Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: Ê-sai

Bản Dịch Việt Ngữ: Ê-sai

Ê-sai

1

  1. Khải tượng của Ê-sai, con trai A-mốt – về những điều ông đã thấy trong thời Ô-xia, Giô-tham, A-cha, Ê-xê-chia là các vua của Giu-đa – liên quan đến Giu-đa, Giê-ru-sa-lem.
  2. Hỡi các tầng trời! Hãy nghe. Hỡi đất! Hãy lắng tai. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán: “Ta đã nuôi nấng và nâng đỡ những đứa con, nhưng chúng đã phản nghịch Ta. 3. Bò biết chủ, lừa biết máng của chủ; nhưng Y-sơ-ra-ên không biết, dân Ta không hiểu.”
  3. Ôi! Một nước tội lỗi! Một dân phạm tội nặng nề – dòng dõi của những kẻ gian ác, con cái của những kẻ đồi bại. Chúng đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, chúng đã cự tuyệt Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, quay lưng xa lạ.
  4. Sao các ngươi nổi loạn, để bị trừng phạt nữa? Cả đầu đều đau, cả lòng đều kiệt quệ, 6. từ chân cho đến đầu, không chỗ nào lành; những thương tích, những vết bầm, những ung nhọt đang băng hoại, chưa được băng lại, chưa được bó, cũng chưa được thoa dầu xoa dịu.
  5. Xứ sở của các ngươi bị hoang tàn, thành phố của các ngươi bị thiêu hủy; đất đai của các ngươi bị ngoại bang nuốt trọng ngay trước mặt các ngươi; và đã bị phá đổ và làm cho hoang tàn bởi những kẻ ngoại bang.
  6. Con gái của Si-ôn bị bỏ lại như chòi trong vườn nho, như lều trong ruộng dưa, như thành phố bị vây hãm. 9. Nếu Đức Giê-hô-va vạn quân không chừa cho chúng ta một ít người còn lại, chúng ta đã như Sô-đôm, chúng ta đã như Gô-mô-rơ.
  7. Hỡi các lãnh đạo của Sô-đôm! Hãy nghe lời Đức Giê-hô-va của các ngươi! Hỡi dân Gô-mô-rơ! Hãy lắng tai nghe luật pháp của Đức Chúa Trời của chúng ta!
  8. Đức Giê-hô-va phán: “Sinh tế thật nhiều của các ngươi có là gì đối với Ta? Ta đã chán những tế lễ thiêu bằng những con trừu đực và mỡ của thú mập. Ta chẳng hài lòng về huyết của những bò đực, của những chiên đực, và của những dê đực. 12. Khi các ngươi đến trình diện Ta, ai đòi điều nầy từ tay các ngươi, rồi đến giẫm vào sân của Ta? 13. Đừng đem tế lễ chay vô nghĩa đến nữa! Ta ghê tởm trầm hương, những buổi nhóm họp vào ngày trăng mới và những ngày sa-bát. Ta không chịu tội lỗi, dù trong một cuộc họp trang trọng. 14. Linh hồn Ta ghét những lễ trăng mới và những lễ định kỳ của các ngươi. Chúng là nỗi khó chịu cho Ta, làm Ta mệt vì phải gánh chịu.
  9. Khi các ngươi đưa tay lên, Ta sẽ che mắt Ta khỏi các ngươi. Vâng! Khi các ngươi cầu nguyện thật nhiều, Ta cũng chẳng nghe. Tay của các ngươi dính đầy máu. 16. Hãy rửa! Các ngươi hãy thanh tẩy các ngươi! Hãy loại bỏ những việc ác của các ngươi khỏi mắt Ta. Hãy chấm dứt làm điều ác, 17. học làm điều thiện, tìm kiếm công lý, giải cứu người bị áp bức, công minh với cô nhi, bênh vực người góa bụa.”
  10. “Bây giờ hãy đến, và chúng ta thảo luận với nhau.” Đức Giê-hô-va phán: “Dù tội của các ngươi đỏ như son, chúng sẽ trắng như tuyết; dù chúng đỏ như vải điều, chúng sẽ như lông chiên.
  11. Nếu các ngươi sẵn lòng vâng lời, các ngươi sẽ được hưởng những sản vật tốt của đất. 20. Nhưng nếu các ngươi khước từ và phản nghịch, các ngươi sẽ bị hủy diệt bởi gươm. Bởi vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy.”
  12. Làm thế nào một thành phố trung chính đã trở thành một ổ điếm! Nơi bông trái của sự công chính ngự trị, nhưng bây giờ là chỗ của những kẻ giết người! 22. Bạc của ngươi trở thành cặn bã; rượu nho của ngươi bị pha trộn với nước. 23. Các lãnh đạo của ngươi là những kẻ nổi loạn, và là bạn của những kẻ cướp: ai cũng thích quà cáp, và chạy theo tiền thưởng. Họ không xét xử công chính cho cô nhi, và cũng không đoái đến với duyên cớ của người góa bụa.
  13. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân, Đấng quyền năng của Y-sơ-ra-ên phán: “Nầy! Ta sẽ hài lòng báo trả kẻ chống nghịch Ta, và báo thù những kẻ thù của Ta. 25. Ta sẽ trở tay với ngươi; tẩy sạch và tinh luyện những cặn bã của ngươi, và cất khỏi ngươi những tạp chất. 26. Ta sẽ lập lại các thẩm phán của ngươi như lúc ban đầu, và những cố vấn của ngươi như lúc khởi đầu. Và rồi, ngươi sẽ được gọi là thành phố của sự công chính, là thành phố trung chính.”
  14. Si-ôn sẽ được chuộc bởi công lý, và những người ăn năn của nó quay về với sự công chính.
  15. Nhưng sự hủy diệt dành cho những kẻ phản nghịch cùng những người tội lỗi – những người đã từ bỏ Đức Giê-hô-va sẽ bị diệt vong. 29. Bởi vì các ngươi sẽ xấu hổ về những cây sồi mà mình ưa thích, và các ngươi sẽ hổ thẹn về các khu vườn mà mình đã chọn. 30. Vì các ngươi sẽ như một cây sồi khô lá, như một khu vườn không có nước; 31. và người hùng mạnh sẽ như mồi lửa, và công việc của nó như tia lửa, cả hai sẽ hợp với nhau và bốc cháy, không ai dập tắt được.

 

2

  1. Đây là sứ điệp của Ê-sai, con trai của A-mốt, đã tiên báo về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem:
  2. Thời gian sẽ trôi qua, đến những ngày cuối cùng, núi của đền thờ Đức Giê-hô-va sẽ được vững lập như là vị chủ tể của các đỉnh núi và trỗi cao hơn các đồi. Tất cả các quốc gia sẽ đổ về đó. 3. Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: Hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Đức Giê-hô-va, là nơi có đền thờ của Đức Chúa Trời của Gia-cốp. Ngài sẽ dạy chúng ta các đường hướng của Ngài để chúng ta có thể đi trong những đường lối của Ngài. Bởi vì luật pháp sẽ ra từ Si-ôn và lời của Đức Giê-hô-va sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem. 4. Ngài sẽ phán xét giữa các quốc gia và phân xử nhiều dân tộc. Họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm. Nước nầy không còn vung gươm chống lại nước kia. Họ cũng không còn luyện tập gươm để chinh chiến nữa.
  3. Hỡi nhà Gia-cốp! Hãy đến. Chúng ta hãy bước đi trong ánh sáng của Đức Giê-hô-va.
  4. Thật vậy, Ngài đã từ bỏ dân của Ngài là nhà Gia-cốp bởi vì họ đầy dẫy những thói tục đông phương, có nhiều thầy bói như người Phi-li-tin, và giao kết với con cái của dân ngoại. 7. Xứ sở của họ đầy dẫy bạc và vàng, của cải nhiều vô kể, đất nước của họ đầy dẫy chiến mã, và xe để đánh trận thì nhiều vô số. 8. Xứ sở của họ đầy dẫy những hình tượng, họ thờ lạy vật do tay của mình làm ra, là vật do chính ngón tay của họ tạo nên. 9. Dân chúng đã hạ thấp phẩm giá của mình, mỗi người làm nhục chính mình – vì vậy xin Ngài đừng tha thứ cho họ!
  5. Hãy chui vào trong đá, hãy trốn vào trong bụi đất, để tránh khỏi sự đoán phạt kinh hoàng từ Đức Giê-hô-va, và vinh quang uy nghiêm của Ngài. 11. Ánh mắt kiêu căng của loài người sẽ bị hạ xuống và sự ngạo mạn của con người sẽ bị triệt hạ. Trong ngày đó, chỉ một mình Đức Giê-hô-va được tôn cao. 12. Bởi vì sẽ có một ngày, Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ triệt hạ những kẻ kiêu căng và ngạo mạn. Tất cả những kẻ cao ngạo sẽ bị hạ xuống. 13. Ngài chống lại tất cả những cây bá hương ngạo nghễ cao kỳ của Li-ban cùng mọi cây sồi của Ba-san; 14. chống lại tất cả những núi cao và tất cả những ngọn đồi kiêu hãnh; 15. chống lại tất cả những tháp cao và mọi đồn lũy kiên cố, 16. chống lại tất cả những chiếc tàu của Ta-rê-si và tất cả những con thuyền tráng lệ. 17. Sự kiêu căng của loài người sẽ bị hạ xuống và sự ngạo mạn của nhiều người sẽ bị hạ xuống. Trong ngày đó, chỉ một mình Đức Giê-hô-va được tôn cao. 18. Ngài sẽ hủy diệt tất cả những thần tượng. 19. Người ta sẽ chui vào các hang đá và trong những hầm ở dưới đất để tránh sự kinh khiếp từ Đức Giê-hô-va và sự chói sáng của uy nghiêm Ngài. Ngài đứng lên thì đất rúng động.
  6. Trong ngày đó, người ta sẽ ném cho chuột, cho dơi những tượng thần bằng bạc, những tượng thần bằng vàng mà họ đã tự làm ra để thờ lạy. 21. Họ sẽ chui vào trong những hang đá và trong những vách đá cheo leo để tránh khỏi sự kinh khiếp từ Đức Giê-hô-va và sự chói sáng của uy nghiêm Ngài. Ngài đứng lên thì đất rúng động.
  7. Đừng trông cậy nơi con người, là loài có hơi thở trong lỗ mũi – bởi vì có thể nhờ cậy được điều gì từ nơi họ?

 

3

  1. Hãy xem! Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân đang cất khỏi Giê-ru-sa-lem và Giu-đa nguồn cung cấp và nơi nương dựa, mọi nguồn lương thực, mọi nguồn nước, 2. các chiến sĩ anh dũng, thẩm phán, tiên tri, người thông thái, trưởng lão, 3. chỉ huy năm mươi quân, người cao trọng, cố vấn, nghệ nhân, kẻ chuyên mê hoặc.
  2. Ta sẽ cho những đứa trẻ làm chỉ huy của họ và để cho những trẻ con cai trị họ. 5. Dân chúng sẽ bị áp bức. Người nầy bức hiếp người kia. Mỗi người bị kẻ lân cận mình bức hiếp. Trẻ em vô lễ với người già; kẻ vô lại hỗn láo với người quyền quý.
  3. Lúc đó, người ta sẽ bắt một anh em trong nhà của cha mình rồi nói: Anh còn áo choàng. Anh hãy làm lãnh tụ của chúng tôi. Đống đổ nát nầy sẽ ở dưới quyền của anh. 7. Trong ngày đó, người đó sẽ phản đối và trả lời rằng: Tôi không thể cứu chữa được. Trong nhà tôi không có lương thực cũng không có áo choàng. Đừng lập tôi làm lãnh tụ của dân chúng.
  4. Thật vậy, Giê-ru-sa-lem đã vấp và Giu-đa đã ngã, bởi vì những lời nói và những việc làm của họ chống lại Đức Giê-hô-va, chống lại con mắt vinh quang của Ngài. 9. Diện mạo của họ là bằng chứng chống lại họ. Họ không hề giấu diếm nhưng công bố tội lỗi của mình như Sô-đôm. Khốn cho linh hồn của họ, bởi vì họ đã đem tai họa đến cho chính mình!
  5. Hãy nói với người công chính rằng: Phước cho họ bởi vì họ sẽ hưởng kết quả của việc mình làm. 11. Khốn cho kẻ gian ác vì hắn phải gặp tai họa – bởi vì hắn sẽ nhận lấy sự báo trả về những gì tay hắn đã làm. 12. Dân ta bị trẻ con ức hiếp. Dân ta bị đàn bà cai trị. Những kẻ dẫn dắt ngươi làm cho ngươi lạc đường, khiến những đường lối của ngươi bị hủy diệt.
  6. Đức Giê-hô-va đứng lên để phán quyết. Ngài đứng dậy để xét xử dân chúng. 14. Đức Giê-hô-va tuyên án các trưởng lão của dân Ngài và những lãnh tụ của họ. “Bởi vì các ngươi đã ăn nuốt vườn nho và cướp bóc từ người nghèo đang ở trong nhà của các ngươi. 15. Các ngươi muốn gì mà chà đạp dân của Ta, và nghiền nát sĩ diện của người nghèo?” Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, phán vậy.
  7. Đức Giê-hô-va phán rằng các con gái của Si-ôn kiêu kỳ, vừa đi vừa ngẩng cao cổ, vừa liếc mắt đưa tình, vừa đi vừa õng ẹo, vừa khua kiềng dưới chân; 17. vì vậy, Chúa sẽ làm cho da đầu của con gái Si-ôn bị đóng vảy, và Đức Giê-hô-va sẽ phơi bày những chỗ kín của chúng.
  8. Trong ngày đó, Chúa sẽ cất bỏ đồ trang sức, kiềng dưới chân, voan trùm đầu, khuyên cài tóc, 19. hoa tai, xuyến, mạng che mặt, 20. mũ, vòng đeo chân, thắt lưng, lọ nước hoa, mặt dây chuyền, 21. nhẫn, vòng đeo mũi, 22. áo lễ, áo khoác, áo choàng, xách tay, 23. gương soi, khăn choàng, khăn trùm đầu, và tua dây.
  9. Thay vì mùi thơm sẽ là mùi hôi hám, thay vì đai lưng sẽ là sợi dây thừng, thay vì mái tóc xinh đẹp sẽ là đầu cạo trọc, thay vì áo choàng sang trọng sẽ là một mảnh khố quấn lưng, thay vì nét kiều diễm sẽ là vết cháy bỏng. 25. Những người nam của ngươi sẽ gục ngã vì gươm, những dũng sĩ của ngươi sẽ gục ngã nơi chiến trận. 26. Tại cổng thành của nó sẽ có tiếng kêu khóc thảm sầu. Nó sẽ ngồi bệt xuống đất trơ trụi một mình.

4

  1. Trong ngày đó, bảy người nữ sẽ nắm chặt một người nam rồi nói: Chúng em sẽ tự lo lương thực để ăn, tự lo trang phục để mặc, chỉ xin chàng cho phép chúng em được mang tên của chàng. Xin hãy cất đi nỗi hổ nhục của chúng em.
  2. Trong ngày đó, chồi của Đức Giê-hô-va sẽ đẹp đẽ và vinh quang; sản phẩm của đất sẽ là niềm hãnh diện và vinh dự cho những người còn sót lại của Y-sơ-ra-ên. 3. Và rồi, những người còn lại ở Si-ôn, những người còn sót lại ở Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là thánh, tức là tất cả những người đã ghi danh và hiện đang sống tại Giê-ru-sa-lem. 4. Khi Chúa dùng thần công lý và thần thiêu đốt để rửa sạch sự ô nhơ của những con gái Si-ôn và tẩy sạch máu của Giê-ru-sa-lem khỏi giữa nó, 5. thì Đức Giê-hô-va sẽ tạo ra một đám mây vào ban ngày, khói và lửa rực sáng vào ban đêm, trên khắp những nơi cư trú và những nơi nhóm họp trên núi Si-ôn, bởi vì tất cả sẽ được bao bọc trong vinh quang. 6. Nó sẽ như một cái lều để che cái nóng ban ngày, và là nơi trú ẩn để tránh bão tố và mưa sa.

 

5

  1. Tôi sẽ hát cho người yêu dấu của tôi một bài ca về vườn nho của người yêu dấu của tôi:

Người yêu dấu của tôi có một vườn nho trên một ngọn đồi màu mỡ. 2. Người đào đất, dọn sạch đá, rồi trồng vào đó loại nho tốt nhất. Người dựng một tháp canh ở giữa vườn và đào một hầm ép rượu tại đó. Người mong chờ nó sinh trái nho tốt, nhưng nó lại sinh trái nho hoang.

  1. Vậy bây giờ, hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem và người Giu-đa! Hãy phân xử giữa Ta và vườn nho của Ta. 4. Có điều gì cần làm cho vườn nho của Ta, mà Ta không làm cho nó chăng? Tại sao Ta mong nó sinh trái nho tốt mà nó lại sinh trái nho hoang? 5. Bây giờ, Ta cho các ngươi biết những gì Ta sắp làm cho vườn nho của Ta: Ta sẽ phá rào, để nó bị cháy rụi. Ta sẽ hạ tường, để nó bị giày đạp. 6. Ta sẽ để cho nó bị hoang tàn, không được tỉa sửa, cũng không được vun xới. Gai góc và bụi rậm sẽ mọc lên. Ta cũng truyền cho mây không đem mưa đổ xuống trên nó.
  2. Vườn nho của Đức Giê-hô-va của các đạo quân là nhà Y-sơ-ra-ên, và người Giu-đa là những cây trồng mà Ngài vui thích. Ngài trông mong công lý nhưng chỉ thấy sự áp bức, trông mong sự công chính nhưng chỉ thấy tiếng kêu than.
  3. Khốn cho những kẻ thêm nhà vào nhà, thêm ruộng vào ruộng, cho đến khi không còn một chỗ trống nào, để rồi các ngươi sống một mình ở giữa xứ. 9. Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã phán vào tai của ta: Thật vậy, có nhiều nhà sẽ bị bỏ hoang. Các nhà lớn và xinh đẹp sẽ không có người ở! 10. Vì mười mẫu vườn nho chỉ thu được một bát rượu; gieo một ô-me hột giống chỉ thu được một ê-pha. 11. Khốn cho kẻ dậy sớm để tìm rượu mạnh, và tiếp tục theo đuổi cho đến khuya để tìm rượu. 12. Trong các yến tiệc của họ, có đàn hạc, đàn cầm, trống tay, sáo, và rượu; nhưng họ không quan tâm đến công việc của Đức Giê-hô-va và cũng không suy xét công việc của tay Ngài.
  4. Vì vậy, dân Ta phải bị lưu đày vì thiếu hiểu biết. Người cao trọng của họ phải chịu đói, còn quần chúng bị khát khô. 14. Vì vậy, âm phủ nới rộng và há miệng quá cỡ: sự hào nhoáng, đông đúc, ồn ào, vui tươi đều rớt xuống đó. 15. Loài người bị hạ xuống, mỗi người sẽ khiêm tốn, những con mắt kiêu kỳ sẽ bị hạ xuống. 16. Nhưng Đức Giê-hô-va của các đạo quân được tôn cao khi Ngài phán quyết. Đức Chúa Trời thánh khiết sẽ được tôn thánh vì đức công chính. 17. Chiên con sẽ được nuôi trong đồng cỏ của mình, và những người tạm cư sẽ ăn tại nơi đổ nát của kẻ giàu.
  5. Khốn cho kẻ dùng dây dối trá để kéo sự gian ác, dùng dây kéo xe để lôi kéo tội lỗi. 19. Họ nói: Xin Ngài hãy vội vàng nhanh chóng thực hiện công việc Ngài, để chúng tôi được thấy! Xin chương trình của Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên được thực thi được thành tựu, để chúng tôi được biết!
  6. Khốn cho những kẻ bảo ác là thiện, bảo thiện là ác; lấy tối làm sáng, lấy sáng làm tối; lấy đắng làm ngọt, lấy ngọt làm đắng.
  7. Khốn cho những kẻ coi mình là khôn ngoan, và tự cho mình là thông sáng!
  8. Khốn cho những người dũng mãnh say rượu, và những người can trường bị rượu pha làm cho say!
  9. Khốn cho những kẻ nhận hối lộ để xưng sự công chính cho kẻ có tội, và tước đoạt sự công chính của người công chính!
  10. Vì vậy, giống như ngọn lửa thiêu đốt rơm rạ và cỏ khô bị tiêu tan trong ngọn lửa thế nào, thì gốc rễ của họ sẽ mục nát và nụ hoa của họ cũng sẽ bay đi như bụi tro giống như vậy, bởi vì họ đã loại bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va của các đạo quân và xem thường lời của Đấng Thánh Y-sơ-ra-ên. 25. Do đó, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên cùng dân của Ngài. Ngài giơ tay chống lại họ và trừng phạt họ. Núi non rung chuyển. Xác chết của họ như phân rơi trên đường phố. Dù vậy, cơn thịnh nộ Ngài chưa nguôi, tay Ngài vẫn còn giang ra.
  11. Ngài sẽ dựng một ngọn cờ cho các dân tộc ở xa, rồi thổi còi kêu gọi họ từ tận cùng cõi đất; và chắc chắn, họ sẽ vội vàng nhanh chóng chạy đến! 27. Không một ai mệt mỏi, không một ai giữa vòng họ vấp ngã, không một ai ngủ gật hay ngủ mê, không một ai cởi thắt lưng hay tháo dây giày. 28. Mũi tên của họ thật bén nhọn, tất cả cung đều giương lên, vó ngựa cứng như đá lửa, và bánh xe nhanh như gió lốc. 29. Tiếng gầm của họ như sư tử, họ rống như sư tử tơ. Vâng, họ sẽ gầm và bắt mồi đem đi, không ai giải cứu được. 30. Ngày ấy, sẽ có tiếng gầm chống lại họ, giống như tiếng gầm của biển. Nếu ai nhìn vào xứ, chỉ thấy sự tối tăm và buồn bã – ánh sáng đã bị mây mù làm cho tối tăm.

 

6

  1. Vào năm vua Ô-xia qua đời, tôi thấy Chúa ngự trên ngôi rất cao, vạt áo của Ngài phủ đầy đền thờ. 2. Các sê-ra-phim đứng chầu bên trên. Vị này có sáu cánh, vị kia có sáu cánh: hai cái che mặt, hai cái che chân, và hai cái dùng để bay. 3. Vị nầy tung hô và vị kia đối lại rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Khắp đất đầy dẫy vinh quang của Ngài!
  2. Tiếng tung hô vang dội làm cho các trụ cửa rúng động. Đền thờ đầy dẫy khói. 5. Tôi thốt lên: Khốn cho tôi! Đời tôi xong rồi! Bởi vì tôi là một người có môi không tinh sạch, tôi ở giữa một dân có môi không tinh sạch, nhưng mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va của các đạo quân!
  3. Một trong những sê-ra-phim đã bay đến với tôi, trong tay cầm than lửa đỏ đã dùng kẹp gắp từ bàn thờ. 7. Vị đó dùng nó chạm vào miệng tôi, rồi nói: Đây, vật nầy đã chạm đến môi ngươi. Lỗi của ngươi đã được cất khỏi, và tội của ngươi đã được tha.
  4. Tôi nghe tiếng của Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? Tôi thưa: Có con đây! Xin hãy sai con!
  5. Ngài phán: Hãy đi và nói với dân nầy rằng: Hãy nghe nhưng các ngươi sẽ chẳng hiểu gì. Hãy xem nhưng các ngươi sẽ chẳng nhận biết gì. 10. Hãy làm cho lòng của dân đó đần độn, tai của họ nặng nề, và mắt của họ nhắm lại; kẻo mắt của họ thấy được, tai của họ nghe được, lòng của họ hiểu được, rồi họ trở lại và được chữa lành hay chăng!
  6. Tôi hỏi: Thưa Chúa! Trong bao lâu? Ngài trả lời: Cho đến khi các thành bị bỏ hoang không có dân cư, nhà không có người ở, và đất đai trở nên hoang vu hoàn toàn. 12. Đức Giê-hô-va đem nhiều người đi xa và nhiều nơi trong xứ sẽ trở nên điêu tàn. 13. Mặc dù bị hủy diệt, nhưng một phần mười của họ sẽ trở về. Giống như khi người ta đốn cây thông cây sồi, thì gốc vẫn còn. Dòng dõi thánh chính là gốc của nó.

 

7

  1. Thời gian trôi qua, vào thời A-cha – con trai của Giô-tham, cháu của Ô-xia, làm vua Giu-đa, Rê-xin – vua của A-ram, và Phê-ca – con trai của Rê-ma-lia làm vua của Y-sơ-ra-ên, đã tiến lên để đánh Giê-ru-sa-lem, nhưng họ không thể chiếm được. 2. Khi nhà Đa-vít được báo tin: “Quân đội của A-ram đang đóng tại Ép-ra-im” thì lòng của vua và lòng của dân chúng rúng động như những cây trong rừng bị lung lay trước gió.
  2. Đức Giê-hô-va phán cùng Ê-sai: Bây giờ, ngươi và con trai của ngươi là Sê-a Gia-súp hãy đến gặp A-cha tại cuối cống dẫn nước vào Thượng Hồ, trên con đường dẫn đến chỗ giặt đồ. 4. Ngươi hãy nói với người rằng: Hãy cẩn thận, bình tĩnh, đừng sợ, và đừng ngã lòng – bởi vì cơn giận dữ của Rê-xin, vua của A-ram, và của con trai Rê-ma-lia, chỉ như hai ngọn củi bốc khói. 5. Bởi vì A-ram, Ép-ra-im, và con trai của Rê-ma-lia đã âm mưu hại ngài và nói rằng: 6. Chúng ta hãy đi lên đánh Giu-đa, làm cho nó kinh hoàng, phân chia nó cho chúng ta, rồi lập con trai của Ta-bê-ên làm vua cai trị nó. 7. Chúa, là Đức Giê-hô-va, phán như vầy: Điều đó sẽ không thành, và việc đó sẽ không xảy ra! 8. Bởi vì đầu của A-ram là Đa-mách, đầu của Đa-mách là Rê-xin. Trong sáu mươi lăm năm nữa, Ép-ra-im sẽ bị tiêu diệt, không còn là một quốc gia nữa; 9. đầu của Ép-ra-im là Sa-ma-ri, đầu của Sa-ma-ri là con của Rê-ma-lia. Nếu các ngươi không tin, các ngươi sẽ không đứng vững được.
  3. Đức Giê-hô-va lại phán cùng A-cha rằng: 11. Hãy xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi ban cho ngươi một dấu lạ. Hãy xin điều thật sâu hoặc thật cao xa. 12. Nhưng A-cha thưa: Con sẽ không xin và cũng không dám thử Đức Giê-hô-va.
  4. Ông nói: Nầy, nhà Đa-vít hãy nghe đây! Chỉ vì một việc nhỏ mà các ngươi còn làm phiền người ta, nhưng các ngươi lại không muốn làm phiền Đức Chúa Trời của ta trong việc như thế nầy hay sao? 14. Vì vậy, chính Chúa sẽ ban một dấu lạ cho các ngươi: Nầy, một trinh nữ sẽ mang thai, và sinh một con trai, rồi đặt tên là Em-ma-nu-ên. 15. Con trẻ sẽ ăn sữa đông đặc và mật, biết bỏ điều dữ và chọn điều lành. 16. Bởi vì trước khi bé trai biết bỏ điều dữ chọn điều lành, thì đất nước của hai vua mà ngươi sợ sẽ bị bỏ hoang.
  5. Từ vua A-sy-ri, Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên ngài, trên dân tộc của ngài, và nhà của tổ tiên ngài những thời kỳ chưa từng có, kể từ khi Ép-ra-im tách ra khỏi Giu-đa. 18. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ thổi còi gọi ruồi từ những biên cương xa xôi của các con sông tại Ai Cập và ong từ xứ A-sy-ri đến. 19. Chúng sẽ đến đậu trong tất cả các thung lũng hoang vu, trong các hốc đá, trên mọi bụi gai, và trong mọi đồng cỏ. 20. Trong ngày đó Đức Giê-hô-va sẽ dùng dao cạo đã thuê từ bên kia sông, tức vua của A-sy-ri, mà cạo đầu, những lông chân, và cạo luôn cả râu.
  6. Trong ngày đó mỗi người sẽ có một con bò cái tơ và hai con chiên. 22. Bởi vì có quá nhiều sữa cho nên người ta ăn sữa đông đặc. Thật vậy, người nào còn sót lại trong xứ đều sẽ ăn sữa đông đặc và mật. 23. Trong ngày đó, những nơi đã từng có hàng ngàn cây nho, trị giá cả ngàn siếc-lơ bạc, sẽ trở thành những nơi mọc toàn cây gai và bụi gai. 24. Ai vào đó phải mang cung tên, bởi vì cả xứ chỉ toàn cây gai và bụi gai. 25. Trên những ngọn đồi, nơi người ta thường cuốc xới, ngươi sẽ không muốn đến những nơi đó nữa, bởi vì sợ những cây gai và bụi gai. Nơi đó sẽ trở thành chỗ cho bò và chiên rong chơi.

 

8

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: Hãy lấy một tấm bảng lớn, rồi viết trên đó bằng văn tự của con người: Ma-he Sa-la Hát Bát.
  2. Các nhân chứng tin cậy cho tôi trong việc nầy là Tư tế U-ri và Xa-cha-ri, con trai của Giê-bê-rê-kia. 3. Tôi đã đến với một nữ tiên tri, nàng thụ thai, rồi sinh một con trai. Đức Giê-hô-va phán cùng tôi: Hãy đặt tên nó là Ma-he Sa-la Hát Bát; 4. bởi vì trước khi đứa trẻ biết gọi cha gọi mẹ, thì vua A-sy-ri sẽ đến, lấy đi tài sản của Đa-mách và chiếm những chiến lợi phẩm tại Sa-ma-ri.
  3. Và rồi, Đức Giê-hô-va lại phán với tôi một lần nữa rằng: 6. Bởi vì dân nầy đã khước từ dòng nước êm dịu của Si-lô-ê, nhưng vui mừng về Rê-xin và con trai của Rê-ma-lia, 7. cho nên Chúa sẽ khiến nước Sông Cái chảy cuồn cuộn trên họ, tức là vua A-sy-ri với tất cả vinh quang của vua. Nó sẽ dâng lên trong các dòng chảy, tràn ngập tất cả các bờ, 8. xuyên qua Giu-đa, chảy vào, rồi dâng lên tận cổ, và cánh của nó sẽ giang ra che phủ cả xứ của ngươi. Nguyện Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. 9. Hỡi những dân tộc gian ác! Các ngươi sẽ bị tản lạc. Từ tất cả những nước xa xôi, hãy lắng nghe! Hãy nai nịt để rồi bị đập tan tành. Hãy nai nịt để rồi bị đập tan tành. 10. Hãy cùng nhau bàn thảo nhưng kế hoạch sẽ không thành. Hãy đưa ra lời tuyên bố nhưng nó sẽ không đứng vững. Nguyện Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng tôi và dùng cánh tay mạnh mẽ hướng dẫn tôi rằng đừng đi theo đường lối của dân nầy. Ngài phán: 12. Đừng gọi là sự liên kết, tất cả những gì dân nầy gọi là liên kết. Đừng sợ những điều chúng sợ và đừng kinh hãi những điều đó. 13. Nhưng hãy tôn Đức Giê-hô-va của các đạo quân là Đấng Thánh. Ngài là Đấng mà các ngươi phải tôn kính. Ngài là Đấng mà các ngươi phải kính sợ. 14. Ngài sẽ là nơi thánh, nhưng sẽ là hòn đá vấp váp, là tảng đá chướng ngại cho cả hai nhà của Y-sơ-ra-ên, và là cạm bẫy cho dân cư Giê-ru-sa-lem. 15. Nhiều người trong số họ sẽ vấp, ngã, và tan nát; họ sẽ mắc bẫy và bị bắt.
  5. Hãy buộc chặt lời xác chứng và hãy niêm phong luật pháp ở giữa những môn đồ của tôi. 17. Tôi trông đợi Đức Giê-hô-va, là Đấng ẩn mặt Ngài khỏi nhà Gia-cốp, và tôi vẫn kỳ vọng nơi Ngài. 18. Hãy xem đây! Tôi và con cái mà Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi để làm dấu hiệu và điềm lạ cho Y-sơ-ra-ên, đã đến từ Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đấng ngự trên núi Si-ôn. 19. Nếu có ai bảo các ngươi: Hãy cầu hỏi đồng cốt và thầy bói, là kẻ nói líu ríu thì thầm, thì hãy nói: Tại sao một dân tộc lại không cầu hỏi Đức Chúa Trời của mình, nhưng cầu hỏi kẻ chết cho người sống? 20. Hãy theo luật pháp và lời xác chứng! Nếu họ không nói như vậy, sẽ không có bình minh cho họ. 21. Họ sẽ đi lang thang trong xứ, khốn khổ và đói khát! Trong lúc đói khổ, họ sẽ nổi giận, nguyền rủa vua và Đức Chúa Trời của mình. Họ sẽ ngước mặt lên trời, 22. rồi cúi nhìn xuống đất, nhưng chỉ thấy hoạn nạn và đen tối, ảm đạm và buồn rầu. Họ bị lùa vào chốn tối tăm mù mịt.

 

9

  1. Tuy nhiên, sẽ không còn sự ảm đạm cho người đang sầu thảm nữa. Ban đầu Ngài trừng phạt xứ Sa-bu-lôn và xứ Nép-ta-li cách nhẹ nhàng; nhưng về sau, Ngài sẽ làm vẻ vang vùng đất nằm trên con đường ra biển, về phía bên kia của Giô-đanh, là xứ Ga-li-lê của dân ngoại.
  2. Dân đi trong bóng tối đã nhìn thấy ánh sáng vĩ đại. Ánh sáng chiếu soi trên những người đang ngồi trong bóng của sự chết. 3. Ngài không chỉ làm cho họ vui mừng, nhưng còn làm cho dân chúng được gia tăng bội phần. Họ vui mừng trước mặt Ngài như vui mừng trong mùa gặt, như người ta reo vui trong lúc chia chiến lợi phẩm. 4. Bởi vì giống như trong thời Ma-đi-an, Ngài đã bẻ cái ách nặng nề, cây gậy trên vai họ, và ngọn roi của kẻ áp bức họ. 5. Tất cả giày dép đã giày đạp nơi chiến trường, và những y phục vấy máu đều bị thiêu hủy để chụm lửa. 6. Bởi vì một Con Trẻ được sinh cho chúng ta, một Con Trai được ban cho chúng ta, quyền cai trị sẽ đặt trên vai của Ngài. Danh của Ngài sẽ được gọi là Đấng Cố Vấn Diệu Kỳ, Đức Chúa Trời Quyền Năng, Cha Đời Đời, Chúa Bình An. 7. Quyền cai trị của Ngài cứ gia tăng, và hòa bình sẽ bất tận trên ngôi Đa-vít và trên vương quốc của Ngài, để vững lập và duy trì điều đó trong công lý và trong sự công chính từ nay cho đến đời đời. Lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ thực hiện điều nầy.
  3. Chúa đã gởi một sứ điệp cho Gia-cốp, và đổ trên Y-sơ-ra-ên. 9. Tất cả dân chúng sẽ biết là Ép-ra-im và cư dân Sa-ma-ri kiêu căng và ngạo mạn nói rằng: 10. “Gạch đã đổ xuống nhưng chúng ta sẽ xây lại bằng những tảng đá khối. Những cây sung đã bị triệt hạ, nhưng chúng ta sẽ thay bằng những cây bá hương.” 11. Vì vậy, Đức Giê-hô-va sẽ gia thêm những kẻ của Rê-xin để chống lại họ. Ngài khuấy động những kẻ thù của họ. 12. Dân A-ram phía trước, dân Phi-li-tin phía sau, há miệng ra nuốt Y-sơ-ra-ên. Dầu vậy, cơn giận của Ngài chưa xoay khỏi, nhưng tay của Ngài vẫn còn giang ra.
  4. Nhưng dân chúng không quay về với Đấng trừng phạt mình, cũng không tìm kiếm Đức Giê-hô-va của các đạo quân. 14. Vì vậy, chỉ trong một ngày Đức Giê-hô-va sẽ cắt khỏi Y-sơ-ra-ên cả đầu lẫn đuôi, cả cành cọ lẫn cây sậy. 15. Trưởng lão, người được tôn trọng, là đầu. Tiên tri, kẻ dạy điều dối trá, là đuôi. 16. Bởi vì những lãnh đạo của dân nầy đã khiến cho họ lầm lạc. Những người được họ dẫn dắt bị hủy diệt. 17. Vì vậy, Chúa không vui lòng về những thanh niên của họ, cũng không thương xót kẻ mồ côi và góa bụa, bởi vì tất cả họ đều vô đạo và gian ác, miệng nào cũng nói điều rồ dại ngông cuồng. Dầu vậy, cơn giận của Ngài chưa xoay khỏi, nhưng tay của Ngài vẫn còn giang ra.
  5. Vì sự gian ác cháy bùng lên như lửa, thiêu hủy gai gốc và bụi cây, rồi cháy cả rừng rậm, làm cho khói cuồn cuộn bốc lên. 19. Trong cơn giận của Đức Giê-hô-va của các đạo quân, đất bị thiêu đốt, dân trở thành mồi cho lửa, người ta không còn thương xót đến anh em của mình. 20. Họ cắn bên phải mà vẫn đói, họ nuốt bên trái mà vẫn không no. Mỗi người ăn thịt chính cánh tay của mình. 21. Ma-na-se chống lại Ép-ra-im, và Ép-ra-im chống lại Ma-na-se, rồi cả hai cùng chống lại Giu-đa. Dầu vậy, cơn giận của Ngài chưa xoay khỏi, nhưng tay của Ngài vẫn còn giang ra.

 

10

  1. Khốn cho những kẻ lập ra luật bất công và viết những văn kiện đem đến sự bất hạnh, 2. nhằm tước đoạt lẽ phải của người yếu thế, cướp mất công lý của người nghèo trong dân của Ta, để người góa bụa trở thành con mồi của chúng, và kẻ mồ côi bị chúng cướp bóc. 3. Các ngươi sẽ làm gì trong ngày bị trừng phạt khi tai họa đến từ phương xa? Các ngươi sẽ chạy đến ai để cầu cứu? Các ngươi sẽ để sự giàu có danh vọng của mình ở nơi nào? 4. Bọn chúng sẽ không thể làm gì ngoài việc khom lưng giữa đám tù binh, rồi ngã gục giữa những người bị giết. Dầu vậy, cơn giận của Ngài chưa xoay khỏi, nhưng tay của Ngài vẫn còn giang ra.
  2. Khốn cho A-sy-ri, là cây roi của sự thịnh nộ Ta! Cây gậy trong tay của nó là sự tức giận của Ta! 6. Ta sai nó chống lại một nước vô tín. Ta truyền cho nó đánh một dân tộc đã chọc giận Ta, để nó cướp của cải, chiếm chiến lợi phẩm, rồi giày đạp chúng như bùn ngoài đường. 7. Nhưng nó không hiểu như thế, lòng của nó cũng không nghĩ như vậy. Lòng của nó muốn tiêu diệt không phải một vài nhưng thật nhiều nước. 8. Nó nói rằng: Không phải các tướng lĩnh của ta đều là vua hay sao? 9. Không phải Ca-nô sẽ như Cạt-kê-mít, Ha-mát sẽ như Ạt-bát, Sa-ma-ri sẽ như Đa-mách hay sao? 10. Như tay ta đã nắm được các vương quốc có thần tượng, thần tượng của Giê-ru-sa-lem có gì cao trọng hơn của Sa-ma-ri. 11. Ta không thể làm cho Giê-ru-sa-lem và thần tượng của nó như ta đã làm cho Sa-ma-ri và thần tượng của nó hay sao?
  3. Vì vậy, khi Chúa hoàn tất mọi công việc của Ngài trên núi Si-ôn và tại Giê-ru-sa-lem, Ngài phán: Ta sẽ trừng phạt những kết quả kiêu ngạo trong lòng của vua A-sy-ri và con mắt cao ngạo của hắn. 13. Bởi vì hắn nói rằng: Ta đã hành động bằng sức mạnh từ của tay ta và bằng sự khôn ngoan của ta. Bởi vì ta thông minh, ta đã xóa bỏ biên cương của các nước, và cướp đoạt những kho tàng của chúng. Là kẻ mạnh, ta ấn định dân cư. 14. Tay của ta đã lấy tài nguyên của các nước, như một người tìm thấy tổ chim. Ta đã thâu tóm cả mặt đất, không một ai dám động cánh, hay mở miệng kêu chim chíp.
  4. Cái rìu có thể nào lên mặt với người cầm rìu để chặt, hay là cái cưa có thể nào tự tôn tự đại với người điều động cái cưa? Cây roi được nâng lên, cây gậy được nâng lên, nhưng chúng không phải chỉ là gỗ hay sao? 16. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ làm cho sự mập mạnh của hắn thành gầy mòn. Ngài sẽ đốt sự vinh hoa của hắn như đốt lửa. 17. Ánh sáng của Y-sơ-ra-ên sẽ là một đám lửa. Đấng Thánh là một ngọn lửa, sẽ bừng cháy, thiêu hủy gai góc và bụi rậm chỉ trong một ngày. 18. Sự trù phú của rừng và vườn cây trái của hắn sẽ bị hủy diệt hết, cả xác lẫn hồn, giống như một người bị bệnh sẽ suy nhược rồi lụi tàn. 19. Số cây còn lại trong rừng rất ít, một đứa trẻ cũng có thể đếm được.
  5. Trong ngày đó, những người còn lại của Y-sơ-ra-ên, tức là những người sống sót của nhà Gia-cốp, sẽ không còn nương cậy vào kẻ đã đánh bại họ, nhưng họ sẽ thật lòng nương cậy vào Đức Giê-hô-va là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
  6. Những người còn lại sẽ trở về! Những người còn lại của Gia-cốp sẽ trở về cùng Ðức Chúa Trời toàn năng. 22. Hỡi dân Y-sơ-ra-ên! Dù cho ngươi đông như cát biển, chỉ có những người còn sót lại sẽ trở về. Lịnh hủy diệt họ đã được ấn định, nhưng sự công chính sẽ tuôn chảy. 23. Bởi vì Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, đã quyết định thực hiện sự hủy diệt trên khắp đất.
  7. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán như thế nầy: Hỡi dân Ta, là những người đang ở Si-ôn! Đừng sợ người A-sy-ri khi chúng đánh ngươi bằng roi và giơ gậy lên chống lại ngươi như tại Ai Cập. 25. Bởi vì chỉ ít lâu nữa, sự trừng phạt sẽ chấm dứt; và cơn thịnh nộ của Ta sẽ hủy hoại chúng. 26. Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ quất roi đánh hắn, như Ngài đã đánh người Ma-đi-an nơi vầng đá Ô-rép; và Ngài cũng giơ gậy trên biển như Ngài đã làm tại Ai Cập. 27. Trong ngày đó, gánh nặng của hắn sẽ được cất khỏi vai của ngươi, ách của hắn sẽ được cất khỏi cổ của ngươi. Ách sẽ bị gãy vì ngươi mập mạnh.
  8. Hắn đến A-giát, đi xuyên qua Mi-gơ-rôn, tích trữ tiếp liệu tại Mích-ma. 29. Chúng vượt đèo, đóng trại tại Ghê-ba. Ra-ma run sợ, Ghi-bê-a của Sau-lơ chạy trốn. 30. Hỡi con gái Ga-lim! Hãy cất tiếng kêu vang. Hỡi La-ít! Hãy lắng nghe! A-na-tốt thật đáng thương. 31. Mát-mê-na bỏ chạy, cư dân Ghê-bim chạy trốn tìm nơi ẩn núp. 32. Chính ngày đó, hắn sẽ ở lại tại Nóp. Hắn giơ nắm đấm về núi của con gái Si-ôn, và những ngọn đồi của Giê-ru-sa-lem. 33. Nầy, Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, sẽ dùng uy lực đáng sợ mà chặt các cành. Những kẻ cao ngạo sẽ bị triệt hạ. Những nơi cao sẽ bị hạ thấp. 34. Ngài dùng rìu sắt đốn những bụi rậm trong rừng. Li-ban sẽ ngã xuống bởi Đấng Quyền Năng.

 

11

  1. Có một chồi sẽ mọc lên từ gốc của Gie-sê. Một cành xuất phát từ rễ của nó sẽ ra trái. 2. Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên Ngài, đó là Thần khôn ngoan và thông sáng, Thần mưu lược và quyền năng, Thần tri thức và kính sợ Đức Giê-hô-va. 3. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là điều Ngài vui thích. Ngài sẽ không xét xử theo mắt thấy, cũng không phán quyết theo tai nghe, 4. nhưng Ngài sẽ xét xử trong sự công chính cho người nghèo hèn, và phán quyết sự công bằng cho kẻ nhu mì trên đất. Ngài sẽ đánh thế gian bằng cây roi nơi miệng của mình và Ngài lấy hơi thở nơi môi mà giết kẻ gian ác. 5. Sự công chính sẽ làm dây thắt lưng của Ngài, và sự thành tín sẽ làm dây nịt quanh hông của Ngài.
  2. Sói sẽ ở với chiên con, beo nằm chung với dê con, bò tơ và sư tử tơ được nuôi nấng đầy đủ sẽ ở chung với nhau, và một đứa trẻ sẽ chăn dắt chúng. 7. Gấu sẽ gặm cỏ như bò cái, các con nhỏ của chúng nằm chung với nhau, sư tử ăn rơm như bò đực. 8. Trẻ thơ còn bú chơi đùa bên hang của rắn hổ mang, trẻ thôi bú sẽ thò tay vào hang của rắn độc. 9. Chúng sẽ không làm hại và cũng không giết ai trên khắp núi thánh của Ta, bởi vì sự hiểu biết Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy trên thế giới như những dòng nước phủ đầy biển.
  3. Trong ngày đó, cội rễ của Gie-sê sẽ đứng lên như một ngọn cờ cho các dân tộc; những người ngoại quốc tìm đến Ngài, và nơi ngự của Ngài sẽ đầy vinh quang.
  4. Thời gian trôi qua sẽ có một ngày Chúa giang tay ra một lần nữa để khôi phục những người còn sót lại của dân Ngài, tức là những người còn lại từ A-sy-ri, Ai Cập, Pha-trô, Cút, Ê-lam, Si-nê-a, Ha-mát, và các hải đảo. 12. Ngài sẽ dựng một ngọn cờ cho các quốc gia, quy tụ những người Y-sơ-ra-ên bị ruồng bỏ, tập hợp những người Giu-đa đã bị lưu lạc khắp bốn phương trên đất. 13. Sự ganh tị sẽ lìa khỏi Ép-ra-im, kẻ thù của Giu-đa sẽ bị tiêu diệt. Ép-ra-im không còn ganh tị Giu-đa, Giu-đa không còn căm thù Ép-ra-im nữa, 14. nhưng họ sẽ sánh vai bay về Phi-li-tin ở phía tây, họ sẽ cướp bóc dân phương Đông, họ sẽ tra tay trên Ê-đôm và Mô-áp, và dân Am-môn sẽ quy phục họ. 15. Đức Giê-hô-va sẽ hủy diệt các cửa biển của Ai CậpAi-cập. Ngài giơ nắm tay của Ngài trên Sông Cái thì ngọn gió nóng của Ngài sẽ hủy hoại nó, khiến người ta có thể đi bằng dép vượt qua bảy dòng nước. 16. Sẽ có một con đường cho những người còn sót lại của Ngài là những người còn lại từ A-sy-ri, giống như đã từng có cho Y-sơ-ra-ên trong ngày họ ra khỏi đất Ai Cập.

 

12

  1. Trong ngày đó, ngươi sẽ nói rằng: Đức Giê-hô-va ôi! Con cảm tạ Ngài, dù Ngài đã nổi giận với con, nhưng cơn giận của Ngài đã chuyển hướng, và Ngài an ủi con. 2. Kìa, Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi của con. Con sẽ tin cậy và không sợ hãi, bởi vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là sức mạnh và bài ca của con, Ngài đã trở nên sự cứu rỗi của con.
  2. Vì vậy, các ngươi sẽ múc nước nơi những giếng của sự cứu chuộc với niềm vui. 4. Trong ngày đó, các ngươi sẽ nói rằng: Hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va. Hãy cầu khẩn danh Ngài. Hãy công bố cho các dân biết những công việc của Ngài! Hãy nhắc nhở rằng danh Ngài được tôn cao! 5. Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã làm những công việc kỳ vĩ. Hãy khiến cho cả trái đất biết điều nầy!
  3. Cư dân Si-ôn! Hãy reo hò và lớn tiếng tung hô! Bởi vì Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, đang ngự ở giữa ngươi, là vĩ đại.

 

13

  1. Sứ điệp về Ba-by-lôn. Đây là điều mà Ê-sai, con trai của A-mốt, đã nhìn thấy:
  2. Hãy dựng một ngọn cờ trên núi trọc! Hãy cất tiếng gọi chúng! Hãy vẫy tay gọi chúng vào các cửa của những người cao trọng! 3. Ta đã truyền lệnh cho những người được biệt riêng ra của Ta. Ta cũng gọi những người dũng mãnh của Ta đến để thi hành cơn thịnh nộ của Ta. Họ là những người vui mừng về sự cao trọng của Ta.
  3. Trên các núi có tiếng ồn ào của đám đông, như tiếng của một đoàn dân rất đông, là tiếng huyên náo nhộn nhịp của các vương quốc, các quốc gia họp lại với nhau. Đức Giê-hô-va của các đạo quân đang tập trung một đoàn quân để ra trận. 5. Từ cuối trời, họ đến cùng Đức Giê-hô-va. Trong cơn thịnh nộ của Ngài, họ dùng những vũ khí để tiêu diệt cả xứ.
  4. Hãy than khóc, vì ngày của Đức Giê-hô-va đã đến gần. Nó sẽ đến như là sự hủy hoại của Đấng Toàn Năng. 7. Vì vậy, mọi tay đều bủn rủn, mọi lòng đều tan chảy. 8. Họ sẽ kinh hãi. Sự đau đớn và thảm sầu bắt lấy họ. Họ đau đớn như cơn quặn thắt của sản phụ lúc sinh con. Người nầy sững sờ nhìn người kia, mặt của họ như ngọn lửa.
  5. Nầy, ngày của Đức Giê-hô-va đang đến, thật thảm khốc và kinh hoàng, giận dữ và cuồng nộ, sẽ làm cho đất hoang tàn. Ngài sẽ tiêu diệt những kẻ có tội khỏi đó. 10. Lúc đó, những ngôi sao trên trời và các chòm sao sẽ không còn chiếu sáng nữa; mặt trời vừa mọc lên thì đã tối sầm, và mặt trăng cũng không còn tỏa ánh sáng của nó nữa. 11. Ta sẽ trừng phạt thế gian vì sự gian ác của nó, và những kẻ gian ác vì tội của chúng. Ta sẽ chấm dứt sự kiêu căng của kẻ ngạo mạn, và hạ sự tự cao của kẻ bạo ngược. 12. Ta sẽ làm cho con người hiếm hơn vàng ròng, cho loài người hiếm hơn vàng Ô-phia. 13. Vì vậy, trong cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va của các đạo quân, trong ngày Ngài nóng giận dữ, Ta sẽ khiến các tầng trời rúng động. Ta sẽ dời trái đất khỏi chỗ của nó. 14. Như linh dương bị săn đuổi, như chiên không có người chăn, ai nấy sẽ trở về với dân tộc của mình, và sẽ chạy trốn về xứ của mình. 15. Bất cứ kẻ nào người ta tìm thấy sẽ bị đâm. Tất cả những người bị bắt đều ngã gục dưới gươm. 16. Những trẻ thơ của họ bị đập tan nát ngay trước mắt của họ, nhà cửa của họ bị cướp phá, vợ của họ bị cưỡng hiếp.
  6. Nầy, Ta sẽ khiến người Mê-đi chống lại họ. Chúng không thích bạc, cũng không thích vàng. 18. Cung của chúng bắn nát các thanh niên; chúng không thương xót bông trái của tử cung; mắt của chúng chẳng thương hại trẻ con. 19. Ba-by-lôn – sự huy hoàng của các vương quốc, là niềm kiêu hãnh của người Canh-đê, – sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ khi Đức Chúa Trời lật đổ chúng. 20. Nó sẽ vĩnh viễn không người ở, từ đời nầy sang đời kia sẽ chẳng ai cư trú. Người Ả-rập sẽ không cắm trại tại đó, và người chăn chiên cũng không cho bầy mình nằm nghỉ nơi ấy. 21. Nhưng thú dữ của hoang mạc sẽ nằm nghỉ tại đó; nhà của chúng đầy những chim cú; đà điểu trú ngụ tại đó, và dê rừng sẽ nhảy nhót tại đó. 22. Lang sói sẽ tru lên trong các dinh thự, và chó rừng sẽ hú trong những đền đài tráng lệ. Kỳ hạn của nó đã đến gần, và ngày của nó không còn lâu nữa.

 

14

  1. Thật vậy, Đức Giê-hô-va sẽ thương xót Gia-cốp và chọn Y-sơ-ra-ên một lần nữa. Họ sẽ định cư trên đất của họ. Người ngoại quốc sẽ liên kết với họ và sẽ hợp tác với nhà của Gia-cốp. 2. Các quốc gia sẽ đưa họ trở về chỗ của họ. Nhà Y-sơ-ra-ên sẽ sở hữu tôi trai tớ gái trong đất của Đức Giê-hô-va. Họ sẽ bắt giữ những kẻ đã bắt giữ họ, và cai trị những kẻ đã áp bức họ.
  2. Sẽ có một ngày Đức Giê-hô-va cho ngươi được nghỉ ngơi khỏi cảnh đau buồn, sợ hãi, lao nhọc nặng nề mà các ngươi bị buộc phải phục vụ. 4. Các ngươi sẽ xướng lên bài ca nầy về vua Ba-by-lôn:

Kẻ áp bức đã đến lúc tận cùng! Cơn giận dữ của hắn đã kết thúc! 5. Đức Giê-hô-va đã bẻ gãy cây gậy của kẻ ác và cây trượng của kẻ cai trị, 6. là kẻ không ngừng đánh các dân trong cơn giận dữ, cai trị các nước trong cơn thịnh nộ, và bách hại mà không ai ngăn cản được.

  1. Cả thế giới được yên nghỉ và bậc tiếng hoan ca. 8. Thật vậy, cây tùng cũng hoan hỉ vì ngươi. Cây bá hương của Li-ban nói rằng: Từ khi ngươi bị triệt hạ, không còn ai đốn ta nữa! 9. Âm phủ bên dưới cũng náo động vì ngươi, để chào đón ngươi đến. Nó đã vì ngươi mà đánh thức các âm hồn, tức là tất cả lãnh tụ trên đất. Nó đã làm cho tất cả vua của các nước phải đứng dậy khỏi ngai mình. 10. Tất cả những người đó sẽ nói với ngươi rằng: Ngươi cũng yếu như chúng ta, và trở nên giống như chúng ta. 11. Quyền uy và nhã nhạc của ngươi đã bị đem xuống âm phủ. Dòi sẽ làm nệm cho ngươi và sâu bọ sẽ làm mền cho ngươi.
  2. Hỡi sao mai, con trai của bình minh! Làm thế nào ngươi đã từ trời rơi xuống? Hỡi kẻ làm suy yếu các quốc gia! Làm thế nào ngươi bị hạ xuống đất? 13. Chính ngươi đã nói trong lòng rằng: Ta sẽ lên trời, lên cao hơn các ngôi sao của Đức Chúa Trời. Ta sẽ nhấc ngai của ta lên, rồi ngồi trên ngọn núi tại nơi hội họp ở cực xa về phương bắc. 14. Ta sẽ lên cao hơn trên đỉnh các tầng mây, làm cho ta giống như Đấng Tối Cao.
  3. Nhưng ngươi bị đem xuống âm phủ, sa xuống vực sâu. 16. Những người thấy ngươi sẽ nhìn chăm chăm vào ngươi rồi tự nhủ: Có phải đây là người đã làm rung chuyển trái đất và làm các vương quốc rúng động; 17. là người đã làm cho thế giới trở nên hoang vu, đã lật đổ các thành, không mở cửa ngục cho kẻ bị cầm tù hay không?
  4. Tất cả vua của các nước, mỗi người đều nằm xuống trong vinh quang tại nơi lăng tẩm của mình. 19. Nhưng ngươi bị quăng ra khỏi mồ mả như một nhành cây mục, bị bao bọc bởi những người bị giết vì gươm, bị đẩy xuống các tảng đá của vực sâu, như một xác chết bị giày đạp dưới chân. 20. Ngươi sẽ không được chôn cất cùng với họ, bởi vì ngươi đã phá tan đất nước của ngươi và đã sát hại dân của ngươi. Dòng dõi của kẻ ác sẽ mãi mãi không được nhắc đến. 21. Hãy chuẩn bị tàn sát con cháu của hắn, bởi vì tội lỗi của tổ phụ chúng, để chúng không thể nổi lên chiếm đất, và lập thành trì trên khắp mặt đất.
  5. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Ta sẽ đứng lên chống lại chúng. Ta sẽ tiêu diệt danh Ba-by-lôn và dân sót lại, cả đến con cháu và dòng dõi kế tiếp – Đức Giê-hô-va phán vậy. 23. Ta sẽ làm cho nó thành ra ao tù, để nhím ở tại đó. Ta sẽ quét nó bằng chổi hủy diệt. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán vậy.
  6. Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã thề rằng: Chắc chắn điều Ta đã hoạch định sẽ xảy ra, và điều Ta đã quả quyết sẽ hiệu lực. 25. Ta sẽ đập tan A-sy-ri trong đất của Ta, và giày đạp nó trên các núi của Ta. Ách của nó sẽ được cất khỏi họ, và gánh nặng của nó sẽ được cất khỏi vai của họ. 26. Đây là kế hoạch đã được hoạch định cho cả trái đất. Đây là cánh tay được giang ra trên tất cả các dân tộc. 27. Bởi vì Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã hoạch định thì ai phá vỡ được? Cánh tay Ngài đã giang ra thì ai có thể làm cho thu lại được?
  7. Vào năm Vua A-cha băng hà, lời tiên tri này đã xảy ra.
  8. Hỡi cả dân Phi-li-tin, đừng vội vui mừng vì roi đánh ngươi đã bị bẻ gãy. Bởi vì từ dòng dõi rắn sẽ sinh ra rắn lục, và con của nó sẽ là rắn độc biết bay. 30. Bấy giờ, người nghèo hơn hết sẽ tìm được thức ăn, kẻ túng thiếu sẽ nằm nghỉ yên ổn. Nhưng Ta sẽ khiến dòng dõi ngươi chết đói và những kẻ còn sót lại của ngươi sẽ bị giết. 31. Hỡi cổng, hãy than khóc! Hỡi thành, hãy kêu than! Hỡi cả dân Phi-li-tin, hãy tan biến, bởi vì có một luồng khói đến từ phương bắc, và không một ai rời khỏi hàng ngũ của mình. 32. Phải trả lời cho các sứ giả của quốc gia như thế nào? Hãy trả lời rằng: Đức Giê-hô-va đã lập Si-ôn, và kẻ nghèo khổ trong dân của Ngài sẽ tìm được nơi ẩn náu.

 

15

  1. Sứ điệp về Mô-áp:

Ôi! Chỉ trong một đêm, Ạc-rơ của Mô-áp bị tàn phá hoang tàn. Ôi! Chỉ trong một đêm, Ki-rơ của Mô-áp bị tàn phá và hoang tàn. 2. Người ta đi lên miếu thờ, đến Đi-bôn, tại những nơi cao để khóc than về Nê-bô và Mê-đê-ba. Mô-áp sẽ than khóc: Tất cả đều bị cạo trọc đầu và bị cắt râu. 3. Người ta mặc đồ tang ngoài đường phố. Trên sân thượng và nơi quảng trường, mọi người đều than khóc cay đắng. 4. Hết-bôn và Ê-lê-a-lê gào khóc – Tiếng kêu của họ nghe thấu đến tận Gia-hát. Vì vậy, lính chiến của Mô-áp đều kêu thét lên, run sợ cho sinh mạng của mình.

  1. Lòng ta than khóc vì Mô-áp: Những kẻ lánh nạn của họ chạy đến Xoa và Ê-lát-sê-bi-sia. Đến đèo Lu-hít, họ vừa đi lên vừa khóc. Trên đường đến Hô-rô-na-im, họ cất tiếng than khóc về sự hủy diệt. 6. Bởi vì nước ở Nim-rim đã khô cạn, cỏ xanh đã khô héo, cây cỏ không mọc, và không còn một cây xanh nào. 7. Vì vậy, tất cả những của cải mà họ thu được và tích lũy được, họ phải mang qua suối cây liễu.
  2. Thật vậy, tiếng than khóc vang đến tận những biên cương của Mô-áp, tiếng than khóc đến tận Ê-la-im, tiếng than khóc đến tận Bê-e-ê-lim. 9. Nước tại Đi-bôn đầy dẫy máu, bởi vì Ta còn đem thêm tai họa đến cho Đi-bôn nữa: Sư tử sẽ đuổi theo những người Mô-áp vừa thoát nạn cùng những kẻ còn sót lại trong xứ.

 

16

  1. Từ Sê-la cho đến hoang mạc và đến núi của con gái Si-ôn, hãy gởi chiên con cho người cai trị trong xứ. 2. Như một đàn chim bị tan tác vì vỡ tổ, các con gái Mô-áp bị lùa đi khỏi những chỗ cạn của sông Ạt-nôn.
  2. Xin hãy chỉ dẫn! Xin thực thi công lý! Xin chuyển bóng đêm thành bóng mát giữa trưa! Xin che giấu những người đang bị truy lùng! Xin đừng phản bội những người đang chạy trốn. 4. Hãy cho những người Mô-áp bị truy lùng được ở giữa các ngươi. Hãy cho họ trú ẩn khỏi mặt kẻ hủy diệt. Bởi vì sự áp bức đã kết thúc, sự hủy diệt đã ngưng, và những kẻ xâm lược đã biến mất khỏi xứ. 5. Nhờ sự thương xót, một ngôi sẽ được lập lên. Bởi sự thành tín, trong lều của Ða-vít sẽ có một người ngồi trên đó để đoán xét, để tìm kiếm sự công bình, và nhanh chóng thi hành sự công chính.
  3. Chúng ta đã nghe về sự kiêu căng của Mô-áp, đó là sự ngạo mạn quá mức. Sự tự cao, kiêu căng và xấc xược của nó chỉ là sự giả dối. 7. Vì vậy, Mô-áp sẽ than khóc. Mọi người Mô-áp sẽ than khóc cho nền tảng của Ki-rơ Ha-rê-sốt. Thật vậy, các ngươi hãy than khóc vì bị trừng phạt. 8. Bởi vì ruộng vườn của Hết-bôn đã tiêu điều, vườn nho của Síp-ma cũng vậy. Lãnh đạo của các nước đã chặt những cành nho tuyển chọn mà cành đã từng vươn đến Gia-ê-xe, lan ra khắp hoang mạc, và chồi của nó đâm ra đến tận biển. 9. Vì vậy, ta sẽ than khóc về Gia-ê-xe, và thương tiếc vườn nho của Síp-ma. Ta sẽ đổ nước mắt cho Hết-bôn và Ê-lê-a-lê, bởi vì tiếng reo hò trong mùa hái trái và mùa gặt của các ngươi đã bị rơi rụng rồi.
  4. Niềm hân hoan vui mừng vì đồng ruộng tươi tốt đã bị cất đi, tiếng ca hát reo hò trong các vườn nho không còn, tiếng reo tại chỗ ép nho cũng không còn, và không còn ai đạp nho, bởi vì Ta đã làm cho tiếng hò reo im lặng.
  5. Vì vậy lòng Ta như hạc cầm cho Mô-áp, tâm ta trỗi tiếng vì Ki-rơ Hê-re. 12. Và rồi, người ta sẽ thấy có lúc Mô-áp chịu mệt nhọc đi đến nơi cao, vào trong đền miễu của nó để cầu nguyện, nhưng cũng vô ích.
  6. Đó là lời của Đức Giê-hô-va trước đây đã phán về Mô-áp. 14. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán rằng: Trong ba năm nữa, theo cách tính của người làm thuê, vinh quang của Mô-áp cùng với đoàn dân đông đảo của nó sẽ còn lại sẽ rất ít, và yếu ớt.

 

17

  1. Sứ điệp về Ða-mách:

Kìa, Ða-mách sẽ không còn là một thành phố nữa, nhưng sẽ là một đống đổ nát. 2. Các thành phố của A-rô-e sẽ bị bỏ hoang, làm chỗ cho bầy chiên nằm nghỉ mà chẳng ai làm cho chúng kinh hãi. 3. Đồn lũy sẽ không còn tại Ép-ra-im, vương quốc của Đa-mách cũng không còn, số người còn sót lại của A-ram sẽ làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán vậy.

  1. Trong ngày đó, vinh quang của Gia-cốp sẽ suy tàn. Thân thể mập mạnh của nó sẽ trở nên gầy yếu. 5. Điều đó giống như lúc thợ gặt thu hoạch, dùng tay gặt những ngọn lúa; và rồi người ta mót những gié lúa còn lại trong thung lũng Rê-pha-im. 6. Thật vậy, chỉ có một ít gié lúa còn sót lại để mót. Điều đó cũng giống như cây ô-liu đã bị rung, chỉ còn hai ba trái trên ngọn cây, hay bốn năm trái còn dính lại trên những cành sai trái. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán vậy.
  2. Trong ngày đó, người ta sẽ hướng về Đấng Tạo Hóa của mình, và mắt của họ ngưỡng vọng Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. 8. Người ta sẽ không còn hướng về những bàn thờ là công việc của tay mình, và không còn nhìn đến những vật bởi ngón tay của mình làm ra, cho dù đó là những tượng Át-tạt-tê hay là những bàn thờ để dâng hương.
  3. Trong ngày đó, những thành kiên cố của họ sẽ giống như những nơi bị bỏ hoang trong rừng hoặc trên đỉnh núi, là những nơi họ phải lìa bỏ bởi vì dân Y-sơ-ra-ên, và đã trở nên hoang tàn. 10. Bởi vì ngươi đã quên Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi ngươi và không quan tâm đến Vầng Đá trú ẩn của ngươi, cho nên dù ngươi trồng vườn cây tốt nhất, nhưng lại gieo giống đâm chồi ngoại lai. 11. Trong ngày ngươi trồng, ngươi cẩn thận rào nó lại; một buổi sáng, hạt giống nẩy mầm; nhưng đến ngày gặt hái, chỉ là một đống lụi tàn của đau đớn, suy nhược, và bịnh tật.
  4. Ôi, tiếng huyên náo của nhiều người, giống như tiếng gầm của biển. Tiếng gầm của các dân, giống như tiếng gầm của những dòng nước cuồn cuộn. 13. Các quốc gia náo động như nhiều dòng nước chảy cuồn cuộn, nhưng Ngài quở trách chúng thì chúng bỏ chạy thật xa, bị thổi tung như trấu trong cơn gió ở trên núi và xoay vòng trong cơn bão. 14. Vào buổi tối, kìa, có sự kinh hoàng. Trước lúc rạng đông, chúng không còn nữa. Đây là phần của những kẻ đã bóc lột chúng ta và là số phận của những kẻ đã cướp đoạt chúng ta.

 

18

  1. Khốn cho vùng đất là nơi có loài côn trùng đập cánh vù vù ở bên kia những dòng sông của Cút. 2. Ngươi sai sứ giả dùng thuyền bằng lau vượt biển và lướt trên những dòng nước. Hỡi các sứ giả nhanh nhẹn! Hãy đi đến một nước có người cao lớn, có làn da mịn màng, đến với một dân mà xa gần ai cũng sợ, một nước hùng cường hay xâm lược, là đất nước có nhiều sông ngòi chia cắt lãnh thổ. 3. Hỡi tất cả cư dân trên thế giới, là những người sống trên mặt đất! Khi ngọn cờ dựng trên núi, các ngươi hãy nhìn xem! Khi kèn thổi lên, các ngươi hãy lắng nghe! 4. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán với tôi thế nầy:

Từ nơi Ta ngự, Ta sẽ lặng lẽ quan sát như một tia nắng ấm giữa bầu trời trong sáng, như một màn sương dày đặt trong cái nóng của mùa gặt. 5. Bởi vì trước mùa gặt thì nụ sẽ không còn, hoa đã thành những chùm nho chín, và người ta sẽ dùng liềm tỉa những chồi và cắt bỏ những cành; 6. và rồi chúng sẽ cùng bị bỏ lại cho chim săn mồi trên núi và cho thú rừng trên đất. Chúng sẽ trải qua mùa hạ với chim săn mồi và mùa đông với tất cả thú rừng trên đất. 7. Lúc đó, dân tộc cao lớn có làn da mịn màng, là giống dân mà xa gần đều sợ, là một nước hùng cường hay xâm lược, là xứ sở có những dòng sông phân chia lãnh thổ, dân đó sẽ đem lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va của các đạo quân. Họ sẽ đem đến nơi mà danh của Đức Giê-hô-va của các đạo quân ngự, tức là núi Si-ôn.

 

 

19

  1. Sứ điệp về Ai Cập:

Nầy, Đức Giê-hô-va ngự trên đám mây và bay thật nhanh đến Ai Cập. Những thần tượng tại Ai Cập run rẩy trước thánh nhan của Ngài, và lòng của người Ai Cập tan chảy từ bên trong.

  1. Ta sẽ khiến người Ai Cập nổi lên chống lại người Ai Cập: Họ sẽ chống lại nhau, mỗi người chống lại anh em của mình, mỗi người chống lại láng giềng của mình, thành nầy đánh thành nọ, vương quốc nầy đánh vương quốc kia. 3. Tinh thần trong lòng người Ai Cập sẽ không còn nữa. Ta sẽ làm rối loạn chiến lược của chúng. Chúng sẽ đi cầu vấn thần tượng, hồn người chết, tà ma, và tà linh. 4. Ta sẽ phó dân Ai Cập cho một bạo chúa – một vua hung tàn sẽ cai trị chúng. Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán vậy.
  2. Nước từ biển sẽ khô cạn, sông cũng khô và trơ trọi. 6. Các nhánh sông sẽ hôi thối, những dòng suối của Ai Cập sẽ cạn khô, lau sậy sẽ héo tàn. 7. Cây cỏ dọc bờ sông, tại cửa sông, và tất cả đồng ruộng bên bờ sông sẽ bị khô héo, bị lùa đi, rồi không còn gì nữa. 8. Các ngư phủ sẽ khóc, tất cả những người giăng câu sẽ than, những người quăng chài trên mặt nước sẽ mỏi mòn. 9. Những người làm vải gai lẫn những người dệt vải trắng đều xấu hổ. 10. Những trụ cột của nó sẽ sụp đổ. Tất cả những người làm công đều sầu thảm trong tâm hồn.
  3. Các quan chức ở Xô-an chỉ là những kẻ ngu dại, các cố vấn khôn ngoan của Pha-ra-ôn đưa ra những ý kiến thật ngu xuẩn. Làm thế nào các ngươi có thể nói với Pha-ra-ôn rằng: Tôi là con của bậc hiền triết, là con cháu của các vua thời xưa? 12. Nếu vậy thì những bậc hiền triết của ngươi ở đâu? Bây giờ hãy để cho họ nói cho ngươi biết những gì Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã hoạch định để chống lại Ai Cập.
  4. Các quan chức ở Xô-an đã trở nên dại dột, các quan chức ở Nốp bị lừa dối. Những viên đá góc của các chi tộc của chúng đã làm cho Ai Cập bị lầm lạc. 14. Đức Giê-hô-va đã trộn vào giữa chúng một linh lầm lẫn. Nó làm cho Ai Cập bị lầm lạc trong mọi việc, như một người say vừa đi lảo đảo vừa nôn mửa. 15. Không còn việc gì có thể làm cho Ai Cập được nữa, dù là đầu hay đuôi, dù là cành cọ trên cao hay bụi rậm ở dưới đất.
  5. Trong ngày đó, dân Ai Cập sẽ giống như những phụ nữ, run rẩy sợ sệt trước cái vẩy tay của Đức Giê-hô-va của các đạo quân mà Ngài lay động ở trên họ. 17. Xứ Giu-đa sẽ trở thành nỗi kinh hoàng cho dân Ai Cập. Người nào nhắc đến nó thì chính người đó sẽ hoảng sợ, bởi vì chương trình mà Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã hoạch định để chống lại họ.
  6. Trong ngày đó, tại xứ Ai Cập sẽ có năm thành nói tiếng Ca-na-an và tuyên thệ trung thành với Đức Giê-hô-va của các đạo quân. Một trong các thành ấy sẽ được gọi là thành phố Mặt Trời.
  7. Trong ngày đó, sẽ có một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va ngay giữa đất Ai Cập, và có một cột trụ cho Đức Giê-hô-va gần biên giới. 20. Đó là dấu hiệu và bằng chứng cho Đức Giê-hô-va của các đạo quân tại đất Ai Cập. Khi họ kêu cầu Đức Giê-hô-va vì bị áp bức thì Ngài sẽ sai một Đấng Giải Cứu, một Đấng Quyền Năng, và Ngài sẽ giải cứu họ. 21. Đức Giê-hô-va sẽ làm cho Ai Cập biết Ngài; và trong ngày đó, người Ai Cập sẽ nhận biết Đức Giê-hô-va. Họ sẽ dâng sinh tế và tế lễ, họ sẽ hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va và hoàn nguyện. 22. Đức Giê-hô-va sẽ đánh Ai Cập – Ngài đánh rồi lại chữa lành. Họ sẽ trở về cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ nghe lời họ khẩn cầu và chữa lành cho họ.
  8. Trong ngày đó, sẽ có một con đường từ Ai Cập đến A-sy-ri; người A-sy-ri sẽ đến Ai Cập, và người Ai Cập sẽ đến A-sy-ri. Người Ai Cập và người A-sy-ri sẽ cùng nhau thờ phượng.
  9. Trong ngày đó, Y-sơ-ra-ên sẽ cùng với Ai Cập và A-sy-ri tạo thành một bộ ba để làm nguồn phước ở giữa thế gian, 25. bởi vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã ban phước cho họ. Ngài phán: Phước cho Ai Cập là dân của Ta, A-sy-ri là công trình của tay Ta, và Y-sơ-ra-ên là cơ nghiệp của Ta!

 

20

  1. Vào năm Sa-gôn, vua của A-sy-ri sai tổng tư lệnh đến Ách-đốt, ông tấn công Ách-đốt, rồi chiếm thành. 2. Lúc đó, Đức Giê-hô-va đã phán cho Ê-sai, con trai của A-mốt, rằng: “Hãy cởi tấm vải thô quấn ngang thắt lưng của ngươi, và hãy tháo giày ra khỏi chân của ngươi, rồi đi.” Ông làm đúng như vậy – ở trần và đi chân không.
  2. Đức Giê-hô-va phán: Như đầy tớ của Ta là Ê-sai đã đi mình trần và chân không trong ba năm để làm dấu lạ và điềm báo cho Ai Cập và Cút thể nào, 4. thì vua của A-sy-ri sẽ dẫn dân Ai Cập làm tù binh và dân Cút đi lưu đày, cả trẻ lẫn già, trần trụi, chân không, và hở mông, để làm cho Ai Cập bị nhục nhã cũng như vậy. 5. Ai kỳ vọng nơi Cút sẽ khiếp sợ và ai trông mong nơi vinh quang của Ai Cập sẽ xấu hổ. 6. Trong ngày đó, các cư dân ở miền duyên hải tại đây sẽ nói rằng: Kìa, niềm hy vọng của chúng ta, là nơi mà chúng ta chạy đến để được giúp đỡ và được giải cứu khỏi vua A-sy-ri đã bị như vậy, thì làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi!

 

21

  1. Sứ điệp về vùng hoang mạc dọc theo miền duyên hải:

Gió lốc tại miền nam thổi ngang qua sa mạc, cho nên nó đến từ vùng đất kinh hoàng.

  1. Có một khải tượng kinh hoàng được công bố cho tôi: Kẻ phản bội đang phản bội, kẻ hủy diệt đang hủy diệt. Hỡi người Ê-lam! Hãy tiến lên. Hỡi người Mê-đi! Hãy vây hãm. Ta sẽ chấm dứt tất cả những tiếng than thở của nó.
  2. Vì vậy, lưng của tôi đầy sự đau đớn. Cơn quặn thắt chiếm lấy tôi như cơn quặn thắt của phụ nữ lúc lâm bồn. Tôi ngã quỵ khi nghe. Tôi kinh hoàng khi thấy. 4. Lòng tôi dao động, nỗi khiếp sợ khiến tôi bàng hoàng. Buổi hoàng hôn mà tôi mong đợi đã trở thành nỗi khiếp sợ cho tôi.
  3. Họ dọn bàn, trải khăn, họ ăn, họ uống. Hỡi các tướng lãnh! Hãy trỗi dậy. Hãy thoa dầu trên các thuẫn khiên. 6. Bởi vì Chúa đã phán với tôi như thế nầy: Hãy đi sắp đặt người canh gác để nó báo lại điều gì nó thấy. 7. Khi nó thấy có người cưỡi ngựa đi từng cặp, có người cưỡi lừa, có người cưỡi lạc đà, thì phải chú ý, phải rất chú ý.
  4. Người canh gác đã kêu lên: Chúa ôi! Tôi đã đứng trên vọng canh suốt ngày. Tôi đã đứng tại trạm canh suốt đêm. 9. Kìa, bây giờ từng cặp người cưỡi ngựa đang đến. Có người đáp lại nói: Ba-by-lôn đã sụp đổ, đã sụp đổ. Tất cả những tượng của các vị thần của nó đã bị đập tan nát dưới đất.
  5. Hỡi những người bị giày đạp trên sân đạp lúa của ta! Những điều ta nghe từ Đức Giê-hô-va của các đạo quân, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì ta đã báo cho các ngươi.
  6. Sứ điệp về Ðu-ma:

Từ Sê-i-rơ, có tiếng gọi tôi: Lính canh ơi! Đêm thế nào? Lính canh ơi! Đêm thế nào?

  1. Lính canh đáp: Buổi sáng đến, đêm cũng đến. Nếu muốn hỏi, thì cứ hỏi. Hãy trở lại. Hãy đến.
  2. Sứ điệp về Ả-rập:

Hỡi đoàn thương nhân của Ðê-đan! Các ngươi sẽ cư trú trong rừng tại Ả-rập. 14. Hãy đem nước cho người khát. Hỡi cư dân của Thê-ma! Hãy đem bánh để tiếp người tị nạn. 15. Bởi vì họ đang chạy trốn khỏi gươm, khỏi lưỡi gươm đã tuốt trần, khỏi cây cung đã giương lên, khỏi một cuộc chiến tranh khốc liệt.

  1. Vì Chúa đã phán với tôi thế nầy: Còn một năm nữa, theo năm của người làm thuê, mọi vinh quang của Kê-đa sẽ chấm dứt. 17. Số dũng sĩ bắn cung còn sót lại của dân Kê-đa rất ít. Bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán như vậy.

 

22

  1. Sứ điệp về thung lũng khải tượng:

Có việc gì mà tất cả các ngươi phải lên trên sân thượng như vậy? 2. Ngươi vốn là chốn phồn hoa, là một thành phố náo nhiệt, một thành phố reo vui, những người chết giữa các ngươi không phải bị giết vì gươm, cũng không chết nơi chiến trận. 3. Tất cả những người cai trị của các ngươi đều cùng nhau chạy trốn, họ bị bắt trói mà không cần cung tên, tất cả những kẻ bị tìm thấy đều bị bắt và trói vào nhau, dù họ đã trốn thật xa.

  1. Vì vậy, tôi nói: Hãy ngoảnh mặt khỏi tôi! Hãy để cho tôi khóc lóc thảm sầu. Đừng cố tìm cách an ủi tôi về sự hủy diệt con gái của dân tôi. 5. Bởi vì Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã định một ngày bối rối, chà đạp, và rối loạn tại thung lũng khải tượng: Tường thành sẽ sụp đổ, và tiếng kêu cứu vang vọng đến tận trên núi. 6. Ê-lam đang mang giỏ tên, cùng với xe chiến mã và kỵ binh; và Ki-rơ đã mở thuẫn. 7. Sẽ có ngày những thung lũng xinh đẹp của ngươi sẽ đầy xe chiến mã, và kỵ binh thì dàn trận ngay trước cổng thành.
  2. Ngài đã cất đi sự phòng thủ của Giu-đa. Trong ngày đó, các ngươi sẽ hướng mắt vào rừng để tìm vũ khí bảo vệ nhà. 9. Các ngươi thấy sự đổ vỡ của thành Đa-vít thật lớn lao, rồi các ngươi trữ nước ở Hạ Hồ. 10. Những căn nhà được phòng thủ trên tường thành bị sụp đổ, và rồi các ngươi có thể đếm được những căn nhà tại Giê-ru-sa-lem. 11. Các ngươi xây chỗ chứa nước giữa hai bức tường để chứa nước của ao cũ; nhưng các ngươi không hướng về Đấng đã làm nên điều nầy, và các ngươi cũng không nhìn xem Đấng đã hoạch định điều đó từ xưa.
  3. Trong ngày đó, Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân kêu gọi các ngươi hãy khóc lóc, hãy than van, hãy cạo đầu, hãy mặc vải tang. 13. Nhưng ngược lại, các ngươi vui mừng, hân hoan, giết bò, mổ cừu, ăn thịt, uống rượu: “Chúng ta hãy ăn, hãy uống vì ngày mai chúng ta sẽ chết.” 14. Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã tiết lộ điều nầy vào tai tôi: “Tội này chắc chắn sẽ không được tha cho đến ngày các ngươi chết.” Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán vậy.
  4. Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã phán như thế nầy: Hãy đi và đến gặp người nầy: Sép-na, người quản trị nhà cửa. 16. Ngươi có gì ở đây? Ngươi có liên hệ với ai ở đây mà ngươi đục cho mình một ngôi mộ tại đây? Ngươi đục cho mình một ngôi mộ ở trên cao, khắc cho mình một vầng mộ trong vách đá? 17. Hỡi kẻ quyền thế! Thật vậy, Đức Giê-hô-va sẽ ngăn chặn ngươi, sẽ nắm chặt ngươi rồi quăng thật xa. 18. Ngài sẽ quấn ngươi lại như một quả bóng, rồi ném ngươi vào vùng đất mênh mông. Ngươi sẽ chết ở đó cùng với những cỗ xe ngựa lộng lẫy của ngươi, làm nỗi ô nhục cho nhà chủ của ngươi. 19. Ta sẽ cách chức ngươi và truất ngươi khỏi địa vị của mình. 20. Và rồi đến ngày đó, Ta sẽ gọi đầy tớ của Ta là Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia. 21. Ta sẽ lấy áo của ngươi mặc cho người, lấy đai của ngươi củng cố cho người, trao quyền của ngươi vào trong tay của người. Người sẽ là cha của cư dân Giê-ru-sa-lem và nhà Giu-đa. 22. Ta sẽ đặt chìa khóa của nhà Đa-vít trên vai người. Người mở thì không ai đóng được, và đóng thì không ai mở được. 23. Ta sẽ đóng người như một cái cọc vào nơi vững chắc, và người sẽ trở nên một ngôi vinh quang cho nhà cha của mình. 24. Người ta sẽ gắn trên người tất cả vinh quang của nhà cha người, tất cả dòng dõi hậu tự, từ những vật dụng bé nhỏ cho đến những chén, những bình, những vại lớn.
  5. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: “Trong ngày đó, cái cọc đóng vào nơi vững chắc sẽ bị gỡ ra, bị cắt bỏ, và rơi xuống. Vật nặng gắn trên đó sẽ bị cắt đứt.” Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán như vậy.

 

23

  1. Sứ điệp về Ty-rơ:

Những tàu thuyền của Ta-rê-si! Hãy than khóc, bởi vì nó đã bị tàn phá, không còn nhà cửa, không còn hải cảng. Từ đất Kít-tim, người ta đã nghe về nó. 2. Hỡi những cư dân của miền duyên hải! Hãy bình tĩnh. Hỡi các thương gia ở Si-đôn! Là những kẻ vượt biển, đã được đầy đủ. 3. Hạt giống của Si-ho, mùa màng của sông Nin, được chuyên chở trên đại dương, là nguồn lợi của nó. Nó là nơi giao thương của các nước.

  1. Hỡi Si-đôn! Hãy hổ thẹn – vì biển đã nói. Thành lũy của biển đã nói rằng: “Ta không đau đẻ cũng không sinh con. Ta không nuôi thanh niên cũng không dưỡng thiếu nữ.” 5. Khi tin tức đến Ai Cập, người ta xót xa về tin tức tại Ty-rơ.
  2. Hãy vượt qua Ta-rê-si. Hỡi các cư dân của miền duyên hải! Hãy than khóc. 7. Có phải đây là thành phố vui nhộn của các ngươi, là chốn cổ xưa, là nơi đã gởi những đoàn thuyền đến nơi xa xôi để định cư.
  3. Ai đã hoạch định điều nầy để chống lại Ty-rơ – là mão miện của các thương nhân, là lãnh đạo của những người buôn bán, được trọng vọng trên đất? 9. Chính Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã hoạch định điều đó để làm nhục sự kiêu ngạo về mọi vinh quang, để hạ thấp những kẻ được trọng vọng trên đất.
  4. Hỡi con gái của Ta-rê-si! Hãy làm ngập đất của ngươi như sông Nin, bởi vì không còn sự giới hạn nữa. 11. Đức Giê-hô-va đã giang tay của Ngài trên biển, làm rúng động các vương quốc. Ngài đã truyền cho Ca-na-an: Hãy hủy diệt những thành lũy của nó.
  5. Ngài phán: Hỡi con gái của Si-đôn, cô gái bị cưỡng hiếp! Ngươi sẽ không còn hớn hở nữa. Hãy trỗi dậy đi qua Kít-tim, mặc dù ngươi cũng không được yên nghỉ tại đó.
  6. Hãy nhìn vào xứ của người Canh-đê. Trong quá khứ dân nầy không là gì cả. Người A-sy-ri lập xứ đó làm nơi ở cho thú rừng. Nhưng họ dựng tháp, tàn phá những đền đài cung điện, và làm cho nó hoang tàn. 14. Các tàu thuyền của Ta-rê-si! Hãy than khóc, bởi vì chỗ dựa của ngươi bị phá hủy.
  7. Thời gian trôi qua, sẽ có lúc Ty-rơ sẽ bị quên lãng trong bảy mươi năm, căn cứ theo niên biểu của một vị vua. Sau bảy mươi năm, Ty-rơ sẽ như một bài ca của kỹ nữ: 16. Hỡi kỹ nữ bị lãng quên! Hãy lấy hạc cầm dạo quanh thành phố, hát thật nhiều bài ca với những giai điệu thật hay để người ta nhớ đến ngươi!
  8. Khi bảy mươi năm kết thúc, Đức Giê-hô-va sẽ thăm viếng Ty-rơ. Nó sẽ trở lại nghề cũ của nó, hành dâm với mọi vương quốc trong thế gian trên mặt đất. 18. Lợi nhuận và tiền công của nó không được để dành hay tích trữ, nhưng sẽ được biệt riêng ra cho Đức Giê-hô-va. Bởi vì lợi nhuận của nó sẽ được dành cho những người phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va, để họ được chu cấp thực phẩm đầy đủ và trang phục tốt đẹp.

 

24

  1. Nầy, Đức Giê-hô-va sẽ làm cho đất trống không và hoang vu. Ngài sẽ làm cho mặt đất biến dạng và dân cư của nó bị tan lạc. 2. Lúc đó, tư tế cũng như dân thường, ông chủ cũng như tôi trai, bà chủ cũng như tớ gái, kẻ bán cũng như người mua, kẻ cho mượn cũng như người vay mượn, chủ nợ cũng như con nợ. 3. Đất sẽ trở nên trống không, tất cả bị tước đoạt – Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán lời nầy.
  2. Trái đất than khóc và lụi tàn. Thế gian suy bại và lụi tàn. Những kẻ cao ngạo trên đất lụi tàn. 5. Trái đất bị ô uế vì dân cư của nó, bởi vì họ đã vi phạm luật pháp, thay đổi mạng lịnh, và hủy bỏ giao ước đời đời. 6. Vì vậy, lời nguyền rủa ăn nuốt trái đất. Dân cư của nó phạm tội, cho nên dân cư trên đất sẽ bị thiêu hủy, số người còn lại rất ít.
  3. Rượu mới than vãn, dây nho úa tàn, tất cả những người có lòng vui vẻ đều thở dài; 8. tiếng trống tay không còn nữa, tiếng reo vui đã hết rồi, tiếng hân hoan của hạc cầm đã chấm dứt. 9. Chẳng còn ai uống rượu rồi cất giọng hát ca; ly rượu mạnh đã trở thành đắng cay cho người uống nó.
  4. Thành phố hỗn loạn bị đổ nát, mọi căn nhà đều đóng kín không ai vào. 11. Ngoài đường phố có tiếng kêu la đòi rượu. Tất cả những cuộc vui đều ảm đạm, những thú vui trong xứ đã mất rồi. 12. Trong thành chỉ còn cảnh hoang tàn, cổng thành bị đập phá tiêu tan. 13. Khi ấy, dân chúng trên đất sẽ trở nên giống như vậy: giống như một cây ô-liu bị rung, như lúc mót nho sau khi mùa hái nho đã dứt.
  5. Họ sẽ cất tiếng reo mừng. Từ vùng biển, họ lớn tiếng reo vang, họ sẽ hát ca ngợi sự uy nghiêm của Đức Giê-hô-va. 15. Vì vậy, hãy tôn vinh Đức Giê-hô-va trong ánh bình minh! Hãy tôn cao danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên tại miền duyên hải. 16. Từ những nơi tận cùng của đất, chúng tôi đã nghe những bài ca: Nguyện vinh quang thuộc về Đấng Công Chính. Nhưng tôi nói: Tôi kiệt sức, tôi kiệt sức! Khốn cho tôi, bởi vì những kẻ phản bội đã phản bội; và những kẻ phản bội cứ tiếp tục phản bội.
  6. Hỡi cư dân trên đất! Hãy kinh hoàng bởi vì hầm hố và bẫy lưới đang chờ đợi các ngươi. 18. Kẻ nào chạy trốn vì sợ hãi sẽ sa vào hố. Kẻ nào trèo ra khỏi hố sẽ bị mắc vào bẫy lưới, bởi vì những cửa trên cao đã mở và những nền của trái đất bị lay động. 19. Trái đất bị vỡ tan tành, địa cầu bị nứt ra, trái đất bị rúng động dữ dội. 20. Trái đất lảo đảo như người say, lắc lư như một chiếc lều lỏng lẻo. Tội lỗi của nó đổ lại trên nó. Nó ngã quỵ và không đứng dậy được nữa. 21. Trong ngày đó, trên trời Đức Giê-hô-va sẽ trừng phạt những thiên binh cao ngạo, và dưới đất Ngài sẽ trừng phạt các vị vua trên đất. 22. Họ bị tập trung lại như tù nhân trong hầm ngục, và bị giam trong ngục tối. Sau nhiều ngày, họ sẽ bị trừng phạt. 23. Mặt trăng sẽ xấu hổ, và mặt trời sẽ mắc cỡ, bởi vì Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trị vì trên núi Si-ôn và tại Giê-ru-sa-lem. Ngài bày tỏ vinh quang trước mặt các trưởng lão của Ngài.

 

25

  1. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là Đức Chúa Trời của con, con tôn vinh Ngài. Con ca ngợi danh của Ngài bởi vì Ngài đã làm những việc kỳ diệu, là những việc đã được hoạch định từ xưa một cách thành tín và chân thật.
  2. Vì Ngài đã làm cho thành phố trở nên một đống đổ nát, thành trì kiên cố trở nên đống hoang tàn, đền đài của dân ngoại chẳng còn là thành nữa và nó sẽ chẳng bao giờ được xây dựng trở lại. 3. Vì vậy, một dân hùng mạnh sẽ tôn vinh Ngài, thành trì của các nước hung ác sẽ kính sợ Ngài.
  3. Bởi vì Ngài là nơi nương tựa cho người nghèo yếu, là nơi nương tựa cho người có cần trong lúc khó khăn, là nơi trú ẩn khỏi cơn bão táp, là bóng mát để tránh cơn nóng bức lúc những kẻ hung bạo thổi ra giống như bão táp xông vào tường thành. 5. Tiếng náo động của các dân ngoại như nắng nóng giữa vùng khô hạn; nhưng Ngài đã chế ngự cái nắng nóng đó bằng một đám mây che mát, khiến cho bài ca của quân cường bạo lặng im.
  4. Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ đãi cho tất cả các dân tộc một yến tiệc béo bổ trên núi nầy. Một yến tiệc với rượu nồng, với tủy xương béo bổ, và rượu nồng tinh chế. 7. Tại trên núi nầy, Ngài sẽ hủy bỏ tấm màn bao phủ mọi dân tộc. Một tấm màn đang phủ trên tất cả các nước. 8. Ngài sẽ vĩnh viễn tiêu diệt sự chết. Chúa là Đức Giê-hô-va sẽ lau nước mắt trên khuôn mặt của mọi người. Ngài sẽ cất sự sỉ nhục của dân Ngài khỏi cả mặt đất, bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
  5. Trong ngày đó, người ta sẽ nói: Ðây là Ðức Chúa Trời của chúng ta. Chúng ta đã trông đợi Ngài, và Ngài đã giải cứu chúng ta. Ðây là Đức Giê-hô-va mà chúng ta hằng chờ đợi. Chúng ta hãy hân hoan và mừng rỡ trong sự cứu rỗi của Ngài. 10. Vì bàn tay của Đức Giê-hô-va sẽ đặt trên núi nầy. Mô-áp sẽ bị giày đạp bên dưới, như rơm rạ bị giày đạp trong hố phân. 11. Từ nơi đó, nó sẽ dang tay ra như người bơi lội dang tay ra để bơi. Nhưng Ngài sẽ triệt hạ sự kiêu ngạo của nó và đánh bại âm mưu từ tay của nó. 12. Ngài sẽ triệt hạ những nơi cao kiên cố trên thành của ngươi. Ngài sẽ hạ nó xuống đất, xuống tận vũng bùn.

 

26

  1. Trong ngày đó, bài ca nầy sẽ được hát lên trong đất Giu-đa:

Chúng ta có một thành trì vững chắc. Ngài sắp đặt những tường thành và chiến lũy để bảo vệ chúng ta. 2. Hãy mở những cổng thành để dân tộc công chính – là dân đã giữ sự trung tín – đi vào. 3. Tâm trí kiên định nơi Ngài đã làm cho người được bình an, bởi vì người tin cậy nơi Ngài.

  1. Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va cho đến đời đời, bởi vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là vầng đá của mọi thời đại. 5. Vì Ngài đã triệt hạ những người sống ở trên cao, Ngài phá đổ thành trì kiêu ngạo, Ngài hạ nó xuống đất, đánh cho tan tác thành bụi đất, 6. để bàn chân của người ta giẫm lên, tức là những bàn chân của người nghèo khó và các bước chân của người bần cùng.
  2. Ðường lối của người công chính là đường ngay thẳng. Lạy Ðấng Công Chính! Xin Ngài làm cho đường của người công chính được bằng phẳng. 8. Đức Giê-hô-va ôi! Chúng con trông đợi đường lối phán xét của Ngài, bởi vì danh Ngài, và nỗi nhớ nhung về Ngài, là niềm khao khát của linh hồn chúng con. 9. Ban đêm linh hồn của con khao khát Ngài. Thật vậy, thần linh trong con tìm kiếm Ngài, bởi vì khi Ngài phán xét trái đất thì dân cư trên thế giới sẽ học được sự công chính.
  3. Dù được thương xót, kẻ ác vẫn không học được sự công chính. Dù ở trên đất ngay thẳng, nó vẫn hành động gian ác và không thấy sự uy nghiêm của Đức Giê-hô-va. 11. Đức Giê-hô-va ôi! Tay Ngài đã giơ lên mà chúng vẫn không thấy. Thật vậy, chúng bị xấu hổ khi thấy sự nhiệt thành của Ngài về dân của Ngài. Nguyện lửa thiêu nuốt kẻ thù của Ngài.
  4. Đức Giê-hô-va ôi! Xin Ngài thiết lập sự bình an cho chúng con, bởi vì tất cả những công việc của chúng con đều do Ngài làm cho chúng con.
  5. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con! Ngoài Ngài, đã có những chủ khác cai trị chúng con, nhưng chúng con chỉ tưởng nhớ đến danh của Ngài.
  6. Những kẻ chết sẽ không sống lại, các âm hồn sẽ không trỗi dậy, bởi vì Ngài đã trừng phạt, hủy hoại, và tiêu diệt tất cả những di tích của chúng.
  7. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài đã làm cho dân nầy gia tăng. Ngài đã làm cho dân nầy gia tăng, và Ngài đã được tôn vinh. Ngài đã mở mang tất cả những bờ cõi của đất.
  8. Đức Giê-hô-va ôi! Trong hoàn cảnh khốn cùng, họ đã tìm kiếm Ngài. Khi Ngài giáng sự sửa phạt trên họ, họ đã thì thầm cầu nguyện.
  9. Đức Giê-hô-va ôi! Chúng con ở trước mặt Ngài giống như một sản phụ sắp sinh, quặn thắt, kêu la trong cơn đau đớn. 18. Chúng con cũng mang thai, chúng con cũng quặn thắt, nhưng chúng con chỉ sinh ra gió. Chúng con không đem sự giải cứu đến trên đất, và cũng không khiến ai ngã gục trên địa cầu. 19. Tuy nhiên, những người chết của Ngài sẽ sống lại, xác của họ sẽ trỗi dậy. Hỡi những kẻ đang ở trong bụi đất! Hãy thức dậy và reo vui, bởi vì sương móc của Ngài như sương móc của rạng đông, và đất sẽ thả những âm hồn.
  10. Hỡi dân của Ta! Hãy đi vào phòng của ngươi. Hãy đóng cửa phía sau ngươi. Hãy ẩn mình một lát, cho đến khi cơn thịnh nộ trôi qua. 21. Kìa, Đức Giê-hô-va đã rời khỏi nơi ngự của Ngài để trừng phạt các dân tộc trên đất vì tội lỗi của họ. Đất sẽ phơi bày máu của nó, và không che đậy những kẻ bị giết của nó.

 

27

  1. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ dùng thanh gươm cứng, lớn, và mạnh để trừng phạt Lê-vi-a-than là con rắn đang tháo chạy. Lê-vi-a-than là con rắn luồn lách. Ngài sẽ giết con quái vật của biển.
  2. Trong ngày đó, các ngươi hãy hát về vườn nho xinh đẹp: 3. Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng canh giữ nó. Ta tưới nước cho nó đúng lúc. Ta canh giữ nó ngày đêm không để cho nó bị phá hại. 4. Nếu có người dùng chông gai và bụi gai để chống lại Ta, Ta không nên giận hay sao? Ta sẽ xông vào chúng và sẽ thiêu hủy chúng cùng với nhau. 5. Nhưng nếu người bám víu vào sự che chở của Ta, tìm cầu sự bình an với Ta, thì sẽ nhận được sự bình an của Ta. 6. Những người đến với Ta sẽ mọc rễ, Y-sơ-ra-ên sẽ kết nụ, Gia-cốp sẽ nở hoa, và sẽ ra trái đầy trên mặt đất.
  3. Có phải Ngài đánh hạ nó như Ngài đã đánh hạ kẻ đã đánh nó hay không? Có phải Ngài giết hại nó như Ngài đã giết hại kẻ muốn giết nó hay không? 8. Ngài đã tranh luận trong việc xua đuổi lưu đày nó, và cất bỏ gió mạnh trong ngày có gió đông. 9. Bởi điều nầy mà tội lỗi của Gia-cốp được che đậy, bởi điều nầy mà hậu quả tội lỗi của nó được cất bỏ: Nó đã đập nát những phiến đá xây bàn thờ thần tượng giống như đá vôi bị nghiền nát, và làm cho những hình tượng A-sê-ra và những bàn thờ dâng hương không mọc lên nữa.
  4. Vì thành kiên cố đã trở nên hoang vắng, nơi cư trú đã bị bỏ hoang, và rồi bị lãng quên như hoang mạc. Bò tơ sẽ đến ăn cỏ tại đó, nó sẽ nằm và nhai những nhánh cây. 11. Khi các cành bị khô, bị gãy, các phụ nữ đến lấy mà nhen lửa. Bởi vì dân nầy không chịu hiểu, cho nên Đấng đã làm nên nó sẽ không thương xót, và Đấng tạo nên nó sẽ không ban ơn.
  5. Thời gian trôi qua, sẽ có ngày Đức Giê-hô-va đập lúa từ Sông Cái cho đến lưu vực của Ai Cập. Hỡi con dân Y-sơ-ra-ên! Các ngươi sẽ được thu nhặt từng người một. 13. Trong ngày đó, kèn lớn sẽ thổi lên. Những kẻ bị thất lạc trong đất A-sy-ri và những kẻ bị đày sang đất Ai Cập sẽ đến thờ phượng Đức Giê-hô-va trên núi thánh tại Giê-ru-sa-lem.

28

  1. Khốn cho mão miện kiêu ngạo của những kẻ say sưa tại Ép-ra-im. Vinh quang mỹ miều trên đầu thung lũng phì nhiêu của những kẻ say rượu là một đóa hoa đang héo tàn.
  2. Hãy xem! Bằng sức mạnh và quyền uy, Chúa đã dùng tay của Ngài giáng giông bão với mưa đá, cuồng phong hủy hoại, cùng bão lụt với nước chảy cuồn cuộn trên đất. 3. Ngài sẽ giày đạp dưới chân mão miện kiêu ngạo của những kẻ say sưa tại Ép-ra-im. 4. Đóa hoa đang héo tàn – vinh quang mỹ miều trên đầu của thung lũng phì nhiêu – giống như một trái cây chín trước mùa hè, người nào tìm thấy thì ăn ngay khi nó còn ở trong tay của mình.
  3. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ là mão triều vinh quang và là vòng hoa tráng lệ cho phần sót lại của dân Ngài. 6. Ngài sẽ là Thần Công Lý cho những người ngồi trên tòa xét xử, và là sức mạnh cho những người đảo ngược tranh chấp tại cổng thành.
  4. Tuy nhiên những người này đã vì rượu mà mắc sai lầm: Thầy tế lễ và tiên tri vì rượu mạnh quá độ mà lầm lạc. Họ chìm trong rượu mạnh và uống quá nhiều rượu nho. Rượu mạnh khiến họ lầm lạc trong khải tượng và vấp phạm trong khi phán quyết. 8. Tất cả những cái bàn đều đầy dẫy vật nôn mửa, không có nơi nào tinh sạch.
  5. Ngài sẽ dạy cho ai tri thức? Ngài sẽ giãi bày sứ điệp cho ai? Có phải cho những trẻ thôi bú, mới rời khỏi vú hay sao? 10. Bởi vì mệnh lệnh thêm mệnh lệnh, mệnh lệnh thêm mệnh lệnh; hàng thêm hàng, hàng thêm hàng; một chút chỗ nầy, một chút chỗ kia!
  6. Thật vậy, Ngài sẽ dùng môi của kẻ chế giễu và lưỡi của kẻ xa lạ để nói với dân nầy. 12. Ngài đã phán với họ: “Đây là chỗ nghỉ ngơi. Các ngươi hãy để cho kẻ mệt mỏi được nghỉ ngơi. Đây là nơi yên nghỉ.” Nhưng họ không lắng nghe. 13. Vì vậy, lời của Đức Giê-hô-va truyền cho họ sẽ là: “Mệnh lệnh thêm mệnh lệnh, mệnh lệnh thêm mệnh lệnh; hàng thêm hàng, hàng thêm hàng; một chút chỗ nầy, một chút chỗ kia.” – Để họ đi tới thì bị ngã ngửa, bị đánh tan, bị sập bẫy, và bị bắt.
  7. Vì vậy, hỡi những kẻ ngạo mạn, đang cai trị dân nầy ở Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 5. Bởi vì các ngươi đã nói: Chúng tôi đã kết ước với sự chết và chúng tôi có hợp đồng với âm phủ, khi tai nạn hủy diệt tràn qua sẽ chẳng chạm đến chúng tôi, bởi vì chúng tôi lấy sự gian dối làm nơi nương náu, lấy sự lừa đảo làm nơi trú ẩn.
  8. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy! Ta đặt tại Si-ôn một tảng đá làm nền tảng, là đá đã được thử nghiệm, là đá góc nhà quý giá, là nền tảng vững chắc, để ai tin sẽ không hành động vội vã. 17. Ta sẽ lấy công lý làm thước đo và sự công chính làm chuẩn mực. Mưa đá sẽ quét sạch nơi nương náu của kẻ gian dối và nước sẽ tràn ngập chỗ nó trú ẩn. 18. Giao ước của các ngươi với sự chết sẽ bị hủy bỏ, hợp đồng của các ngươi với âm phủ sẽ không đứng vững, khi tai họa hủy diệt tràn qua thì các ngươi sẽ bị nó chà đạp. 19. Khi nào nó đến, nó sẽ bắt lấy các ngươi; bởi vì hết buổi sáng nầy cho đến buổi sáng khác, ngày cũng như đêm, tai họa sẽ tràn qua. Chỉ có sự khiếp sợ làm cho các ngươi hiểu biết sứ điệp.
  9. Giường ngắn quá không thể duỗi mình. Mền hẹp quá không đủ đắp kín. 21. Bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ đứng dậy tại núi Phê-ra-xim, Ngài sẽ làm rúng động thung lũng Ga-ba-ôn để thực hiện công việc của Ngài là công việc khác thường, và để thực thi công tác của Ngài là công tác diệu kỳ. 22. Vì vậy bây giờ, đừng khinh lờn nữa, đừng để dây trói các ngươi siết chặt thêm; bởi vì tôi đã nghe từ Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân ra lệnh hủy diệt trên khắp cả xứ.
  10. Hãy lắng nghe! Hãy nghe tiếng của tôi. Xin chú ý nghe! Xin nghe lời của tôi. 24. Có phải người cày để gieo, nhưng cứ cày mãi hay sao? Có phải người vỡ đất, cứ bừa đất mãi hay sao? 25. Khi mặt đất đã được bằng phẳng, không phải người ta sẽ gieo tiểu hồi, rắc đại hồi, trồng lúa mì trên luống, lúa mạch tại nơi đã ấn định, và đại mạch tại chỗ của nó hay sao? 26. Người ta đã được chỉ dạy cách thức như vậy. Ðức Chúa Trời đã chỉ bảo cho người ta như thế. 27. Bởi vì người ta không đập tiểu hồi bằng cái cán dùng để lăn, cũng không để bánh xe lăn trên đại hồi; nhưng tiểu hồi thì đập bằng cái que, và đại hồi thì đập bằng cây gậy. 28. Người ta xay bột để làm bánh, nhưng không nghiền mãi, dù nghiền bằng bánh xe hay bằng chân ngựa. 29. Điều nầy cũng đến từ Đức Giê-hô-va của các đạo quân. Kế hoạch của Ngài thật diệu kỳ, và sự khôn ngoan của Ngài thật trác tuyệt.

 

29

  1. A-ri-ên là thành nơi Đa-vít đã đóng trại. Khốn cho A-ri-ên! Năm nầy sang năm khác, các kỳ lễ cứ xoay vần. 2. Ta sẽ làm cho A-ri-ên sầu thảm, sẽ có khóc lóc thảm sầu, nhưng nó vẫn là A-ri-ên đối với Ta. 3. Ta sẽ đóng trại chung quanh để chống ngươi, Ta sẽ lập đồn bao vây ngươi, và Ta sẽ đắp lũy chống lại ngươi. 4. Ngươi sẽ bị hạ thấp xuống. Ngươi sẽ nói từ dưới đất. Tiếng nói của ngươi yếu ớt phát ra từ bụi đất. Tiếng của ngươi sẽ giống như tiếng ma quái phát ra từ dưới đất. Lời nói của ngươi như tiếng thì thầm từ bụi đất.
  2. Kẻ thù của ngươi nhiều như đám bụi li ti, và lũ cường bạo nhiều như trấu bị lùa đi. Điều đó sẽ xảy đến thình lình, ngay tức khắc. 6. Giê-hô-va của các đạo quân sẽ trừng phạt ngươi bằng sấm sét, động đất, tiếng động thật lớn, giông tố, bão táp, và ngọn lửa từ đám lửa thiêu đốt. 7. Đoàn quân của tất cả các nước đánh A-ri-ên, và thậm chí tất cả những kẻ tấn công, phá thành lũy, và làm cho nó sầu thảm, chỉ giống như một giấc mơ được nhìn thấy trong ban đêm. 8. Như một người đang đói, mơ thấy mình đang ăn, nhưng khi thức dậy vẫn đói; như một người khát, chiêm bao thấy mình đang uống, nhưng khi thức dậy thấy mình kiệt sức, người đó vẫn thèm khát. Ðoàn quân đông đảo của tất cả các nước tấn công núi Si-ôn cũng sẽ như vậy.
  3. Hãy sững sờ kinh ngạc. Hãy che mắt và làm cho mình mù lòa. Hãy say nhưng không phải vì rượu nho. Hãy lảo đảo nhưng không phải vì rượu mạnh. 10. Vì Đức Giê-hô-va đã đổ thần ngủ mê trên các ngươi. Ngài đã bịt mắt các ngươi là các tiên tri, và đã trùm đầu các ngươi là những tiên kiến.
  4. Tất cả khải tượng nầy đối với các ngươi sẽ như lời của một cuốn sách bị niêm phong. Nếu đưa cho một người biết đọc, rồi bảo: “Xin hãy đọc cuốn sách nầy”; người đó sẽ nói: “Tôi không thể đọc được, vì nó đã bị niêm phong.” 12. Nếu đưa cuốn sách cho một người không biết đọc, rồi bảo: “Xin hãy đọc cuốn sách nầy”; người đó sẽ nói: “Tôi không biết đọc.”
  5. Sau đó Chúa phán: Vì dân này đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, nhưng lòng của chúng thì xa cách Ta. Chúng nó kính sợ Ta theo điều răn của loài người do loài người dạy. 14. Vì vậy một lần nữa, Ta sẽ làm cho dân này kinh ngạc, từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác. Sự khôn ngoan của người khôn ngoan sẽ tiêu mất, sự thông thái của người thông thái sẽ bị che khuất.
  6. Khốn cho những kẻ che giấu ý đồ sâu kín của mình với Đức Giê-hô-va, làm những việc trong tối tăm, rồi nói rằng: Ai thấy? Ai biết? 16. Các ngươi thật tráo trở. Đất sét có thể nào bằng với thợ gốm? Vật được tạo dựng có thể nào nói với người đã tạo dựng ra nó rằng: Ông đâu có làm ra tôi! Vật được nắn lên không thể nói với người đã nắn lên nó rằng: Ông chẳng biết gì!
  7. Thật vậy, không bao lâu nữa, Li-ban sẽ trở thành một cánh đồng phì nhiêu, và cánh đồng phì nhiêu đó sẽ được xem như là một đám rừng. 18. Trong ngày đó, người điếc sẽ được nghe những lời trong cuốn sách; và mắt của người mù sẽ nhìn thấy khi thoát ra khỏi cảnh tối tăm. 19. Người nhu mì sẽ gia tăng niềm vui trong Đức Giê-hô-va, và người nghèo khổ sẽ hớn hở nơi Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. 20. Bởi vì những kẻ tàn bạo sẽ không còn, kẻ nhạo báng sẽ bị thiêu hủy, và tất cả những kẻ hăng hái làm điều ác sẽ bị tiêu diệt. 21. Đó là những kẻ dùng lời nói làm cho người ta bị kết án, những kẻ gài bẫy người phân xử tại cổng thành, và dùng lý lẽ ngụy tạo để gạt bỏ sự công chính.
  8. Vì vậy, Đức Giê-hô-va là Đấng cứu chuộc Áp-ra-ham đã phán điều nầy cho nhà của Gia-cốp:

Bây giờ, Gia-cốp sẽ không còn hổ thẹn nữa và mặt của nó sẽ không bị tái nữa. 23. Vì khi người thấy con cái mình ở giữa mình, tức là công việc của tay Ta, thì họ sẽ tôn thánh danh của Ta, tôn thánh Đấng Thánh của Gia-cốp, và sẽ kính sợ Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 24. Những kẻ có tâm linh lầm lạc sẽ hiểu biết, và kẻ hay than phiền sẽ chịu học hỏi.

 

30

  1. Đức Giê-hô-va phán: Khốn cho những đứa con phản nghịch! Chúng lập kế hoạch không theo ý của Ta, lập thần tượng nhưng không tìm cầu Thần Linh của Ta, cho nên tội càng thêm tội. 2. Chúng đi xuống Ai Cập để dựa vào sức mạnh của Pha-ra-ôn và núp bóng của Ai Cập để làm cho mình được mạnh mẽ, mà không hỏi ý của Ta.
  2. Tuy nhiên sức mạnh của Pha-ra-ôn sẽ làm cho các ngươi xấu hổ, và việc núp bóng Ai Cập sẽ trở thành nỗi sỉ nhục cho các ngươi. 4. Các lãnh đạo của nó đã trình diện tại Xô-an, và các sứ giả của nó đã đến Ha-ne. 5. Nhưng tất cả sẽ thất vọng và xấu hổ bởi vì đã nương dựa vào một dân tộc không thể giúp ích gì cho chúng – không giúp đỡ cũng không đem lại ích lợi gì – nhưng chỉ đem lại sự xấu hổ và sỉ nhục.
  3. Sứ điệp về những con thú tại Nê-ghép:

Trong một vùng đất gian nan và sầu thảm cho sư tử đực và sư tử cái, có rắn lục và rắn lửa bay, bọn chúng đã chở của cải trên lưng lừa và các báu vật trên lưng lạc đà, để đem đến cho một dân chẳng đem lại lợi ích gì. 7. Bởi vì Ai Cập chẳng có gì, chỉ là trống rỗng cho nên Ta gọi nó là Ra-háp: Kẻ ngồi bất động.

  1. Bây giờ, hãy đến gần chúng, viết trên một tấm bảng, rồi chép vào một cuốn sách, để được dùng cho thời gian sắp đến và mãi mãi đời đời. 9. Bởi vì chúng là một dân tộc phản nghịch, là những đứa con gian dối, là những đứa con không muốn nghe luật pháp của Đức Giê-hô-va. 10. Chúng nói với những tiên kiến: “Đừng tìm khải tượng nữa!”, và nói với các tiên tri: “Đừng nói tiên tri cho chúng tôi những điều đúng đắn chân thật. Hãy nói cho chúng tôi những chuyện êm tai, và hãy tiên tri về những việc huyền hoặc!” 11. Hãy lìa bỏ con đường! Hãy từ bỏ khỏi lối! Đừng nhắc đến Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên trước mặt chúng tôi!
  2. Vì vậy, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên phán: Bởi vì các ngươi khinh thường lời nầy, nhưng tin tưởng vào kẻ áp bức và lầm lạc, rồi nương cậy vào nó; 13. cho nên tội của các ngươi sẽ như một bức tường bị nứt sắp sụp xuống, như một chỗ nhô ra ở trên cao sẽ sụp đổ thình lình trong chốc lát. 14. Nó sẽ bị bể nát như cái bình của thợ gốm bị bể ra thành từng mảnh mà người chẳng thương tiếc; đến nỗi người ta không tìm được một mảnh nào trong các mảnh vụn để lấy lửa từ trong bếp hay múc nước từ chỗ chứa.
  3. Chúa – là Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên – phán: Hãy trở về và bình tĩnh, các ngươi sẽ được giải cứu. Sức mạnh của các ngươi là sự yên lặng và tin cậy, nhưng các ngươi không muốn như vậy. 16. Các ngươi nói: “Không! Chúng tôi sẽ cưỡi ngựa chạy trốn.” – Vì vậy các ngươi sẽ chạy trốn. “Chúng tôi sẽ chạy thật nhanh.” – Vì vậy những kẻ săn đuổi các ngươi sẽ chạy thật nhanh. 17. Một người dọa, ngàn người bỏ chạy; năm người dọa, các ngươi đều bỏ chạy, cho đến khi những người còn sót lại chỉ như là một cây cột trên núi, một dấu hiệu ở trên đồi.
  4. Dầu vậy, Đức Giê-hô-va còn chờ đợi để ban ơn cho các ngươi. Thật vậy, Ngài sẽ được tôn cao bởi vì Ngài bày tỏ lòng thương xót đối với các ngươi. Bởi vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời công minh, phước cho tất cả những người trông cậy nơi Ngài!
  5. Hỡi dân cư của Si-ôn, đang sống tại Giê-ru-sa-lem! Các ngươi sẽ không phải khóc lóc nữa, Ngài sẽ ban ơn cho các ngươi. Ngài nghe tiếng khóc của các ngươi, và Ngài sẽ nhậm lời. 20. Dầu Chúa ban bánh nghịch cảnh và nước hoạn nạn cho các ngươi, nhưng Ðấng Dạy Dỗ các ngươi sẽ không ẩn mặt nữa, mắt của các ngươi sẽ thấy Ðấng Dạy Dỗ mình. 21. Khi ngươi xoay qua bên phải hoặc bên trái, tai của các ngươi sẽ nghe tiếng từ phía sau của mình rằng: Ðây chính là con đường. Hãy bước đi trong đó. 22. Các ngươi sẽ làm ô nhơ những tượng cẩn bạc và tượng đúc bằng vàng. Các ngươi sẽ ném chúng ra xa như những vật ô uế và nói: Hãy cút khỏi đây!
  6. Ngài sẽ ban mưa cho hạt giống ngươi gieo trên đất; lương thực gia tăng, sản phẩm từ đất đai sẽ màu mỡ và dồi dào. Trong ngày đó, bầy súc vật của ngươi sẽ ăn trên đồng cỏ rộng lớn. 24. Bò cũng như lừa, làm việc ngoài đồng, sẽ được ăn thức ăn gia súc đúng theo mùa. Người ta dùng xẻng và chĩa rải thức ăn cho chúng.
  7. Nhưng trong ngày thảm sát lớn lúc các thành lũy sụp đổ, trên tất cả những núi cao các đồi lớn đều sẽ có suối nước chảy. 26. Trong ngày Đức Giê-hô-va băng bó vết thương cho dân Ngài và chữa lành thương tích cho họ, ánh sáng mặt trăng sẽ như ánh sáng mặt trời và ánh sáng mặt trời sẽ tăng gấp bảy lần như ánh sáng của bảy ngày.

 

31

  1. Khốn cho những kẻ đi xuống Ai Cập để cầu cứu, tức là những kẻ nhờ cậy vào ngựa, tin cậy vào những xe chiến mã bởi vì số lượng nhiều, và vào kỵ binh bởi vì chúng mạnh, nhưng không hướng về Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
  2. Nhưng chính Ngài là Đấng Khôn Ngoan, là Đấng giáng họa, là Đấng không rút lại lời đã phán ra. Ngài sẽ đứng lên chống lại nhà của những kẻ ác, và chống lại kẻ giúp đỡ những người làm việc bất chính. 3. Dân Ai Cập chỉ là loài người, không phải là Đức Chúa Trời; ngựa của chúng chỉ là loài xác thịt, không phải là thần linh. Khi Đức Giê-hô-va dang tay ra, kẻ giúp đỡ sẽ lảo đảo, và người được giúp sẽ ngã nhào. Tất cả cùng bị diệt vong.
  3. Đức Giê-hô-va đã phán cùng tôi thế nầy: Giống như sư tử, hoặc sư tử tơ, gầm gừ vồ mồi, dù một đám chăn chiên họp lại chống lại nó, thì không vì tiếng la hét mà nó sợ hãi, không vì náo động mà nó khiếp sợ. Cũng vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ ngự xuống để đánh trận vì núi Si-ôn, và vì ngọn đồi của nó. 5. Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ bảo vệ Giê-ru-sa-lem như những con chim bay lượn trên tổ, Ngài sẽ bảo vệ và giải cứu, Ngài sẽ bay lướt qua và cứu vớt nó.
  4. Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên! Hãy quay về với Ðấng mà các ngươi đã cố tình từ bỏ. 7. Bởi vì trong ngày đó, mỗi người sẽ lìa bỏ những thần tượng bằng bạc và những thần tượng bằng vàng do bàn tay tội lỗi của các ngươi làm ra.
  5. A-sy-ri sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm không phải của loài người, và lưỡi gươm không phải của loài người sẽ ăn nuốt nó. Nó sẽ chạy trốn khỏi gươm, và những thanh niên của nó sẽ bị bắt đi làm lao dịch. 9. Nó sẽ trải qua sự kinh hoàng vì Vầng Đá của Đức Giê-hô-va, những lãnh đạo của nó khiếp sợ trước ngọn cờ của Ngài, bởi vì Đức Giê-hô-va nổi lửa tại Si-ôn, và có lò lửa tại Giê-ru-sa-lem.

 

32

  1. Nầy, sẽ có một vua trị vì bằng sự công chính, và các lãnh đạo cai trị bằng sự công minh. 2. Sẽ có một người như nơi trú ẩn khỏi gió và là nơi nương dựa trong lúc bão giông, như một suối nước trong nơi khô hạn, như bóng mát của vầng đá thật lớn ở giữa vùng đất trơ trọi. 3. Bấy giờ mắt của những kẻ nhìn sẽ không bị che, tai của những người lắng nghe sẽ nghe được. 4. Trí của người hấp tấp sẽ có sự hiểu biết, lưỡi của kẻ cà lăm sẽ nói lưu loát rõ ràng. 5. Kẻ xuẩn ngốc sẽ không được xem là người cao quý, kẻ vô lại sẽ không được coi là bậc tôn trọng. 6. Bởi vì bọn xuẩn ngốc sẽ thốt lên điều ngu dại, tâm trí của chúng toan tính chuyện tội lỗi, thực hành những chuyện vô đạo, phao tin thất thiệt để chống lại Đức Giê-hô-va, làm cho người đói không có gì ăn, và kẻ khát không được uống. 7. Kẻ quỷ quyệt dùng những vũ khí gian tà. Hắn đặt ra những mưu ác để hại người nghèo, và nói những lời dối trá để làm hại người có nhu cầu và chính trực. 8. Nhưng người cao quý chỉ mưu cầu những việc cao quý, và đứng vững trên những việc cao quý.
  2. Hỡi những phụ nữ ỷ lại! Hãy trỗi dậy để nghe tiếng của Ta. Hỡi những người con gái tự mãn! Hãy lắng nghe lời của Ta.
  3. Hỡi những phụ nữ tự mãn! Chỉ một năm và mấy ngày nữa, các ngươi sẽ run sợ bởi vì mùa hái nho sẽ thất bại và sẽ không còn thu hoạch nữa. 11. Hỡi những phụ nữ ỷ lại! Hãy run sợ. Hỡi những người con gái tự mãn! Hãy hoảng hốt: Hãy lột đồ, trần trụi. Hãy lấy vải thô thắt vào lưng.
  4. Hãy đấm ngực than khóc thương tiếc về những cánh đồng phì nhiêu, về gốc nho sai trái, 13. bởi vì gai góc và bụi rậm sẽ mọc lên trên đất của dân Ta, trên tất cả những căn nhà vui vẻ và trong thành phố hoan lạc. 14. Bởi vì các lâu đài sẽ bị bỏ hoang; thành phố đông đúc sẽ hoang phế; những chiến lũy và tháp canh sẽ vĩnh viễn hoang tàn, làm chỗ cho lừa hoang vui chơi và súc vật gặm cỏ, 15. cho đến khi thần linh từ trên cao được đổ xuống trên chúng ta, thì hoang mạc sẽ trở nên cánh đồng phì nhiêu, và cánh đồng phì nhiêu được xem như là một đám rừng.
  5. Bấy giờ công lý sẽ ở giữa hoang mạc, và công chính sẽ trú ngụ trong cánh đồng phì nhiêu. 17. Thành quả của công chính sẽ là bình an, hiệu lực của công chính sẽ là sự yên ổn và an ninh mãi mãi. 18. Dân Ta sẽ cư ngụ trong nơi bình an, trong những chỗ ở an toàn, trong những nơi nghỉ ngơi yên tĩnh. 19. Mưa đá sẽ đổ trên rừng, và thành trì sẽ bị triệt hạ. 20. Phước cho các ngươi, những người gieo giống tại những nơi có nước, và bò lừa được thả tự do đi lại.

 

33

  1. Khốn cho ngươi là kẻ tàn hại mà ngươi chưa bị tàn hại, là kẻ phản bội mà người ta chưa phản bội ngươi! Khi ngươi tàn hại xong thì ngươi sẽ bị tàn hại, khi ngươi phản bội xong thì ngươi sẽ bị phản bội.
  2. Đức Giê-hô-va ôi! Xin thương xót chúng con! Chúng con trông đợi Ngài. Đấng Cứu Chuộc của chúng con ôi! Mỗi buổi sáng, nguyện Ngài như cánh tay của chúng con và giải cứu chúng con trong lúc hoạn nạn.
  3. Khi nghe tiếng động rền vang, các dân tháo chạy. Khi Ngài đứng lên, các nước tán loạn. 4. Những vật thâu tóm của các ngươi sẽ bị thâu lại như con sâu thu lại, người ta sấn đến trên nó như cào cào nhảy tới nhảy lui.
  4. Đức Giê-hô-va được tôn cao vì Ngài ngự trên cao. Ngài làm cho Si-ôn đầy dẫy công lý và công chính. 6. Ngài sẽ là sự ổn định trong thời của ngươi. Ngài là kho tàng của sự giải cứu, khôn ngoan, và tri thức. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va sẽ là kho tàng của ngươi.
  5. Thật vậy, các dũng sĩ của chúng sẽ than khóc ngoài đường; những sứ giả hòa bình sẽ khóc lóc đắng cay. 8. Các đại lộ sẽ hoang vắng, những lữ khách sẽ không còn. Hỡi kẻ đã phá vỡ giao ước, xem thường các thành phố, không quan tâm đến con người. 9. Đất đai sầu thảm và hao mòn; Li-ban xấu hổ và tàn héo; Sa-rôn giống như một cánh đồng hoang; Ba-san và Cạt-mên thì trơ trụi.
  6. Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ, Ta sẽ đứng dậy. Bây giờ, Ta sẽ được tôn cao. Bây giờ, Ta sẽ được tôn vinh! 11. Các ngươi sẽ mang thai trấu và sẽ sinh ra rơm rạ. Thần linh trong các ngươi sẽ thiêu đốt các ngươi như lửa. 12. Các dân sẽ bị cháy thành vôi, như những nhánh gai bị chặt và bị thiêu trong lửa.
  7. Hỡi những kẻ ở xa! Các ngươi hãy nghe những việc Ta đã làm. Hỡi những kẻ ở gần! Khá nhận biết sức mạnh của Ta. 14. Hỡi những kẻ tội lỗi tại Si-ôn! Hãy khiếp sợ. Hỡi những kẻ giả hình! Hãy run rẩy.

“Ai trong chúng ta có thể sống với ngọn lửa hủy diệt? Ai trong chúng ta có thể sống với lửa cháy đời đời?” 15. Đó là người sống công chính, nói ngay thẳng, ghê tởm lợi lộc từ sự áp bức, phủi tay khước từ nhận hối lộ, bịt tai không nghe chuyện đổ máu, nhắm mắt không xem chuyện gian ác. 16. Người đó sẽ sống ở nơi cao, được che chở trong thành lũy bằng đá, thực phẩm sẽ được chu cấp, và nước sẽ không thiếu.

  1. Mắt của ngươi sẽ chiêm ngưỡng Vua trong vẻ đẹp của Ngài, và họ sẽ nhìn thấy vùng đất xa xôi. 18. Ngươi sẽ suy nghĩ đến sự kinh hoàng thuở trước: “Viên chức đó đâu rồi? Kẻ thu thuế đâu rồi? Người đếm những tháp canh đâu rồi?” 19. Các ngươi sẽ không thấy một dân tàn bạo nữa, là dân có tiếng nói khó nghe và lưỡi líu lo khó hiểu.
  2. Hãy hướng về Si-ôn, là thành phố tổ chức những ngày lễ đã được ấn định của chúng ta. Mắt của các ngươi sẽ thấy Giê-ru-sa-lem là một nơi cư ngụ yên tịnh. Lều Tạm sẽ không bị dỡ xuống, không một cái cọc nào của Lều sẽ bị nhổ đi, cũng không một dây căng nào của Lều sẽ bị đứt. 21. Bởi vì Đức Giê-hô-va quyền uy sẽ ở với chúng ta tại đó, là nơi có những dòng sông và dòng nước lớn; thuyền chèo không đi được và tàu lớn cũng không vượt qua nổi.
  3. Thật vậy, Đức Giê-hô-va là Đấng Phán xét của chúng ta, Đức Giê-hô-va là Đấng Lập Pháp của chúng ta, Đức Giê-hô-va là Vua của chúng ta. Ngài sẽ giải cứu chúng ta.
  4. Những dây thừng của các ngươi đã bị lỏng, chúng không thể giữ cho chân cột buồm đứng vững, cũng không thể giong buồm. Cho nên, người ta sẽ chia nhau rất nhiều vật đã cướp được, ngay cả người què cũng chiếm được một phần cho mình. 24. Dân cư sẽ không còn nói: “Tôi bị bệnh.” Người sống trong đó sẽ được tha tội.

34

  1. Hỡi các nước! Hãy đến gần và nghe. Hỡi các dân! Hãy chú ý. Hỡi trái đất và mọi loài sống trên đất! Hỡi thế giới và mọi vật ra từ thế giới! Hãy lắng nghe. 2. Bởi vì Đức Giê-hô-va nổi giận cùng tất cả các nước, Ngài nổi giận nghịch cùng tất cả các đạo quân của họ. Ngài đã định cho họ bị diệt vong và trao họ cho sự tàn sát. 3. Thây của họ sẽ bị ném ra ngoài, mùi hôi thối từ các xác chết xông lên, những ngọn núi đượm mùi máu. 4. Tất cả các thiên thể sẽ tiêu biến, các tầng trời sẽ quấn lại như một cuốn sách. Tất cả các thiên thể sẽ rơi rụng như lá nho, như trái rơi từ cây vả.
  2. Khi lưỡi gươm của Ta đã uống say trên trời, nó sẽ giáng xuống trên Ê-đôm, tức là giáng xuống trên dân tộc mà Ta đã định phải bị đoán phạt. 6. Gươm của Đức Giê-hô-va dính đầy máu, vấy đầy mỡ. Đó là máu của chiên và dê, và mỡ từ những trái thận của chiên đực. Bởi vì có một lễ dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va tại Bốt-ra, một cuộc tàn sát rất lớn trong xứ Ê-đôm. 7. Bò rừng, bò tơ, và bò đực đều cùng nhau gục ngã. Đất của chúng đẫm máu, bụi của chúng thấm đầy mỡ. 8. Bởi vì đó là ngày báo thù của Đức Giê-hô-va trong năm báo trả vì cớ Si-ôn.
  3. Những dòng suối của nó sẽ trở thành nhựa đường, bụi đất trở thành diêm sinh, đất đai của nó trở thành nhựa đường bốc cháy, 10. cả ngày lẫn đêm không hề tắt và có khói bốc lên mãi mãi. Nó sẽ bị hoang phế từ đời nọ sang đời kia, muôn đời sẽ không ai đi qua đó. 11. Bồ nông và nhím sẽ chiếm chỗ của nó, cú và quạ sẽ ở tại đó. Ngài sẽ căng một sợi dây rối loạn trên nó, mà không có những hòn đá. 12. Giới quý tộc của nó chẳng còn ai để gọi là vương quốc nữa – Tất cả các quan chức của nó đều không còn. 13. Gai góc sẽ mọc lên trong các lâu đài, bụi gai sẽ mọc lên trong những đồn lũy. Nó sẽ trở thành chỗ ở của chó rừng và là sân của đà điểu. 14. Thú rừng sẽ gặp chó rừng, dê rừng sẽ cất tiếng gọi nhau, những loài thú sống ban đêm sẽ tìm cho mình một chỗ yên nghỉ tại đó. 15. Chim cú sẽ làm tổ tại đó, đẻ trứng, ấp cho nở, rồi nhóm con lại dưới cánh của mình. Diều hâu cũng tụ họp tại đó, con nào cũng có cặp. 16. Hãy tìm trong sách của Đức Giê-hô-va và đọc: Trong những thú vật ấy, không thiếu một con nào. Chẳng có con nào là không đủ đôi. Vì chính miệng Ngài đã truyền, và Thần của Ngài đã quy tụ chúng lại. 17. Ngài đã bắt thăm cho chúng. Tay của Ngài đã dùng dây phân ranh cho chúng. Chúng sẽ ở tại đó muôn đời. Chúng sẽ ngụ tại đó từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.

 

35

  1. Hoang mạc và vùng đất khô hạn sẽ vui mừng. Đồng hoang sẽ hân hoan và trổ hoa hồng. 2. Nó sẽ trổ đầy niềm vui, hớn hở hoan ca. Vinh quang của Li-ban sẽ được ban cho nó, cùng với vẻ trác tuyệt của Cạt-mên và Sa-rôn. Chúng sẽ thấy vinh quang của Đức Giê-hô-va và sự huy hoàng của Đức Chúa Trời chúng ta.
  2. Hãy làm cho mạnh mẽ những bàn tay yếu đuối, làm cho vững vàng những đầu gối run rẩy! 4. Hãy bảo cho những người có lòng lo sợ rằng: Hãy vững lòng, đừng sợ! Nầy, Đức Chúa Trời của anh em sẽ đến báo thù bằng sự báo trả của Đức Chúa Trời. Chính Ngài sẽ đến và cứu anh em!
  3. Bấy giờ mắt của người mù sẽ mở ra, tai của người điếc sẽ nghe rõ. 6. Và rồi, người què sẽ nhảy nhót như nai, lưỡi của người câm sẽ ca hát vang lừng. Vì có những dòng nước trong đồng hoang, và những dòng suối trong hoang mạc. 7. Vùng đất nóng bỏng sẽ trở thành ao, đất khô hạn trở thành suối nước, và chỗ ở của chó rừng sẽ có cỏ, lau và sậy.
  4. Tại đó sẽ có một đại lộ và một con đường. Đại lộ sẽ được gọi là đại lộ Thánh. Người ô uế sẽ không được đi qua, nhưng những người khác đi trên đường đó dù khờ dại cũng không lầm lạc. 9. Không có sư tử tại đó, cũng không có một thú dữ nào đi trên đó; không ai thấy chúng ở đó, nhưng những người được chuộc sẽ đi trên đó.
  5. Những người được Đức Giê-hô-va cứu chuộc sẽ trở về, họ sẽ đến Si-ôn trong tiếng reo hò mừng rỡ. Niềm vui bất tận sẽ ở trên đầu họ, họ sẽ tràn ngập hân hoan vui mừng, sự buồn bực than vãn sẽ biến mất.

 

36

  1. Vào năm thứ mười bốn triều vua Ê-xê-chia, thì San-chê-ríp, vua của A-sy-ri, đã đi lên và tấn công tất cả những thành kiên cố của Giu-đa, rồi chiếm chúng. 2. Vua A-sy-ri đã sai Ráp-sa-kê từ La-ki đến Giê-ru-sa-lem, với một một đạo quân rất đông để tấn công vua Ê-xê-chia. Hắn đứng tại cuối cống dẫn nước vào Thượng Hồ, trên con đường dẫn đến chỗ giặt đồ. 3. Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, là quan tổng quản hoàng cung, Sép-na là quan ký lục, và Giô-a, con trai của A-sáp, là quan quản lý văn khố, đã đi ra để tiếp hắn.
  2. Ráp-sa-kê nói với họ: Hãy trình với vua Ê-xê-chia rằng đại đế, là vua của A-sy-ri, phán thế nầy: Ngươi dựa vào điều gì mà tự tin như vậy? 5. Ta nói thẳng: Kế hoạch và năng lực chiến đấu của ngươi chỉ là những lời nói suông. Ngươi cậy vào ai để chống lại ta? 6. Hãy xem, ngươi tin cậy vào một cây gậy bằng sậy đã gãy là Ai Cập, mà ai dựa vào nó sẽ bị đâm lủng tay. Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, và tất cả những ai tin cậy vào hắn đều như vậy. 7. Nhưng nếu ngươi nói với ta rằng: “Chúng tôi tin cậy vào Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của chúng tôi.” Nhưng đó không phải là Ðấng mà Ê-xê-chia đã dẹp bỏ các nơi cao và những bàn thờ của Ngài, rồi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng: “Các ngươi hãy thờ lạy trước bàn thờ nầy” hay sao? 8. Bây giờ, hãy đánh cuộc với chủ của ta là vua A-sy-ri. Ta sẽ cấp cho ngươi hai ngàn con ngựa, nếu ngươi tìm đủ số kỵ binh để cưỡi chúng! 9. Như vậy, làm thế nào ngươi có thể đương đầu nổi với một tiểu tướng trong số các tôi tớ của chủ ta, cho dù ngươi cậy vào Ai Cập để nhờ những xe chiến mã và những kỵ binh của chúng? 10. Hơn nữa, không phải là theo lệnh của Đức Giê-hô-va mà ta lên đánh xứ nầy để tiêu diệt nó hay sao? Đức Giê-hô-va đã phán với ta rằng: Hãy lên đánh xứ nầy và tiêu diệt nó!
  3. Ê-li-a-kim cùng Sép-na và Giô-a nói với Ráp-sa-kê: Xin nói với các đầy tớ của ngài bằng tiếng A-ram, bởi vì chúng tôi hiểu được. Xin đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Giu-đa kẻo dân ở trên tường thành nghe được.
  4. Nhưng Ráp-sa-kê trả lời: Có phải chủ ta chỉ sai ta truyền những lời nầy cho chủ của ngươi và cho ngươi hay sao? Không phải cũng truyền cho những người ngồi trên tường thành, là kẻ cùng với các ngươi sắp phải ăn phân của mình và uống nước tiểu của mình hay sao?
  5. Sau đó, Ráp-sa-kê đứng dậy, rồi nói lớn trong tiếng Giu-đa: Hãy nghe những lời của Ðại Ðế, vua của A-sy-ri. 14. Vua phán như vầy: Đừng để Ê-xê-chia lừa gạt các ngươi bởi vì người không thể giải cứu các ngươi. 15. Cũng đừng để Ê-xê-chia thuyết phục các ngươi tin cậy vào Giê-hô-va mà nói rằng: “Chắc chắn Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta. Ngài không để thành này lọt vào tay của vua A-sy-ri.” 16. Đừng nghe Ê-xê-chia, bởi vì vua A-sy-ri phán thế nầy: Hãy làm hòa với ta và ra hàng, thì ai cũng sẽ được ăn trái nho, trái vả, và uống nước từ hồ chứa của mình, 17. cho tới khi ta đến và đem các ngươi vào một xứ như xứ các ngươi, tức là xứ có ngũ cốc và rượu mới, một xứ có lương thực và vườn nho. 18. Đừng để Ê-xê-chia dỗ dành các ngươi mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta!” Hãy xem có thần nào của các nước đã giải cứu xứ của họ khỏi tay của vua A-sy-ri được không? 19. Những thần của Ha-mát và Ạt-bát ở đâu? Những thần của Sê-phạt-va-im ở đâu? Những thần đó có giải cứu Sa-ma-ri khỏi tay của ta được không? 20. Trong tất cả các thần của những xứ nầy, có thần nào đã cứu xứ của họ ra khỏi tay của ta hay không? Như vậy, làm thế nào Đức Giê-hô-va giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay của ta!
  6. Nhưng họ im lặng, không đáp lại một lời, bởi vì lệnh của vua đã truyền: “Ðừng trả lời hắn!”
  7. Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, quan tổng quản hoàng cung; Sép-na, quan ký lục; và Giô-a, con trai của A-sáp, là quan quản lý văn khố, đã đến gặp vua Ê-xê-chia. Họ xé trang phục của mình rồi thuật lại những lời của Ráp-sa-kê.

 

37

  1. Khi vua Ê-xê-chia nghe điều đó, ông xé y phục của mình, mặc vải sô, rồi đi vào trong đền của Đức Giê-hô-va.
  2. Vua sai Ê-li-a-kim – quan tổng quản hoàng cung, Sép-na – quan ký lục, và các vị tư tế trưởng thượng – tất cả đều mặc vải sô – đến gặp tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt. 3. Họ nói với ông: Vua Ê-xê-chia nói như thế nầy: “Hôm nay là ngày buồn bực vì bị báng bổ và bị sỉ nhục – giống như đến lúc phải sinh những đứa con nhưng không đủ sức để sinh. 4. Có lẽ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã nghe những lời của Ráp-sa-kê, mà chủ của hắn là vua của A-sy-ri đã sai đến để sỉ nhục. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã nghe những lời xúc phạm đến Đức Chúa Trời hằng sống. Vì vậy, xin ông hãy dâng lời cầu nguyện cho những người còn sót lại.”
  3. Do đó những người phục vụ vua Ê-xê-chia đã đến gặp Ê-sai. 6. Ê-sai nói với họ: Hãy nói với chủ của các ngươi rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: “Đừng sợ vì những lời mà ngươi đã nghe tôi tớ của vua A-sy-ri xúc phạm Ta. 7. Nầy, Ta sẽ đặt một thần linh vào trong nó. Nó sẽ nghe một tin đồn rồi rút quân về xứ của nó. Ta sẽ làm cho nó ngã gục bởi gươm ngay tại trong xứ của nó.”
  4. Sau đó, Ráp-sa-kê đã trở về, và khám phá ra rằng vua của A-sy-ri đang đánh Líp-na đã rút khỏi La-ki. 9. Lúc đó hắn được báo tin về Tiệt-ha-ca, vua của Cút, rằng: “Vua đó đang kéo ra để giao chiến với ngài.” Nghe điều đó, hắn đã sai các sứ giả đến gặp Ê-xê-chia, và căn dặn rằng: 10. Các ngươi hãy nói với Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, rằng: “Đừng để Đức Chúa Trời, là Đấng mà ngươi tin cậy, lừa dối ngươi rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không rơi vào tay của vua A-sy-ri. 11. Hãy xem! Ngươi đã nghe việc các vua của A-sy-ri đã làm cho tất cả những xứ sở và đã hoàn toàn tiêu diệt chúng. Như vậy, làm thế nào ngươi sẽ được giải thoát? 12. Các thần của những nước mà tổ tiên của ta đã tiêu diệt, như các thần của dân Gô-xan, Ha-ran, Rết-sép, và con cháu của Ê-đen sống tại Tê-la-sa, có giải cứu được họ hay không? 13. Vua của Ha-mát, vua của Ạt-bát, vua của các thành Sê-phạt-va-im, Hê-na, và Y-va ở đâu?”
  5. Ê-xê-chia nhận bức thư từ tay của các sứ giả. Đọc xong, vua đi lên đền của Đức Giê-hô-va. Ê-xê-chia trải bức thư ra trước mặt Đức Giê-hô-va. 15. Ê-xê-chia cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: 16. Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Ngài là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Ngài là Đấng ngự trên các chê-ru-bim. Duy chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời của mọi vương quốc trên đất. Ngài đã tạo dựng nên trời và đất. 17. Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy nghiêng tai và lắng nghe. Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy mở mắt và đoái xem. Xin hãy nghe tất cả những lời mà San-chê-ríp đã sai đến để xúc phạm Đức Chúa Trời hằng sống. 18. Đức Giê-hô-va ôi! Thật vậy, các vua của A-sy-ri đã hủy diệt xứ sở của mọi nước, 19. ném các thần của họ vào lửa, bởi vì chúng không phải là thần linh, nhưng chỉ là sản phẩm bằng gỗ, bằng đá do tay người làm ra, cho nên chúng đã bị hủy diệt. 20. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con! Giờ đây xin Ngài giải cứu chúng con khỏi tay của hắn, để mọi vương quốc trên đất đều biết rằng chỉ có một mình Ngài là Đức Giê-hô-va.
  6. Ê-sai, con trai của A-mốt, đã gởi lời đến cùng vua Ê-xê-chia: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy: Bởi vì ngươi đã cầu xin với Ta về San-chê-ríp, vua của A-sy-ri, 22. đây là lời của Giê-hô-va phán về nó:

Trinh nữ của Si-ôn khinh miệt ngươi và chế nhạo ngươi. Con gái Giê-ru-sa-lem lắc đầu phía sau lưng của ngươi. 23. Ngươi đã nhục mạ và xúc phạm ai? Ngươi đã lên giọng chống lại ai? Có phải ngươi ngước mắt tự cao chống lại Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên hay không? 24. Ngươi đã dùng những thuộc hạ của mình để phỉ báng Chúa. Ngươi nói: “Ta đã lên những đỉnh núi cao và đã đến tận đỉnh cao chót vót của Li-ban bằng vô số chiến xa của mình. Ta sẽ đốn những cây bá hương cao nhất và những cây tùng tuyển chọn. Ta sẽ lên đến đỉnh cao, và đi vào những chỗ sâu thẳm trong rừng cây rậm rạp. 25. Ta đã đào giếng và uống nước. Ta đã làm cạn khô tất cả những dòng sông của Ai Cập bằng những bàn chân của ta.”

  1. Ngươi chưa nghe rằng Ta đã làm điều đó từ thời xa xưa hay sao? Ta đã hoạch định điều đó từ thượng cổ, và nay Ta làm cho thành tựu. Đó là ngươi sẽ tàn phá những thành kiên cố, biến chúng thành những đống đổ nát. 27. Dân cư những thành đó không đủ sức lực, nên phải khiếp sợ và bị sỉ nhục. Chúng giống như cỏ ngoài đồng, như đám rau xanh, như cỏ trên mái nhà, chưa kịp lớn thì đã khô héo. 28. Nhưng Ta biết khi ngươi ngồi, khi ngươi đi ra đi vào, và ngay cả khi ngươi điên cuồng chống lại Ta. 29. Bởi vì ngươi điên cuồng chống lại Ta và lời ngạo mạn của ngươi đã thấu đến tai của Ta, cho nên Ta sẽ móc khoen vào mũi của ngươi và tra hàm vào miệng của ngươi. Ta sẽ khiến ngươi phải trở về theo con đường mà ngươi đã đến.
  2. [Hỡi Ê-xê-chia!] Đây sẽ là dấu hiệu cho ngươi. Năm nay các ngươi sẽ ăn sản vật tự mọc, năm thứ nhì từ những thân cây mọc ra, nhưng đến năm thứ ba thì hãy gieo và gặt, hãy trồng nho và ăn trái. 31. Những người được cứu thoát của nhà Giu-đa sẽ đâm rễ bên dưới và kết quả bên trên. 32. Bởi vì sẽ có dân còn sót lại từ Giê-ru-sa-lem đi ra và sẽ có những người được giải cứu tại núi Si-ôn. Sự nhiệt thành từ Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ thực hiện điều đó.
  3. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán về vua của A-sy-ri như thế nầy: Nó sẽ không vào được thành nầy, không bắn một mũi tên nào, không giương khiên trước thành, cũng không đắp lũy tấn công thành. 34. Nó đến bằng đường nào thì nó trở về bằng đường đó. Nó sẽ không vào thành nầy. Đức Giê-hô-va phán vậy. 35. Ta sẽ bảo vệ và giải cứu thành này vì cớ Ta, và vì cớ Đa-vít, tôi tớ của Ta.
  4. Sau đó, một thiên sứ của Đức Giê-hô-va đã vào trại quân của người A-sy-ri giết một trăm tám mươi lăm ngàn người. Sáng hôm sau, người ta thức dậy nhìn thấy toàn là xác chết. 37. San-chê-ríp, vua của A-sy-ri, đã rời khỏi đó, trở về, và ở tại Ni-ni-ve. 38. Một thời gian sau, khi vua San-chê-ríp đang thờ lạy trong đền thờ của Nít-róc, thần của ông, thì các con trai của ông là A-tra-mê-léc và Sa-rết-se đã dùng gươm giết ông, rồi trốn sang xứ A-ra-rát. Ê-sạt-ha-đôn, một con trai của ông, đã trị vì thay vào chỗ của ông.

 

38

  1. Trong những ngày đó, Ê-xê-chia lâm bệnh sắp chết. Tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt, đã đến gặp người và nói: Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: “Hãy sắp xếp việc nhà của ngươi, bởi vì ngươi sắp chết, không sống được nữa.”
  2. Ê-xê-chia đã quay mặt vào tường, rồi ông cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va. 3. Ông nói: Đức Giê-hô-va ôi! Con cầu xin Ngài nhớ lại thể nào con đã bước đi cách trung tín trước mặt Ngài, và hết lòng làm những điều tốt lành trước mắt Ngài. Và rồi Ê-xê-chia khóc, và khóc thật thảm thiết.
  3. Sau đó, lời của Đức Giê-hô-va đã đến cùng Ê-sai, Ngài phán: 5. Hãy đi nói với Ê-xê-chia: Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Đa-vít – tổ phụ của vua, đã phán như thế nầy: Ta đã nghe lời cầu nguyện của ngươi và nhìn thấy nước mắt của ngươi. Nầy, Ta sẽ thêm cho đời của ngươi mười lăm năm nữa. 6. Ta sẽ giải cứu ngươi và thành nầy khỏi tay của vua A-sy-ri. Ta sẽ bảo vệ thành nầy.
  4. Đây là dấu hiệu Đức Giê-hô-va ban cho ngươi để chứng tỏ rằng Đức Giê-hô-va sẽ thực hiện điều nầy như Ngài đã phán. 8. Nầy, Ta sẽ làm cho bóng mặt trời đã chiếu xuống những bậc của đồng hồ mặt trời của A-cha sẽ lui lại mười bậc. Vì vậy, bóng mặt trời đã lui lại mười bậc mà nó đã đi qua trên đồng hồ mặt trời.
  5. Đây là lời của Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, sau khi đã bị bệnh và được chữa lành:
  6. Tôi đã nói: Đời tôi bị gián đoạn và tôi phải đi vào cổng của âm phủ. Tôi bị tước mất những năm còn lại của cuộc đời mình.
  7. Tôi đã nói: Tôi không còn thấy Đức Giê-hô-va, là Đức Giê-hô-va ngự trong đất của người sống, nữa. Tôi không còn nhìn thấy loài người ở giữa vòng những người đang sống trên trần gian nữa.
  8. Ðời tôi không còn, nó đã bị cất khỏi tôi, bị nhổ đi giống như chiếc lều của người chăn chiên. Ngài cắt bỏ đời tôi như thợ dệt cắt chỉ – Từ sáng cho đến tối, Ngài kết liễu đời tôi.
  9. Tôi giữ mình cho đến sáng, nhưng Ngài, như một con sư tử, đã đánh gãy tất cả xương cốt của tôi từ sáng cho đến tối, và rồi Ngài kết liễu đời tôi.
  10. Tôi líu lo như chim nhạn chim én, tôi rầm rì như chim bồ câu; mắt tôi mỏi mòn nhìn lên cao. Đức Giê-hô-va ôi! Con đang bị đè nén. Xin Ngài nâng đỡ con.
  11. Tôi sẽ nói gì? Bởi vì Ngài đã phán cùng tôi rằng Ngài đã làm việc đó. Tôi sẽ bước đi khiêm cung trọn cả đời bởi vì tâm hồn cay đắng.
  12. Chúa ôi! Người ta sống nhờ vào những điều nầy. Sự sống của tâm linh con cũng ở trong những điều nầy. Cầu xin Ngài chữa lành con và cho con được sống.
  13. Thật vậy, vì sự an nguy của con mà con đã cay đắng rất nhiều, nhưng Ngài đã thương và cứu mạng con khỏi hố hủy diệt, bởi vì Ngài đã quăng tất cả những tội lỗi của con ra sau lưng của Ngài.
  14. Bởi vì âm phủ không thể cảm tạ Ngài, sự chết không thể ca ngợi Ngài, những kẻ đã xuống mồ không còn hy vọng nơi sự thành tín của Ngài nữa.
  15. Nhưng chỉ những người còn sống sẽ cảm tạ Ngài, như con đang làm hôm nay. Hỡi những người làm cha mẹ! Hãy dạy các con của mình biết đức thành tín của Ngài.
  16. Đức Giê-hô-va đã cứu tôi! Trọn đời chúng tôi sẽ đàn và hát trong nhà của Đức Giê-hô-va!
  17. Ê-sai nói: Hãy truyền cho chúng lấy một cái bánh trái vả đắp trên chỗ ung độc thì người sẽ sống.
  18. Ê-xê-chia hỏi: Có dấu hiệu nào cho biết rằng ta còn được lên đền thờ của Đức Giê-hô-va hay không?

 

39

  1. Lúc đó, Mê-rô-đác Ba-la-đan, là con trai của Ba-la-đan, đang làm vua của Ba-by-lôn, ông đã gởi thư và tặng phẩm cho Ê-xê-chia, bởi vì ông đã nghe vua bị bệnh và được hồi phục. 2. Ê-xê-chia rất vui về những người nầy. Ông đã cho họ xem tất cả kho tàng của mình: bạc, vàng, hương liệu, dầu quý giá, tất cả kho vũ khí, cùng tất cả tài sản của mình. Ê-xê-chia đã trình bày cho họ tất cả những gì có trong cung điện và trong vương quốc của mình.
  2. Sau đó, tiên tri Ê-sai đã đến gặp vua Ê-xê-chia, rồi hỏi: Những người nầy từ đâu đến? Họ đã nói gì với ngài? Ê-xê-chia đáp: Họ đã từ một xứ rất xa, từ Ba-by-lôn, đến gặp ta.
  3. Ông hỏi tiếp: Họ đã thấy gì trong cung điện của ngài? Ê-xê-chia đáp: Họ đã xem tất cả những gì có trong cung điện của ta. Không có vật gì trong những kho tàng của ta mà ta không cho họ xem.
  4. Ê-sai nói với Ê-xê-chia: Xin hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: 6. “Nầy! Sẽ có ngày người ta đến mang tất cả mọi vật trong cung điện của ngươi, là những vật mà tổ phụ của ngươi đã tích trữ cho đến ngày nay, để đem sang Ba-by-lôn. Không có vật gì còn lại.” Đức Giê-hô-va phán vậy. 7. “Một số con cháu của ngươi, là những người thuộc dòng dõi của ngươi và do ngươi sinh ra, sẽ bị bắt. Họ sẽ làm hoạn quan trong cung của vua Ba-by-lôn.”
  5. Ê-xê-chia nói cùng Ê-sai: Lời của Đức Giê-hô-va mà ông vừa nói là tốt đẹp. Vua nói: Ít nhất trong đời của ta sẽ có hòa bình và ổn định.

 

40

  1. Đức Chúa Trời của các ngươi phán: Hãy yên ủi! Hãy yên ủi dân của Ta. 2. Hãy nói cho thấu lòng của Giê-ru-sa-lem và hãy công bố cho nó rằng: Chiến trận của nó đã kết thúc. Tội lỗi của nó đã được tha. Nó đã chịu gấp đôi từ tay của Đức Giê-hô-va về mọi tội lỗi của mình.
  2. Có một tiếng nói trong hoang mạc: Hãy mở một con đường cho Đức Giê-hô-va. Hãy dọn thẳng một đại lộ trong sa mạc cho Đức Chúa Trời của chúng ta. 4. Mọi thung lũng sẽ được nâng lên. Mọi núi đồi sẽ bị hạ xuống. Những nơi cong quẹo sẽ được làm cho ngay thẳng. Những chỗ gập ghềnh sẽ được làm cho phẳng bằng. 5. Vinh quang của Đức Giê-hô-va sẽ được bày tỏ và mọi loài xác thịt sẽ cùng nhau nhìn thấy, bởi vì chính miệng của Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
  3. Có một tiếng nói phán rằng: Hãy kêu lớn! Ông nói: Tôi phải kêu thế nào? Mọi loài xác thịt giống như cỏ. Tất cả những điều tốt đẹp của chúng giống như hoa ngoài đồng. 7. Khi hơi thở của Đức Giê-hô-va thổi qua thì cỏ khô, hoa rụng. Thật vậy, loài người chỉ như cỏ. 8. Cỏ khô, hoa rụng, nhưng lời của Đức Chúa Trời của chúng ta đứng vững đời đời!
  4. Hỡi kẻ mang tin mừng cho Si-ôn! Hãy lên trên núi cao. Hỡi kẻ mang tin mừng cho Giê-ru-sa-lem! Hãy ra sức cất tiếng. Hãy cất tiếng lên, đừng sợ hãi! Hãy nói cho các thành của Giu-đa biết rằng: Ðây là Ðức Chúa Trời của các ngươi. 10. Nầy, Chúa Giê-hô-va sẽ đến trong quyền năng. Ngài sẽ dùng cánh tay của Ngài mà cai trị. Nầy, sự ban thưởng của Ngài đang ở với Ngài, và sự báo trả của Ngài đang ở trước mặt Ngài. 11. Ngài sẽ chăn dắt bầy chiên của Ngài như một người chăn, Ngài sẽ gom những chiên nhỏ vào trong cánh tay, Ngài sẽ ôm chúng trong lòng, và dịu dàng chăm sóc những con còn bú.
  5. Ai đã đo lường những dòng nước bằng lỗ hổng trong bàn tay? Ai đã lấy gang tay mà đo các tầng trời? Ai đã đong bụi đất để tính toán? Ai đã dùng những trái cân để cân sức nặng của núi và dùng bàn cân để cân đồi? 13. Ai hướng dẫn Thần của Đức Giê-hô-va, hay ai đã dạy Đấng cố vấn của Ngài? 14. Ngài đã tham khảo ai? Ai đã hướng dẫn hay dạy Ngài đường lối công chính? Ai đã dạy Ngài tri thức hay chỉ cho Ngài con đường hiểu biết?
  6. Kìa, các quốc gia giống như một giọt nước trong thùng, như một hạt bụi nhỏ trên cân. Hãy nhìn xem! Ngài nhấc các hải đảo lên như nhấc một vật nhỏ. 16. Rừng của Li-ban không có đủ để đốt, và những thú vật của nó cũng không đủ để làm tế lễ thiêu. 17. Tất cả các quốc gia chẳng có nghĩa lý gì trước mặt Ngài. Ðối với Ngài, chúng chẳng có giá trị gì và chỉ là hư vô.
  7. Các ngươi sẽ ví Đức Chúa Trời với ai, hay so sánh Ngài giống với ai? 19. Thần tượng do người thợ đúc ra, rồi thợ vàng cẩn vàng, và thợ bạc gắn dây xích bạc. 20. Người nghèo vì không thể dâng như vậy, cho nên chọn một khúc gỗ không bị mục, rồi tìm một người thợ giỏi để tạc một bức tượng không bị nghiêng ngã cho chính mình.
  8. Các ngươi không biết sao? Các ngươi chưa nghe sao? Không phải điều đó đã được dạy cho các ngươi từ lúc ban đầu hay sao? Các ngươi vẫn chưa hiểu những nền móng của trái đất có từ đâu hay sao? 22. Các cư dân trên đất chỉ giống như cào cào, nhưng Ngài là Ðấng ngự trên vòm của trái đất, Ngài giăng bầu trời ra như giăng một tấm màn, và căng chúng ra như căng lều để ở. 23. Ngài khiến những kẻ cai trị chẳng còn gì cả, và làm cho các thẩm phán trong xứ không có gì. 24. Họ vừa mới được trồng, vừa mới được gieo, cây vừa mới châm rễ trong đất, Ngài thổi hơi qua thì họ liền khô héo, và rồi một cơn gió lốc đã đùa họ đi như rơm rác.
  9. Đấng Thánh đã phán: Có ai giống như Ta? Có ai bằng ta? 26. Hãy ngước mắt của các ngươi nhìn lên cao, rồi xem ai đã sáng tạo ra những vật này? Ai đã tạo ra vô số thiên thể mà Ngài đã gọi tất cả chúng theo từng tên. Nhờ quyền năng lớn lao của Ngài và sức mạnh quyền uy của Ngài, không một cái nào bị thiếu.
  10. Hỡi Gia-cốp! Tại sao ngươi nói. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Tại sao ngươi than: Đường lối của tôi đã bị che khuất khỏi Đức Giê-hô-va. Đức Chúa Trời của tôi đã bỏ qua quyền lợi của tôi.
  11. Các ngươi không biết sao? Các ngươi chưa nghe sao? Giê-hô-va là Đức Chúa Trời đời đời. Ngài là Đấng tạo dựng những nơi tận cùng của trái đất. Ngài không hề mệt mỏi, Ngài không hề đuối sức, và sự hiểu biết của Ngài không thể dò thấu. 29. Ngài ban năng lực cho người yếu đuối, và thêm sức mạnh cho người kiệt sức. 30. Những người trẻ tuổi cũng sẽ mệt mỏi và kiệt sức; các thanh niên cũng sẽ mỏi mòn và gục ngã. 31. Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va chắc chắn được sức mới: Họ sẽ cất cánh bay cao như phượng hoàng. Họ sẽ chạy mà không mệt nhọc. Họ sẽ đi mà không kiệt sức.

 

41

  1. Những hải đảo! Hãy im lặng trước mặt Ta. Các dân tộc! Hãy phục hồi lại sức lực. Hãy để họ đến gần, và hãy để cho họ nói. Chúng ta hãy đến gần và tranh luận cùng với nhau.
  2. Ai đã dấy lên một người công chính từ phương đông? Ai đã triệu tập các dân dưới chân của người, rồi trao các vua để người cai trị? Chúng giống như bụi đối với lưỡi gươm của người và như rơm rác bị thổi đi so với cung của người? 3. Người truy đuổi chúng, rồi vượt qua một cách an toàn, trên con đường mà chân của người chưa bao giờ đi qua.
  3. Ai đã thực hiện và hoàn thành điều nầy? Ai đã kêu gọi các thế hệ từ ban đầu? Chính Ta, là Đức Giê-hô-va, là Đấng Đầu Tiên và Cuối Cùng.
  4. Các hải đảo đã nhìn thấy và sợ hãi. Những nơi tận cùng của trái đất đã khiếp sợ, chúng tiến lại gần và đã đến.
  5. Mỗi người đã giúp người lân cận của mình, và nói với anh em của mình: Hãy can đảm! 7. Thợ thủ công khuyến khích thợ vàng; thợ gò bằng búa khích lệ thợ đập đe; thợ hàn đã nói: “Nó đã sẵn sàng” và đã đóng đinh vào để cho nó khỏi ngã.
  6. Nhưng ngươi, Y-sơ-ra-ên, là tôi tớ của Ta. Hỡi Gia-cốp, là kẻ mà Ta đã chọn, là dòng dõi của Áp-ra-ham, bạn của Ta. 9. Ta đã nắm lấy ngươi từ những nơi tận cùng của trái đất, Ta đã gọi ngươi từ những nơi xa thẳm, và nói ngươi rằng: Ngươi là tôi tớ của Ta. Ta đã chọn ngươi và không từ bỏ ngươi. 10. Đừng sợ, vì Ta ở cùng ngươi. Đừng kinh khiếp, vì Ta là Đức Chúa Trời của ngươi. Đúng vậy! Ta sẽ thêm sức cho ngươi. Đúng vậy! Ta sẽ giúp đỡ ngươi. Ta sẽ gìn giữ ngươi bằng cánh tay phải công chính của Ta.
  7. Hãy xem! Tất cả những kẻ nổi giận cùng ngươi sẽ bị hổ thẹn và sỉ nhục. Những kẻ chống nghịch ngươi sẽ trở thành hư không và bị hủy diệt. 12. Ngươi sẽ tìm nhưng không thấy những kẻ đã nổi lên chống lại ngươi. Những kẻ tranh chiến nghịch cùng ngươi sẽ không tồn tại nữa. 13. Bởi vì Ta là Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngươi, sẽ nắm cánh tay phải của ngươi rồi phán cùng ngươi: “Đừng sợ! Ta sẽ giúp đỡ ngươi. 14. Hỡi Gia-cốp! Đừng sợ loài sâu bọ. Hỡi những người Y-sơ-ra-ên! Ta sẽ giúp đỡ ngươi.” Giê-hô-va, là Ðấng Cứu Chuộc ngươi, là Ðấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: 15. Nầy, Ta sẽ làm cho ngươi thành một cái bừa mới, có nhiều răng bén nhọn. Ngươi sẽ bừa những ngọn núi và làm tan nát chúng. Ngươi làm cho các đồi trở thành như rơm rạ. 16. Ngươi sẽ sàng sảy chúng và gió sẽ thổi chúng bay đi. Một cơn gió lốc sẽ làm cho chúng tan tác. Còn ngươi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, và sẽ được hãnh diện trong Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
  8. Những kẻ nghèo nàn và thiếu thốn tìm kiếm nước nhưng không có. Lưỡi của họ khô vì khát. Ta là Đức Giê-hô-va, sẽ trả lời cho họ. Ta là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ không từ bỏ họ. 18. Ta sẽ mở ra những dòng sông trên những ngọn đồi trơ trọi, và những dòng suối giữa các thung lũng. Ta sẽ làm cho sa mạc thành hồ nước, và đất khô hạn thành những nguồn nước. 19. Ta sẽ trồng trong đồng hoang cây bá hương và cây keo, cây sim và cây ô-liu. Ta sẽ cho cây tùng mọc trong sa mạc cùng với cây thông và cây hoàng dương, 20. để người ta nhìn thấy và nhận biết, suy gẫm và cùng nhau hiểu rằng: Bàn tay của Đức Giê-hô-va đã làm điều này, và Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên đã sáng tạo ra nó.
  9. Đức Giê-hô-va phán: Hãy trình bày trường hợp của các ngươi. Vua của Gia-cốp phán: Hãy đưa ra những lý lẽ thuyết phục. 22. Hãy để cho họ đến và trình bày cho chúng ta biết điều gì sẽ xảy đến. Cũng hãy để cho họ nói cho chúng ta biết những điều đã xảy ra từ trước để chúng ta suy gẫm và biết kết cục của chúng – hay là họ sẽ công bố cho chúng ta biết những việc sẽ xảy đến. 23. Hãy nói cho chúng ta biết những điều sẽ xảy ra sau này để chúng ta biết các ngươi là các thần. Phải, hãy ban phước hay giáng họa để chúng ta kinh ngạc, và cùng nhau chiêm ngưỡng. 24. Thật vậy, các ngươi chẳng là gì cả. Công việc của các ngươi là vô dụng. Kẻ đã chọn các ngươi thật đáng kinh tởm.
  10. Ta đã dấy lên một người từ phương bắc, và người sẽ đến. Từ nơi mặt trời mọc, người sẽ kêu cầu danh của Ta. Người sẽ chà đạp những kẻ lãnh đạo như bùn đất, như thợ gốm nhào nặn đất sét.
  11. Ai đã công bố điều đó từ ban đầu để chúng ta biết, hay là đã bảo trước để chúng ta có thể nói rằng: “Ngươi đúng!” – Không ai nói điều gì, không ai công bố điều gì, không ai nghe tiếng nào từ các ngươi cả. 27. Nhưng từ ban đầu, Ta đã nói với Si-ôn: “Hãy nhìn xem chúng”, và nói với Giê-ru-sa-lem: “Ta sẽ sai một người báo tin mừng đến.”
  12. Ta tìm xem nhưng không có ai. Không có một cố vấn nào giữa vòng những người này, để khi Ta hỏi thì họ có thể đáp một lời. 29. Thật vậy, tất cả bọn chúng là gian tà, công việc của chúng là vô dụng, hình tượng của chúng là hư không, như gió thoảng.

 

42

  1. Đây là người phục vụ của Ta – là người Ta nâng đỡ, là Người Ta đã chọn và linh hồn Ta đẹp lòng – Ta đã đặt Thần của Ta trên Người và Người sẽ đem công lý đến cho các quốc gia. 2. Người sẽ không hô hào hay lớn tiếng. Tiếng của Người cũng không nghe ngoài đường phố. 3. Người sẽ không bẻ gẫy cây sậy đã giập, cũng không dập tắt tim đèn gần tàn. Người sẽ thực thi công lý vì chân lý. 4. Người sẽ không thối chí hay ngã lòng cho đến khi thiết lập công lý trên đất. Những vùng duyên hải trông đợi luật pháp của người.
  2. Giê-hô-va Đức Chúa Trời – là Đấng đã dựng nên các tầng trời và giăng chúng ra, là Đấng đã trải rộng mặt đất cùng những mầm sống trên đó, là Đấng ban hơi thở cho loài người và thần linh cho những người bước đi trên đó – đã phán:
  3. Ta là Đức Giê-hô-va! Ta đã gọi ngươi trong sự công chính. Ta sẽ nắm tay ngươi và gìn giữ ngươi. Ta sẽ lập ngươi làm một giao ước cho dân chúng, làm ánh sáng cho các dân tộc, 7. để mở mắt cho người mù, để đem tù nhân ra khỏi tù, và đem những người đang ngồi trong nơi tối tăm ra khỏi ngục thất.
  4. Ta là Đức Giê-hô-va! Đó chính là danh của Ta. Ta không nhường vinh quang của Ta cho ai khác, cũng không nhường sự ca ngợi Ta cho những hình tượng. 9. Hãy xem! Những việc trước kia đã qua rồi. Ta đang công bố những điều mới. Trước khi chúng xảy ra, thì Ta đã nói về chúng cho các ngươi.
  5. Hãy hát cho Đức Giê-hô-va một bài ca mới. Sự ca ngợi Ngài đến từ những chỗ cùng tận của trái đất. Những người đang đi dưới biển cùng mọi vật ở trong đó! những người đang sống tại những vùng duyên hải cùng với cư dân tại đó! 11. Hãy trỗi tiếng. Kê-đa cùng với những cư dân trong những làng mạc và các thành trong hoang mạc! Hãy hát lên. Cư dân tại Sê-la! Hãy reo vang trên các đỉnh núi. 12. Hãy dâng vinh quang cho Đức Giê-hô-va và hãy công bố sự tôn ngợi Ngài tại những vùng duyên hải.
  6. Đức Giê-hô-va sẽ tiến ra như một dũng sĩ. Ngài sẽ khuấy động sự nhiệt thành như một chiến binh. Ngài sẽ hô vang! Phải, Ngài sẽ thét lớn, và Ngài sẽ đắc thắng những kẻ thù của Ngài.
  7. Ta đã yên lặng một thời gian dài. Ta đã kềm chế và nín lặng. Nhưng như một phụ nữ đến lúc lâm bồn, Ta sẽ thét lên, sẽ thở hổn hển, và thở dốc. 15. Ta sẽ tàn phá những núi đồi, và làm cho thực vật khô héo. Ta sẽ biến những dòng sông thành bãi cát, và làm cho những ao hồ bị khô cạn. 16. Ta sẽ dẫn người mù đi trên con đường mà họ chưa quen, dắt họ trên những lối mà họ chưa biết. Ta sẽ biến bóng tối trước mặt họ thành ánh sáng, và những nơi gồ ghề trở thành bằng phẳng. Thật vậy, Ta sẽ thực hiện những điều nầy, và sẽ không từ bỏ họ. 17. Nhưng những kẻ tin tưởng thần tượng – là những người đã nói với các tượng đúc rằng: Các ngài là thần của chúng tôi – sẽ bị lùi lại phía sau và hổ thẹn.
  8. Hỡi những kẻ điếc! Hãy lắng nghe. Hỡi những kẻ mù! Hãy nhìn và thấy.
  9. Ai là người mù, nếu không phải là đầy tớ của Ta? Ai là người điếc như sứ giả mà Ta đã sai đi? Ai là người mù như một người tận hiến của Ta, hoặc mù như đầy tớ của Đức Giê-hô-va? 20. Ngươi thấy nhiều điều mà chẳng lưu tâm. Ngươi mở tai mà không nghe gì cả.
  10. Vì sự công chính của Ngài, Đức Giê-hô-va muốn cho luật pháp được tôn trọng và vinh quang. 22. Nhưng dân tộc nầy đã bị cướp đoạt và bị bóc lột. Tất cả đã sa vào trong hố, hoặc bị nhốt kín trong ngục. Họ đã bị cướp mà không ai giải cứu, họ đã bị tước đoạt mà không ai dám nói: Hãy trả lại.
  11. Ai trong các ngươi sẽ lắng nghe điều nầy. Ai sẽ chú ý những việc về sau? 24. Ai đã phó Gia-cốp cho sự cướp bóc, và trao Y-sơ-ra-ên cho kẻ tước đoạt? Không phải là Đức Giê-hô-va, là Đấng mà chúng ta đã phạm tội chống lại Ngài hay sao? Bởi vì không một ai muốn đi theo đường lối của Ngài, và cũng không tuân giữ theo luật pháp của Ngài. 25. Vì vậy, Ngài đã trút trên nó cơn thịnh nộ của Ngài, chịu sức mạnh tàn khốc của chiến tranh, bị lửa cháy bao quanh, nhưng nó không hiểu – lửa thiêu đốt nó nhưng nó vẫn không quan tâm.

 

43

  1. Bây giờ, hỡi Gia-cốp! Đấng đã dựng nên ngươi; và hỡi Y-sơ-ra-ên! Đấng đã tạo thành ngươi, là Đức Giê-hô-va phán như vầy:

Đừng sợ! Vì Ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên của ngươi gọi ngươi – Ngươi thuộc về Ta. 2. Khi ngươi vượt qua những dòng nước, Ta sẽ ở cùng ngươi. Khi ngươi vượt qua các dòng sông, chúng sẽ chẳng cuốn trôi ngươi. Khi ngươi băng qua lửa, ngươi sẽ không bị thiêu, và ngọn lửa cũng không cháy xém ngươi. 3. Bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, là Cứu Chúa của ngươi. Ta đã ban Ai Cập làm tiền chuộc mạng cho ngươi, Cút và Sê-ba thế chỗ cho ngươi. 4. Bởi vì ngươi là quý giá trước mắt Ta, ngươi đã được trân quý, Ta yêu thương ngươi, cho nên Ta sẽ ban những người khác chịu thay cho ngươi, và các dân tộc khác thế mạng cho ngươi. 5. Ðừng sợ! Vì Ta ở với ngươi. Ta sẽ đem dòng dõi ngươi từ phương đông trở về và sẽ nhóm họp các ngươi từ phương tây. 6. Ta sẽ nói với phương bắc rằng: “Hãy thả họ ra”, và truyền cho phương nam rằng: “Không được giữ họ lại.” Hãy đem các con trai của Ta từ những nơi xa xôi và các con gái của Ta từ tận cùng trái đất trở về, 7. tức là tất cả những người được gọi bằng danh của Ta, những người được tạo dựng vì vinh quang của Ta. Đúng vậy! Đó là những người mà Ta đã tạo dựng, là những người mà Ta đã hình thành.

  1. Hãy đem ra những người có mắt mà không thấy, những người có tai mà không nghe. 9. Tất cả các nước hãy họp lại, các dân hãy tụ tập với nhau. Ai trong các ngươi có thể công bố điều nầy, và trình bày những việc đã có từ trước? Hãy để họ đem nhân chứng ra để xác chứng, hay để cho người ta nghe và công nhận rằng: Đó là sự thật.
  2. Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi là nhân chứng của Ta và là đầy tớ mà Ta đã chọn, để các ngươi biết, tin Ta, và hiểu rằng Ta là Đấng đó. Không có một thần nào đã có trước Ta, và cũng không có thần nào sau Ta. 11. Ta! Chính Ta là Đức Giê-hô-va. Ngoài Ta, không có một Ðấng Giải Cứu nào khác. 12. Chính Ta đã công bố, đã giải cứu, đã tuyên bố. Không có một thần kỳ lạ nào ở giữa các ngươi. Đức Giê-hô-va phán: Ta là Đức Chúa Trời. Các ngươi là nhân chứng của Ta. 13. Thật vậy, trước khi có thời gian, Ta là Đấng đó. Không ai có thể giải cứu khỏi tay Ta. Ta đã hành động thì không ai có thể đảo ngược được.
  3. Đức Giê-hô-va – Đấng Cứu chuộc của các ngươi – là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Vì cớ các ngươi, Ta sẽ gởi sự hủy diệt đến Ba-by-lôn. Tất cả những người Canh-đê sẽ tháo chạy vào trong những con tàu tráng lệ.
  4. Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh của các ngươi, là Đấng sáng tạo ra Y-sơ-ra-ên, là Vua của các ngươi.
  5. Đức Giê-hô-va phán thế nầy: Ðấng làm nên một con đường giữa biển, tạo một lối đi giữa những dòng nước mạnh, 17. Ðấng khiến các chiến xa, các chiến mã, quân đội hùng mạnh cùng nhau ngã gục, không trỗi dậy được nữa, làm cho chúng tắt lịm như tim đèn bị tàn lụi. Ngài phán: 18. Ðừng nhớ đến những chuyện đã qua, và cũng đừng suy nghĩ đến những việc xa xưa. 19. Nầy, Ta đang làm một việc mới. Bây giờ nó đang xuất hiện mà các ngươi không nhận biết. Thật vậy, Ta sẽ làm một con đường trong đồng hoang, và những dòng sông nơi sa mạc. 20. Các thú rừng, chó rừng, và đà điểu sẽ tôn ngợi Ta, vì Ta cung cấp nước trong đồng hoang và các dòng sông trong sa mạc, để cho tuyển dân của Ta uống. 21. Ta đã tạo nên dân nầy cho Ta, và họ sẽ tôn ngợi Ta.
  6. Nhưng Gia-cốp, ngươi đã không kêu cầu Ta. Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi đã mệt mỏi về Ta. 23. Ngươi đã không đem chiên để làm tế lễ thiêu cho Ta, không dâng sinh tế để tôn kính Ta. Ta đã không buộc ngươi dâng các tế lễ chay; cũng không làm cho ngươi mệt mỏi vì dâng hương. 24. Ngươi đã không bỏ tiền ra mua hương cho Ta, cũng không làm Ta hài lòng với mỡ của những sinh tế. Nhưng ngươi đã làm gánh nặng cho Ta vì những tội lỗi của ngươi, và làm cho Ta mệt nhọc vì những gian ác của ngươi. 25. Nhưng chính Ta, là Đấng vì cớ chính mình Ta mà xóa những sự vi phạm của ngươi. Ta sẽ không nhớ đến tội lỗi của ngươi nữa.
  7. Hãy nhắc cho Ta nhớ. Hãy cùng nhau tranh luận. Hãy trình bày lý lẽ của ngươi để chứng tỏ rằng ngươi đúng. 27. Tổ phụ đầu tiên của ngươi đã phạm tội. Kẻ phát ngôn của ngươi đã chống lại Ta. 28. Vì vậy, Ta đã để cho những kẻ lãnh đạo trong nơi thánh bị làm nhục, Ta đã phó Gia-cốp cho bị diệt vong, Ta đã để cho Y-sơ-ra-ên bị người đời sỉ nhục.

 

44

  1. Bây giờ, hỡi Gia-cốp là tôi tớ của Ta và hỡi Y-sơ-ra-ên là kẻ mà Ta đã chọn! Hãy lắng nghe. 2. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đấng đã tạo ra ngươi, đã hình thành ngươi từ trong tử cung sẽ giúp đỡ ngươi. Hỡi Gia-cốp là tôi tớ của Ta và hỡi Giê-su-run là kẻ mà Ta đã chọn! Đừng sợ. 3. Bởi vì Ta sẽ đổ nước xuống trên người khát, làm cho tràn ngập trên đất khô. Ta sẽ đổ thần của Ta trên dòng dõi của ngươi và những phước hạnh trên con cháu của ngươi. 4. Chúng sẽ phát triển nhiều như cỏ, như cây liễu bên cạnh dòng nước. 5. Người nầy sẽ nói: “Tôi thuộc về Đức Giê-hô-va”, người kia xưng mình bằng danh của Gia-cốp, kẻ khác nữa viết trên tay của mình rằng “Tôi thuộc về Đức Giê-hô-va”, và xưng mình bằng danh của Y-sơ-ra-ên.
  2. Đức Giê-hô-va, là Vua của Y-sơ-ra-ên, là Đấng Cứu Chuộc, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, phán như thế nầy: Ta là Ðấng Ðầu Tiên và là Ðấng Sau Cùng. Ngoài Ta không có Đức Chúa Trời nào khác. 7. Có ai giống như Ta? Hãy để cho người đó lên tiếng, tự công bố, rồi dàn xếp với Ta. Chính Ta đã lập loài người từ thời xa xưa. Hãy để cho chúng loan báo những điều đang xảy ra và những điều sắp xảy đến. 8. Đừng run rẩy! Đừng sợ hãi! Không phải Ta đã nói với ngươi và đã công bố rằng: Các ngươi là những nhân chứng của Ta. Ngoài ta không có một Ðức Chúa Trời nào khác và không có Vầng Ðá nào khác. Ta biết là không có ai cả.
  3. Họ đã lập ra những hình tượng nhưng tất cả đều là hư vô, những vật họ trân quý không đem lại lợi ích gì. Những bằng chứng cho chính họ đó là chúng không thấy cũng không biết – khiến họ phải xấu hổ. 10. Ai lại nắn ra một ông thần, đúc nên một pho tượng, mà chẳng đem lại lợi ích gì? 11. Đúng vậy, tất cả những kẻ sùng bái chúng đều phải xấu hổ, bởi vì những kẻ tạo ra chúng chỉ là phàm nhân. Hãy để tất cả những người đó tụ họp lại, hãy để cho họ đứng lên, nhưng tất cả đều sẽ kinh hãi và sẽ cùng nhau xấu hổ.
  4. Người thợ rèn nung một thanh sắt trên than, rồi dùng búa để tạo hình. Anh ta dùng sức lực của tay mình để làm ra nó, nhưng rồi anh ta đói, sức lực cạn kiệt; anh ta không uống nước, anh ta bị ngất xỉu. 13. Người thợ mộc căng dây mực, dùng phấn làm dấu, đục đẽo để tạo hình, dùng com-pa để đánh dấu, rồi làm nên một hình người, là một tượng người đẹp đẽ để đặt nó ở trong nhà. 14. Anh ta đốn những cây bá hương, và chọn cây bách, cây sồi mà anh đã giữ cho mình giữa những cây ở trong rừng. Anh ta trồng cây thông, rồi mưa rơi xuống làm cho nó lớn lên. 15. Anh ta sẽ dùng nó để đốt – thật vậy, anh ta lấy một ít đốt lên để sưởi ấm cho mình hay để nướng bánh – nhưng anh ta cũng dùng cây đó để làm một vị thần để sùng bái nó, hay tạc nên một pho tượng rồi quỳ lạy nó. 16. Anh ta đã dùng một nửa để đốt lửa. Với phân nửa nầy, anh nướng thịt ăn thật thỏa thuê, và cũng dùng để sưởi ấm, rồi nói: “A-ha, trông ngọn lửa thật ấm áp.” 17. Phần còn lại anh ta làm nên một vị thần, một tượng thần cho mình; xong rồi sùng bái nó, thờ lạy nó, rồi cầu khẩn cùng nó rằng: “Xin giải cứu tôi vì ngài là thần của tôi!”
  5. Họ không biết và cũng không hiểu, bởi vì mắt của họ đã nhắm lại, cho nên họ không nhìn thấy; lòng của họ đã khép kín, cho nên họ không hiểu. 19. Không ai suy gẫm, không ai biết, cũng không ai hiểu để nói rằng: Mình đã đốt một phân nửa. Vâng, mình đã nướng bánh, nướng thịt trên lửa than của nó để ăn. Và rồi phần còn lại, mình làm một vật đáng ghê tởm như vậy hay sao? Mình có nên thờ lạy một khúc gỗ như vậy hay không? 20. Người đó đang ăn tro bụi. Tấm lòng mê muội đã làm cho người đó lạc đường. Người đó không thể giải cứu linh hồn của mình, cũng không thể nói: “Không phải là vật trong tay phải mình là đồ giả hay sao?”
  6. Hỡi Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên, là tôi tớ của Ta! Hãy nhớ những điều nầy. Ta đã dựng nên ngươi, ngươi là tôi tớ của Ta. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Ta sẽ không quên ngươi. 22. Những tội lỗi của ngươi giống như đám mây và những vi phạm của ngươi như đám mây đen đã được Ta bôi xóa. Hãy trở lại cùng Ta vì Ta đã cứu chuộc ngươi. 23. Các tầng trời, hãy hát lên, bởi vì Đức Giê-hô-va đã hành động! Các vực sâu dưới đất, hãy reo vang! Núi rừng cùng mọi cây ở trong rừng, hãy trỗi tiếng hát ca! Vì Đức Giê-hô-va đã cứu chuộc Gia-cốp, và bày tỏ vinh quang Ngài trong Y-sơ-ra-ên.
  7. Đức Giê-hô-va phán thế nầy: Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng Cứu Chuộc của ngươi, là Đấng đã tạo nên ngươi từ trong tử cung, Ta đã tạo dựng nên mọi vật. Chính Ta đã giương các tầng trời và trải đất ra. 25. Ta đang làm rối loạn điềm báo của những kẻ nói dối, làm cho các chiêm tinh nổi điên, làm cho những người thông thái phải thụt lại và khiến tri thức của họ thành sự khờ dại. 26. nhưng Ta xác nhận lời của tôi tớ Ngài và thực hiện kế hoạch mà sứ giả Ngài đã nói về Giê-ru-sa-lem: “Nó sẽ có dân cư trú” và về những thành của Giu-đa: “Các ngươi sẽ được xây dựng lại”. Ta sẽ dựng lại những nơi hoang tàn.
  8. Ngài phán với vực sâu rằng: “Hãy khô đi! Ta sẽ làm cạn những dòng sông của ngươi.” 27. Ngài phán với Si-ru: “Người chăn của Ta! Hãy hoàn thành tất cả những điều Ta muốn.” Ngài phán về Giê-ru-sa-lem: “Ngươi sẽ được tái xây dựng” và nói về đền thờ: “Nền của ngươi sẽ được lập trở lại.”

45

  1. Đức Giê-hô-va đã phán như thế nầy về Si-ru, người được xức dầu của Ngài. Ta đã nắm lấy tay phải của người, để người chinh phục các quốc gia trước mặt mình, tháo bỏ cân đai của các vua, để mở các cửa trước mặt người và không một cổng thành nào bị đóng.
  2. Chính Ta sẽ đi trước mặt ngươi. Ta sẽ san bằng những chỗ gập ghềnh, phá vỡ những cửa bằng đồng, bẻ gãy then cài bằng sắt. 3. Ta sẽ ban cho ngươi những kho tàng bí ẩn, những của cải trong những nơi kín đáo, để ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va, Đấng đã gọi đích danh ngươi, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 4. Vì đầy tớ của Ta, Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên, người mà Ta đã chọn, nên Ta đã gọi đích danh ngươi. Ta đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta. 5. Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác. Ngoài Ta, không có Đức Chúa Trời nào khác. Dù ngươi không biết Ta, Ta sẽ thắt lưng ngươi, 6. để từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, người ta sẽ biết rằng ngoài Ta không có Đấng nào khác. Ta là Đức Giê-hô-va và không có Đấng nào khác. 7. Ta là Đấng tạo ra ánh sáng và dựng nên bóng tối, làm cho thái bình và gây nên tai họa. Chính Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng thực hiện mọi điều nầy.
  3. Hỡi trời cao! Hãy nhỏ xuống. Các đám mây! Hãy đổ sự công chính xuống. Hỡi đất! Hãy mở ra, để cho sự cứu rỗi đâm chồi và sự công chính cùng nứt lộc. Ta là Đức Giê-hô-va, đã tạo ra điều đó.
  4. Khốn thay cho kẻ tranh cãi với Đấng đã tạo ra mình, trong khi nó chỉ là một bình trong những bình bằng đất. Đất sét có thể nào hỏi người đang làm ra nó rằng “Ông đang tạo ra vật gì vậy?” hay tác phẩm của ông lại nói “Tại sao nó không có tay?” 10. Khốn thay cho kẻ hỏi cha của mình “Ông sinh ra cái gì?” hoặc hỏi người phụ nữ “Bà đã đau đớn để làm gì?”
  5. Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã tạo ra Y-sơ-ra-ên, phán thế nầy: Hãy hỏi Ta về những việc sẽ đến liên hệ đến các con của Ta, và về những công việc của tay Ta mà ngươi đã truyền cho Ta. 12. Ta đã làm ra trái đất, và Ta đã tạo ra loài người ở trên đó. Tay của Ta đã giương các tầng trời ra, và truyền lệnh cho các thiên thể. 13. Ta đã nâng người nầy lên trong sự công chính. Ta đã hướng dẫn tất cả những đường lối của người. Người sẽ xây dựng lại thành của Ta, và phóng thích kẻ bị lưu đày của Ta, mà không phải trả công hay ban thưởng. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán vậy.
  6. Đức Giê-hô-va phán thế nầy: Công sức của Ai Cập, hàng hóa của Cút và của dân Sa-bê – những người có vóc dáng cao lớn – sẽ đến cùng ngươi và chúng sẽ thuộc về ngươi. Chúng sẽ mang xiềng bước theo phía sau của ngươi. Chúng sẽ đến cùng ngươi. Chúng sẽ quỵ lụy trước mặt ngươi, nài nỉ và nói: Thật vậy, Đức Chúa Trời ở với quý vị. Ngoài Ngài, không có Đấng nào khác. Không có Đức Chúa Trời nào khác! 15. Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng Giải Cứu. Ngài thật sự là Đức Chúa Trời bí ẩn. 16. Những kẻ làm hình tượng sẽ bị xấu hổ và sỉ nhục. Tất cả cùng nhau rút lui trong hổ thẹn. 17. Nhưng Y-sơ-ra-ên được Đức Giê-hô-va giải cứu bằng sự cứu rỗi đời đời. Các ngươi sẽ không còn bị xấu hổ, sỉ nhục nữa cho đến đời đời vô cùng.
  7. Bởi vì Đức Giê-hô-va là Đấng đã sáng tạo các tầng trời – Ngài là Đức Chúa Trời đã tạo nên trái đất. Ngài đã làm ra và thiết lập nó. Ngài sáng tạo nó không phải để bỏ hoang, nhưng tạo nên để cư trú. Ngài đã phán thế nầy: Ta là Đức Giê-hô-va! Không có Đấng nào khác. 19. Ta không nói trong nơi bí mật, cũng không nói trong nơi tăm tối của địa cầu. Ta không bảo cho dòng dõi của Gia-cốp: Các ngươi tìm Ta là vô ích! Ta là Đức Giê-hô-va – Đấng nói về sự công chính và công bố những điều đúng.
  8. Hỡi những người lánh nạn từ các nước! Hãy tập hợp lại với nhau và đến gần nhau. Những kẻ đã đem theo tượng gỗ và khấn vái với thần không cứu được ai, chúng không hiểu biết gì cả! 21. Hãy công bố! Hãy trình bày! Vâng, hãy thảo luận với nhau. Ai đã công bố điều nầy từ trước, từ thời xa xưa? Không phải Ta là Đức Giê-hô-va hay sao? Ngoài ta, không có Đức Chúa Trời nào khác, chỉ có một Đức Chúa Trời công chính, một Đấng Cứu Thế. Ngoài Ta, không có Đấng nào khác. 22. Tất cả mọi người từ những nơi tận cùng của trái đất! Hãy nhìn xem ta và được cứu! Bởi vì Ta là Đức Chúa Trời, không có ai khác. 23. Ta đã thề với chính mình rằng: Lời công chính từ miệng Ta đã phát ra, thì sẽ không thu hồi trở lại. Mọi đầu gối sẽ quỳ và mọi lưỡi sẽ tuyên thệ với Ta. 24. Người ta sẽ nói về Ta rằng: “Chỉ ở trong Đức Giê-hô-va mới có sự công chính và quyền năng.” Người ta sẽ đến với Ngài. Tất cả những ai nổi giận cùng Ngài sẽ bị hổ thẹn. 25. Nhưng trong Đức Giê-hô-va, tất cả dòng dõi Y-sơ-ra-ên sẽ được xưng công chính và được vinh quang.

 

46

  1. Bên đã quỵ xuống và Nê-bô đã ngã xuống. Các pho tượng của chúng đã được chất lên những con thú và những con bò. Những vật mà các ngươi từng cưu mang đã trở thành một gánh nặng cho những con thú đang mệt mỏi. 2. Chúng cùng nhau ngã quỵ, gục xuống, đã không thể chuyển giao được gánh nặng, và rồi chính chúng cũng bị lưu đày.
  2. Hỡi nhà Gia-cốp và tất cả những người còn lại của nhà Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe Ta. Ta đã cưu mang các ngươi từ trong tử cung, đã bồng ẵm các ngươi từ lúc sinh ra. 4. Ta vẫn là Đấng như vậy cho dù ngươi ở trong tuổi già. Ta sẽ chăm sóc ngươi cho dù tóc của ngươi bị bạc. Ta đã tạo dựng ngươi thì Ta sẽ chăm sóc, sẽ bồng ẵm, và sẽ giải cứu ngươi.
  3. Các ngươi ví sánh Ta với ai, xem Ta bằng ai, để rồi so sánh xem chúng ta có giống nhau hay không? 6. Người ta lấy vàng ra khỏi bao, dùng cân cân bạc. Họ thuê một thợ bạc làm ra một vị thần, rồi quỳ xuống thờ lạy. 7. Họ đặt nó lên vai, đem nó đặt vào chỗ của nó, thì nó đứng yên tại chỗ của nó, không thể nào di động. Dù người ta kêu cầu cùng nó, nó không thể trả lời, và cũng không thể cứu giúp người đó khỏi thảm họa của mình.
  4. Hãy nhớ điều này và hãy suy xét. Hỡi những kẻ phạm tội! Hãy ghi nhớ trong tâm. 9. Hãy nhớ lại những việc trước kia từ thời xa xưa. Bởi vì Ta là Đức Chúa Trời, không có ai khác. Ta là Đức Chúa Trời, không có ai giống như Ta. 10. Từ ban đầu, Ta đã báo trước về việc cuối cùng, đã loan báo từ xa xưa những việc chưa xảy ra. Ta đã phán: Kế hoạch của Ta sẽ được thành tựu và Ta sẽ thực hiện mọi điều Ta muốn. 11. Hãy gọi con chim săn mồi từ phương đông, gọi người thực hiện mục đích của Ta từ miền đất xa xôi. Thật vậy, điều Ta đã nói, thì Ta sẽ làm; điều Ta đã hoạch định, thì Ta sẽ thực hiện.
  5. Hỡi những kẻ cứng lòng, những kẻ xa cách sự công chính, hãy lắng nghe Ta. 13. Ta đem sự công chính của Ta đến gần, nó không ở xa. Ta sẽ không trì hoãn sự cứu rỗi của Ta. Ta sẽ ban sự cứu rỗi cho Si-ôn và vinh quang của Ta cho Y-sơ-ra-ên.

 

47

  1. Hỡi trinh nữ của Ba-by-lôn! Hãy bước xuống, rồi ngồi trong bụi đất. Hỡi con gái của Canh-đê! Hãy ngồi dưới đất bởi vì không còn ngôi nữa. Ngươi sẽ không còn được gọi là một thiếu nữ dịu dàng hay đài các nữa. 2. Hãy lấy cối rồi xay bột. Hãy gỡ voan che mặt, cởi váy, để lộ đùi, rồi lội qua những dòng sông. 3. Sự lõa lồ của ngươi sẽ bị phơi bày. Vâng, sự xấu hổ của ngươi sẽ bị nhìn thấy. Ta sẽ báo thù, không chừa một ai.
  2. Đấng Cứu Chuộc của chúng ta là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân.
  3. Hỡi con gái của dân Canh-đê! Hãy ngồi yên lặng, và lui vào bóng tối, bởi vì ngươi sẽ không còn được gọi là nữ hoàng của các vương quốc nữa. 6. Ta đã nổi giận cùng dân của Ta, Ta đã để cho cơ nghiệp của Ta bị xấu hổ, rồi trao chúng vào tay của ngươi; nhưng ngươi đã không bày tỏ sự thương xót chúng, ngươi đã đặt một cái ách thật nặng nề trên người già. 7. Ngươi đã nói: Ta sẽ mãi mãi là Nữ hoàng. Ngươi không quan tâm đến những điều này cũng không nghĩ đến hậu quả về sau.
  4. Vì vậy, bây giờ hỡi kẻ yêu thích sự khoái lạc – là kẻ đang ngồi trong sự yên ổn, là kẻ đã nói trong lòng rằng: “Chỉ có ta chứ không một ai khác! Ta sẽ không ngồi trong cảnh góa bụa và không bị mất mát con cái” – hãy nghe đây: 9. Trong một khoảnh khắc, trong cùng một ngày, cả hai điều này: mất mát con cái và trở thành góa bụa, sẽ xảy đến cho ngươi. Chúng sẽ xảy đến đầy đủ cho ngươi, dù cho ngươi có thật nhiều ma thuật và nhiều quyền lực phù chú. 10. Ngươi đã tin cậy nơi sự gian ác của mình, ngươi đã nói: “Không ai thấy ta!” Sự khôn ngoan và tri thức của ngươi đã làm cho ngươi lầm lạc. Ngươi nói trong lòng rằng: “Ta đây, ngoài ta chẳng có ai.” 11. Nhưng tai họa sẽ đến trên ngươi mà ngươi không biết nó đến từ đâu, hoạn nạn sẽ đổ xuống trên ngươi mà ngươi không thể tránh khỏi, sự hủy diệt sẽ thình lình xảy ra cho ngươi mà ngươi không hề biết.
  5. Hãy đứng lên! Hãy dùng phù chú và vô số ma thuật mà ngươi đã tập luyện từ khi còn trẻ, xem thử chúng có hữu ích cho ngươi, có giúp ngươi vượt qua nỗi kinh hoàng hay không! 13. Ngươi đã mệt mỏi vì những lời khuyên. Hãy để cho những chiêm tinh gia – là những kẻ xem sao để tiên đoán, xem trăng mới để đoán định việc tương lai – bây giờ hãy để chúng đứng lên, giải cứu ngươi thoát khỏi những việc sẽ xảy đến trên ngươi. 14. Hãy nhìn xem! Chúng nó giống như rơm rạ. Chúng nó bị lửa thiêu đốt, không thể cứu chính mình thoát khỏi ngọn lửa, đến nỗi không còn than hồng để sưởi ấm, cũng không còn bếp lửa để ngồi cạnh bên như trước. 15. Thật vậy, những kẻ đã làm việc với ngươi, những kẻ đã giao dịch với ngươi từ thuở thanh xuân, mỗi người đều lưu lạc mỗi ngã, không ai giải cứu ngươi.

 

48

  1. Hãy nghe nầy, hỡi nhà Gia-cốp! Hỡi những kẻ được gọi bằng danh của Y-sơ-ra-ên, những người đã xuất phát từ cội nguồn của Giu-đa, là những người nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề, và kêu cầu Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, nhưng không thành thật và công chính, 2. mặc dù họ xưng mình là người thuộc về thành thánh, nương cậy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, danh của Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân.
  2. Ta đã báo từ trước những việc đã xảy ra, những việc đó đã được phát ra từ miệng của Ta, và Ta đã khiến cho họ biết về chúng. Và rồi, thình lình Ta thực hiện cho nên những việc đó đã xảy ra.
  3. Bởi vì Ta biết ngươi cứng đầu, cổ ngươi có gân sắt, trán ngươi cứng như đồng, 5. cho nên Ta đã báo cho ngươi từ trước. Ta đã cho ngươi biết trước khi chúng xảy đến, nếu không ngươi sẽ nói rằng: “Tượng thần của tôi đã làm những điều đó. Tượng chạm, tượng đúc của tôi đã phán như vậy.”
  4. Ngươi đã nghe và thấy tất cả những điều nầy. Ngươi sẽ không thuật lại hay sao? Từ nay, Ta sẽ cho ngươi nghe những điều mới, là những việc bí mật mà các ngươi chưa hề biết. 7. Những điều đó mới được tạo ra vào lúc nầy, không phải đã có từ trước. Trước ngày hôm nay ngươi chưa bao giờ nghe về những điều đó, nếu không ngươi sẽ nói rằng: “Ồ! Tôi đã biết rồi.” 8. Chắc chắn ngươi chưa hề nghe. Chắc chắn ngươi chưa hề biết. Chắc chắn từ lâu tai ngươi chưa mở ra, bởi vì Ta biết ngươi là kẻ phản bội. Ngươi đã mang tên là kẻ phản phúc từ trong lòng mẹ.
  5. Vì danh của Ta mà Ta trì hoãn cơn giận. Vì vinh quang của Ta mà Ta kiềm chế không hủy diệt ngươi. 10. Nầy, Ta đã luyện ngươi nhưng không phải như luyện bạc, Ta đã thử nghiệm ngươi trong lò hoạn nạn. 11. Vì cớ Ta, vì chính Ta mà Ta làm điều nầy, bởi vì lẽ nào Ta lại để cho danh Ta bị nhục? Ta sẽ không nhường vinh quang của Ta cho một ai khác.
  6. Hỡi Gia-cốp! Hãy lắng nghe Ta. Hỡi Y-sơ-ra-ên, là người mà Ta đã gọi. Ta là Ðấng đó: Ta là Ðấng Ðầu Tiên, và Ta là Ðấng Sau Cùng. 13. Thật vậy, tay của Ta đã đặt nền móng của trái đất. Tay phải của Ta đã giương các tầng trời. Khi Ta gọi, chúng cùng nhau đứng dậy.
  7. Tất cả các ngươi hãy tập họp lại và lắng nghe! Ai trong vòng chúng nó đã công bố những điều này? Đức Giê-hô-va yêu thương người. Ngài sẽ thực hiện ý định của Ngài trên Ba-by-lôn và dùng tay của Ngài nghịch lại người Canh-đê. 15. Ta! Chính Ta đã phán. Vâng! Ta đã gọi người. Ta đã đem người đến và người sẽ thành công trong đường lối của mình.
  8. Hãy đến gần Ta! Hãy nghe điều này: Từ ban đầu, Ta đã không phán một cách bí mật. Từ lúc tồn tại, Ta đã ở đó. Bây giờ, Chúa, là Đức Giê-hô-va, đã sai Ta cùng với thần của Ngài. 17. Đức Giê-hô-va, Đấng Cứu Chuộc ngươi, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi, là Đấng dạy dỗ ngươi để ngươi được ích lợi, và dẫn ngươi vào con đường ngươi nên đi. 18. Ôi, ước gì ngươi đã chú ý đến những điều răn của Ta thì sự thái bình ngươi sẽ như một dòng sông, sự công chính của ngươi sẽ như sóng biển, 19. dòng dõi của ngươi sẽ đông như cát, con cháu của ngươi nhiều như cát bụi, danh của chúng sẽ không bị diệt và cũng không bị xóa bỏ khỏi trước mặt Ta.
  9. Hãy rời khỏi Ba-by-lôn! Hãy trốn khỏi dân Canh-đê! Hãy cất tiếng hát! Hãy tuyên bố! Hãy công bố điều nầy! Hãy loan truyền điều đó cho đến tận cùng trái đất! Hãy bảo rằng: Đức Giê-hô-va đã cứu chuộc đầy tớ của Ngài là Gia-cốp. 21. Khi Ngài dẫn họ qua sa mạc thì họ không khát, bởi vì Ngài đã khiến nước từ vầng đá chảy ra cho họ. Ngài đã chẻ vầng đá để nước tuôn ra.
  10. Đức Giê-hô-va phán: Những kẻ ác sẽ không bao giờ được bình an.

 

49

  1. Các vùng duyên hải! Hãy lắng nghe. Các dân tộc xa xôi! Xin chú ý nghe tôi. Đức Giê-hô-va đã gọi tôi từ trong tử cung. Ngài đã nhắc đến tên tôi khi tôi còn trong dạ của mẹ tôi. 2. Ngài đã làm cho miệng của tôi giống như một thanh gươm sắc bén. Ngài đã che giấu tôi trong bóng của bàn tay Ngài. Ngài đã làm cho tôi thành một mũi tên sáng loáng, rồi giấu tôi trong bao đựng tên của Ngài. 3. Ngài phán cùng tôi: Ngươi là tôi tớ của Ta. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Ta sẽ được vinh quang nơi ngươi.
  2. Tôi đã nói rằng: “Tôi đã làm việc luống công, đã tốn sức vô ích.” Nhưng lẽ công bình của tôi đến từ Đức Giê-hô-va, và phần thưởng của tôi đến từ Đức Chúa Trời của tôi. 5. Bây giờ, Đức Giê-hô-va phán – Đấng đã lập tôi từ trong bụng mẹ để làm tôi tớ của Ngài, để đem Gia-cốp trở lại cùng Ngài, tập họp Y-sơ-ra-ên đến với Ngài, bởi vì tôi được tôn trọng trong mắt của Đức Giê-hô-va, và Đức Chúa Trời là sức lực của tôi. 6. Ngài phán: Ngươi làm tôi tớ của Ta, để gây dựng các chi tộc của Gia-cốp và phục hồi những người được gìn giữ của Y-sơ-ra-ên, chỉ là việc nhỏ, Ta sẽ cho ngươi làm ánh sáng cho các dân tộc, để đem sự cứu rỗi của Ta đến tận cùng trái đất.
  3. Đức Giê-hô-va, là Đấng Cứu Chuộc và là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, phán cùng Đấng bị người ta khinh thường, là Đấng bị dân tộc nầy khinh bỉ, là đầy tớ của những kẻ có quyền thế: “Các vua sẽ nhìn thấy và đứng dậy, các thủ lĩnh sẽ quỳ lạy, bởi vì Đức Giê-hô-va là Đấng thành tín, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Đấng đã chọn ngươi.”
  4. Đức Giê-hô-va phán thế nầy: Ta sẽ nhậm lời ngươi vào lúc thích hợp. Ta sẽ phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi. Ta sẽ gìn giữ ngươi và cho ngươi làm giao ước với dân, để tái lập xứ sở, rồi phân chia đất bị bỏ hoang cho họ làm cơ nghiệp. 9. Ngươi hãy nói với kẻ bị tù: “Hãy đi ra!” và với kẻ ở trong bóng tối: “Hãy bày tỏ ra!” Họ sẽ được chu cấp trên đường đi và tất cả những đỉnh cao hoang vắng sẽ là đồng cỏ của họ. 10. Họ sẽ không đói cũng không khát, hơi nóng và mặt trời cũng không hành hạ họ, bởi vì Đấng thương xót họ sẽ dẫn dắt họ, Ngài sẽ đem họ đến gần các suối nước. 11. Ta sẽ khiến tất cả những núi của Ta trở thành đường đi, và các đại lộ của Ta sẽ được đắp bằng phẳng. 12. Kìa, những người này sẽ đến từ phương xa. Kìa, những người kia sẽ đến từ phương bắc, phương tây, và những người nọ đến từ vùng Si-nim. 13. Các tầng trời! Hãy hát lên. Trái đất! Hãy hân hoan. Những ngọn núi! Hãy hát vang. Vì Đức Giê-hô-va đã an ủi dân Ngài, và thương xót những người khốn khổ của Ngài.
  5. Si-ôn đã từng nói: Đức Giê-hô-va đã từ bỏ tôi. Chúa của tôi đã quên tôi. 15. Một phụ nữ có thể nào quên đứa con đang bú, hay không thương xót con trai của mình hay sao? Dù những người này có thể quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi. 16. Nầy, Ta đã chạm ngươi trong lòng bàn tay của Ta; các tường thành của ngươi vẫn tiếp tục ở trước mặt Ta. 17. Con cái của ngươi đang vội vã trở về. Những kẻ phá hoại làm cho ngươi bị đổ nát hoang tàn sẽ rời khỏi ngươi. 18. Hãy ngước mắt nhìn quanh và xem: Tất cả những người đang tụ tập sẽ đến với ngươi. Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống, giống như một cô dâu, ngươi sẽ mang tất cả chúng nó như đồ trang sức và sẽ gắn bó với chúng. 19. Bởi vì những nơi hoang tàn, những nơi tiêu điều, những vùng đất đổ nát của ngươi, giờ đây quá chật cho người định cư. Những kẻ ăn nuốt ngươi sẽ cách xa ngươi. 20. Những đứa con mà ngươi đã có sau khi ngươi mất những đứa khác sẽ nói vào tai ngươi: “Chỗ này quá chật cho con. Hãy cho con một chỗ đủ cho con ở.” 21. Ngươi sẽ tự hỏi trong lòng rằng: Ai đã sinh những đứa này cho tôi? Tôi đã mất hết con cái, đã bị trơ trọi, đã bị lưu đày và đã bị đi đây đi đó. Ai đã nuôi dưỡng những đứa này? Kìa, ta đã bị bỏ lại một mình. Những đứa này từ đâu đến?
  6. Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ giá tay trên các nước, dựng ngọn cờ triệu tập muôn dân. Bấy giờ, chúng sẽ bồng các con trai của ngươi trên tay và vác các con gái của ngươi trên vai mà đến. 23. Các vua sẽ làm các dưỡng phụ của ngươi, các hoàng hậu sẽ làm các nhũ mẫu của ngươi. Họ sẽ sấp mình xuống đất phủ phục trước mặt ngươi. Họ sẽ liếm bụi ở chân ngươi. Bấy giờ ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, bởi vì phàm ai trông cậy Ta sẽ không bị hổ thẹn. 24. Của cải đã bị quân cường bạo cướp giựt há có thể lấy lại sao? Những người công chính bị bắt lưu đày há có thể được giải thoát sao? 25. Nhưng Đức Giê-hô-va phán thế nầy: Ngay cả những kẻ đã bị quân cường bạo bắt đi lưu đày sẽ được giải thoát. Của cải đã bị quân bạo ngược cướp đi sẽ được trả lại, bởi vì Ta sẽ đối địch với kẻ đối địch ngươi, và Ta sẽ giải cứu con cái ngươi. 26. Ta sẽ làm cho những kẻ áp bức ngươi phải ăn thịt chính mình. Chúng sẽ uống máu của mình như uống rượu ngọt. Tất cả những loài xác thịt sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, là Ðấng Giải Cứu của ngươi, là Ðấng Cứu Chuộc của ngươi, là Ðấng Quyền Năng của Gia-cốp.

 

50

  1. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Giấy ly hôn mẹ của ngươi mà Ta đã từ bỏ ở đâu? Hay là trong số các chủ nợ của Ta, Ta đã bán các ngươi cho ai? Các ngươi đã bị bán là vì tội lỗi của mình. Mẹ của các ngươi bị từ bỏ là vì sự vi phạm của các ngươi. 2. Tại sao khi Ta đến, không có một người nào? Khi Ta gọi, không ai trả lời? Có phải tay Ta quá ngắn, không thể cứu được hay sao? Hay là Ta không đủ sức để giải cứu? Nầy, Ta chỉ quở trách một tiếng, biển liền khô cạn. Ta biến sông trở thành hoang mạc, cá không có nước phải chết khát, rồi hôi thối. 3. Ta lấy sự tối tăm mặc cho các tầng trời, và khoác cho chúng một tấm vải sô.
  2. Chúa, là Đức Giê-hô-va, đã ban cho tôi lưỡi của người được dạy dỗ, để tôi biết nâng đỡ người mệt mỏi bằng lời nói. Mỗi buổi sáng Ngài đánh thức tôi, Ngài đánh thức tai tôi để tôi được dạy dỗ. 5. Chúa, là Giê-hô-va, đã mở tai của tôi. Tôi không chống lại, cũng không bỏ đi. 6. Tôi đã đưa lưng cho những kẻ đánh tôi, đưa má cho những kẻ nhổ râu tôi. Tôi không che mặt khi bị phỉ nhổ và nhục mạ. 7. Chúa, là Đức Giê-hô-va, sẽ giúp đỡ tôi, nên tôi không bị xấu hổ. Tôi làm cho mặt của tôi như đá và tôi biết rằng tôi sẽ không bị hổ thẹn. 8. Đấng tuyên xưng tôi công chính đang ở gần. Ai là kẻ đối địch tôi? Hãy cùng nhau đứng dậy! Ai là kẻ tố cáo tôi? Hãy đến gần gặp tôi. 9. Thật vậy, Chúa, là Đức Giê-hô-va, sẽ giúp đỡ tôi. Ai sẽ định tội tôi? Thật vậy, tất cả chúng nó sẽ cũ mòn như một y phục, rồi bị mối mọt ăn.
  3. Ai trong vòng các ngươi kính sợ Đức Giê-hô-va, là người nghe theo tiếng của tôi tớ Ngài? Dù bước đi trong tối tăm và không có ánh sáng, nhưng tin cậy nơi danh của Đức Giê-hô-va và nương cậy nơi Đức Chúa Trời của mình?
  4. Nầy, tất cả các ngươi là kẻ thắp lửa, bao bọc chung quanh mình với những tia lửa. Hãy đi trong ánh sáng của ngọn lửa và những tia lửa mà các ngươi đã thắp. Đây là điều các ngươi sẽ nhận từ tay của Ta: Các ngươi sẽ nằm xuống trong đau đớn.

 

51

  1. Hỡi những người đeo đuổi sự công chính, hỡi những người tìm kiếm Đức Giê-hô-va, hãy lắng nghe! Hãy nhìn vào vầng đá mà từ đó các ngươi đã được đục ra, vào cái hầm mà từ đó các ngươi đã được đào lên! 2. Hãy nhìn vào Áp-ra-ham – tổ phụ của các ngươi, và Sa-ra – là người đã cưu mang các ngươi. Khi Ta kêu gọi, người chỉ có một mình, nhưng Ta đã ban phước và làm cho người trở nên nhiều.
  2. Thật vậy, Đức Giê-hô-va sẽ an ủi Si-ôn. Ngài an ủi tất cả những nơi đổ nát của nó. Ngài sẽ làm cho hoang mạc trở nên như Ê-đen, đồng hoang trở nên vườn của Đức Giê-hô-va. Tại đó, người ta sẽ tìm thấy sự hân hoan, vui vẻ, lòng biết ơn, và lời ngợi ca.
  3. Hỡi dân của Ta! Hãy nghe Ta. Hỡi nước của Ta! Hãy lắng nghe Ta. Vì luật pháp sẽ lưu xuất từ nơi Ta và công lý của Ta sẽ là ánh sáng cho các dân tộc. 5. Sự công chính của Ta đã gần. Sự cứu rỗi của Ta đang đến. Cánh tay của Ta sẽ cai trị các dân tộc. Những vùng duyên hải sẽ trông đợi Ta và hy vọng nơi cánh tay của Ta. 6. Hãy ngước mắt của các ngươi lên các tầng trời, rồi hãy nhìn dưới đất; bởi vì các tầng trời sẽ tan biến như khói và đất sẽ cũ nát như y phục, những người sống trên đất cũng sẽ chết như vậy, nhưng sự cứu rỗi của Ta sẽ còn đời đời và sự công chính của Ta sẽ không bao giờ bị hủy bỏ.
  4. Hỡi những người hiểu biết công lý, hãy nghe Ta. Các ngươi là những người có luật pháp của Ta trong lòng, đừng sợ người ta đả kích và cũng đừng kinh hoảng vì những sự sỉ vả của họ. 8. Bởi vì mọt sẽ cắn họ như cắn y phục, sâu sẽ gặm họ như gặm len, nhưng sự công chính của Ta sẽ tồn tại mãi mãi và sự cứu rỗi của Ta sẽ còn đến muôn đời.
  5. Cánh tay của Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy thức dậy, xin hãy thức dậy, hãy mặc lấy sức mạnh. Hãy thức dậy như những ngày xa xưa, như những thế hệ trước. Không phải chính Ngài đã phân thây Ra-háp, đã đâm quái vật của biển hay sao? 10. Không phải Ngài đã làm cho biển và nước của vực sâu khô cạn hay sao? Không phải Ngài đã làm vực thẳm của biển trở thành con đường cho những người được cứu chuộc đi qua hay sao? 11. Những người được chuộc của Đức Giê-hô-va sẽ trở về, họ sẽ đến Si-ôn ca hát. Niềm vui bất diệt ở trên đầu của họ, họ sẽ vui mừng hớn hở, và sự buồn rầu than vãn sẽ lánh xa.
  6. Ta! Chính Ta là Đấng an ủi các ngươi. Ngươi là ai mà sợ loài người, là loài hay chết – và sợ con của loài người là những kẻ được dựng nên như cỏ? 13. Ngươi đã quên Đức Giê-hô-va, Đấng đã tạo ra ngươi, là Đấng đã giương các tầng trời, lập nền quả đất; nhưng cả ngày ngươi cứ liên tục sợ cơn giận dữ của kẻ đàn áp vào lúc nó toan tính hủy diệt. Nhưng cơn giận dữ của kẻ áp bức ở đâu rồi?
  7. Những người lưu đày sẽ nhanh chóng được phóng thích. Họ sẽ không chết trong ngục tối và cũng không thiếu thức ăn. 15. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của ngươi, là Ðấng đã làm cho biển động sóng gào. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. 16. Ta đã đặt lời của Ta trong miệng của ngươi. Ta đã che chở ngươi dưới bóng bàn tay của Ta. Đấng đã dựng nên các từng trời và đặt những nền của trái đất, nói với Si-ôn rằng: Ngươi là dân của Ta.
  8. Hỡi Giê-ru-sa-lem! Hãy trỗi dậy, hãy trỗi dậy, hãy đứng lên. Ngươi đã uống chén thịnh nộ từ tay của Đức Giê-hô-va. Ngươi đã uống tới cặn của chén nên say choáng váng. 18. Trong số những con trai mà nàng sinh ra, không ai hướng dẫn nàng; trong số các con trai mà nàng đã nuôi dưỡng, không ai cầm tay nàng. 19. Hoạn nạn đến với ngươi gấp đôi: tàn phá và hủy diệt, đói kém và gươm đao, nhưng không ai thương hại ngươi. Ta sẽ dùng ai để an ủi ngươi? 20. Các con trai của ngươi đã kiệt quệ, chúng nằm gục ở tất cả các đầu đường, giống như nai mắc lưới, chúng đã lãnh đủ thịnh nộ của Đức Giê-hô-va cùng sự sửa phạt từ Đức Chúa Trời của các ngươi.
  9. Vì vậy, hỡi kẻ khốn cùng, hỡi kẻ say nhưng không phải vì rượu, hãy nghe điều nầy. 22. Chúa, là Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngươi, là Đấng bênh vực dân của Ngài, phán như thế nầy: Kìa, Ta đã lấy lại từ tay ngươi cái chén đã làm cho choáng váng, là chén thịnh nộ của Ta. Ngươi sẽ không còn uống nó nữa. 23. Ta sẽ đặt nó vào tay của kẻ đã làm khổ ngươi, là những kẻ đã bảo ngươi rằng: “Hãy nằm xuống cho ta bước qua ngươi”. Ngươi đã nằm xuống, thân thể của ngươi giống như đất, giống như đường phố, mà người ta đã bước lên trên đó.

 

52

  1. Hỡi Si-ôn! Hãy trỗi dậy, hãy trỗi dậy, hãy mặc lấy sức mạnh của ngươi. Hỡi Giê-ru-sa-lem, là thành thánh! Hãy mặc trang phục xinh đẹp của ngươi, bởi vì kể từ nay kẻ không cắt bì và kẻ ô uế sẽ không còn vào chỗ của ngươi nữa. 2. Hỡi Giê-ru-sa-lem! Hãy đứng dậy, hãy giũ bụi bặm khỏi ngươi, rồi ngồi xuống. Hỡi con gái Si-ôn là kẻ tù đày! Hãy tự cởi gông cùm khỏi cổ của ngươi.
  2. Bởi vì Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Các ngươi đã bị bán mà không được trả tiền, thì cũng sẽ được chuộc lại mà không cần tiền. 4. Chúa là Đức Giê-hô-va phán: Lúc đầu, dân của Ta đã xuống Ai Cập để ở tại đó; nhưng về sau, dân A-sy-ri đã áp bức họ. 5. Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ, Ta có còn ai ở tại đây cho Ta? Bởi vì dân của Ta đã vô cớ bị lưu đày. Đức Giê-hô-va phán: Những kẻ cai trị đã khiến họ than van, và danh Ta thường xuyên bị xúc phạm mỗi ngày. 6. Vì vậy, dân của Ta sẽ biết danh Ta. Vì vậy trong ngày đó, họ sẽ biết rằng chính Ta là Ðấng phán rằng: Có Ta đây!
  3. Chân của người đem tin mừng trên các núi, thật xinh đẹp biết dường nào! Đó là người loan tin hòa bình, công bố phúc âm, loan báo sự cứu rỗi, và nói với Si-ôn rằng: Đức Chúa Trời của ngươi đang trị vì. 8. Những lính canh của ngươi sẽ trỗi tiếng. Họ sẽ cùng nhau cất tiếng hát, bởi vì họ sẽ tận mắt nhìn thấy Đức Giê-hô-va trở lại Si-ôn. 9. Hỡi những nơi đổ nát của Giê-ru-sa-lem! Hãy cùng nhau reo vui và hát ca, bởi vì Đức Giê-hô-va đã an ủi dân của Ngài. Ngài đã cứu chuộc Giê-ru-sa-lem. 10. Đức Giê-hô-va đã phơi trần cánh tay thánh của Ngài trước mắt của mọi dân tộc. Tất cả những nơi tận cùng của trái đất đều nhìn thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng ta!
  4. Hãy đi ra, hãy đi ra, hãy ra khỏi nơi đó! Đừng đụng đến đồ ô uế. Hãy ra khỏi giữa nơi đó. Các ngươi là người mang vật dụng của Đức Giê-hô-va! Hãy tinh sạch. 12. Nhưng các ngươi không phải ra đi vội vàng, cũng không cần phải trốn tránh, bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ đi trước các ngươi, và Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ đi sau để bảo vệ các ngươi.
  5. Nầy, Ðầy Tớ của Ta sẽ hành động cách khôn ngoan. Người sẽ được tôn vinh, tán tụng, và tôn cao. 14. Giống như ngươi, nhiều người sẽ ngạc nhiên vì diện mạo của Người tiều tụy hơn bất cứ người nào khác, và thể trạng của Người không giống con của loài người. 15. Cho nên, Người sẽ làm cho nhiều dân tộc phải kinh ngạc, các vua sẽ câm miệng vì Người, bởi vì họ sẽ nhìn thấy điều chưa ai nói cho mình, và sẽ suy gẫm về điều mình chưa từng nghe.

 

53

  1. Ai đã tin lời tường thuật của chúng ta? Cánh tay của Đức Giê-hô-va đã được bày tỏ cho ai? 2. Người sẽ lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi, như một cái rễ xuất phát từ đất khô. Người không có thể hình hay sự oai nghi để chúng ta chiêm ngưỡng, và cũng không có vẻ đẹp khiến chúng ta ưa thích. 3. Người đã bị người ta khinh khi ruồng bỏ – là Đấng chịu đau thương, đã trải qua sự đau ốm – bị khinh rẻ như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi Người ra gì.
  2. Thật ra, Người đã cưu mang sự đau ốm cho chúng ta, đã gánh chịu sự đau khổ vì chúng ta, mà chúng ta lại nghĩ rằng Người đã bị Đức Chúa Trời đánh, đập, và làm cho khốn khổ. 5. Nhưng Người đã vì tội lỗi của chúng ta mà bị thương tích, vì những gian ác của chúng ta mà bị đánh tan nát; bởi hình phạt Người gánh, chúng ta được bình an; bởi lằn roi Người chịu, chúng ta được chữa lành. 6. Tất cả chúng ta đều như chiên đi lạc, mỗi người đi theo đường của mình. Đức Giê-hô-va đã đặt tội lỗi của tất cả chúng ta trên Người.
  3. Người bị bức hiếp và hành hạ, nhưng không mở miệng. Như chiên con bị đem đi làm thịt, như một con chiên yên lặng trước mặt kẻ hớt lông, Người không mở miệng. 8. Bị bắt, bị xét xử, rồi Người bị dẫn đi. Trong thế hệ của Người, có ai suy nghĩ rằng Người đã bị cắt khỏi đất của người sống và Người đã bị đánh đập là vì tội lỗi của dân Ta? 9. Dù Người không hề làm điều hung dữ, và chẳng có sự dối trá trong miệng, họ đã đặt Người chung với những kẻ ác, nhưng phần mộ của Người được đặt chung với kẻ giàu.
  4. Đức Giê-hô-va vui lòng để Người bị tổn thương, Ngài đã để cho Người chịu đau khổ. Sau khi đã dâng chính mạng sống của mình làm tế lễ chuộc tội, Người sẽ nhìn thấy dòng dõi của mình. Người sẽ trường tồn và ý muốn của Đức Giê-hô-va sẽ được thành tựu bởi tay của Người. 11. Người sẽ nhìn lại sự lao khổ của đời mình và sẽ thỏa lòng. Nhờ những gì Người đã trải qua, Ðầy Tớ công chính của Ta sẽ làm cho nhiều người được xưng công chính, bởi vì Người sẽ gánh chịu những tội lỗi của họ. 12. Vì thế Ta sẽ chia phần cho Người với những vĩ nhân. Người sẽ chia chiến lợi phẩm với những bậc hùng dũng. Người đã đổ mạng sống của mình ra cho đến chết, đã bị liệt trong số những tội phạm, nhưng thật ra Người đã mang lấy tội lỗi của nhiều người và cầu thay cho những kẻ phạm tội.

 

54

  1. Hỡi người hiếm muộn, chưa sinh con! Hãy ca hát. Hỡi những phụ nữ chưa từng đau đớn vì sinh nở! Hãy trỗi tiếng reo mừng. Bởi vì con cái của phụ nữ bị bỏ sẽ đông hơn con cái của phụ nữ có chồng. – Đức Giê-hô-va phán vậy. 2. Hãy mở rộng chỗ đóng trại của ngươi. Hãy căng màn tại nơi ngươi đang ở. Đừng hạn chế. Hãy giăng dây cho dài. Hãy đóng cọc cho chắc. 3. Vì ngươi sẽ tràn ra bên phải và bên trái. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm hữu các nước và định cư trong các thành bỏ hoang.
  2. Ðừng sợ! Vì ngươi sẽ không bị hổ thẹn, và cũng đừng xấu hổ, vì ngươi sẽ không bị sỉ nhục. Thật vậy, ngươi sẽ quên sự xấu hổ của thời thanh xuân và không còn nhớ đến nỗi nhục của thời góa bụa nữa. 5. Bởi vì chồng của ngươi là Đấng Tạo Hóa, Danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. Đấng Cứu Chuộc ngươi, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, sẽ được xưng là Đức Chúa Trời của cả trái đất. 6. Hỡi người vợ bị bỏ đang đau khổ trong lòng! Đức Giê-hô-va đã gọi ngươi như một người vợ đã cưới vào thời thanh xuân. Khi ngươi bị từ bỏ, Đức Chúa Trời của ngươi phán: 7. “Ta đã bỏ ngươi trong khoảnh khắc, nhưng vì lòng thương xót lớn lao Ta sẽ đón ngươi về. 8. Khi thịnh nộ giáng xuống, Ta đã ngoảnh mặt khỏi ngươi một lúc, nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta sẽ thương xót ngươi.” Đấng Cứu Chuộc ngươi là Đức Giê-hô-va phán vậy.
  3. Bởi vì điều nầy đối với Ta giống như nước lụt trong thời của Nô-ê, giống như Ta đã thề rằng nước lụt trong thời Nô-ê sẽ không bao giờ tràn ngập trên trái đất nữa, thì Ta cũng thề rằng Ta sẽ không giận ngươi và cũng không trách phạt ngươi nữa. 10. Dù núi dời, dù đồi chuyển, nhưng lòng nhân từ của Ta không dời khỏi ngươi, và giao ước bình an của Ta chẳng chuyển lay. – Đức Giê-hô-va là Đấng thương xót ngươi phán vậy.
  4. Hỡi những kẻ cùng khốn, bị bão tố dập dồi, không được ủi an! Nầy! Ta sẽ cẩn đá của ngươi bằng những loại đá màu, lát nền của ngươi bằng bích ngọc. 12. Ta sẽ lấy hồng ngọc xây các tháp canh, dùng ngọc lấp lánh xây những cái cổng, tất cả các vách thành sẽ được xây bằng đá quý. 13. Tất cả con cái của ngươi sẽ được Đức Giê-hô-va dạy dỗ, và chúng sẽ được bình an. 14. Ngươi sẽ được thiết lập trong sự công chính. Ngươi sẽ xa cách khỏi sự áp bức, sẽ không sợ hãi và cũng không kinh hoàng, bởi vì chúng sẽ không đến gần ngươi. 15. Thực ra, chúng sẽ họp lại để chống lại ngươi, nhưng điều đó không phải đến từ Ta. Ai tấn công ngươi sẽ sụp đổ vì ngươi. 16. Nầy, chính Ta đã dựng nên người thợ rèn, là người đốt than thổi lửa để sản xuất vũ khí, Ta cũng đã dựng nên kẻ hủy diệt để tàn phá. 17. Nhưng tất cả vũ khí được chế tạo để chống lại ngươi đều không thành công. Ngươi sẽ phán xét và định tội mọi lưỡi nổi lên chống lại ngươi. Đây là cơ nghiệp của những người phục vụ Đức Giê-hô-va, và sự công chính của họ đến từ Ta. – Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

55

  1. Hỡi những người đang khát, hãy đến với nguồn nước. Ai không có tiền, hãy đến mua và ăn. Hãy đến, mua rượu và sữa mà không cần tiền và không đòi giá. 2. Tại sao các ngươi chi tiền cho vật không phải là lương thực? Tại sao các ngươi xài tiền lương của mình cho vật không làm cho no? Hãy cẩn thận nghe Ta! Hãy ăn vật ngon và để linh hồn của các ngươi thỏa thích những vật béo bổ.
  2. Hãy nghiêng tai và đến với Ta. Hãy nghe Ta thì linh hồn của các ngươi được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước đời đời, tức là tình yêu vững bền của Ta dành cho Đa-vít. 4. Nầy, Ta đã lập người làm nhân chứng cho các nước, làm lãnh đạo để chỉ huy các dân. 5. Thật vậy, ngươi sẽ gọi một nước mà ngươi không biết, và nước mà ngươi không biết, sẽ chạy đến với ngươi, bởi vì Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của ngươi, là Ðấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, đã tôn vinh ngươi.
  3. Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va trong khi có thể gặp. Hãy kêu cầu Ngài đang khi Ngài ở gần. 7. Kẻ gian ác hãy lìa bỏ đường lối của mình. Người bất chính hãy từ bỏ những ý tưởng của mình. Hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va! Ngài sẽ thương xót. Hãy đến cùng Đức Chúa Trời của chúng ta! Vì Ngài khoan dung rộng lượng.
  4. Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng của Ta không phải là ý tưởng của các ngươi. Đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta. 9. Bởi vì các tầng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối của Ta cao hơn đường lối của các ngươi, và ý tưởng của Ta cao hơn ý tưởng của các ngươi cũng bấy nhiêu. 10. Bởi vì như mưa và tuyết từ trời rơi xuống, không trở về đó nữa, nhưng đượm nhuần đất đai, làm cho đâm chồi nẩy lộc, để có hạt giống cho người gieo, có bánh cho người ăn, 11. thì lời của Ta cũng vậy – đã ra khỏi miệng của Ta thì sẽ không trở về luống công, nhưng sẽ thực hiện điều Ta muốn, và hoàn tất việc Ta giao.
  5. Thật vậy, các ngươi sẽ đi ra trong niềm vui, và được dẫn dắt trong sự bình an. Trước mặt các ngươi, núi và đồi sẽ trỗi tiếng ca hát, mọi cây cối ngoài đồng sẽ vỗ tay. 13. Cây tùng sẽ mọc lên thay cho bụi gai, cây sim sẽ lớn lên thay cho gai góc. Điều đó sẽ lưu danh Đức Giê-hô-va, và làm một chứng tích đời đời không hề bị hủy diệt.

 

56

  1. Đức Giê-hô-va phán: Hãy giữ sự chính trực và thực thi sự công chính, bởi vì sự cứu rỗi của Ta đang đến và sự công chính của Ta sắp được bày tỏ. 2. Phước cho người nào làm như vậy. Phước cho người nào trong số các con của loài người biết tuân giữ nó, tức là giữ ngày Sa-bát khỏi sự bất khiết và gìn giữ tay của mình khỏi mọi điều ác.
  2. Con cái của người ngoại quốc đã liên hiệp cùng Đức Giê-hô-va đừng nói rằng: “Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ tách tôi ra khỏi dân của Ngài.” Người bị hoạn cũng đừng nói: “Tôi chỉ là một cây khô.” 4. Bởi vì Đức Giê-hô-va phán thế nầy: Những người bị hoạn mà giữ những ngày Sa-bát của Ta, chọn điều đẹp lòng Ta, giữ vững giao ước của Ta, 5. thì Ta sẽ ban cho họ được vào trong nhà của Ta, có một chỗ trên những bức tường của Ta, và một danh tốt hơn danh của con trai con gái. Ta ban cho họ một danh đời đời, không bị dứt bỏ. 6. Con cái của người ngoại quốc đã kết hiệp cùng Đức Giê-hô-va, phục vụ Ngài, yêu mến danh của Đức Giê-hô-va, để làm những tôi tớ của Ngài, tức là mọi người giữ ngày Sa-bát khỏi sự bất khiết và giữ vững giao ước của Ta, 7. thì Ta sẽ đem họ lên núi thánh của Ta, làm cho họ vui mừng trong nhà cầu nguyện của Ta. Tế lễ thiêu và sinh tế mà họ dâng trên bàn thờ của Ta sẽ được nhậm, bởi vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc. 8. Chúa, là Đức Giê-hô-va, Đấng tập hợp những người Y-sơ-ra-ên tan lạc, phán rằng: Ta sẽ tập hợp những người khác về cùng người, bên cạnh những người đã được tập hợp.
  3. Hỡi tất cả các thú đồng! Hỡi tất cả các thú rừng! Hãy đến và ăn. 10. Tất cả những kẻ canh giữ đều đui mù, không biết gì cả. Tất cả chúng nó là chó câm, không biết sủa, chỉ mơ mộng, nằm dài, và ham ngủ. 11. Chúng nó là những con chó tham ăn – ăn không biết no. Chúng nó là những kẻ chăn chiên không hiểu biết. Tất cả chúng nó đều đi theo đường lối riêng của mình: Mỗi người tìm lợi riêng cho mình trong lĩnh vực của mình. 12. Chúng nói: Hãy đến! Tôi sẽ đem rượu, rồi chúng ta sẽ nhậu say. Ngày mai sẽ như hôm nay, và sẽ còn dài dài như vậy.

57

  1. Người công chính chết đi nhưng không ai quan tâm. Người nhân đức bị cất đi nhưng không ai hiểu rằng người công chính được cất đi là để tránh khỏi tai họa. 2. Người đi vào sự bình an – Người nào sống ngay thẳng sẽ an nghỉ trên giường của mình.
  2. Nhưng các ngươi, là con cái của phù thủy, là dòng dõi của kẻ ngoại tình và gái điếm, hãy lại gần đây! 4. Các ngươi đã cười nhạo ai? Các ngươi đã mở to miệng, le lưỡi chế giễu ai? Không phải các ngươi là con cái của kẻ tội lỗi, là dòng dõi của kẻ nói dối hay sao?
  3. Các ngươi đã hành dâm bên cây sồi, dưới mọi cây xanh. Các ngươi đã giết các con trai trong các thung lũng, dưới những hốc đá. 6. Các tảng đá bóng láng trong thung lũng thuộc về ngươi. Thật vậy, đó là tài sản của ngươi. Ngươi đã dâng lễ quán và dâng tế lễ chay ở đó. Ta có nên an nhiên trước những việc đó hay không? 7. Ngươi đã đặt giường của mình trên núi rất cao, rồi lên đó dâng sinh tế. 8. Sau các cánh cửa và các cột cửa, ngươi đã để lại kỷ niệm nhưng không phải với Ta. Ngươi đã cởi trần rồi lên giường với chúng. Ngươi đã nới rộng giường của ngươi. Ngươi đã kết ước với chúng. Ngươi đã yêu mến giường của chúng, và tại đó ngươi đã nhìn thấy.
  4. Ngươi đã đem dầu và thêm rất nhiều hương liệu đến cho Mo-lóc. Ngươi đã sai các sứ giả của ngươi đi thật xa, xuống tận âm phủ! 10. Ngươi đã mệt mỏi vì đường dài, nhưng không bao giờ nói là vô vọng. Ngươi đã tìm thấy sức mới trong tay của mình cho nên ngươi không đau buồn.
  5. Ngươi đã kiêng nể ai và kính sợ ai đến nỗi ngươi nói dối cùng Ta? Ngươi không nhớ đến Ta, cũng không để Ta tại trong lòng của ngươi? Có phải vì Ta đã im lặng khá lâu khiến ngươi không kính sợ Ta hay không? 12. Ta sẽ công bố những việc công chính của ngươi và những việc làm của ngươi, nhưng chúng sẽ chẳng giúp ích gì cho ngươi. 13. Khi ngươi kêu cứu, hãy để những thần tượng mà ngươi đã thu thập giải cứu ngươi – chỉ cần một ngọn gió, một hơi thở, sẽ thổi tất cả bọn chúng bay đi. Nhưng ai nương nhờ nơi Ta, sẽ sở hữu đất và sẽ thừa hưởng núi thánh của Ta.
  6. Có lời phán: Hãy đắp! Hãy đắp! Hãy dọn đường! Hãy dẹp bỏ chướng ngại vật khỏi đường của dân Ta! 15. Bởi vì Đấng Cao Cả – là Đấng được tôn vinh, Đấng ngự trong cõi vĩnh hằng, danh Ngài là Thánh – phán như thế nầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, nhưng Ta cũng ở với người ăn năn và có tâm linh khiêm cung, để phục hồi sức sống cho người có tâm linh khiêm cung và phục hồi sức sống cho người có tấm lòng ăn năn. 16. Ta sẽ không kết tội luôn luôn, cũng không tức giận mãi mãi; bởi vì thần linh, trong các sinh linh mà Ta đã tạo nên đang ở trước mặt Ta, sẽ gục ngã.
  7. Vì tội tham lam của nó, Ta đã nổi giận và đánh nó. Trong cơn giận dữ, Ta đã lánh mặt; nó đã sa ngã trở lại theo đường lối của lòng mình. 18. Ta đã thấy đường lối của nó, nhưng Ta sẽ chữa lành. Ta sẽ dẫn dắt, sẽ phục hồi, và sẽ an ủi cho nó cùng với những kẻ than khóc của nó. 19. Ta tạo nên bông trái của môi: “Bình an! Bình an cho kẻ ở xa và cho kẻ ở gần!” Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ chữa lành cho nó. 20. Nhưng những kẻ ác giống như biển động, không được yên tịnh. Nước động cuộn lên bùn lầy và cáu cặn. 21. Đức Chúa Trời của tôi phán: Kẻ gian ác không được hưởng bình an.

 

58

  1. Hãy hét lên thật lớn! Đừng kiềm chế! Hãy cất giọng lên như tiếng kèn để nói cho dân của Ta biết sự phản loạn của chúng và báo cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi của họ. 2. Ngày lại ngày, họ tìm kiếm Ta, muốn biết đường lối của Ta, như là một dân vui thích làm điều công chính, chưa từng lìa bỏ luật lệ của Đức Chúa Trời của họ. Họ xin Ta luật lệ và công lý, rồi vui vẻ đến gần Đức Chúa Trời. 3. Họ hỏi: “Chúng con kiêng ăn, sao Ngài không thấy? Chúng con hạ mình, sao Ngài không nhận biết?”

Xem nầy! Trong ngày kiêng ăn, các ngươi vẫn tìm điều mình ưa thích, và áp bức những người làm công cho mình. 4. Thật vậy, các ngươi kiêng ăn để cãi cọ và tranh chấp, dùng nắm tay gian ác mà đánh đấm nhau. Các ngươi đừng kiêng ăn như hiện đang làm ngày hôm nay để tiếng kêu của các ngươi sẽ thấu đến nơi cao. 5. Có phải đó là sự kiêng ăn mà Ta chọn lựa, là cách mà một người hạ mình hay không? Có phải chỉ cúi đầu xuống như một cây sậy, nằm trên vải sô trong tro bụi, các ngươi gọi đó là sự kiêng ăn, là cách được Đức Giê-hô-va chấp nhận sao? 6. Không phải sự kiêng ăn mà Ta chọn lựa đó là bỏ những xiềng gian ác, dẹp những gánh nặng nề, trả tự do cho người bị áp bức, và bẻ gãy mọi ách hay sao? 7. Không phải là chia sẻ thức ăn cho người đói, tiếp đãi người bị xua đuổi vào trong nhà, khi thấy người trần truồng thì mặc cho họ, và không ngoảnh mặt làm ngơ với anh em cốt nhục của mình hay sao?

  1. Lúc đó, ánh sáng của ngươi sẽ tỏa ra như rạng đông, ngươi sẽ nhanh chóng được chữa lành, sự công chính của ngươi sẽ đi trước mặt ngươi, và vinh quang của Đức Giê-hô-va sẽ bảo vệ sau ngươi. 9. Lúc đó, ngươi cầu xin, Đức Giê-hô-va sẽ đáp lời. Ngươi kêu cứu, Ngài sẽ phán: “Có Ta đây!”.

Nếu ngươi vứt bỏ cái ách khỏi ngươi, không dùng ngón tay xỉ vả và không nói lời độc ác, 10. nếu ngươi chu cấp cho người đói, đáp ứng cho người khốn cùng, thì ánh sáng của ngươi sẽ tỏa ra trong bóng tối, và sự tối tăm của ngươi sẽ sáng ngời như giữa trưa. 11. Đức Giê-hô-va sẽ tiếp tục dẫn dắt ngươi, đáp ứng nhu cầu của ngươi trong những nơi khô hạn, làm cho vững mạnh các xương cốt của ngươi. Ngươi sẽ như một khu vườn được tưới nước, như một dòng suối đầy nước, không bao giờ cạn nước. 12. Nhiều người giữa vòng các ngươi sẽ xây dựng lại những nơi đổ nát thời xa xưa. Ngươi sẽ lập lại những nền móng của các thế hệ trước. Ngươi sẽ được gọi là người sửa chữa nơi đổ vỡ, phục hồi lại những đường phố để cư ngụ.

  1. Nếu ngươi trở lại, giữ chân của ngươi trong ngày Sa-bát, không làm theo ý của mình trong ngày thánh của Ta, nếu ngươi xem ngày Sa-bát là ngày vui thích, ngày thánh của Đức Giê-hô-va là đáng trọng, nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi theo đường riêng của mình, không tìm theo ý thích riêng của mình, không nói những lời riêng của mình; 14. thì ngươi sẽ được vui thỏa trong Đức Giê-hô-va. Ta sẽ cho ngươi rong ruỗi trên những nơi cao trên đất, chu cấp cho ngươi bằng cơ nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ của ngươi.

Vì chính miệng của Đức Giê-hô-va đã phán như vậy.

