Bản Dịch Việt Ngữ: E-xơ-ra

E-xơ-ra
1
- Vào năm thứ nhất của triều Si-ru, vua của Ba Tư, để ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã phán bởi miệng của Giê-rê-mi, Đức Giê-hô-va đã khuấy động lòng của Si-ru, vua của Ba Tư, khiến ông công bố trên toàn vương quốc mình một sắc chỉ viết rằng:
- “Si-ru, là vua của Ba Tư, công bố: ‘Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các tầng trời, đã ban cho ta tất cả các vương quốc trên đất; Ngài đã truyền cho ta xây cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, trong xứ Giu-đa. 3. Ai trong các ngươi là dân của Ngài – xin Đức Chúa Trời ở cùng người ấy – hãy đi lên Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa để xây đền thờ của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Ngài là Đức Chúa Trời ngự tại Giê-ru-sa-lem. 4. Những người ở tại bất kỳ nơi nào có người bị lưu đày còn sống sót, phải giúp họ bằng bạc, vàng, của cải, súc vật, bên cạnh những lễ vật lạc hiến cho đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.’”
- Sau đó, các trưởng tộc của Giu-đa và Bên-gia-min, các tư tế và người Lê-vi, cùng tất cả những người mà Đức Chúa Trời thúc giục trong lòng, đã đứng dậy để đi xây đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem. 6. Tất cả những người lân cận của họ đã hỗ trợ và tiếp tay cho họ những vật dụng bằng bạc, vàng, của cải, súc vật và những bửu vật, bên cạnh tất cả những lễ vật lạc hiến khác.
- Vua Si-ru cũng trả lại những vật dụng của đền thờ Đức Giê-hô-va mà Nê-bu-cát-nết-sa đã đem khỏi Giê-ru-sa-lem và để trong đền thờ các thần của mình. 8. Si-ru, vua của Ba Tư, đã truyền cho thủ quỹ Mít-rê-đát, lấy các vật dụng đó ra, đếm, rồi giao cho Sết-ba-xa, lãnh đạo của người Giu-đa. 9. Đây là con số: ba mươi chậu bằng vàng, một nghìn chậu bằng bạc, hai mươi chín con dao, 10. ba mươi chén bằng vàng, bốn trăm mười chén bằng bạc loại hạng nhì, và một nghìn vật dụng khác. 11. Tổng số những vật dụng bằng vàng và bạc là năm nghìn bốn trăm cái. Sết-ba-xa mang theo tất cả các vật đó cùng với những người lưu đày từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem.
2
- Đây là thống kê những người nam ở trong tỉnh, là những người đã trở về từ nơi bị lưu đày. Nê-bu-cát-nết-sa là vua của Ba-by-lôn. Nê-bu-cát-nết-sa là người đã đưa những người này đến lưu đày tại Ba-by-lôn. Họ đã trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về trong thành của mình. 2. Họ là những người đã về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và Ba-a-na.
Đây là số liệu của những người nam thuộc về dân Y-sơ-ra-ên:
- Những người nam thuộc về Pha-rốt: Hai ngàn một trăm bảy mươi hai người.
- Những người nam thuộc về Sê-pha-tia: Ba trăm bảy mươi hai người.
- Những người nam thuộc về A-rách: Bảy trăm bảy mươi lăm người.
- Những người nam thuộc về Pha-hát Mô-áp, còn gọi là những người nam thuộc về Giê-sua và Giô-áp: Hai ngàn tám trăm mười hai người.
- Những người nam thuộc về Ê-lam: Một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
- Những người nam thuộc về Xát-tu: Chín trăm bốn mươi lăm người.
- Những người nam thuộc về Xác-cai: Bảy trăm sáu mươi người.
- Những người nam thuộc về Ba-ni: Sáu trăm bốn mươi hai người.
- Những người nam thuộc về Bê-bai: Sáu trăm hai mươi ba người.
- Những người nam thuộc về A-gát: Một ngàn hai trăm hai mươi hai người.
- Những người nam thuộc về A-đô-ni-cam: Sáu trăm sáu mươi sáu người.
- Những người nam thuộc về Biết-vai: Hai ngàn không trăm năm mươi sáu người.
- Những người nam thuộc về A-đin: Bốn trăm năm mươi bốn người.
- Những người nam thuộc về A-te, thuộc về Ê-xê-chia: Chín mươi tám người.
- Những người nam thuộc về Bết-sai: Ba trăm hai mươi ba người.
- Những người nam thuộc về Giô-ra: Một trăm mười hai người.
- Những người nam thuộc về Ha-sum: Hai trăm hai mươi ba người.
- Những người nam thuộc về Ghi-ba: Chín mươi lăm người.
- Những người nam thuộc về Bết-lê-hem: Một trăm hai mươi ba người.
- Những đàn ông thuộc về Nê-tô-pha: Năm mươi sáu người.
- Những đàn ông thuộc về A-na-tốt: Một trăm hai mươi tám người.
- Những người nam thuộc về Ách-ma-vết: Bốn mươi hai người.
- Những người nam thuộc về Ki-ri-át A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt: Bảy trăm bốn mươi ba người.
- Những người nam thuộc về Ra-ma và Ghê-ba: Sáu trăm hai mươi mốt người.
- Những người nam thuộc về Mích-ma: Một trăm hai mươi hai người.
- Những người nam thuộc về Bê-tên và A-hi: Hai trăm hai mươi ba người.
- Những người nam thuộc về Nê-bô: Năm mươi hai người.
- Những người nam thuộc về Mách-bi: Một trăm năm mươi sáu người.
- Những người nam thuộc về Ê-lam khác: Một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
- Những người nam thuộc về Ha-rim: Ba trăm hai mươi người.
- Những người nam thuộc về Lót, Ha-đít, và Ô-nô: Bảy trăm hai mươi lăm người.
- Những người nam thuộc về Giê-ri-cô: Ba trăm bốn mươi lăm người.
- Những người nam thuộc về Sê-na: Ba ngàn sáu trăm ba mươi người.
- Các tư tế:
Những người nam thuộc về Giê-đa-gia, thuộc về gia đình Giê-sua: Chín trăm bảy mươi ba người.
- Những người nam thuộc về Y-mê: Một ngàn không trăm năm mươi hai người.
- Những người nam thuộc về Pha-su-rơ: Một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người.
- Những người nam thuộc về Ha-rim: Một ngàn không trăm mười bảy người.
- Những người Lê-vi:
Những người nam thuộc về Giê-sua, Cát-mi-ên, và những người nam thuộc về Hô-đa-via: Bảy mươi bốn người.
- Những ca sĩ, là những người nam thuộc về A-sáp: Một trăm hai mươi tám người.
- Những người nam là những người gác cổng: Những người nam thuộc về Sa-lum, những người nam thuộc về A-te, những người nam thuộc về Tanh-môn, những người nam thuộc về A-cúp, những người nam thuộc về Ha-ti-ta, và những người nam thuộc về Sô-bai: Một trăm ba mươi chín người.
