Bản Dịch Việt Ngữ: Nê-hê-mi

Nê-hê-mi
1
- Lời của Nê-hê-mi, con trai của Ha-ca-lia.
Vào tháng Kít-lêu, năm thứ hai mươi, khi tôi đang ở tại trấn thành Su-sơ, 2. một trong những anh em của tôi là Ha-na-ni đã đến cùng với những người từ Giu-đa. Tôi hỏi thăm họ về những người Do Thái đã trốn thoát, là những anh em của tôi còn sót lại không bị lưu đày, và về Giê-ru-sa-lem.
- Họ đã nói với tôi rằng: “Những người thoát cảnh lưu đày, còn lại ở trong tỉnh, bị kiệt quệ và bị tủi nhục lắm. Tường thành của Giê-ru-sa-lem đã bị đổ nát, và các cổng của nó đã bị lửa thiêu hủy.”
- Khi nghe những lời đó, tôi ngồi xuống, rơi lệ, và than khóc mấy ngày. Tôi kiêng ăn và cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời. 5. Và rồi, tôi đã thưa rằng:
“Con cầu xin Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các tầng trời, tức Đức Chúa Trời vĩ đại và đáng kính, là Đấng giữ lời giao ước và lòng nhân từ của Ngài với người nào kính mến Ngài và vâng giữ các điều răn của Ngài. 6. Xin tai của Ngài lắng nghe và mắt của Ngài mở ra để Ngài nghe lời cầu nguyện của con, là đầy tớ của Ngài, hiện đang cầu xin với Ngài, và ngày đêm cầu nguyện vì dân Y-sơ-ra-ên, là các đầy tớ của Ngài, cùng xưng nhận những tội lỗi của chúng con là dân Y-sơ-ra-ên đã phạm với Ngài. Cả con và tổ phụ của con đã phạm tội. 7. Chúng con đã làm những việc đồi bại chống lại Ngài, không vâng giữ các điều răn, quy định, và luật lệ mà Ngài đã truyền cho Môi-se, là đầy tớ của Ngài. 8. Con cầu xin Ngài nhớ lại lời Ngài đã truyền cho Môi-se, là đầy tớ của Ngài: ‘Nếu các ngươi phạm tội, Ta sẽ rải các ngươi giữa các quốc gia; 9. nhưng nếu các ngươi trở về cùng Ta, và vâng giữ nhưng điều răn của Ta, cùng thực hiện những điều đó, thì dù những kẻ bị tan lạc của các ngươi ở tận cuối trời, Ta cũng sẽ gom họ lại từ nơi đó và đem họ đến nơi mà Ta đã chọn để danh Ta ngự tại đó.’ 10. Giờ đây, các đầy tớ của Ngài và dân của Ngài – là những người mà Ngài đã chuộc bằng uy quyền vĩ đại và cánh tay hùng mạnh của Ngài. 11. Chúa ôi! Con cầu xin tai của Ngài lắng nghe lời cầu nguyện của con là đầy tớ của Ngài và lời cầu nguyện của những đầy tớ Ngài, là những người đang khao khát tôn kính danh Ngài. Con cầu xin Ngài cho con, là đầy tớ của Ngài, hôm nay được may mắn và được ơn thương xót trước mặt người này.”
Vì tôi là quan dâng rượu cho vua.
2
- Đến tháng Ni-san, năm thứ hai mươi đời Vua Ạt-ta-xét-xe, khi rượu được dọn trước mặt vua, tôi lấy rượu dâng cho vua. Chưa bao giờ tôi tỏ vẻ buồn trong lúc vua hiện diện. 2. Do đó, vua đã hỏi tôi: “Sao mặt của ngươi buồn, dù ngươi không bị bệnh? Không có gì khác hơn là có chuyện buồn trong lòng.” Vì vậy, tôi rất sợ hãi. 3. Và tôi đã tâu với vua: “Nguyện vua vạn tuế! Làm sao mặt tôi không buồn khi thành trì, nơi mồ mả của tổ phụ tôi, bị tàn phá và các cổng thành đều bị lửa thiêu đốt?” 4. Sau đó vua hỏi tôi: “Ngươi cầu xin điều gì?” Do đó tôi đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời trên trời, 5. rồi tâu với vua: “Nếu vua vui lòng và nếu đầy tớ vua được ơn trước mặt vua, tôi xin vua sai tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi, để tôi xây dựng nó lại.” 6. Lúc đó, hoàng hậu đang ngồi bên cạnh vua, vua hỏi tôi: “Ngươi sẽ đi bao lâu? Và khi nào ngươi trở lại?” Như vậy, vua bằng lòng sai tôi đi, và tôi trình với vua về thời hạn. 7. Tôi cũng tâu với vua: “Nếu vua vui lòng, xin vua trao cho tôi những văn thư gửi cho các quan tổng đốc tại bên kia sông để họ cho phép tôi đi ngang qua cho đến khi tôi đến Giu-đa, 8. và một văn thư cho A-sáp, quan kiểm lâm của vua, truyền cho ông cấp cho tôi gỗ để làm khung cho các cổng thành cùng với đền thờ, và làm tường thành, cùng với ngôi nhà mà tôi sẽ ở.” Nhờ bàn tay nhân lành của Đức Chúa Trời của tôi ở trên tôi, vua đã ban cho tôi những điều đó. 9. Rồi tôi đã đến gặp các quan tổng đốc bên kia sông và trao cho họ những văn thư của vua. Vua cũng sai những sĩ quan và kỵ binh đi với tôi. 10. Khi San-ba-lát – người Hô-rôn, và Tô-bi-gia – một quan chức người Am-môn, nghe điều đó thì rúng động, bởi vì có người đến để tìm sự hưng thịnh cho dân Y-sơ-ra-ên.
- Như vậy tôi đã đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày. 12. Rồi tôi và mấy người cùng theo tôi đã trỗi dậy trong ban đêm, không cho ai biết về điều mà Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng tôi để thực hiện tại Giê-ru-sa-lem. Ngoài con vật tôi cưỡi, không có thú vật nào khác với tôi. 13. Tôi đi lúc ban đêm, qua cổng Thung Lũng đến suối Rồng và cổng Phân để xem xét những vách thành của Giê-ru-sa-lem đã bị sụp đổ và các cổng của nó đã bị lửa thiêu đốt. 14. Rồi tôi đi qua cổng Suối và đến ao Vua nhưng không có chỗ nào để con vật tôi cưỡi đi qua được. 15. Do đó, trong ban đêm tôi đi lên theo thung lũng để xem xét tường thành rồi tôi quay lại vào cổng Thung Lũng, mà trở về. 16. Các quan chức không biết tôi đi đâu hoặc làm gì, tôi chưa nói với người Do Thái, các tư tế, những người quyền quý, các quan chức, và thậm chí với những người sẽ thực hiện công việc, một điều gì.
- Sau đó, tôi đã nói với họ: “Anh em nhìn thấy chúng ta đang ở trong hoàn cảnh bi đát như thế nào: Giê-ru-sa-lem đã bị phá hủy và các cổng của nó bị lửa thiêu đốt. Hãy đến! Chúng ta hãy xây lại tường thành của Giê-ru-sa-lem để chúng ta không còn bị sỉ nhục nữa.” 18. Rồi tôi thuật cho họ thế nào bàn tay nhân lành của Đức Chúa Trời đã giúp đỡ tôi, và những lời vua đã nói với tôi. Vì vậy, họ nói: “Chúng ta hãy đứng lên và xây dựng.” Sau đó, họ đã đặt tay vào công việc tốt đẹp nầy.
- Nhưng khi San-ba-lát – người Hô-rôn, Tô-bi-gia – một quan chức người Am-môn, và Ghê-sem – người Ả-rập, nghe việc đó, họ đã nhạo báng chúng tôi và chế giễu chúng tôi. Họ nói: “Các ngươi đang làm điều gì? Các ngươi phản nghịch vua phải không?”
- Do đó, tôi đã đáp lại hành động của họ, và nói với họ rằng: “Đức Chúa Trời trên trời sẽ giúp chúng tôi thành tựu. Cho nên chúng tôi – là những đầy tớ của Ngài – sẽ đứng lên xây dựng; nhưng các ông không có di sản gì, có quyền gì, hay di tích gì tại Giê-ru-sa-lem cả.”
3
- Và rồi Thượng tế Ê-li-a-síp đã đứng dậy cùng với những anh em của mình – là những tư tế – xây cất cổng Chiên, họ cung hiến nó và tra những cánh cửa, rồi họ xây cho đến tháp Mê-a, cung hiến nó, rồi xây cho đến tháp Ha-na-nê-ên. 2. Kế đến, những người tại Giê-ri-cô xây dựng. Và kế họ, Xa-cu, con trai của Im-ri, xây dựng.
- Con cháu của Hát-sê-na xây dựng cổng Cá; họ đặt khung, rồi tra cửa với những chốt và then. 4. Và kế họ, Mê-rê-mốt, con trai của U-ri, cháu của Ha-cốt, sửa. Và kế họ, Mê-su-lam, con trai của Bê-rê-kia, cháu của Mê-sê-xa-lê-ên, sửa. Và kế họ, Xa-đốc, con trai của Ba-a-na, sửa. 5. Và kế họ, những người Tê-cô-a sửa, tuy nhiên những người quyền quý của họ không chịu ghé vai vào công việc của Chúa mình.
- Giô-gia-đa, con trai của Pha-sê-a, và Mê-su-lam, con trai của Bê-sô-đia, sửa cổng Cũ; họ đặt khung, tra cửa với những chốt và then. 7. Và kế họ, Mê-la-tia, người Ga-ba-ôn, và Gia-đôn, người Mê-rô-nốt, cùng với những người Ga-ba-ôn và người Mích-ba, tổng đốc bên kia sông, sửa. 8. Và kế ông, U-xi-ên, con trai của Hạt-ha-gia, thợ kim hoàn, sửa. Và kế ông, Ha-na-nia, một trong những người làm nước hoa, sửa. Và họ đã làm kiên cố Giê-ru-sa-lem cho đến vách Rộng. 9. Và kế họ, Rê-pha-gia, con trai của Hu-rơ, lãnh đạo phân nửa quận Giê-ru-sa-lem, sửa. 10. Và kế họ, Giê-đa-gia, con trai của Ha-ru-máp, sửa phần đối diện nhà mình. Và kế ông, Hát-túc, con trai của Ha-sáp-nia, sửa. 11. Manh-ki-gia, con trai của Ha-rim, và Ha-súp, con trai của Pha-hát Mô-áp, sửa một phần khác, cùng với tháp Lò. 12. Và kế ông, Sa-lum, con trai của Ha-lô-he, lãnh đạo phân nửa của quận Giê-ru-sa-lem, cùng với các con gái của ông, sửa.