 

59

  1. Nầy, tay của Đức Giê-hô-va không phải quá ngắn mà không cứu được, tai của Ngài cũng không phải quá nặng mà không nghe được. 2. Nhưng chính vì sự gian ác của các ngươi đã ngăn cách các ngươi với Đức Chúa Trời của các ngươi, tội lỗi của các ngươi đã khiến Ngài ẩn mặt không nghe các ngươi. 3. Bởi vì bàn tay của các ngươi đã bị nhơ nhớp vì máu, ngón tay của các ngươi đã bị ô uế vì tội ác, môi của các ngươi đã nói lời dối trá, lưỡi của các ngươi đã thì thầm việc bất chính, 4. không ai công bố sự công chính, không ai theo đuổi sự chân thật. Người ta tin cậy vào sự hư không và lời gian dối, cưu mang chuyện gian ác, rồi đẻ ra tội lỗi. 5. Chúng ấp trứng rắn và dệt màng nhện. Ai ăn trứng của chúng sẽ chết, còn trứng nào vỡ ra sẽ nở ra rắn độc. 6. Tơ sợi của mạng nhện sẽ không tạo thành y phục: những việc làm của chúng cũng không thể dùng để che thân. Các công việc của chúng là việc làm tội lỗi, hành động của tay chúng là hành động gian ác. 7. Chân của chúng chạy theo điều ác, nhanh chóng làm đổ máu vô tội, tư tưởng của chúng là tư tưởng gian tà, đường lối của chúng đem lại sự hủy diệt và tàn phá. 8. Chúng không biết đường lối hòa bình, không có sự công chính trong đường lối của chúng. Chúng tự làm cho lươn lẹo đường lối của chúng, ai chọn đường đó sẽ không có sự bình an.
  2. Vì vậy, công lý đã xa cách chúng con, sự công chính không đến gần chúng con. Chúng con cầu mong ánh sáng, nhưng chỉ có tối tăm. Chúng con bước đi trong bóng tối, mặc dù đang có sự sáng. 10. Chúng con mò mẫm men theo tường như một người mù. Chúng con mò mẫm như một người không có mắt. Chúng con vấp ngã vào lúc giữa trưa, như bị vấp ngã vào lúc chạng vạng. Chúng con ở giữa những người mạnh khỏe mà chúng con như người đã chết. 11. Chúng con gầm gừ như gấu, tất cả chúng con than thở não nề như chim bồ câu. Chúng con mong đợi công lý, nhưng không có. Chúng con mong đợi sự cứu rỗi, nhưng điều đó quá xa, 12. bởi vì những vi phạm của chúng con thật quá nhiều ở trước mặt Ngài. Tội lỗi của chúng con làm chứng chống lại chúng con; bởi vì những vi phạm của chúng con đang ở với chúng con, và chúng con biết những gian ác của mình. 13. Chúng con đã phản loạn, đã gian dối cùng Đức Giê-hô-va, và đã lìa bỏ Đức Chúa Trời của chúng con. Chúng con nói điều bạo ngược và phản loạn. Chúng con cưu mang rồi thốt ra những lời dối trá từ trong lòng. 14. Công lý bị đẩy lui, sự công chính đứng xa. Bởi vì chân lý đã vấp ngã tại giữa quảng trường cho nên sự ngay thẳng không thể vào được. 15. Bởi vì chân lý đã lìa khỏi cho nên người nào lánh xa điều ác thì bị cướp giật. Đức Giê-hô-va đã thấy và Ngài buồn lòng bởi vì không còn công lý.
  3. Ngài nhìn nhưng không có ai cả, và Ngài kinh ngạc bởi vì không ai khẩn cầu. Ngài đã dùng chính cánh tay của Ngài để đem sự cứu rỗi đến, và dùng sự công chính của Ngài để duy trì. 17. Ngài mặc áo giáp bằng sự công chính, đội mão cứu rỗi trên đầu, mặc y phục của sự báo thù, và khoác áo choàng của sự nhiệt thành. 18. Ngài sẽ báo trả tùy theo công việc mà họ đã làm: Sự thịnh nộ dành cho kẻ chống đối, báo trả cho kẻ thù, và Ngài sẽ hoàn trả cho dân cư của những vùng duyên hải. 19. Từ phương tây, người ta sẽ kính sợ danh của Đức Giê-hô-va; những người từ phía mặt trời mọc sẽ kính sợ sự vinh quang của Ngài. Bởi vì sự phiền muộn sẽ kéo đến như một dòng sông, nhưng hơi thở của Đức Giê-hô-va sẽ nâng đỡ nó. 20. Đấng Cứu Chuộc sẽ đến Si-ôn, đến cùng những người thuộc về Gia-cốp đã từ bỏ tội lỗi. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  4. Đức Giê-hô-va phán: Về phần Ta, đây là giao ước mà Ta đã lập với họ: Thần của Ta sẽ ngự trên ngươi. Những lời của Ta mà Ta đã đặt trong miệng ngươi sẽ không rời khỏi miệng ngươi, hay rời khỏi miệng của con cháu ngươi, hay rời khỏi miệng của con cháu của con cháu ngươi từ nay cho đến đời đời – Đức Giê-hô-va phán.

 

60

  1. Hãy trỗi dậy và tỏa sáng, bởi vì sự sáng của ngươi đã đến. Vinh quang của Đức Giê-hô-va tỏa rạng trên ngươi. 2. Hãy nhìn xem: Bóng tối sẽ phủ trùm mặt đất, bóng đen dày đặc sẽ bao trùm trên nhiều dân tộc, nhưng Đức Giê-hô-va sẽ chiếu sáng trên ngươi, vinh quang của Ngài sẽ được nhìn thấy trên ngươi. 3. Các dân sẽ đến với ánh sáng của ngươi; các vua sẽ đến với ánh quang đang tỏa sáng của ngươi. 4. Hãy ngước mắt của ngươi lên rồi nhìn chung quanh. Tất cả đang tụ họp lại để đến với ngươi. Các con trai của ngươi sẽ đến từ xa, và các con gái của ngươi sẽ được nuôi nấng bên cạnh ngươi.
  2. Khi đó, ngươi sẽ nhìn thấy và được rạng rỡ, lòng của ngươi sẽ gia tăng sự vui mừng, bởi vì sự phong phú của biển cả sẽ được tuôn đổ cho ngươi, và sự giàu có của các nước sẽ đến với ngươi. 6. Rất nhiều lạc đà sẽ phủ đầy xứ sở của ngươi, đó là những lạc đà tơ một bướu của Ma-đi-an và Ê-pha. Tất cả Sê-ba sẽ đến: Họ đem theo vàng với trầm hương, và dâng lời ca ngợi Đức Giê-hô-va. 7. Tất cả những bầy súc vật của Kê-đa sẽ được tập trung về chỗ của ngươi. Các chiên đực của Nê-ba-giốt sẽ do ngươi quản trị. Chúng sẽ được chấp nhận trên bàn thờ của Ta. Ta sẽ làm cho ngôi nhà vinh quang của Ta được vinh hiển.
  3. Những người nầy là ai mà bay như mây, giống như chim bồ câu đang bay về tổ? 9. Các vùng duyên hải sẽ trông đợi Ta. Trước hết, những chiếc tàu của Ta-rê-si sẽ đem các con trai của ngươi cùng vàng và bạc từ phương xa về để tôn vinh danh của Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngươi, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã làm cho ngươi được vinh hiển.
  4. Con cái của người ngoại quốc sẽ xây dựng những tường thành của ngươi. Các vua của họ sẽ phục vụ ngươi. Vì trong cơn thịnh nộ, Ta đã đánh ngươi, nhưng trong lúc thi ân, Ta thương xót ngươi. 11. Các cổng thành ngươi sẽ luôn luôn mở, cả ngày lẫn đêm không bao giờ đóng, để các vua ngoại quốc diễn hành đem của cải của các quốc gia đến cho ngươi. 12. Bởi vì dân tộc nào vương quốc nào không thần phục ngươi sẽ bị diệt vong, các dân tộc đó sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. 13. Vinh quang của Li-ban sẽ đến với ngươi: Cây tùng, cây thông, và cây bách sẽ làm đẹp thánh điện của Ta. Ta sẽ làm cho nơi Ta đặt chân được vinh hiển. 14. Con cái của những kẻ đã áp bức ngươi sẽ đến sấp mình trước ngươi. Tất cả những kẻ đã khinh bỉ ngươi sẽ phủ phục dưới chân của ngươi. Chúng sẽ gọi ngươi là thành của Đức Giê-hô-va, và Si-ôn thuộc về Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
  5. Thay vì ngươi bị lãng quên, bị ghét bỏ, đến nỗi không ai đi qua chỗ của ngươi, thì Ta sẽ làm cho ngươi được tôn trọng mãi mãi, và là niềm vui cho nhiều thế hệ. 16. Ngươi sẽ hút sữa của các nước, cùng sữa từ ngực của các vua. Ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng Cứu Rỗi của ngươi, là Đấng Cứu Chuộc của ngươi, là Đấng Toàn Năng của Gia-cốp. 17. Ta sẽ ban vàng thay cho đồng, Ta sẽ ban bạc thay cho sắt, đồng thay cho gỗ, sắt thay cho đá. Ta sẽ khiến sự bình an giám sát ngươi và sự công chính đốc thúc ngươi. 18. Xứ sở của ngươi sẽ không còn nghe nói đến bạo lực, lãnh thổ của ngươi cũng không còn cảnh hoang phế điêu tàn. Ngươi sẽ gọi tường thành của mình là “Sự Cứu Rỗi” và gọi các cổng thành của mình là “Sự Ca Ngợi.” 19. Mặt trời sẽ không còn là nguồn sáng cho ngươi vào ban ngày; mặt trăng sẽ không còn ban ánh sáng ngươi trong ban đêm; nhưng Đức Giê-hô-va sẽ là ánh sáng đời đời cho ngươi. Đức Chúa Trời của ngươi sẽ là vinh quang của ngươi. 20. Mặt trời của ngươi sẽ không còn lặn nữa, mặt trăng sẽ chẳng còn khuyết nữa, vì Đức Giê-hô-va sẽ là ánh sáng đời đời cho ngươi. Những ngày sầu thảm của ngươi đã chấm dứt. 21. Tất cả dân của ngươi sẽ là công chính, họ sẽ sở hữu đất này đời đời. Họ là chồi mà Ta đã trồng, là công việc của tay Ta, để Ta được vinh hiển. 22. Người nhỏ nhất sẽ có cả ngàn con cháu, người hèn yếu nhất sẽ trở nên một dân hùng mạnh. Chính Ta là Đức Giê-hô-va. Ta sẽ nhanh chóng thực hiện điều nầy trong thời điểm của nó.

 

61

  1. Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên Ta, bởi vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho Ta để giảng tin lành cho người nghèo. Ngài sai Ta đến để chữa lành những tấm lòng tan vỡ, để công bố tự do cho kẻ bị lưu đày, để giải thoát cho những người bị giam cầm trong ngục, 2. để công bố năm thi ân của Đức Giê-hô-va, cùng ngày báo thù của Đức Chúa Trời của chúng ta, để an ủi tất cả những người than khóc, 3. và ban cho những người than khóc tại Si-ôn mão hoa thay vì tro bụi, dầu vui mừng thay vì tang chế, áo ngợi ca thay vì tâm linh u buồn.

Họ sẽ được gọi là cây công chính, là cây mà Đức Giê-hô-va đã trồng để Ngài được vinh hiển. 4. Họ sẽ xây lại những nơi đổ nát ngày xưa, dựng lại những nơi hoang tàn từ thuở trước. Họ sẽ tu sửa, sẽ dựng lại những thành bị phá hủy, là những nơi đã bị hoang phế từ bao thế hệ.

  1. Các kiều dân sẽ đứng lên để chăn những bầy súc vật cho các ngươi. Con cái của những người ngoại quốc sẽ là những người cày ruộng và là những người chăm sóc vườn nho cho các ngươi. 6. Nhưng các ngươi sẽ được gọi là thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, và người ta sẽ gọi các ngươi là đầy tớ của Đức Chúa Trời của chúng ta. Các ngươi sẽ hưởng sự giàu có của các nước và thu thập vinh quang của chúng. 7. Thay vì xấu hổ, các ngươi sẽ được hưởng gấp đôi. Thay vì nhục nhã, sẽ vui mừng nhận phần thuộc về mình. Các ngươi sẽ có sản nghiệp gấp đôi tại trong xứ và sẽ được niềm vui bất tận. 8. Bởi vì Ta, là Đức Giê-hô-va, yêu thích sự chính trực. Ta ghét sự trộm cắp tế lễ thiêu. Ta sẽ ban thưởng cho họ theo sự thành tín, và sẽ lập một giao ước đời đời với họ. 9. Dòng dõi của họ sẽ được nổi tiếng trong các nước, con cháu của họ sẽ nổi danh giữa các dân. Tất cả những ai thấy họ đều công nhận rằng họ là dòng dõi được Đức Giê-hô-va ban phước.
  2. Tôi sẽ hớn hở vô cùng trong Đức Giê-hô-va, linh hồn tôi sẽ hân hoan trong Ðức Chúa Trời của tôi; bởi vì Ngài đã mặc cho tôi trang phục của sự cứu rỗi, đã khoác trên tôi chiếc áo choàng của sự công chính. Giống như một chàng rể đội mão thanh lịch, chàng đã mặc cho cô dâu bằng nhiều nữ trang lộng lẫy. 11. Bởi vì giống như đất làm cho đâm chồi nẩy lộc, như khu vườn là nơi gieo hạt nẩy mầm, thì Chúa, là Giê-hô-va, sẽ làm cho sự công chính nẩy mầm và lời ca ngợi trỗi vang trước mặt tất cả các dân tộc.

 

62

  1. Vì cớ Si-ôn Ta sẽ không nín lặng, vì cớ Giê-ru-sa-lem Ta sẽ không nghỉ ngơi, cho đến khi sự công chính của nàng tỏa sáng rực rỡ, và sự cứu rỗi của nàng sáng rực như đuốc. 2. Bấy giờ, các nước sẽ nhìn thấy sự công chính của ngươi, các vua sẽ chiêm ngưỡng vinh hiển của ngươi. Ngươi sẽ được gọi bằng một tên mới, do chính miệng Đức Giê-hô-va đặt cho ngươi. 3. Ngươi sẽ là một mão miện huy hoàng trong tay của Đức Giê-hô-va, một vương miện trong tay Ðức Chúa Trời của ngươi. 4. Ngươi sẽ không bị gọi là “kẻ bị ruồng bỏ”, và xứ sở của ngươi cũng không bị gọi là “chốn hoang tàn”, nhưng ngươi sẽ được gọi là “người mà Ta vui thích” và xứ sở của ngươi sẽ được gọi là “xứ sở có chủ”, bởi vì Đức Giê-hô-va vui thích về ngươi và xứ sở của ngươi sẽ có chồng. 5. Như một trinh nữ thành hôn cùng một thanh niên, ngươi sẽ thành hôn và có các con trai. Như chú rể vui mừng vì cô dâu, Đức Chúa Trời của ngươi cũng vui mừng vì ngươi.
  2. Hỡi Giê-ru-sa-lem! Ta đã đặt những người canh gác trên các tường thành của ngươi. Cả ngày lẫn đêm, họ sẽ không nín lặng. Hỡi những người tuyên xưng Đức Giê-hô-va! Đừng nín lặng. 7. Xin đừng để cho Ngài nghỉ ngơi, cho đến khi Ngài thiết lập, cho đến khi Ngài làm cho Giê-ru-sa-lem được ca ngợi trên đất. 8. Đức Giê-hô-va đã đưa bàn tay phải và cánh tay quyền năng của Ngài mà thề: Ta sẽ không ban ngũ cốc của ngươi làm lương thực cho kẻ thù của ngươi nữa. Các con trai của người ngoại quốc sẽ không được uống rượu nho mới mà ngươi đã khó nhọc làm ra. 9. Nhưng người nào gặt, sẽ ăn, rồi ca ngợi Đức Giê-hô-va; người nào hái sẽ được uống tại sân đền thánh của Ta.
  3. Hãy đi qua! Hãy đi qua các cổng thành. Hãy dọn đường cho dân chúng. Hãy xây dựng! Hãy xây dựng một đại lộ. Hãy gỡ bỏ những tảng đá. Hãy dựng cờ hiệu triệu các dân. 11. Nầy, Đức Giê-hô-va đã rao truyền cho đến tận cùng trái đất: Hãy nói với con gái của Si-ôn rằng: Kìa, sự cứu rỗi của ngươi đang đến! Phần thưởng đang ở với Ngài, và sự ban thưởng ở trước mặt Ngài. 12. Người ta sẽ gọi họ là “dân thánh”, là “những người được Đức Giê-hô-va cứu chuộc”. Còn ngươi sẽ được gọi là “một thành phố được tìm kiếm”, không phải là “một thành phố bị ruồng bỏ”.

 

63

  1. Đấng đến từ Ê-đôm, mặc áo đỏ thẫm của Bốt-ra, là ai? Đấng có trang phục lộng lẫy và bước đi với quyền năng vĩ đại, là ai?

Chính Ta! Ðấng phán lời công chính, là Ðấng giải cứu quyền năng.

  1. Tại sao y phục của Ngài bị nhuộm đỏ? Tại sao trang phục của Ngài như của người đạp bồn nho?
  2. Một mình Ta đã đạp tại bồn nho. Không có ai trong các dân còn lại với Ta. Bởi vì trong cơn tức giận Ta đã chà đạp chúng. Chúng bị giẫm nát trong cơn thịnh nộ của Ta. Máu của chúng văng lên y phục của Ta. Toàn bộ y phục của Ta bị vấy máu. 4. Bởi vì lòng của Ta đã định ngày báo thù, và năm cứu chuộc của Ta đã đến. 5. Ta nhìn xem nhưng không ai giúp. Ta ngạc nhiên vì không ai hỗ trợ. Cánh tay của Ta đã đem lại chiến thắng cho Ta, và cơn thịnh nộ của Ta đã hỗ trợ Ta. 6. Ta chà đạp các dân trong cơn giận. Ta khiến chúng phải uống chén thịnh nộ của Ta, và làm cho máu của chúng đổ ra trên đất.
  3. Tôi sẽ nhắc lại tình thương của Đức Giê-hô-va, và những lời ca ngợi Đức Giê-hô-va, về mọi điều Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng ta, và những ơn phước lớn lao mà Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, mà Ngài đã ban cho họ theo ơn thương xót của Ngài, và theo tình thương vô lượng của Ngài. 8. Vì Ngài đã phán: Thật vậy! Họ là dân của Ta, là những đứa con không lừa dối – và Ngài đã trở thành Đấng Giải Cứu họ. 9. Ngài đã chịu khổ đau trong tất cả những khổ đau của họ. Thiên sứ trước mặt Ngài đã giải cứu họ. Vì tình thương và lòng thương xót của Ngài, Ngài đã cứu chuộc họ. Ngài đã nhấc họ lên và bồng ẵm họ suốt từ những ngày xa xưa.
  4. Nhưng họ đã nổi loạn rồi làm buồn Ðức Thánh Linh của Ngài, cho nên Ngài đã trở thành kẻ thù của họ. Ngài đã chiến đấu chống lại họ. 11. Và rồi, Ngài nhớ lại những ngày xa xưa về Môi-se và đoàn dân của ông. Đấng đã cứu người chăn bầy của Ngài và họ khỏi biển, đâu rồi? Đấng đã đặt Đức Thánh Linh của Ngài ở giữa họ đâu rồi? 12. Đấng đã dẫn dắt họ bằng cánh tay vinh quang của Ngài, qua bàn tay phải của Môi-se, là Đấng đã rẽ nước ra trước mặt họ để cho danh của Ngài còn mãi đời đời, đâu rồi? 13. Ðấng đã dẫn họ vượt qua những vực thẳm, giống như ngựa phi giữa hoang mạc không hề vấp ngã, đâu rồi? 14. Như súc vật đi xuống thung lũng, Thần của Đức Giê-hô-va đã ban cho họ sự nghỉ ngơi. Ngài đã dẫn dắt dân của Ngài để làm cho danh của Ngài được vinh hiển.
  5. Từ nơi ngự thánh và vinh hiển của Ngài ở trên trời, xin hãy nhìn xuống. Lòng nhiệt thành của Ngài, sức mạnh của Ngài, sự thúc giục trong lòng của Ngài, và sự thương xót của Ngài dành cho con, đâu rồi? Chúng bị kiềm hãm hay sao?
  6. Thật vậy, Ngài là Cha của chúng con. Dù cho Áp-ra-ham không còn biết đến chúng con, và dù cho Y-sơ-ra-ên không còn nhìn nhận chúng con nữa, thì Ngài, Đức Giê-hô-va, vẫn là Cha của chúng con, là Ðấng Cứu Chuộc của chúng con, và danh Ngài tồn tại mãi mãi. 17. Đức Giê-hô-va ôi! Vì sao Ngài để cho chúng con xa lạc đường lối của Ngài? Vì sao Ngài để cho lòng của chúng con chai đá không kính sợ Ngài? Vì cớ các tôi tớ của Ngài, vì cớ các chi tộc là cơ nghiệp của Ngài, xin Ngài quay trở lại.
  7. Dân thánh của Ngài đã sở hữu nơi này chỉ ít lâu, nhưng các kẻ thù của chúng con đã giày đạp nơi thánh của Ngài. 19. Đã từ lâu, chúng con như những người không hề được Ngài cai trị, như những người không hề kêu cầu đến danh của Ngài.

 

64

  1. Ôi, ước gì Ngài xé các từng trời để ngự xuống, làm cho các ngọn núi rúng động trước mặt Ngài. 2. Như lửa đốt củi, như lửa làm cho nước sôi, xin hãy làm cho những kẻ thù của Ngài biết đến danh của Ngài, và làm cho các dân tộc run rẩy trước sự hiện diện của Ngài. 3. Ngài đã làm những việc đáng sợ mà chúng con không ngờ. Khi Ngài ngự xuống, núi non rung chuyển trước mặt Ngài. 4. Từ thuở xa xưa, người ta chưa từng nghe, tai chưa hề tiếp nhận, mắt chưa hề nhìn thấy, ngoài Ngài, không có Đức Chúa Trời nào khác, đã hành động như thế cho người trông đợi Ngài. 5. Ngài gặp những người vui vẻ làm điều công chính, đã tưởng nhớ đến Ngài và đường lối của Ngài. Kìa Ngài đã nổi giận bởi vì chúng con đã phạm tội. Phạm tội lâu như vậy mà chúng con vẫn được cứu hay sao? 6. Tất cả chúng con giống như một vật ô uế. Tất cả những việc làm công chính của chúng con giống như một miếng giẻ bẩn thỉu. Tất cả chúng con đều khô héo như một chiếc lá, và rồi tội ác chúng con, giống như gió, đã đùa chúng con đi. 7. Không ai tìm cầu danh của Ngài. Không ai thức tỉnh để bám víu lấy Ngài. Vì Ngài đã ẩn mặt khỏi chúng con, tội lỗi của chúng con đã thiêu hủy chúng con.
  2. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là Cha của chúng con. Chúng con là đất sét và Ngài là thợ gốm. Tất cả chúng con là sản phẩm của tay Ngài. 9. Đức Giê-hô-va ôi! Xin đừng quá giận. Xin Ngài đừng nhớ mãi về tội lỗi của chúng con. Nầy, xin Ngài hãy xem: Tất cả chúng con đều là dân của Ngài. 10. Các thành thánh của Ngài bị hoang vu, Si-ôn bị hoang vu, Giê-ru-sa-lem là một chỗ điêu tàn. 11. Đền thánh đẹp đẽ của chúng con, là nơi mà tổ phụ của chúng con ca ngợi Ngài, đã bị thiêu hủy. Tất cả những nơi mà chúng con yêu quý đã bị tàn phá. 12. Đức Giê-hô-va ôi! Trước những việc nầy, Ngài vẫn giữ mình, Ngài vẫn im lặng, vẫn để cho chúng con bị đau khổ nặng nề như vậy hay sao?

 

65

  1. Những người vốn không cầu khẩn Ta, đã cầu xin Ta. Những người vốn chẳng tìm Ta, đã gặp được Ta. Ta đã phán với một dân tộc chưa từng kêu cầu danh Ta rằng: Có Ta đây! Có Ta đây! 2. Suốt ngày Ta đã giang tay ra hướng về một dân tộc phản nghịch, là những kẻ đi trong đường lối không tốt theo ý riêng của mình, 3. là một dân tộc tiếp tục chọc giận trước mặt Ta. Chúng dâng sinh tế trong các khu vườn, xông hương trên những đống gạch, 4. ngồi trong mồ mả, qua đêm trong nơi kín đáo, ăn thịt heo, dùng nước canh của những vật kinh tởm trong các vật dụng của chúng. 5. Chúng là những kẻ đã nói: “Ngươi hãy đứng riêng ra! Đừng lại gần ta, vì ta thánh khiết hơn ngươi!” Những điều đó là khói nơi mũi của Ta, như lửa cháy suốt ngày. 6. Hãy xem điều đã được ghi chép trước mặt Ta: Ta sẽ không nín lặng, nhưng Ta sẽ báo trả. Ta sẽ báo trả vào lòng của chúng, 7. về những tội lỗi của các ngươi cũng như những tội lỗi của tổ phụ các ngươi. – Đức Giê-hô-va phán như vậy – Bởi vì chúng đã xông hương trên các núi, đã nói phạm đến Ta trên các đồi, cho nên Ta sẽ đo lường việc làm trước kia của chúng để báo trả vào lòng của chúng.
  2. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Khi người ta thấy rượu mới trong chùm nho, thì nói rằng: “Đừng hủy hoại nó, bởi vì trong đó có phước lành.” Ta cũng sẽ làm như vậy vì cớ những đầy tớ của Ta. Ta sẽ không hủy diệt tất cả. 9. Ta sẽ khiến một dòng dõi ra từ Gia-cốp, và một người thừa kế những ngọn núi của Ta sẽ ra từ Giu-đa. Người mà Ta chọn sẽ thừa hưởng điều đó, và các đầy tớ của Ta sẽ ở tại đó. 10. Sa-rôn sẽ là đồng cỏ cho các bầy súc vật, thung lũng A-cô sẽ là chỗ nghỉ ngơi cho những đàn bò, bởi vì dân của Ta đã tìm kiếm Ta. 11. Nhưng các ngươi là những kẻ đã từ bỏ Đức Giê-hô-va, đã quên núi thánh của Ta, các ngươi đã bày bàn tiệc cho thần May Mắn, đã rót rượu dâng cho thần Định Mệnh; 12. vì vậy, Ta sẽ định phần số cho các ngươi bị gươm đao. Tất cả các ngươi phải cúi xuống để bị giết. Bởi vì Ta đã kêu gọi mà các ngươi không đáp lời. Ta đã phán mà các ngươi không lắng nghe. Các ngươi đã làm điều gian ác trước mắt Ta, và đã chọn điều mà Ta không hài lòng.
  3. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy xem! Các tôi tớ của Ta sẽ ăn, nhưng các ngươi sẽ đói. Hãy xem! Các tôi tớ của Ta sẽ uống, nhưng các ngươi sẽ khát. Hãy xem! Các tôi tớ của Ta sẽ hân hoan, nhưng các ngươi sẽ bị nhục nhã. 14. Các tôi tớ của Ta sẽ ca hát vì lòng đầy vui vẻ, nhưng các ngươi sẽ kêu la bởi vì lòng tràn ngập đau buồn. Các ngươi sẽ than khóc bởi vì tâm linh sầu khổ. 15. Tên của các ngươi, mà các ngươi lưu lại, sẽ giống như là một lời nguyền rủa đối với người được chọn của Ta. Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va sẽ giết ngươi, nhưng Ngài sẽ gọi các tôi tớ của Ngài bằng một tên khác. 16. Vì vậy, người nào ở trên đất cầu chúc cho chính mình sẽ nhân danh Đức Chúa Trời chân thật mà cầu, những ai trên đất thề nguyện sẽ nhân danh Đức Chúa Trời chân thật mà thề, bởi vì những khổ đau trước kia đã bị quên lãng và đã bị che khuất khỏi mắt của Ta.
  4. Hãy xem! Ta đang tạo dựng những trời mới và đất mới. Những việc trước kia sẽ không còn được nhớ đến, không còn đến trong tâm trí nữa. 18. Nhưng hãy hân hoan và vui mừng mãi mãi về những gì Ta đang tạo dựng. Vì nầy, Ta tạo nên Giê-ru-sa-lem như một nguồn vui, Ta dựng nên dân của thành đó như một niềm hoan hỉ. 19. Ta sẽ vui mừng vì Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ hoan hỉ vì dân của Ta. Nơi đó sẽ không còn nghe tiếng than hay tiếng khóc. 20. Tại đó sẽ không có trẻ thơ chết yểu, cũng không có người già nào không tròn tuổi thọ, bởi vì chết lúc trăm tuổi là chết trẻ, và người không đạt đến trăm tuổi được coi như là bị nguyền rủa. 21. Họ sẽ xây nhà và cư ngụ, sẽ trồng những vườn nho và ăn trái của chúng. 22. Họ sẽ không xây nhà để người khác ở, không trồng vườn nho để người khác ăn; bởi vì tuổi thọ của dân Ta sẽ như tuổi của cây. Người được chọn của Ta sẽ hưởng công việc do tay mình làm. 23. Họ sẽ không lao nhọc vô ích, không sinh con để gặp hoạn nạn, bởi vì họ là dòng dõi được Đức Giê-hô-va ban phước, và con cháu của họ sẽ gần gũi họ. 24. Và rồi, Ta sẽ nhậm lời họ trước khi họ kêu cầu Ta. Trong khi họ còn đang nói, thì Ta sẽ nghe. 25. Chó sói và chiên con sẽ ăn chung, sư tử sẽ ăn rơm như bò, bụi đất sẽ là thức ăn cho rắn. Không có ai bị tổn hại hay bị hủy diệt trên khắp núi thánh của Ta – Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

66

  1. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Trời là ngai Ta, đất là bệ chân của Ta. Các ngươi sẽ xây nhà cho Ta ở đâu, và chỗ nghỉ ngơi cho Ta là nơi nào?
  2. Đức Giê-hô-va phán: Tay của Ta đã làm ra tất cả những điều này, cho nên tất cả được hiện hữu. Đây là người mà Ta đoái xem. Đó là người khiêm nhường và có tâm linh thống hối, là người run sợ khi nghe lời của Ta. 3. Nhưng kẻ giết một người thay vì giết một con bò, bẻ gãy cổ một con chó thay vì dâng sinh tế một con chiên, dâng huyết heo thay vì dâng tế lễ chay, thờ thần tượng thay vì đốt hương – Chúng đã chọn đường lối riêng của mình, lòng của chúng chỉ ưa thích những việc ghê tởm. 4. Vì vậy, Ta sẽ chọn những tai ương cho chúng, Ta sẽ đem đến cho chúng điều mà chúng kinh hãi, bởi vì Ta đã gọi mà không ai đáp lại, Ta đã phán mà không ai lắng nghe. Chúng đã làm điều ác trước mắt Ta và đã chọn điều Ta không đẹp lòng. 5. Hỡi những kẻ run sợ vì lời của Ngài, hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va: Anh em của ngươi, là những người ghét các ngươi, và nhân danh Ta loại bỏ các ngươi, nói rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va được vinh quang, để chúng ta thấy sự vui mừng của các ngươi. Nhưng chúng nó sẽ bị hổ thẹn. 6. Có tiếng ồn ào từ trong thành! Có tiếng phát ra từ đền thờ! Đó là tiếng của Đức Giê-hô-va, Đấng báo trả những kẻ thù của Ngài.
  3. Trước khi chuyển dạ, nàng đã sinh con. Trước khi cơn đau quặn thắt của nàng kéo đến, nàng đã sinh một con trai. 8. Ai đã nghe một việc như vậy? Ai đã thấy những việc như thế nầy? Có đất nước nào chuyển dạ trong một ngày, hay dân tộc nào được sinh ra trong một lúc hay không? Nhưng Si-ôn vừa chuyển dạ đã sinh những đứa con. 9. Đức Giê-hô-va phán: Lẽ nào Ta làm cho đủ ngày tháng, nhưng không cho sanh? Đức Chúa Trời của ngươi phán: Lẽ nào Đấng làm cho sanh, lại đóng tử cung?
  4. Hỡi tất cả những người yêu mến Giê-ru-sa-lem! Hãy vui mừng và hân hoan với nàng. Hỡi tất cả những người than khóc Giê-ru-sa-lem! Hãy cùng nàng hớn hở vui mừng. 11. Để các ngươi được bú và được thỏa thuê nơi ngực của sự an ủi. Để các ngươi được uống và thỏa thích từ nguồn sung mãn vinh quang của nàng.
  5. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ cho sự bình an cho nàng như một dòng sông, và vinh quang của các nước như một dòng suối. Các ngươi sẽ được bú, được bồng ẵm bên hông, và được mơn trớn trên đầu gối. 13. Ta sẽ an ủi các ngươi như một người mẹ an ủi con của mình. Các ngươi sẽ được an ủi tại Giê-ru-sa-lem. 14. Các ngươi sẽ thấy và lòng hân hoan. Xương cốt của các ngươi sẽ nẩy nở như cỏ. Người ta sẽ biết rằng tay của Đức Giê-hô-va ở cùng những tôi tớ của Ngài, nhưng cơn thịnh nộ dành cho những kẻ thù của Ngài.
  6. Vì nầy, Đức Giê-hô-va sẽ ngự đến trong lửa, các xe chiến mã của Ngài như bão tố, để báo trả cơn giận của Ngài bằng thịnh nộ, và sự quở trách của Ngài trong ngọn lửa. 16. Bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ dùng lửa và gươm phán xét mọi xác thịt, và nhiều người sẽ bị chết bởi Đức Giê-hô-va. 17. Những kẻ làm cho mình thánh khiết, làm cho mình tinh sạch, để vào những khu vườn, theo một người đứng ở giữa – là những kẻ ăn thịt heo, những vật ghê tởm, và chuột. Đức Giê-hô-va phán: Tất cả chúng nó sẽ bị hủy diệt.
  7. Vì Ta biết rõ hành động và tư tưởng của chúng. Ta sẽ đến, tập họp tất cả các nước và các ngôn ngữ lại. Chúng sẽ đến và thấy vinh quang của Ta. 19. Ta sẽ đặt một dấu hiệu ở giữa họ, rồi sai những người sống sót của họ đến các nước Ta-rê-si, Phun, Lút, là dân có tài bắn cung, đến Tu-banh và Gia-van, đến những vùng duyên hải xa xôi, là nơi chưa nghe nói về Ta và chưa từng thấy vinh quang của Ta. Họ sẽ công bố vinh quang của Ta ở giữa các nước. 20. Đức Giê-hô-va phán: Họ sẽ đem tất cả những anh em của các ngươi từ mọi nước trở về để làm một lễ vật dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Người ta chở họ trên ngựa, xe, kiệu, la, lạc đà một gu để đến núi thánh của Ta là Giê-ru-sa-lem, giống như con dân Y-sơ-ra-ên đem lễ vật trong vật dụng thanh sạch vào đền thờ của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va phán vậy.
  8. Ta cũng sẽ chọn một số người trong họ làm thầy tế lễ và người Lê-vi. – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  9. Vì như trời mới đất mới mà Ta sẽ tạo dựng, sẽ tồn tại trước mặt Ta thể nào, thì dòng dõi và tên tuổi của các ngươi cũng sẽ tồn tại thể ấy. – Đức Giê-hô-va phán vậy.
  10. Đức Giê-hô-va phán: Từ ngày trăng mới nầy đến ngày trăng mới khác, từ ngày Sa-bát nọ đến ngày Sa-bát kia, mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt Ta. 24. Họ sẽ đi ra và thấy xác của những kẻ phản loạn chống lại Ta, bởi vì giòi bọ trên chúng nó sẽ không chết, lửa thiêu chúng nó sẽ không tàn, và chúng nó là vật ghê tởm cho mọi xác thịt.

 

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top