- Những người phục vụ trong đền thờ: Những người nam thuộc về Xi-ha, những người nam thuộc về Ha-su-pha, những người nam thuộc về Ta-ba-ốt, 44. những người nam thuộc về Kê-rốt, những người nam thuộc về Sia-ha, những người nam thuộc về Ba-đôn, 45. những người nam thuộc về Lê-ba-na, những người nam thuộc về Ha-ga-ba, những người nam thuộc về A-cúp, 46. những người nam thuộc về Ha-gáp, những người nam thuộc về Sam-lai, những người nam thuộc về Ha-nan, 47. những người nam thuộc về Ghi-đên, những người nam thuộc về Ga-cha, những người nam thuộc về Rê-a-gia, 48. những người nam thuộc về Rê-xin, những người nam thuộc về Nê-cô-đa, những người nam thuộc về Ga-xam, 49. những người nam thuộc về U-xa, những người nam thuộc về Pha-sê-a, những người nam thuộc về Bê-sai, 50. những người nam thuộc về A-sê-na, những người nam thuộc về Mê-u-nim, những người nam thuộc về Nê-phu-sim, 51. những người nam thuộc về Bác-búc, những người nam thuộc về Ha-cu-pha, những người nam thuộc về Ha-rua, 52. những người nam thuộc về Ba-lút, những người nam thuộc về Mê-hi-đa, những người nam thuộc về Hạt-sa, 53. những người nam thuộc về Bạt-cô, những người nam thuộc về Si-sê-ra, những người nam thuộc về Tha-mác, 54. những người nam thuộc về Nê-xia, và những người nam thuộc về Ha-ti-pha.
- Những người nam thuộc dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn: Những người nam thuộc về Sô-tai, những người nam thuộc về Sô-phê-rết, những người nam thuộc về Phê-ru-đa, 56. những người nam thuộc về Gia-a-la, những người nam thuộc về Đạt-côn, những người nam thuộc về Ghi-đên, 57. những người nam thuộc về Sê-pha-tia, những người nam thuộc về Hát-tinh, những người nam thuộc về Bô-kê-rết Ha-xê-ba-im, và những người nam thuộc về A-mi.
- Tổng cộng những người phục vụ trong đền thờ và những người nam thuộc về các đầy tớ của Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.
- Những người sau đây từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp A-đan, và Y-mê, nhưng không xác nhận được gia tộc và phả hệ của họ có thuộc về dòng dõi Y-sơ-ra-ên hay không: 60. Những người nam thuộc về Đê-la-gia, những người nam thuộc về Tô-bi-gia, và những người nam thuộc về Nê-cô-đa: Sáu trăm năm mươi hai người. 61. Những người nam thuộc về các tư tế: Những người nam thuộc về Ha-ba-gia, những người nam thuộc về Ha-cốt, và những người nam thuộc về Bạt-xi-lai, người nầy đã cưới một trong các con gái của Bạt-xi-lai ở Ga-la-át làm vợ nên được gọi bằng tên của dòng họ đó. 62. Những người nầy đã tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không tìm được cho nên họ bị kể là ô uế, và bị truất khỏi chức tế lễ. 63. Tổng đốc nói họ sẽ không được ăn những vật chí thánh cho đến chừng nào có một tư tế dùng U-rim và Thu-mim cầu hỏi Đức Chúa Trời.
- Cả hội chúng đếm được bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 65. không kể bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ và hai trăm nam nữ ca sĩ. 66. Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 67. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.
- Khi họ đến nhà của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng tộc đã tự nguyện dâng hiến những lễ vật cho nhà của Đức Chúa Trời để dựng lại đền thờ nơi chỗ của nó. 69. Tùy theo khả năng, họ đã dâng vào quỹ của công trình sáu mươi mốt ngàn đa-riếc vàng, năm ngàn mi-na bạc, và một trăm bộ lễ phục cho các tư tế.
- Như vậy, các tư tế, những người Lê-vi, một số dân chúng, các ca sĩ, những người gác cổng, những người phục vụ trong đền thờ, đã định cư trong các thành của họ, và tất cả dân Y-sơ-ra-ên định cư trong thành của mình.
3
- Đến tháng Bảy, sau khi dân Y-sơ-ra-ên đã định cư trong các thành, dân chúng đã họp lại như một người tại Giê-ru-sa-lem. 2. Giê-sua, con trai của Giô-xa-đác, và anh em của ông, là những tư tế, cùng với Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, và những anh em của ông, đã đứng dậy xây cất bàn thờ cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, để dâng tế lễ thiêu trên đó, như đã được chép trong luật pháp của Môi-se, là người của Đức Chúa Trời.
- Dù sợ các dân tộc trong xứ, họ vẫn lập bàn thờ trên nền cũ và dâng trên đó tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, tức là những tế lễ thiêu vào buổi sáng và buổi chiều.
- Họ cũng giữ lễ các Lều Tạm như đã chép, và dâng những tế lễ thiêu hằng ngày theo số lượng mà luật lệ đã quy định theo trách nhiệm cho từng mỗi một ngày.
- Sau đó, họ dâng những tế lễ thiêu theo thường lệ, và vào những ngày trăng mới, vào tất cả những ngày lễ quy định, là những ngày lễ đã được cung hiến cho Đức Giê-hô-va; và cũng dâng những tế lễ mà mỗi người tự nguyện dâng lên cho Đức Giê-hô-va. 6. Từ ngày mồng một tháng Bảy, họ bắt đầu dâng những tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va mặc dù chưa đặt nền cho đền thờ của Đức Giê-hô-va. 7. Họ đã cấp tiền cho thợ nề, thợ mộc, cấp thức ăn, thức uống và dầu cho dân Si-đôn và Ty-rơ, để họ đem gỗ bá hương từ Li-ban bằng đường biển đến Gia-phô, theo chiếu chỉ của Si-ru, vua của Ba Tư, mà họ đã có.
- Tháng Hai năm thứ hai sau khi đến nhà của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con trai của Giô-xa-đác, cùng với các anh em của họ, là các tư tế, những người Lê-vi, và tất cả những người bị lưu đày trở về Giê-ru-sa-lem, đã bắt đầu khởi công. Họ chỉ định những người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên, trông coi công việc của nhà của Đức Giê-hô-va. 9. Giê-sua với các con trai và các anh em của ông, Cát-mi-ên với các con trai của ông, cùng với các con trai của Giu-đa, đã đứng lên và họp lại như một người để giám sát những người làm công tác xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời. Cũng có các con trai của Hê-na-đát, với các con trai và những anh em của họ, và những người Lê-vi.
- Khi những người thợ xây đặt nền cho đền thờ của Đức Giê-hô-va, các tư tế mặc lễ phục cầm kèn, cùng với những người Lê-vi, thuộc dòng A-sáp, dùng chập chõa, đứng ca ngợi Đức Giê-hô-va theo quy định của Đa-vít, vua của Y-sơ-ra-ên. 11. Họ đã ca hát, đối đáp với nhau, tôn ngợi, và cảm tạ Đức Giê-hô-va rằng: “Ngài thật tốt! Sự thương xót của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên còn đến đời đời!” Tất cả dân chúng hô vang một tiếng thật lớn, họ tôn ngợi Đức Giê-hô-va, bởi vì nền của đền thờ Đức Giê-hô-va đã được thiết lập.
- Rất nhiều tư tế, những người Lê-vi, các trưởng tộc, những người già cả – tức là những người đã thấy đền thờ ban đầu – đã bậc khóc khi họ thấy nền của đền thờ được xây dựng ngay trước mắt của họ; trong khi đó nhiều người khác đã reo hò lớn tiếng vì vui mừng. 13. Người ta khó phân biệt giữa tiếng reo vui hay tiếng khóc, bởi vì dân chúng reo hò thật lớn và âm thanh của tiếng ấy vang vọng nghe được từ rất xa.
4
- Khi các kẻ thù nghe tin rằng dòng dõi của những người Giu-đa và Bên-gia-min bị lưu đày đang xây cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, 2. họ đã đến với Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc, rồi nói với họ: “Xin cho chúng tôi cùng xây cất với các ông bởi vì chúng tôi cũng tìm kiếm Đức Chúa Trời như các ông, và chúng tôi đã dâng tế lễ cho Ngài từ đời Ê-sạt Ha-đôn, vua của A-sy-ri, là người đã đem chúng tôi đến đây.”
- Tuy nhiên, Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, cùng những lãnh đạo còn lại của các trưởng tộc trong Y-sơ-ra-ên đã trả lời họ rằng: “Các ông không thể dự phần với chúng tôi trong việc xây cất đền thờ cho Đức Chúa Trời của chúng tôi, nhưng chỉ có chúng tôi sẽ xây dựng đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đúng như Si-ru, vua của Ba Tư, đã truyền lệnh cho chúng tôi.”
- Và rồi dân trong xứ đã cố gắng làm cho dân Giu-đa nản lòng chùn tay. Chúng đã quấy phá việc xây cất của họ. 5. Chúng thuê những cố vấn chống lại họ, phá hỏng mục tiêu của họ trong suốt triều đại của Si-ru, vua của Ba Tư, và mãi cho đến khi Đa-ri-út, vua của Ba Tư, trị vì.
- Vào đời vua A-suê-ru, khi vua bắt đầu trị vì, chúng đã viết một bản tố cáo các cư dân của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
- Đến đời Ạt-ta-xét-xe, Bít-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên và các đồng liêu của chúng đã viết một sớ tâu lên Ạt-ta-xét-xe, vua của Ba Tư. Sớ ấy viết bằng tiếng A-ram và đã được dịch từ tiếng A-ram.
- Tư lệnh Rê-hum và Thư ký Sim-sai cũng viết sớ chống lại Giê-ru-sa-lem dâng lên Vua Ạt-ta-xét-xe như sau:
- “Tư lệnh Rê-hum, Thư ký Sim-sai, và các đồng liêu, là đại diện của dân Đi-nít, dân A-phạt-sa-thít, dân Tạt-bê-lít, dân A-phạt-sít, dân Ạt-kê-vít, dân Ba-by-lôn, dân Su-san, dân Đê-ha-vít, dân Ê-lam, 10. và các dân tộc khác mà Ô-náp-ba vĩ đại và cao quý đã đem qua và cho định cư trong các thành của Sa-ma-ri và những khu vực còn lại ở bên kia sông.”
- Đây là bản sao của tờ sớ mà họ đã gởi cho Vua Ạt-ta-xét-xe:
“Các đầy tớ của ngài đang cư ngụ ở bên kia sông. 12. Kính trình hoàng thượng biết rằng dân Do Thái từ chỗ của hoàng thượng đã đến nơi chúng tôi. Chúng đang tu sửa nền móng và sắp sửa hoàn tất những vách thành của Giê-ru-sa-lem, là một thành phố gian ác và phản nghịch. 13. Xin hoàng thượng hiểu rằng nếu thành nầy được tái thiết, và các vách thành được hoàn tất thì chúng sẽ không nộp thuế, triều cống, hoặc lệ phí; và rồi ngân khố của triều đình sẽ bị suy giảm. 14. Do tất cả chúng tôi đang hưởng lộc của triều đình, chúng tôi không thể bàng quan chứng kiến cảnh hoàng thượng bị xúc phạm trong việc này, vì vậy chúng tôi phúc trình cho hoàng thượng, 15. để tra cứu trong sách ký lục của các vị tiên đế. Hoàng thượng sẽ tìm thấy trong sách ký lục và biết rằng thành nầy vốn là một thành phản nghịch và nguy hiểm cho các vua và các tỉnh. Từ thuở xa xưa, họ đã dấy loạn trong thành này và chính vì việc đó mà thành nầy đã bị hủy phá. 16. Chúng tôi xin báo để hoàng thượng biết nếu thành nầy được tái thiết và các vách thành được hoàn tất, kết quả là hoàng thượng sẽ không còn quyền tể trị trong khu vực phía bên kia sông nữa.”
- Vua đã phúc đáp cho Tư lệnh Rê-hum, Thư ký Sim-sai, cùng các đồng liêu của họ tại Sa-ma-ri và những vùng còn lại phía bên kia sông, rằng:
“Chúc bình an! 18. Tờ biểu mà các ngươi gởi đã được đọc rõ trước mặt ta. 19. Ta đã ra lệnh tra cứu và thấy rằng từ xa xưa thành nầy đã chống lại các vua – phản nghịch và nổi loạn đã được nuôi dưỡng trong thành nầy. 20. Có những vua hùng mạnh tại Giê-ru-sa-lem đã cai trị khu vực bên kia sông. Họ đã thu thuế, triều cống, và lệ phí. 21. Vì vậy, các ngươi hãy ra lệnh đình chỉ để những người tại thành này không được xây dựng cho đến khi có lệnh của ta. 22. Hãy cẩn trọng thi hành, đừng để bị thất bại, khiến thiệt hại gia tăng làm tổn hại cho hoàng thượng.”
- Ngay sau khi bản sao chiếu chỉ của Vua Ạt-ta-xét-xe được đọc trước Rê-hum, Thư ký Sim-sai, và những cộng sự, chúng vội vàng đến Giê-ru-sa-lem chống lại người Do Thái, dùng quyền lực và vũ lực buộc họ phải ngưng. 24. Vì vậy, công việc xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem bị đình chỉ. Công việc đã bị gián đoạn cho đến năm thứ hai của triều đại Ða-ri-út, vua của Ba Tư.
5
- Các tiên tri là Tiên tri A-ghê và Tiên tri Xa-cha-ri, con của Y-đô, đã nhân danh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nói tiên tri cho những người Do Thái tại Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 2. Sau đó, Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con trai của Giô-xa-đác, đã đứng dậy và bắt đầu xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Các tiên tri của Đức Chúa Trời giúp đỡ họ.
- Tát-tê-nai, là tổng đốc phía bên kia sông, Sê-ta Bô-xê-nai, và các đồng liêu đã cùng một lúc đến nói với họ: “Ai đã ra lệnh cho các ông xây cất đền thờ và hoàn tất bức tường nầy?”
- Sau đó chúng tôi đã nói cho họ tên của những người xây cất đền thờ nầy là ai. 5. Tuy nhiên con mắt của Đức Chúa Trời đã ở trên các trưởng lão Do Thái cho nên chúng không thể buộc họ ngừng lại cho đến chừng nào có báo cáo đến Vua Đa-ri-út và có văn thư phúc đáp về việc này.
- Đây là bản sao của văn thư mà Tát-tê-nai, tổng đốc bên kia sông, Sê-ta Bô-xê-nai và các đồng liêu, là những người Ba-tư ở bên kia sông, đã trình lên Vua Đa-ri-út. 7. Họ đã gởi một văn thư cho vua. Đây là điều đã được viết:
“Kính trình Vua Đa-ri-út. Nguyện toàn thể được bình an!
- Kính trình vua tỏ tường rằng chúng tôi đã đến tỉnh Giu-đa và đến nhà của Đức Chúa Trời vĩ đại đang được xây bằng những khối đá nặng, gỗ đã được đặt trên những bức tường, và công việc này đã được tiến hành cách cần mẫn và tốt đẹp trong tay của họ. 9. Chúng tôi hỏi các trưởng lão rằng: ‘Ai đã ra lệnh cho các ông xây cất đền thờ và hoàn tất bức tường nầy?’ 10. Chúng tôi cũng đã hỏi tên của họ để viết tường trình cho vua về họ, và tên những lãnh đạo của họ. 11. Và họ đã trả lời như thế này:
‘Chúng tôi là đầy tớ của Đức Chúa Trời, Đấng chủ tể của trời và đất. Chúng tôi đang tái thiết đền thờ mà nhiều năm trước đây một vị vua vĩ đại của Y-sơ-ra-ên đã xây và hoàn tất. 12. Tuy nhiên, các tổ phụ chúng tôi đã chọc giận Đức Chúa Trời ở trên trời, cho nên Ngài đã trao họ vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, là người Canh-đê; và ông đã hủy phá đền thờ nầy, và dân chúng bị đem qua Ba-by-lôn. 13. Nhưng vào năm thứ nhất khi Si-ru làm vua của Ba-by-lôn, Vua Si-ru đã ban chiếu chỉ tái thiết đền của Đức Chúa Trời. 14. Những vật dụng bằng vàng và bạc trong đền của Đức Chúa Trời mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy khỏi đền thờ tại Giê-ru-sa-lem đem về đặt trong các đền thờ của Ba-by-lôn, Vua Si-ru đã lấy những vật đó từ các đền thờ tại Ba-by-lôn, rồi chúng được trao cho Sết-ba-xa, là người được vua lập làm tổng đốc. 15. Vua truyền cho ông: ‘Hãy mang những vật dụng nầy đem đặt trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, và xây dựng lại đền của Đức Chúa Trời tại chỗ cũ.’ 16. Sau đó Sết-ba-xa đã đến và đã đặt nền của đền Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Từ đó đến nay, công việc xây dựng vẫn tiếp tục nhưng chưa hoàn thành.’
- Vì vậy bây giờ, nếu đẹp ý vua, xin cho tra cứu trong văn khố hoàng gia tại Ba-by-lôn xem thử có thật Vua Si-ru đã ban chiếu chỉ tái thiết đền của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem hay không. Sau đó, đẹp ý vua, xin gởi cho chúng tôi quyết định của vua về vấn đề nầy.”
6
- Sau đó Vua Đa-ri-út đã ban chiếu chỉ tiến hành tra cứu trong các kho lưu trữ, là nơi lưu giữ những bảo vật tại Ba-by-lôn. 2. Người ta tìm thấy trong một cung điện tại Éc-ba-tan thuộc tỉnh Mê-đi một cuộn sách trong đó có ký thuật như sau:
- “Vào năm thứ nhất dưới triều Si-ru, Vua Si-ru đã ban chiếu chỉ về đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem: ‘Hãy xây cất lại đền thờ để làm nơi dâng tế lễ, hãy đặt những nền của đền cho chắc chắn. Đền thờ cao sáu mươi cu-bít và rộng sáu mươi cu-bít, 4. với ba hàng làm bằng khối đá nặng và một hàng bằng gỗ mới. Kinh phí sẽ do ngân khố triều đình đài thọ. 5. Những vật dụng bằng vàng và bạc của đền Đức Chúa Trời mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và đem qua Ba-by-lôn thì phải hoàn trả và mang trở lại cho đền thờ ở Giê-ru-sa-lem, và đặt chúng tại vị trí cũ trong đền thờ của Đức Chúa Trời.’”
- “Vì vậy bây giờ, hỡi Tát-tê-nai, tổng đốc của khu vực bên kia sông, Sê-ta Bô-xê-nai và các đồng liêu người Ba-tư ở bên kia sông, các ngươi hãy tránh xa nơi đó. Hãy để việc xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời 7. cho tổng đốc người Do Thái và các trưởng lão người Do Thái xây lại đền thờ của Đức Chúa Trời tại nơi cũ.
- Ta ban sắc lệnh về những điều các ngươi phải làm cho các trưởng lão Do Thái trong việc xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời: Hãy trang trải chi phí này từ tiền thuế của khu vực bên kia sông nộp cho triều đình. Hãy nghiêm chỉnh trả chi phí về việc này cho những người đó để công việc của họ không bị gián đoạn. 9. Bất cứ vật gì họ cần như bò tơ đực, cừu đực, hay chiên con để dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Chúa trên trời; hoặc lúa mì, muối, rượu, hay dầu theo yêu cầu của những tư tế tại Giê-ru-sa-lem, thì hãy chu cấp cho họ đầy đủ mỗi ngày, không được sai trật 10. để họ có thể dâng những tế lễ ngát hương cho Đức Chúa Trời ở trên trời, và cầu nguyện cho sinh mạng của trẫm cùng các con trai của trẫm.
- Ta cũng ban sắc lệnh nếu ai làm trái chiếu chỉ nầy thì hãy rút cây cột khỏi nhà người ấy, dựng nó lên, và treo người ấy trên đó; và vì tội này hãy làm cho nhà người ấy thành một đống rác.
- Nguyện Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến danh Ngài ngự trong đền ấy, sẽ hủy diệt vua nào, dân tộc nào dám ra tay sửa đổi sắc lệnh nầy hủy phá đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.
Ta là Đa-ri-út ban chiếu chỉ này. Hãy nghiêm chỉnh chấp hành!”
- Sau đó Tát-tê-nai, quan tổng đốc của tỉnh bên kia sông, Sê-ta Bô-xê-nai và các đồng liêu nghiêm chỉnh thi hành sắc lệnh mà vua Đa-ri-út đã ban.
- Vì vậy các trưởng lão Do Thái đã xây cất và công việc đã tiến triển tốt đẹp đúng như lời của Tiên tri A-ghê và Tiên tri Xa-cha-ri, con trai của Y-đô. Họ đã xây dựng và hoàn tất theo lệnh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và theo chiếu chỉ của các vua Ba Tư là Si-ru, Đa-ri-út, và Ạt-ta-xét-xe. 15. Đền thờ nầy hoàn thành vào ngày ba, tháng A-đa, trong năm thứ sáu đời Vua Đa-ri-út.
- Dân Y-sơ-ra-ên, các tư tế, những người Lê-vi, những người còn sót lại, và dòng dõi của những người bị lưu đày làm lễ khánh thành đền thờ của Đức Chúa Trời cách vui mừng. 17. Trong dịp lễ khánh thành đền thờ của Đức Chúa Trời, họ dâng một trăm bò đực, hai trăm cừu đực, bốn trăm chiên con, và những dê đực để làm tế lễ chuộc tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên theo số mười hai bộ tộc của Y-sơ-ra-ên. 18. Họ bổ nhiệm các tư tế theo từng ban và những người Lê-vi theo từng ban để phụng sự Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem theo như đã được chép trong sách của Môi-se.
- Dòng dõi của những người bị lưu đày giữ lễ Vượt Qua vào ngày mười bốn tháng giêng. 20. Tất cả những thầy tế lễ và người Lê-vi, như một, đều thanh tẩy chính mình cho tinh sạch. Rồi họ vì tất cả dòng dõi của những người bị lưu đày là anh em của mình, vì các tư tế là chính mình, mà giết chiên con của lễ Vượt Qua. 21. Những người Y-sơ-ra-ên con cháu của những người bị lưu đày trở về ăn lễ Vượt Qua cùng với những người từ các dân tộc trong xứ đã từ bỏ sự ô uế để tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
- Họ giữ lễ Bánh Không Men trong bảy ngày cách vui vẻ, bởi vì Đức Giê-hô-va đã đổi lòng vua của A-sy-ri về phía họ, làm cho công việc của tay họ được vững mạnh trong việc xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
7
- Sau những việc đó, vào thời Ạt-ta-xét-xe làm vua của Ba Tư, có E-xơ-ra, con trai của Sê-ra-gia, 2. Sê-ra-gia, con trai của A-xa-ria, A-xa-ria, con trai của Hinh-kia, Hinh-kia, con trai của Sa-lum, Sa-lum, con trai của Xa-đốc, Xa-đốc, con trai của A-hi-túp, 3. A-hi-túp, con trai của A-ma-ria, A-ma-ria con trai của A-xa-ria, A-xa-ria con trai của Mê-ra-giốt, 4. Mê-ra-giốt con trai của Xê-ra-hi-gia, Xê-ra-hi-gia con trai của U-xi, 5. U-xi con trai của Bu-ki, Bu-ki con trai của A-bi-sua, A-bi-sua con trai của Phi-nê-a, Phi-nê-a con trai của Ê-lê-a-sa, Ê-lê-a-sa con trai của A-rôn là tư tế đầu tiên. 6. Chính E-xơ-ra nầy đã từ Ba-by-lôn trở về. Ông là một học giả am hiểu luật pháp Môi-se mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban. Vua ban mọi điều ông thỉnh cầu bởi vì tay của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, ở trên ông.
- Vào năm thứ bảy đời Vua Ạt-ta-xét-xe, có một số người Y-sơ-ra-ên gồm các tư tế, những người Lê-vi, những ca sĩ, những người gác cổng, và những người phục vụ đền thờ trở lên Giê-ru-sa-lem. 8. Ông đến Giê-ru-sa-lem vào tháng Năm, trong năm thứ bảy của triều vua. 9. Ông khởi hành từ Ba-by-lôn vào ngày mồng một tháng Giêng, và nhờ tay nhân lành của Đức Chúa Trời giúp đỡ, ông đã đến Giê-ru-sa-lem vào ngày mồng một tháng thứ Năm. 10. Bởi vì E-xơ-ra chuyên tâm nghiên cứu luật pháp của Đức Giê-hô-va, thực hành, và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết luật pháp và những điều lệ.
- Đây là bản sao chiếu chỉ mà Vua Ạt-ta-xét-xe đã trao cho E-xơ-ra, là tư tế, là văn sĩ, và cũng là một học giả thông thạo về những lời trong các điều răn và luật lệ mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Y-sơ-ra-ên:
- “Ạt-ta-xét-xe, vua của các vua, gửi cho E-xơ-ra, là tư tế, là học giả thông thạo luật pháp của Đức Chúa Trời trên trời. Nguyện ngươi được bình an!
- Ta đã ban chiếu chỉ rằng bất cứ người nào trong lãnh thổ của ta, là dân Y-sơ-ra-ên, là tư tế, là những người Lê-vi, tự nguyện muốn đi Giê-ru-sa-lem, thì có thể cùng đi với ngươi. 14. Tất cả những điều này được thực hiện theo lệnh của ta và bảy cố vấn của ta, sai ngươi đi điều tra về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem với luật pháp của Đức Chúa Trời mà ngươi có trong tay, 15. cũng hãy mang theo vàng và bạc mà vua và các cố vấn tự nguyện hiến dâng cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đang ngự tại Giê-ru-sa-lem, 16. và tất cả những bạc và vàng mà ngươi thu được trong tỉnh Ba-by-lôn, cũng như những lễ vật do dân chúng và các tư tế tự nguyện dâng cho đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. 17. Vì vậy, ngươi hãy cẩn trọng dùng tiền để mua bò đực, cừu đực, chiên con, luôn với các tế lễ chay, các lễ quán mà dâng trên bàn thờ trong đền của Đức Chúa Trời của các ngươi tại Giê-ru-sa-lem. 18. Về số bạc và vàng còn dư lại, ngươi và các anh em của ngươi có thể dùng làm việc gì là tốt cho các anh em của ngươi theo ý muốn Đức Chúa Trời của các ngươi. 19. Về những vật dụng đã giao cho ngươi để dùng vào việc thờ phượng trong đền của Đức Chúa Trời của các ngươi, hãy chuyển giao đầy đủ trước mặt Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. 20. Bất kỳ những gì khác cần dùng cho đền của Đức Chúa Trời của các ngươi, mà ngươi cần phải chu cấp, thì sẽ được trả từ ngân khố của triều đình.
- Vì vậy, ta là Vua Ạt-ta-xét-xe đã ban chiếu chỉ truyền cho tất cả các quản thủ ngân khố bên kia sông rằng bất cứ vật gì E-xơ-ra, là tư tế cũng là học giả thông thạo luật pháp của Đức Chúa Trời ở trên trời, yêu cầu các ngươi thì các ngươi phải thực hiện, 22. dù đến một trăm ta-lâng bạc, một trăm co lúa mì, một trăm thùng rượu, một trăm thùng dầu, và muối thì không hạn chế. 23. Bất cứ điều gì Đức Chúa Trời trên trời truyền, hãy thực hiện cách chuyên cần cho đền của Đức Chúa Trời ở trên trời, đừng để cơn thịnh nộ giáng trên vương quốc, trên vua, và các con trai của người. 24. Chúng ta cũng truyền cho các ngươi rằng việc áp đặt thuế và cống nộp trên các tư tế, những người Lê-vi, những ca sĩ, những người gác cổng, những người phục vụ đền thờ, và những người phục vụ khác trong đền Đức Chúa Trời là không đúng luật pháp.
- Còn ngươi, E-xơ-ra, tùy theo sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi mà ngươi có trong tay, hãy lập những quan chức và những thẩm phán để họ xét xử tất cả dân chúng ở bên kia sông – tất cả phải là những người hiểu biết luật pháp của Đức Chúa Trời – còn những người nào không biết luật pháp thì các ngươi hãy dạy cho họ biết. 26. Ai bất tuân luật pháp của Đức Chúa Trời của các ngươi và luật lệ của vua thì các ngươi hãy trừng phạt nghiêm khắc: hoặc xử tử, hoặc lưu đày, hoặc tịch thu tài sản, hay bỏ tù.”
- “Tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi, là Đấng đã đặt trong lòng vua điều nầy để làm vinh hiển đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, 28. và khiến cho tôi được ơn trước mặt vua, các cố vấn của vua, và trước tất cả những đại thần thế lực của vua. Tôi được khích lệ vì tay của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tôi, ở với tôi, và tôi đã tập hợp các lãnh đạo Y-sơ-ra-ên cùng đi với tôi.”
8
- Đây là các trưởng tộc theo gia phả, là những người đã từ Ba-by-lôn trở về với tôi dưới triều Vua Ạt-ta-xét-xe:
- Về con cháu Phi-nê-a có Ghẹt-sôn; về con cháu Y-tha-ma có Đa-ni-ên; về con cháu Đa-vít có Hát-túc; 3. về con cháu Sê-ca-nia, là con cháu của Pha-rốt, có Xa-cha-ri và những người cùng với ông theo số ghi danh là một trăm năm mươi người nam. 4. Về con cháu Pha-hát Mô-áp có Ê-li-ô-ê-nai, con trai của Xê-ra-hi-gia, cùng với ông có hai trăm người nam; 5. về con cháu Sê-ca-nia có con trai Gia-ha-xi-ên, cùng với ông có ba trăm người nam; 6. về con cháu A-đin có Ê-bết, con trai Giô-na-than, cùng với ông có năm mươi người nam; 7. về con cháu Ê-lam có Ê-sai, con trai A-tha-lia, cùng với ông có bảy mươi người nam; 8. về con cháu Sê-pha-tia có Xê-ba-đia, con trai Mi-ca-ên, cùng với ông có tám mươi người nam; 9. về con cháu Giô-áp có Áp-đia, con trai Giê-hi-ên, cùng với ông có hai trăm mười tám người nam; 10. về con cháu Sê-lô-mít có con trai Giô-si-phia, cùng với ông có một trăm sáu mươi người nam; 11. về con cháu Bê-bai có Xa-cha-ri, con trai của Bê-bai, cùng với ông có hai mươi tám người nam; 12. về con cháu A-gát có Giô-ha-nan, con trai của Ha-ca-tan, cùng với ông có một trăm mười người nam; 13. về con cháu A-đô-ni-cam – những người cuối cùng – tên của họ là: Ê-li-phê-lết, Giê-i-ên, và Sê-ma-gia, cùng với họ có sáu mươi người nam; 14. về con cháu Biết-vai có U-thai và Xáp-bút, cùng với họ có bảy mươi người nam.
- Tôi đã tập hợp họ bên cạnh dòng sông chảy về A-ha-va. Chúng tôi đóng trại tại đó ba ngày, và khi tôi kiểm tra giữa vòng dân chúng và các tư tế, tôi không thấy một người Lê-vi nào cả. 16. Tôi đã triệu tập Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia, Ê-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, là những lãnh đạo, cùng với Giô-gia-ríp và Ên-na-than, là các học giả. 17. Tôi truyền cho họ đến với Y-đô, người lãnh đạo tại Ca-si-phia; tôi dặn họ những điều họ cần nói với Y-đô và những anh em của ông, tức là những người phục vụ đền thờ đang ở tại Ca-si-phia, để họ đem đến cho chúng tôi những người phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời của chúng ta.
- Nhờ tay nhân từ của Đức Chúa Trời ở trên chúng tôi, họ đã đem đến cho chúng tôi một người khôn ngoan, thuộc dòng dõi Mách-li, là hậu tự của Lê-vi, con trai của Y-sơ-ra-ên, tên là Sê-rê-bia và các con trai cùng anh em của ông, là mười tám người; 19. và Ha-sa-bia, cùng với ông có Ê-sai, thuộc dòng dõi Mê-ra-ri, cùng các anh em và những con trai của họ, gồm hai mươi người. 20. Ngoài ra cũng có những người phục vụ đền thờ mà Đa-vít và các triều thần đã bổ nhiệm để phụ giúp những người Lê-vi, danh sách tên của tất cả những người phục vụ đền thờ được biệt riêng ra là hai trăm hai mươi người.
- Tại đó, bên dòng sông A-ha-va, tôi đã công bố một cuộc kiêng ăn, chúng tôi hạ mình xuống trước Đức Chúa Trời của chúng tôi, và cầu xin Ngài chỉ cho chúng tôi, các con nhỏ của chúng tôi, cùng với tài sản của chúng tôi một con đường đúng. 22. Bởi vì tôi đã hổ thẹn, không xin vua một toán quân và kỵ binh để bảo vệ chúng tôi khỏi những kẻ thù lúc đi đường, vì chúng tôi có nói với vua rằng: “Tay của Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên những người tìm kiếm Ngài để ban điều tốt lành, nhưng quyền năng và thạnh nộ của Ngài chống lại những kẻ lìa bỏ Ngài.” 23. Vì vậy, chúng tôi đã kiêng ăn và cầu xin Đức Chúa Trời về điều này, và Ngài đã nhậm lời cầu xin của chúng tôi.
- Và rồi tôi đã biệt riêng ra mười hai tư tế lãnh đạo, là Sê-rê-bia, Ha-sa-bia cùng với mười anh em của họ. 25. Tôi đã cân cho họ bạc, vàng và những vật dụng, là những lễ vật đã được dâng cho nhà Đức Chúa Trời của chúng ta, mà vua, các cố vấn, các triều thần của vua, cùng tất cả những người Y-sơ-ra-ên đang hiện diện tại đó, đã dâng. 26. Vì vậy, tôi đã cân và giao cho họ sáu trăm năm mươi ta-lâng bạc, những vật dụng bằng bạc trị giá một trăm ta-lâng, và một trăm ta-lâng vàng, 27. hai mươi chén bằng vàng trị giá một ngàn đa-riếc, và hai vật dụng bằng đồng được đánh bóng thật đẹp, quý như vàng.
- Rồi tôi nói với họ: “Anh em là người thánh của Đức Giê-hô-va, những vật dụng nầy là thánh; bạc và vàng nầy là một lễ vật tự nguyện được dâng cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta. 29. Hãy canh giữ chúng cho đến khi anh em cân lại trước mặt những lãnh đạo, các tư tế, và những người Lê-vi, và những trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên trong các phòng của nhà Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem.”
- Vì vậy, các tư tế và những người Lê-vi đã nhận bạc, vàng, và những vật dụng đã cân để đem vào nhà Đức Chúa Trời của chúng ta tại Giê-ru-sa-lem,.
- Ngày mười hai tháng Giêng, chúng tôi khởi hành từ sông A-ha-va để đi đến Giê-ru-sa-lem. Tay của Đức Chúa Trời đã ở trên chúng tôi, và Ngài đã giải cứu chúng tôi khỏi tay các kẻ thù và sự phục kích dọc đường. 32. Vì thế chúng tôi đã đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày. 33. Ngày thứ tư, bạc, vàng, và những vật dụng đã được cân trong nhà của Đức Chúa Trời, rồi giao cho Mê-rê-mốt, con trai của U-ri, là tư tế, cùng với ông có Ê-lê-a-sa, con trai của Phi-nê-a, và cùng với họ có Giô-xa-báp, con trai của Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai của Bin-nui, là những người Lê-vi. 34. Tất cả đều được đếm và cân; trọng lượng của mỗi vật đã được ghi chép vào lúc đó.
- Những người tha hương, là những người từ chốn lưu đày trở về, đã dâng những tế lễ thiêu cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, gồm mười hai bò đực cho cả Y-sơ-ra-ên, chín mươi sáu cừu đực, bảy mươi bảy chiên con, và mười hai dê đực để làm tế lễ chuộc tội. Tất cả đều được dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.
- Họ đã trao những chiếu chỉ của vua cho các tỉnh trưởng và cho các tổng đốc của vua ở phía bên kia sông. Những vị nầy đã giúp đỡ dân chúng và nhà của Đức Chúa Trời.
9
- Khi những việc này đã xong, các lãnh đạo đã đến nói với tôi: “Dân Y-sơ-ra-ên, các tư tế và những người Lê-vi đã không tách biệt chính họ với những tập tục ghê tởm của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít, dân Am-môn, dân Mô-áp, dân Ai Cập, và dân A-mô-rít, là những dân tộc ở trong xứ. 2. Bởi vì họ đã lấy một số con gái của chúng làm vợ cho chính mình và cho các con trai của mình, khiến dòng dõi thánh bị pha trộn với các dân tộc trong xứ. Các viên chức và các lãnh đạo đã nhúng tay vào tội lỗi này nhiều nhất.”
- Khi nghe việc này, tôi đã xé trang phục và áo choàng của mình, đã bứt râu, nhổ tóc trên đầu, rồi ngồi xuống sững sờ. 4. Mọi người kính sợ lời Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã họp lại chung quanh tôi bởi vì việc tội lỗi của những người trở về từ chốn lưu đày; còn tôi thì sững sờ ngồi đó cho đến lúc dâng tế lễ buổi chiều.
- Đến giờ dâng tế lễ buổi chiều, tôi đứng dậy khỏi nơi kiêng ăn của mình – trang phục và áo choàng vẫn còn rách – tôi quỳ gối, giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tôi 6. và nói:
“Đức Chúa Trời của con! Con xấu hổ thẹn thùng để ngước mặt lên Ngài là Đức Chúa Trời của con, bởi vì những vi phạm của chúng con cứ chồng chất càng cao hơn trên đầu của chúng con, và tội lỗi của chúng con cao đến tận trời. 7. Từ thời tổ phụ của chúng con cho đến ngày nay, chúng con đã phạm tội. Do tội lỗi của chúng con cho nên chúng con, các vua của chúng con, các tư tế của chúng con đã bị nộp vào tay các vua của nhiều xứ, bị gươm đao, bị lưu đày, bị cướp bóc, mặt mày bị hổ nhục cho đến ngày nay.
- Nhưng bây giờ, trong một thời gian ngắn ân huệ từ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng con, đã được bày tỏ, khiến một phần sót lại của chúng con được giải thoát, và Ngài đã ban cho chúng con một chỗ bám víu vững chắc trong nơi thánh của Ngài, để Đức Chúa Trời của chúng con có thể làm cho mắt của chúng con được sáng ra, và ban cho chúng con được hồi sinh một chút trong hoàn cảnh lưu đày. 9. Bởi vì chúng con vốn là những kẻ nô lệ, nhưng trong cảnh nô lệ của chúng con, Đức Chúa Trời của chúng con đã không từ bỏ chúng con, nhưng Ngài đã bày tỏ lòng nhân từ cho chúng con trong quan điểm của các vua của Ba Tư, đã phục hồi chúng con, để tái thiết đền của Đức Chúa Trời của chúng con, xây lại những nơi đổ nát, và ban cho chúng con một tường thành tại Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
- Bây giờ, Đức Chúa Trời của chúng con, sau việc nầy, chúng con sẽ nói làm sao? Bởi vì chúng con đã lìa bỏ những điều răn của Ngài, 11. mà Ngài đã truyền bởi những đầy tớ của Ngài, là các nhà tiên tri, rằng: ‘Xứ mà các ngươi sẽ vào chiếm hữu là một xứ đã bị ô uế bởi sự nhơ bẩn của các dân tộc trong xứ, bằng những thói tục kinh tởm, chúng đã làm ô uế từ đầu này cho đến đầu kia. 12. Vì thế, đừng gả những con gái của các ngươi cho các con trai của chúng, và cũng đừng lấy các con gái của chúng cho những con trai của các ngươi. Đừng bao giờ tìm kiếm sự bình an hoặc thậm chí sự thịnh vượng của chúng, để các ngươi có thể trở nên mạnh mẽ, được ăn hoa lợi của xứ, và để xứ lại làm cơ nghiệp cho những con cái của các ngươi đời đời.’
- Sau tất cả những điều đã xảy ra cho chúng con vì những việc làm xấu xa của chúng con và tội lỗi lớn lao của chúng con; dầu vậy Ngài – là Đức Chúa Trời của chúng con – đã phạt chúng con ít hơn tội lỗi của chúng con, và đã ban sự giải cứu cho chúng con – 14. Lẽ nào chúng con lại phá bỏ những điều răn của Chúa, kết hôn với các dân tộc theo những thói tục ghê tởm nầy? Ngài sẽ không giận chúng con, hủy diệt chúng con cho đến khi không còn ai sống sót hoặc trốn thoát hay sao? 15. Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Chúa thật công chính. Ngày hôm nay, dù chúng con chỉ còn lại một ít người; chúng con đang ở trước mặt Ngài cùng với tội lỗi của chúng con, dù rằng không ai có thể đứng nổi trước mặt Ngài trong tình trạng như vậy.”
10
- Trong lúc E-xơ-ra đang cầu nguyện, xưng tội, khóc, và phủ phục trước đền thờ của Đức Chúa Trời, có một đám đông những người Y-sơ-ra-ên gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em, đã họp lại chung quanh ông, họ đã vì dân chúng khóc thật thảm thiết.
- Sê-ca-nia, con trai của Giê-hi-ên, cháu của Ê-lam, đã lên tiếng, và nói với E-xơ-ra: “Chúng tôi đã phạm tội với Đức Chúa Trời của chúng tôi mà lấy vợ là những phụ nữ ngoại đạo thuộc các dân tộc trong xứ. Dù sao vẫn còn hy vọng cho Y-sơ-ra-ên về việc nầy. 3. Vì vậy chúng ta hãy lập giao ước với Đức Chúa Trời của chúng ta, từ bỏ tất cả những người vợ nầy và các con của họ, theo như lời khuyên của chúa tôi và của những người có lòng kính sợ điều răn của Đức Chúa Trời của chúng ta. Hãy thực hành theo luật pháp. 4. Hãy đứng dậy, bởi vì việc này là trách nhiệm của ông, tuy nhiên chúng tôi sẽ cùng với ông. Hãy can đảm và hành động!”
- Sau đó E-xơ-ra đã đứng dậy, buộc những lãnh đạo, những tư tế, những người Lê-vi, và cả Y-sơ-ra-ên thề rằng họ sẽ làm theo lời nầy; vì vậy họ đã thề.
- E-xơ-ra trỗi dậy khỏi đền thờ của Đức Chúa Trời, và đi vào phòng của Giô-ha-nan, con trai của Ê-li-a-síp. Dù ông vào đó, ông không ăn bánh cũng không uống nước, bởi vì ông khóc than về tội lỗi của những người lưu đày hồi hương.
- Người ta công bố cho tất cả những người lưu đày hồi hương khắp Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng họ phải họp lại tại Giê-ru-sa-lem; 8. và nếu ai không đến trong vòng ba ngày theo lệnh của các lãnh đạo và các trưởng lão thì tất cả tài sản của người đó sẽ bị tịch thu, và chính người đó bị khai trừ khỏi hội chúng của những người lưu đày hồi hương.
- Vì vậy, trong vòng ba ngày, tất cả những người Giu-đa và Bên-gia-min đều họp lại tại Giê-ru-sa-lem. Đó là ngày hai mươi của tháng Chín. Tất cả dân chúng ngồi tại quảng trường trước đền của Đức Chúa Trời, run rẩy vì việc nầy và vì cơn mưa rất lớn.
- Tư tế E-xơ-ra đã đứng dậy nói với họ: “Anh em đã phạm tội, lấy vợ ngoại đạo và làm tăng thêm tội cho Y-sơ-ra-ên. 11. Vì vậy bây giờ, hãy xưng tội cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, và làm theo ý muốn của Ngài: Hãy phân rẽ anh em khỏi các dân tộc trong xứ và khỏi những người vợ ngoại đạo.”
- Tất cả hội chúng đều đáp lớn tiếng rằng: “Vâng! Chúng tôi phải làm theo lời ông dạy. 13. Tuy nhiên dân chúng rất đông và nhằm vào mùa mưa lớn nên chúng tôi không thể đứng ở bên ngoài. Công việc không thể giải quyết trong một hai ngày, và hơn nữa rất nhiều người trong chúng tôi đã vi phạm điều nầy. 14. Vì vậy, hãy để những lãnh đạo đứng đại diện cho tất cả hội chúng, và người nào trong các thành phố của chúng ta đã cưới vợ ngoại đạo phải đến theo thời gian quy định cùng với các trưởng lão và thẩm phán của thành mình, để giải quyết việc nầy cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời của chúng ta nguôi đi.”
- Chỉ có Giô-na-than, con trai của A-sa-ên, và Gia-xi-gia, con trai của Tiếc-va, chống đối việc nầy, cùng với Mê-su-lam và Sáp-bê-tai, người Lê-vi, đã ủng hộ họ.
- Vì vậy, con cháu của những người bị lưu đày hồi hương đã làm như vậy. Tư tế E-xơ-ra với một số trưởng tộc theo gia tộc của họ được biệt riêng ra, tất cả đều được chỉ định đích danh. Ngày mồng một tháng Mười, họ ngồi xuống để xem xét vấn đề. 17. Ngày mồng một tháng Giêng, họ đã hoàn tất việc điều tra tất cả những người đã lấy vợ ngoại đạo.
- Trong số các tư tế đã lấy vợ ngoại đạo mà họ tìm thấy có Giê-sua, con trai của Giô-xa-đác, và những anh em của ông là Ma-a-xê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia. 19. Họ hứa từ bỏ những người vợ ngoại đạo, và dâng một con cừu đực làm tế lễ chuộc tội của họ. 20. Về dòng dõi Y-mê có Ha-na-ni và Xê-ba-đia; 21. về dòng dõi Ha-rim có Ma-a-xê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia, Ghê-hi-ên, và U-xia; 22. về dòng dõi Pha-su-rơ có Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-xê-gia, Ích-ma-ên, Na-tha-na-ên, Giô-xa-bát, và Ê-lê-a-sa.
- Về những người Lê-vi có Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (cũng gọi là Kê-li-ta), Phê-ta-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.
- Về các ca sĩ có Ê-li-a-síp; và về những người gác cổng có Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.
- Về dân Y-sơ-ra-ên: Về dòng dõi Pha-rốt có Ra-mia, Y-xia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia; 26. về dòng dõi Ê-lam có Mát-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li; 27. về dòng dõi Xát-tu có Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa; 28. về dòng dõi Bê-bai có Giô-ha-nan, Ha-na-nia, Xáp-bai, và Át-lai; 29. về dòng dõi Ba-ni có Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-sút, Sê-anh, và Ra-mốt; 30. về dòng dõi Pha-hát Mô-áp có Át-na, Kê-lanh, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Mát-ta-nia, Bết-sa-lê-ên, Bin-nui, và Ma-na-se; 31. về dòng dõi Ha-rim có Ê-li-ê-xe, Di-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn, 32. Bên-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ria; 33. về dòng dõi Ha-sum có Mát-nai, Mát-ta-tha, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-se, và Si-mê-I; 34. về dòng dõi Ba-ni có Ma-ê-đai, Am-ram, U-ên, 35. Bê-na-gia, Bê-đia, Kê-lu-hu, 36. Va-nia, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp, 37. Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, Gia-a-sai, 38. Ba-ni, Bin-nui, Si-mê-i, 39. Sê-lê-mia, Na-than, A-đa-gia, 40. Mác-nát-bai, Sa-sai, Sa-rai, 41. A-xa-rên, Sê-lê-mia, Sê-ma-ria, 42. Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-sép; 43. về dòng dõi Nê-bô có Giê-i-ên, Ma-ti-thia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên và Bê-na-gia. 44. Tất cả những người đó đã lấy vợ ngoại đạo và một số người đã có con với những người vợ ngoại đạo đó
.
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl