Ta định giáng trên họ, mỗi người sẽ từ bỏ các đường lối tội lỗi của họ, để Ta có thể tha thứ những tội lỗi của họ cùng những vi phạm của họ.
  2. Giê-rê-mi đã gọi Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia. Ba-rúc đã chép vào cuốn sách tất cả những lời mà Đức Giê-hô-va đã phán cùng Giê-rê-mi, từ chính miệng của Giê-rê-mi thuật lại. 5. Sau đó, Giê-rê-mi đã truyền cho Ba-rúc rằng: Tôi bị quản chế, không thể vào nhà của Đức Giê-hô-va. 6. Vì vậy, vào dịp kiêng ăn, anh hãy đến nhà của Đức Giê-hô-va, đọc những lời của Đức Giê-hô-va từ trong cuốn sách, mà anh đã chép theo sự hướng dẫn của tôi, cho dân chúng nghe. Anh cũng đọc cho tất cả dân Giu-đa từ các thành đến đó nghe nữa. 7. Có lẽ họ sẽ hạ mình cầu xin Đức Giê-hô-va, họ sẽ thay đổi, và mỗi người sẽ từ bỏ đường lối gian ác của mình – bởi vì cơn giận và cơn thịnh nộ mà Đức Giê-hô-va đã công bố cho dân nầy thật quá lớn.
  3. Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia, đã thực hiện tất cả những điều mà Tiên tri Giê-rê-mi đã truyền cho ông để đọc lời của Đức Giê-hô-va trong cuốn sách tại nhà của Đức Giê-hô-va. 9. Vào tháng chín, năm thứ năm đời Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, làm vua Giu-đa, người ta công bố một cuộc kiêng ăn trước mặt Đức Giê-hô-va cho mọi người tại Giê-ru-sa-lem cùng với tất cả những người từ các thành của Giu-đa đã đến Giê-ru-sa-lem. 10. Ba-rúc đã đọc những lời của Giê-rê-mi trong nhà của Đức Giê-hô-va, trong phòng của Ghê-ma-ria, con trai của ký lục Sa-phan, trên sân thượng, tại Cổng Mới của nhà Đức Giê-hô-va để tất cả dân chúng có thể nghe.
  4. Khi Mi-chê, con trai của Ghê-ma-ria, cháu của Sa-phan, nghe tất cả những lời của Đức Giê-hô-va từ trong cuốn sách, 12. ông đã đi xuống cung vua, vào văn phòng của các ký lục. Tất cả các quan chức đang ngồi tại đó là Ê-li-sa-ma – viên ký lục, Đê-la-gia – con trai của Sê-ma-gia, Ên-na-than – con trai của Ạc-bồ, Ghê-ma-ria – con trai của Sa-phan, Sê-đê-kia – con trai của Ha-na-nia, cùng với tất cả các quan chức. 13. Mi-chê đã thuật lại cho họ tất cả những lời mà ông đã nghe khi Ba-rúc đọc sách vào tai của dân chúng.
  5. Các quan chức đã sai Giê-hu-đi, con trai của Nê-tha-nia, cháu của Sê-lê-mia, chắt của Cu-si, đến gặp Ba-rúc, nói rằng: “Hãy cầm trong tay cuốn sách mà ông đã đọc vào tai của dân chúng, rồi đến đây.” Vì vậy Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia, đã cầm cuốn sách trong tay của mình, rồi đến với họ. 15. Họ nói với ông: “Xin hãy ngồi xuống, rồi đọc cho chúng tôi nghe.” Ba-rúc đã đọc cho họ nghe.
  6. Sau khi họ đã nghe xong tất cả những sứ điệp, họ lo sợ nhìn nhau. Họ nói với Ba-rúc: “Chúng tôi phải trình tất cả những sứ điệp nầy cho vua.” 17. Sau đó, họ hỏi Ba-rúc: “Hãy cho chúng tôi biết làm sao ông có thể viết được tất cả những sứ điệp nầy? Có phải ông đã viết tất cả những sứ điệp nầy từ miệng của ông ấy, phải không? 18. Ba-rúc trả lời: “Ông ấy đã đọc cho tôi tất cả những sứ điệp nầy, và tôi đã dùng mực chép vào cuốn sách.” 19. Sau đó, các quan chức đã nói với Ba-rúc: “Ông và Giê-rê-mi hãy đi đi! Hãy trốn đi! Đừng để cho ai biết các ông ở đâu.”
  7. Sau đó, họ đến sân chầu gặp vua, nhưng họ đã cất cuốn sách trong phòng quan ký lục Ê-li-sa-ma. Họ thuật lại mọi việc cho vua nghe. 21. Vua sai Giê-hu-đi đem cuốn sách đến. Giê-hu-đi lấy cuốn sách từ phòng của quan ký lục Ê-li-sa-ma, rồi đọc cho vua cùng tất cả các quan chức đứng chầu bên cạnh vua nghe.
  8. Lúc đó là tháng chín, vua đang ngự trong cung mùa đông, trước mặt vua có lò sưởi đang cháy. 23. Khi Giê-hu-đi đọc được ba hay bốn phân đoạn, vua lấy dao gọt bút của viên ký lục cắt đi, rồi ném vào lửa trong lò sưởi, cho đến chừng nào cả cuốn sách cháy rụi trong lò sưởi. 24. Vua và các triều thần của ông đã nghe tất cả những sứ điệp đó, nhưng không ai sợ hãi và cũng không ai xé y phục của mình. 25. Mặc dù Ên-na-than, Đê-la-gia và Ghê-ma-ria thỉnh cầu vua đừng đốt cuốn sách đó, nhưng vua không nghe họ. 26. Vua đã truyền lệnh cho Giê-rác-mê-ên – con trai của vua, Sê-ra-gia – con trai của Át-ri-ên, và cho Sê-lê-mia – con trai của Áp-đê-ên, đi bắt viên ký lục Ba-rúc và Tiên Tri Giê-rê-mi – Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va đã giấu họ.
  9. Sau khi vua đã đốt cuốn sách với những lời mà Ba-rúc đã chép lại từ miệng của Giê-rê-mi, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 28. Hãy lấy một cuốn sách khác rồi viết vào đó tất cả những sứ điệp trước đây đã có trong cuốn sách thứ nhất mà Giê-hô-gia-kim, vua của Giu-đa, đã đốt.
  10. Về phần Giê-hô-gia-kim, vua của Giu-đa, ngươi hãy nói: Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Bởi vì ngươi đã đốt cuốn sách đó, rồi nói rằng: “Tại sao ông đã viết vào cuốn sách nầy rằng vua của Ba-by-lôn chắc chắn sẽ đến để tàn phá xứ nầy, rồi tiêu diệt cả loài người lẫn thú vật?” 30. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy về Giê-hô-gia-kim, vua của Giu-đa: Nó sẽ không còn người nào ngồi trên ngôi của Đa-vít. Xác chết của nó sẽ bị quăng ra ngoài, bị dang nắng ban ngày và dầm sương ban đêm. 31. Ta sẽ trừng phạt nó, dòng dõi của nó và triều thần của nó vì sự gian ác của chúng. Ta sẽ giáng trên chúng, trên dân cư Giê-ru-sa-lem, và trên những người Giu-đa, tất cả những tai họa mà Ta đã công bố chống lại chúng, nhưng chúng đã không lắng nghe.
  11. Sau đó, Giê-rê-mi lấy một cuốn sách khác, trao cho Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia, là viên ký lục. Ông đã chép vào đó tất cả những sứ điệp từ miệng của Giê-rê-mi đã có trong cuốn sách mà Giê-hô-gia-kim, vua của Giu-đa, đã đốt trong lửa. Nhiều sứ điệp tương tự đã được thêm vào.

 

37

  1. Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã lập Sê-đê-kia, con trai của Giô-si-a, làm vua Giu-đa thay cho Giê-cô-nia, con trai của Giê-hô-gia-kim. 2. Nhưng ông, triều thần của ông, và dân chúng trong xứ đều không nghe lời của Đức Giê-hô-va phán qua Tiên tri Giê-rê-mi.
  2. Vua Sê-đê-kia sai Giê-hu-can, con trai của Sê-lê-mia, và Tư tế Sô-phô-ni, con trai của Ma-a-xê-gia, đến nói với Tiên tri Giê-rê-mi: “Xin ông hãy vì chúng tôi cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta.” 4. Lúc nầy Giê-rê-mi còn đi lại giữa dân chúng, vì họ chưa giam ông vào tù. 5. Khi đó, quân đội của Pha-ra-ôn đã rời khỏi Ai Cập. Khi người Canh-đê đang bao vây Giê-ru-sa-lem nghe tin nầy, họ đã rời khỏi Giê-ru-sa-lem.
  3. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Tiên tri Giê-rê-mi rằng: 7. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Các ngươi hãy nói lại với vua Giu-đa, là người đã sai các ngươi đến cầu hỏi Ta, rằng: Hãy xem! Quân đội của Pha-ra-ôn – đã đi lên để cứu các ngươi – sẽ quay về xứ sở của chúng là Ai Cập. 8. Sau đó, người Canh-đê sẽ quay lại đánh thành nầy. Chúng sẽ chiếm và phóng hỏa đốt thành. 9. Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi đừng tự lừa dối với chính mình rằng: “Người Canh-đê chắc chắn sẽ rút khỏi chúng ta” – Bởi vì chúng sẽ không rút đi. 10. Dù các ngươi có đánh bại cả đạo quân Canh-đê, là những người đã giao chiến với các ngươi, thì số người còn sót lại của chúng, là những người bị thương trong trại của mình, thì mỗi người cũng sẽ trỗi dậy phóng hỏa đốt thành nầy.
  4. Sau đó, quân đội Canh-đê đã rút khỏi Giê-ru-sa-lem vì sợ quân đội của Pha-ra-ôn. 12. Giê-rê-mi đã rời khỏi Giê-ru-sa-lem, đến xứ Bên-gia-min để nhận phần sản nghiệp của mình giữa vòng dân chúng tại đó. 13. Nhưng khi ông đến cổng Bên-gia-min, viên chỉ huy canh gác tên là Gi-rê-gia, con trai của Sê-lê-mia, cháu của Ha-na-nia đã bắt ông, rồi nói: “Ngươi đào tẩu theo người Canh-đê!” 14. Giê-rê-mi trả lời: “Nói láo! Ta không đào tẩu theo người Canh-đê.” Nhưng Gi-rê-gia không nghe, nên bắt Giê-rê-mi, rồi giải về cho các quan chức. 15. Các quan chức nổi giận với Giê-rê-mi. Họ chúng đánh ông, rồi giam ông trong nhà của Giô-na-than – viên ký lục, bởi vì họ đã dùng căn nhà đó làm nhà tù. 16. Giê-rê-mi đã bị nhốt trong một hầm tối trong nhà ngục. Giê-rê-mi đã ở tại đó nhiều ngày.
  5. Sau đó, vua Sê-đê-kia sai đưa ông ra khỏi nơi đó, rồi bí mật hỏi ông trong cung điện rằng: “Có sứ điệp nào từ Đức Giê-hô-va hay không?” Giê-rê-mi trả lời: “Thưa có!” Rồi ông nói: “Ngài sẽ bị nộp vào tay của vua Ba-by-lôn.” 18. Giê-rê-mi cũng nói với vua Sê-đê-kia: “Tôi đã làm điều gì xúc phạm với ngài, quần thần của ngài, hay với dân nầy, mà ngài đã giam tôi trong tù?” 19. Các tiên tri của ngài, là những người đã nói tiên tri với ngài rằng “Vua Ba-by-lôn sẽ không đến tấn công ngài và đất nước nầy”, bây giờ họ ở đâu rồi? 20. Bây giờ, xin vua là chúa của tôi, vui lòng lắng nghe và chấp nhận lời thỉnh cầu của tôi. Xin đừng trả tôi trở về nhà của Giô-na-than, là viên ký lục. Xin đừng để tôi chết tại đó.” 21. Vua Sê-đê-kia đã truyền cho họ giữ Giê-rê-mi tại sân của vệ binh, mỗi ngày họ cấp cho ông một chiếc bánh từ phố hàng bánh, cho đến khi bánh trong thành không còn nữa. Vì vậy, Giê-rê-mi đã ở lại trong sân của vệ binh.

 

38

  1. Sê-pha-tia – con trai của Ma-than, Ghê-đa-lia – con trai của Pha-su-rơ, Giu-can – con trai của Sê-lê-mia, và Pha-su-rơ – con trai của Manh-ki-gia đã nghe những lời Giê-rê-mi nói với toàn thể dân chúng rằng: 2. “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ai ở lại trong thành thì sẽ chết bởi gươm đao, đói kém, dịch bệnh; nhưng ai ra đầu hàng người Canh-đê thì sẽ được sống. Người đó sẽ giữ được sinh mạng và sẽ sống. 3. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Chắc chắn thành nầy sẽ bị rơi vào tay quân đội của vua Ba-by-lôn, và chúng sẽ chiếm lấy thành.”
  2. Vì vậy các quan chức đã tâu với vua: Xin hãy giết người nầy, bởi vì những lời người nầy nói đã làm cho các cánh tay của những binh sĩ còn lại trong thành, cũng như các cánh tay của toàn dân bị suy yếu. Người nầy không tìm cầu ích lợi cho dân chúng nhưng chỉ gây tổn hại.
  3. Vua Sê-đê-kia nói: Kìa! Người đang ở trong tay của các ngươi. Vua không thể làm gì trái ý các ngươi. 6. Vì vậy, họ đã bắt Giê-rê-mi rồi thả ông xuống một cái hố thuộc về Manh-ki-gia, con trai của vua, tại trong sân của vệ binh. Họ đã dòng dây thừng thả Giê-rê-mi xuống. Hố không có nước, chỉ có bùn, cho nên Giê-rê-mi bị lún trong bùn.
  4. Ê-bết Mê-lết, người Cút, là một trong những quan thái giám trong cung vua, đã nghe tin họ thả Giê-rê-mi xuống hố. Khi đó, vua đang ngồi tại cổng Bên-gia-min. 8. Ê-bết Mê-lết đã rời hoàng cung, đến thưa với vua rằng: 9. Tâu vua là chủ của tôi! Những người nầy đã làm một việc tàn ác trong tất cả những việc mà họ đã làm cho Tiên tri Giê-rê-mi. Họ đã thả ông xuống một cái hố để ông chết đói tại đó, bởi vì trong thành không còn thực phẩm.
  5. Vua truyền cho Ê-bết Mê-lết, người Cút: Hãy đem ba mươi người tại đây, cùng với ngươi. Hãy kéo Tiên tri Giê-rê-mi lên khỏi hố, trước khi ông chết.
  6. Vì vậy, Ê-bết Mê-lết đã dẫn những người đó theo mình, đi vào cung vua, xuống kho; ông lấy giẻ và áo quần cũ tại đó, rồi dùng dây thừng thả xuống hố cho Giê-rê-mi. 12. Ê-bết Mê-lết, người Cút, nói với Giê-rê-mi: Xin ông lót mấy miếng giẻ và quần áo cũ dưới những nách của ông, rồi đặt dây thừng bên dưới. Giê-rê-mi đã làm như vậy. 13. Họ đã dùng dây kéo Giê-rê-mi ra, rồi nâng ông lên khỏi hố. Giê-rê-mi vẫn bị giam trong sân của vệ binh.
  7. Vua Sê-đê-kia đã sai đem Tiên tri Giê-rê-mi đến gặp ông tại cửa thứ ba của nhà Đức Giê-hô-va. Vua nói với Giê-rê-mi: Ta sẽ hỏi ngươi một việc. Xin đừng giấu ta điều gì.
  8. Giê-rê-mi nói với vua Sê-đê-kia: Nếu tôi công bố cho ngài, có chắc rằng ngài sẽ không giết tôi hay không? Nếu tôi khuyên ngài, ngài có nghe lời của tôi hay không?
  9. Vua Sê-đê-kia kín đáo thề với Giê-rê-mi: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã tạo dựng linh hồn của chúng ta. Ta sẽ không giết ngươi, và cũng không trao ngươi vào tay những kẻ tìm hại mạng sống ngươi.
  10. Giê-rê-mi nói với Sê-đê-kia: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Nếu ngươi đầu hàng các quan tướng của vua Ba-by-lôn thì ngươi sẽ được sống, và thành nầy sẽ không bị thiêu hủy trong lửa. Ngươi và gia đình ngươi sẽ sống. 18. Nhưng nếu ngươi không đầu hàng các quan tướng của vua Ba-by-lôn, thì thành nầy sẽ rơi vào tay của người Canh-đê. Chúng sẽ phóng hỏa đốt thành, và ngươi sẽ không thoát khỏi tay của chúng.
  11. Vua Sê-đê-kia nói với Giê-rê-mi: Ta sợ những người Giu-đa đã đào ngũ theo người Canh-đê. Đừng để chúng nộp ta vào tay của những kẻ đó. Những kẻ đó sẽ ngược đãi ta.
  12. Giê-rê-mi nói: Người ta sẽ không nộp ngài đâu. Tôi nài xin ngài hãy vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va là những gì tôi nói với ngài, thì ngài sẽ sống và được an lành. 21. Nhưng nếu ngài không chịu đầu hàng thì đây là lời Đức Giê-hô-va đã bày tỏ cho tôi:
  13. Nầy, tất cả những phụ nữ còn lại trong cung của vua Giu-đa sẽ bị dẫn đến cho các quan chức của vua Ba-by-lôn. Họ sẽ nói rằng: “Bạn bè thân tín của ngài đã dỗ dành ngài và đã thắng hơn ngài. Khi chân của ngài lún vào bùn, thì những con người lịch lãm đó đã quay lưng bỏ chạy.” 23. Tất cả những vợ con của ngươi sẽ bị nộp cho người Canh-đê. Ngươi cũng không thoát khỏi tay của họ, nhưng ngươi sẽ bị bắt bởi tay của vua Ba-by-lôn – vì ngươi mà thành nầy sẽ bị phóng hỏa.
  14. Sê-đê-kia nói cùng Giê-rê-mi: Đừng cho ai biết những lời nầy, thì ngươi sẽ không chết. 25. Nhưng nếu các tướng lãnh nghe rằng ta đã nói chuyện với ngươi, họ sẽ đến gặp ngươi rồi nói: Hãy thuật lại cho chúng tôi những điều ông đã nói với vua, cũng như những gì vua đã nói với ông – đừng giấu điều gì cả – thì chúng tôi sẽ không giết ông; 26. thì ngươi hãy nói với họ: Tôi đã trình dâng lời thỉnh cầu trước mặt vua, xin đừng bắt tôi trở về nhà của Giô-na-than, đừng để tôi phải chết tại đó.
  15. Tất cả các quan tướng đã đến gặp Giê-rê-mi, rồi tra hỏi ông. Ông đã trả lời cho họ theo như những lời mà ông đã được vua truyền dặn. Họ ngưng không hỏi ông nữa, cho nên không ai biết gì về cuộc đàm thoại.
  16. Giê-rê-mi bị giam trong trong tù tại sân của vệ binh cho đến ngày Giê-ru-sa-lem bị thất thủ. Khi Giê-ru-sa-lem bị thất thủ, ông vẫn còn ở tại đó.

 

39

  1. Vào tháng Mười, năm thứ chín của triều Sê-đê-kia, vua Giu-đa, Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã đem tất cả binh lực đến tấn công, rồi bao vây Giê-ru-sa-lem. 2. Đến ngày chín, tháng Tư, năm thứ mười một của triều Sê-đê-kia, thành bị vỡ. 3. Tất cả các quan chức của vua Ba-by-lôn đã đến, ngồi tại cổng trung tâm, gồm có: Nẹt-gan Sa-rết-sê, Sam-ga Nê-bô, Sa-sê-kim, Ráp-sa-rít, Nẹt-gan Sa-rết-sê, Ráp-sam, cùng các quan chức còn lại của vua Ba-by-lôn.
  2. Khi Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, cùng tất cả những chiến binh thấy những người đó, họ đã chạy trốn ra khỏi thành vào ban đêm, theo lối đi trong vườn của vua, qua cánh cửa nằm giữa hai vách tường, rồi đi về hướng đồng bằng. 5. Tuy nhiên, quân đội Canh-đê đã đuổi theo họ, và bắt kịp Sê-đê-kia trong đồng bằng Giê-ri-cô. Họ đã bắt ông, rồi giải ông đến cho Nê-bu-cát-nê-xa, vua của Ba-by-lôn, đang ở tại Ríp-la, trong xứ Ha-mát. Ông bị tuyên án tại đó.
  3. Vua Ba-by-lôn đã giết các con trai của Sê-đê-kia ngay trước mắt của ông tại Ríp-la. Vua Ba-by-lôn cũng giết tất cả các quan chức của Giu-đa. 7. Vua sai móc mắt Sê-đê-kia, xiềng ông bằng những dây xích đồng, rồi giải về Ba-by-lôn. 8. Quân Canh-đê đã đốt cung vua và nhà của dân chúng, phá đổ những vách tường của Giê-ru-sa-lem. 9. Sau đó, Nê-bu-xa-ra-đan, quan chỉ huy quân thị vệ, đã giải tất cả dân chúng còn lại ở trong thành, cùng với những người trước đó đã đầu thú, và những người còn lại, lưu đày sang Ba-by-lôn. 10. Nhưng quan chỉ huy quân thị vệ Nê-bu-xa-a-đan đã để những người nghèo khó, không có sản nghiệp gì, ở lại trong xứ Giu-đa. Ông đã cấp cho họ những vườn nho và đồng ruộng vào lúc đó.
  4. Về phần Giê-rê-mi, Nê-bu-cát-nê-xa, vua Ba-by-lôn, đã ra lịnh cho Nê-bu-xa-ra-đan, quan chỉ huy vệ binh, rằng: 12. Hãy đem ông ấy về, chăm sóc chu đáo. Đừng làm hại ông ấy. Hãy thực hiện điều gì ông ấy yêu cầu ngươi. 13. Vì vậy Nê-bu-xa-ra-đan, quan chỉ huy quân thị vệ, đã ra lệnh cho Nê-bu-sa-ban, Ráp-sa-rít, Nẹt-gan Sa-rết-sê, Ráp-sam, cùng tất cả các quan chức của vua Ba-by-lôn. 14. Họ đã sai người đem Giê-rê-mi ra khỏi nhà tù tại sân vệ binh, giao cho Ghê-đa-lia – con của A-hi-cam, cháu của Sa-phan, để đưa ông về nhà. Vì vậy, ông đã sống ở giữa vòng dân chúng.
  5. Khi còn bị giam trong sân của vệ binh, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 16. Hãy đi nói với Ê-bết Mê-lết, người Cút, rằng: Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Nầy, Ta sắp thực hiện lời Ta đã phán về thành nầy tức là giáng họa chứ không phải ban phước. Đến ngày đó, những lời đó sẽ thành sự thật trước mặt ngươi. 17. Nhưng trong ngày đó, Ta sẽ giải cứu ngươi. Đức Giê-hô-va phán: Ngươi sẽ không bị nộp vào tay những kẻ mà ngươi khiếp sợ. 18. Vì chắc chắn Ta sẽ cứu ngươi, ngươi sẽ không ngã dưới lưỡi gươm. Ngươi sẽ giữ được mạng sống của mình một chiến lợi phẩm, bởi vì ngươi đã tin cậy Ta. Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

40

  1. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi sau khi Nê-bu-xa-ra-đan, quan chỉ huy quân thị vệ, thả ông ra khỏi Ra-ma. Quan đã đem ông ra khi ông bị xiềng cùng với những người Giê-ru-sa-lem và Giu-đa bị bắt để đem đi lưu đày tại Ba-by-lôn. 2. Quan chỉ huy quân thị vệ truyền đem Giê-rê-mi đến, rồi nói với ông: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã báo trước về tai họa sẽ giáng xuống nơi nầy. 3. Đức Giê-hô-va đã làm như Ngài đã phán, bởi vì các ngươi đã phạm tội chống lại Đức Giê-hô-va, và không vâng theo tiếng của Ngài, cho nên việc nầy đã xảy đến cho các ngươi. 4. Hôm nay, ngay lúc nầy tôi tháo xiềng ra khỏi tay của ông. Nếu ông thấy việc đi với tôi sang Ba-by-lôn là tốt, thì xin cứ đi – và tôi sẽ săn sóc ông. Nếu ông thấy đi với tôi sang Ba-by-lôn là không phải, thì đừng đi. Nầy, khắp xứ đang ở trước mặt ông, ông thấy đến nơi nào là tốt và đi đâu là phải, thì xin cứ đi.
  2. Khi Giê-rê-mi chưa ra về, quan đã nói tiếp: Ông nên trở về với Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam, cháu của Sa-phan – là người mà vua Ba-by-lôn đã phong làm tổng trấn các thành của Giu-đa. Hãy ở với ông ấy giữa vòng dân chúng, hay đi đến bất cứ nơi nào ông thích. Viên chỉ huy trưởng quân thị vệ đã cung cấp lương thực, tặng quà, rồi để cho ông đi. 6. Sau đó, Giê-rê-mi đã đến với Ghê-đa-lia, con trai của A-hi-cam, tại Mích-ba, rồi ở với ông ấy giữa vòng những người còn sót lại trong xứ.
  3. Tất cả các chỉ huy của những lực lượng ở vùng quê – những người đó cùng với những người theo họ – nghe rằng vua Ba-by-lôn đã lập Ghê-đa-lia, con trai của A-hi-cam, làm tổng trấn trong xứ và đã trao quyền cho ông lãnh đạo đàn ông, đàn bà, trẻ con, và những người nghèo ở trong xứ, không bị bắt lưu đày sang Ba-by-lôn, 8. họ đã đến cùng Ghê-đa-lia tại Mích-ba. Đó là Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, Giô-ha-nan và Giô-na-than – con trai của Ca-rê-át, Sê-ra-gia – con trai của Tan-hu-mết, các con trai của Ê-phai thuộc gia tộc Nê-tô-pha, và Giê-xa-nia – con trai của một người Ma-a-ca. Những người đó và những người theo họ.
  4. Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam, cháu của Sa-phan – đã cam kết với họ và những người theo họ, rằng: Đừng sợ phải phục vụ người Canh-đê. Hãy cứ ở trong xứ và thần phục vua Ba-by-lôn thì quý vị sẽ được an lành. 10. Phần tôi, tôi sẽ ở tại Mích-ba để giao tiếp với những người Canh-đê đến gặp chúng ta. Phần quý vị, hãy thu hoạch rượu, trái cây, và dầu, rồi chứa trong các vò của quý vị, và hãy ở trong các thành mà quý vị đã nắm giữ.
  5. Cũng vậy, tất cả những người Giu-đa đang ở tại Mô-áp, giữa vòng người Am-môn, tại Ê-đôm, và những xứ khác, nghe rằng vua Ba-by-lôn đã chừa lại một số người ở lại trong xứ Giu-đa, và đã lập Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam, cháu của Sa-phan – cai trị họ. 12. Tất cả người Giu-đa từ mọi nơi mà họ đã tản cư đều trở về xứ Giu-đa, và đến với Ghê-đa-lia tại Mích-ba. Họ đã thu hoạch thật nhiều rượu và những trái cây mùa hè.
  6. Sau đó, Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những chỉ huy của những lực lượng ở vùng quê, đến gặp Ghê-đa-lia, tại Mích-ba, và nói: 14. Ông có biết Ba-a-lít, vua của Am-môn, đã sai Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, đến giết ông hay không? Nhưng Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam, không tin lời của họ. 15. Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, bí mật nói với Ghê-đa-lia tại Mích-ba: Xin ông cho tôi đi thủ tiêu Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, sẽ không ai biết cả. Tại sao lại để nó giết ông, rồi làm cho mọi người Giu-đa tụ họp chung quanh ông phải bị tan lạc, và những người còn lại của Giu-đa sẽ bị tiêu diệt?
  7. Nhưng Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam, nói với Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, rằng: Đừng làm điều đó! Điều ông nói về Ích-ma-ên là không đúng.

 

41

  1. Vào tháng Bảy, Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, cháu của Ê-li-sa-ma, thuộc hoàng tộc, và là một quan lớn của vua – đã cùng với mười người đến gặp Ghê-đa-lia, con trai của A-hi-cam, tại Mích-ba. Họ đã cùng ăn với nhau tại Mích-pa. 2. Ích-ma-ên – con của trai Nê-tha-nia, cùng với mười người đi theo ông, đã đứng dậy dùng gươm giết chết Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam, cháu của Sa-phan – là người mà vua Ba-by-lôn đã lập làm tổng trấn trong xứ. 3. Ích-ma-ên cũng giết tất cả những người Giu-đa đang ở với Ghê-đa-lia tại Mích-ba, và những binh lính Canh-đê đang ở đó.
  2. Đến ngày thứ hai sau khi ám sát Ghê-đa-lia, lúc đó vẫn chưa ai biết, 5. có tám mươi người từ Si-chem, Si-lô, Sa-ma-ri đến. Họ cạo râu, mặc áo rách, tự rạch thân mình, tay mang những tế lễ chay và nhũ hương để dâng trong nhà của Đức Giê-hô-va. 6. Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, từ Mích-ba đi ra đón họ, ông vừa đi vừa khóc. Khi gặp họ, Ích-ma-ên nói: Hãy đến gặp Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam. 7. Khi họ đã vào giữa thành, Ích-ma-ên – con trai Nê-tha-nia, cùng với những người theo ông, đã giết họ rồi quăng xác xuống một cái hố. 8. Nhưng có mười người trong số họ nói với Ích-ma-ên: Xin đừng giết chúng tôi, bởi vì chúng tôi có những kho ngoài đồng, chứa lúa mì, tiểu mạch, dầu, và mật ong. Vì vậy, Ích-ma-ên đã ngưng lại, không giết họ như những anh em của họ. 9. Cái hố mà Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, quăng xác của những người mình đã giết về việc Ghê-đa-lia, là cái hố mà vua A-sa đã đào vì sợ Ba-ê-sa, vua của Y-sơ-ra-ên. Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, đã lấp đầy hố đó với những người bị giết. 10. Ích-ma-ên đã bắt tất cả những người còn lại tại Mích-ba, thậm chí các công chúa, tức là hết thảy dân chúng mà Nê-bu-xa-a-đan, chỉ huy quân thị vệ, chừa lại tại Mích-ba, dưới quyền cai trị của Ghê-đa-lia – con trai A-hi-cam. Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, đã bắt họ, rồi dẫn về xứ của dân Am-môn.
  3. Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những chỉ huy của các lực lượng theo ông, đã nghe tất cả những việc tàn ác mà Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, đã làm. 12. Họ đã tập họp tất cả nhân lực đi đánh Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia. Họ đã gặp hắn gần những ao lớn tại Ghi-bê-ôn. 13. Vì vậy, khi đoàn dân đang ở với Ích-ma-ên thấy Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, và những chỉ huy dưới quyền của ông, thì họ vui mừng. 14. Tất cả những người, bị Ích-ma-ên bắt dẫn đi từ Mích-ba, đã quay lại và đi theo Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át. 15. Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, cùng với tám người, đã thoát khỏi tay của Giô-ha-nan, chạy về với dân Am-môn.
  4. Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả chỉ huy của những lực lượng theo ông, đã dẫn tất cả những người còn lại mà họ giải cứu khỏi tay Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-mia, bị dẫn đi từ Mích-ba sau khi giết Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam, gồm những chiến binh, phụ nữ, trẻ em, và những hoạn quan – là những người ông đã đem trở lại từ Ga-ba-ôn.
  5. Họ đã khởi hành, rồi dừng lại tại Ghê-rút Kim-ham, gần Bết-lê-hem, trên đường xuống Ai Cập. 18. Họ sợ người Canh-đê bởi vì Ích-ma-ên – con trai của Nê-tha-nia, đã ám sát Ghê-đa-lia – con trai của A-hi-cam, là người mà vua Ba-by-lôn đã lập làm tổng trấn trong xứ.

 

42

  1. Tất cả chỉ huy của các lực lượng, cùng với Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, Giê-xa-nia – con trai của Hô-sa-gia, và toàn thể dân chúng từ nhỏ nhất cho đến lớn nhất, 2. đã nói với Tiên tri Giê-rê-mi rằng: Xin ông hãy nhận lời thỉnh cầu của chúng tôi mà cầu nguyện với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông cho chúng tôi, là những người còn sót lại đây. Như ông có thể thấy, chúng tôi chỉ còn lại rất ít không nhiều. 3. Xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông chỉ cho chúng tôi con đường chúng tôi phải đi, và điều chúng tôi phải làm.
  2. Tiên tri Giê-rê-mi nói với họ: Ta đã nghe lời thỉnh cầu. Thật vậy, ta sẽ cầu xin cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi theo những lời của các ngươi. Và rồi, điều gì mà Đức Giê-hô-va trả lời cho các ngươi, ta sẽ công bố cho các ngươi, không giữ lại một lời nào với các ngươi.
  3. Vì vậy, họ đã nói với Giê-rê-mi: Cầu xin Đức Giê-hô-va chân thật và thành tín làm chứng giữa chúng ta nếu chúng tôi không làm theo mọi lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã sai ông báo cho chúng tôi. 6. Dù lành hay dữ, chúng tôi sẽ vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta, là Đấng mà chúng tôi cử ông đến, để chúng tôi sẽ được phước khi vâng theo tiếng của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của chúng ta.
  4. Mười ngày trôi qua, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 8. Ông gọi Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, và tất cả những chỉ huy của các lực lượng theo hắn, cùng toàn thể dân chúng từ người nhỏ nhất cho đến người lớn nhất, 9. rồi nói với họ rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng mà các ngươi đã nhờ ta trình dâng lời cầu xin trước mặt Ngài, phán như thế nầy:
  5. Nếu các ngươi cứ ở lại trong xứ thì Ta sẽ xây dựng các ngươi chứ không triệt hạ. Ta sẽ trồng các ngươi, chứ không nhổ các ngươi, bởi vì Ta lấy làm tiếc về tai họa mà Ta đã giáng trên các ngươi. 11. Đừng sợ vua Ba-by-lôn, là người mà các ngươi đang sợ. Đừng sợ hắn. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì Ta ở với các ngươi, để cứu vớt các ngươi, và giải thoát các ngươi khỏi tay của hắn. 12. Ta sẽ thương xót các ngươi và khiến hắn cũng thương xót các ngươi, và cho các ngươi được trở về xứ của mình.
  6. Nhưng nếu các ngươi nói: “Chúng tôi không muốn ở trong xứ nầy, cũng không vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình.” 14. Các ngươi nói rằng: “Không! Chúng tôi sẽ đi đến đất Ai Cập, là nơi chúng tôi sẽ không thấy chiến tranh, không nghe tiếng kèn, cũng không đói khát thức ăn. Chúng tôi sẽ sống tại đó!” 15. Vì vậy, hỡi dân Giu-đa còn sót lại kia, hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va.

Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Nếu các ngươi quyết định hướng mặt vào Ai Cập rồi đến định cư tại đó, 16. thì gươm đao mà các ngươi khiếp sợ sẽ đuổi kịp các ngươi trong xứ Ai Cập; đói kém mà các ngươi sợ hãi cũng sẽ theo sát các ngươi tại Ai Cập, và rồi các ngươi sẽ chết tại đó. 17. Vì vậy, tất cả những kẻ hướng mặt vào Ai Cập để đến định cư tại đó sẽ chết bởi gươm đao, đói kém, và dịch bệnh. Không một ai trong họ sẽ tồn tại hay thoát khỏi tai họa mà Ta sẽ giáng trên chúng.

  1. Thật vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Như Ta đã trút cơn giận và thịnh nộ trên dân cư Giê-ru-sa-lem thể nào, thì khi các ngươi vào Ai Cập, Ta cũng sẽ trút cơn thịnh nộ của Ta trên các ngươi như vậy. Các ngươi sẽ thành lời trù ẻo và nỗi kinh hoàng, lời nguyền rủa và nỗi sỉ nhục. Các ngươi sẽ không còn thấy nơi nầy nữa.
  2. Hỡi những người còn sót lại của Giu-đa! Đức Giê-hô-va đã phán cùng các ngươi: “Đừng đi đến Ai Cập!” Các ngươi hãy biết rằng ngày nay ta đã cảnh cáo các ngươi. 20. Các ngươi đã giả dối trong lòng. Các ngươi đã nhờ ta đến với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi và nói với ta: “Xin vì chúng tôi mà khẩn cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta. Tất cả những gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta phán, xin cho chúng tôi biết, thì chúng tôi sẽ thực hiện.” 21. Hôm nay ta đã công bố cho các ngươi, nhưng các ngươi không vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và cũng không làm theo điều nào mà Ngài đã sai ta truyền cho các ngươi. 22. Vì vậy, hãy biết chắc rằng các ngươi sẽ chết bởi gươm đao, đói kém và dịch bệnh tại chính nơi mà các ngươi muốn đến cư ngụ.

 

43

  1. Ngay sau khi Giê-rê-mi chấm dứt nói cho mọi người tất cả những lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời – tức là tất cả những lời mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ đã sai ông nói cho họ – là những lời đã nói ở phần trước; 2. thì A-xa-ria – con trai của Hô-sa-gia, và Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những kẻ ngạo mạn, nói với Giê-rê-mi: Ông nói dối! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi không sai ông nói với chúng tôi: “Đừng đến Ai Cập trú ngụ tại đó.” 3. Nhưng Ba-rúc – con trai của Nê-ri-gia, đã xúi giục ông chống lại chúng tôi, nộp chúng tôi vào tay của người Canh-đê, để họ có thể giết chúng tôi hoặc lưu đày chúng tôi sang Ba-by-lôn.
  2. Vì vậy, Giô-ha-nan – con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những chỉ huy của các lực lượng, và tất cả dân chúng đã không vâng theo lệnh của Đức Giê-hô-va truyền phải ở lại trong đất Giu-đa. 5. Nhưng Giô-ha-nan, con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những chỉ huy của các lực lượng, đã bắt tất cả những người còn sót lại tại Giu-đa – tức là những người đã trở về từ mọi nước mà họ đã bị đưa đến, và hiện đang sống tại Giu-đa – 6. gồm đàn ông, đàn bà, trẻ em, những con gái của vua, và mọi người mà Nê-ba-xa-a-đan, quan chỉ huy vệ binh, đã để lại cho Ghê-đa-lia, con trai của A-hi-cam, cháu của Sa-phan, cùng với Tiên tri Giê-rê-mi, và Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia. 7. Vì họ không vâng lời của Đức Giê-hô-va, họ đã vào xứ Ai Cập, đến tận Tác-pha-nết.
  3. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi tại Tác-pha-nết: 9. Ngươi hãy cầm trong tay của ngươi một số viên đá lớn, rồi giấu dưới lớp gạch làm bằng đất sét trên lối vào lâu đài của Pha-ra-ôn tại Tác-pha-nết, trước mắt những người Giu-đa. 10. Rồi hãy nói với chúng: Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Ta sẽ gọi và đem đầy tớ của Ta là Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đến. Ta sẽ đặt ngai của người trên những viên đá mà Ta mới vừa giấu. Người sẽ căng màn của hoàng đế bên trên chúng. 11. Người sẽ đến tiến đánh Ai Cập. Người nào đáng chết thì bị chết, người nào đáng bị lưu đày thì bị lưu đày, người nào đáng bị gươm chém thì bị gươm đâm. 12. Ta sẽ nhóm lửa, rồi người sẽ đốt các đền miếu của các thần của Ai Cập. Người sẽ thiêu hủy những nơi đó, rồi đem chúng đi lưu đày. Người thâu tóm cho mình cả xứ Ai Cập, giống như một người chăn chiên bỏ gọn vào trong áo của mình, rồi ra đi một cách bình an. 13. Người sẽ đập vỡ các trụ thờ Bết Sê-mết trong xứ Ai Cập, và sẽ thiêu hủy những đền miếu của các thần của Ai Cập.

 

44

  1. Có lời phán cùng Giê-rê-mi – về tất cả những người Giu-đa đang cư ngụ trong xứ Ai Cập, tức là những người cư ngụ tại Mít-đôn, Tác-pha-nết, Nốp, và vùng Pha-trốt – rằng:
  2. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Các ngươi đã thấy tất cả những tai họa mà Ta đã giáng trên Giê-ru-sa-lem, và trên tất cả các thành của Giu-đa. Hãy xem! Ngày nay chúng đã trở nên hoang vu và không còn người cư trú tại đó. 3. Nguyên nhân là do tội ác mà chúng đã phạm để chọc giận Ta. Chúng đã đốt hương và thờ lạy các thần khác tại đó mà chính chúng, cũng như các ngươi và tổ phụ của các ngươi cũng chưa từng biết. 4. Mặc dầu Ta đã dậy sớm sai tất cả những đầy tớ của Ta, là các tiên tri, đến bảo các ngươi rằng: Ồ! Đừng làm điều kinh tởm mà Ta ghét. 5. Nhưng chúng không nghe, không lắng tai, không từ bỏ điều gian ác, nhưng cứ đốt hương cho các thần khác. 6. Vì vậy, Ta trút cơn thịnh nộ và giận dữ thiêu đốt các thành của Giu-đa và các đường phố của Giê-ru-sa-lem, khiến chúng trở nên hoang tàn, và đổ nát như ngày nay.
  3. Vì vậy, bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Tại sao các ngươi lại phạm tội lớn lao như vậy để tự làm hại chính mình? Đến nỗi từ đàn ông, đàn bà, trẻ con, cho đến trẻ thơ đang bú đều bị tiêu diệt khỏi Giu-đa, không còn sót lại người nào. 8. Các ngươi đang chọc giận Ta bằng những công việc từ tay của các ngươi, qua việc đốt hương cho các thần khác trong đất Ai Cập, tại nơi các ngươi đang định cư. Các ngươi tự diệt chính mình, bị nguyền rủa và bị sỉ nhục giữa mọi dân trên đất. 9. Có phải các ngươi đã quên điều gian ác của tổ phụ các ngươi, điều gian ác của các vua Giu-đa, điều gian ác của những người vợ của họ, điều gian ác của chính các ngươi, và điều gian ác của vợ các ngươi đã phạm trong đất Giu-đa và trong những đường phố của Giê-ru-sa-lem? 10. Thậm chí cho đến ngày nay lòng chúng cũng không tan vỡ và cũng không kính sợ. Chúng không bước đi theo luật pháp và mạng lệnh mà Ta đã lập trước mặt các ngươi và tổ phụ của các ngươi.
  4. Vì vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Nầy! Ta hướng mặt của Ta để chống lại các ngươi, để giáng tai họa và tiêu diệt cả Giu-đa. 12. Ta sẽ cất bỏ những kẻ còn sót lại của Giu-đa, là những kẻ đã hướng mặt của họ đi xuống Ai Cập để trú ngụ tại đó. Tất cả bọn chúng sẽ bị kết liễu tại Ai Cập. Chúng sẽ gục ngã bởi gươm đao hay đói kém. Từ trẻ con cho đến người lớn đều sẽ chết vì gươm hay đói kém. Chúng sẽ trở thành lời nguyền rủa, nỗi kinh hoàng, bị chửi rủa và sỉ nhục. 13. Ta sẽ trừng phạt những kẻ cư ngụ tại xứ Ai Cập, như đã trừng phạt Giê-ru-sa-lem bằng gươm đao, đói kém, và dịch bệnh. 14. Trong số những người Giu-đa còn sót lại đã xuống cư ngụ tại Ai Cập, sẽ không có một người nào thoát khỏi hoặc còn sống để trở về Giu-đa, là nơi chúng hằng mong mỏi quay về để cư ngụ tại đó, bởi vì không ai sẽ trở về, ngoại trừ những người trốn thoát.
  5. Bấy giờ, tất cả những người biết vợ mình đã đốt hương cho các thần khác, và tất cả những phụ nữ có mặt tại đó, cùng với tất cả dân chúng cư ngụ tại Pha-trốt trong đất Ai Cập – một đám đông – đã nói với Giê-rê-mi rằng: 16. Lời mà ông nhân danh Đức Giê-hô-va nói với chúng tôi, chúng tôi sẽ không nghe ông. 17. Nhưng chúng tôi chắc chắn sẽ làm những gì miệng chúng tôi đã khấn hứa, để đốt hương cho nữ hoàng trên trời, rót lễ quán để cúng tế bà, như chúng tôi, tổ tiên của chúng tôi, các vua của chúng tôi, và các lãnh đạo của chúng tôi đã làm trong các thành tại Giu-đa và trong các đường phố của Giê-ru-sa-lem – Chúng tôi đã có thực phẩm sung túc, được thịnh vượng, và không thấy hoạn nạn gì cả. 18. Nhưng từ khi chúng tôi ngưng đốt hương và không rót lễ quán cho nữ vương trên trời, thì chúng tôi thiếu thốn mọi thứ, và rồi bị diệt bởi gươm đao và đói kém. 19. Hơn nữa, khi chúng tôi đốt hương và rót lễ quán cho nữ vương trên trời, không phải chúng tôi đã được phép của chồng mình để làm bánh và dâng lễ quán để thờ phượng bà hay sao?
  6. Giê-rê-mi đã nói với toàn thể dân chúng, đàn ông, đàn bà, cùng những người đã đối đáp với ông rằng: 21. Không phải việc các ngươi, tổ phụ của các ngươi, các vua, các lãnh đạo của các ngươi, cùng dân chúng trong xứ đã đốt hương trong các thành của Giu-đa và trên những đường phố của Giê-ru-sa-lem đã được Đức Giê-hô-va ghi nhớ trong tâm trí của Ngài hay sao? 22. Đức Giê-hô-va không thể chịu được những việc làm gian ác của các ngươi và những việc kinh tởm mà các ngươi đã phạm lâu hơn nữa, cho nên xứ sở của các ngươi đã bị hoang vu, là nỗi kinh hoàng, bị nguyền rủa, và không có người cư trú cho đến ngày hôm nay. 23. Bởi vì các ngươi đã đốt hương và phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va, và cũng không bước đi theo luật pháp, mạng lệnh, và lời răn dạy của Ngài, cho nên ngày nay tai họa nầy đã giáng trên các ngươi.
  7. Giê-rê-mi lại nói với toàn thể dân chúng và tất cả những phụ nữ: Hỡi tất cả những người Giu-đa đang sống trong xứ Ai Cập! Hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va! 25. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Thật vậy, các ngươi và vợ của các ngươi, miệng đã nói và tay đã làm. Các ngươi đã nói: Chúng tôi sẽ thực hiện lời chúng tôi đã khấn nguyện, sẽ đốt hương, và rót lễ quán cho nữ vương trên trời. Thật vậy, các ngươi sẽ giữ sự hứa nguyện của các ngươi, và sẽ hoàn thành những lời hứa của các ngươi. 26. Vì vậy, tất cả những người Giu-đa đang cư ngụ trong đất Ai Cập! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va phán: Nầy Ta lấy danh vĩ đại của Ta mà thề rằng “Thật như Chúa Giê-hô-va hằng sống”, danh của Ta sẽ không bao giờ được nhắc đến trong miệng của một người Giu-đa nào đang sống trong cả xứ Ai Cập. 27. Nầy, Ta sẽ theo dõi chúng để giáng họa chứ không phải để ban phước. Tất cả những người Giu-đa sống trong đất Ai Cập sẽ bị diệt bởi gươm đao và đói kém cho đến khi chúng bị kết liễu. 28. Chỉ có một số ít người từ Ai Cập thoát khỏi gươm đao sẽ trở về đất Giu-đa; và những người còn lại của Giu-đa, là những kẻ đã đến trú ngụ trong đất Ai Cập, sẽ biết lời nào được nghiệm: Lời của Ta hay lời của chúng.
  8. Đức Giê-hô-va phán: Đây là dấu hiệu cho các ngươi để biết rằng Ta sẽ trừng phạt các ngươi tại nơi nầy, để các ngươi biết rằng những lời Ta phán về tai họa nghịch cùng các ngươi chắc chắn được thực hiện. 30. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ phó Pha-ra-ôn Hốp-ra, vua của Ai Cập, vào tay những kẻ thù của nó, tức là vào tay của những kẻ tìm cách lấy mạng nó – giống như Ta đã phó Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, là kẻ thù và đã tìm kiếm mạng sống của nó.

 

45

  1. Đây là lời của Tiên Tri Giê-rê-mi nói với Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia, khi ông viết những lời do Giê-rê-mi đọc cho ông vào một cuộn sách, trong năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, làm vua Giu-đa.
  2. Hỡi Ba-rúc! Về phần anh, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: 3. Ngươi đã nói: Thật khốn nạn cho tôi bởi vì Đức Giê-hô-va đã thêm sầu não vào những buồn đau của tôi. Tôi đuối sức vì than thở, và không được nghỉ ngơi!
  3. Con hãy nói với hắn rằng: Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Kìa, Ta sẽ phá những gì Ta đã xây, Ta sẽ nhổ những gì Ta đã trồng, trên cả đất nầy. 5. Ngươi vẫn còn tìm kiếm cho mình những việc lớn lao hay sao? Đừng tìm kiếm nữa! Bởi vì, kìa, Ta sắp giáng tai ương trên mọi loài xác thịt. Đức Giê-hô-va phán: Nhưng về phần ngươi, dù ngươi đi đến nơi nào, Ta cũng sẽ cho ngươi được bảo toàn tính mạng.

 

46

  1. Lời của Đức Giê-hô-va truyền cho Tiên Tri Giê-rê-mi về các quốc gia:
  2. Về Ai Cập, liên quan đến quân đội của Pha-ra-ôn Nê-cô, vua của Ai Cập, bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đánh bại tại Cạt-kê-mít, gần sông Ơ-phơ-rát, vào năm thứ tư của triều vua Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, vua của Giu-đa:
  3. Hãy chuẩn bị thuẫn và khiên để xông vào trận! 4. Hỡi các kỵ binh! Hãy thắng yên ngựa, rồi cưỡi lên! Hãy đứng vào hàng ngũ, đội mũ, mài giáo, mặc áo giáp.
  4. Vì sao Ta thấy chúng hoảng sợ thối lui? Các chiến binh của chúng bị đánh tan tành, chúng vội vã tháo chạy, không dám nhìn trở lại. Nỗi kinh hoàng bao trùm mọi phía! Đức Giê-hô-va phán vậy. 6. Người nhanh chân cũng không trốn kịp, kẻ dũng sĩ cũng không thoát khỏi, chúng quỵ xuống ngã gục về hướng bắc bên sông Ơ-phơ-rát!
  5. Kẻ nào đã dâng trào lên như sông Nin, như những dòng sông nước chảy cuồn cuộn? 8. Ai Cập đã dâng trào lên như sông Nin, như những dòng sông nước chảy cuồn cuộn. Nó nói: Ta sẽ dâng lên, sẽ tràn ngập đất, sẽ tiêu diệt thành phố và dân cư trong đó.
  6. Những ngựa chiến, hãy xông lên! Những xe chiến mã, hãy lao tới! Các chiến binh dũng mãnh của Cút và Ly-bi cầm khiên, và Ly-đi giương cung, hãy tiến đến! 10. Đây là ngày thuộc về Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. Đây là ngày báo thù để Ngài báo trả những kẻ thù nghịch của Ngài. Gươm sẽ ăn nuốt thỏa thuê, chúng sẽ say sưa uống máu; bởi vì Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, đã có một tế lễ trong đất phương bắc, bên sông Ơ-phơ-rát.
  7. Hỡi trinh nữ, con gái của Ai Cập! Hãy lên Ga-la-át, để lấy dầu xoa. Ngươi có dùng nhiều thuốc cũng vô ích. Ngươi sẽ không được chữa lành. 12. Các nước đã nghe về nỗi ô nhục của ngươi. Tiếng kêu khóc của ngươi vang khắp đất, bởi vì các dũng sĩ đã vấp phải dũng sĩ, rồi cả hai cùng ngã nhào.
  8. Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán với Tiên Tri Giê-rê-mi về việc Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, sẽ tấn công Ai Cập:
  9. Hãy loan báo tại Ai Cập, hãy công bố tại Mít-đôn, hãy công bố tại Nốp và Tác-pha-nết rằng: Các ngươi hãy đứng vào hàng ngũ, hãy chuẩn bị sẵn sàng, bởi vì gươm đang bao quanh để nuốt ngươi. 15. Tại sao các dũng sĩ lại bỏ chạy? Tại sao chúng không đứng nổi? Bởi vì Đức Giê-hô-va đã xua đuổi chúng. 16. Thật vậy, Ngài đã làm cho nhiều người vấp ngã, người nầy ngã trên người khác. Chúng đã nói: Hãy đứng dậy! Chúng ta hãy trở về với dân tộc của mình, hãy trở về mảnh đất nguyên quán của mình, hãy tránh xa gươm của kẻ đàn áp. 17. Tại đó, người ta đã kêu lên rằng: “Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập chỉ có tiếng. Thời đại của hắn đã qua rồi.”
  10. Ðức Vua, danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, phán: Ta lấy chính mạng sống của Ta mà xác quyết rằng như núi Tha-bô nhô lên giữa những ngọn núi thể nào, như núi Cạt-mên nổi bật nơi bờ biển thể nào, quân giặc cũng sẽ đến như vậy. 19. Hỡi con gái của Ai Cập! Các ngươi hãy chuẩn bị chính mình để bị lưu đày; bởi vì Nốp sẽ bị thiêu hủy, trở nên hoang vu, và không có người ở. 20. Ai Cập giống như một con bò cái tơ xinh đẹp, nhưng bị kẻ đến từ phương bắc chích. 21. Ngay cả quân lính đánh thuê ở giữa họ, giống như những con bò đực mập mạp, cũng quay lưng chạy trốn, không giữ nổi vị trí; bởi vì ngày hoạn nạn đã đến với chúng, là lúc chúng bị trừng phạt.
  11. Tiếng động của nàng như con rắn bò đi, bởi vì quân thù đang kéo đến. Chúng cầm rìu tấn công nàng như những người chặt củi. 23. Đức Giê-hô-va phán: Chúng sẽ chặt ngã khu rừng của nàng, vì không đi xuyên qua được. Chúng đông hơn cào cào, không thể đếm được. 24. Con gái của Ai Cập sẽ bị làm nhục. Nàng sẽ bị trao vào tay một dân ở phương bắc.
  12. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Nầy, Ta sẽ trừng phạt A-môn, Nô, Pha-ra-ôn và Ai Cập, cùng các thần và các vua của nó, Pha-ra-ôn và những kẻ nhờ cậy người. 26. Ta sẽ phó chúng vào tay những kẻ tìm hại mạng sống của chúng: Vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, và vào tay các thuộc hạ người. Tuy nhiên, nó sẽ có dân cư ngụ như những ngày xưa. – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  13. Nhưng ngươi – Gia-cốp, là đầy tớ của Ta! Đừng sợ. Y-sơ-ra-ên! Đừng kinh hãi. Vì nầy, Ta sẽ giải cứu ngươi từ nơi xa xôi, và dòng dõi của người từ chốn lưu đày. Gia-cốp sẽ trở về, nghỉ ngơi, yên tịnh, không còn sợ hãi ai cả.
  14. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Gia-cốp, là đầy tớ của Ta! Ngươi đừng khiếp sợ, vì Ta ở với ngươi. Ta sẽ tiêu diệt tất cả các nước mà Ta đã đuổi ngươi đến. Nhưng với ngươi thì Ta không diệt hết, ngươi sẽ không tránh khỏi hình phạt nhưng Ta sẽ sửa phạt ngươi cách công minh.

 

47

  1. Đây là lời Đức Giê-hô-va phán cùng Tiên Tri Giê-rê-mi về người Phi-li-tin, trước khi Pha-ra-ôn đánh Ga-xa.
  2. Đức Giê-hô-va phán: Kìa, các dòng nước dâng lên từ phương bắc, sẽ biến thành một dòng nước lũ ngập tràn, làm ngập cả xứ và tất cả những gì ở trong xứ: thành phố và dân cư ở trong thành phố. Người ta sẽ kêu gào, và tất cả cư dân trong xứ sẽ than khóc. 3. Khi nghe tiếng vó ngựa dồn dập tiến gần, tiếng vang động của những xe chiến mã, tức là tiếng rúng động do các bánh xe đó gây ra, những người cha không vì các con mà quay lại bởi vì chân tay đã rã rời.
  3. Vì đã đến ngày tất cả dân Phi-li-tin bị tiêu diệt, tất cả những người cứu giúp Ty-rơ và Si-đôn còn lại cũng bị loại trừ. Bởi vì Đức Giê-hô-va tiêu diệt dân Phi-li-tin, là những người còn sót lại tại vùng duyên hải Cáp-tô. 5. Ga-xa sẽ bị trơ trọi, Ách-kê-lôn sẽ bị cắt bỏ. Hỡi kẻ còn sót lại trong thung lũng! Các ngươi sẽ tự rạch mình cho đến bao giờ? 6. Ôi, gươm của Đức Giê-hô-va! Bao giờ ngươi mới yên nghỉ? Hãy trở vào trong vỏ, nghỉ ngơi, và nằm yên. 7. Nhưng Đức Giê-hô-va đã ra lệnh, làm sao ngươi yên nghỉ được? Bởi vì Ngài đã giao cho ngươi trừng phạt Ách-ca-lôn và vùng duyên hải.

 

48

  1. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán về Mô-áp như thế nầy: Khốn cho Nê-bô! Bởi vì nó đã bị tàn phá. Ki-ri-a-ta-im đã bị nhục nhã và bị chiếm đóng. Một thành trì kiên cố đã bị sỉ nhục và bị tan hoang.
  2. Lời ca ngợi Mô-áp không còn nữa. Tại Hết-bôn, người đã ta mưu hại nó: Nào, chúng ta hãy đến tiêu diệt một dân tộc. Mát-mên! Ngươi sẽ bị triệt hạ. Ngươi sẽ bị gươm theo đuổi.
  3. Có tiếng than khóc từ Hô-rô-na-im về sự tàn phá và sự hủy hoại khủng khiếp. 4. Mô-áp đã bị hủy diệt! Tiếng khóc của trẻ em vang vọng. 5. Khi lên đèo Lu-hít, người ta vừa đi lên, vừa khóc liên tục. Khi xuống dốc Hô-rô-na-im, người ta nghe tiếng kêu la hủy diệt thảm sầu.
  4. Hãy chạy trốn! Hãy cứu lấy mạng của mình! Hãy như con lừa ẩn trong đồng hoang! 7. Bởi vì ngươi đã trông cậy vào công lao và châu báu của mình, cho nên ngươi sẽ bị chiếm đóng. Kê-mốt sẽ bị lưu đày cùng với các tư tế và các lãnh đạo của nó. 8. Kẻ hủy diệt sẽ đến từng thành, không một thành nào thoát khỏi. Thung lũng sẽ bị tàn phá, đồng bằng sẽ bị điêu tàn, như Đức Giê-hô-va đã phán.
  5. Hãy chắp cánh cho Mô-áp, để nó có thể trốn thật xa. Các thành của nó sẽ bị hoang vu, không có người cư ngụ. 10. Đáng nguyền rủa cho kẻ thực hiện công việc của Đức Giê-hô-va cách gian dối! Đáng nguyền rủa cho kẻ giữ cho gươm của mình khỏi vấy máu!
  6. Từ thời niên thiếu, Mô-áp đã được an nhàn, giống như rượu đã lắng cặn, nhưng chưa được rót từ bình nầy sang bình khác, cũng hề chưa bị lưu đày, cho nên vị của nó vẫn còn nguyên và mùi của nó chưa thay đổi. 12. Vì vậy, hãy xem – Đức Giê-hô-va phán – sẽ có ngày Ta sẽ sai người đến, làm cho nó bị nghiêng ngã, khiến cho bình trống rỗng, rồi bình bị đập bể. 13. Mô-áp sẽ bị sỉ nhục vì Kê-mốt, giống như nhà Y-sơ-ra-ên đã bị sỉ nhục vì Bê-tên, mà chúng đã trông cậy.
  7. Làm sao các ngươi có thể nói: Chúng tôi là anh hùng – là những người mạnh mẽ nơi chiến trận? 15. Mô-áp đã bị đánh bại, các thành của nó bị xâm chiếm, các thanh niên ưu tú nhất của nó bị giết – Đức Vua, danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, phán vậy.
  8. Tai họa của Mô-áp đã cận kề; hoạn nạn của nó đến rất nhanh. 17. Tất cả những người lân cận nó, hãy than khóc về nó. Tất cả những người biết tên của nó, hãy nói: Vương trượng quyền uy và sự tráng lệ đã bị bẻ gãy!
  9. Hỡi cô gái đang cư ngụ tại Đi-hôn! Hãy rời khỏi chốn vinh quang để ngồi trong nơi khô hạn; bởi vì kẻ tàn phá Mô-áp đang xông lên đánh ngươi. Nó đang tiêu diệt các thành trì kiên cố của ngươi. 19. Hỡi dân cư A-rô-e! Hãy đứng bên đường, quan sát, rồi hỏi đàn ông đang chạy trốn và đàn bà đang lánh nạn rằng: Việc gì đã xảy ra? 20. Mô-áp đang bị sỉ nhục, bởi vì đất nước của nó đã tan tành. Hãy than khóc và kêu van! Hãy báo cho Ạc-nôn biết rằng Mô-áp đã bị hủy hoại. 21. Sự đoán phạt đã giáng xuống trên xứ sở – trên bình nguyên Hô-lôn, Gia-xa, và Mê-pha-át; 22. trên Đi-bôn, Nê-bô và Bết Đíp-la-tha-im; 23. trên Ki-ri-a-ta-im, Bết Ga-mun và Bết Mê-ôn; 24. trên Kê-ri-giốt, Bốt-ra, và trên tất cả các thành xa gần thuộc về Mô-áp. 25. Sừng của Mô-áp đã bị chặt đứt, và cánh tay của nó đã bị bẻ gãy – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  10. Hãy làm cho nó bị say, bởi vì nó đã nổi lên chống lại Đức Giê-hô-va. Hãy để cho Mô-áp đắm mình trong đồ nó đã mửa ra, để rồi nó cũng bị chế giễu. 27. Không phải ngươi đã từng chế giễu Y-sơ-ra-ên hay sao? Nó có bao giờ bị bắt giữa những kẻ trộm đâu mà mỗi lần nhắc đến nó thì ngươi lắc đầu?
  11. Hỡi những người đang sống tại Mô-áp! Hãy lìa khỏi thành thị rồi ẩn mình trong hốc đá. Hãy như chim bồ câu làm tổ của mình trên miệng vực thẳm.
  12. Chúng ta có nghe về tính kiêu căng của Mô-áp. Nó vô cùng tự cao: kiêu căng, ngạo mạn, kiêu hãnh, và cao ngạo trong lòng. 30. Đức Giê-hô-va phán: Ta biết tính xấc láo của nó. Nó nói dối, không đúng sự thật, không có điều nào trở thành sự thật cả.
  13. Vì vậy, Ta than thở vì Mô-áp, Ta khóc cho cả dân Mô-áp, Ta thương tiếc những người ở Kiệt Hê-rết. 32. Hỡi cây nho tại Síp-ma, Ta khóc cho ngươi, khóc cho Gia-ê-xe! Các nhánh của ngươi lan ra trên biển, chúng vươn đến tận biển Gia-ê-xe. Kẻ hủy diệt đã đến cướp đi trái cây mùa hạ và triệt hạ vườn nho của ngươi. 33. Niềm vui và sự hân hoan đã bị cất đi khỏi những cánh đồng trù phú và khỏi xứ Mô-áp. Ta đã làm cho những bồn ép nho ngưng chảy nước nho. Không một kẻ đạp nho nào sẽ cất tiếng reo vui nên không có tiếng reo vui.
  14. Có tiếng khóc từ Hết-bôn đến Ê-lê-a-lê và Gia-hát. Người ta cất cao giọng từ Xoa cho đến Hô-rô-na-im và Ê-lát Sê-li-sia. Vì ngay cả những dòng sông tại Nim-rim cũng khô cạn. 35. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tiêu diệt khỏi Mô-áp kẻ nào đã dâng tế lễ tại nơi cao và đốt hương cho những thần của nó.
  15. Vì vậy, lòng Ta trỗi tiếng sáo tiếc thương vì Mô-áp, cất tiếng sáo thảm sầu vì dân Kiệt Hê-rết bởi vì sự giàu có mà chúng thâu góp đã mất sạch cả rồi. 37. Bởi vì đầu nào cũng bị cạo trọc, râu nào cũng bị cạo nhẵn, bàn tay nào cũng bị cắt, lưng nào cũng phải quấn vải sô.
  16. Có tiếng khóc than trên mỗi nóc nhà tại Mô-áp và tại các quảng trường, bởi vì Ta đã đập vỡ Mô-áp như một chiếc bình không được yêu thích nữa – Đức Giê-hô-va phán vậy. 39. Chúng than khóc vì nó bị tan tác. Làm thể nào Mô-áp đã đưa lưng chịu nhục! Mô-áp sẽ trở thành sự chế giễu và nỗi hãi hùng cho tất cả những ai biết đến nó.
  17. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, có người sẽ lướt nhanh như đại bàng, xòe cánh của mình phủ trùm trên Mô-áp. 41. Kê-ri-giốt bị chiếm giữ, các thành trì kiên cố bị bao vây. Trong ngày đó, lòng của các dũng sĩ Mô-áp giống như lòng của một sản phụ lúc chuyển dạ. 42. Mô-áp sẽ bị tiêu diệt, không còn là một dân tộc nữa, bởi vì nó đã nổi lên chống lại Đức Giê-hô-va.
  18. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi dân cư Mô-áp! Sự kinh hoàng, hố sâu, và cạm bẫy đang chờ đợi ngươi. 44. Ai trốn được cảnh kinh hoàng, sẽ rớt xuống hố sâu. Ai lên khỏi hố sâu, sẽ rơi vào cạm bẫy. Bởi vì Ta sẽ đem năm của sự trừng phạt đến trên Mô-áp – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  19. Kẻ lánh nạn kiệt sức đến núp dưới bóng của Hết-bôn, nhưng lửa phát ra từ Hết-bôn, một ngọn lửa từ giữa Si-hôn thiêu hủy đến tận xó xỉnh của Mô-áp, là đầu não của những kẻ nổi loạn. 46. Hỡi Mô-áp! Khốn nạn cho ngươi. Dân thờ Kê-mốt bị diệt vong vì con trai của ngươi bị bắt làm tù binh, và con gái của ngươi bị lưu đày. 47. Dầu vậy, đến những ngày cuối cùng, Ta sẽ đem những kẻ bị lưu đày của Mô-áp trở về – Đức Giê-hô-va phán vậy.

Lời tuyên án dành cho Mô-áp dừng tại đây.

 

49

  1. Đức Giê-hô-va phán về dân Am-môn như thế nầy: Có phải Y-sơ-ra-ên không có con trai? Có phải nó không có người thừa kế? Tại sao Minh-côm lại chiếm Gát làm cơ nghiệp, và dân của hắn đến ở trong các thành của nó? 2. Đức Giê-hô-va phán: Vì vậy, nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ khiến kèn báo động chiến tranh vang rền trong Ráp-bát của Am-môn. Nó sẽ trở thành một đống hoang tàn, những làng mạc chung quanh nó sẽ bị lửa thiêu hủy. Y-sơ-ra-ên sẽ chiếm lại cơ nghiệp của mình. Đức Giê-hô-va phán: 3. Hỡi Hết-bôn! Hãy than khóc bởi vì A-hi đang bị tàn phá. Hỡi các con gái của Ráp-bát! Hãy than van. Hãy mặc áo vải sô, hãy chạy tới chạy lui giữa những hàng rào mà than khóc, bởi vì Minh-côm cùng với những tư tế, và các quan chức của hắn sẽ bị lưu đày.
  2. Hỡi đứa con gái bội bạc! Thung lũng phì nhiêu nhất trong các thung lũng mà ngươi đã khoe khoang ở đâu rồi? Ngươi đã tin cậy vào những kho báu của mình, cho nên đã bảo rằng: Ai dám đụng đến ta? 5. Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, phán: Nầy, Ta sẽ khiến nỗi kinh hãi từ mọi phía giáng trên ngươi. Mỗi người trong các ngươi sẽ bị xua đuổi ngay trước mặt – Không có ai tụ họp những người chạy tản lạc. 6. Nhưng về sau, Ta sẽ đem con cái của Am-môn bị lưu đày trở về – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán về Ê-đôm như sau: Ở Thê-man không còn sự khôn ngoan hay sao? Có phải sự hiểu biết của các mưu sĩ đã biến mất, hay là sự khôn ngoan của họ đã không còn? 8. Hỡi dân cư Đê-đan! Hãy quay lưng chạy trốn, hãy ẩn mình trong những hang sâu. Bởi vì vào thời điểm Ta trừng phạt nó, Ta sẽ giáng trên nó tai ương của Ê-sau. 9. Nếu những người hái nho đến cùng ngươi, không lẽ họ hái sạch? Nếu có những kẻ trộm lúc ban đêm, không phải chúng chỉ lấy những gì mà chúng cần thôi hay sao? 10. Nhưng Ta đã lột trần Ê-sau, phơi bày những nơi kín đáo của nó. Nó không thể che giấu được. Con cháu, anh em, người lân cận của nó đang bị tiêu diệt, và chính nó cũng không còn. 11. Hãy để những trẻ mồ côi lại, Ta sẽ nuôi dưỡng chúng. Những góa phụ của ngươi! Hãy tin cậy nơi Ta.
  4. Đức Giê-hô-va phán: Những kẻ bị tuyên án, không lẽ chúng khỏi phải uống chén trừng phạt hay sao? Còn ngươi, có thể nào ngươi không bị trừng phạt? Ngươi sẽ không thoát khỏi bị trừng phạt, nhưng chắc chắn ngươi sẽ uống chén đó. 13. Đức Giê-hô-va phán: Ta đã thề với chính mình rằng Bốt-sa sẽ trở nên một nơi kinh tởm, một sự chế giễu, một chốn hoang tàn, một lời nguyền rủa. Tất cả các thành của nó sẽ vĩnh viễn bị hoang phế.
  5. Tôi đã nghe tin từ Đức Giê-hô-va. Một sứ giả đã được sai đến giữa các quốc gia: Hãy hiệp nhau kéo đến tấn công nó. Hãy nổi dậy tranh chiến. 15. Bởi vì nầy, Ta đã làm cho ngươi trở nên bé nhỏ giữa các nước, và bị người ta khinh miệt. 16. Hỡi kẻ sống trong những hốc đá, đã từng chiếm giữ những đỉnh núi cao! Nỗi kinh hoàng mà ngươi gây ra, và thói kiêu ngạo của lòng ngươi, đã đánh lừa ngươi. Dù ngươi có xây tổ trên cao như đại bàng, Ta cũng hạ ngươi xuống từ nơi đó – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  6. Ê-đôm sẽ hoang tàn. Mọi người đi ngang qua nó sẽ sững sờ, rồi xầm xì về tất cả những tai họa của nó. 18. Đức Giê-hô-va phán: Như Sô-đôm, Gô-mô-rơ và các thành lân cận bị hủy hoại thế nào, thì cũng vậy sẽ không còn lại một người nào tại đó, và cũng không có một con người nào sẽ cư ngụ tại đó. 19. Nầy, giống như một con sư tử từ bụi rậm bên bờ Giô-đanh, nó xông vào những đồng cỏ luôn luôn xanh tốt, nhưng Ta sẽ làm cho nó vội vàng bỏ chạy khỏi nơi đó ngay lập tức. Ai là người sẽ được Ta chọn để bổ nhiệm vào nơi đó? Bởi vì có ai giống như Ta? Ai sẽ ấn định thời hạn cho Ta? Kẻ chăn bầy nào sẽ đứng trước mặt Ta?
  7. Vì vậy, hãy lắng nghe chương trình của Đức Giê-hô-va đã lập để chống lại Ê-đôm, và các kế hoạch mà Ngài đã lập ra để chống lại dân cư Thê-man. Thật vậy, không phải những con chiên nhỏ nhất trong bầy cũng sẽ bị kéo đi hay sao? Thật vậy, không phải Ngài sẽ làm cho nơi ở của chúng bị hoang tàn hay sao? 21. Đất rúng động khi nghe chúng bị sụp đổ. Tiếng kêu la vang dội đến tận Biển Đỏ. 22. Nầy, Ngài sẽ bay lên như chim đại bàng, và dang cánh của Ngài trên Bốt-ra. Trong ngày đó, lòng của các chiến sĩ Ê-đôm như lòng của sản phụ trong lúc chuyển dạ.
  8. Về Đa-mách: Ha-mát và Ạt-bát bị sỉ nhục bởi vì chúng nghe tin dữ. Chúng khiếp đảm, bối rối như biển động, không thể yên lặng. 24. Đa-mách đã bủn rủn, quay lưng chạy trốn. Sự sợ hãi đã bắt lấy nó, sự đau đớn và căng thẳng xâm chiếm nó giống như một sản phụ lúc sinh con. 25. Vì sao nó bị từ bỏ? Không phải đó là một thành phố được ca tụng, một thành phố làm Ta vui hay sao? 26. Thật vậy, trong ngày đó, những thanh niên của nó sẽ ngã gục trên các quảng trường, tất cả lính chiến của nó sẽ bị tiêu diệt. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: 27. Ta sẽ châm lửa đốt những tường thành của Đa-mách. Lửa sẽ thiêu hủy các cung điện của Bên Ha-đát.
  9. Về Kê-đa và các vương quốc thuộc Hát-so, mà Nê-bu-cát-nết-sa, là vua của Ba-by-lôn, sẽ đánh, Đức Giê-hô-va phán như sau: Hãy trỗi dậy tiến đánh Kê-đa. Hãy tiêu diệt những người ở phía Đông. 29. Hãy cướp lấy các lều trại và các bầy súc vật của chúng. Hãy lấy đi các màn trướng, tất cả những vật dụng của chúng, và những lạc đà của chúng. Chúng kêu than với chính mình: Kinh hoàng từ mọi phía!
  10. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi cư dân Hát-so! Hãy trốn đi, hãy chạy trốn thật xa, hãy ẩn mình trong các hố sâu, bởi vì Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã bàn thảo chống lại các ngươi, đã lập kế hoạch để hại các ngươi.
  11. Đức Giê-hô-va phán: Hãy nổi dậy tiến đánh một dân tộc sống bình an, yên ổn, sống tách biệt, không cần cửa đóng, then gài. 32. Hãy cướp lạc đà của chúng và những bầy súc vật đông đảo của chúng làm chiến lợi phẩm. Ta sẽ rải chúng theo mọi hướng gió đến tận những xó xỉnh xa xôi nhất. Ta sẽ giáng tai họa trên chúng từ mọi phía. Đức Giê-hô-va phán: 33. Hát-so sẽ trở thành nơi ở của chó rừng, bị hoang tàn mãi mãi, không còn ai ở đó nữa, và cũng không có một người nào trú ngụ tại đó.
  12. Lời của Đức Giê-hô-va đến cùng Tiên Tri Giê-rê-mi liên quan đến Ê-lam, vào đầu triều đại của Sê-đê-kia, vua của Giu-đa. 35. Đức Giê-hô-va của các đạo vạn quân phán: Nầy, Ta sẽ bẻ gãy cung của Ê-lam, là sức mạnh chủ yếu của nó. 36. Ta sẽ khiến gió từ bốn phương trời thổi đến Ê-lam. Ta sẽ rải chúng theo mọi hướng gió đó. Không có nước nào mà không có những kẻ bị đuổi khỏi Ê-lam. 37. Ta sẽ làm cho Ê-lam hoảng sợ trước mặt những quân thù của chúng, và trước mặt những kẻ tìm kiếm mạng sống của chúng. Trong cơn giận bừng bừng của Ta, Ta sẽ giáng họa xuống trên chúng. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ sai gươm đuổi theo chúng, cho đến khi Ta tiêu diệt chúng. 38. Bấy giờ Ta sẽ đặt ngai của Ta tại Ê-lam để diệt trừ vua của chúng và các quan của chúng. Đức Giê-hô-va phán. 39. Nhưng thời gian trôi qua, đến ngày cuối cùng, Ta sẽ đem những kẻ lưu đày của Ê-lam trở về – Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

50

  1. Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Tiên tri Giê-rê-mi về Ba-by-lôn, và về đất của người Canh-đê:
  2. Hãy loan báo giữa các quốc gia. Hãy công bố, hãy giăng biểu ngữ lên để công bố, đừng giấu diếm. Hãy nói: Ba-by-lôn bị chiếm; Bên bị sỉ nhục; Mê-rô-đác bị đập vỡ tan tành; hình ảnh của nó bị sỉ nhục; các pho tượng của nó bị đập vỡ tan tành. 3. Bởi vì có một dân từ phương bắc đến tấn công nó, làm cho xứ sở của nó hoang tàn. Không ai cư trú tại đó – cả người lẫn súc vật đều di chuyển, đều bỏ đi.
  3. Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đó, sẽ có lúc, những con cái của Y-sơ-ra-ên sẽ đến. Chúng cùng với con cái của Giu-đa vừa đi vừa khóc, tìm kiếm Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ. 5. Họ sẽ hỏi đường đến Si-ôn, hướng mặt về nơi đó, rồi nói: Hãy đến! Hãy hiệp với chúng tôi trong một giao ước đời đời với Đức Giê-hô-va – một giao ước không bao giờ bị quên lãng.
  4. Dân của Ta giống như một bầy chiên đi lạc. Những kẻ chăn bầy của chúng đã làm cho chúng bị tản lạc trên những ngọn núi. Chúng đi từ núi đến đồi, rồi quên mất nơi an nghỉ của chúng. 7. Ai gặp chúng cũng ăn nuốt chúng. Những kẻ thù của chúng nói: Chúng tôi không đáng tội, bởi vì họ đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va là nơi an nghỉ chân thật, là nguồn hy vọng của tổ phụ họ.
  5. Hãy rời khỏi Ba-by-lôn, hãy ra khỏi đất của người Canh-đê, hãy như những con dê đầu đàn đi trước bầy. 9. Vì nầy, Ta sẽ dấy lên một liên minh các cường quốc từ phương bắc đến chống lại Ba-by-lôn. Chúng sẽ dàn quân tấn công nó, và nó sẽ bị chiếm. Những mũi tên của chúng giống như những mũi tên ở trong tay một dũng sĩ thiện xạ, không một mũi tên nào trở về không kết quả. 10. Canh-đê sẽ bị cướp phá. Tất cả những kẻ cướp phá nó sẽ được thỏa thuê. Đức Giê-hô-va phán.
  6. Hỡi kẻ cướp sản nghiệp của Ta! Bởi vì các ngươi vui mừng hớn hở, chạy nhảy tung tăng như bò tơ trong đồng cỏ, hí như ngựa mập mạnh, 12. cho nên mẹ của các ngươi sẽ vô cùng xấu hổ – người sinh ra các ngươi sẽ bị sỉ nhục. Hãy xem! Nó đứng chót trong các quốc gia, chỉ là một nơi hoang vu, một chỗ cằn cỗi, một hoang mạc. 13. Vì cơn giận của Đức Giê-hô-va, nó sẽ không có người ở. Nó sẽ trở thành một nơi hoàn toàn hoang vu. Ai đi ngang qua Ba-by-lôn đều sững sờ, xầm xì về những tai họa của nó. 14. Hỡi tất cả những người cầm cung! Hãy dàn quân bao vây Ba-by-lôn. Hãy bắn nó! Đừng tiếc những mũi tên, bởi vì nó đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. 15. Hãy reo hò từ mọi phía! Nó giơ tay đầu hàng. Các nền móng của nó đã sụp, các tường thành của nó đã ngã, bởi vì đây là sự báo trả của Đức Giê-hô-va! Hãy báo trả nó! Hãy làm cho nó những gì nó đã làm. 16. Hãy loại khỏi Ba-by-lôn người gieo giống và kẻ cầm liềm trong mùa gặt. Vì sợ lưỡi gươm của kẻ đàn áp cho nên mọi người sẽ trở về với dân tộc của mình, mọi người sẽ chạy trốn về quê hương của mình.
  7. Y-sơ-ra-ên giống như một con chiên lạc bầy, bị các sư tử rượt đuổi nó. Đầu tiên, vua A-sy-ri nuốt nó; rồi sau cùng Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, gặm xương nó. 18. Vì vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Kìa, Ta sẽ trừng phạt vua của Ba-by-lôn và xứ sở của nó, như Ta đã trừng phạt vua của A-sy-ri. 19. Nhưng Ta sẽ đem dân Y-sơ-ra-ên trở về trong đồng cỏ của chúng. Chúng sẽ được nuôi dưỡng tại Cạt-mên và Ba-san. Chúng sẽ được thỏa thuê tại Ép-ra-im và Ga-la-át. 20. Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đó, sẽ có lúc, người ta sẽ tìm tội ác của Y-sơ-ra-ên nhưng không có, tìm lỗi lầm của Giu-đa nhưng không gặp; bởi vì Ta sẽ tha thứ cho những người mà Ta chừa lại.
  8. Hãy đi lên xứ Mê-ra-tha-im và tấn công nó. Hãy tấn công cư dân Phê-cốt. Hãy tàn sát, hãy tận diệt chúng. Hãy thi hành tất cả những điều mà Ta truyền cho ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy. 22. Có tiếng của sự giao chiến ở trong xứ và sự hủy hoại khủng khiếp. 23. Làm thế nào cái búa của cả thế giới đã bị chặt và bị bẻ gãy! Làm thế nào Ba-by-lôn đã trở nên hoang tàn giữa vòng các nước! 24. Hỡi Ba-by-lôn! Ta đã gài bẫy, ngươi đã mắc vào mà không biết. Ngươi đã bị phát hiện và bị bắt, bởi vì đã xách động chống lại Đức Giê-hô-va. 25. Đức Giê-hô-va đã mở kho vũ khí đem khí giới của cơn thịnh nộ ra, bởi vì Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, có việc phải làm trong đất của người Canh-đê. 26. Từ biên cương xa xôi nhất, hãy đến chống lại nó. Hãy mở toang những kho chứa của nó ra, hãy chất thành đống, rồi diệt trừ tất cả. Đừng để những gì của nó còn sót lại. 27. Hãy giết tất cả những con bò đực của nó. Hãy đưa chúng xuống lò sát sinh. Khốn thay cho chúng, bởi vì thời hạn và ngày đoán phạt của chúng đã đến!
  9. Hãy nghe tiếng của những người đã chạy trốn thoát khỏi Ba-by-lôn, công bố tại Si-ôn về sự báo trả của Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của chúng ta, là sự báo trả cho đền thờ của Ngài.
  10. Hãy triệu tập những kẻ bắn cung để tiến đánh Ba-by-lôn. Tất cả những người cầm cung! Hãy đóng trại chung quanh nó, đừng để một ai trốn thoát. Hãy báo trả cho nó xứng đáng với công việc của nó và tùy theo tất cả những gì nó đã làm; bởi vì nó kiêu căng xúc phạm đến Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. 30. Vì vậy, trong ngày đó các thanh niên nó sẽ gục ngã trên những quảng trường; tất cả chiến binh của nó sẽ bị tiêu diệt. Đức Giê-hô-va phán vậy. 31. Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Nầy, hỡi kẻ kiêu ngạo nhất! Ta chống lại ngươi, bởi vì ngày và thời điểm Ta trừng phạt ngươi đã đến. 32. Kẻ kiêu ngạo nhất sẽ sẩy chân vấp ngã, không ai đỡ nó dậy. Ta sẽ châm lửa đốt các thành của nó, và lửa sẽ thiêu nuốt mọi thứ chung quanh nó.
  11. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Con cái của Y-sơ-ra-ên và con cái của Giu-đa đã cùng bị áp ức. Tất cả những kẻ bắt chúng đều giữ chúng nghiêm nhặt, không chịu thả chúng đi. 34. Đấng Cứu Chuộc chúng thật quyền uy. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. Ngài sẽ bênh vực duyên cớ của chúng, để đem an bình cho đất nước của chúng, nhưng sẽ làm rối loạn dân cư Ba-by-lôn. 35. Đức Giê-hô-va phán: Gươm đao sẽ giáng trên người Canh-đê, trên dân cư của Ba-by-lôn, trên các lãnh đạo, và trên những người khôn ngoan của nó. 36. Gươm đao sẽ giáng trên bọn tiên tri giả, là những mê muội. Gươm đao sẽ giáng trên những dũng sĩ, và chúng sẽ kinh hoàng. 37. Gươm đao sẽ giáng trên ngựa, giáng trên các xe chiến mã, giáng trên đám dân ô hợp ở giữa nó, và chúng giống như đàn bà! Gươm đao giáng trên những kho tàng, và chúng sẽ bị cướp sạch! 38. Hạn hán sẽ giáng trên những dòng nước của nó, khiến chúng bị cạn khô, bởi vì đó là xứ của hình tượng, chúng điên cuồng vì những thần tượng.
  12. Vì vậy những thú rừng sẽ sống chung với chó rừng tại đó; đà điểu cũng đến sống tại đó. Nơi đó sẽ không bao giờ còn có dân đến cư ngụ nữa – từ đời nầy đến đời kia không ai đến định cư tại đó. 40. Đức Giê-hô-va phán: Như Sô-đôm, Gô-mô-rơ và các thành lân cận đã bị hủy hoại thế nào, thì cũng vậy sẽ không còn lại một người nào tại đó, và cũng không có một con người nào sẽ cư ngụ tại đó.
  13. Nầy, một dân tộc sẽ đến từ phương bắc. Một cường quốc và nhiều vua nổi lên từ những nơi tận cùng của trái đất. 42. Chúng nắm chặt cung và giáo, chúng hung hăng dữ tợn, không có lòng thương xót. Tiếng của chúng thét lên như biển gầm. Chúng cưỡi trên ngựa, chúng dàn trận nhất loạt tấn công ngươi. Hỡi con gái của Ba-by-lôn! 43. Vua Ba-by-lôn nghe báo tin về chúng, tay của hắn liền bủn rủn, nỗi kinh hãi bắt lấy hắn. Hắn đau đớn như sản phụ chuyển dạ. 44. Nầy, giống như một con sư tử từ bụi rậm bên bờ Giô-đanh, nó xông vào những đồng cỏ luôn luôn xanh tốt, nhưng Ta sẽ làm cho nó vội vàng bỏ chạy khỏi nơi đó ngay lập tức. Ai là người sẽ được Ta chọn để bổ nhiệm vào nơi đó? Bởi vì có ai giống như Ta? Ai sẽ ấn định thời hạn cho Ta? Kẻ chăn bầy nào sẽ đứng trước mặt Ta? 45. Vì vậy, hãy lắng nghe chương trình của Đức Giê-hô-va đã lập để chống lại Ba-by-lôn, và các kế hoạch mà Ngài đã lập ra để chống lại đất nước Canh-đê. Thật vậy, không phải những con chiên nhỏ nhất trong bầy cũng sẽ bị kéo đi hay sao? Thật vậy, không phải Ngài sẽ làm cho nơi ở của chúng bị hoang tàn hay sao? 46. Tiếng sụp đổ của Ba-by-lôn làm cho đất rúng động, và tiếng kêu la của chúng thấu đến các nước.

 

51

  1. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ khiến một ngọn gió hủy diệt nổi lên nghịch cùng Ba-by-lôn, và nghịch cùng những người ở Líp-Ca-mai. 2. Ta sẽ sai những người sàng sảy đến Ba-by-lôn. Họ sẽ sàng sảy và làm trơ trọi xứ sở của nó. Trong ngày hoạn nạn, chúng sẽ tấn công nó từ mọi phía. 3. Đừng để người bắn cung kịp giương cung, cũng đừng để cho nó kịp mặc áo giáp. Đừng nương tay với những thanh niên của nó. Hãy diệt sạch cả đạo quân của nó. 4. Những người bị giết gục ngã trong đất của người Canh-đê, những người bị đâm đã ngã xuống trên những đường phố. 5. Bởi vì Y-sơ-ra-ên và Giu-đa không bị Đức Chúa Trời, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân của họ, từ bỏ; mặc dù xứ sở của họ dẫy đầy tội lỗi chống lại Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
  2. Hãy trốn ra khỏi Ba-by-lôn. Mỗi người hãy tự cứu lấy mạng sống mình! Đừng để bị giết vì tội của nó, bởi vì đây là thời kỳ báo trả của Đức Giê-hô-va. Ngài sẽ báo trả nó xứng đáng.
  3. Ba-by-lôn vốn là cái chén vàng trong tay của Đức Giê-hô-va, đã làm cho cả đất cuồng say. Các nước đã uống rượu của nó, vì thế các nước bị điên cuồng. 8. Ba-by-lôn thình lình sụp đổ rồi vỡ tan tành. Hãy than khóc nó. Hãy lấy dầu thoa chỗ đau của nó, biết đâu nó sẽ được lành. 9. Chúng ta cố chữa lành cho Ba-by-lôn nhưng nó vẫn không lành. Hãy lìa bỏ nó. Mỗi người hãy trở về xứ của mình; bởi vì án phạt của nó thấu đến tận trời, lên đến tận mây.
  4. Đức Giê-hô-va đã bày tỏ sự công chính cho chúng ta. Hãy đến, và loan báo trong Si-ôn công việc của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta.
  5. Hãy mài những mũi tên cho bóng loáng. Hãy cầm thuẩn. Đức Giê-hô-va đã dấy động tinh thần của các vua Mê-đi, bởi vì mục đích của Ngài đối với Ba-by-lôn là tiêu diệt nó. Đó chính là sự báo thù của Đức Giê-hô-va – sự báo thù cho đền thờ của Ngài. 12. Hãy giương cờ hiệu. Hãy tấn công những tường thành của Ba-by-lôn. Hãy tăng cường lính canh, hãy dựng vọng canh, hãy bố trí quân phục kích, bởi vì Đức Giê-hô-va đã hoạch định và đang thực hiện điều mà Ngài đã phán để chống lại dân cư Ba-by-lôn.
  6. Hỡi kẻ sống bên những dòng sông lớn! Ngươi có nhiều kho tàng, chúng là thước đo lòng tham của ngươi, nhưng giờ cuối cùng của ngươi đã đến. 14. Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã lấy chính Ngài mà thề: Chắc chắn Ta sẽ khiến những đạo quân đông như cào cào tấn công ngươi. Chúng sẽ reo hò vì chiến thắng ngươi.
  7. Ðấng dựng nên trái đất bằng quyền năng của Ngài, Ðấng thiết lập thế gian bằng sự khôn ngoan của Ngài; Ðấng giăng các từng trời ra bằng tri thức của Ngài, 16. khi Ngài lên tiếng, các nguồn nước trên trời xáo động. Ngài làm cho hơi nước bốc lên ở các nơi tận cùng trái đất. Ngài làm sấm sét cùng với mưa rơi, và Ngài đem gió ra từ những kho chứa của Ngài.
  8. Mọi người đều ngu muội, không hiểu biết. Tất cả những thợ đúc tượng phải xấu hổ về tượng đúc của mình, bởi vì hình tượng là thứ giả dối, không có hơi thở bên trong. 18. Chúng vô giá trị, là sản phẩm của sự lừa dối. Đến ngày đoán phạt, chúng sẽ bị diệt vong. 19. Nhưng cơ nghiệp của Gia-cốp thì không như thế, bởi vì Ngài là Đấng đã tạo nên mọi vật. Y-sơ-ra-ên là chi tộc của cơ nghiệp Ngài. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân.
  9. Ngươi là cái búa, là những vũ khí chiến tranh của Ta. Ta sẽ dùng ngươi đập tan các dân tộc và dùng ngươi tiêu diệt các vương quốc. 21. Ta sẽ dùng ngươi đập tan các chiến mã và các kỵ binh. Ta sẽ dùng ngươi đánh tan xe chiến mã và kỵ binh điều khiển xe chiến mã. 22. Ta dùng ngươi đập tan đàn ông và đàn bà. Ta dùng ngươi đập tan người già và trẻ thơ. Ta dùng ngươi đập tan thanh niên và thiếu nữ. 23. Ta dùng ngươi đập tan những kẻ chăn bầy và những đàn súc vật của chúng. Ta dùng ngươi đập tan những kẻ cầm cày và những đôi bò mang ách. Ta dùng ngươi đập tan các thống đốc và những bậc cầm quyền. 24. Ta sẽ báo trả Ba-by-lôn và toàn thể dân Canh-đê về mọi điều ác mà chúng đã làm cho Si-ôn, ngay trước mắt các ngươi – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  10. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi ngọn núi hủy diệt, là kẻ hủy diệt khắp đất! Nầy, Ta chống lại ngươi. Ta sẽ đưa tay của Ta ra chống lại ngươi. Từ trên những vầng đá, Ta sẽ lăn ngươi xuống, và sẽ biến ngươi thành một ngọn núi bị cháy rụi. 26. Người ta không thể lấy được từ nơi ngươi, dù là một viên đá góc nhà hay một viên đá nền, nhưng ngươi sẽ bị hoang tàn mãi mãi. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  11. Hãy giương cờ lên trong xứ, hãy thổi kèn giữa các nước, hãy chuẩn bị các dân để chống cự với nó! Hãy triệu tập các vương quốc: A-ra-rát, Min-ni, Ách-kê-na đến đánh nó! Hãy cử một tổng chỉ huy quân đội. Hãy đem những ngựa chiến đông như cào cào ra trận. 28. Hãy chuẩn bị các nước để tiến đánh nó, tức là các vua của Mê-đi, cùng với các tổng đốc, các quan cai trị, và cả xứ sở mà họ cai quản. 29. Đất rúng động và sầu thảm vì ý định của Đức Giê-hô-va đối với Ba-by-lôn đã được thực hiện, để làm cho Ba-by-lôn trở thành hoang vu, không có người ở. 30. Các chiến binh của Ba-by-lôn ngừng giao chiến, chúng rút vào trong những pháo đài. Chúng đã kiệt sức, trở nên như đàn bà. Nhà cửa trong thành bị đốt, then của cổng thành bị bẻ gãy. 31. Lính trạm nầy gặp lính trạm kia, sứ giả nầy đến gặp sứ giả khác, để báo tin cho vua Ba-by-lôn rằng cuối cùng thành của vua đã bị chiếm. 32. Những lối qua sông đều bị chiếm giữ, những đầm lau sậy đã bị lửa thiêu đốt, binh lính khiếp đảm.
  12. Vì Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Con gái của Ba-by-lôn giống như sân đập lúa. Đã đến lúc nó bị giẫm đạp. Không bao lâu nữa mùa gặt của nó sẽ đến.
  13. Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã ăn nuốt tôi. Ông ấy đã nghiền nát tôi. Ông ấy đã làm cho tôi thành một bình trống không. Như một con quái vật, ông ấy đã nuốt trộng tôi. Ông ấy đã lấy các miếng ngon của tôi, ngốn đầy trong bụng, rồi nhả tôi ra. 35. Dân Si-ôn sẽ nói: Nguyện sự bạo ngược đã làm cho chúng con và con cháu của chúng con sẽ giáng trên Ba-by-lôn! Giê-ru-sa-lem sẽ nói: Nguyện huyết của chúng con đổ lại trên dân Canh-đê!
  14. Vì vậy Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ta sẽ binh vực duyên cớ của ngươi và sẽ báo thù cho ngươi. Ta sẽ làm cho biển của nó bị khô, làm cho những nguồn nước của nó bị khô cạn. 37. Ba-by-lôn sẽ thành những đống hoang tàn, thành hang của chó rừng, thành chốn kinh tởm, thành trò cười cho thiên hạ, và không có người cư ngụ. 38. Chúng sẽ cùng nhau rống lên như sư tử. Chúng sẽ gầm gừ như sư tử con. 39. Đức Giê-hô-va phán: Khi chúng hung hăng nóng nảy, Ta sẽ dọn những bữa tiệc cho chúng. Ta sẽ làm cho chúng say sưa, để chúng vui thỏa, rồi chúng ngủ một giấc ngủ vĩnh viễn, không bao giờ thức dậy nữa. 40. Ta sẽ đem chúng, giống như những chiên con, những chiên đực, những dê đực, đến lò sát sinh.
  15. Ôi! Sê-sác đã thất thủ. Ôi! Nơi mà cả thế giới ca ngợi đã bị chiếm đóng. Ba-by-lôn trở thành một chứng tích kinh hoàng cho các quốc gia. 42. Biển dâng lên tràn ngập Ba-by-lôn. Nó bị bao phủ bởi rất nhiều đợt sóng. 43. Các thành của nó là những chứng tích kinh hoàng, một mảnh đất khô cằn, một hoang mạc, một vùng đất không có người ở, và không có người qua lại. 44. Ta sẽ trừng phạt Bên, thần của Ba-by-lôn. Ta sẽ móc ra khỏi miệng nó những gì nó đã nuốt. Các dân tộc sẽ chẳng đổ về đó nữa. Vâng, tường thành của Ba-by-lôn sẽ bị sụp đổ.
  16. Hỡi dân của Ta! Hãy đi ra khỏi nó. Mỗi người hãy tự cứu lấy mình khỏi cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va! 46. Các ngươi đừng ngã lòng, đừng sợ hãi trước những tin đồn ở trong xứ, bởi vì năm nay có một tin đồn, rồi năm sau lại có một tin đồn khác. Bạo lực lan tràn trong xứ, cường quyền tiếp nối cường quyền. 47. Vì vậy, nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ trừng phạt các hình tượng của Ba-by-lôn. Cả xứ sẽ bị sỉ nhục, những người bị giết sẽ ngã gục giữa thành. 48. Bấy giờ, trời, đất và mọi vật trong đó đều hát vang về Ba-by-lôn, bởi vì những kẻ hủy diệt từ phương bắc đã đến tàn phá nó. Đức Giê-hô-va phán: 49. Giống như Ba-by-lôn đã giết nhiều người Y-sơ-ra-ên, làm cho họ ngã gục, thì Ba-by-lôn sẽ gục ngã như những người bị giết ngã xuống khắp cả đất.
  17. Các ngươi là kẻ đã thoát khỏi lưỡi gươm, hãy đi, đừng đứng lại! Từ nơi xa xôi, hãy tưởng nhớ Đức Giê-hô-va; và trong tâm tư hãy ghi khắc Giê-ru-sa-lem.
  18. Chúng con xấu hổ vì phải nghe lời lăng nhục. Sự sỉ nhục phủ lên mặt của chúng con bởi vì những kẻ ngoại bang đã xâm nhập vào những nơi thánh của nhà Đức Giê-hô-va.
  19. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Nầy những ngày đến, Ta sẽ trừng phạt các hình tượng của Ba-by-lôn. Những người bị thương sẽ rên xiết khắp trong xứ của nó. 53. Dù Ba-by-lôn có lên tận trời, có dựng pháo đài kiên cố trên cao, Ta cũng sẽ sai những kẻ tiêu diệt đến tấn công nó. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  20. Có tiếng kêu khóc từ Ba-by-lôn về sự hủy hoại khủng khiếp từ xứ sở của người Canh-đê. 55. Những đợt sóng của nó gào vang như thác lũ, tiếng ồn ào trong giọng nói của chúng có vang rền, nhưng Đức Giê-hô-va đang tiêu diệt Ba-by-lôn, làm im tiếng gào thét của nó. 56. Vì kẻ tiêu diệt đã kéo đến chống lại Ba-by-lôn, các dũng sĩ của nó đều bị bắt, cung của chúng bị gãy. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Đấng báo trả, chắc chắn Ngài sẽ báo trả đích đáng. 57. Đức Vua, danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Ta sẽ khiến cho các lãnh đạo, các kẻ khôn ngoan, các thống đốc, các bậc cầm quyền, và các dũng sĩ của nó say mèm. Chúng sẽ ngủ một giấc vĩnh viễn, không bao giờ tỉnh dậy.
  21. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Tường thành kiên cố của Ba-by-lôn sẽ bị vỡ. Cổng thành cao vút của nó sẽ bị lửa thiêu rụi. Dân chúng lao nhọc uổng công bởi vì các quốc gia bị kiệt quệ vì lửa.
  22. Đây là lời của Tiên Tri Giê-rê-mi truyền cho Sê-ra-gia, con trai của Nê-ri-gia, cháu của Ma-ha-sê-gia, khi ông đi qua Ba-by-lôn với Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, vào năm thứ tư thời trị vì của vua. Lúc đó, Sê-ra-gia là quan tể cung. 60. Giê-rê-mi đã viết vào một quyển sách mọi tai họa sẽ xảy đến cho Ba-by-lôn, tức là mọi lời đã viết về Ba-by-lôn. 61. Giê-rê-mi nói với Sê-ra-gia: Khi ông đến Ba-by-lôn, ông hãy xem, rồi đọc tất cả những lời nầy, 62. và nói: Lạy Đức Giê-hô-va! Ngài đã phán rằng Ngài sẽ hủy diệt thành nầy, đến nỗi từ loài người cho đến loài vật đều không sống nổi, và nơi nầy sẽ hoang vu mãi mãi. 63. Sau khi ông đọc xong quyển sách nầy, ông hãy buộc nó vào một cục đá, rồi ném xuống sông Ơ-phơ-rát, 64. và hãy công bố: Ba-by-lôn sẽ chìm xuống như vậy và sẽ không ngoi lên được nữa, bởi vì tai họa mà Ta sắp giáng trên nó. Chúng sẽ kiệt quệ.

Lời của Giê-rê-mi chấm dứt ở đây.

 

52

  1. Sê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi khi ông bắt đầu trị vì. Ông trị vì được mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi, người Líp-na. 2. Ông làm điều ác trước mắt của Đức Giê-hô-va, giống như mọi điều Giê-hô-gia-kim đã làm. 3. Chính vì cơn giận của Đức Giê-hô-va đối với những việc đã xảy ra tại Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, Ngài đã trục xuất họ ra khỏi trước mặt Ngài.

Sê-đê-kia đã nổi lên chống lại vua Ba-by-lôn. 4. Ngày mùng mười, tháng Mười của năm thứ chín trong triều đại của ông, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đem cả quân đội của ông đánh Giê-ru-sa-lem. Họ đóng quân bao vây và xây đắp chiến lũy chung quanh thành. 5. Thành bị bao vây cho đến năm thứ mười một đời vua Sê-đê-kia. 6. Ngày mồng chín tháng Tư, nạn đói trở nên trầm trọng đến nỗi trong thành không còn thức ăn nữa. 7. Vách thành bị vỡ. Tất cả binh sĩ bỏ chạy. Ban đêm họ trốn ra khỏi thành theo một cái cổng ở giữa hai bức tường, bên cạnh vườn ngự uyển. Mặc dầu lúc đó quân Canh-đê đang bao vây thành, họ đã thoát được, rồi chạy về hướng A-ra-ba.

  1. Nhưng quân Canh-đê đã đuổi theo. Họ bắt kịp Sê-đê-kia tại vùng đồng bằng Giê-ri-cô. Tất cả quân lính chạy tán loạn, bỏ lại vua. 9. Họ bắt vua, rồi giải ông về cho vua Ba-by-lôn tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Ông bị xét xử tại đó. 10. Vua Ba-by-lôn đã giết các con trai Sê-đê-kia trước mặt ông. Vua cũng sai giết tất cả các quan chức của Giu-đa tại Ríp-la. 11. Vua truyền lịnh móc mắt Sê-đê-kia, lấy xích đồng xiềng ông lại, rồi vua Ba-by-lôn cho dẫn ông qua Ba-by-lôn, giam ông trong ngục cho đến khi ông qua đời.
  2. Vào ngày mùng mười tháng Năm, năm thứ mười chín đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan, cận thần của vua Ba-by-lôn, tiến vào Giê-ru-sa-lem. 13. Ông ra lệnh đốt đền thờ của Đức Giê-hô-va, cung vua và tất cả nhà cửa trong Giê-ru-sa-lem, và thiêu rụi tất cả các dinh thự của giới quý tộc. 14. Toàn bộ quân Canh-đê dưới quyền quan chỉ huy vệ binh, đã phá sập tất cả các bức tường chung quanh Giê-ru-sa-lem. 15. Sau đó, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan ra lệnh lưu đày những người nghèo trong dân chúng, những người còn sót lại trong thành, những kẻ đã đầu hàng vua Ba-by-lôn, và những thợ thủ công còn sót lại. 16. Nhưng quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan đã để lại trong xứ những người nghèo nhất để họ trồng nho và làm ruộng.
  3. Các trụ đồng trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, cả cái đế và bể nước bằng đồng trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, đã bị quân Canh-đê đập nát, rồi chở tất cả số đồng đó về Ba-by-lôn. 18. Chúng cũng lấy đi những nồi đồng, xẻng, kéo, chén, muỗng, và mọi vật dụng bằng đồng để dùng vào việc tế lễ. 19. Quan chỉ huy vệ binh cũng lấy đi những chén, lư hương, chậu, nồi, giá đèn, đĩa dâng hương, và bát. Vật dụng nào bằng vàng thì lấy vàng. Vật dụng nào bằng bạc thì lấy bạc. 20. Còn hai trụ đồng, một bể nước và mười hai con bò bằng đồng làm chân đế cho bể nước, mà vua Sa-lô-môn đã làm cho nhà của Đức Giê-hô-va, khối lượng đồng của những thứ đó không thể cân được. 21. Mỗi trụ cao mười tám cu-bít, chu vi mười hai cu-bít, dày bốn ngón tay và rỗng trong ruột. 22. Trên mỗi trụ là một cái táng bằng đồng, chiều cao của mỗi táng là năm cu-bít, đầu táng được bao bằng lưới và những trái thạch lựu, tất cả đều làm bằng đồng. Trụ đồng thứ nhì cũng như vậy, và cũng có những trái thạch lựu như vậy. 23. Có chín mươi sáu trái thạch lựu treo bên cạnh. Tổng số trái thạch lựu treo chung quanh lưới là một trăm.
  4. Quan chỉ huy vệ binh bắt Sê-ra-gia, thượng tế, và Sô-phô-ni, phó thượng tế, cùng ba viên chức canh giữ cửa đền. 25. Tại trong thành, ông cũng bắt một viên thái giám chỉ huy quân đội, bảy cận thần của nhà vua có mặt trong thành, viên bí thư của tổng chỉ huy quân đội lo việc động viên quân ngũ, và sáu mươi người thuộc vùng ngoại ô đang có mặt trong thành. 26. Quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan bắt và giải những người đó đến cho vua Ba-by-lôn tại Ríp-la. 27. Vua Ba-by-lôn sai đánh và giết họ tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Dân Giu-đa bị lưu đày khỏi xứ của mình như vậy.
  5. Đây là số người mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lưu đày: Trong năm thứ bảy là ba ngàn hai mươi ba người Giu-đa. 29. Năm thứ mười tám đời Nê-bu-cát-nết-sa, ông lưu đày tám trăm ba mươi hai người từ Giê-ru-sa-lem. 30. Năm thứ hai mươi ba đời Nê-bu-cát-nết-sa, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan lưu đày bảy trăm bốn mươi lăm người Giu-đa. Tổng cộng là bốn ngàn sáu trăm người.
  6. Thời gian trôi qua, đến năm thứ ba mươi bảy kể từ khi Giê-hô-gia-kin, vua của Giu-đa, bị lưu đày. Vào ngày hai mươi lăm tháng Mười Hai, tức vào năm thứ nhất của triều đại Ê-vinh Mê-rô-đác, vua của Ba-by-lôn, trong năm vua bắt đầu trị vì, vua ra lịnh ân xá cho Giê-hô-gia-kin, vua của Giu-đa, và đem ông ra khỏi ngục. 32. Vua dùng lời tử tế nói với ông và ban cho ông một địa vị cao trọng hơn các vua khác tại Ba-by-lôn. 33. Ông được phép cởi bỏ áo tù, và thường xuyên dùng bữa với vua suốt cả cuộc đời. 34. Về việc cấp dưỡng, vua Ba-by-lôn thường xuyên chu cấp khẩu phần cho ông. Trọn cả đời ông, mỗi ngày một phần cho tới ngày ông qua đời.

 

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top