- Ha-nun và dân cư ở Xa-nô-a sửa cổng Thung Lũng; họ xây cổng, rồi tra cửa với những chốt và then; và họ cũng xây một ngàn cu-bít vách tường cho đến cổng Phân. 14. Manh-ki-gia, con trai của Rê-cáp, lãnh đạo quận Bết Hát-kê-rem, sửa cổng Phân – ông xây cổng, tra cửa với những chốt và then.
- Sa-lun, con trai của Côn Hô-xê, lãnh đạo quận Mích-ba, sửa cổng Suối – ông xây cổng, lợp mái, rồi tra cửa với những chốt và then; ông cũng xây vách tại ao Si-lô-ê, gần vườn thượng uyển, cho đến những cầu thang từ thành Đa-vít đi xuống. 16. Sau ông, Nê-hê-mi, con trai của A-búc, lãnh đạo phân nửa quận Bết-xu-rơ, sửa cho đến trước các lăng tẩm của Đa-vít, hồ chứa nước, và cho đến đền Các Dũng Sĩ. 17. Sau ông, Rê-hum, con trai của Ba-ni, người Lê-vi sửa. Kế ông, Ha-sa-bia, lãnh đạo phân nửa quận Kê-i-la, sửa phần thuộc về quận của mình. 18. Sau ông, có anh em của Ba-va-i, con trai của Hê-na-đát, lãnh đạo phân nửa quận Kê-i-la, sửa. 19. Và kế ông, Ê-xe, con trai của Giô-suê, lãnh đạo vùng Mích-ba, sửa chữa một phần khác đối diện dốc Quân Trang gần trụ thành. 20. Sau ông, Ba-rúc, con trai của Xáp-bai, cẩn thận sửa một phần khác từ trụ thành cho đến cửa vào nhà Ê-li-a-síp, thượng tế. 21. Sau ông, Mê-rê-mốt, con trai của U-ri, cháu của Ha-cốt, sửa chữa một phần khác từ cửa nhà của Ê-li-a-síp cho đến cuối nhà Ê-li-a-síp. 22. Sau ông, các tư tế của dân trong vùng đồng bằng sửa. 23. Và sau ông, Bên-gia-min và Ha-súp sửa chữa phần đối diện nhà mình. Và sau họ, A-xa-ria, con trai của Ma-a-xê-gia, cháu của A-na-nia, sửa phần gần nhà mình. 24. Sau ông, Bin-nui, con trai của Hê-na-đát, sửa chữa một phần khác từ nhà của A-xa-ria đến trụ thành và cho đến tận góc thành. 25. Pha-lanh, con trai của U-xai, sửa nơi đối diện trụ thành và cái tháp nhô ra từ tầng thượng của cung vua, gần sân tù. Sau ông, Phê-đa-gia, con trai của Pha-rốt, sửa. 26. Những người phục vụ đền thờ sống tại Ô-phên sửa cho đến trước cổng Nước về phía đông và nơi tháp nhô ra. 27. Sau họ, người Thê-cô-a sửa một phần khác, gần chỗ tháp lớn nhô ra, và cho đến bức tường Ô-phên.
- Xa hơn cổng Ngựa, các tư tế, mỗi người sửa phần đối diện nhà của mình. 29. Sau họ, Xa-đốc, con trai của Y-mê, sửa phần đối diện nhà của mình. Sau ông, Sê-ma-gia, con trai của Sê-ca-nia, người giữ cổng Đông, sửa. 30. Sau ông, Ha-na-nia, con trai của Sê-lê-mia, và Ha-nun, con thứ sáu của Xa-láp, sửa chữa một phần khác. Sau ông, Mê-su-lam, con trai của Bê-rê-kia, sửa nơi đối diện nhà của mình. 31. Sau ông, Manh-ki-gia, một trong những thợ kim hoàn, sửa cho đến nhà của những người phục vụ đền thờ và các thương gia, trước cổng Mi-phơ-cát, và cho đến tầng thượng của góc thành. 32. Những thợ kim hoàn và các thương gia sửa từ giữa tầng thượng của góc thành cho đến cổng Chiên.
4
- Nhưng rồi chuyện xảy ra, khi San-ba-lát nghe tin chúng tôi tu sửa tường thành, hắn giận dữ và phẫn nộ, và rồi chế nhạo dân Do Thái. 2. Hắn nói trước mặt anh em của hắn và quân đội tại Sa-ma-ri rằng: “Lũ Do Thái khiếp nhược đó có thể làm được gì? Chúng sẽ tự khôi phục lại hay sao? Chúng sẽ dâng tế lễ được hay sao? Chúng sẽ làm xong trong một ngày hay sao? Chúng có thể phục hồi lại đá từ tàn tích đã bị thiêu rụi hay sao?” 3. Tô-bi-gia, người Am-môn, bên cạnh hắn, còn nói: “Chúng có xây một cái gì đi nữa, nếu có một con chồn bước lên đó, nó cũng làm cho bức tường bằng đá của chúng sập xuống.”
- Đức Chúa Trời của chúng con! Xin lắng nghe, bởi vì chúng con bị khinh dể. Xin đổ lời sỉ nhục của họ trên đầu của họ, và cho họ làm vật bị cướp giật cho đến xứ mà họ bị lưu đày. 5. Xin đừng khỏa lấp gian ác của họ hay tội lỗi của họ khỏi trước mặt Ngài, bởi vì họ đã chọc giận Ngài trước những người xây dựng.
- Vì vậy chúng tôi xây dựng tường thành, cả bức tường đều nối liền nhau, lên được phân nửa chiều cao, bởi vì dân chúng chú tâm làm việc.
- Và rồi chuyện xảy ra, khi San-ba-lát, Tô-bi-gia, những người Ả-rập, dân Am-môn, và dân Ách-đốt nghe tin vách thành Giê-ru-sa-lem đang được tái thiết và những khoảng cách được nối lại, họ rất tức giận. 8. Tất cả bọn họ họp lại với nhau âm mưu, đến đánh Giê-ru-sa-lem, tạo sự rối loạn và ngăn trở. 9. Tuy nhiên chúng tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời của chúng tôi, và vì cớ họ nên đã lập người canh gác ngày và đêm.
- Và rồi người Giu-đa nói: “Sức lực của những người làm việc đang sa sút, và tàn tích thì còn rất nhiều, chúng ta không thể xây xong thành được.” 11. Những kẻ thù của chúng tôi nói: “Chúng sẽ không biết và cũng không thấy gì cho tới khi chúng ta đến giữa bọn chúng, giết chúng, và làm ngưng công việc.” 12. Vì vậy, đã có lúc những người Do Thái sống ở giữa họ, báo cho chúng tôi đến mười lần rằng: “Dù các anh có xoay trở hướng nào, họ cũng sẽ tấn công.” 13. Do đó, tôi đã đặt người tại những nơi còn thấp phía sau vách thành, và tại những nơi trống trải, và tôi đã sắp đặt dân chúng theo từng gia tộc với gươm, giáo và cung của họ. 14. Sau khi xem xét, tôi đã đứng dậy nói với những người quý tộc, với những lãnh đạo, và với cả dân chúng còn lại rằng: “Đừng sợ những người đó! Hãy nhớ rằng Chúa là Đấng vĩ đại và đáng kính sợ! Hãy chiến đấu cho anh em, cho con trai, cho con gái, cho vợ, và cho nhà của mình.”
- Và rồi có chuyện xảy ra, khi các kẻ thù của chúng tôi nghe rằng chúng tôi đã biết, và Đức Chúa Trời đã phá hỏng âm mưu của họ, thì tất cả chúng tôi đều trở lại nơi tường thành, mỗi người làm công việc mình.
- Vì vậy, kể từ ngày đó, phân nửa số người dưới quyền tôi làm công việc tại nơi xây dựng, còn phân nửa kia thì cầm giáo, khiên, cung và mặc áo giáp. Những người lãnh đạo đều đứng phía sau cả nhà Giu-đa. 17. Những người đang xây dựng trên tường thành và những người chịu trách nhiệm khuân vác đều trang bị cho chính mình, tại nơi xây dựng một tay họ làm việc còn tay kia thì cầm vũ khí. 18. Và những người xây dựng đều đeo gươm bên cạnh mình khi làm việc. Và người thổi kèn thì ở bên cạnh tôi.
- Tôi nói với những người quý tộc, với những người cầm quyền, và với cả dân chúng còn lại rằng: “Công việc thì lớn và trải rộng, còn chúng ta thì phân tán trên tường thành, mỗi người xa cách nhau. 20. Bất kỳ ở nơi nào, khi anh em nghe tiếng kèn, hãy tập hợp lại nơi chúng tôi. Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta.”
- Vì vậy chúng tôi cứ làm việc, phân nửa số người cầm giáo từ lúc bình minh cho đến khi sao xuất hiện.
- Khi đó, tôi cũng nói với dân chúng rằng: “Mỗi người, cùng với những người phục vụ mình, hãy ở qua đêm tại Giê-ru-sa-lem, để họ có thể làm người gác ban đêm cho chúng tôi và làm việc vào ban ngày.” 23. Vì vậy, chính tôi, các anh em của tôi, những người phục vụ tôi, và những lính canh theo tôi, không một ai cởi trang phục mình ra, ngoại trừ khi họ cởi ra để tắm rửa.
5
- Lúc đó, có sự kêu than rất lớn của một số người, cùng vợ của họ, nghịch cùng những người Do Thái, là anh em của họ. 2. Bởi vì có những người trong số họ đã nói rằng: “Chúng tôi – cùng với các con trai và các con gái – rất đông; chúng tôi cần lúa để ăn và sống.”
- Và có người nói: “Do nạn đói, chúng tôi đã phải thế chấp ruộng đất, vườn nho và nhà của chúng tôi để có thể mua lúa.”
- Và cũng có những người trong số họ nói: “Chúng tôi đã cầm ruộng đất và vườn nho của chúng tôi để mượn tiền đóng thuế cho vua. 5. Dầu cốt nhục của chúng tôi cũng là cốt nhục của anh em chúng tôi; các con của chúng tôi cũng giống như các con của họ, nhưng chúng tôi bị ép buộc phải giao các con trai và con gái của chúng tôi làm nô lệ cho họ. Thật vậy, một số con gái của chúng tôi đã phải làm nô tỳ. Tay của chúng tôi không có năng lực gì để chuộc lại chúng, bởi vì ruộng đất và vườn nho của chúng tôi đều đã thuộc về người khác.”
- Tôi rất tức giận khi nghe tiếng kêu than của họ, cùng với những lời này. 7. Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi đã khiển trách các quý tộc và những viên chức, và nói với họ rằng: “Mỗi quý vị đã cho anh em mình vay nặng lãi!”
Do đó, tôi đã triệu tập một buổi họp rất lớn. 8. Tôi nói: “Với khả năng, chúng tôi đã chuộc lại những anh em của chúng ta là những người Do Thái đã bị bán cho các dân tộc khác. Bây giờ, chính quý vị sẽ đem bán những anh em của mình, để rồi họ được bán lại cho chúng tôi hay sao?”
Những người đó im lặng vì không tìm được lời gì để nói.
- Và rồi tôi nói: “Những gì quý vị đang làm là không tốt. Không phải quý vị nên sống trong sự kính sợ Ðức Chúa Trời để các dân ngoại – là những kẻ thù của chúng ta – không sỉ nhục chúng ta nữa hay sao? 10. Chính tôi, các anh em tôi, và các tôi tớ của tôi cũng cho họ mượn tiền và lúa. Xin hãy chấm dứt việc cho vay nặng lãi. 11. Ngay hôm nay, hãy trả lại cho họ ruộng đất của họ, những vườn nho của họ, những vườn ô-liu của họ, và nhà cửa của họ; cùng với lãi suất về tiền, lúa, rượu mới, và dầu mà quý vị đã tính cho họ.”
- Vì thế họ nói: “Chúng tôi sẽ trả lại và không đòi họ điều gì cả. Chúng tôi sẽ làm như ông đã nói.”
Sau đó, tôi cũng gọi các tư tế, yêu cầu những người đó tuyên thệ rằng họ sẽ làm theo như lời đã hứa. 13. Rồi tôi cũng giũ vạt áo của tôi và nói: “Ai không thực hiện lời hứa nầy, cầu xin Đức Chúa Trời hãy giũ hắn khỏi nhà cửa và tài sản của hắn. Nguyện hắn bị giũ sạch và trắng tay!”
Cả hội chúng cùng nói: “A-men” rồi tôn ngợi Đức Giê-hô-va. Và rồi những người đó đã làm theo lời hứa nầy.
- Hơn thế nữa, từ khi tôi được lập làm tổng trấn của họ tại xứ Giu-đa – từ năm thứ hai mươi cho đến năm thứ ba mươi hai đời Vua Ạt-ta-xét-xe là mười hai năm – tôi và thân nhân tôi không ăn lương bổng dành cho tổng trấn. 15. Nhưng các tổng trấn đến trước tôi đã đặt gánh nặng trên dân chúng, bên cạnh bốn mươi lăm siếc lơ bạc, họ còn lấy bánh và rượu của dân chúng. Ngay cả các đầy tớ của họ cũng hống hách với dân chúng nữa. Nhưng tôi không làm như vậy bởi vì kính sợ Đức Chúa Trời. 16. Thật vậy, tôi đã tiếp tục công việc xây tường thành, và chúng tôi không mua đất ruộng nào. Tất cả các đầy tớ của tôi họp lại tại nơi đó là để làm việc. 17. Nơi bàn ăn của tôi cũng có một trăm năm mươi người Do Thái và các viên chức, không kể những người từ các dân tộc chung quanh đến với chúng tôi. 18. Mỗi ngày thết đãi một con bò, sáu con chiên tuyển chọn; và cũng có gia cầm được dọn cho tôi; và cứ mười ngày thì đãi đủ loại rượu. Mặc dầu như vậy, tôi cũng không đòi lương bổng dành cho tổng trấn, bởi vì việc lao dịch đã là gánh nặng cho dân chúng.
- “Đức Chúa Trời của con! Xin nhớ đến con và tất cả những điều tốt lành mà con đã làm cho dân tộc nầy.”
6
- Và rồi chuyện xảy ra khi San-ba-lát, Tô-bi-gia, Ghê-sem là người Ả-rập, và những kẻ thù còn lại của chúng tôi nghe tin rằng tôi đã xây lại tường thành, và không còn chỗ nào đổ vỡ nữa – dù cho đến lúc ấy tôi vẫn chưa tra các cửa vào những cổng. 2. San-ba-lát và Ghê-sem đã sai người đến nói với tôi: “Hãy đến, chúng ta hãy gặp nhau giữa những làng trong đồng bằng Ô-nô.” Tuy nhiên họ suy tính làm hại tôi.
- Do đó tôi đã sai các sứ giả đến nói với họ: “Tôi đang thực hiện một công trình trọng đại, cho nên không thể xuống được. Tại sao công việc phải ngưng lại và tôi phải rời bỏ công việc để đi xuống với các ông?”
- Nhưng họ đã gởi thông điệp nầy cho tôi bốn lần, và tôi đã trả lời họ y như nhau.
- Lần thứ năm, cũng như những lần trước, San-ba-lát sai đầy tớ của mình đến với tôi, cầm bức thư mở trống nơi tay. 6. Trong đó viết: “Theo điều được tường trình trong các quốc gia, và chính Ghê-sem cũng nói, ông và những người Do Thái dự định dấy loạn, cho nên mới xây lại tường thành; và cũng theo những lời đồn này, ông có thể làm vua của họ. 7. Ông đã lập những tiên tri để công bố về ông tại Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Có một vua tại Giu-đa!’ Bây giờ những vấn đề này sẽ được tường trình cho vua. Vì vậy, hãy đến, để chúng ta bàn luận với nhau.”
- Tôi sai người nói với ông ấy: “Không hề có những chuyện như điều ông đã nói, nhưng ông đã tạo dựng ra những điều đó từ trong lòng của mình.”
- Bởi vì tất cả bọn họ muốn làm cho chúng tôi sợ hãi, nên đã nói rằng: “Tay của chúng sẽ suy yếu trong công việc, và công việc sẽ không thể hoàn tất được.” Vì vậy, bây giờ, xin Chúa hãy làm cho tay của con được mạnh mẽ.
- Sau đó, tôi đến nhà của Sê-ma-gia, con trai của Đê-la-gia, là con trai của Mê-hê-ta-bê-ên, một kẻ mật báo. Hắn nói: “Chúng ta hãy gặp nhau trong nhà của Đức Chúa Trời, bên trong đền thờ, và chúng ta hãy đóng các cửa đền thờ lại, bởi vì họ đang đến để giết ông. Thật vậy, đêm nay họ sẽ đến để giết ông.”
- Và tôi đã trả lời: “Một người như tôi mà lại chạy trốn sao? Và có ai như tôi phải vào trong đền thờ để cứu mạng mình? Tôi sẽ không vào đâu!”
- Rồi tôi nhận biết rằng Đức Chúa Trời không sai hắn đến, nhưng hắn đã nói lời tiên tri đó để chống lại tôi, bởi vì Tô-bi-gia và San-ba-lát đã mướn hắn. 13. Chính vì lý do này mà hắn được mướn, để làm cho tôi sợ hãi, rồi hành động như vậy và phạm tội, để họ lấy cớ đó bêu xấu, và họ có thể sỉ nhục tôi.
- “Đức Chúa Trời của con! Xin nhớ Tô-bi-gia và San-ba-lát tùy theo những công việc mà họ đã làm; và hãy nhớ đến nữ Tiên tri Nô-a-đia cùng với những tiên tri khác, là những người muốn làm cho con sợ hãi!”
- Như vậy, tường thành được hoàn tất vào ngày hai mươi lăm tháng Ê-lun, trong vòng năm mươi hai ngày. 16. Và khi tất cả những kẻ thù của chúng tôi nghe điều này và thấy những điều này, tất cả những quốc gia chung quanh chúng tôi kinh hãi trong lòng khi chính họ được chứng kiến bằng mắt của mình; bởi vì họ nhận biết rằng công việc này được hoàn tất là bởi Đức Chúa Trời.
- Cũng trong những ngày ấy, các quý tộc của Giu-đa gửi nhiều thư cho Tô-bi-gia, và thư của Tô-bi-gia cũng gửi cho họ. 18. Bởi vì nhiều người tại Giu-đa đã bị ràng buộc phải hứa nguyện với ông, vì ông là con rể của Sê-ca-nia, con trai của A-ra; và con trai của ông là Giô-ha-nan đã cưới con gái của Mê-su-lam, con trai của Bê-rê-kia. 19. Họ cũng thuật những việc tốt của ông trước mặt tôi, và đã tường thuật những lời của tôi với ông. Tô-bi-gia đã gửi thư để làm cho tôi sợ hãi.
7
- Sau khi tường thành đã xây xong, tôi tra các cánh cửa, và những người gác cổng, các ca sĩ, và người Lê-vi đã được bổ nhiệm, 2. tôi giao việc điều hành Giê-ru-sa-lem cho em tôi là Ha-na-ni, và cho Ha-na-nia người chỉ huy bảo vệ thành, vì ông là người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều người khác.
- Và tôi dặn họ rằng: “Đừng mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời đã nóng, và khi lính canh vẫn còn ở đó, họ phải đóng cửa và cài then. Cũng phải bổ nhiệm những người canh gác từ trong dân cư Giê-ru-sa-lem, một người đứng ở vọng canh, người kia thì đứng trước nhà mình.”
- Khi đó thành thì rộng và lớn, nhưng dân trong thành thì ít, và nhà cửa chưa được xây dựng lại. 5. Đức Chúa Trời đã thúc giục lòng tôi triệu tập những người quý tộc, các quan chức và dân chúng đến để họ được đăng ký theo gia phả. Tôi đã tìm được một cuốn danh bạ của những người đã hồi hương lần đầu, và trong đó có ghi rằng:
- “Đây là dân cư trong tỉnh, là những người từ nơi lưu đày hồi hương, là những phu tù – tức là những người bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, bắt đi – họ đã trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về lại thành của mình.
- Những người đã trở về cùng với Xô-rô-ba-bên là Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Nê-hum và Ba-a-na.
Số những người nam trong Y-sơ-ra-ên là:
- Con cháu của Pha-rốt: Hai ngàn một trăm bảy mươi hai. 9. Con cháu của Sê-pha-tia: Ba trăm bảy mươi hai người. 10. Con cháu của A-ra: Sáu trăm năm mươi hai . 11. Con cháu của Pha-hát Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp: Hai ngàn tám trăm mười tám. 12. Con cháu của Ê-lam: Một ngàn hai trăm năm mươi bốn. 13. Con cháu của Xát-tu: Tám trăm bốn mươi lăm. 14. Con cháu của Xác-cai: Bảy trăm sáu mươi. 15. Con cháu của Bin-nui: Sáu trăm bốn mươi tám. 16. Con cháu của Bê-bai: Sáu trăm hai mươi tám. 17. Con cháu của A-gát: Hai ngàn ba trăm hai mươi hai. 18. Con cháu A-đô-ni-cam: Sáu trăm sáu mươi bảy. 19. Con cháu Biết-vai: Hai ngàn không trăm sáu mươi bảy. 20. Con cháu của A-đin: Sáu trăm năm mươi lăm. 21. Con cháu của A-te thuộc dòng dõi Ê-xê-chia: Chín mươi tám. 22. Con cháu của Ha-sum: Ba trăm hai mươi tám. 23. Con cháu của Bết-sai: Ba trăm hai mươi bốn. 24. Con cháu của Ha-ríp: Một trăm mười hai. 25. Con cháu của Ga-ba-ôn: Chín mươi lăm. 26. Những người quê ở Bết-lê-hem và Nê-tô-pha: Một trăm tám mươi tám người 27. Những người quê ở A-na-tốt: Một trăm hai mươi tám. 28. Những người quê ở Bết A-ma-vết: Bốn mươi hai. 29. Những người quê ở Ki-ri-át Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt: Bảy trăm bốn mươi ba. 30. Những người quê ở Ra-ma và Ghê-ba: Sáu trăm hai mươi mốt. 31. Những người quê ở Mích-ma: Một trăm hai mươi hai. 32. Những người quê ở Bê-tên và A-hi: Một trăm hai mươi ba. 33. Những người quê ở Nê-bô khác: Năm mươi hai. 34. Con cháu của Ê-lam khác: Một ngàn hai trăm năm mươi bốn. 35. Con cháu của Ha-rim: Ba trăm hai mươi. 36. Con cháu của Giê-ri-cô: Ba trăm bốn mươi lăm. 37. Con cháu của Lót, Ha-đít và Ô-nô: Bảy trăm hai mươi mốt. 38. Con cháu của Sê-na: Ba ngàn chín trăm ba mươi.
- Các tư tế: Con cháu của Giê-đa-gia thuộc dòng dõi Giê-sua: Chín trăm bảy mươi ba. 40. Con cháu của Y-mê: Một ngàn không trăm năm mươi hai. 41. Con cháu của Pha-ru-sơ: Một ngàn hai trăm bốn mươi bảy. 42. Con cháu của Ha-rim: Một ngàn không trăm mười bảy.
- Những người Lê-vi: Con cháu của Giê-sua và Cát-mi-ên, thuộc dòng dõi Hô-đê-va: Bảy mươi bốn.
- Các ca sĩ: Con cháu của A-sáp: Một trăm bốn mươi tám.
- Những người gác cổng: Con cháu của Sa-lum, con cháu của A-te, con cháu của Tanh-môn, con cháu của A-cúp, con cháu của Ha-ti-ta và con cháu của Sô-bai: Một trăm ba mươi tám.
- Những người phục vụ đền thờ: Con cháu của Xi-ha, con cháu của Ha-su-pha, con cháu của Ta-ba-ốt, 47. con cháu của Kê-rốt, con cháu của Si-a, con cháu của Pha-đôn, 48. con cháu của Lê-ba-na, con cháu của Ha-ga-ba, con cháu của Sanh-mai, 49. con cháu của Ha-nan, con cháu của Ghi-đên, con cháu của Ga-ha, 50. con cháu của Rê-a-gia, con cháu của Rê-xin, con cháu của Nê-cô-đa, 51. con cháu của Ga-xam, con cháu của U-xa, con cháu của Pha-sê-a 52. con cháu của Bê-sai, con cháu của Mê-u-nim, con cháu của Nê-phu-sê-sim, 53. con cháu của Bác-búc, con cháu của Ha-cu-pha, con cháu của Ha-rua, 54. con cháu của Bát-lít, con cháu của Mê-hi-đa, con cháu của Hạt-sa, 55. con cháu của Bạt-cô, con cháu của Si-sê-ra, con cháu của Tha-mác, 56. con cháu của Nê-xia, con cháu của Ha-ti-pha.
- Dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn: Con cháu của Sô-tai, con cháu của Sô-phê-rết, con cháu của Phê-ri-đa, 58. con cháu của Gia-a-la, con cháu của Đạt-côn, con cháu của Ghi-đên, 59. con cháu của Sê-pha-tia, con cháu của Hát-tinh, con cháu của Phô-kê-rết Hát-xê-ba-im, con cháu của A-môn.
- Tổng số người phục vụ đền thờ và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai.
- Sau đây là những người trở về từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn và Y-mê, nhưng họ không thể tìm ra tổ tiên hoặc nguồn gốc của họ thuộc về Y-sơ-ra-ên hay không: 62. Con cháu của Đê-la-gia, con cháu của Tô-bi-gia và con cháu của Nê-cô-đa: Sáu trăm bốn mươi hai.
- Về các tư tế: Con cháu của Ha-ba-gia, con cháu của Ha-cốt, con cháu của Bạt-xi-lai (là người lấy vợ trong số con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át nên được gọi bằng tên đó). 64. Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không thấy nên bị loại ra khỏi chức tư tế vì bị coi là ô uế. 65. Quan tổng trấn cấm họ ăn những vật chí thánh cho đến khi có một tư tế dùng U-rim và Thu-mim để cầu hỏi Đức Chúa Trời.
- Cả hội chúng tổng cộng là bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 67. không kể bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ, và họ có hai trăm bốn mươi lăm ca sĩ, cả nam lẫn nữ. 68. Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 69. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.
- Một vài trưởng tộc đã dâng hiến vào quỹ công trình. Quan tổng đốc dâng vào công quỹ một ngàn đa-riếc vàng, năm mươi chậu và năm trăm ba mươi bộ trang phục cho các tư tế. 71. Có mấy trưởng tộc dâng vào quỹ công trình hai mươi ngàn đa-riếc vàng và hai ngàn hai trăm min bạc. 72. Dân chúng dâng phần còn lại là hai ngàn đa-riếc vàng, hai ngàn min bạc, và sáu mươi bảy bộ trang phục cho các tư tế.
- Như vậy, các tư tế, người Lê-vi, những người gác cổng, các ca sĩ, một số người khác và những người phục vụ đền thờ cùng cả Y-sơ-ra-ên đều ở trong thành của mình.
Đến tháng Bảy thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.
8
- Tất cả dân chúng đều họp lại như một người, tại quảng trường trước cổng Nước. Họ nói với E-xơ-ra – một học giả về giáo luật – đem đến sách luật pháp của Môi-se, mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên.
- Vì vậy, vào ngày mồng một tháng Bảy, Tư tế E-xơ-ra đã đem sách luật pháp đến trước hội chúng, cả nam lẫn nữ, cùng tất cả những người có thể nghe và hiểu được. 3. Rồi tại quảng trường trước cổng Nước, trước hội chúng cả nam lẫn nữ cùng những người có thể hiểu được, ông đọc trong sách từ rạng đông cho đến trưa; và tất cả dân chúng đã lắng tai nghe đọc sách luật pháp.
- Học giả giáo luật E-xơ-ra đứng trên một bục làm bằng gỗ mà họ đã làm cho mục đích này; và bên cạnh ông – đứng bên phải của ông là Ma-ti-thia, Sê-ma, A-na-gia, U-ri, Hinh-kia và Ma-a-xê-gia; và bên trái của ông là Phê-đa-gia, Mi-sa-ên, Manh-ki-gia, Ha-sum, Hách-ba-đa-na, Xa-cha-ri và Mê-su-lam.
- E-xơ-ra mở sách ra trước mặt cả dân chúng, vì ông đứng cao hơn cả dân chúng, khi ông mở sách ra, tất cả dân chúng đều đứng dậy. 6. E-xơ-ra chúc tụng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, là Đấng vĩ đại, và tất cả dân chúng giơ tay của họ lên và đáp lại rằng: “A-men! A-men!” Rồi họ cúi đầu, sấp mặt xuống đất, mà thờ phượng Đức Giê-hô-va.
- Cũng có Giê-sua, Ba-ni, Sê-rê-bia, Gia-min, A-cúp, Sa-bê-thai, Hô-đi-gia, Ma-a-xê-gia, Kê-li-ta, A-xa-ria, Giô-xa-bát, Ha-nan, Phê-la-gia, và những người Lê-vi đã giúp cho dân chúng hiểu luật pháp; còn dân chúng thì đứng tại chỗ của mình. 8. Như vậy, họ đọc rõ ràng trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời, rồi họ giải nghĩa, và giúp cho dân chúng hiểu điều đã đọc.
- Nê-hê-mi – quan tổng trấn, E-xơ-ra – tư tế và là một học giả về giáo luật, cùng những người Lê-vi dạy dân chúng, đã nói với tất cả dân chúng rằng: “Hôm nay là ngày thánh cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của anh em. Đừng sầu than hay khóc lóc!” Bởi vì tất cả dân chúng đã khóc khi họ nghe những lời trong luật pháp.
- Và rồi ông nói với họ: “Hãy đi, ăn vật béo bổ, uống thức ngọt ngon, và hãy gửi phần cho ai không sắm sửa gì hết, bởi vì hôm nay là ngày thánh cho Chúa của chúng ta. Đừng sầu thảm, bởi vì niềm vui của Đức Giê-hô-va là sức mạnh của các ngươi.”
- Vì vậy, những người Lê-vi đã trấn an tất cả dân chúng, và nói: “Hãy yên lặng vì ngày nay là thánh. Đừng nên sầu thảm!” 12. Toàn thể dân chúng đã đi về, ăn, uống, và gửi phần cho những người không có. Họ liên hoan trọng thể bởi vì họ hiểu được những lời đã được truyền cho mình.
- Qua ngày mồng hai, các trưởng tộc trong dân chúng, cùng các tư tế và những người Lê-vi, đã họp lại với học giả giáo luật E-xơ-ra để tìm hiểu những lời của luật pháp. 14. Họ tìm thấy có chép trong luật pháp điều mà Đức Giê-hô-va đã truyền bởi Môi-se đó là dân Y-sơ-ra-ên phải ở trong những căn lều tạm suốt kỳ lễ trong tháng Bảy, 15. và họ phải công bố và loan truyền trong các thành phố và tại Giê-ru-sa-lem rằng: “Hãy lên núi, mang những nhánh ô-liu, những nhánh cây dầu, những nhánh cây sim, những lá kè, và những nhánh cây rậm lá để làm những căn lều tạm” như đã được chép.”
- Vì vậy dân chúng đã đi ra, mang những lá đó về, và mỗi người đã làm những căn lều tạm cho mình, trên mái nhà của mình, hay trong sân của họ, hoặc trong hành lang của đền Đức Chúa Trời, tại quảng trường của cổng Nước, và quảng trường của cổng Ép-ra-im.
- Như vậy, cả hội chúng, của những người bị lưu đày trở về, đã làm những lều tạm và ở trong đó. Vì từ đời Giô-suê, con trai của Nun, cho đến ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên chưa bao giờ làm như vậy. Có một sự hân hoan rất lớn.
- Mỗi ngày, từ ngày đầu cho đến ngày cuối, người đã đọc trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời.
Họ giữ lễ trong bảy ngày, và vào ngày thứ tám có một cuộc nhóm họp lại trọng thể theo luật định.
9
- Vào ngày hai mươi bốn của tháng nầy, dân Y-sơ-ra-ên đã họp lại kiêng ăn, mặc vải thô, và rải bụi đất trên đầu. 2. Những người thuộc dòng giống Y-sơ-ra-ên đã tự tách biệt họ khỏi tất cả những người ngoại quốc, rồi họ đã đứng dậy xưng tội của mình và những gian ác của tổ phụ mình. 3. Họ đã đứng tại chỗ và đọc sách luật pháp của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, trong một phần tư ngày, và một phần tư ngày khác họ xưng tội và thờ phượng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của mình.
- Sau đó, Giê-sua, Ba-ni, Cát-mi-ên, Sê-ba-nia, Bun-ni, Sê-rê-bia, Ba-ni và Kê-na-ni đứng trên bục dành cho những người Lê-vi, và kêu cầu lớn tiếng cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của họ. 5. Những người Lê-vi là Giê-sua, Cát-mi-ên, Ba-ni, Ha-sáp-nia, Sê-rê-bia, Hô-đia, Sê-ba-nia và Phê-ta-hia nói: “Hãy đứng lên chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh chị em, là Đấng vĩnh hằng!”
“Chúc tụng danh vinh quang của Ngài, là danh vượt lên trên mọi lời chúc tụng và ngợi ca. 6. Duy chỉ một mình Ngài là Đức Giê-hô-va. Ngài đã dựng nên bầu trời, và trời của các tầng trời, cùng toàn thể thiên binh; đất và mọi vật trên đất, các đại dương và mọi vật ở trong đó. Ngài đã bảo tồn tất cả những vật đó. Các thiên binh thờ phượng Ngài.”
- “Ngài là Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, là Đấng đã chọn Áp-ram và đã đem ông ra khỏi xứ U-rơ của những người Canh-đê, đã ban cho ông tên Áp-ra-ham. 8. Ngài đã thấy lòng trung tín của ông trước mặt Ngài, đã lập một giao ước với ông, đã ban đất đai của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít, và dân Ghi-rê-ga-sít, và ban điều đó cho dòng dõi của ông. Ngài đã thực hiện lời của Ngài bởi vì Ngài là công chính.”
- “Ngài đã thấy nỗi khốn khổ của tổ phụ chúng con tại Ai Cập, đã nghe tiếng kêu cầu của họ bên Biển Đỏ, 10. nên Ngài đã thực hiện những dấu lạ và những việc diệu kỳ để chống lại Pha-ra-ôn, chống lại những quần thần của ông, và chống lại toàn dân trong đất nước của ông, bởi vì Ngài biết họ đã đối đãi với tổ phụ chúng con một cách kiêu ngạo. Vì vậy, Ngài đã làm vinh hiển danh của Ngài như ngày nay. 11. Ngài đã phân rẽ biển trước mặt họ để họ đi qua giữa biển như trên đất khô. Còn những kẻ đuổi theo, Ngài đã ném chúng dưới vực sâu như một tảng đá rơi vào những dòng nước mạnh. 12. Ngài còn dẫn dắt họ ban ngày bằng trụ mây và ban đêm bằng trụ lửa để ban ánh sáng cho họ trên con đường mà họ phải trải qua. 13. Ngài cũng đã ngự xuống trên núi Si-nai, đã phán với họ từ trời, ban những quy định và luật lệ chân chính, những quy tắc và điều răn tốt lành. 14. Ngài khiến họ biết ngày Sa-bát thánh của Ngài, và ban cho họ những điều răn, quy tắc và luật pháp, qua bàn tay của Môi-se, là đầy tớ của Ngài. 15. Ngài đã ban bánh từ trời khi họ đói, đem nước từ vầng đá khi họ khát, và đã truyền cho họ vào nhận lãnh đất mà Ngài đã hứa ban cho họ.”
- “Nhưng họ và các tổ phụ của chúng con đã cư xử cách kiêu ngạo và cứng cổ, không nghe theo những mạng lệnh của Ngài. 17. Họ đã không chịu vâng lời và không nhớ đến những việc diệu kỳ mà Ngài đã làm ở giữa họ nhưng họ đã cứng cổ của mình; và trong lúc nổi loạn, họ đã chọn một lãnh đạo để quay về kiếp nô lệ của mình tại Ai Cập. Nhưng Ngài là Đức Chúa Trời sẵn lòng tha thứ, khoan dung và thương xót, chậm nóng giận và đầy nhân từ, cho nên Ngài đã không từ bỏ họ. 18. Thậm chí khi họ đã đúc một con bò con cho họ, rồi nói: ‘Đây là thần của các ngươi đã dẫn các ngươi ra khỏi Ai Cập’, và đã hành động xúc phạm một cách nặng nề. 19. Dầu vậy, trong sự thương xót vô lượng của Ngài, Ngài đã không từ bỏ họ trong hoang mạc. Trụ mây đã không lìa khỏi họ ban ngày để dẫn họ trên đường, trụ lửa trong ban đêm không ngừng soi sáng họ và con đường họ nên đi. 20. Ngài cũng ban Thần Linh tốt lành của Ngài để dạy dỗ họ. Ngài đã không lấy lại ma-na khỏi miệng của họ, nhưng đã ban cho họ nước khi họ khát. 21. Ngài đã nuôi dưỡng họ bốn mươi năm trong hoang mạc. Họ chẳng thiếu thốn gì, quần áo của họ không mòn, chân của họ không phù lên.”
- “Hơn thế nữa, Ngài đã ban các nước và các vương quốc cho họ, rồi phân chia chúng thành những khu vực. Họ đã chiếm đất của Si-hôn, vua của Hết-bôn, và đất của Óc, vua của Ba-san. 23. Ngài đã làm cho dòng dõi của họ đông như sao trên trời, rồi đem họ vào xứ, mà Chúa đã phán với tổ phụ họ rằng họ sẽ vào và chiếm lĩnh. 24. Vì vậy con cháu của họ đã vào chiếm lĩnh xứ. Ngài đã khiến những dân địa phương, là các dân tại Ca-na-an, khuất phục họ. Ngài đã trao các xứ đó, vua của chúng, và dân của xứ vào tay của họ, và cho họ đối xử với các dân ấy theo ý họ muốn.25. Họ đã chiếm những thành bền vững và một xứ mầu mỡ, sở hữu những căn nhà đầy những vật tốt lành, những giếng nước đã được đào sẵn, những vườn nho, vườn ô-liu và cây trái rất nhiều. Họ đã ăn no nê và trở nên béo tốt. Họ đã thỏa vui trong sự nhân từ lớn lao của Ngài.”
- “Dầu vậy, họ đã không vâng lời nhưng đã phản nghịch Ngài, đã ném bỏ luật pháp của Ngài ra sau lưng của họ, đã giết các tiên tri của Ngài là những người đã khuyến cáo họ và muốn họ quay về với Ngài. Họ đã xúc phạm rất nặng nề. 27. Vì vậy, Ngài đã trao họ vào tay những kẻ thù của họ, để chúng hà hiếp họ. Trong cơn hoạn nạn của mình, khi họ kêu cầu cùng Ngài. Từ trời, Ngài đã lắng nghe theo lòng nhân từ lớn lao của Ngài. Ngài đã ban cho họ những vị cứu tinh để giải cứu họ khỏi tay những kẻ thù của mình. 28. Nhưng sau khi họ được an ổn, họ lại làm điều ác trước mặt Ngài. Vì vậy, Ngài đã bỏ mặc họ vào tay của những kẻ thù của họ, để chúng thống trị trên họ. Nhưng khi họ trở lại, kêu cầu cùng Ngài, từ trời, Ngài đã lắng nghe và nhiều lần Ngài đã giải cứu họ theo sự thương xót của Ngài. 29. Ngài đã răn dạy họ để đem họ trở về với luật pháp của Ngài. Tuy nhiên, họ đã cư xử cách ngạo mạn, không vâng theo những điều răn của Ngài, mà nếu ai vâng theo thì người đó sẽ được sống. Nhưng đã phạm tội chống nghịch lại những phán xét của Ngài. Họ đã nhún vai, cứng cổ, và không chịu lắng nghe. 30. Dầu vậy Ngài vẫn kiên nhẫn với họ nhiều năm, dùng Thần Linh qua các tiên tri của Ngài để cảnh cáo họ, nhưng họ vẫn không lắng nghe, cho nên Ngài đã ban họ vào trong tay của các dân tộc ở trong xứ. 31. Thật vậy, trong sự thương xót lớn lao của Ngài, Ngài đã không tận diệt họ và cũng không từ bỏ họ; bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời hay thương xót và nhân từ.”
- “Vì vậy bây giờ, Đức Chúa Trời của chúng con, Ngài là Đức Chúa Trời vĩ đại, quyền năng, và đáng kính sợ, là Đấng giữ giao ước và lòng nhân từ! Xin Ngài đừng xem tất cả sự khốn khổ là nhỏ mọn trước mặt Ngài, là điều đã giáng trên chúng con, trên các vua, các quan chức, các tư tế, các tiên tri, các tổ phụ của chúng con, và trên tất cả dân của Ngài từ thời các vua của A-sy-ri cho đến ngày nay. 33. Thật vậy, trong mọi việc đã xảy đến cho chúng con, Ngài vẫn công chính; bởi vì Ngài đã đối xử cách thành tín, còn chúng con đã hành động gian ác. 34. Các vua, các quan chức, các tư tế và tổ phụ của chúng con đã không gìn giữ luật pháp của Ngài, cũng chẳng vâng theo những điều răn và những lời cảnh cáo mà Ngài đã phán với họ. 35. Bởi vì họ đã không phục vụ Ngài lúc còn trong vương quốc của mình, cũng không phục vụ Ngài trong khi Ngài đã ban biết bao điều tốt lành cho họ, cũng không phục vụ Ngài khi Ngài đặt để trước họ trong một xứ sở rộng lớn và giàu có, và họ cũng không từ bỏ những việc gian ác của họ.”
- “Cho nên, bây giờ chúng con là những kẻ nô lệ ngay trong đất mà Ngài đã ban cho tổ phụ của chúng con để được ăn hoa quả và thổ sản tốt tươi của nó. Giờ đây chúng con là những kẻ nô lệ tại đó. 37. Bởi vì tội lỗi của chúng con, hoa lợi dư dật sản sinh đã thuộc về các vua, mà Ngài đã lập trên chúng con. Họ có quyền trên thân thể và súc vật của chúng con, muốn làm gì thì làm. Và chúng con đang bị hoạn nạn lớn. 38. Bởi vì tất cả những điều nầy, chúng con quyết định viết bản giao ước chắc chắn nầy để các quan chức, những người Lê-vi, và các tư tế của chúng con đóng ấn vào đó.”
10
- Những người đã đóng ấn của mình vào giao ước là Tổng trấn Nê-hê-mi, con trai của Ha-ca-lia, cùng với Sê-đê-kia, 2. Sê-ra-gia, A-xa-ria, Giê-rê-mi, 3. Pha-su-rơ, A-ma-ria, Manh-ki-gia, 4. Hát-tút, Sê-ba-nia, Ma-lúc, 5. Ha-rim, Mê-rê-mốt, Áp-đia, 6. Đa-ni-ên, Ghi-nê-thôn, Ba-rúc, 7. Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min, 8. Ma-a-xia, Binh-gai, Sê-ma-gia – những người này là các tư tế.
- Những người Lê-vi là Giê-sua, con trai của A-xa-nia; Bin-nui, con trai của Hê-na-đát; Cát-mi-ên, 10. và những anh em của họ là Sê-ba-nia, Hô-đi-gia, Kê-li-ta, Phê-la-gia, Ha-nan, 11. Mi-chê, Rê-hốp, Ha-sa-bia, 12. Xác-cua, Sê-rê-bia, Sê-ba-nia, 13. Hô-đia, Ba-ni và Bê-ni-nu.
- Những lãnh đạo của dân chúng là Pha-rốt, Pha-hát Mô-áp, Ê-lam, Xát-tu, Ba-ni, 15. Bu-ni, A-gát, Bê-bai, 16. A-đô-ni-gia, Biết-vai, A-đin, 17. A-te, Ê-xê-chia, A-xu-rơ, 18. Hô-đia, Ha-sum, Bết-sai, 19. Ha-ríp, A-na-tốt, Ni-bai, 20. Mác-bi-ách, Mê-su-lam, Hê-xia, 21. Mê-sê-xa-bê-ên, Xa-đốc, Gia-đua, 22. Phê-la-tia, Ha-nan, A-na-gia, 23. Ô-sê, Ha-na-nia, Ha-súp, 24. Ha-lô-hết, Bi-la, Sô-béc, 25. Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-xê-gia, 26. A-hi-gia, Ha-nan, A-nan, 27. Ma-lúc, Ha-rim và Ba-a-na.
- Phần còn lại của dân chúng, của các tư tế, của những người Lê-vi, những người gác cổng, những ca sĩ, những người phục vụ đền thờ, và những người đã cùng với vợ, con trai, con gái của họ tách biệt với các dân tộc trong xứ để vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời; mọi người có tri thức và hiểu biết, 29. đều hiệp nhất với những anh em và những quý tộc của mình thề hứa đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời đã ban qua Môi-se, là đầy của tớ Ngài, và gìn giữ, và thực hành tất cả những điều răn của Đức Giê-hô-va, là Chúa của chúng con, cùng với những luật lệ của Ngài và những mạng lịnh của Ngài:
- “Chúng con sẽ không gả các con gái của chúng con cho dân địa phương, và cũng không cưới các con gái của họ cho các con trai của chúng con.”
- “Nếu dân địa phương đem hàng hóa hoặc bất kỳ lương thực nào đến bán trong ngày sa-bát, chúng con sẽ không mua từ những người đó trong ngày Sa-bát hay trong ngày thánh. Vào năm thứ bảy, chúng con sẽ nghỉ canh tác và xóa tất cả các món nợ.”
- “Chúng con cũng quy định cho chính mình, mỗi năm sẽ dâng một phần ba siếc-lơ bạc để dùng vào những công việc của đền thờ Đức Chúa Trời như: 33. bánh cung hiến, tế lễ chay thường kỳ, tế lễ thiêu hằng hiến trong ngày Sa-bát, ngày trăng mới, và những lễ được quy định, những vật thánh, tế lễ chuộc tội của dân Y-sơ-ra-ên, và tất cả những công việc khác trong nhà của Đức Chúa Trời của chúng con.”
- “Chúng con bắt thăm giữa vòng các tư tế, những người Lê-vi, và dân chúng để đem củi dâng vào nhà của Đức Chúa Trời, tùy theo mỗi gia tộc, vào những thời điểm được chỉ định, từ năm nầy sang năm khác, để đốt trên bàn thờ của Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng con, đúng như đã chép trong luật pháp.”
- “Chúng con cũng lập những quy định sẽ mang sản vật đầu mùa của đất và những trái đầu mùa của tất cả các cây của chúng con, từ năm này sang năm khác, đến đền thờ của Đức Giê-hô-va; 36. và cũng theo điều đã chép trong luật pháp, chúng con sẽ đem con trai đầu lòng và con đầu lòng trong bầy súc vật chúng con, cùng chiên và bò sinh đầu lòng đến đền thờ của Đức Chúa Trời để giao cho các tư tế đang phục vụ trong nhà của Đức Chúa Trời của chúng con; 37. cũng đem bột nhồi đầu tiên của chúng con, những tế lễ, hoa quả của tất cả các loại cây, rượu mới và dầu, cho các tư tế, để chứa trong các kho của nhà của Đức Chúa Trời; và một phần mười hoa lợi của đất chúng con cho người Lê-vi, bởi vì người Lê-vi sẽ nhận một phần mười tại tất cả miền quê của chúng con. 38. Các tư tế, con cháu của A-rôn, sẽ đi với những người Lê-vi khi họ thu nhận một phần mười, rồi những người Lê-vi sẽ đem một phần mười của một phần mười đó đến nhà của Đức Chúa Trời của chúng con, đặt trong các căn phòng của nhà kho.”
- “Vì vậy dân Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi sẽ đem những lễ vật bằng lúa, rượu mới và dầu vào trong những phòng của kho, là nơi có các vật dụng của đền thánh, là nơi cư ngụ của các tư tế đang phục vụ, những người gác cổng và những ca sĩ; và chúng con sẽ không bỏ bê nhà của Đức Chúa Trời của chúng con.”
11
- Các lãnh đạo của dân chúng tại Giê-ru-sa-lem và dân chúng còn lại đã bắt thăm để một phần mười sẽ ở tại Giê-ru-sa-lem, là thành thánh, còn chín phần mười thì ở trong các thành khác. 2. Tất cả dân chúng chúc phước cho những người nào tình nguyện ở tại Giê-ru-sa-lem.
- Như vậy, những lãnh đạo của tỉnh sống tại Giê-ru-sa-lem, nhưng dân Y-sơ-ra-ên, các tư tế, những người Lê-vi, những người phục vụ đền thờ, và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn ở tại nơi sở hữu của họ trong các thành của Giu-đa.
- Tại Giê-ru-sa-lem cũng có một số con cháu của Giu-đa và Bên-gia-min sinh sống.
Con cháu của Giu-đa: A-tha-gia, con trai của U-xia, cháu của Xa-cha-ri, chắt của A-ma-ria, chít của Sê-pha-tia; Sê-pha-tia là con trai của Ma-ha-la-lên thuộc dòng dõi Pê-rết; 5. và Ma-a-xê-gia, con trai của Ba-rúc, cháu của Côn Hô-xê, chắt của Ha-xa-gia, chít của A-đa-gia; A-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, cháu của Xa-cha-ri, thuộc dòng dõi Si-lô-ni. 6. Tất cả con cháu của Phê-rết ở tại Giê-ru-sa-lem là bốn trăm sáu mươi tám dũng sĩ.
- Và đây là con cháu của Bên-gia-min: Sa-lu, con trai của Mê-su-lam, cháu của Giô-ết, chắt của Phê-đa-gia, chít của Cô-la-gia; Cô-la-gia là con trai của Ma-a-xê-gia, cháu của Y-thi-ên, chắt của Giê-sai. 8. Theo sau ông có Gáp-bai và Sa-lai, cùng với chín trăm hai mươi tám người. 9. Giô-ên, con trai của Xiếc-ri, là chỉ huy của họ, còn Giu-đa, con trai của Ha-sê-nua làm phó thị trưởng.
- Về các tư tế có Giê-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, Gia-kin, 11. Sê-ra-gia là con trai của Hinh-kia, cháu của Mê-su-lam, chắt của Xa-đốc, chít của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt, con trai của A-hi-túp, là quản lý đền của Đức Chúa Trời.
- Các anh em của họ làm công việc trong đền thờ là tám trăm hai mươi hai người. Cũng có A-đa-gia, con trai của Giê-rô-ham, cháu của Phê-la-lia, chắt của Am-si, chít của Xa-cha-ri; Xa-cha-ri là con trai của Pha-su-rơ, cháu của Manh-ki-gia 13. cùng các anh em của họ, những trưởng tộc trong dòng họ của họ, là hai trăm bốn mươi hai người; và A-mát-sai, con trai của A-xa-rên, cháu của Ạc-xai, chắt của Mê-si-lê-mốt, chít của Y-mê 14. và các anh em của họ, là những dũng sĩ can đảm, là một trăm hai mươi tám người. Xáp-đi-ên, người chỉ huy của họ, là con trai của một nhân vật vĩ đại.
- Về những người Lê-vi có Sê-ma-gia, con trai của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia, chít của Bun-ni. 16. Trong các trưởng tộc Lê-vi có Sa-bê-thai và Giô-xa-bát được giao coi sóc công việc bên ngoài của đền Đức Chúa Trời. 17. Mát-ta-nia, con trai của Mi-chê, cháu của Xáp-đi, chắt của A-sáp, làm trưởng ban hướng dẫn việc ca ngợi Chúa khi cầu nguyện; cũng có Bác-bu-kia là người thứ nhì trong anh em mình và Áp-đa, con trai của Sa-mua, cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thun. 18. Tất cả người Lê-vi ở trong thành thánh là hai trăm tám mươi bốn người.
- Những người gác cổng có A-cúp, Tanh-môn, cùng với những anh em của họ – những người canh giữ các cổng – là một trăm bảy mươi hai người.
- Những người còn lại trong dân Y-sơ-ra-ên, trong các tư tế và những người Lê-vi đều sống trong các thành của xứ Giu-đa, mỗi người ở trong sản nghiệp của mình. 21. Tuy nhiên, những người phục vụ đền thờ ở tại Ô-phên; Xi-ha và Ghít-ba lãnh đạo những người phục vụ đền thờ.
- Người giám sát những người Lê-vi tại Giê-ru-sa-lem là U-xi, con trai của Ba-ni, cháu của Ha-sa-bia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê, thuộc dòng dõi A-sáp là những ca sĩ, chịu trách nhiệm phục vụ trong đền của Đức Chúa Trời. 23. Vì có lệnh của vua liên quan đến họ rằng phải chu cấp cho những ca sĩ mỗi ngày. 24. Phê-tha-hia, con trai của Mê-sê-xa-bê-ên, thuộc dòng dõi Xê-ra là con trai của Giu-đa, là người đại diện của vua giải quyết một vấn đề của dân chúng.
- Còn về những làng mạc và ruộng đồng, một số người Giu-đa sống tại Ki-ri-át A-ra-ba và những làng mạc phụ cận, tại Đi-bôn và những làng mạc phụ cận, tại Giê-cáp-xê-ên và những làng mạc phụ cận, 26. tại Giê-sua, Mô-la-đa, Bết Phê-lết, 27. Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba và trong những làng mạc phụ cận, 28. tại Xiếc-lác, Mê-cô-na và những làng mạc phụ cận, 29. tại Ên-rim-môn, Xô-ra, Giạt-mút, 30. tại Xa-nô-a, A-đu-lam và những làng mạc phụ cận; tại La-ki và những đồng ruộng phụ cận, và tại A-xê-ca và những làng mạc phụ cận. Như vậy, họ định cư từ Bê-e Sê-ba cho đến thung lũng Hin-nôm.
- Người Bên-gia-min cũng sống từ Ghê-ba cho đến Mích-ma, A-gia, Bê-tên và những làng mạc của nó, 32. và tại A-na-tốt, Nốp, A-na-nia, 33. Hát-so, Ra-ma, Ghi-tha-im. 34. Ha-đít, Sê-bô-im, Nê-ba-lát, 35. Lót và Ô-nô tức là thung lũng của những thợ thủ công. 36. Và một số người Lê-vi được phân bố cho Giu-đa đã đến sống với người Bên-gia-min.
12
- Đây là các tư tế và những người Lê-vi đã trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và với Giê-sua: Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, E-xơ-ra, 2. A-ma-ria, Ma-lúc, Ha-túc, 3. Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt, 4. Y-đô, Ghi-nê-thôi, A-bi-gia, 5. Mi-gia-min, Ma-a-đia, Binh-ga, 6. Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia, 7. Sa-lu, A-móc, Hinh-kia và Giê-đa-gia. Đó là những người đứng đầu các tư tế và những anh em của họ trong thời của Giê-sua.
- Thêm vào đó, có những người Lê-vi là Giê-sua, Bin-nui, Cát-mi-ên, Sê-rê-bia, Giu-đa và Mát-ta-nia, cùng với những anh em của mình, hướng dẫn những bài hát cảm tạ. 9. Bác-bu-kia và U-ni, cùng với những anh em của họ, đứng đối diện với họ trong lúc hành lễ.
- Giê-sua sinh Giô-gia-kim; Giô-gia-kim sinh Ê-li-a-síp; Ê-li-a-síp sinh Giô-gia-đa; 11. Giô-gia-đa sinh Giô-na-than, và Giô-na-than sinh Gia-đua.
- Đây là các trưởng tộc của những tư tế trong thời của Giô-gia-kim: Gia tộc Sê-rê-gia: Mê-ra-gia; gia tộc Giê-rê-mi: Ha-na-nia; 13. gia tộc E-xơ-ra: Mê-su-lam; gia tộc A-ma-ria: Giô-ha-nan; 14. gia tộc Mê-lu-ki: Giô-na-than; 15. gia tộc Sê-ba-nia: Giô-sép; gia tộc Ha-rim: Át-na; gia tộc Mê-ra-giốt: Hên-cai; 16. gia tộc Y-đô: Xa-cha-ri; gia tộc Ghi-nê-thôn: Mê-su-lam; 17. gia tộc A-bi-gia: Xiếc-ri; gia tộc Min-gia-min; gia tộc Mô-a-đia: Phinh-tai; 18. gia tộc Binh-ga: Sa-mua; gia tộc Sê-ma-gia: Giô-na-than; 19. gia tộc Giô-gia-ríp: Mát-tê-nai; gia tộc Giê-đa-gia: U-xi; 20. gia tộc Sa-lai: Ca-lai; gia tộc A-móc: Ê-be; 21. gia tộc Hinh-kia: Ha-sa-bia; gia tộc Giê-đa-gia: Nê-tha-nê-ên.
- Vào thời Đa-ri-út trị vì tại Ba Tư, có một danh sách được lưu giữ ghi tên các trưởng tộc của những người Lê-vi và các tư tế trong thời Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan và Gia-đua.
- Về con cháu Lê-vi, các trưởng tộc của những gia tộc được ghi vào sách sử ký cho đến đời Giô-ha-nan, con trai của Ê-li-a-síp.
- Các trưởng tộc của người Lê-vi gồm có: Ha-sa-bia, Sê-rê-bia và Giê-sua, con trai của Cát-mi-ên, và các anh em của họ, đứng đối diện với họ, để ca ngợi và cảm tạ, luân phiên từng nhóm, theo quy định của Đa-vít, là người của Đức Chúa Trời.
- Mát-ta-nia, Bác-bu-kia, Ô-ba-đia, Mê-su-lam, Tanh-môn và A-cúp là những người gác cổng, canh giữ những kho tại các cổng. 26. Những người nầy sống trong thời Giô-gia-kim, con trai của Giê-sua, cháu Giô-xa-đác, và vào thời Nê-hê-mi làm tổng trấn và E-xơ-ra làm tư tế và học giả về giáo luật.
- Vào dịp lễ cung hiến tường thành Giê-ru-sa-lem, họ cho tìm những người Lê-vi ở khắp nơi, đưa những người đó về Giê-ru-sa-lem dự lễ cung hiến trong niềm hân hoan, vừa cảm tạ vừa ca hát, hòa với tiếng chập chõa, đàn hạc và những nhạc cụ bằng dây. 28. Các con trai của các ca sĩ đều tụ họp lại từ những vùng quê quanh Giê-ru-sa-lem, từ các làng mạc của người Nê-tô-pha-tít, 29. từ Bết Ghinh-ganh, từ đồng bằng Ghê-ba và Ách-ma-vết, bởi vì các ca sĩ đã xây những làng mạc cho mình chung quanh Giê-ru-sa-lem. 30. Những tư tế và những người Lê-vi đã thanh tẩy chính mình, và thanh tẩy dân chúng, các cổng và tường thành.
- Tôi đem các lãnh đạo của Giu-đa lên trên tường thành, và chỉ định hai ca đoàn tạ ơn thật lớn. Một ca đoàn đi trên vách thành theo hướng bên phải đến cổng Phân. 32. Đi sau họ là Hô-sa-gia và phân nửa các lãnh đạo của Giu-đa 33. cùng với A-xa-ria, E-xơ-ra, Mê-su-lam, 34. Giu-đa, Bên-gia-min, Sê-ma-gia, Giê-rê-mi, 35. và một số con trai của các tư tế thổi kèn là Xa-cha-ri, con trai của Giô-na-than, cháu của Sê-ma-gia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê; Mi-chê là con trai của Xác-cua, cháu của A-sáp 36. cùng các anh em của ông là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa và Ha-na-ni, với những nhạc cụ của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời. Học giả giáo luật E-xơ-ra đi trước họ. 37. Từ cổng Suối, ngay trước mặt, họ đã đi thẳng lên các bậc thang của thành Đa-vít, theo dốc tường thành đến phía trên nhà của Đa-vít, đến tận cổng Nước về hướng đông.
- Ca đoàn tạ ơn thứ hai đi ngược hướng. Tôi đi phía sau họ cùng với phân nửa dân chúng trên tường thành, đi từ tháp Lò cho đến vách Rộng, 39. rồi đi trên cổng Ép-ra-im, trên cổng Cũ, trên cổng Cá, tháp Ha-na-nê-ên, và tháp Mê-a, đến tận cổng Chiên. Họ dừng lại tại cổng Phòng Vệ.
- Hai ca đoàn tạ ơn đã dừng lại trong đền của Đức Chúa Trời, tôi và phân nửa các viên chức với tôi, 41. và Tư tế Ê-lê-a-kim, Ma-a-xê-gia, Min-gia-min, Mi-chê, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri và Ha-na-nia, mang theo kèn; 42. và Ma-a-xê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam và Ê-xe. Các ca sĩ đã hát với Dít-ra-bia, là người lãnh đạo của họ. 43. Họ dâng những tế lễ trọng thể và tràn ngập niềm vui, bởi vì Đức Chúa Trời đã khiến lòng họ vui mừng hoan hỉ. Những phụ nữ và các trẻ em cũng vui mừng nữa. Sự vui mừng của Giê-ru-sa-lem nghe được rất xa.
- Cùng lúc đó, một số người đã được chỉ định để trông coi các phòng của nhà kho dùng để chứa những lễ vật, sản vật đầu mùa, và những phần mười, thu từ những cánh đồng chung quanh các thành, những phần mà luật pháp đã quy định dành cho các tư tế và những người Lê-vi, bởi vì dân Giu-đa hài lòng về sự phục vụ của các tư tế và người Lê-vi. 45. Các ca sĩ và những người giữ cổng chịu trách nhiệm với Đức Chúa Trời và chịu trách nhiệm thanh tẩy theo lệnh của Đa-vít và của Sa-lô-môn, con trai ông. 46. Bởi vì ngày xưa, vào thời Đa-vít và A-sáp, đã có những người lãnh đạo các ca sĩ và soạn những bài ca ngợi, cảm tạ Đức Chúa Trời. 47. Trong thời Xô-rô-ba-bên và trong thời Nê-hê-mi, tất cả dân Y-sơ-ra-ên đều cung cấp khẩu phần hằng ngày cho các ca sĩ và những người gác cổng. Họ cũng dâng hiến cho người Lê-vi, và người Lê-vi dâng hiến cho con cháu của A-rôn.
13
- Ngày hôm đó, họ đã đọc sách Môi-se cho dân chúng nghe, rồi khám phá trong đó có chép rằng không một người Am-môn hay người Mô-áp nào được vào hội của Đức Chúa Trời, 2. Bởi vì những người này đã không đem bánh và nước tiếp đãi dân Y-sơ-ra-ên, nhưng đã mướn Ba-la-am đến nguyền rủa họ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời của chúng tôi đã đổi sự nguyền rủa thành phước lành. 3. Vì vậy, sau khi họ nghe luật pháp, họ đã phân rẽ tất cả số đông dân lai tạp khỏi Y-sơ-ra-ên.
- Trước việc này, Tư tế Ê-li-a-síp, là người có thẩm quyền trên những phòng kho của đền Đức Chúa Trời của chúng tôi, đã gần gũi với Tô-bi-gia, 5. và ông đã cấp cho hắn một cái phòng lớn, là nơi trước đây người ta dùng để chứa tế lễ chay, nhũ hương, các vật dụng, những phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu, là những vật theo quy định được ban cho người Lê-vi, các ca sĩ và người gác cổng, cùng với lễ vật dành cho các tư tế. 6. Tuy nhiên, khi tất cả những điều này xảy ra thì tôi đã không còn ở tại Giê-ru-sa-lem, bởi vì vào năm thứ ba mươi hai đời Ạt-ta-xét-xe, vua của Ba-by-lôn, tôi phải trở về với vua. Sau đó một thời gian, tôi đã xin phép rời vua. 7. Khi tôi trở lại Giê-ru-sa-lem và biết được điều tệ hại mà Ê-li-a-síp đã làm vì Tô-bi-gia, tức là cấp cho hắn một phòng trong hành lang của đền của Đức Chúa Trời. 8. Điều này làm tôi thật đau buồn, cho nên tôi đã ném các vật gia dụng của Tô-bi-gia ra khỏi căn phòng. 9. Rồi tôi ra lệnh cho họ thanh tẩy những căn phòng, và tôi đã đem những vật dụng của nhà Ðức Chúa Trời, cùng với các của lễ chay và nhũ hương, vào trở lại những phòng đó.
- Tôi cũng nhận biết rằng khẩu phần của người Lê-vi đã không được cấp cho họ; do đó các ca sĩ và những người Lê-vi phục vụ đều trở về đồng ruộng của mình. 11. Tôi đã khiển trách các quan chức và nói: “Tại sao đền của Đức Chúa Trời bị bỏ bê như vậy?” Rồi tôi đã triệu tập họ lại và phục hồi địa vị của họ. 12. Sau đó tất cả người Giu-đa đã đem vào kho một phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu. 13. Tôi đã chỉ định Tư tế Sê-lê-mia, Học giả giáo luật Xa-đốc và một người thuộc dòng Lê-vi tên là Phê-đa-gia làm các thủ kho để trông coi kho, và kế họ là Ha-nan, con trai của Xác-cua, cháu Mát-ta-nia, bởi vì họ được xem là những người trung thành, và nhiệm vụ của họ là phân phát cho anh em của mình.
- “Đức Chúa Trời của con ôi! Vì điều nầy, xin nhớ đến con, và đừng xóa bỏ những việc tốt lành mà con đã làm cho đền của Đức Chúa Trời, và cho việc phục vụ của nó.”
- Trong những ngày đó, tôi thấy trong dân Giu-đa có những người dùng máy ép nho trong ngày Sa-bát, mang lúa, cũng như chở rượu, trái nho, trái vả và đủ loại sản vật trên lưng lừa, mà họ đã mang về Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát. Tôi đã cảnh cáo họ, không được bán các thực phẩm ấy trong ngày Sa-bát. 16. Những người Ty-rơ ở tại đó cũng đem cá và đủ loại hàng hóa đến bán cho người Giu-đa ngay tại Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát. 17. Bấy giờ tôi khiển trách những quý tộc của Giu-đa rằng: “Các ông làm điều gian ác gì vậy, không phải các ông làm ô uế ngày Sa-bát sao? 18. Không phải tổ phụ của các ông cũng đã làm như vậy đến nỗi Đức Chúa Trời giáng tai họa trên chúng ta và trên thành nầy hay sao? Nhưng các ông lại làm ô uế ngày Sa-bát khiến cơn thịnh nộ của Ngài gia tăng trên Y-sơ-ra-ên!”
- Kể từ đó, tại các cổng của Giê-ru-sa-lem, mỗi khi trời bắt đầu tối trước ngày Sa-bát, tôi đã ra lệnh đóng tất cả các cổng thành và không được mở cho tới sau ngày Sa-bát. Tôi cũng đặt các tôi tớ của tôi ở các cổng thành để không cho ai mang vật gì nặng vào trong ngày Sa-bát. 20. Một hai lần, các thương nhân và những người bán đủ thứ hàng hóa đã phải ngủ qua đêm ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem. 21. Tôi đã cảnh cáo họ: “Tại sao các ông ngủ đêm quanh tường thành như vậy? Nếu các ông còn làm như thế, tôi sẽ thẳng tay với các ông.” Từ đó về sau, họ không đến trong ngày Sa-bát nữa. 22. Tôi đã ra lệnh cho người Lê-vi phải thanh tẩy chính mình và họ đến canh giữ các cổng, để thánh hóa ngày Sa-bát ra.
“Đức Chúa Trời của con ôi! Xin cũng hãy nhớ đến điều này, và xin thương xót con tùy theo sự nhân từ lớn lao của Ngài.”
- Cũng trong những ngày ấy, tôi thấy những người Do Thái cưới vợ người Ách-đốt, Am-môn và Mô-áp. 24. Phân nửa con cái của họ nói tiếng Ách-đốt, hoặc nói tiếng của các dân tộc khác, nhưng không thể nói tiếng Giu-đa.
- Tôi quở trách và rủa sả họ, đánh một vài người hoặc bứt tóc họ, rồi truyền cho họ chỉ Đức Chúa Trời mà thề rằng: “Chúng con sẽ không gả các con gái của chúng con cho các con trai của họ, hoặc cưới con gái của họ cho con trai của chúng con hay cho chính mình! 26. Không phải Sa-lô-môn, là vua của Y-sơ-ra-ên, đã phạm tội như vậy hay sao? Trong nhiều quốc gia, không có vua nào giống như ông, được Đức Chúa Trời yêu mến, đặt làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên; tuy nhiên chính những người vợ ngoại đạo nầy đã khiến cho ông phạm tội! 27. Lẽ nào chúng tôi còn phải nghe các ông làm điều đại ác, chống lại Đức Chúa Trời bằng cách lấy vợ ngoại đạo hay sao?”
- Một trong những con trai của Giô-gia-đa, là cháu của Thượng tế Ê-li-a-síp, là con rể của San-ba-lát, người Hô-rôn, nên tôi đuổi hắn khỏi tôi.
- “Đức Chúa Trời của con ôi! Hãy nhớ rằng họ đã làm ô uế chức vụ tư tế, giao ước của chức vụ tư tế và những người Lê-vi.”
- Như vậy, tôi đã thanh tẩy họ khỏi tất cả những điều liên quan đến ngoại giáo. Tôi cũng phân trách nhiệm cho các tư tế và những người Lê-vi, mỗi người theo nhiệm vụ của họ, 31. để họ dâng củi và sản vật đầu mùa theo kỳ định.
“Đức Chúa Trời của con ôi! Xin nhớ đến con vì điều tốt lành!”
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl