Bản Dịch Việt Ngữ: II Sử Ký

II Sử Ký
1
- Sa-lô-môn, con trai của Đa-vít, được hùng mạnh trong vương quốc của mình. Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông, đã ở cùng ông và làm cho ông rất được tôn trọng.
- Sa-lô-môn nói cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên, cùng các vị chỉ huy trưởng ngàn quân và trăm quân, cùng các thẩm phán, cùng các lãnh đạo của toàn thể Y-sơ-ra-ên, và các trưởng tộc. 3. Sau đó, Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng cùng với ông, đã đi lên một nơi cao tại Ga-ba-ôn, vì Lều Hội Kiến của Đức Chúa Trời – mà đầy tớ của Đức Giê-hô-va là Môi-se đã làm trong hoang mạc – ở tại đó. 4. Tuy nhiên Đa-vít đã rước Rương của Đức Chúa Trời từ Ki-ri-át Giê-a-rim đến nơi Đa-vít đã chuẩn bị cho nó, bởi vì người đã dựng một cái lều cho nó tại Giê-ru-sa-lem. 5. Lúc này, bàn thờ bằng đồng mà Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, làm, đã được ông đặt trước Đền Tạm của Đức Giê-hô-va. Sa-lô-môn và hội chúng đến đó cầu vấn Ngài. 6. Sa-lô-môn đến bàn thờ bằng đồng, trước Đức Giê-hô-va tại Lều Hội Kiến, và dâng một ngàn tế lễ thiêu trên đó.
- Đêm hôm đó, Đức Chúa Trời hiện đến với Sa-lô-môn, và phán cùng ông rằng: “Hãy xin điều mà Ta sẽ ban cho con.”
- Sa-lô-môn đã thưa với Đức Chúa Trời: “Ngài đã bày tỏ lòng thương xót lớn lao cho Đa-vít, thân phụ của con, và đã đặt con làm vua thế chỗ của người. 9. Bây giờ, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời! Nguyện lời hứa của Ngài với Đa-vít, thân phụ con, được ứng nghiệm; bởi vì Ngài đã lập con làm vua trên một dân tộc nhiều như bụi đất. 10. Bây giờ, xin ban cho con sự khôn ngoan và tri thức để con ra vào trước mặt dân tộc nầy. Bởi vì ai có thể phân xử dân tộc lớn lao của Ngài?”
- Sau đó, Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn: “Bởi vì đây là điều từ lòng của con; và con đã không xin giàu có, phú quý, tôn trọng, hoặc mạng sống của những kẻ thù; con cũng không xin sống lâu, nhưng xin sự khôn ngoan và tri thức cho chính mình, để phân xử dân của Ta, là dân mà Ta đã lập con làm vua, 12. sự khôn ngoan và tri thức đã được ban cho con. Và Ta cũng sẽ ban cho con sự giàu có, phú quý, tôn trọng đến nỗi không có vua nào trước con và sau con có được như vậy.”
- Sau đó, từ Lều Hội Kiến tại nơi cao ở Ga-ba-ôn, Sa-lô-môn trở về Giê-ru-sa-lem, và trị vì trên Y-sơ-ra-ên.
- Sa-lô-môn đã thu thập nhiều xe chiến mã và kỵ binh, ông có một ngàn bốn trăm xe chiến mã và mười hai ngàn kỵ binh, họ được ông đặt đồn trú tại những thành chứa xe chiến mã và với vua tại Giê-ru-sa-lem. 15. Vua đã làm cho bạc và vàng tại Giê-ru-sa-lem tầm thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung tại vùng đất thấp. 16. Sa-lô-môn có nhiều ngựa được nhập từ Ai Cập và Kê-vê; các thương gia của vua đã mua chúng từ Kê-vê theo thời giá. 17. Họ cũng mua và nhập từ Ai Cập mỗi xe ngựa giá sáu trăm miếng bạc, mỗi con ngựa giá một trăm năm mươi miếng bạc; rồi thông qua những người môi giới, họ xuất cảng chúng cho tất cả các vua của dân Hi-tít và các vua của dân Sy-ria.
2
- Sa-lô-môn quyết định xây cất một ngôi đền cho danh của Đức Giê-hô-va và một cung điện cho chính mình. 2. Sa-lô-môn đã chọn bảy mươi ngàn người khuân vác, tám mươi ngàn người đẽo đá trên núi, và ba ngàn sáu trăm người điều hành.
- Sa-lô-môn đã sai sứ đến gặp Hi-ram, vua của Ty-rơ, và nói rằng: “Vua đã cung cấp gỗ bá hương cho Đa-vít, thân phụ của tôi, để xây cất cung điện. Xin ngài cũng giúp tôi như vậy. 4. Nầy, tôi sẽ xây một ngôi đền cho danh của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tôi. Tôi sẽ biệt riêng ngôi đền đó cho Ngài, để xông hương trước mặt Ngài, và thường xuyên bày bánh cung hiến, dâng tế lễ thiêu mỗi buổi sáng và buổi chiều, vào những ngày sa-bát, ngày lễ trăng mới, và những ngày lễ đã được chỉ định của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng tôi. Đó là một luật định đời đời cho Y-sơ-ra-ên. 5. Ngôi đền mà tôi sắp xây sẽ rất vĩ đại bởi vì Đức Chúa Trời của chúng tôi vĩ đại hơn tất cả các thần. 6. Tuy nhiên ai có thể xây cất một ngôi đền cho Ngài, bởi vì các tầng trời, và bầu trời của các tầng trời cũng không thể chứa được Ngài? Thế thì tôi là ai mà xây đền cho Ngài? Thật ra, chỉ là một nơi để dâng hương trước mặt Ngài. 7. Vì vậy, bây giờ xin ngài gởi cho tôi một người lành nghề về vàng, bạc, đồng, sắt, vải tím, vải đỏ thẳm, vải xanh, và chạm khắc để làm việc với những người thợ giỏi của tôi tại Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, mà cha của tôi là Đa-vít đã chuẩn bị. 8. Xin gởi cho tôi gỗ bá hương, gỗ tùng, gỗ đàn hương từ Li-ban, bởi vì tôi biết rằng các tôi tớ của ngài thành thạo trong việc đốn gỗ tại Li-ban. Các tôi tớ của tôi cũng sẽ làm việc với các tôi tớ của ngài. 9. Xin hãy cung cấp cho tôi thật nhiều gỗ, bởi vì ngôi đền mà tôi sắp xây sẽ vĩ đại và nguy nga. 10. Tôi sẽ cung cấp cho các tôi tớ của ngài, tức là những thợ đốn gỗ, hai chục ngàn cô-rơ lúa miến đã giã, hai chục ngàn cô-rơ lúa mạch, hai chục ngàn bát rượu, và hai chục ngàn bát dầu.”
- Sau đó, Hi-ram, vua của Ty-rơ, đã viết thư gởi cho Sa-lô-môn: “Bởi vì Đức Giê-hô-va yêu thương dân của Ngài cho nên Ngài đã lập ông cai trị họ.” 12. Hi-ram nói tiếp: “Tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã tạo dựng trời và đất, bởi vì Ngài đã ban cho Vua Đa-vít một người con khôn ngoan, cẩn trọng, và thông minh để xây cất một ngôi đền cho Đức Giê-hô-va, và một hoàng cung cho mình. 13. Bây giờ, tôi gởi đến một người thợ thành thạo sáng suốt tên Hu-ram A-bi, 14. là con trai của một phụ nữ thuộc chi tộc Đan, và cha là người Ty-rơ. Ông giỏi về nghề vàng, bạc, đồng, sắt, đá, gỗ, vải tím, vải đỏ thẳm, vải xanh; thông thạo đủ các thứ chạm trổ, và có thể làm bất cứ đồ vật tinh xảo nào mà người ta đặt làm. Ông sẽ làm việc với những thợ của ngài cũng như những thợ của chúa tôi, là Vua Đa-vít, tức là cha của ngài. 15. Vì vậy bây giờ, những lúa mì, lúa mạch, dầu và rượu mà chúa tôi đã nói, xin ngài hãy gởi cho các tôi tớ của ngài. 16. Chúng tôi sẽ đốn gỗ tại Li-ban, theo số lượng ngài cần. Chúng tôi sẽ thả bè đem đến Gia-phô cho ngài theo đường biển, rồi ngài sẽ đem chúng về Giê-ru-sa-lem.”
- Sa-lô-môn đã kiểm kê tất cả những người ngoại quốc sống trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên theo như thống kê của Đa-vít, cha của ông đã làm. Người ta thấy có một trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm người. 18. Ông đã lập bảy mươi ngàn người khuân vác, tám mươi ngàn người đẽo đá trên núi, và ba ngàn sáu trăm người điều hành.
3
- Sau đó, Sa-lô-môn đã khởi công xây cất đền thờ cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem trên núi Mô-ri-a, tại nơi Đức Giê-hô-va đã hiện ra với Đa-vít, thân phụ của ông. Đó là nơi Đa-vít đã chuẩn bị tại sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít. 2. Ông đã khởi công xây cất vào ngày hai tháng hai trong năm thứ tư dưới thời trị vì của mình.
- Đây là cái nền mà Sa-lô-môn đã xây cho ngôi đền của nhà Đức Chúa Trời. Theo cu-bít đo đạc thuở trước, chiều dài là sáu mươi cu-bít, và chiều rộng là hai mươi cu-bít. 4. Chiều dài của hành lang phía trước là hai mươi cu-bít, bằng chiều rộng của đền thờ; chiều cao là một trăm hai mươi cu-bít. Vua cho bọc vàng ròng bên trong. 5. Đại sảnh đường được lót bằng gỗ bá hương, dát vàng tốt và có chạm hình cây chà là và vòng xích. 6. Ông trang hoàng đền thờ bằng đá quí thật xinh dẹp, và dùng vàng là vàng Phạt-va-im. 7. Ông cho dát vàng khắp đền thờ, xà ngang, khung cửa, tường, cửa và chạm hình chê-ru-bim trên tường.
- Ông xây Nơi Chí Thánh. Chiều dài của nơi đó bằng chiều rộng của Ðền Thờ, tức là hai mươi cu-bít, và chiều ngang của nó cũng là hai mươi cu-bít. Ông dùng sáu trăm ta-lâng vàng hảo hạng để dát phòng. 9. Những đinh bằng vàng cân nặng năm mươi siếc-lơ. Ông cũng bọc vàng các phòng cao.
- Trong Nơi Chí Thánh, ông làm hai tượng chê-ru-bim, rồi bọc chúng bằng vàng. 11. Các cánh của hai chê-ru-bim dài hai mươi cu-bít; một cánh của chê-rúp nầy dài năm cu-bít chạm vào tường của Ðền Thờ, cánh còn lại cũng dài năm cu-bít và chạm một cánh của chê-rúp kia. 12. Một cánh của chê-rúp kia dài năm cu-bít và chạm vào tường của Ðền Thờ, cánh còn lại cũng dài năm cu-bít tiếp giáp với cánh của chê-rúp trước. 13. Các cánh của hai chê-ru-bim trải dài hai mươi cu-bít; chúng đứng trên chân của mình, và mặt hướng vào bên trong.
- Ông làm một bức màn bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải gai mịn, rồi thêu hình các chê-ru-bim lên trên. 15. Phía trước Ðền Thờ, ông dựng hai cây trụ, mỗi trụ cao ba mươi lăm cu-bít, trên đỉnh mỗi trụ có một cái đầu trụ cao năm cu-bít. 16. Ông làm những dây xích giống như dây xích trong Nơi Chí Thánh, để đặt chúng trên đỉnh trụ, và làm một trăm trái lựu gắn trên dây xích đó. 17. Ông dựng hai trụ đó trước Ðền Thờ, một trụ bên phải và một trụ bên trái. Ông đặt tên cho trụ bên phải là Gia-kin và trụ bên trái là Bô-a.
4
- Sau đó, ông đã làm một cái bàn thờ đồng, bề dài hai mươi cu-bít, bề ngang hai mươi cu-bít, và bề cao mười cu-bít.
- Ông đã đúc một cái bể hình tròn, từ mép nầy qua mép kia là mười cu-bít, cao năm cu-bít, và dây đo vòng quanh khoảng ba mươi cu-bít. 3. Phía dưới vành khắp chung quanh bể có hình những con bò, mỗi cu-bít có mười con. Hình những con bò được đúc thành hai hàng chung quanh bể. 4. Bể được đặt trên mười hai con bò: Ba con quay về hướng bắc, ba con quay về hướng tây, ba con quay về hướng nam và ba con quay về hướng đông. Bể được đặt trên những con bò đó, còn thân sau của chúng đều quay vào trong. 5. Bể dày bằng chiều rộng của một bàn tay. Miệng bể được đúc như miệng chén hình hoa huệ. Dung tích của nó chứa được ba ngàn bát. 6. Ông cũng làm mười cái chậu, rồi đặt năm cái bên phải, và năm cái bên trái, để rửa. Những vật được dùng cho tế lễ thiêu sẽ được rửa trong đó; còn cái bể thì được dùng để thanh tẩy các tư tế.
- Ông đã làm mười cây đèn bằng vàng đúng theo thiết kế rồi đặt chúng trong Ðền Thờ: Năm cái ở phía nam và năm cái ở phía bắc. 8. Ông đã làm mười cái bàn và đặt chúng trong Ðền Thờ: Năm cái bên phải và năm cái bên trái. Ông đã làm một trăm cái chậu bằng vàng. 9. Ngoài ra, ông đã xây một cái sân dành cho các tư tế, và một sân lớn, cùng làm các cửa cho sân. Ông dát đồng những cánh cửa.
- Ông đặt cái bể ở bên phải, về phía đông, hướng về phía nam.
- Hu-ram đã làm những cái nồi, vá và chậu. Như vậy, Hu-ram đã làm xong tất cả công việc mà ông đã nhận làm cho Sa-lô-môn trong đền thờ của Đức Chúa Trời gồm: 12. Hai cây trụ, hai đầu trụ hình bầu ở trên đỉnh trụ, hai tấm lưới bao hai cái bầu của đầu trụ, 13. bốn trăm trái lựu gắn vào hai tấm lưới, mỗi tấm có hai hàng trái lựu để bao hai cái bầu của đầu trụ; 14. những cái bệ và những cái chậu ở trên những cái bệ; 15. một cái bể và mười hai con bò đỡ bên dưới; 16. những cái nồi, vá, các chĩa thịt, và những dụng cụ liên hệ. Hu-ram A-bi đã làm cho Sa-lô-môn tất cả các vật dụng đó bằng đồng đánh bóng để dùng trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. 17. Vua đã truyền đúc những vật dụng nầy trong những khuôn bằng đất sét tại đồng bằng Giô-đanh, giữa Su-cốt và Xê-rê-đa. 18. Vua Sa-lô-môn đã cho làm tất cả các vật dụng đó, nhiều đến nỗi không thể tính được số lượng đồng đã dùng.
- Sa-lô-môn đã làm tất cả những vật dụng trong Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời: Bàn thờ bằng vàng, những cái bàn để sắp đặt Bánh Hằng Hiến, 20. các chân đèn và đèn bằng vàng ròng để thắp sáng trước Nơi Chí Thánh theo quy định. 21. Các hoa, các đèn, và những cái kẹp bằng vàng ròng; 22. kéo cắt tim đèn, bát, đĩa đựng hương liệu và lư hương bằng vàng ròng; cả đến lối vào Đền Thờ, các cánh cửa Đền Thờ bên trong Nơi Chí Thánh, cùng các cánh cửa của Đền Thờ cũng đều bằng vàng.
5
- Như vậy, tất cả các công việc mà Sa-lô-môn thực hiện cho Đền Thờ của Đức Giê-hô-va đã được hoàn tất. Sa-lô-môn đã đem những vật mà Đa-vít, cha của ông, đã biệt riêng ra thánh, tức là bạc vàng và những vật dụng, đặt vào trong những kho tàng của Đền Thờ Đức Chúa Trời. 2. Sa-lô-môn đã triệu tập các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, các trưởng tộc, và các gia tộc của dân Y-sơ-ra-ên trở về Giê-ru-sa-lem, để rước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ thành Đa-vít, tức là Si-ôn. 3. Toàn thể Y-sơ-ra-ên đã tập hợp lại bên vua vào dịp lễ trong tháng bảy. 4. Tất cả các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đã đến dự. Người Lê-vi khiêng Rương. 5. Họ đã khiêng Rương, Lều Hội Kiến, và tất cả những vật dụng thánh thuộc về Lều Hội Kiến. Các tư tế và những người Lê-vi đã khiêng tất cả những vật đó.
- Vua Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đã tập họp chung quanh ông tại phía trước của Rương. Họ đã dâng sinh tế chiên và bò nhiều đến nỗi không thể đếm được. 7. Các tư tế đã đem Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào chỗ của nó tại phòng trong cùng của Ðền Thờ, tức là Nơi Chí Thánh, bên dưới những cánh của các chê-ru-bim. 8. Các chê-ru-bim dang cánh ra bên trên nơi đặt Rương. Các chê-ru-bim che phủ Rương, và các đòn khiêng. 9. Các đòn khiêng đó rất dài, đến nỗi lòi những đầu ra khiến ai đứng ở trước Nơi Chí Thánh đều có thể nhìn thấy, nhưng ai đứng ở ngoài thì không thấy được. Các đòn khiêng đó vẫn còn tại đó cho đến ngày nay. 10. Trong Rương không có gì ngoài hai tấm bảng mà Môi-se đã đặt vào đó tại Hô-rếp, khi Đức Giê-hô-va lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên, lúc họ ra khỏi Ai Cập.
- Sau khi các tư tế đã ra khỏi Nơi Thánh – bởi vì tất cả các tư tế hiện diện đều đã thánh hóa chính họ, bất kể ban thứ của họ – 12. thì các ca nhạc sĩ thuộc dòng Lê-vi, tức A-sáp, Hê-nan, Giê-đu-thun, cùng các con trai và anh em của họ, mặc lễ phục bằng vải gai mịn, cầm chập chõa, đàn hạc và đàn cầm, xếp hàng đứng ở phía đông của bàn thờ cùng với một trăm hai mươi vị tư tế thổi kèn. 13. Sau đó, khi những người thổi kèn và các ca sĩ cùng hòa một điệu; họ tôn ngợi và cảm tạ Đức Giê-hô-va. Họ cất tiếng hát, hòa với tiếng kèn, tiếng cồng chiêng, và những nhạc cụ, cùng ca ngợi Đức Giê-hô-va rằng: “Ngài là thiện! Sự nhân từ của Ngài còn đến đời đời!” Lúc đó, ngôi đền, tức là Đền Thờ của Đức Giê-hô-va, phủ đầy mây. 14. Các tư tế không thể đứng để thi hành chức vụ, bởi vì mây: Vì vinh quang của Đức Giê-hô-va đã phủ đầy trong Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời.
6
- Sau đó, Sa-lô-môn nói: “Đức Giê-hô-va đã phán rằng Ngài thích ngự trong mây dày đặc; 2. nhưng con đã cất một ngôi đền để tôn kính Ngài, một nơi để Ngài ngự đến đời đời.”
- Vua quay mặt trở lại rồi chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên trong lúc toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đứng. 4. Ông nói: “Chúc tụng Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng đã dùng tay của Ngài để làm trọn mọi điều mà miệng Ngài đã hứa với Ða-vít, là cha của tôi, rằng: 5. ‘Từ ngày Ta đem dân của Ta ra khỏi Ai Cập, Ta đã không chọn một thành nào của bất cứ chi tộc nào trong dân Y-sơ-ra-ên để xây một Ðền Thờ cho danh của Ta ngự tại đó, và Ta cũng đã không chọn một người nào để làm lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên của Ta. 6. Nhưng Ta đã chọn Giê-ru-sa-lem để danh Ta ngự tại đó, và đã chọn Ða-vít làm người lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên của Ta.’ 7. Ða-vít, là cha của tôi, trong tấm lòng đã có ý định xây một Ðền Thờ cho danh của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 8. Nhưng Đức Giê-hô-va đã phán với Ða-vít, cha của tôi, rằng: ‘Ngươi có lòng muốn xây một Ðền Thờ cho danh của Ta, ước muốn đó rất tốt. 9. Tuy nhiên ngươi không phải là người xây Ðền Thờ, nhưng con trai của ngươi, là kẻ từ ngươi mà ra, sẽ xây Ðền Thờ cho danh của Ta.’ 10. Bây giờ, Đức Giê-hô-va đã làm thành tựu những lời Ngài đã phán. Tôi đã được nhấc lên để thế vị Ða-vít, cha của tôi, và được ngồi trên ngôi của Y-sơ-ra-ên như Đức Giê-hô-va đã phán. Tôi đã xây Ðền Thờ nầy cho danh của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 11. Tại đó, có một nơi để đặt cái Rương trong đó có đựng giao ước của Đức Giê-hô-va mà Ngài đã lập với dân Y-sơ-ra-ên.”
- Ông đứng trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va, trong sự hiện diện của toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, rồi đưa tay lên. 13. – Vì Sa-lô-môn đã làm một cái bục bằng đồng, dài năm cu-bít, rộng năm cu-bít, cao ba cu-bít, đặt giữa sân. – Ông đã đứng trên đó, rồi quỳ gối xuống trước mặt toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, giơ tay lên trời. 14. Ông nói:
“Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, không có thần nào giống như Ngài ở trên trời hay dưới đất, Ngài gìn giữ giao ước và lòng yêu thương nhân từ đối với các tôi tớ của Ngài khi họ hết lòng bước đi trước mặt Ngài. 15. Ngài đã giữ lời hứa với tôi tớ của Ngài, là Đa-vít, cha của con. Ðiều mà miệng Ngài đã phán thì ngày nay chính tay Ngài đã thực hiện. 16. Vì vậy bây giờ, lạy Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin Ngài tiếp tục giữ những gì Ngài đã hứa với Ða-vít, cha của con, rằng: ‘Ngươi sẽ không bao giờ thiếu một kẻ kế vị để ngồi trên ngôi của Y-sơ-ra-ên trước mặt Ta, nếu con cháu của ngươi biết cẩn thận trong đường lối chúng để đi theo luật lệ của Ta như ngươi đã bước đi trước mặt Ta.’ 17. Vì vậy, lạy Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Cầu xin những lời Ngài đã hứa với Ða-vít, tôi tớ Ngài, được ứng nghiệm.”
- “Nhưng thật ra làm thế nào Đức Chúa Trời sẽ sống với loài người trên mặt đất, bởi vì bầu trời, ngay cả bầu trời của các tầng trời còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi đền mà con đã xây cất! 19. Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của con! Xin đoái đến lời cầu nguyện và nài xin của đầy tớ Ngài. Xin lắng nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện của đầy tớ Ngài đang cầu khẩn trước mặt Ngài. 20. Nguyện mắt Ngài ngày và đêm đoái xem ngôi đền nầy, là nơi Ngài đã phán: ‘Danh Ta sẽ ngự tại đó’ để nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Ngài hướng về nơi nầy mà cầu nguyện. 21. Cầu xin Ngài lắng nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Ngài và của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ngài, mỗi khi họ hướng về nơi nầy mà cầu nguyện. Từ nơi Ngài ngự trên trời, xin Ngài lắng nghe; và khi Ngài đã lắng nghe, xin Ngài tha thứ.”
- “Nếu có ai phạm tội đối với người khác và người ta bắt người đó phải thề, khi người đó đến thề trước bàn thờ của Ngài trong Ðền Thờ nầy, 23. cầu xin Ngài từ trời hãy lắng nghe, hành động, và xét xử các tôi tớ của Ngài. Xin Ngài kết án kẻ có tội và bắt nó phải cúi đầu nhận lấy hậu quả tội lỗi của nó, và xin Ngài xử công minh cho người ngay lành và ban thưởng cho người vì sự ngay lành của người.”
- “Nếu dân Y-sơ-ra-ên của Ngài phạm tội với Ngài và bị thất bại trước mặt quân thù, nhưng nếu họ biết quay về với Ngài, xưng nhận danh của Ngài, cầu nguyện, và cầu xin Ngài trong Ðền Thờ nầy, 25. cầu xin Ngài từ trời hãy lắng nghe. Xin Ngài tha thứ tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và đem họ trở về xứ sở mà Ngài đã ban cho họ và cho tổ phụ của họ.”
- “Khi trời đóng lại và không mưa xuống đất bởi vì dân chúng đã phạm tội với Ngài, nhưng nếu họ hướng về nơi nầy để cầu nguyện, xưng nhận danh của Ngài, lìa bỏ những tội lỗi của họ khiến Ngài sửa phạt họ, 27. cầu xin Ngài từ trời hãy lắng nghe. Xin Ngài tha thứ tội lỗi cho các tôi tớ của Ngài, và của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ngài. Khi Ngài dạy họ con đường tốt mà họ phải đi, xin hãy ban mưa xuống xứ sở của Ngài mà Ngài đã ban cho dân của Ngài làm sản nghiệp.”
- “Nếu trong xứ có nạn đói, dịch bệnh, hạn hán, nấm mốc, cào cào hay châu chấu, nếu quân thù đến vây hãm thành nào của họ, hoặc có bất cứ tai họa hay bệnh tật nào, 29. nếu có một người hoặc toàn dân Y-sơ-ra-ên của Ngài nhận biết tai họa và sự đau đớn của mình mà đưa tay hướng về Ðền Thờ nầy cầu nguyện và khẩn xin bất cứ điều gì, 30. cầu xin Ngài từ nơi Ngài ngự trên trời hãy lắng nghe, tha thứ, và báo trả mỗi người tùy theo điều Ngài biết trong lòng của họ, và tùy theo những đường lối của họ – bởi vì chỉ một mình Ngài biết rõ tấm lòng của con người – 31. để họ sẽ kính sợ Ngài và bước đi trong những đường lối của Ngài trọn đời của họ trong đất mà Ngài đã ban cho tổ phụ của chúng con.”
- “Hơn thế nữa, khi có người ngoại quốc nào, không phải là dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, từ một xứ xa xăm đến đây vì đã được nghe về đại danh của Ngài, về cánh tay quyền năng của Ngài, và về cánh tay Ngài đã đưa ra, khi họ đến và cầu nguyện trong Ðền Thờ nầy, 33. cầu xin Ngài từ trên trời, từ nơi Ngài đang ngự hãy lắng nghe. Xin Ngài thực hiện tất cả những điều mà người ngoại quốc đó cầu xin với Ngài, để mọi dân trên đất sẽ biết đến danh của Ngài và kính sợ Ngài, giống như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài đã làm, và họ sẽ biết rằng Ðền Thờ nầy mà con đã xây được gọi bằng danh của Ngài.”
- “Nếu dân của Ngài đi ra chiến đấu chống lại quân thù theo con đường mà Ngài sai họ đi, nếu họ hướng về thành nầy mà Ngài đã chọn và về Ðền Thờ mà con đã xây cho danh của Ngài để cầu nguyện, 35. cầu xin Ngài từ trên trời lắng nghe lời cầu nguyện, nài xin của họ và thực thi công lý cho họ.”
- “Khi dân chúng phạm tội đối với Ngài – bởi vì không ai mà không phạm tội – họ khiến Ngài giận họ rồi phó họ cho quân thù, chúng bắt họ đem đi lưu đày đến một xứ xa hay gần; 37. nếu tại xứ bị lưu đày, họ hối cãi ăn năn; và trong xứ họ bị lưu đày họ cầu khẩn với Ngài rằng: ‘Chúng con đã phạm tội, chúng con đã sai lầm, chúng con đã làm việc gian ác’; 38. nếu từ trong xứ bị lưu đày, họ hết lòng và hết linh hồn ăn năn quay về với Ngài, và từ nơi họ bị đem đi lưu đày, họ hướng về xứ mà Ngài đã ban cho tổ phụ của họ, về thành mà Ngài đã chọn, và về Ðền Thờ mà con đã xây cho danh của Ngài, để cầu nguyện, 39. cầu xin Ngài từ nơi Ngài ngự trên trời hãy lắng nghe lời nài xin của họ, thực thi công lý cho họ, và tha thứ tội mà dân của Ngài đã phạm với Ngài.”
- “Lạy Đức Chúa Trời của con! Bây giờ, xin mắt Ngài hãy đoái xem và tai Ngài hãy lắng nghe lời cầu nguyện tại nơi nầy. 41. Vì vậy bây giờ, cầu xin Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, hãy trỗi dậy. Xin Ngài và Rương quyền năng của Ngài hãy vào nơi an nghỉ. Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời! Nguyện các tư tế của Ngài mặc lấy sự cứu rỗi. Nguyện những người tin kính Ngài được được vui mừng trong ơn lành. 42. Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời! Xin đừng từ bỏ người được xức dầu của Ngài. Xin nhớ lại sự nhân từ của Ngài đối với Đa-vít là đầy tớ của Ngài.”
7
- Khi Sa-lô-môn cầu nguyện xong, lửa từ trời giáng xuống thiêu đốt tế lễ thiêu và các sinh tế. Vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Ðền Thờ. 2. Các tư tế không thể vào Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va bởi vì vinh quang của Đức Giê-hô-va tràn ngập cả Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. 3. Khi toàn dân Y-sơ-ra-ên nhìn thấy lửa từ trời giáng xuống và vinh quang của Đức Giê-hô-va ngự xuống Ðền Thờ, họ sấp mình xuống, úp mặt sát đất trên mặt sân, để thờ phượng và chúc tụng Đức Giê-hô-va: “Thật vậy, Ngài là Đấng Tốt Lành. Thật vậy, tình thương của Ngài còn đến đời đời.”
- Sau đó vua và dân chúng dâng đã sinh tế cho Đức Giê-hô-va. 5. Vua Sa-lô-môn dâng hai mươi hai ngàn con bò và một trăm hai mươi ngàn con chiên đực. Vua và toàn dân đã làm lễ cung hiến Ðền Thờ của Đức Chúa Trời. 6. Các tư tế đứng vào vị trí của mình, còn những người Lê-vi thì cầm nhạc khí dùng cho Đức Giê-hô-va mà Vua Đa-vít đã làm để tôn ngợi Đức Giê-hô-va, mỗi khi Đa-vít bảo họ ca ngợi: “Vì lòng nhân từ của Ngài còn đến đời đời!” Các tư tế đã thổi kèn trước mặt họ, còn toàn thể Y-sơ-ra-ên thì đứng.
- Sa-lô-môn đã biệt riêng khu vực ở giữa sân phía trước của Ðền Thờ Đức Giê-hô-va cho việc dâng những tế lễ. Tại đó, ông đã dâng những tế lễ thiêu và mỡ của tế lễ bình an, bởi vì bàn thờ bằng đồng mà Sa-lô-môn đã làm không thể chứa hết tế lễ thiêu, tế lễ chay và mỡ.
- Trong dịp nầy, Sa-lô-môn đã tổ chức lễ trong bảy ngày. Toàn thể Y-sơ-ra-ên từ ải Ha-mát cho đến khe Ai Cập đã họp lại với vua thành một hội chúng rất đông. 9. Vào ngày thứ tám, họ có một cuộc nhóm họp trọng thể. Họ đã dự lễ cung hiến bàn thờ trong bảy ngày và mừng lễ trong bảy ngày nữa. 10. Ngày hai mươi ba tháng bảy, vua cho dân chúng trở về trại của mình. Lòng của mọi người đều vui mừng và hân hoan về điều tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, cho Sa-lô-môn và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
- Như vậy, Sa-lô-môn đã hoàn tất việc xây cất Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va và cung điện của mình. Tất cả những công trình Sa-lô-môn dự định làm cho Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va và cho cung vua đều hoàn thành mỹ mãn.
- Sau đó, Đức Giê-hô-va đã hiện ra với Sa-lô-môn vào ban đêm, và phán với ông: “Ta đã nghe lời cầu nguyện của ngươi và đã chọn nơi nầy làm một nơi để các ngươi dâng những tế lễ cho Ta. 13. Khi Ta đóng cửa trời không cho mưa, hoặc khi Ta truyền cho châu chấu phá hại xứ sở, hoặc khi Ta sai dịch bệnh đến giữa dân của Ta; 14. nếu dân của Ta, tức dân được gọi bằng danh của Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta, từ bỏ con đường tà, và trở lại, thì Ta ở trên trời sẽ nghe, sẽ tha thứ tội của chúng, và sẽ chữa lành đất nước của chúng. 15. Kể từ nay, mắt của Ta sẽ đoái xem, và tai của Ta sẽ lắng nghe lời cầu nguyện tại nơi nầy; 16. bởi vì bây giờ Ta đã chọn và thánh hóa Ðền Thờ nầy để danh của Ta sẽ ngự tại đó đời đời; mắt và lòng của Ta sẽ ở đó mãi mãi. 17. Về phần ngươi, nếu ngươi bước đi trước mặt Ta như Ða-vít, cha của ngươi, đã đi, và làm theo mọi điều Ta đã truyền cho ngươi, vâng giữ những luật lệ và mạng lịnh của Ta, 18. thì Ta sẽ làm cho ngôi nước của ngươi được bền vững như Ta đã lập giao ước với Ða-vít, cha của ngươi, rằng: ‘Ngươi sẽ không hề thiếu người kế vị để trị vì trên Y-sơ-ra-ên.’
- Nhưng nếu các ngươi quay đi và lìa bỏ những luật lệ và những điều răn mà Ta đã để trước mặt các ngươi, rồi đi phục vụ các thần khác và thờ phượng chúng, 20. thì Ta sẽ nhổ các ngươi ra khỏi đất mà Ta đã ban cho các ngươi. Còn Ðền Thờ mà Ta đã thánh hóa cho danh của Ta, Ta sẽ ném bỏ nó khỏi Ta, làm cho nó trở thành đề tài cho các dân tộc đàm tiếu và chế nhạo. 21. Đền Thờ nầy dù cho có cao trọng đến đâu, nhưng rồi mọi người đi ngang qua đều sẽ kinh ngạc và hỏi rằng: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va đã làm cho đất nước nầy và Ðền Thờ nầy như vậy?’ 22. Người ta sẽ trả lời rằng: ‘Đó là vì họ đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đấng đã đem họ ra khỏi Ai Cập; và vì họ đã đeo đuổi các thần khác, quỳ lạy và phục vụ các thần đó, cho nên Ngài đã giáng trên họ tất cả những tai họa nầy.’”
8
- Vào cuối năm thứ hai mươi sau khi Sa-lô-môn đã xây xong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va và cung điện của ông, 2. Sa-lô-môn đã xây lại những thành mà Hu-ram đã nhường cho ông, và dân Y-sơ-ra-ên đã định cư tại đó.
- Sa-lô-môn tiến đánh Ha-mát Xô-ba và chiếm được nơi đó. 4. Ông đã xây dựng Tát-mốt trong hoang mạc và xây những thành dùng làm kho dự trữ tại Ha-mát. 5. Ông đã xây Bết Hô-rôn Thượng và Bết Hô-rôn Hạ là những thành kiên cố, có tường thành, có cổng, và then cài. 6. Ông xây Ba-lát và tất cả các thành dùng làm kho dự trữ, các thành để chứa xe chiến mã, và các thành cho ngựa chiến. Sa-lô-môn đã hoàn thành tất cả những dự án xây cất tại Giê-ru-sa-lem, tại Li-ban, và toàn lãnh thổ của ông.
- Tất cả những người còn lại trong các dân Hê-tít, A-mô-rít, Phê-rê-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít không thuộc về Y-sơ-ra-ên, 8. là các con cháu của những người còn sót lại trong xứ mà dân Y-sơ-ra-ên đã không thể tiêu diệt hết, thì Sa-lô-môn bắt họ làm lao dịch cho đến ngày nay. 9. Nhưng Sa-lô-môn không bắt người nào trong vòng dân Y-sơ-ra-ên làm lao dịch để phục vụ cho vua, nhưng họ là những chiến binh, lãnh đạo, sĩ quan, chỉ huy các xe chiến mã và kỵ binh của vua. 10. Vua Sa-lô-môn có hai trăm năm mươi quan chức. Họ là những người cai quản dân chúng.
- Sa-lô-môn đã đem con gái của Pha-ra-ôn ra khỏi thành Ða-vít, rồi đưa vào ở trong cung điện ông đã xây riêng cho bà, bởi vì ông nói: “Vợ của ta sẽ không ở trong cung của Ða-vít, là vua của Y-sơ-ra-ên, bởi vì nơi nào Rương của Đức Giê-hô-va đã ngự vào, nơi đó đã trở thành nơi thánh.”
- Sa-lô-môn đã dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va mà vua đã cho xây trước tiền đình, 13. hằng ngày theo quy định của Môi-se, và tế lễ cho những ngày Sa-bát, những ngày trăng mới, và ba ngày đại lễ hằng năm: Lễ Bánh Không Men, Lễ Các Tuần, và Lễ Lều Tạm.
- Theo lệnh của Đa-vít, là cha của ông, ông đã bổ nhiệm các tư tế vào các ban ngành để thực hiện những nhiệm vụ của họ. Ông đã bổ nhiệm những người Lê-vi vào các chức vụ để lo việc ca hát và vào các ban ngành để giúp các tư tế thi hành chức vụ hằng ngày theo yêu cầu. Ông cũng bổ nhiệm những người giữ cửa vào các ban để thay phiên nhau canh gác tại mỗi cổng, bởi vì Ða-vít, người của Ðức Chúa Trời, đã truyền dặn như vậy. 15. Họ đã không lìa khỏi bất cứ mạng lịnh nào của tiên vương liên quan đến chức vụ của các tư tế và chức vụ của những người Lê-vi, hay việc quản lý tài sản.
- Tất cả những công trình mà Sa-lô-môn thiết kế từ ngày đặt nền móng Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va cho đến ngày hoàn thành, đều được hoàn tất. Như vậy, Ðền Thờ Đức Giê-hô-va đã được xây xong.
- Sau đó, Sa-lô-môn đi đến Ê-xi-ôn Ghê-be và Ê-lốt trên bờ biển tại xứ Ê-đôm. 18. Hu-ram đã sai các đầy tớ đem tàu bè và các thủy thủ thông thạo nghề đi biển đến đó. Họ đã cùng đi với các đầy tớ của Sa-lô-môn đến Ô-phia. Họ đã lấy bốn trăm năm mươi ta-lâng vàng tại đó rồi đem về cho Vua Sa-lô-môn.
9
- Khi nữ hoàng của Sê-ba nghe về danh tiếng của Sa-lô-môn, bà đã đến Giê-ru-sa-lem để thử Sa-lô-môn bằng những câu đố rất khó. Bà đã đến với một đoàn tùy tùng rất đông, dẫn theo một đoàn lạc đà chở những hương liệu, rất nhiều vàng và đá quý. Khi gặp Sa-lô-môn, bà đã hỏi ông tất cả những gì trong lòng của bà. 2. Sa-lô-môn đã giải đáp tất cả các câu hỏi của bà. Không có điều gì là quá bí ẩn mà Sa-lô-môn không thể giải thích cho bà. 3. Khi nữ hoàng của Sê-ba đã chứng kiến sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện mà ông đã xây, 4. thức ăn trên bàn của ông, cách tổ chức làm việc của quần thần ông, cung cách phục vụ và triều phục họ mặc, các quan dâng thức uống cho ông và y phục họ mặc, và những tế lễ thiêu ông đã dâng trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, thì bà hết hồn. 5. Bà nói với vua: “Điều tôi nghe nói trong nước của tôi về những lời nói và sự khôn ngoan của ngài là đúng sự thật. 6. Tôi đã không tin lời của họ cho đến khi tôi đến đây và nhìn thấy tận mắt. Thật ra, người ta cho tôi biết chưa đến một nửa sự khôn ngoan lớn lao của ngài. Ngài vượt xa hơn tiếng đồn mà tôi đã nghe. 7. Phước thay cho những người của ngài! Phước thay cho các bầy tôi của ngài, những người thường xuyên chầu chực trước mặt ngài và được nghe sự khôn ngoan của ngài! 8. Tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngài, là Đấng đã vui lòng đặt ngài lên ngôi vua để cai trị thay cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngài! Bởi vì Đức Chúa Trời yêu thương dân Y-sơ-ra-ên cho nên đã lập ngài làm vua của họ để thực thi công lý và sự chính trực, để cho họ được vững bền mãi mãi.” 9. Bà đã tặng cho vua một trăm hai mươi ta-lâng vàng, rất nhiều hương liệu và đá quý. Không có hương liệu nào giống như những hương liệu mà nữ hoàng của Sê-ba đã tặng cho Vua Sa-lô-môn.
- Các tôi tớ của Hu-ram và các tôi tớ của Sa-lô-môn đã đem vàng từ Ô-phia về. Họ cũng chở theo gỗ đàn hương và đá quý. 11. Vua đã dùng gỗ đàn hương để làm bậc cấp cho Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, cho hoàng cung, làm đàn cầm và đàn hạc cho các nhạc sĩ. Trước đó, chưa hề thấy những việc như vậy trong đất Giu-đa.
- Vua Sa-lô-môn đã tặng cho nữ hoàng của Sê-ba bất cứ món gì bà thích và bất cứ thứ gì mà bà xin, nhiều hơn những gì bà đã đem đến tặng cho vua. Sau đó, bà và đoàn tùy tùng của bà lên đường trở về nước của bà.
- Mỗi năm số vàng mà Vua Sa-lô-môn nhận cân nặng được sáu trăm bảy mươi ta-lâng; 14. chưa kể số vàng từ những thương gia và những người buôn bán đem vào. Tất cả các vua tại vùng A-ra-bi và các thống đốc trong vùng cũng đem vàng, bạc đến cho Vua Sa-lô-môn. 15. Vua Sa-lô-môn đã làm hai trăm cái khiên lớn dát vàng, mỗi cái dùng sáu trăm siếc-lơ vàng; 16. và ba trăm cái khiên nhỏ dát vàng, mỗi cái dùng ba trăm siếc-lơ vàng. Vua đã để các khiên đó trong cung Rừng Li-ban.
- Ngoài ra, vua cũng làm một chiếc ngai lớn bằng ngà, bọc vàng ròng. 18. Ngai có sáu bậc và một bệ chân bọc vàng gắn liền với ngai. Hai bên chỗ ngồi của ngai có chỗ gác tay. Hai con sư tử đứng bên cạnh những chỗ gác tay. 19. Mười hai con sư tử đứng trên sáu bậc, một con bên nầy và một con bên kia. Không có vương quốc nào làm ngai giống như vậy.
- Các vật dụng để uống của Vua Sa-lô-môn đều làm bằng vàng, và tất cả những vật dụng trong cung Rừng Li-ban cũng đều làm bằng vàng ròng. Trong đời của Sa-lô-môn, bạc không có giá trị, 21. bởi vì các thương thuyền của vua đã đi Ta-rê-si với các tôi tớ của Hu-ram, mỗi ba năm tàu trở về mang theo vàng, bạc, ngà voi, đười ươi và chim công.
- Vì vậy, Vua Sa-lô-môn đã trổi hơn tất cả các vua trên đất về sự giàu sang và khôn ngoan. 23. Tất cả các vua trên đất mong được diện kiến Sa-lô-môn để nghe sự khôn ngoan mà Ðức Chúa Trời đã ban cho tâm trí của ông. 24. Năm nầy qua năm khác, mỗi người đem đến cho ông những tặng vật là các vật dụng bằng bạc, bằng vàng, trang phục, vũ khí, hương liệu, ngựa và la.
- Sa-lô-môn có bốn ngàn chuồng ngựa với mười hai ngàn con ngựa để kéo các xe chiến mã. Ông cho chúng ở trong các thành của các đơn vị sử dụng những xe chiến mã trú đóng gần bên vua tại Giê-ru-sa-lem. 26. Ông thống trị tất cả các vua từ sông Cái cho đến xứ Phi-li-tin và cho đến tận biên giới của Ai Cập. 27. Tại Giê-ru-sa-lem, ông đã làm cho bạc trở nên tầm thường như đá sỏi, và gỗ bá hương nhiều như cây sung mọc trong vùng đất trũng. 28. Người ta đem ngựa từ Ai Cập và từ khắp nơi về cho Sa-lô-môn.
- Những việc khác của Sa-lô-môn đã làm từ đầu đến cuối đã được chép trong sách của Tiên tri Na-than, trong sách tiên tri của A-hi-gia, người Si-lô, và trong sách khải tượng của Giê-đô, vị tiên kiến đã nói về Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát. 30. Sa-lô-môn trị vì trên cả Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem bốn mươi năm. 31. Sa-lô-môn an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng trong thành của Đa-vít, là thân phụ của ông. Rô-bô-am, con trai của ông, đã trị vì thay cho ông.
10
- Rô-bô-am đã đến Si-chem, bởi vì toàn thể Y-sơ-ra-ên đã đến Si-chem để tôn ông làm vua.
- Sau đó, khi Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, nghe điều đó, thì ông đã từ Ai Cập trở về – bởi vì ông đang ở tại Ai Cập, là nơi ông đã trốn khỏi sự hiện diện của Sa-lô-môn. 3. Người ta sai người mời ông đến. Sau đó Giê-rô-bô-am cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên đã đến nói với Rô-bô-am: 4. “Thân phụ của Ngài đã đặt một cái ách rất nặng trên chúng tôi. Vì vậy bây giờ xin ngài giảm bớt lao dịch khó nhọc và cái ách nặng nề, mà thân phụ của ngài đã đặt trên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục vụ ngài.”
- Ông đã trả lời họ: “Ba ngày nữa các ngươi hãy trở lại gặp ta.” Vì vậy dân chúng đã ra về.
- Sau đó Vua Rô-bô-am đã tham khảo với các trưởng lão, là những người đã từng phục vụ cha của ông là Sa-lô-môn khi người còn sống. Ông hỏi họ: “Các ông khuyên ta phải trả lời với dân nầy như thế nào?” 7. Họ nói với ông: “Nếu ngài đối xử tốt với dân chúng, làm cho họ vui lòng, dùng lời nhân từ để nói với họ, thì họ sẽ phục vụ ngài suốt đời.”
- Nhưng đã ông bỏ qua lời khuyên của các trưởng lão đã trình cho ông, nhưng đã tham khảo các thanh niên cùng lớn lên với ông, và đang phục vụ ông. 9. Ông hỏi họ: “Các ngươi khuyên chúng ta phải trả lời như thế nào với dân nầy, cho những kẻ đã nói với ta rằng: ‘Xin làm nhẹ bớt cái ách mà cha ngài đã đặt trên chúng tôi’?” 10. Các thanh niên, là những người cùng lớn lên với ông, họ nói với ông: “Xin ngài hãy trả lời cho dân chúng, là những kẻ đã nói với ngài rằng: ‘Cha của ngài đã bắt chúng tôi mang một ách nặng nề, bây giờ xin ngài làm cho ách chúng tôi được nhẹ bớt’ như thế nầy. Ngài hãy nói với chúng rằng: ‘Ngón tay út của ta còn lớn hơn cái lưng của cha ta. 11. Nếu cha ta đã đặt một cái ách nặng nề trên các ngươi thì ta sẽ làm cho cái ách của các ngươi nặng hơn nữa. Cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, nhưng ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bò cạp.’”
- Vào ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am cùng toàn dân đã đến gặp Rô-bô-am đúng như vua đã bảo: “Ba ngày nữa các ngươi hãy trở lại gặp ta.” 13. Vua đã trả lời với dân chúng một cách gay gắt bởi vì Vua Rô-bô-am đã loại bỏ lời khuyên của các trưởng lão, 14. và đã trả lời họ theo lời khuyên của các thanh niên rằng: “Cha ta đã đặt một cái ách nặng nề trên các ngươi nhưng ta sẽ tăng thêm nữa. Cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, nhưng ta sẽ dùng roi bò cạp. 15. Như vậy, vua đã không nghe theo lời thỉnh cầu của dân chúng, và điều đó là do Đức Chúa Trời cho phép xảy ra để làm ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã dùng A-hi-gia, người Si-lô, phán cùng Giê-rô-bô-am con trai của Nê-bát.
- Khi toàn thể Y-sơ-ra-ên thấy vua không nghe theo lời thỉnh cầu của họ, thì họ đã đáp lại cùng vua rằng: “Chúng ta có phần gì với Đa-vít? Chúng ta không thừa hưởng gì từ con trai của Gie-sê. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Mỗi người hãy trở về trại của mình. Hỡi Đa-vít! Từ nay hãy coi chừng nhà của ngươi.” Vì vậy, toàn thể Y-sơ-ra-ên đã trở về trại của mình.
- Nhưng dân Y-sơ-ra-ên cư trú trong các thành của Giu-đa thì vẫn ở dưới sự cai trị của Rô-bô-am. 18. Khi Vua Rô-bô-am sai A-đô-ni-ram, người phụ trách việc lao dịch, đến với dân Y-sơ-ra-ên, thì họ đã ném đá ông chết. Vua Rô-bô-am vội vàng lên xe chạy trốn về Giê-ru-sa-lem. 19. Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên đã nổi loạn chống lại nhà Đa-vít cho đến ngày nay.
11
- Khi Rô-bô-am về đến Giê-ru-sa-lem, ông liền triệu tập toàn thể nhà Giu-đa và Bên-gia-min được một trăm tám mươi ngàn tinh binh, để tiến đánh dân Y-sơ-ra-ên nhằm phục hồi vương quốc cho Rô-bô-am. 2. Nhưng có lời của Đức Giê-hô-va phán với Sê-ma-gia, là người của Đức Chúa Trời, rằng: 3. “Hãy nói với vua của Giu-đa là Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn, và với tất cả người Y-sơ-ra-ên tại Giu-đa và Bên-gia-min rằng: 4. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Các ngươi không được giao chiến với các anh em của mình. Ai nấy hãy trở về nhà của mình, bởi vì việc nầy do Ta mà ra.’” Họ đã vâng theo lời của Đức Giê-hô-va và trở về, không tiến đánh Giê-rô-bô-am nữa.
- Rô-bô-am ở tại Giê-ru-sa-lem. Ông xây dựng các thành để bảo vệ Giu-đa. 6. Ông xây dựng Bết-lê-hem, Ê-tam, Thê-cô-a, 7. Bết Xu-rơ, Sô-cô, A-đu-lam, 8. Gát, Ma-rê-sa, Xíp, 9. A-đô-ra-im, La-ki, A-xê-ka, 10. Xô-rê-a, A-gia-lôn và Hếp-rôn, là những thành vững chắc trong đất Giu-đa và Bên-gia-min. 11. Ông củng cố những thành đó, đặt người chỉ huy và dự trữ lương thực, dầu, và rượu. 12. Ông đặt các khiên lớn và giáo mác trong tất cả các thành và biến chúng trở thành những thành trì kiên cố. Vì vậy Giu-đa và Bên-gia-min được vững vàng dưới quyền cai trị của ông. 13. Các tư tế và những người Lê-vi ở trong các địa hạt của họ trong khắp nước Y-sơ-ra-ên đã kéo về với ông.
- Những người Lê-vi lìa bỏ đồng cỏ và sản nghiệp của họ rồi di chuyển về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, vì Giê-rô-bô-am và các con của ông đã không cho họ tiếp tục thi hành chức vụ tư tế của Đức Giê-hô-va nữa. 15. Ông đã tự bổ nhiệm các tư tế phục vụ trên những nơi cao để lo việc cúng tế các tượng dê đực và các tượng bò con mà ông đã làm ra. 16. Trong các chi tộc Y-sơ-ra-ên, những người nào hết lòng tìm kiếm Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đều đi theo để trở về Giê-ru-sa-lem dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ. 17. Họ đã làm cho vương quốc Giu-đa vững mạnh. Họ hỗ trợ Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn trong ba năm, vì trong ba năm họ đã đi theo đường lối của Đa-vít và Sa-lô-môn.
- Rô-bô-am đã cưới Ma-ha-lát, con gái của (Giê-ri-mốt, cháu của Đa-vít; và A-bi-hai, con gái của Ê-li-áp, cháu của Gie-sê) làm vợ. 19. Bà sinh cho ông các con trai là Giê-út, Sê-ma-ria, và Xa-ham. 20. Sau đó ông cưới thêm Ma-a-ca con gái của Áp-sa-lôm. Bà sinh cho ông A-bi-gia, Át-thai, Xi-xa, và Sê-lô-mít. 21. Rô-bô-am yêu con gái Áp-sa-lôm là Ma-a-ca hơn các bà vợ và các cung phi khác. Ông có mười tám bà vợ và sáu mươi cung phi, sinh hai mươi tám con trai và sáu mươi con gái. 22. Rô-bô-am lập A-bi-gia, con trai Ma-a-ca, làm thái tử đứng đầu các anh em, vì ông dự định lập chàng làm vua. 23. Ông đã hành động khôn khéo, phân tán các con của ông để chúng sống rải rác trong các thành kiên cố của Giu-đa và Bên-gia-min, và chu cấp cho chúng khá sung túc; vì ông cưới nhiều vợ.
12
- Sau khi vương quốc được củng cố và Rô-bô-am đã được vững mạnh, ông và toàn thể Y-sơ-ra-ên đã từ bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va. 2. Do họ đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, cho nên sau đó vào năm thứ năm đời của Vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua của Ai Cập, đã kéo quân tiến đánh Giê-ru-sa-lem, 3. với một ngàn hai trăm xe chiến mã, sáu mươi ngàn kỵ binh, và một đoàn quân đông vô số, gồm quân Li-by, Su-ri và Cút đã cùng đi với ông từ Ai Cập. 4. Ông đã chiếm những thành kiên cố của Giu-đa, rồi tiến đến Giê-ru-sa-lem.
- Tiên tri Sê-ma-gia đã đến gặp Rô-bô-am và các lãnh đạo của Giu-đa đang tụ họp tại Giê-ru-sa-lem để đối phó với Si-sắc. Ông đã nói với họ rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: “Các ngươi đã từ bỏ Ta, cho nên Ta sẽ để các ngươi vào tay của Si-sắc.” 6. Khi đó, các lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên và vua đều hạ mình xuống và nói rằng: “Đức Giê-hô-va là công chính.”
- Khi Đức Giê-hô-va thấy họ hạ mình xuống, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Sê-ma-gia rằng: “Chúng đã hạ mình xuống nên Ta sẽ không tiêu diệt chúng, nhưng Ta sẽ ban cho chúng một ít giải cứu. Ta sẽ không trút cơn thịnh nộ của Ta trên Giê-ru-sa-lem bởi tay của Si-sắc, 8. nhưng chúng phải làm tôi tớ cho hắn, để chúng biết phục vụ Ta và phục vụ các đế quốc ở những nước khác là thế nào.”
- Si-sắc, vua của Ai Cập, đã tấn công Giê-ru-sa-lem. Ông chiếm đoạt tất cả những báu vật trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va và những báu vật trong cung vua. Ông cũng lấy tất cả các khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm. 10. Vua Rô-bô-am đã làm những khiên bằng đồng để thay thế, rồi giao chúng cho các quan chỉ huy thị vệ canh giữ cổng hoàng cung. 11. Mỗi khi vua vào trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va thì quân thị vệ mang các khiên đó ra, rồi sau đó đem cất lại trong kho của quân thị vệ. 12. Vì vua đã hạ mình khiêm tốn, cho nên cơn giận của Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi ông, và Ngài đã không diệt ông. Và rồi, tình thế của Giu-đa cũng trở nên tốt đẹp.
- Vua Rô-bô-am đã làm cho mình được vững mạnh, rồi trị vì tại Giê-ru-sa-lem. Khi bắt đầu trị vì, Rô-bô-am được bốn mươi mốt tuổi. Ông cai trị mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, là thành mà Đức Giê-hô-va đã chọn trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên để đặt danh Ngài tại đó. Mẹ của ông tên là Na-a-ma, một phụ nữ Am-môn. 14. Ông đã làm điều ác bởi vì ông đã không hết lòng tìm kiếm Đức Giê-hô-va.
- Những công việc của Rô-bô-am, từ đầu cho đến cuối, không phải đã được chép trong sách của Tiên tri Sê-ma-gia, và Y-đô, là vị tiên kiến, theo gia phả hay sao? Chiến tranh đã liên tục đã xảy ra giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am. 16. Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ của ông và được an táng trong thành của Đa-vít. A-bi-gia, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
13
- Sau khi vương quốc được củng cố và Rô-bô-am đã được vững mạnh, ông và toàn thể Y-sơ-ra-ên đã từ bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va. 2. Do họ đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, cho nên sau đó vào năm thứ năm đời của Vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua của Ai Cập, đã kéo quân tiến đánh Giê-ru-sa-lem, 3. với một ngàn hai trăm xe chiến mã, sáu mươi ngàn kỵ binh, và một đoàn quân đông vô số, gồm quân Li-by, Su-ri và Cút đã cùng đi với ông từ Ai Cập. 4. Ông đã chiếm những thành kiên cố của Giu-đa, rồi tiến đến Giê-ru-sa-lem.
- Tiên tri Sê-ma-gia đã đến gặp Rô-bô-am và các lãnh đạo của Giu-đa đang tụ họp tại Giê-ru-sa-lem để đối phó với Si-sắc. Ông đã nói với họ rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: “Các ngươi đã từ bỏ Ta, cho nên Ta sẽ để các ngươi vào tay của Si-sắc.” 6. Khi đó, các lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên và vua đều hạ mình xuống và nói rằng: “Đức Giê-hô-va là công chính.”
- Khi Đức Giê-hô-va thấy họ hạ mình xuống, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Sê-ma-gia rằng: “Chúng đã hạ mình xuống nên Ta sẽ không tiêu diệt chúng, nhưng Ta sẽ ban cho chúng một ít giải cứu. Ta sẽ không trút cơn thịnh nộ của Ta trên Giê-ru-sa-lem bởi tay của Si-sắc, 8. nhưng chúng phải làm tôi tớ cho hắn, để chúng biết phục vụ Ta và phục vụ các đế quốc ở những nước khác là thế nào.”
- Si-sắc, vua của Ai Cập, đã tấn công Giê-ru-sa-lem. Ông chiếm đoạt tất cả những báu vật trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va và những báu vật trong cung vua. Ông cũng lấy tất cả các khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm. 10. Vua Rô-bô-am đã làm những khiên bằng đồng để thay thế, rồi giao chúng cho các quan chỉ huy thị vệ canh giữ cổng hoàng cung. 11. Mỗi khi vua vào trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va thì quân thị vệ mang các khiên đó ra, rồi sau đó đem cất lại trong kho của quân thị vệ. 12. Vì vua đã hạ mình khiêm tốn, cho nên cơn giận của Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi ông, và Ngài đã không diệt ông. Và rồi, tình thế của Giu-đa cũng trở nên tốt đẹp.
- Vua Rô-bô-am đã làm cho mình được vững mạnh, rồi trị vì tại Giê-ru-sa-lem. Khi bắt đầu trị vì, Rô-bô-am được bốn mươi mốt tuổi. Ông cai trị mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, là thành mà Đức Giê-hô-va đã chọn trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên để đặt danh Ngài tại đó. Mẹ của ông tên là Na-a-ma, một phụ nữ Am-môn. 14. Ông đã làm điều ác bởi vì ông đã không hết lòng tìm kiếm Đức Giê-hô-va.
- Những công việc của Rô-bô-am, từ đầu cho đến cuối, không phải đã được chép trong sách của Tiên tri Sê-ma-gia, và Y-đô, là vị tiên kiến, theo gia phả hay sao? Chiến tranh đã liên tục đã xảy ra giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am. 16. Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ của ông và được an táng trong thành của Đa-vít. A-bi-gia, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
14
- A-bi-gia an giấc cùng tổ phụ của mình và được an táng trong thành của Đa-vít. A-sa, con trai của ông, trị vì thay cho ông. Trong thời trị vì của ông, xứ sở được bình yên mười năm.
- A-sa đã làm điều thiện và ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông. 3. Ông đã dẹp bỏ các bàn thờ của những thần ngoại bang và các tế đàn trên những nơi cao. Ông đã đập nát các trụ thờ và triệt hạ những bức tượng của A-sê-ra. 4. Ông đã ra lịnh cho dân Giu-đa phải tìm kiếm Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của tổ tiên họ, và phải vâng theo những luật lệ và những điều răn của Ngài. 5. Ông cũng dẹp bỏ các tế đàn trên những nơi cao và các bàn thờ dâng hương khỏi các thành của Giu-đa. Vương quốc được bình yên dưới thời của ông.
- Vì đất nước được hòa bình, cho nên ông đã xây dựng các thành kiên cố trong đất Giu-đa. Trong những năm đó không có chiến tranh, bởi vì Đức Giê-hô-va đã ban cho ông được nghỉ ngơi. 7. Vì vậy, ông đã nói với dân Giu-đa: “Chúng ta hãy xây dựng những thành nầy. Hãy xây tường chung quanh, các tháp canh, các cổng và những then cài. Ðất nước nầy vẫn còn thuộc về chúng ta, bởi vì chúng ta đã tìm kiếm Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của chúng ta. Chúng ta đã tìm kiếm Ngài, và Ngài đã ban cho chúng ta được bình an mọi phía.” Vì vậy, họ đã xây dựng và được thịnh vượng.
- A-sa có một quân đội gồm ba trăm ngàn người Giu-đa được trang bị khiên và giáo, và hai trăm tám mươi ngàn người Bên-gia-min được trang bị thuẫn và cung. Tất cả đều là những chiến sĩ can trường.
- Một thời gian sau, Xê-rách, người Cút, đã kéo một triệu quân với ba trăm xe chiến mã đến Ma-rê-sa để đánh họ. 10. A-sa đã kéo ra để chống cự hắn, rồi dàn trận trong thung lũng Xê-pha-ta tại Ma-rê-sa. 11. A-sa đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của ông, rằng: “Đức Giê-hô-va ôi! Ngoại trừ Ngài, không một ai khác có thể giúp người không có sức lực chống lại số đông. Lạy Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của chúng con! Xin giúp chúng con, bởi vì chúng con nương cậy Ngài. Chúng con nhân danh Ngài đối phó với đoàn quân đông đảo nầy. Lạy Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của chúng con! Xin đừng để loài người thắng hơn Ngài.”
- Đức Giê-hô-va đã đánh bại quân Cút trước mặt A-sa và trước mặt dân Giu-đa; và quân Cút đã tháo chạy. 13. A-sa và quân của ông đã truy đuổi chúng cho đến Ghê-ra. Quân Cút đã bị đánh bại, không thể phục hồi được. Chúng bị đánh tan tành trước mặt Đức Giê-hô-va và đạo quân của Ngài. Người Giu-đa chiếm được rất nhiều chiến lợi phẩm. 14. Vì sự khiếp sợ Đức Giê-hô-va đã giáng trên chúng, cho nên họ đã tiêu diệt tất cả các thành xung quanh Ghê-ra. Họ đã cướp rất nhiều chiến lợi phẩm trong tất cả các thành đó, bởi vì có rất nhiều chiến lợi phẩm tại những nơi đó. 15. Họ cũng chiếm các trại nuôi súc vật, bắt rất nhiều chiên và lạc đà, rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
15
- Thần của Đức Chúa Trời đến với A-xa-ri, con trai của Ô-đết. 2. Ông đã đến gặp A-sa, rồi nói với người: “A-sa cùng toàn thể Giu-đa và Bên-gia-min! Xin hãy nghe tôi. Đức Giê-hô-va sẽ ở với quý vị nếu quý vị cứ ở với Ngài. Nếu quý vị tìm kiếm Ngài, quý vị sẽ tìm được Ngài; nhưng nếu quý vị bỏ Ngài, Ngài sẽ bỏ quý vị. 3. Đã rất lâu, Y-sơ-ra-ên không thật sự có Đức Chúa Trời, không có tư tế để dạy dỗ, và cũng không có luật pháp. 4. Nhưng trong lúc khốn khó, họ trở lại cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và tìm kiếm Ngài, thì họ tìm được Ngài. 5. Trong thời gian đó, người đi ra cũng như người đi vào đều không cảm thấy bình an, cư dân tại tất cả các nước đều có những cuộc khủng hoảng lớn. 6. Nước nầy hủy hoại nước kia, thành nầy chống lại thành khác, bởi vì Ðức Chúa Trời đã dùng những nghịch cảnh để làm cho họ bị rối loạn. 7. Tuy nhiên, quý vị hãy can đảm, đừng để cánh tay của quý vị trở nên yếu đuối, bởi vì những việc quý vị làm sẽ được ban thưởng.”
- Khi A-sa nghe những lời nầy và lời tiên tri của Tiên tri Ô-đết, ông được can đảm. Ông đã loại bỏ tất cả những hình tượng gớm ghiếc khắp nơi trong lãnh thổ của Giu-đa và Bên-gia-min, trong tất cả các thành ông đã chiếm được tại vùng núi Ép-ra-im. Ông đã sửa lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại trước tiền đình của Ðền Thờ Đức Giê-hô-va. 9. Ông đã triệu tập toàn thể dân Giu-đa và Bên-gia-min, cùng với những kiều dân Ép-ra-im, Ma-na-se, và Si-mê-ôn đang sống ở giữa họ, bởi vì những người nầy đã thấy Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của ông, ở với ông, cho nên họ đã ngã về với ông.
- Vì vậy, họ đã tập họp tại Giê-ru-sa-lem vào tháng ba trong năm thứ mười lăm của triều đại A-sa. 11. Lúc đó, họ đã dâng cho Đức Giê-hô-va bảy trăm con bò và bảy ngàn con chiên trong số chiến lợi phẩm mà họ đã mang về. 12. Họ đã kết ước với nhau sẽ hết lòng và hết linh hồn tìm kiếm Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của tổ phụ mình. 13. Tất cả những ai không tìm kiếm Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên thì sẽ bị xử tử, bất kể nhỏ hay lớn, nam hay nữ. 14. Họ lớn tiếng thề nguyện cùng Đức Giê-hô-va, trong tiếng reo hò, tiếng kèn, cùng với tiếng tù và. 15. Toàn thể Giu-đa đã vui mừng về lời thề nguyện đó, bởi vì họ đã hết lòng cam kết, và hết sức tìm kiếm Đức Giê-hô-va. Họ đã gặp được Ngài. Đức Giê-hô-va đã ban cho họ được bình an từ mọi phía.
- Vua A-sa đã cách chức thái hậu của Ma-a-ca, là mẹ của vua, bởi vì bà đã làm một hình tượng ghê tởm cho A-sê-ra. A-sa đã triệt hạ hình tượng đó, nghiền nát, rồi thiêu nó bên suối Xết-rôn. 17. Mặc dù những tế đàn trên những nơi cao trong Y-sơ-ra-ên chưa bị phá bỏ, nhưng Vua A-sa vẫn trọn thành suốt cuộc đời của mình. 18. Ông đã đem vào Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời những lễ vật mà cha ông và ông đã dâng: là bạc, vàng, và những vật dụng. 19. Không có chiến tranh cho đến năm thứ ba mươi lăm của triều đại A-sa.
16
- Vào năm thứ ba mươi sáu của triều đại A-sa, Ba-ê-sa, vua của Y-sơ-ra-ên, đã tiến lên tấn công Giu-đa, rồi củng cố Ra-ma để không cho ai có thể ra vào lãnh thổ của A-sa, vua của Giu-đa.
- Sau đó, A-sa đã lấy bạc và vàng trong các kho của Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va và kho của triều đình, rồi gởi đến cho Bên Ha-đát, vua của A-ram đang ở tại Ða-mách, và nói rằng: 3. “Xin kết ước giữa tôi và ngài, giống như cha tôi và cha ngài đã làm. Xin hãy xem bạc và vàng mà tôi đã gởi đến cho ngài. Xin ngài hủy bỏ hiệp ước với Ba-ê-sa, vua của Y-sơ-ra-ên, để hắn rời khỏi tôi.”
- Bên Ha-đát đã theo nghe lời của Vua A-sa. Ông đã sai các chỉ huy quân đội tấn công các thành của Y-sơ-ra-ên, rồi chiếm Y-giôn, Đan, A-bên Ma-im cùng các thành dự trữ tại Nép-ta-li. 5. Sau khi Ba-ê-sa nghe về điều đó, ông đã rời khỏi Ra-ma, công trình xây dựng bị ngưng lại. 6. Vua A-sa đã đem toàn dân Giu-đa đến lấy đá và gỗ tại Ra-ma, là nơi mà Ba-ê-sa đang xây dựng, rồi dùng những vật liệu đó để xây dựng Ghê-ba và Mích-ba.
- Lúc đó, Tiên kiến Ha-na-ni đã đến gặp A-sa, vua của Giu-đa, rồi nói: “Bởi vì ngài đã nhờ cậy vua của A-ram mà không nhờ cậy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngài, cho nên đạo quân của vua của A-ram đã thoát khỏi tay của ngài. 8. Không phải Cút và Li-by là một đạo quân đông đảo hay sao? Không phải xe chiến mã và kỵ binh của chúng rất nhiều hay sao? Dầu vậy, bởi vì ngài đã nhờ cậy Đức Giê-hô-va cho nên Ngài đã phó chúng vào tay của ngài. 9. Bởi vì mắt của Đức Giê-hô-va dò xét khắp thế gian để làm mạnh mẽ cho người nào có lòng trọn thành đối với Ngài. Trong việc nầy, ngài đã cư xử cách dại dột nên từ nay về sau ngài sẽ có chiến tranh.”
- A-sa đã nổi giận với vị tiên kiến nên bỏ người vào trong tù, bởi vì ông tức giận người về việc nầy. Cùng lúc đó, A-sa cũng đàn áp một số người trong dân chúng.
- Những hoạt động khác của A-sa, từ đầu đến cuối, đều được chép trong sách Các Vua của Giu-đa và Y-sơ-ra-ên. 12. Vào năm thứ ba mươi chín trong triều đại của ông, A-sa bị đau chân. Chứng bịnh trở nên trầm trọng. Dầu vậy trong khi bị bịnh, ông vẫn không tìm kiếm Đức Giê-hô-va nhưng tìm kiếm các thầy thuốc. 13. A-sa an giấc cùng các tổ phụ của mình. Ông chết vào năm thứ bốn mươi mốt trong triều đại của mình. 14. Người ta chôn ông trong phần mộ mà ông đã đục sẵn cho ông trong thành của Ða-vít. Người ta đặt ông trên một cái giường chứa đủ loại hương liệu. Họ đã đốt một đống lửa rất lớn để xông hương.
17
- Giê-hô-sa-phát, con trai của ông, đã trị vì thay cho ông, và đã làm cho chính mình được vững mạnh để chống lại Y-sơ-ra-ên. 2. Ông đặt quân đội trong các thành kiên cố của Giu-đa, rồi lập đồn trong khắp lãnh thổ của Giu-đa và trong các thành của Ép-ra-im, mà A-sa, cha của ông, đã chiếm.
- Đức Giê-hô-va ở cùng Giê-hô-sa-phát bởi vì ông đã đi theo đường lối mà trước kia Đa-vít, tổ phụ của ông, đã đi. Ông không tìm cầu Ba-anh, 4. nhưng tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, tuân theo những điều răn của Ngài, và không đi theo những công việc của Y-sơ-ra-ên.
- Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã làm cho vương quốc được vững chắc trong tay của ông. Toàn dân Giu-đa đã dâng lễ vật cho Giê-hô-sa-phát. Ông trở nên rất giàu và rất được tôn trọng. 6. Lòng của ông vui thỏa trong những đường lối của Đức Giê-hô-va. Ông đã dẹp bỏ các tế đàn trên những nơi cao và các trụ thờ A-sê-ra khỏi Giu-đa.
- Vào năm thứ ba trong triều đại của ông, ông đã sai các quan chức của mình là Bên-hai, Ô-ba-đia, Xa-cha-ri, Na-tha-na-ên và Mi-ca-gia đi dạy trong các thành của Giu-đa. 8. Cùng đi với họ có những người Lê-vi là Sê-ma-gia, Nê-tha-nia, Xê-ba-đia, A-sa-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giô-na-than, A-đô-ni-gia, Tô-bi-gia và Tô-ba-đô-ni-gia. Ngoài ra cũng có các tư tế Ê-li-sa-ma và Giô-ram. 9. Họ đã đem theo sách luật pháp của Đức Giê-hô-va để dạy tại Giu-đa. Họ đã đi khắp các thành trong xứ Giu-đa để dạy cho dân chúng.
- Đức Giê-hô-va đã giáng sự kinh hoàng xuống các nước chung quanh Giu-đa khiến chúng không dám gây chiến với Giê-hô-sa-phát. 11. Một số người Phi-li-tin đã đem những tặng phẩm và tiền bạc đến triều cống cho Giê-hô-sa-phát. Người Ả-rập cũng đem tặng cho ông nhiều đàn chiên và dê, gồm có bảy ngàn bảy trăm chiên đực và bảy ngàn bảy trăm dê đực.
- Vì vậy Giê-hô-sa-phát càng ngày trở nên cường thịnh. Ông đã xây nhiều thành kiên cố và nhiều thành có kho dự trữ trong khắp Giu-đa. 13. Ông có nhiều dịch vụ trong các thành của Giu-đa và những chiến binh dũng mảnh can trường tại Giê-ru-sa-lem. 14. Danh sách của những người đó theo gia tộc như sau: Giu-đa có các chỉ huy trưởng một ngàn quân đạt dưới quyền thống lĩnh của Át-na. Ông chỉ huy ba trăm ngàn chiến sĩ dũng mãnh. 15. Kế ông có Giô-ha-nan, là người chỉ huy hai trăm tám chục ngàn quân. 16. Kế đến có A-ma-sia, con trai của Xiếc-ri, là người đã tự nguyện phục vụ Đức Giê-hô-va. Ông chỉ huy hai trăm ngàn dũng sĩ. 17. Bên-gia-min có Ê-li-a-đa, là một vị anh hùng dũng lược. Ông chỉ huy hai trăm ngàn quân chuyên sử dụng cung và khiên. 18. Kế ông có Giê-hô-xa-bát, là người chỉ huy một trăm tám mươi ngàn quân sẵn sàng ra trận. 19. Đó là những người phục vụ vua, không kể những người mà vua đã bố trí trong các thành kiên cố khắp Giu-đa.
18
- Giê-hô-sa-phát rất giàu và rất được tôn trọng. Ông đã liên minh với A-háp. 2. Vài năm sau, ông đã xuống thăm A-háp tại Sa-ma-ri. A-háp giết rất nhiều chiên bò để thết đãi ông và những người theo ông, rồi thuyết phục ông tấn công Ra-mốt Ga-la-át. 3. A-háp, vua của Y-sơ-ra-ên, đã nói với Giê-hô-sa-phát, vua của Giu-đa, rằng: “Ngài có muốn cùng tôi đi đánh Ra-mốt Ga-la-át không?” Ông đã trả lời: “Tôi cũng như ngài. Dân của tôi cũng như dân của ngài. Chúng tôi sẽ tham chiến với ngài.” 4. Tuy nhiên, Giê-hô-sa-phát đã nói với vua của Y-sơ-ra-ên: “Hôm nay tôi xin ngài hãy cầu hỏi Đức Giê-hô-va.” 5. Vì vậy, vua của Y-sơ-ra-ên đã triệu tập các tiên tri, khoảng bốn trăm người, rồi hỏi họ: “Chúng ta có nên đi đánh Ra-mốt Ga-la-át hay là nên ngưng lại?” Họ đáp: “Hãy tiến lên bởi vì Đức Chúa Trời sẽ trao nó vào tay của vua.”
- Nhưng Giê-hô-sa-phát hỏi: “Ở đây còn có tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta có thể hỏi người chăng?” 7. Vua của Y-sơ-ra-ên nói với Giê-hô-sa-phát: “Còn một người chúng ta có thể nhờ để thỉnh cầu Đức Giê-hô-va. Tên của ông là Mi-chê, con trai của Giêm-la. Nhưng tôi ghét người nầy, bởi vì ông ta không bao giờ nói tiên tri tốt về tôi, nhưng chỉ những điều xấu.” Giê-hô-sa-phát nói: “Xin vua đừng nói như vậy.” 8. Vua của Y-sơ-ra-ên đã gọi một viên chức, rồi nói: “Hãy nhanh chóng triệu hồi Mi-chê, con trai của Giêm-la.”
- Vua của Y-sơ-ra-ên và Giê-hô-sa-phát, vua của Giu-đa, mặc vương bào, mỗi người ngồi trên ngai của mình. Họ ngồi trong sân đập lúa tại lối vào cổng thành Sa-ma-ri. Tất cả các tiên tri đang nói tiên tri trước mặt họ. 10. Sê-đê-kia, con trai của Kê-na-na, đã làm một cặp sừng bằng sắt, rồi nói: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Ngươi sẽ đánh dân A-ram với vật nầy cho đến khi tiêu diệt chúng.’” 11. Tất cả các tiên tri đều nói như vậy: “Hãy đi lên Ra-mốt Ga-la-át, và sẽ thành công, bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ trao nó vào trong tay của vua.”
- Sứ giả là người được sai đi gọi Mi-chê đã nói với ông: “Nghe nầy! Tất cả các tiên tri đã một miệng nói những lời tốt cho vua. Xin lời của ông cũng hợp nhất với họ. Xin hãy nói điều tốt đẹp.”
- Mi-chê nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống! Tôi sẽ nói điều gì mà Đức Giê-hô-va phán với tôi.”
- Sau đó, ông đã đến gặp vua, rồi vua hỏi ông: “Mi-chê! Chúng ta có nên lên đánh Ra-mốt Ga-la-át hay không, hay là chúng ta nên ngưng lại?” Ông nói: “Hãy đi và sẽ được chiến thắng. Chúng nó sẽ được trao vào trong tay của ngài.”
- Nhưng vua nói với ông: “Ta đã nói với ngươi biết bao lần là đừng nói điều gì khác, nhưng hãy nhân danh Đức Giê-hô-va và nói cho ta sự thật?”
- Ông nói: “Tôi thấy Y-sơ-ra-ên tan lạc trên những ngọn núi, như chiên không có người chăn. Đức Giê-hô-va phán: ‘Họ không có chủ. Mỗi người hãy trở về nhà của mình cách bình an.’”
- Vua của Y-sơ-ra-ên đã nói với Giê-hô-sa-phát: “Không phải là tôi đã nói với ngài rằng người nầy không bao giờ tiên báo điều tốt lành cho tôi mà chỉ là điều dữ hay sao?”
- Mi-chê nói: “Vì vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngai. Toàn thể thiên binh đứng chầu bên phải và bên trái của Ngài. 19. Đức Giê-hô-va phán: ‘Ai sẽ đi dụ A-háp để nó ra trận rồi ngã chết tại Ra-mốt Ga-la-át?’ Có đấng nói cách nầy, có đấng nói cách khác. 20. Sau đó, có một vị thần ra đứng trước mặt của Đức Giê-hô-va, và thưa rằng: ‘Tôi sẽ đi dụ ông ấy.’ Đức Giê-hô-va hỏi: ‘Bằng cách nào?’ 21. Vị thần đó thưa: ‘Tôi sẽ đi và đặt một thần nói dối trong miệng những tiên tri của ông ấy.’ Ngài phán: ‘Ngươi sẽ xúi giục được nó và ngươi sẽ thành công. Hãy đi và làm như vậy.’ 22. Vì vậy, hãy xem! Đức Giê-hô-va đã đặt một thần nói dối trong miệng các tiên tri của ông, và Đức Giê-hô-va đã công bố tai họa cho ông.”
- Sê-đê-kia, con trai của Kê-na-na, đã đến gần rồi tát vào má của Mi-chê và hỏi: “Bằng cách nào Thần của Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi ta để đến nói với ngươi?”
- Mi-chê trả lời: “Ông sẽ biết điều đó trong ngày ông chạy từ phòng nầy qua phòng kia để trốn.”
- Vua của Y-sơ-ra-ên nói: “Hãy bắt Mi-chê giao trở lại cho A-môn, quan trấn thủ kinh thành, và cho Giô-ách, con trai của vua, 26. rồi nói với họ: ‘Vua đã truyền như thế nầy: Hãy nhốt tên nầy vào ngục. Hãy cho nó ăn bánh gian khổ và nước gian khổ cho đến khi ta trở về bình an.’”
- Mi-chê nói: “Nếu ngài trở về bình an thì Đức Giê-hô-va đã không có phán qua tôi.” Rồi ông nói: “Hỡi tất cả dân chúng! Hãy lắng nghe.”
- Sau đó, vua của Y-sơ-ra-ên đã cùng với Giê-hô-sa-phát, vua của Giu-đa, đi lên Ra-mốt Ga-la-át. 29. Vua của Y-sơ-ra-ên nói với Giê-hô-sa-phát: “Tôi sẽ cải trang và ra trận, còn ngài cứ mặc vương bào.” Như vậy, vua của Y-sơ-ra-ên đã cải trang, và họ đã tiến ra trận.
- Vua của A-ram đã truyền lịnh cho những viên chỉ huy các xe chiến mã đang đi theo ông rằng: “Các ngươi đừng đánh ai, bất kể lớn hay nhỏ, nhưng chỉ nhắm vào vua của Y-sơ-ra-ên.” 31. Vì vậy, khi những viên chỉ huy các xe chiến mã thấy Giê-hô-sa-phát, họ nói rằng: “Đây là vua của Y-sơ-ra-ên.” Họ đã tấn công ông nhưng khi Giê-hô-sa-phát lớn tiếng kêu cầu Giê-hô-va giải cứu thì Đức Chúa Trời đã khiến họ lìa khỏi người. 32. Vì vậy, khi các viên chỉ huy những xe chiến mã nhận ra đó không phải là vua của Y-sơ-ra-ên, họ đã quay lại và không đuổi theo ông.
- Có một người tình cờ giương cung bắn trúng vua của Y-sơ-ra-ên ngay chỗ mối áo giáp đâu lại. Ông đã nói với người đánh xe mình rằng: “Hãy quay lại, đem ta ra khỏi chiến trường, vì ta đã bị thương.” 34. Trận chiến ngày hôm đó gia tăng. Vua của Y-sơ-ra-ên đứng trên xe chiến mã của mình để đối diện với quân A-ram cho đến chiều tối. Đến lúc mặt trời lặn thì ông chết.
19
- Giê-hô-sa-phát, vua của Giu-đa, đã bình an trở về cung của mình tại Giê-ru-sa-lem. 2. Giê-hu, vị tiên kiến, là con trai của Ha-na-ni, đã đi ra đón vua Giê-hô-sa-phát rồi nói ông: “Ngài có nên giúp đỡ kẻ gian ác và yêu mến kẻ ghét Đức Giê-hô-va hay sao? Bởi vì việc đó, cho nên cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên ngài. 3. Tuy nhiên, ngài đã làm được vài điều tốt. Ngài đã diệt trừ khỏi đất nước các trụ thờ A-sê-ra, và ngài đã để lòng tìm kiếm Ðức Chúa Trời.”
- Giê-hô-sa-phát cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem. Ông đã đến thăm dân chúng từ Bê-e-sê-ba cho đến vùng núi Ép-ra-im và đem họ trở về cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.
- Ông đã bổ nhiệm các thẩm phán trong xứ, trong tất cả các thành kiên cố của Giu-đa, từ thành nầy đến thành kia. 6. Ông đã nói với các thẩm phán: “Hãy cẩn thận trong những việc các ngươi làm, bởi vì các ngươi xét xử không phải vì loài người nhưng vì Đức Giê-hô-va, là Đấng ở cùng các ngươi trong việc xét xử. 7. Vì vậy bây giờ hãy đặt sự kính sợ Đức Giê-hô-va lên trên các ngươi, hãy cẩn thận mà làm, bởi vì Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta, không có sự bất chính, thiên vị, hay chấp nhận hối lộ.”
- Sau khi trở về Giê-ru-sa-lem, Giê-hô-sa-phát đã bổ nhiệm một số người Lê-vi, một số tư tế, và một số trưởng tộc làm thẩm phán tại Giê-ru-sa-lem để xét xử thay cho Đức Giê-hô-va và để giải quyết những vụ tranh tụng. 9. Ông đã truyền lệnh cho họ và nói rằng: “Các ngươi phải thi hành chức vụ của mình với sự kính sợ Đức Giê-hô-va, với sự trung tín, và với một tấm lòng trọn thành. 10. Bất kể vụ kiện mà anh em các ngươi trong các thành đem đến để xét xử, dù là chuyện đổ máu, hay vi phạm luật pháp, điều răn, luật lệ, mạng lịnh, thì các ngươi phải khuyến cáo họ đừng phạm tội với Đức Giê-hô-va. Đừng để cơn thịnh nộ của Ngài giáng trên các ngươi và anh em của các ngươi. Hãy làm như vậy, các ngươi sẽ không phạm tội. 11. Trưởng tế A-ma-ria sẽ quản trị các vấn đề thuộc về Đức Giê-hô-va. Xê-ba-đia, con trai của Ích-ma-ên, lãnh đạo chi tộc Giu-đa, quản trị những việc thuộc về vua. Cũng có các viên chức người Lê-vi phục vụ giúp các ngươi. Hãy can đảm làm việc! Đức Giê-hô-va sẽ ở cùng người tốt.”
20
- Sau việc nầy, người Mô-áp, người Am-môn, và các đồng minh của người Am-môn đã kéo đến gây chiến với Giê-hô-sa-phát. 2. Sau đó, một vài người đã đến báo với Giê-hô-sa-phát rằng: “Có một đạo quân rất đông từ vùng biển rất xa và từ A-ram đã kéo đến để tấn công ngài. Kìa, chúng đang ở tại Hát-sát-sôn Tha-ma, thuộc Ên-ghê-đi.”
- Giê-hô-sa-phát khiếp sợ. Chính ông đã tìm cầu Đức Giê-hô-va, rồi công bố sự kiêng ăn trong toàn cõi Giu-đa. 4. Người Giu-đa đã tập họp lại để tìm cầu Đức Giê-hô-va, và họ đã từ tất cả các thành của Giu-đa kéo đến để tìm cầu Đức Giê-hô-va.
- Giê-hô-sa-phát đã đứng trước hội chúng của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem tại sân mới của Ðền Thờ Đức Giê-hô-va, 6. rồi cầu nguyện rằng: “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng con! Ngài không phải là Đức Chúa Trời ở trên các tầng trời hay sao? Không phải Ngài là Đấng đang quản trị muôn dân muôn nước hay sao? Không phải quyền năng và sức mạnh đều ở trong tay của Ngài và không ai có thể chống cự lại Ngài? 7. Lạy Ðức Chúa Trời của chúng con! Không phải Ngài đã đuổi các dân trong xứ nầy trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, rồi ban nó cho dòng dõi của Áp-ra-ham, là bạn của Ngài, mãi mãi hay sao? 8. Họ đã ở tại đó và đã xây cất cho danh của Ngài một đền thánh, và nói rằng: 9. ‘Nếu tai họa xảy đến cho chúng con, bất kể là gươm đao, sự đoán phạt, ôn dịch, hay nạn đói, nhưng khi chúng con đứng trước Ðền Thờ nầy, trong sự hiện diện của Ngài, bởi vì Ðền Thờ nầy mang danh của Ngài, và kêu cầu Ngài trong cơn hoạn nạn, thì Ngài sẽ lắng nghe và giải cứu.’ 10. Bây giờ, người Mô-áp, người Am-môn, và những người tại vùng núi Sê-i-rơ, là những kẻ mà Ngài đã không cho phép dân Y-sơ-ra-ên xâm phạm đến khi họ ra khỏi xứ Ai Cập. Họ đã quay khỏi chúng và không tiêu diệt chúng. 11. Nhưng bây giờ, chúng đã báo trả chúng con bằng cách đến đuổi chúng con ra khỏi sản nghiệp mà Ngài đã ban cho chúng con. 12. Lạy Ðức Chúa Trời của chúng con! Ngài sẽ không trừng phạt chúng hay sao? Bởi vì chúng con không đủ sức để đối địch cùng đám quân đông đảo đang đến tấn công chúng con, chúng con không biết phải làm gì, nhưng mắt của chúng con ngưỡng vọng nơi Ngài!”
- Lúc đó toàn thể Giu-đa, cùng với vợ của họ, các con lớn của họ, và các con thơ của họ, đều đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
- Và rồi trong lúc cả hội chúng đang nhóm họp, Thần của Đức Giê-hô-va đã ngự trên Gia-ha-xi-ên, con trai của Xa-cha-ri, cháu của Bê-na-gia, chắt của Giê-hi-ên, và chít của Ma-tha-nia, là người Lê-vi thuộc về dòng dõi của A-sáp. 15. Ông nói: “Hỡi toàn thể Giu-đa, cùng dân cư Giê-ru-sa-lem, và Vua Giê-hô-sa-phát! Hãy lắng nghe. Đức Giê-hô-va đã phán cùng các ngươi như thế nầy: ‘Đừng kinh hãi và cũng đừng khiếp sợ trước đám quân đông đảo nầy, bởi vì trận chiến nầy không phải là của các ngươi nhưng là của Đức Chúa Trời. 16. Ngày mai, hãy kéo xuống gặp chúng. Kìa, chúng sẽ đi lên đèo Xít và các ngươi sẽ gặp chúng tại cuối thung lũng đối diện hoang mạc Giê-ru-ên. 17. Các ngươi không phải chiến đấu trong trận này. Hãy dàn quân rồi đứng yên, và nhìn xem sự giải cứu của Đức Giê-hô-va, là Đấng đang ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! Đừng kinh hãi và cũng đừng khiếp sợ. Ngày mai, hãy đi ra đối diện với chúng bởi vì Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.”
- Giê-hô-sa-phát đã cúi đầu và sấp mặt xuống đất. Toàn thể Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem đều phủ phục xuống trước mặt Đức Giê-hô-va và thờ lạy Đức Giê-hô-va. 19. Người Lê-vi thuộc dòng Kê-hát và dòng Cô-rê đã đứng dậy lớn tiếng tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
- Sáng hôm sau, họ đã thức dậy sớm rồi tiến vào hoang mạc Thê-cô-a. Trong lúc họ tiến lên, Giê-hô-sa-phát đã đứng dậy, rồi nói: “Hỡi người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem! Hãy nghe ta. Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi, thì các ngươi sẽ được vững lập. Hãy tin các tiên tri của Ngài thì các ngươi sẽ được thành công.” 21. Sau khi tham khảo với dân chúng, ông đã lập những người ca hát để tôn ngợi Đức Giê-hô-va và chúc tụng vẻ đẹp về sự thánh khiết. Họ đã đi trước đoàn quân và hát rằng: “Hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ của Ngài còn đến đời đời.”
- Khi họ bắt đầu ca hát và tôn ngợi, Đức Giê-hô-va đã đặt phục binh tấn công người Am-môn, người Mô-áp, và những người thuộc miền núi Sê-i-rơ, đang tiến đánh Giu-đa. Chúng đã bị tiêu diệt; 23. bởi vì người Am-môn và người Mô-áp đã đứng lên đánh cư dân của vùng núi Sê-i-rơ, rồi hủy diệt chúng. Sau khi diệt xong cư dân thuộc vùng núi Sê-i-rơ, chúng đã hủy diệt lẫn nhau.
- Khi người Giu-đa đến tháp canh tại hoang mạc, họ nhìn thấy một đội quân rất đông, nhưng kìa chúng chỉ là những tử thi đã ngã gục trên đất, không ai sống sót. 25. Khi Giê-hô-sa-phát và đạo quân của ông đến nơi để thu chiến lợi phẩm, họ thấy giữa những tử thi có rất nhiều châu báu và những vật trang sức quý giá. Họ đã chiếm đoạt cho mình nhiều hơn những gì họ có thể đem đi. Họ đã có ba ngày để thu lượm các chiến lợi phẩm bởi vì chúng quá nhiều.
- Đến ngày thứ tư họ đã tập họp tại thung lũng Bê-ra-ca, rồi tôn ngợi Đức Giê-hô-va tại đó. Vì vậy chỗ này đã được gọi là thung lũng Bê-ra-ca cho đến ngày nay. 27. Sau đó, toàn thể Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đã trở về. Giô-sa-phát đã dẫn họ trở về Giê-ru-sa-lem trong sự hân hoan bởi vì Đức Giê-hô-va đã làm cho họ vui mừng về những kẻ thù của họ. 28. Họ đã tiến vào Giê-ru-sa-lem, rồi lên Đền Thờ của Đức Giê-hô-va trong tiếng đàn hạc, đàn cầm, và tiếng kèn.
- Khi tất cả các vương quốc của các dân nghe rằng Đức Giê-hô-va đã chiến đấu chống lại những kẻ thù của Y-sơ-ra-ên, thì họ khiếp sợ Đức Chúa Trời. 30. Vương quốc của Giê-hô-sa-phát được thái bình bởi vì Ðức Chúa Trời đã ban cho ông được bình an từ mọi phía.
- Giê-hô-sa-phát đã trị vì tại Giu-đa. Ông bắt đầu trị vì lúc ba mươi lăm tuổi. Ông đã trị vì hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là A-xu-ba, con gái của Sinh-hi. 32. Ông đã bước đi trong đường lối của A-sa, là cha của ông, và không lìa khỏi đường lối đó. Ông đã làm điều đúng trước mặt Đức Giê-hô-va. 33. Tuy nhiên, những tế đàn tại những nơi cao vẫn chưa được dẹp bỏ, vì vậy dân chúng vẫn chưa hết lòng cho Ðức Chúa Trời của tổ phụ họ.
- Những hoạt động khác của Giê-hô-sa-phát, từ đầu đến cuối, đều được chép trong sách Sử Ký của Giê-hu, con trai của Ha-na-ni, và đã được nhắc đến trong sách Các Vua của Y-sơ-ra-ên.
- Sau đó, Giê-hô-sa-phát, vua của Giu-đa, đã liên kết với A-cha-xia, vua của Y-sơ-ra-ên, là người đã làm những việc gian ác. 36. Ông đã hiệp tác với ông ấy để đóng tàu đi Ta-rê-si. Họ đã đóng những chiếc tàu tại Ê-xi-ôn Ghê-be. 37. Lúc đó, Ê-li-ê-xe, con trai của Đô-đa-va, tại Ma-rê-xa, đã nói tiên tri chống lại Giê-hô-sa-phát rằng: “Bởi vì ngươi đã liên kết với A-cha-xia cho nên Đức Giê-hô-va sẽ hủy phá công việc của ngươi.” Những chiếc tàu đã bị vỡ, và không thể đi đến Ta-rê-si.
21
- Giê-hô-sa-phát đã an giấc cùng tổ phụ của mình, rồi được an táng bên cạnh các tổ phụ của mình trong thành của Đa-vít. Giô-ram, con trai của ông, trị vì thay cho ông. 2. Người có các em trai là các con trai của Giê-hô-sa-phát. Đó là A-xa-ria, Giê-hi-ên, Xa-cha-ri, A-xa-ria-u, Mi-ca-ên, và Sê-pha-tia. Những người nầy là các con trai của Giê-hô-sa-phát, vua của Y-sơ-ra-ên. 3. Cha của họ đã ban cho họ nhiều tặng phẩm bằng bạc, vàng, những vật quí giá, và các thành kiên cố trong nước Giu-đa; nhưng đã ban vương quyền cho Giô-ram, bởi vì đó là con đầu lòng. 4. Nhưng khi Giô-ram đã trổi lên trong vương quốc của cha mình, ông đã củng cố thế lực cho chính mình bằng cách dùng gươm giết tất cả các em và một số lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên.
- Giô-ram bắt đầu trị vì vào lúc ba mươi hai tuổi, và cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem. 6. Ông đã đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên, giống như nhà A-háp đã làm, bởi vì con gái của A-háp là vợ của ông. Ông đã làm những việc gian ác trước mặt Đức Giê-hô-va. 7. Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va không tiêu diệt nhà Ða-vít bởi vì giao ước mà Ngài đã lập với Ða-vít. Ngài đã hứa rằng sẽ ban một ngọn đèn cho người và cho con cháu người đến đời đời.
- Trong đời trị vì của ông, dân Ê-đôm đã nổi lên chống lại sự thống trị của Giu-đa, rồi lập vua riêng của họ. 9. Giô-ram cùng với những viên chỉ huy và xe chiến mã đã ra trận. Quân Ê-đôm đã bao vây ông cùng với những viên chỉ huy và xe chiến mã. Trong ban đêm, ông đã trỗi dậy tấn công chúng. 10. Người Ê-đôm đã nổi lên chống lại sự cai trị của Giu-đa cho đến ngày nay. Trong thời gian đó, người Líp-na cũng nổi lên chống lại sự cai trị của ông bởi vì ông đã từ bỏ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ ông. 11. Ngoài ra, ông còn xây dựng các tế đàn tại những nơi cao trong vùng núi của Giu-đa, khiến cho dân cư Giê-ru-sa-lem phạm tội tà dâm và làm cho Giu-đa bị lầm lạc.
- Tiên tri Ê-li đã gởi một bức thư cho ông, nói rằng: “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ của vua, đã phán: ‘Bởi vì ngươi không đi theo đường lối của Giê-hô-sa-phát, cha của ngươi, và cũng không đi theo những đường lối của A-sa, vua của Giu-đa, 13. nhưng đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên, khiến cho Giu-đa và cư dân Giê-ru-sa-lem phạm tội tà dâm như tội tà dâm mà nhà A-háp đã làm. Ngươi cũng đã giết các em trai trong nhà của cha ngươi, là những người tốt hơn ngươi. 14. Vì vậy, Đức Giê-hô-va sẽ giáng một tai họa lớn trên dân chúng của ngươi, trên con cái của ngươi, trên những người vợ của ngươi, và trên tất cả tài sản của ngươi. 15. Chính ngươi sẽ mắc nhiều bệnh trong nội tạng của ngươi, cho đến khi nội tạng của ngươi đứt rời ra, bởi vì đã bị bệnh ngày nầy qua ngày khác.
- Ngoài ra, Đức Giê-hô-va đã thúc giục dân Phi-li-tin và dân Ả-rập, ở gần dân Cút, nổi lên chống lại Giô-ram. 17. Chúng đã kéo lên đánh Giu-đa, xâm lấn xứ, chiếm đoạt tất cả tài sản của hoàng cung, bắt đi các con trai và những người vợ của ông, ngoại trừ Giô-a-cha là đứa con trai nhỏ nhất, thì không còn sót lại một đứa con trai nào cả.
- Sau những việc nầy, Đức Giê-hô-va đã đánh ông bằng một chứng bịnh bất trị trong nội tạng của ông. 19. Trong suốt một thời gian, đến cuối năm thứ hai, vì cớ căn bệnh nầy, nội tạng của ông đã đổ ra và ông đã chết cách đau đớn. Dân chúng đã không đốt lửa xông hương cho ông như họ đã đốt lửa xông hương cho các tổ phụ của ông. 20. Ông bắt đầu trị vì vào lúc ba mươi hai tuổi, và cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem. Ông chết đi nhưng không ai thương tiếc. Người ta đã chôn ông trong thành của Ða-vít, nhưng không phải trong lăng tẩm dành cho các vua.
22
- Dân cư Giê-ru-sa-lem đã lập A-cha-xia, con trai út của ông, để kế vị; bởi vì những con trai lớn của ông đã bị một toán quân cùng đi với những người Ả-rập xông vào trại quân giết tất cả. Vì vậy A-cha-xia, con trai của Giô-ram, là vua của Giu-đa.
- A-cha-xia được hai mươi hai tuổi khi lên ngôi vua. Ông cai trị một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là A-tha-li, con gái của Ôm-ri. 3. Ông cũng đi theo đường lối của nhà A-háp, bởi vì mẹ của ông đã cố vấn cho ông làm điều gian ác. 4. Ông đã làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va giống như nhà của A-háp. Bởi vì sau cái chết của cha ông, họ là những người cố vấn cho ông để đưa ông đến chỗ hủy diệt.
- Ông đã làm theo lời cố vấn của họ, ông đã cùng đi với với Giô-ram, con trai của A-háp, vua của Y-sơ-ra-ên, kéo quân đến Ra-mốt Ga-la-át để tấn công Ha-xa-ên, vua của A-ram. Quân A-ram đã khiến cho Giô-ram bị thương. 6. Ông ấy đã trở về Gít-rê-ên để chữa trị những vết thương khi giao chiến tại Ra-ma với Ha-xa-ên, vua của A-ram. A-cha-xia, con trai của Giô-ram, vua của Giu-đa, đã đi xuống Gít-rê-ên để thăm Giô-ram, con trai của A-háp, bởi vì ông ấy đang bị thương.
- Việc A-cha-xia đến thăm Giô-ram là bởi ý của Đức Chúa Trời để đưa A-cha-xia đến chỗ diệt vong. Bởi vì khi đến nơi, ông đã cùng Giô-ram kéo ra đánh Giê-hu, con trai của Nim-si, là người mà Đức Giê-hô-va đã xức dầu để tiêu diệt nhà A-háp. 8. Khi Giê-hu thi hành án phạt trên nhà A-háp, ông đã bắt gặp các vương gia của Giu-đa, các con trai của các anh của A-cha-xia, là những người đang phục vụ A-cha-xia, ông đã giết những người đó. 9. Ông cũng cho truy tìm A-cha-xia đang lẩn trốn tại Sa-ma-ri. Người ta đã bắt được ông rồi dẫn đến cho Giê-hu. Họ đã giết ông, nhưng họ đã chôn cất ông, bởi vì họ nói: “Dù sao ông ấy cũng là cháu nội của Giê-hô-sa-phát, một người đã hết lòng tìm kiếm Đức Giê-hô-va.” Vì vậy, trong nhà A-cha-xia không còn ai có thể gìn giữ vương quốc.
- Khi A-tha-li, mẹ của A-cha-xia, thấy con trai của mình đã chết, thì liền nổi dậy tiêu diệt tất cả những mầm mống trong hoàng tộc của nhà Giu-đa. 11. Nhưng Giô-sa-bát, con gái của Giô-ram, đã ẵm Giô-ách, con trai của A-cha-xia, lén đem ra khỏi các hoàng tử sắp bị giết, rồi giấu cậu bé và người vú nuôi trong phòng ngủ. Như vậy, Giô-sa-bát, con gái của vua Giô-ram, vợ của Tư tế Giê-hô-gia-đa, và là chị của A-cha-xia, đã giấu cậu bé khỏi mắt của A-tha-li, cho nên bà đã không giết chàng. 12. Cậu bé được giấu trong Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời sáu năm, trong khi A-tha-li trị vì trong nước.
23
- Năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa đã củng cố địa vị của mình bằng cách kết ước với các vị chỉ huy hàng trăm quân là A-xa-ria, con trai của Giê-rô-ham, Ích-ma-ên, con trai của Giê-hô-ha-nan, A-xa-ria, con trai của Ô-bết, Ma-a-sê-gia, con trai của A-đa-gia, và Ê-li-sa-phát, con trai của Xích-ri. 2. Họ đã đi khắp Giu-đa mời những người Lê-vi trong tất cả các thành của Giu-đa và các vị tộc trưởng của các gia tộc trong Y-sơ-ra-ên, rồi họ đã tập trung tại Giê-ru-sa-lem.
- Toàn thể hội chúng đã lập giao ước với vua trong Đền Thờ của Đức Chúa Trời. Giê-hô-gia-đa đã nói với họ: “Xin hãy xem! Con trai của vua sẽ cai trị như lời của Đức Giê-hô-va đã phán về con cháu của Đa-vít. 4. Đây là điều các ngươi sẽ làm: Một phần ba trong các ngươi sẽ giữ cửa cùng với các tư tế và người Lê-vi trực vào ngày sa-bát, 5. một phần ba sẽ ở tại cung vua, một phần ba tại cổng Nền, còn tất cả dân chúng sẽ tập họp trong các sân của Ðền Thờ Đức Giê-hô-va. 6. Nhưng không ai được phép vào bên trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va ngoại trừ các tư tế và những người Lê-vi có trách nhiệm phục vụ tại đó. Chỉ có họ mới được vào bởi vì họ đã được biệt riêng ra thánh; còn tất cả dân chúng hãy tuân lệnh của Đức Giê-hô-va. 7. Người Lê-vi sẽ đứng chung quanh vua, mỗi người sẽ cầm vũ khí trong tay của mình, ai vào đền thờ sẽ bị giết. Các ngươi phải luôn ở bên cạnh vua lúc người đi ra cũng như đi vào.”
- Người Lê-vi và tất cả người Giu-đa đã làm theo tất cả những điều mà Tư tế Giê-hô-gia-đa đã truyền. Mỗi người đã đem người của mình để thi hành phận sự cho ngày Sa-bát bởi vì Tư tế Giê-hô-gia-đa đã không giải thể các phân ban của các tư tế. 9. Tư tế Giê-hô-gia-đa đã phát cho các vị chỉ huy trăm quân những giáo, khiên lớn, và khiên nhỏ mà Vua Đa-vít đã đặt trong Đền Thờ của Đức Chúa Trời. 10. Ông đã sắp đặt mọi người. Mỗi người với vũ khí trong tay, canh giữ từ bên phải của đền thờ cho đến bên trái của đền thờ, bao quanh vua, dọc theo bàn thờ, và bên cạnh đền thờ. 11. Sau đó, họ đã đưa con trai của vua ra, đội vương miện, trao bản giao ước, rồi tôn chàng làm vua. Giê-hô-gia-đa và các con trai của ông đã xức dầu cho chàng, rồi tung hô: “Đức Vua vạn tuế!”
- Khi A-tha-li nghe tiếng của dân chúng vừa chạy vừa chúc tụng vua thì bà đã đến gặp dân chúng tại Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. 13. Bà nhìn thấy vua đang đứng trên một bệ cao tại lối vào, các vị lãnh đạo và những người thổi kèn đứng bên cạnh vua. Kèn thổi lên, các ca sĩ cất tiếng ca ngợi với nhạc khí phụ họa, khiến toàn thể dân chúng trong xứ vui mừng. A-tha-li đã xé trang phục của mình, rồi nói: “Phản loạn! Phản loạn!”
- Tư tế Giê-hô-gia-đa đã đem các vị chỉ huy hàng trăm quân, là những người có nhiệm vụ chỉ huy các đạo quân, đến; rồi truyền lệnh cho họ: “Hãy tách bà ra khỏi quân thị vệ. Ai theo bà thì sẽ bị giết bằng gươm.” Bởi vì tư tế đã nói: “Không được giết bà trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va.” 15. Vì vậy, họ đã bắt bà. Khi bà đến lối vào Cổng Ngựa của cung vua, thì họ giết bà tại đó.
- Giê-hô-gia-đa đã lập giao ước giữa ông với tất cả dân chúng và với vua để họ trở thành dân của Đức Giê-hô-va. 17. Sau đó dân chúng đã kéo đến đền thờ của Ba-anh. Họ đã giết Ma-than, tư tế của Ba-anh, ngay trước những bàn thờ, rồi đập nát đền thờ, những bàn thờ, những bức tượng ra thành nhiều mảnh.
- Giê-hô-gia-đa đã bổ nhiệm các chức vụ trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va vào tay các tư tế, những người Lê-vi, là những người mà đã Ða-vít đã phân bố để lo các công việc trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, để dâng những tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va như đã chép trong luật pháp của Môi-se, và ca hát cách vui mừng như Đa-vít đã ấn định. 19. Ông cũng đặt người giữ các cổng Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va để không cho người bị ô uế vì bất cứ lý do gì có thể vào.
- Sau đó, ông đã dẫn tất cả các vị chỉ huy hàng trăm quân, các nhà quý tộc, các vị lãnh đạo trong dân, và toàn dân trong nước, đến rước vua từ Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va xuống. Họ đã tiến vào Cổng Thượng của hoàng cung, rồi đặt vua trên ngôi của vương quốc.
- Tất cả dân trong xứ vui mừng và kinh thành được yên ổn sau khi họ đã giết A-tha-li bằng gươm.
24
- Giô-ách được bảy tuổi khi lên ngôi làm vua. Ông trị vì bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là Xi-bia, tại Bê-e Sê-ba. 2. Giô-ách làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va trọn đời của Tư tế Giê-hô-gia-đa. 3. Giê-hô-gia-đa đã cưới cho ông hai người vợ. Ông sinh các con trai và các con gái.
- Sau một thời gian, Giô-ách có ý định trùng tu Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. 5. Ông đã triệu tập các tư tế và những người Lê-vi, rồi nói với họ: “Hãy đi đến các thành của Giu-đa, quyên góp tiền dâng hằng năm của toàn dân Y-sơ-ra-ên, rồi đem về để trùng tu Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời. Các ngươi hãy nhanh chóng làm việc nầy.” Tuy nhiên, người Lê-vi cứ trì hoãn.
- Vua đã gọi Giê-hô-gia-đa, người lãnh đạo của họ, đến rồi nói với ông: “Tại sao ngài không yêu cầu người Lê-vi đi ra khắp nước Giu-đa và Giê-ru-sa-lem để nhận sự đóng góp của dân, mà Môi-se, là đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ấn định cho hội chúng của Y-sơ-ra-ên phải nộp cho Lều Chứng Ước?” 7. Bởi vì các con trai của A-tha-li, người phụ nữ độc ác kia, đã đập phá Đền Thờ của Đức Chúa Trời; rồi lấy những vật thánh của Đền Thờ Đức Giê-hô-va dâng cho Ba-anh.
- Theo lệnh của vua, người ta đóng một cái rương rồi đặt nó bên ngoài cửa Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. 9. Họ đã thông báo khắp xứ Giu-đa và tại Giê-ru-sa-lem hãy đem đến cho Đức Giê-hô-va số quyên góp mà Môi-se, là đầy tớ của Đức Chúa Trời, đã ấn định cho Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc. 10. Tất cả các lãnh đạo và tất cả dân chúng đều vui mừng, họ đã đem đến rồi bỏ vào trong rương cho đến khi đầy rương.
- Sau đó, khi nào thấy rương đã đầy thì người Lê-vi đem giao cho một viên chức của vua. Thư ký của vua và một viên chức của vị của thượng tế đến trút ra, nhận tiền, rồi đem rương để lại chỗ của nó. Họ đã làm như vậy ngày nầy qua ngày khác và thu được rất nhiều tiền. 12. Vua và Giê-hô-gia-đa đã trao số tiền đó cho những người coi sóc công việc trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. Họ đã thuê thợ nề và thợ mộc để sửa Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. Họ cũng thuê thợ sắt và thợ đồng để sửa sang Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. 13. Những người thợ đã làm việc rất chăm chỉ. Họ hoàn tất công việc cách hoàn hảo. Họ đã phục hồi Ðền Thờ của Đức Chúa Trời giống như nguyên thủy và làm cho nó được vững chắc.
- Sau khi hoàn thành, họ đã mang số tiền còn lại đến trao cho vua và Giê-hô-gia-đa. Họ đã dùng số tiền đó làm các vật dụng trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, các vật dụng để thờ phượng và để dâng tế lễ thiêu, như vá, muỗng và những vật dụng bằng vàng và bằng bạc. Trọn đời của Giê-hô-gia-đa, họ thường xuyên dâng tế lễ thiêu trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va.
- Giê-hô-gia-đa được cao niên trường thọ rồi qua đời. Ông chết lúc một trăm ba mươi tuổi. 16. Người ta chôn ông trong thành của Đa-vít, chung với các vị vua, bởi vì ông thực hiện nhiều điều tốt cho Y-sơ-ra-ên, cho Đức Chúa Trời, và cho đền thờ của Ngài.
- Sau khi Giê-hô-gia-đa qua đời, các lãnh đạo Giu-đa đã đến yết kiến vua. Từ đó, vua nghe theo lời của họ. 18. Họ đã lìa bỏ Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, rồi phục vụ A-sê-ra và những hình tượng. Cơn thịnh nộ của Ngài đã giáng trên Giu-đa và Giê-ru-sa-lem vì tội lỗi nầy của họ. 19. Ngài đã sai các tiên tri của Ngài đến với họ để đem họ trở về cùng Đức Giê-hô-va. Những vị đó đã kêu gọi họ ăn năn, nhưng họ không lắng nghe.
- Thần của Đức Chúa Trời đã đến trên Xa-cha-ri, con trai của Tư tế Giê-hô-gia-đa. Ông đã đứng trước mặt dân chúng rồi nói với họ: “Đức Chúa Trời phán như thế nầy: ‘Tại sao các ngươi phạm những điều răn của Đức Giê-hô-va? Bởi vì các ngươi đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va đã lìa bỏ các ngươi, và các ngươi sẽ không được thạnh vượng.’”
- Vì vậy, họ đã âm mưu chống lại ông. Và rồi được lịnh của vua, họ đã ném đá ông chết ngay tại sân Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. 22. Như vậy, Vua Giô-ách đã không những quên ơn của Giê-hô-gia-đa, cha của Xa-cha-ri, đã làm cho mình, nhưng còn giết con trai của ông ấy. Lúc sắp chết, Xa-cha-ri đã nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo ứng!”
- Sau đó, đến cuối năm, quân A-ram đã kéo đến tấn công vua. Họ đã tiến vào Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tàn sát tất cả các lãnh đạo của dân chúng ở giữa vòng dân chúng, rồi đem tất cả những chiến lợi phẩm về cho vua của họ tại Đa-mách. 24. Quân A-ram đã kéo đến với một đội quân rất ít, nhưng Đức Giê-hô-va đã phó một đạo quân rất đông vào tay của họ, bởi vì dân chúng đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ mình. Quân A-ram đã thi hành án phạt dành cho Giô-ách. 25. Khi quân A-ram rút đi, họ đã bỏ ông lại với thương tích trầm trọng. Các tôi tớ của ông đã lập mưu chống lại ông để báo trả cho máu của các con trai của Tư Tế Giê-hô-gia-đa. Chúng đã giết ông ngay trên giường của ông, và ông đã chết. Người ta chôn ông trong thành của Ða-vít, nhưng không chôn trong khu lăng tẩm dành cho các vua. 26. Những người đã lập mưu chống lại ông là Xa-bát, con trai của Si-mê-át – một phụ nữ Am-môn, và Giê-hô-xa-bát con trai của Sim-rít – một phụ nữ Mô-áp.
- Các con trai của ông, những lời tiên tri chống lại ông, và việc trùng tu Đền Thờ của Đức Chúa Trời đều được chép trong phần bình luận sách Các Vua. A-ma-xia, con trai của ông, đã trị vì thay cho ông.
25
- A-ma-xi-a được hai mươi lăm tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông trị vì hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là Giê-hô-a-đan, người Giê-ru-sa-lem. 2. Ông làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va, nhưng lòng không được trọn lành. 3. Sau khi vương quyền đã vững chắc, ông đã hành quyết những người phục vụ ông, là những người đã giết vua cha của ông. 4. Nhưng ông đã không giết các con của họ dựa theo điều đã được chép trong sách luật pháp của Môi-se. Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Cha sẽ không bị xử tử vì con cái, con cái cũng sẽ không bị xử tử vì cha; nhưng mỗi người sẽ bị xử tử vì tội của mình.”
- A-ma-xia đã triệu tập dân Giu-đa lại, rồi lập những chỉ huy trưởng ngàn quân và trăm quân, theo các gia tộc trong khắp Giu-đa và Bên-gia-min. Ông đã kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên, được ba trăm ngàn người tuyển chọn, có thể cầm giáo và khiên ra trận. 6. Ông cũng thuê một trăm ngàn dũng sĩ can trường trong Y-sơ-ra-ên, với giá một trăm ta-lâng bạc.
- Tuy nhiên, có người của Đức Chúa Trời đã đến nói với vua rằng: “Tâu vua! Xin đừng để đạo quân Y-sơ-ra-ên đi với ngài, bởi vì Đức Giê-hô-va không ở cùng Y-sơ-ra-ên, cũng không ở cùng các con cháu của Ép-ra-im. 8. Nhưng nếu ngài cứ đi, thì dẫu ngài có chiến đấu mạnh mẽ, Đức Chúa Trời cũng sẽ khiến cho ngài thất bại trước mặt quân thù, bởi vì Đức Chúa Trời có quyền giúp cho thắng và cũng có quyền làm cho bại.”
- A-ma-xia đã hỏi người của Đức Chúa Trời: “Chúng ta phải làm gì với một trăm ta-lâng bạc mà ta đã phát cho đạo quân của Y-sơ-ra-ên?” Người của Đức Chúa Trời trả lời: “Đức Giê-hô-va có thể ban cho vua nhiều hơn số đó.” 10. Vì vậy, A-ma-xia đã tách đạo quân đến từ Ép-ra-im ra, rồi cho họ về nhà. Họ đã nổi giận với người Giu-đa, rồi trở về nhà với sự căm phẫn.
- A-ma-xia đã mạnh dạn kéo quân của mình đến thung lũng Muối, và đánh giết mười ngàn người Sê-i-rơ. 12. Quân Giu-đa cũng bắt sống được mười ngàn người. Họ đem chúng lên trên đỉnh vách đá, rồi xô chúng xuống khỏi vách đá. Tất cả đều tan xác. 13. Về phần những người lính trong đạo quân mà A-ma-xia đã cho trở về, không được ra trận với ông; chúng đã xông vào các thành của Giu-đa từ Sa-ma-ri cho đến Bết Hô-rôn, giết ba ngàn người và cướp đi rất nhiều của cải.
- Sau khi sát hại người Ê-đôm, A-ma-xia đã đem các thần của người Sê-i-rơ trở về, lập chúng làm những vị thần của mình, sấp mình trước mặt chúng, rồi dâng hương cho chúng. 15. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã nổi giận cùng A-ma-xia. Ngài đã sai một tiên tri đến nói với ông: “Tại sao ngươi đi tìm cầu các thần của một dân đã không thể giải cứu dân của nó khỏi tay của ngươi?” 16. Trong khi người đó còn đang nói, vua đã phán với ông: “Ngươi có phải là cố vấn của vua hay sao? Hãy ngừng lại! Tại sao ngươi muốn chết?” Vị tiên tri đã ngừng lại, rồi nói: “Tôi biết Ðức Chúa Trời đã quyết định tiêu diệt ngài, bởi vì ngài đã làm điều nầy, và đã không nghe lời khuyên của tôi.”
- Một thời gian sau, A-ma-xia, vua của Giu-đa, nghe lời bàn luận, đã sai sứ đến với Giô-ách, con trai của Giô-a-cha, cháu của Giê-hu, là vua của Y-sơ-ra-ên, vài nói rằng: “Hãy đến đây, chúng ta hãy gặp nhau mặt đối mặt.” 18. Giô-ách, vua của Y-sơ-ra-ên, đã sai sứ đến nói với A-ma-xia, vua của Giu-đa, rằng: “Cây gai tại Li-ban có sai sứ đến nói với cây bá hương tại Li-ban rằng: ‘Hãy gả con gái của ngươi cho con trai ta làm vợ.’ Nhưng có một con thú đồng ở Li-ban đi ngang qua, đã giày đạp cây gai. 19. Ngươi nói: ‘Nầy, ta đã đánh bại Ê-đôm’ nên lòng ngươi tự cao và kiêu ngạo. Bây giờ, hãy ở nhà. Tại sao ngươi muốn chuốc lấy tai họa để ngươi và cả Giu-đa phải sụp đổ?” 20. Nhưng A-ma-xia không chịu nghe, bởi vì việc này đến từ Đức Chúa Trời. Ngài muốn trao ông vào tay của họ bởi vì ông đã cầu khẩn các thần của Ê-đôm.
- Sau đó, Giô-ách, vua của Y-sơ-ra-ên, đã kéo quân lên dàn trận đối diện với A-ma-xia, vua của Giu-đa, tại Bết-sê-mết trong xứ Giu-đa. 22. Quân Giu-đa bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại, và họ đã chạy trốn về trại của mình. 23. Giô-ách, vua của Y-sơ-ra-ên, đã bắt sống A-ma-xia, vua của Giu-đa, con trai của Giô-ách, cháu của Giô-a-cha, tại Bết Sê-mết, rồi điệu về Giê-ru-sa-lem. Ông đã phá vách thành của Giê-ru-sa-lem từ cổng Ép-ra-im cho đến cổng Góc, một đoạn dài bốn trăm cu-bít. 24. Ông đã lấy tất cả vàng, bạc, những vật dụng trong Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời, với Ô-bết Ê-đôm, châu báu trong các kho tàng của hoàng cung, và một số người, rồi trở về Sa-ma-ri.
- A-ma-xia, con trai của Giô-ách, vua của Giu-đa, sống thêm được mười lăm năm sau khi Giô-ách, con trai của Giô-a-cha, vua của Y-sơ-ra-ên, qua đời. 26. Những công việc khác của A-ma-xia, từ đầu cho đến cuối, không phải đã được chép trong sách Các Vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên hay sao? 27. Từ khi A-ma-xia lìa bỏ Đức Giê-hô-va, người ta đã lập mưu hại ông tại Giê-ru-sa-lem. Ông đã chạy trốn đến La-ki, nhưng người ta đã đuổi theo đến La-ki, rồi giết ông tại đó. 28. Họ đã chở xác của ông trên ngựa, rồi chôn ông bên cạnh cha của ông trong một thành tại Giu-đa.
26
- Sau đó, toàn dân Giu-đa đã đem Ô-xia, mười sáu tuổi, làm vua thay cho cha của ông là A-ma-xia. 2. Sau khi vua cha đã an giấc với các tổ phụ, ông đã xây dựng Ê-lốt, rồi khôi phục nó cho Giu-đa.
- Khi Ô-xia bắt đầu làm vua, ông được mười sáu tuổi. Ông đã trị vì năm mươi hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là Giê-cô-lia, người Giê-ru-sa-lem. 4. Ông đã làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va, và làm theo tất cả những gì mà cha của ông là A-ma-xia đã làm. 5. Ông để lòng tìm kiếm Ðức Chúa Trời từ thời của Xa-cha-ri, là người thông hiểu những khải tượng của Ðức Chúa Trời. Ông tìm kiếm Đức Giê-hô-va bao lâu, thì Ðức Chúa Trời làm cho ông được thành công bấy lâu.
- Ông đã đem quân giao chiến với dân Phi-li-tin, rồi triệt hạ tường thành của Gát, tường thành của Giáp-nê, và tường thành của Ách-đốt. Sau đó, ông xây dựng các thành chung quanh Ách-đốt, giữa vòng người Phi-li-tin. 7. Đức Chúa Trời đã giúp ông đánh bại dân Phi-li-tin và dân Ả-rập sống tại vùng Gu-rơ Ba-anh, cùng dân Mê-u-nít. 8. Dân Am-môn phải triều cống cho Ô-xia. Danh tiếng của ông vang đến tận Ai Cập bởi vì ông đã trở nên rất cường thịnh.
- Ô-xia đã xây các tháp canh tại Giê-ru-sa-lem, trên cổng Góc, trên cổng Thung Lũng, và trên những góc tường, làm cho chúng trở nên vững chắc. 10. Ông cũng xây những tháp canh trong hoang mạc và đào nhiều giếng, bởi vì ông có rất nhiều gia súc trong những vùng đất trũng và trong vùng bình nguyên. Ông có những người làm ruộng và ép nho trong vùng núi và tại Cạt-mên, bởi vì ông thích nông nghiệp.
- Ô-xia có một đạo quân sẵn sàng ra trận được tổ chức thành nhiều đoàn quân. Quân số được kiểm kê bởi tay của Thư ký Giê-i-ên và quan Ma-a-xê-gia, và được đặt dưới quyền lãnh đạo của Ha-na-nia. Họ là những viên chức chỉ huy của vua. 12. Tổng số viên chỉ huy các gia tộc có những người dũng mãnh can trường là hai ngàn sáu trăm người. 13. Dưới tay của họ là ba trăm lẻ bảy ngàn năm trăm chiến sĩ tinh nhuệ. Đây là một lực lượng hùng mạnh giúp vua chống lại quân thù.
- Thêm vào đó, Ô-xia đã trang bị cho toàn thể đạo quân của ông với thuẫn khiên, giáo mác, mũ chiến, áo giáp, cung tên và trành ném đá. 15. Tại Giê-ru-sa-lem, ông đã cho các kỹ sư chế tạo máy móc đặt trên các tháp canh và trên bờ thành để bắn tên và đá lớn. Danh tiếng của ông đồn ra rất xa, bởi vì ông được Chúa giúp đỡ cách lạ lùng và trở nên cường thịnh.
- Nhưng khi đã trở nên cường thịnh, ông sinh lòng kiêu ngạo, và điều đó đã khiến ông bị hủy hoại. Ông đã phạm tội với Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông, bởi vì ông đã vào trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va để xông hương trên bàn thờ xông hương. 17. Tư tế A-xa-ria cùng với tám mươi vị tư tế của Đức Giê-hô-va, là những người can đảm, đã đi vào theo sau ông. 18. Họ đã ngăn cản Vua Ô-xia, rồi nói với ông: “Ô-xia! Việc xông hương cho Đức Giê-hô-va không phải là việc của ngài, nhưng đó là việc của những tư tế, thuộc dòng dõi của A-rôn, là những người đã được biệt riêng ra thánh để xông hương. Xin hãy rời khỏi đền thánh bởi vì ngài đã phạm tội. Ngài sẽ không được Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôn trọng nữa.”
- Ô-xia đang cầm lư hương trong tay chuẩn bị để dâng hương, nên rất tức giận. Đang khi ông nổi giận cùng các tư tế, phung đã nổi lên trên trán của ông trước mặt các tư tế ngay trong Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, bên cạnh bàn thờ dâng hương. 20. Thượng tế A-xa-ria và tất cả các tư tế nhìn thấy phung trên trán của ông, họ vội vàng đưa ông ra khỏi nơi đó. Thật vậy, chính ông cũng vội vàng rời khỏi đó bởi vì Đức Giê-hô-va đã trừng phạt ông.
- Ô-xia bị phung cho đến ngày ông qua đời. Ông sống trong một căn nhà riêng dành cho người bị phung và bị cấm vào Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. Giô-tham, con trai của ông, điều hành công việc triều chính và xét xử những việc của dân trong nước.
- Những công việc khác của Ô-xia, từ đầu cho đến cuối, đã được Tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt, ghi chép. 23. Ô-xia đã an giấc cùng tổ phụ của ông. Người ta chôn ông gần những tổ phụ của ông trong cánh đồng dùng để chôn cất các vị vua, bởi vì người ta nói rằng ông đã bị phung. Giô-tham, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
27
- Giô-tham được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi làm vua. Ông trị vì mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là Giê-ru-sa, con gái của Xa-đốc. 2. Ông làm điều tốt trước mặt Đức Giê-hô-va theo như những gì mà Ô-xia, cha của ông, đã làm. Tuy nhiên, ông không vào đền thờ của Đức Giê-hô-va, còn dân chúng thì vẫn cứ bại hoại.
- Ông đã xây cổng trên của đền thờ Đức Giê-hô-va, và xây dựng rất nhiều trên bức tường tại Ô-phên. 4. Ông đã xây dựng những thành trong vùng đồi núi của Giu-đa, và các đồn cùng tháp canh trong vùng rừng rậm. 5. Ông đã giao chiến với vua của dân Am-môn, rồi đánh bại chúng. Trong năm đó, dân Am-môn phải cống nạp cho ông một trăm ta-lâng bạc, mười ngàn cô-rơ lúa miến, và mười ngàn cô-rơ lúa mạch. Năm thứ nhì và năm thứ ba dân Am-môn cũng phải cống nộp như vậy.
- Giô-tham đã trở nên cường thịnh bởi vì ông gìn giữ đường lối của mình trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông. 7. Những việc khác của Giô-tham, tất cả những cuộc chiến và những đường lối của ông đều được chép trong sách Các Vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. 8. Ông được hai mươi lăm tuổi khi lên làm vua, và ông đã cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. 9. Ông an giấc cùng tổ phụ của mình. Người ta an táng ông trong thành của Đa-vít. A-cha, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
28
- A-cha được hai mươi tuổi khi ông làm vua. Ông trị vì mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Ông không làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va như tổ phụ của ông là Đa-vít đã làm, 2. nhưng đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên. Ông đã đúc tượng cho Ba-anh. 3. Ông đã xông hương trong thung lũng Bên Hi-nôm, và thiêu con cái của mình trong lửa theo thói tục ghê tởm của các dân mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. 4. Ông đã dâng sinh tế và xông hương trên các nơi cao, trên các ngọn đồi, và dưới các cây xanh.
- Vì vậy, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, đã phó ông vào tay vua của A-ram. Họ đã đánh bại ông, bắt rất nhiều người làm tù binh, rồi đem về Đa-mách. Ông đã bị phó vào tay vua của Y-sơ-ra-ên, là người đã đánh bại ông, khiến ông bị tổn thất nặng nề. 6. Trong một ngày, Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia, đã giết một trăm hai mươi ngàn người Giu-đa, tất cả đều là những dũng sĩ, bởi vì họ đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ. 7. Xiếc-ri, một dũng sĩ của Ép-ra-im đã giết Ma-a-xê-gia, con trai của vua; A-ri-kham, quan nội cung; và Ên-ca-na, quan tể tướng. 8. Người Y-sơ-ra-ên đã bắt trong số anh em mình hai trăm ngàn tù binh, gồm cả đàn bà, con trai, con gái. Họ cũng lấy rất nhiều của cải đem về Sa-ma-ri.
- Tại đó, có một tiên tri của Đức Giê-hô-va tên là Ô-đết. Ông đã đi ra đón đạo quân đang trở về Sa-ma-ri, rồi nói với họ: “Xem nầy! Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, đã nổi giận cùng Giu-đa, cho nên Ngài đã phó chúng vào trong tay của các ngươi, nhưng các ngươi đã giết chúng trong cơn cuồng nộ ngất trời. 10. Bây giờ, các ngươi lại định bắt dân Giu-đa và dân Giê-ru-sa-lem làm tôi trai tớ gái cho các ngươi. Về phần các ngươi, không phải chính các ngươi cũng đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi, hay sao? 11. Vì vậy bây giờ, hãy nghe ta. Hãy thả các tù binh, tức là những anh chị em mà các ngươi đã bắt làm tù binh. Nếu không, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên các ngươi.”
- Lúc đó, một số lãnh đạo người Ép-ra-im là A-xa-ria, con trai của Giô-ha-nan, Bê-rê-kia, con trai của Mê-si-lê-mốt, Ê-xê-chia, con trai của Sa-lum, và A-ma-sa, con trai của Hát-lai, đã đứng lên chống lại những người vừa đánh trận trở về, 13. rồi nói với họ: “Các ngươi không được đem những tù binh vào đây, bởi vì làm như vậy, chúng ta sẽ mắc tội với Đức Giê-hô-va. Các ngươi tính chất thêm tội lỗi trên những tội mà chúng ta đã phạm sao? Bởi vì tội lỗi của chúng ta đã quá lớn, và cơn thịnh nộ dữ dội đang chống lại Y-sơ-ra-ên.”
- Vì vậy, quân lính đã thả các tù binh và bỏ lại những chiến lợi phẩm trước mặt các lãnh đạo và toàn thể hội chúng. 15. Những người đã được nhắc tên ở trên đã đứng dậy, dẫn các tù binh ra, lấy quần áo trong chiến lợi phẩm mặc cho những người bị trần truồng, cho họ giày dép, thức ăn, thức uống, xức dầu cho họ, và cho những người yếu đuối được cưỡi lừa, rồi đưa họ đến Giê-ri-cô, là thành cây chà là. Sau đó, những người đó đã quay lại Sa-ma-ri.
- Trong lúc đó, Vua A-cha đã sai sứ đi cầu cứu các vua của A-sy-ri, 17. bởi vì dân Ê-đôm đã trở lại đánh Giu-đa, và bắt đi rất nhiều tù binh.
- Quân Phi-li-tin cũng đã đến tấn công các thành tại vùng đồng bằng và tại những nơi thuộc miền nam của Giu-đa. Chúng đã chiếm Bết-sê-mết, A-gia-lôn, Ghê-đê-rốt, Sô-cô và các vùng phụ cận, Thim-na và các vùng phụ cận, Ghim-xô và các vùng phụ cận, rồi chúng định cư tại những nơi đó. 19. Do tội của A-cha, là vua của Giu-đa, Đức Giê-hô-va đã hạ Giu-đa xuống; bởi vì đạo đức tại Giu-đa đã suy đồi, và họ tiếp tục bất trung cùng Đức Giê-hô-va. 20. Tiếc-la-Phi-lê-se, vua của A-sy-ri, thay vì đến tiếp cứu, đã tấn công và gây khốn khổ cho A-cha. 21. A-cha đã lấy những vật dụng trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va, trong cung vua, và trong nhà các quan chức, rồi giao cho vua của A-sy-ri, nhưng ông không tiếp cứu.
- Trong lúc hoạn nạn, vua A-cha càng phạm tội nhiều hơn cùng Đức Giê-hô-va. 23. Ông đã dâng tế lễ cho các thần của Ða-mách, là dân đã đánh bại ông. Ông nói: “Bởi vì các thần của dân A-ram đã phù hộ chúng, cho nên ta phải dâng của tế lễ cho các thần đó để các thần đó phù hộ ta.” Nhưng các thần đó chính là duyên cớ khiến cho ông bị suy bại và làm cho cả Y-sơ-ra-ên bị suy bại. 24. A-cha đã lấy những vật dụng trong Đền Thờ của Đức Chúa Trời, cắt những vật dụng trong Đền Thờ của Đức Chúa Trời ra thành nhiều mảnh, rồi đóng các cửa của Đền Thờ Đức Giê-hô-va. Sau đó, ông đã lập cho mình những bàn thờ trong mọi ngõ ngách của Giê-ru-sa-lem. 25. Ông đã lập các nơi cao trong mỗi thành của Giu-đa và dâng hương tại đó cho các thần khác để chọc giận Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ ông.
- Tất cả những hoạt động của ông, tất cả những chính sách của ông, từ đầu cho đến cuối, đã được chép trong sách Các Vua của Giu-đa và Y-sơ-ra-ên. 27. A-cha đã an giấc cùng tổ phụ của mình. Người ta đã chôn cất vua trong thành tại Giê-ru-sa-lem, nhưng ông không được chôn trong lăng tẩm của các vua Y-sơ-ra-ên. Ê-xê-chia, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
29
- Ê-xê-chia làm vua khi được hai mươi lăm tuổi. Ông trị vì hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là A-bi-gia, là con gái của Xa-cha-ri. 2. Ông làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va, theo như tất cả những điều mà tổ phụ của ông là Đa-vít đã làm.
- Vào tháng đầu tiên của năm thứ nhất của triều đại ông, ông đã mở các cửa của Ðền Thờ Đức Giê-hô-va để sửa chữa chúng. 4. Ông cho triệu tập các tư tế và những người Lê-vi, rồi tập họp họ lại tại quảng trường ở phía đông. 5. Ông đã nói với họ: “Hỡi những người Lê-vi! Xin hãy nghe tôi nói: Hãy làm cho quý vị ra thánh, rồi làm cho Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của quý vị, ra thánh. Hãy đem tất cả những vật ô uế ra khỏi nơi thánh. 6. Bởi vì tổ phụ chúng ta đã phạm tội, đã làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta. Họ đã lìa bỏ Ngài, đã ngoảnh mặt khỏi nơi ngự của Đức Giê-hô-va rồi quay lưng lại với Ngài. 7. Họ đã đóng các cửa tại tiền đình, tắt những ngọn đèn, không xông hương, không dâng tế lễ thiêu trong Nơi Thánh cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 8. Vì vậy, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã giáng trên Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Ngài đã phó họ cho hoạn nạn, cho hãi hùng và bị khinh miệt như quý vị đã nhìn thấy bằng chính mắt của mình. 9. Quý vị thấy đó: Tổ phụ của chúng ta đã bị ngã chết bởi gươm. Các con trai, các con gái, và những người vợ của chúng ta đã bị lưu đày bởi vì việc nầy. 10. Bây giờ, lòng của tôi quyết định lập một giao ước với Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, để cơn thịnh nộ của Ngài có thể rời khỏi chúng ta. 11. Các con của ta! Đừng thờ ơ nữa bởi vì Đức Giê-hô-va đã chọn các con làm đầy tớ của Ngài, để đứng trước mặt Ngài, phục vụ và xông hương cho Ngài.”
- Sau đó, những người Lê-vi đã trỗi dậy: Về dòng Kê-hát có Ma-hát – con trai của A-ma-sai, và Giô-ên – con trai của A-xa-ria. Về dòng Mê-ra-ri có Kích – con trai của Áp-đi, và A-xa-ria – con trai của Giê-ha-lê-le. Về dòng Ghẹt-sôn có Giô-a – con trai của Xim-ma, và Ê-đen – con trai của Giô-a. 13. Về dòng Ê-lít-sa-phan có Sim-ri và Giê-i-ên. Về dòng A-sáp có Xa-cha-ri và Ma-tha-nia. 14. Về dòng Hê-man có Giê-hi-ên và Si-mê-i. Về dòng Giê-đu-thun có Sê-ma-gia và U-xi-ên. 15. Họ đã tập họp những anh em của họ lại, rồi thanh tẩy chính họ. Theo lệnh của vua và lời của Đức Giê-hô-va, họ đã đến để thanh tẩy Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. 16. Các tư tế đã đi vào bên trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va để thanh tẩy. Họ đem tất cả những vật ô uế được tìm thấy trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va ra ngoài sân của Đền Thờ. Sau đó, người Lê-vi đến lấy rồi đem ném ra ngoài thung lũng Xết-rôn.
- Họ bắt đầu thanh tẩy vào ngày thứ nhất của tháng đầu tiên. Đến ngày thứ tám của tháng đó, họ đã làm đến tiền đình của Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. Họ đã thanh tẩy Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va thêm tám ngày nữa. Đến ngày thứ mười sáu của tháng thứ nhất, họ hoàn tất.
- Sau đó, họ đã đi vào gặp Vua Ê-xê-chia, rồi nói: “Chúng tôi đã thanh tẩy toàn bộ Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, bàn thờ dâng tế lễ thiêu và những vật dụng tại đó, bàn dâng bánh cung hiến và những vật dụng tại đó. 19. Ngoài ra, những vật dụng mà Vua A-cha khi người trị vì, trong lúc người phạm tội, đã quăng đi, thì chúng tôi đã thanh tẩy và đã sắp đặt trở lại. Kìa, chúng đang ở trước mặt bàn thờ của Đức Giê-hô-va.
- Vua Ê-xê-chia thức dậy sớm, triệu tập các quan trong thành, rồi đi lên Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. 21. Họ đem bảy con bò đực, bảy con chiên đực, bảy con chiên con và bảy con dê đực để làm tế lễ chuộc tội cho vương quốc, cho đền thánh và cho dân Giu-đa. Ông truyền cho các tư tế thuộc dòng A-rôn hãy dâng chúng trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va.
- Họ đã giết những con bò đực, rồi các tư tế lễ lấy máu rảy trên bàn thờ. Tương tự, họ giết những con chiên đực rồi rảy máu trên bàn thờ. Họ cũng giết những con chiên con rồi rảy máu trên bàn thờ. 23. Sau đó, người ta đem những con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội đến trước mặt vua và hội chúng. Họ đã đặt tay trên chúng. 24. Sau đó, các tư tế đã giết chúng rồi lấy máu rảy trên bàn thờ làm lễ chuộc tội để đền tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, bởi vì vua truyền rằng phải dâng tế lễ thiêu và tế lễ chuộc tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên.
- Vua sắp đặt người Lê-vi tại Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va với chập chõa, đàn hạc và đàn cầm, theo lệnh của Đa-vít, của Gát là vị tiên kiến của vua, và của Tiên tri Na-than, bởi vì đó là lệnh truyền của Đức Giê-hô-va từ những tiên tri của Ngài. 26. Những người Lê-vi đứng cầm nhạc khí của Đa-vít, còn các tư tế thì cầm kèn.
- Ê-xê-chia truyền dâng tế lễ thiêu trên bàn thờ. Lúc bắt đầu dâng tế lễ thiêu, bài hát ca ngợi Đức Giê-hô-va được trổi lên cùng với tiếng kèn và những nhạc khí của Đa-vít, là vua của Y-sơ-ra-ên. 28. Toàn thể hội chúng thờ phượng, các ca sĩ hát, những người thổi kèn vang vọng. Tất cả đã làm như vậy cho đến khi việc dâng tế lễ thiêu được hoàn tất.
- Khi dâng tế lễ thiêu xong, vua và tất cả những người hiện diện đều quỳ xuống thờ phượng. 30. Vua Ê-xê-chia và các quan truyền cho người Lê-vi ca ngợi Đức Giê-hô-va bằng những bài ca của Đa-vít và của A-sáp, vị tiên kiến. Họ đã tôn ngợi Chúa cách vui mừng, rồi sấp mình xuống mà thờ phượng.
- Sau đó, Vua Ê-xê-chia nói rằng: “Hiện giờ các ngươi đã biệt mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Vì vậy hãy đến, đem những sinh tế và tế lễ cảm tạ vào trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va.” Hội chúng đã đem đến những sinh tế và tế lễ cảm tạ, và rất nhiều tế lễ thiêu vì người nào cũng vui lòng. 32. Số sinh tế cho tế lễ thiêu mà hội chúng đã đem đến là bảy mươi con bò đực, một trăm con chiên đực, và hai trăm con chiên con. Tất cả đều được dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. 33. Số thú vật đã được biệt riêng ra thánh là sáu trăm con bò đực và ba ngàn con chiên. 34. Tuy nhiên, vì số tư tế quá ít, không đủ để lột da những con thú được dâng làm tế lễ thiêu, cho nên những người Lê-vi, là những anh em của họ, đã phụ giúp họ cho đến khi công việc được hoàn tất, và cho đến khi một số tư tế khác được thánh hóa. Bởi vì những người Lê-vi đã sốt sắng hơn các tư tế trong việc làm cho mình được thánh hóa. 35. Ngoài số tế lễ thiêu rất nhiều, còn có mỡ của tế lễ bình an, và lễ quán kèm theo cho mỗi tế lễ thiêu. Như vậy, việc thờ phượng trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va đã được tái lập. 36. Ê-xê-chia và toàn dân đều vui mừng về những điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ, và vì mọi việc được hoàn tất cách bất ngờ.
30
- Ê-xê-chia đã sai sứ giả đi khắp Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, và ông cũng viết thư cho người Ép-ra-im và người Ma-na-se mời họ đến Đền Thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
- Vua, các vị lãnh đạo, cùng với toàn thể hội chúng tại Giê-ru-sa-lem đã đồng ý với nhau sẽ giữ lễ Vượt Qua vào tháng Hai, 3. bởi vì họ không thể dự lễ theo thời gian quy định, do không đủ số tư tế được biệt riêng ra thánh và dân chúng cũng chưa kịp tập trung về Giê-ru-sa-lem.
- Điều nầy đẹp lòng vua và toàn thể hội chúng. 5. Vì vậy, họ đã lập một thông báo để công bố cho toàn thể Y-sơ-ra-ên, từ Bê-e Sê-ba cho đến Đan. Dân chúng phải đến Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì đã từ lâu họ đã không thực hiện điều đó như đã được ghi chép.
- Vì vậy, các sứ giả đã vội vàng đem những bức thư của vua và của các vị lãnh đạo đi khắp Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Lệnh của vua nói rằng: “Hỡi con dân Y-sơ-ra-ên! Hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Y-sơ-ra-ên, để Ngài sẽ trở lại cùng những người còn sót lại giữa vòng các ngươi, là những người đã thoát khỏi tay của các vua A-sy-ri. 7. Ðừng giống như cha ông của các ngươi và những bà con của các ngươi mà bất trung với Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các tổ phụ của họ, cho nên Ngài đã phó họ vào cảnh điêu tàn như các ngươi đã thấy. 8. Vì vậy bây giờ, đừng cứng cổ như những tổ phụ của các ngươi, nhưng chính mình các ngươi hãy đầu phục Đức Giê-hô-va, hãy vào trong Đền Thánh của Ngài, là nơi Ngài đã thánh hóa đời đời. Hãy phục vụ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi, để cơn thịnh nộ của Ngài quay khỏi các ngươi. 9. Bởi vì nếu các ngươi trở lại cùng Đức Giê-hô-va, thì bà con của các ngươi và con cháu của các ngươi sẽ được ơn trước mặt những người đã đem họ lưu đày, và họ sẽ được trở về trong xứ nầy. Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi, là Đấng nhân từ và thương xót. Ngài sẽ không quay mặt khỏi các ngươi nếu các ngươi trở lại cùng Ngài.”
- Các sứ giả đã đi từ thành này đến thành khác khắp lãnh thổ Ép-ra-im và Ma-na-se, cho đến tận Sa-bu-lôn, tuy nhiên người ta đã nhạo cười và chế giễu họ. 11. Dầu vậy, cũng có một số người A-se, Ma-na-se, và Sa-bu-lôn khiêm nhường đã đến Giê-ru-sa-lem. 12. Tại Giu-đa, tay của Ðức Chúa Trời ở với họ, ban cho họ một lòng vâng theo lệnh của vua và các vị lãnh đạo đã truyền ra theo lời của Đức Giê-hô-va.
- Có rất nhiều người đã nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem vào tháng Hai để giữ lễ Bánh Không Men. Đây là một cuộc tụ họp thật đông đảo! 14. Họ đã đứng dậy gỡ bỏ những bàn thờ tại Giê-ru-sa-lem và tất cả những bàn thờ xông hương, rồi ném chúng xuống khe Xết-rôn.
- Họ đã giết con chiên của lễ Vượt Qua vào ngày mười bốn tháng Hai. Lúc đó, các tư tế và những người Lê-vi cảm thấy hổ thẹn, cho nên họ phải thanh tẩy chính mình, rồi đem những tế lễ thiêu vào Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. 16. Họ đã đứng vào những vị trí của mình theo quy định trong luật pháp của Môi-se, là người của Đức Chúa Trời. Các tư tế đã rảy huyết mà họ nhận từ tay của người Lê-vi.
- Có rất nhiều người trong hội chúng chưa được thanh tẩy. Vì vậy, những người Lê-vi đã giết những con chiên của lễ Vượt Qua cho mỗi một người chưa được thanh tẩy để thánh hóa họ cho Đức Giê-hô-va. 18. Bởi vì đoàn dân quá đông, cho nên có nhiều người Ép-ra-im, Ma-na-se, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn chưa thanh tẩy chính mình, nhưng họ đã ăn lễ Vượt Qua không theo quy định đã được ghi chép. Vì vậy, Ê-xê-chia đã cầu nguyện cho họ rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va, là Đấng nhân từ, tha thứ cho họ, 19. cho mỗi một người đã hết lòng tìm kiếm Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ của người đó, mặc dù người đó chưa được thanh tẩy để được thánh hóa theo quy định của Đền Thánh.” 20. Đức Giê-hô-va đã lắng nghe lời cầu nguyện của Ê-xê-chia và Ngài đã chữa lành cho dân chúng.
- Dân Y-sơ-ra-ên có mặt tại Giê-ru-sa-lem đã giữ lễ Bánh Không Men trong bảy ngày một cách vui vẻ. Ngày nầy sang ngày khác, người Lê-vi và các tư tế đã tôn ngợi Đức Giê-hô-va. Các nhạc khí cũng trỗi tiếng vang lừng cho Đức Giê-hô-va. 22. Ê-xê-chia đã khích lệ tất cả người Lê-vi thành thạo trong việc thờ phượng Đức Giê-hô-va. Họ đã ăn mừng lễ trong bảy ngày, dâng những tế lễ bình an, và xưng tội cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các tổ phụ của họ.
- Toàn thể hội chúng quyết định giữ lễ thêm bảy ngày, vì vậy họ vui vẻ giữ lễ thêm bảy ngày nữa. 24. Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, đã tặng cho hội chúng một ngàn bò đực và bảy ngàn chiên. Các vị lãnh đạo cũng tặng một ngàn con bò đực và mười ngàn chiên. Rất nhiều tư tế đã thanh tẩy chính mình. 25. Toàn thể hội chúng Giu-đa, các tư tế và những người Lê-vi, tất cả người Y-sơ-ra-ên khắp nơi đã tập họp về, những ngoại kiều đến từ Y-sơ-ra-ên hay cư trú tại Giu-đa, đều hân hoan. 26. Có sự vui mừng lớn tại Giê-ru-sa-lem, bởi vì từ thời Sa-lô-môn, con trai của Đa-vít, vua của Y-sơ-ra-ên, Giê-ru-sa-lem chưa bao giờ vui giống như vậy. 27. Các tư tế và những người Lê-vi đã đứng dậy chúc phước cho dân chúng. Lời cầu nguyện của họ đã thấu đến nơi ngự thánh của Ngài trên trời, và lời cầu nguyện của họ đã được lắng nghe.
31
- Sau khi những việc nầy đã xong, tất cả những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đã đi đến các thành của Giu-đa để đập vỡ những trụ thờ ra từng mảnh, triệt hạ những tượng A-sê-ra, phá hủy tất cả các tế đàn trên những nơi cao và các bàn thờ trong toàn cõi Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im và Ma-na-se, cho đến khi họ đã hủy diệt chúng hoàn toàn. Sau đó, toàn dân Y-sơ-ra-ên mỗi người đều trở về thành của mình trong sản nghiệp của mình.
- Ê-xê-chia đã thiết lập các phân ban cho các tư tế và những người Lê-vi tùy theo các phân ban của họ. Các tư tế và người Lê-vi mỗi người tùy theo nhiệm vụ của mình sẽ dâng tế lễ thiêu, tế lễ cầu an, phục vụ, cảm tạ, hay ca ngợi tại các cổng của Đền Thờ Đức Giê-hô-va.
- Vua cũng lấy một phần tài sản mình để làm tế lễ thiêu buổi sáng và buổi chiều, tế lễ thiêu cho những ngày sa-bát, ngày trăng mới, và những ngày lễ quy định, như đã được chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va. 4. Ngoài ra, ông cũng truyền cho dân chúng tại Giê-ru-sa-lem phải cung cấp phần dành cho các tư tế và những người Lê-vi, để họ tập trung vào luật pháp của Đức Giê-hô-va.
- Ngay sau khi lệnh vua được ban ra, dân Y-sơ-ra-ên đã đem rất nhiều sản vật đầu mùa gồm có ngũ cốc, rượu, dầu, mật và những sản vật của đồng ruộng. Họ cũng nộp một phần mười mọi thứ, và đã mang đến thật nhiều. 6. Dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sống trong các thành của Giu-đa cũng đem đến một phần mười về bò và chiên, một phần mười về những vật đã biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của họ. Những lễ vật đã được chất thành đống. 7. Từ tháng Ba họ bắt đầu mang lễ vật về chất thành đống, và cho đến tháng Bảy mới hoàn tất.
- Khi Ê-xê-chia cùng các lãnh đạo đến, nhìn thấy những đống lễ vật thì tôn ngợi Đức Giê-hô-va và chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. 9. Sau đó, Ê-xê-chia đã hỏi các tư tế và những người Lê-vi về những đống lễ vật. 10. A-xa-ria, thượng tế thuộc dòng họ Xa-đốc, đã trả lời và nói rằng: “Từ khi dân chúng đem lễ vật dâng hiến cho Đền Thờ của Đức Giê-hô-va, chúng tôi có đủ ăn và còn dư lại rất nhiều, bởi vì Đức Giê-hô-va đã ban phước cho dân của Ngài. Đây là những gì còn dư lại.”
- Ê-xê-chia truyền cho dọn dẹp những phòng trong khu vực Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. Người ta đã dọn dẹp. 12. Họ đã đem những lễ vật dâng hiến, những lễ vật dâng phần mười, và những vật được biệt riêng, vào đó một cách trung tín. Cô-na-nia, người Lê-vi, lãnh đạo trong việc quản lý; Si-mê-i, em trai của ông, là phụ tá. 13. Theo lệnh của Vua Ê-xê-chia và của A-xa-ria, là người điều hành Đền Thờ của Đức Chúa Trời: Giê-hi-ên, A-xa-xia, Na-hát, A-sa-ên, Giê-ri-mốt, Giô-sa-bát, Ê-li-ên, Git-ma-kia, Ma-hát, và Bê-na-gia là những nhân viên quản lý dưới quyền của Cô-na-nia và em trai của ông là Si-mê-i.
- Cô-rê, con trai của Dim-na, người Lê-vi, là người giữ cổng phía đông, sẽ coi sóc những lễ vật tự nguyện dâng cho Đức Chúa Trời, rồi phân phát những lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va và những lễ vật chí thánh. 15. Dưới quyền của ông là Ê-đen, Min-gia-min, Giê-sua, Sê-ma-gia, A-ma-ria và Sê-ca-nia, trong các thành của những tư tế. Họ sẽ phân phối những lễ vật đó một cách công bằng cho những anh em của mình, lớn cũng như nhỏ, tùy theo phân ban của họ. 16. Ngoài những người nam có tên trong gia phả, thì những người nào từ ba mươi tuổi trở lên, đã đi vào Đền Thờ của Đức Giê-hô-va để phục vụ theo trách nhiệm và phân ban của họ, sẽ được nhận phần từ nơi ông. 17. Họ cũng chia phần cho các tư tế có tên trong gia phả theo gia tộc của họ, và những người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên theo trách nhiệm và phân ban của họ, 18. cùng tất cả những người có tên trong gia phả, kể cả con nhỏ, vợ, con trai, con gái của họ, bởi vì trong trách nhiệm của họ, họ đã trung tín thánh hóa chính mình để phục vụ cả hội chúng. 19. Đối với những tư tế, thuộc dòng dõi của A-rôn, đang sống trong các ruộng đồng trực thuộc các thành của họ, thì trong mỗi thành đều có một số người được chỉ định đích danh để đảm trách việc phân phát các phần cho những người nam thuộc thành phần tư tế và cho tất cả những người Lê-vi có tên trong gia phả.
- Ê-xê-chia đã làm như vậy trong toàn cõi Giu-đa. Ông đã làm những điều tốt đẹp, ngay thẳng và trung tín trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông. 21. Trong tất cả những công việc để phục vụ cho Đền Thờ của Ðức Chúa Trời, cho luật pháp, cho điều răn, ông đều bắt đầu bằng sự tìm kiếm Ðức Chúa Trời, rồi làm một cách hết lòng, cho nên ông được thịnh vượng.
32
- Sau những việc làm trung tín này, San-chê-ríp, vua của A-sy-ri, đã kéo đến xâm lăng Giu-đa. Hắn bao vây những thành kiên cố và dự định chiếm lấy cho mình.
- Khi Ê-xê-chia thấy San-chê-ríp đến và hắn chuẩn bị tấn công Giê-ru-sa-lem, 3. ông đã bàn với các lãnh đạo và những dũng sĩ để ngăn chặn các nguồn nước bên ngoài thành; và họ đã giúp ông. 4. Họ đã huy động nhiều người đến hiệp với nhau ngăn chặn những nguồn nước và những khe suối chảy trong xứ. Họ nói: “Tại sao chúng ta lại để cho các vua của A-sy-ri đến, rồi tìm được nhiều nước?” 5. Ông ráng hết sức của mình xây lại tất cả tường thành đổ nát, nâng cao những tháp canh, và xây một vách thành khác phía bên ngoài. Ông cũng sửa chữa Mi-lô, thành của Đa-vít, và chế tạo nhiều vũ khí, cùng thuẫn khiên.
- Ông đã bổ nhiệm các tướng chỉ huy quân đội, triệu tập họ đến quảng trường nơi cổng của thành phố, rồi khích lệ họ rằng: 7. “Hãy mạnh mẽ và can đảm! Đừng sợ hãi và đừng kinh khiếp vì cớ vua A-sy-ri hay vì đám quân đông đảo theo hắn, bởi vì Đấng ở cùng chúng ta mạnh hơn kẻ ở với hắn. 8. Ở với hắn chỉ là một đạo quân xác thịt còn ở với chúng ta là Đức Giê-hô-va. Ðức Chúa Trời của chúng ta sẽ giúp đỡ chúng ta và Ngài sẽ chiến đấu trong những trận chiến của chúng ta.”
- Sau đó, trong khi San-chê-ríp, vua của A-sy-ri và toàn quân của hắn đang tấn công La-ki; hắn đã sai thuộc hạ của hắn đến Giê-ru-sa-lem để nói với Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, cùng toàn dân Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem, rằng: 10. “San-chê-ríp, vua của A-sy-ri, nói như thế nầy: Các ngươi tin cậy vào ai mà cứ ở trong Giê-ru-sa-lem để bị bao vây như vậy? 11. Không phải Ê-xê-chia đã thuyết phục các ngươi và nói rằng: ‘Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta, sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay của vua A-sy-ri’, nhưng đã để các ngươi phải chết đói và chết khát hay sao? 12. Không phải chính Ê-xê-chia đã dẹp bỏ những tế đàn trên những nơi cao và các bàn thờ, rồi truyền lịnh cho dân Giu-đa và dân Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Các ngươi chỉ thờ phượng trước một bàn thờ và chỉ dâng hương tại đó’ hay sao? 13. Các ngươi không biết ta và tổ phụ của ta đã làm gì cho tất cả các dân tộc tại nhiều xứ? Những thần của các dân tại những xứ đó có giải cứu được xứ của họ khỏi tay của ta hay không? 14. Có thần nào trong tất cả các thần của các dân tộc mà tổ phụ của ta đã tận diệt có thể giải cứu dân của thần đó khỏi tay của ta hay không? Làm thế nào Đức Chúa Trời của các ngươi có thể giải cứu các ngươi khỏi tay của ta? 15. Vì vậy bây giờ, đừng để Ê-xê-chia lừa dối hay thuyết phục các ngươi trong việc nầy. Đừng tin hắn bởi vì không có thần nào của dân nào hay của nước nào có thể giải cứu dân của thần đó khỏi tay của ta hay khỏi tay của tổ phụ của ta.”
- Các thuộc hạ của hắn còn nói thêm những lời khác xúc phạm đến Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời, và chống lại Ê-xê-chia, là tôi tớ của Ngài. 17. Hắn cũng viết nhiều thư để nhục mạ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và nói những lời xúc phạm đến Ngài rằng: “Thần của các dân tộc tại nhiều xứ không thể giải cứu chúng khỏi tay của ta, thì cũng vậy Ðức Chúa Trời của Ê-xê-chia cũng không thể giải cứu dân của Ngài khỏi tay của ta!” 18. Chúng đã nói thật lớn bằng ngôn ngữ của những người Giu-đa đang ở trên vách thành nhằm làm cho họ hoảng sợ để chúng có thể chiếm lấy thành. 19. Chúng đã nói về Đức Chúa Trời của Giê-ru-sa-lem như nói về các thần của những dân tộc trên đất – là sản phẩm bởi tay của con người.
- Sau đó, Vua Ê-xê-chia và Tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt, đã cầu nguyện và đã hướng lên trời để khẩn cầu về việc nầy. 21. Đức Giê-hô-va đã sai một thiên sứ hủy diệt tất cả những dũng sĩ, lãnh đạo và chỉ huy trong trại quân của vua A-sy-ri. Hắn đã rút lui về xứ của mình trong sự nhục nhã. Khi hắn vào đền thờ thần của hắn, vài người con của hắn đã dùng gươm giết hắn tại đó.
- Như vậy, Đức Giê-hô-va đã cứu Ê-xê-chia và dân cư Giê-ru-sa-lem khỏi tay của San-chê-ríp, vua của A-sy-ri, và khỏi tay tất cả những người khác. Ngài ban họ sự bình an từ mọi phía. 23. Nhiều người đã đem lễ vật đến dâng cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, và những tặng vật cho Ê-xê-chia, vua của Giu-đa. Từ đó về sau, vua được các nước tôn trọng.
- Trong những ngày đó, Ê-xê-chia bị bệnh gần chết nên đã cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va. Ngài đã phán với ông và đã ban cho ông một dấu lạ. 25. Nhưng Ê-xê-chia đã không đền đáp ơn phước của Ngài, bởi vì lòng của ông kiêu ngạo. Vì vậy, cơn thịnh nộ đã nổi lên cùng ông, cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 26. Tuy nhiên, Ê-xê-chia đã hạ mình xuống. Ông và dân Giê-ru-sa-lem không còn tự cao trong lòng nữa. Vì vậy, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã không giáng xuống trên họ trong đời của Ê-xê-chia.
- Ê-xê-chia trở nên rất giàu có và được tôn trọng. Ông xây những kho để chứa vàng bạc, đá quý, hương liệu, thuẫn khiên, và những vật dụng được yêu thích. 28. Ông đã xây những vựa để chứa ngũ cốc, rượu và dầu; và chuồng để nhốt súc vật, bầy chiên và bầy bò. 29. Ông cũng xây nhiều thành, sở hữu nhiều bầy chiên và bò, bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho ông rất nhiều của cải. 30. Chính Ê-xê-chia đã lấp thượng nguồn của suối Ghi-hôn và dẫn nó chảy ngầm dưới đất qua phía tây của thành Đa-vít. Ê-xê-chia được thành công trong mọi việc. 31. Tuy nhiên, khi các sứ giả do những lãnh đạo của Ba-by-lôn sai đến hỏi ông về việc diệu kỳ đã xảy ra trong xứ, Đức Chúa Trời đã lìa khỏi ông, thử nghiệm ông để biết những điều trong lòng của ông.
- Những hoạt động khác của Ê-xê-chia và những việc tốt đẹp mà ông đã thực hiện đã được chép trong Khải Tượng của Tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt, và trong sách Các Vua của Giu-đa và Y-sơ-ra-ên. 33. Ê-xê-chia đã an giấc cùng tổ phụ của mình và được an táng tại nơi cao trọng trong khu lăng tẩm của dòng dõi Đa-vít. Tất cả Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem đã bày tỏ sự tôn kính khi ông chết. Ma-na-se, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
33
- Ma-na-se được mười hai tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông trị vì năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. 2. Ông đã làm những việc gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, và đã làm theo những thói tục kinh tởm của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. 3. Ông đã xây lại các tế đàn trên những nơi cao mà Ê-xê-chia, cha của ông, đã dẹp bỏ. Ông đã xây dựng lại những bàn thờ cho Ba-anh, và các trụ thờ cho A-sê-ra. Ông đã thờ lạy các tinh tú trên trời và phục vụ chúng. 4. Ông đã xây những bàn thờ tà thần ngay trong khu vực Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi mà Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Danh của Ta sẽ ngự tại Giê-ru-sa-lem đời đời.” 5. Ông đã xây các bàn thờ cho các tinh tú trên trời ngay trong hai sân tại Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. 6. Ông đã dâng những con nhỏ của ông để làm tế lễ thiêu trong thung lũng Bên Hi-nôm. Ông tin vào bói toán, phù thủy, chiêm tinh, đồng cốt và cầu vong linh. Ông đã làm nhiều điều gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va để chọc giận Ngài. 7. Ông đem hình tượng mà ông đã làm, đem đặt nó trong Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời, tại nơi mà Ðức Chúa Trời đã phán với Ða-vít và Sa-lô-môn, con trai của ông, rằng: “Trong Ðền Thờ nầy tại Giê-ru-sa-lem, là nơi Ta đã chọn trong tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ đặt danh Ta tại đó đời đời. 8. Ta sẽ không bao giờ cất bỏ bàn chân của người Y-sơ-ra-ên khỏi mảnh đất mà Ta đã ban cho tổ phụ của họ nếu họ cẩn thận làm theo tất cả luật pháp, luật lệ, và mạng lịnh mà Ta đã truyền bởi Môi-se.” 9. Nhưng Ma-na-se đã xúi giục dân Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem làm những điều ác hơn các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã hủy diệt trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
- Đức Giê-hô-va đã phán với Ma-na-se và dân chúng, nhưng họ không lắng nghe. 11. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã cho các tướng chỉ huy quân đội của vua A-sy-ri đến đánh họ, dùng móc bắt Ma-na-se, lấy xích đồng trói lại, rồi giải về Ba-by-lôn. 12. Trong cơn hoạn nạn, ông đã tìm cầu Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và hết sức hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời của tổ phụ mình. 13. Ông đã cầu nguyện với Ngài và tha thiết cầu xin Ngài. Ngài đã nghe lời khẩn xin của ông, và đã cho ông được trở về Giê-ru-sa-lem trong vương quốc của ông. Lúc đó, Ma-na-se nhận biết Đức Giê-hô-va chính là Ðức Chúa Trời.
- Sau đó, ông đã xây lại bức tường bên ngoài thành của Ða-vít tại phía tây của Ghi-hôn trong thung lũng, cho đến lối vào Cổng Cá và vòng quanh cho đến Ô-phên. Ông đã xây nơi đó thật cao. Ông đã đặt các chỉ huy quân đội trong tất cả các thành kiên cố của Giu-đa. 15. Ông đã dẹp bỏ các thần ngoại bang và bức tượng ra khỏi Đền Thờ của Đức Giê-hô-va, cùng tất cả những bàn thờ mà ông đã xây trên núi của đền thờ Đức Giê-hô-va và tại Giê-ru-sa-lem, rồi ném chúng ra ngoài thành. 16. Sau đó, ông cho sửa sang lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va, dâng tế lễ bình an và tế lễ cảm tạ tại đó, rồi truyền dạy cho dân Giu-đa thờ phượng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 17. Tuy nhiên, dân chúng vẫn còn dâng tế lễ trên những nơi cao, dù chỉ dâng cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của mình mà thôi.
- Những công việc khác của Ma-na-se, lời cầu nguyện của ông với Đức Chúa Trời, những lời của các vị tiên kiến đã nhân danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, nói với ông, đều được chép trong sách Các Vua của Y-sơ-ra-ên. 19. Lời cầu nguyện của ông và như thế nào điều đó đã được nhậm, tất cả những tội lỗi ông, sự vi phạm của ông, những địa điểm tại những nơi cao mà ông đã dựng lên, trụ thờ A-sê-ra và những tượng chạm, trước khi ông hạ mình xuống – tất cả đều được chép trong sách của các vị tiên kiến. 20. Ma-na-se an giấc cùng tổ phụ mình. Người ta chôn ông trong cung điện của ông. A-môn, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
- A-môn được hai mươi hai tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông trị vì hai năm tại Giê-ru-sa-lem. 22. Ông đã làm điều gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va giống như Ma-na-se, là cha của ông, đã làm. A-môn đã dâng sinh tế cho tất cả các tượng chạm mà Ma-na-se, cha của ông, đã làm, rồi thờ phượng chúng. 23. Ông không hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va như Ma-na-se, là cha của ông, đã hạ mình. 24. Các tôi tớ của ông đã âm mưu phản ông. Chúng đã giết ông ngay trong cung điện của ông. 25. Dân chúng trong xứ đã giết tất cả những kẻ âm mưu chống nghịch Vua A-môn. Sau đó, dân chúng trong xứ đã lập Giô-si-a, con trai của ông, làm vua thay cho ông.
34
- Giô-si-a được tám tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông trị vì ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. 2. Ông làm điều đúng trong mắt của Đức Giê-hô-va, và đã đi theo đường lối của Đa-vít, tổ phụ của ông, không quay qua bên phải hoặc bên trái.
- Vào năm thứ tám trong đời trị vì của mình, khi còn trẻ tuổi, ông đã bắt đầu tìm kiếm Đức Chúa Trời của Đa-vít, là tổ phụ của mình. Vào năm thứ mười hai, ông đã bắt đầu loại bỏ khỏi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem những nơi cao, những trụ thờ A-sê-ra, những tượng chạm và những tượng đúc. 4. Trước sự hiện diện của ông, người ta đã đập nát những bàn thờ của Ba-anh. Ông đã triệt hạ những bàn thờ xông hương trên những nơi cao. Ông cho đập ra từng mảnh những trụ thờ A-sê-ra, những tượng chạm và những tượng đúc, nghiền chúng ra thành bụi, rồi đem rắc trên mộ của những kẻ đã cúng tế chúng. 5. Ông đã đốt xương cốt của các thầy cúng trên những bàn thờ của chúng. Ông đã thanh tẩy Giu-đa và Giê-ru-sa-lem như vậy. 6. Tại các thành trực thuộc Ma-na-se, Ép-ra-im, Si-mê-ôn, cho đến tận Nép-ta-li và những nơi hiểm trở chung quanh, 7. ông đã phá hủy những bàn thờ, những trụ thờ A-sê-ra và những hình tượng, rồi nghiền nát chúng thành tro bụi. Ông đã đập tan tất cả những bàn thờ dâng hương trên khắp lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên. Sau đó, ông trở về Giê-ru-sa-lem.
- Vào năm thứ mười tám trong đời trị vì của ông, sau khi đã dọn sạch xứ sở và đền thờ, ông đã sai Sa-phan – con trai của A-xa-lia, Ma-a-xê-gia – tổng trấn của kinh thành, và Giô-a – con trai của Giô-a-cha, là quan ngự sử, lo việc tu sửa Đền Thờ của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông. 9. Họ đã đến trao số tiền để tu bổ Đền Thờ của Đức Chúa Trời cho Thượng tế Hinh-kia. Đây là số tiền mà những người Lê-vi giữ cổng đã thâu nơi người Ma-na-se, Ép-ra-im, toàn thể những người còn lại của Y-sơ-ra-ên, và tất cả những người Giu-đa, Bên-gia-min, cùng dân cư Giê-ru-sa-lem. 10. Họ đã trao số tiền đó vào tay những người có trách nhiệm quản trị Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va. Những người nầy đã trao lại cho những người thợ để tu bổ và sửa sang Ðền Thờ. 11. Họ đã trao số tiền đó cho các thợ mộc và thợ nề để mua đá tảng được đẽo sẵn, và gỗ để làm sườn nhà và đà ngang cho các tòa nhà mà các vua Giu-đa đã để cho hư hỏng. 12. Những thợ đã làm việc rất tận tâm cùng với những viên quản đốc: Gia-hát và Ô-ba-đi-a – là những người Lê-vi thuộc dòng dõi của Mê-ra-ri; Xa-cha-ria và Mê-shu-lam – thuộc dòng dõi của Kê-hát; và những người Lê-vi khác – tất cả là những nhạc sĩ tài ba. 13. Họ cũng coi sóc những phu khuân vác và chỉ huy mọi công nhân làm đủ mọi công việc. Trong số những người Lê-vi, có người làm thư ký, viên chức, và người gác cổng.
- Trong khi người ta đem số tiền đã dâng vào Đền Thờ của Đức Giê-hô-va, Tư tế Hinh-kia cho biết ông đã tìm được cuốn sách Luật Pháp của Đức Giê-hô-va được ban cho Môi-se. 15. Hinh-kia nói với Thư ký Sa-phan: “Tôi đã tìm được cuốn sách luật pháp trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va.” Rồi Hinh-kia trao sách đó cho Sa-phan.
- Sa-phan đã đem cuốn sách trình cho vua, rồi thuật lại cho vua rằng: “Tất cả những công việc mà hoàng thượng đã giao cho các tôi tớ của ngài, họ đang thực hiện. 17. Họ đã lấy số tiền đã nhận được tại Đền Thờ của Đức Giê-hô-va, rồi trao vào tay của các quản đốc và vào tay của những người thợ.”
- Sau đó, Thư ký Sa-phan đã tâu với vua: “Tư tế Hinh-kia đã trao cho tôi một cuốn sách.” Rồi Sa-phan đọc sách đó trước mặt vua.
- Sau khi vua nghe những lời ghi được trong sách Luật Pháp, ông đã xé trang phục của mình. 20. Vua đã truyền cho Hinh-kia, A-hi-cam – con trai của Sa-phan, Áp-đôn – con trai của Mi-ca, Thư ký Sa-phan, và quan cận thần của vua là A-sa-gia: 21. “Hãy vì ta và vì những người còn sót lại của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa mà đi cầu hỏi Đức Giê-hô-va về những lời trong sách đã tìm được. Bởi vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đang giáng trên chúng ta rất lớn, vì các tổ phụ của chúng ta đã không tuân giữ những lời phán của Đức Giê-hô-va, và đã không làm theo những điều được ghi chép trong sách nầy.”
- Sau đó, Hinh-kia và những người vua đã chỉ định, đến gặp nữ Tiên tri Hun-đa, là vợ của Sa-lum – người giữ áo lễ, con trai của Tô-cát, cháu của Hát-ra. Bà cư trú tại quận Hai của Giê-ru-sa-lem. Họ đã hỏi bà về điều đó.
- Sau đó, bà nói với họ: “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Hãy nói với người đã sai các ông đến gặp tôi rằng 24. Đức Giê-hô-va đã phán: ‘Nầy, Ta sẽ khiến tai họa giáng trên nơi nầy và trên những cư dân của nó, theo như tất cả những lời nguyền rủa đã được chép trong sách mà người ta đã đọc trước mặt vua của Giu-đa. 25. Bởi vì chúng đã lìa bỏ Ta mà dâng hương cho các thần khác. Chúng đã chọc giận Ta bằng mọi thứ do tay của chúng làm ra, cho nên cơn thịnh nộ của Ta sẽ đổ xuống nơi nầy, và sẽ không ngớt.’ 26. Về phần vua của Giu-đa, là người đã sai các ngươi cầu hỏi Đức Giê-hô-va, các ngươi hãy nói với người rằng đây là lời của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán về những gì mà người đã nghe: 27. ‘Bởi vì ngươi đã mềm lòng, hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời khi nghe những lời Ngài phán nghịch lại nơi nầy và những cư dân tại đây. Ngươi đã hạ mình xuống trước mặt Ta, xé trang phục của mình và khóc lóc trước mặt Ta, cho nên Ta đã nghe ngươi.’ Đức Giê-hô-va phán như vậy. 28. ‘Nầy, Ta sẽ đem ngươi về cùng tổ phụ của ngươi. Ngươi sẽ được chôn cất bình an và mắt ngươi sẽ không thấy tất cả những tai họa mà Ta sẽ giáng xuống nơi nầy và những cư dân tại đây.’” Sau đó, họ đã đem những lời nầy trình lại cho vua.
- Sau đó, vua đã triệu tập tất cả các trưởng lão của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 30. Vua đã đi lên Đền Thờ của Đức Giê-hô-va, cùng với tất cả những người Giu-đa và cư dân của Giê-ru-sa-lem, các tư tế, những người Lê-vi, và toàn dân từ nhỏ cho đến lớn. Vua đã đọc vào tai của họ tất cả những lời đã được chép trong sách giao ước đã được tìm thấy trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va.
- Vua đã đứng tại chỗ của mình, lập một giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa nguyện sẽ bước đi theo Đức Giê-hô-va, vâng giữ những điều răn, những mạng lịnh, và những luật lệ của Ngài với cả tấm lòng và với cả linh hồn của mình, và sẽ làm theo mọi lời của giao ước đã được chép trong sách nầy. 32. Ông đã truyền cho tất cả cư dân tại Giê-ru-sa-lem và Bên-gia-min đang hiện diện đứng lên để cam kết. Vì vậy, dân cư Giê-ru-sa-lem đã thực hiện theo giao ước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.
- Giô-si-a đã loại bỏ tất cả những điều kinh tởm khỏi đất nước Y-sơ-ra-ên và làm cho mọi người đang sống trong nước Y-sơ-ra-ên phải thờ phượng và phụng sự Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của họ. Trọn đời của ông, họ đã không lìa bỏ việc đi theo Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.
35
- Giô-si-a đã giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem. Họ đã giết con sinh của lễ Vượt Qua vào ngày mười bốn tháng Giêng. 2. Ông đã sắp đặt các tư tế vào những chức vụ, rồi khuyến khích họ phục vụ trong Đền Thờ của Đức Giê-hô-va. 3. Ông đã nói với những người Lê-vi, đã từng dạy dỗ toàn dân Y-sơ-ra-ên và đã biệt mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va, rằng: “Hãy đặt Rương Thánh vào Đền Thờ mà Sa-lô-môn, con trai của Đa-vít, là vua của Y-sơ-ra-ên, đã xây dựng. Nó sẽ không còn là gánh nặng trên vai của các ngươi nữa. Bây giờ, hãy phục vụ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi, và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, 4. tùy theo gia tộc của các ngươi và theo phân ban của các ngươi, như đã được chép bởi Đa-vít, là vua của Y-sơ-ra-ên, và được chép bởi Sa-lô-môn, là con trai của người. 5. Hãy theo thứ tự của các phân ban trong gia tộc của tổ phụ các ngươi, và theo các phân ban trong chi tộc của người Lê-vi, để đứng trong nơi thánh thay cho cả dân tộc, là anh em của các ngươi. 6. Vì vậy, hãy giết những sinh tế của lễ Vượt Qua, hãy biệt riêng chính mình ra thánh, rồi chuẩn bị cho anh em của các ngươi, để họ có thể thực hiện đúng như lời của Đức Giê-hô-va và bởi tay của Môi-se.”
- Giô-si-a đã đóng góp ba mươi ngàn chiên và dê con, cùng ba ngàn con bò đực, được bắt từ những đàn súc vật của ông, để dân chúng dùng làm sinh tế cho lễ Vượt Qua. Tất cả là tài sản của vua. 8. Các triều thần của ông cũng tự ý góp phần cho dân chúng, cho các tư tế, và cho những người Lê-vi. Hinh-kia, Xa-cha-ri và Giê-hi-ên, là những người điều hành tại Đền Thờ của Đức Chúa Trời, đã cấp cho các tư tế hai ngàn sáu trăm con chiên và ba trăm con bò để dùng cho lễ Vượt Qua. 9. Cô-na-nia, và những anh em của ông là Sê-ma-gia và Na-tha-na-ên, cùng với Ha-sa-bia, Giê-i-ên và Giô-xa-bát, là những lãnh đạo của người Lê-vi, đã cung cấp cho những người Lê-vi năm ngàn con chiên và năm trăm con bò để dùng cho lễ Vượt Qua.
- Sau khi công việc chuẩn bị đã sẵn sàng, các tư tế đã đứng vào vị trí của mình, và những người Lê-vi đã đứng theo những ban ngành của họ theo lệnh của vua. 11. Họ đã giết sinh tế cho lễ Vượt Qua. Các tư tế dùng tay rảy huyết, còn những người Lê-vi thì lột da thú vật. 12. Họ đem tế lễ thiêu đi để phân phát cho những gia đình trong dân chúng đã dâng cho Đức Giê-hô-va, như đã được chép trong sách của Môi-se. Họ cũng làm như vậy với những con bò đực. 13. Họ đã nướng sinh tế của lễ Vượt Qua trên lửa như đã quy định. Còn các vật thánh khác, thì họ nấu trong những cái nồi, những cái vạc, và những cái chảo. Nấu xong họ vội vàng đem phân phát cho dân chúng.
- Sau cùng, họ chuẩn bị phần cho họ và cho các tư tế, bởi vì các tư tế trong dòng A-rôn đã bận rộn dâng những tế lễ thiêu và mỡ cho đến tối. Vì vậy, những người Lê-vi đã chuẩn bị phần cho họ và cho các tư tế thuộc dòng A-rôn. 15. Các ca sĩ, con cháu của A-sáp, đứng tại vị trí của họ mà ca ngợi, theo lệnh của Ða-vít, của A-sáp, của Hê-man, của Giê-đu-thun, là vị tiên kiến của vua; và những người giữ cửa vẫn ở tại các cửa. Những người nầy không phải rời khỏi vị trí của họ, bởi vì những người Lê-vi, là bà con của họ, đã chuẩn bị sẵn phần cho họ, rồi mang đến cho họ.
- Như vậy, tất cả mọi việc chuẩn bị để giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va trong ngày hôm đó đã được thực hiện. Họ đã dâng các tế lễ thiêu trên bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, theo lệnh của Giô-si-a. 17. Những người Y-sơ-ra-ên hiện diện tại đó trong dịp nầy đã giữ lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men trong bảy ngày. 18. Kể từ thời của Tiên tri Sa-mu-ên, tại Y-sơ-ra-ên chưa bao giờ có lễ Vượt Qua nào được tổ chức giống như vậy. Cũng không một vua nào của Y-sơ-ra-ên đã giữ lễ Vượt Qua như Giô-si-a đã giữ. Các tư tế, những người Lê-vi, và toàn thể dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên đã tham dự chung với dân cư của Giê-ru-sa-lem. 19. Lễ Vượt Qua này đã được cử hành vào năm thứ mười tám trong triều đại của Giô-si-a.
- Sau khi Giô-si-a đã hoàn tất việc tái lập sự thờ phượng tại Đền Thờ, thì Nê-cô, vua của Ai Cập, đã đem quân lên tấn công Cạt-kê-mít, gần Ơ-phơ-rát. Giô-si-a đã kéo quân ra chống cự. 21. Nê-cô đã sai sứ giả đến nói với ông: “Vua của Giu-đa! Tôi với ngài không có chuyện gì. Hôm nay tôi đến đây không phải để tấn công ngài, nhưng tấn công nhà thù nghịch với tôi. Đức Chúa Trời truyền cho tôi hãy thực hiện việc này nhanh chóng. Vì vậy, xin đừng chống lại Đức Chúa Trời, Đấng đang ở với tôi. Đừng để Ngài hủy diệt ông.”
- Nhưng Giô-si-a đã không chịu ngoảnh mặt khỏi đó, ông không chịu nghe lời của Đức Chúa Trời đã dùng Nê-cô nói ra, nhưng chính ông đã cải trang để có thể nghênh chiến. Ông đã kéo đến để tranh chiến tại thung lũng Mê-ghi-đô. 23. Những người lính bắn cung đã bắn trúng Vua Giô-si-a. Vua nói với những thuộc hạ của ông: “Hãy đem ta ra khỏi đây, bởi vì ta đã bị thương nặng.” 24. Những thuộc hạ của ông đã đem ông ra khỏi xe chiến mã đó, rồi đặt ông trên một xe chiến mã thứ hai mà ông có, rồi đem ông về Giê-ru-sa-lem. Ông đã chết, và được chôn trong phần mộ của tổ phụ ông. Toàn thể Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đã than khóc Giô-si-a.
- Giê-rê-mi đã viết bài ai ca về Giô-si-a. Tất cả các nam ca sĩ và nữ ca sĩ vẫn còn hát những bài ai ca về Giô-si-a cho đến ngày nay; và điều đó đã trở thành một thông lệ trong Y-sơ-ra-ên. Thật vậy, chúng được chép trong sách Ai Ca.
- Những công việc khác của Giô-si-a, những điều tốt đẹp mà ông đã làm theo những điều đã được chép trong sách luật pháp của Đức Giê-hô-va, 27. cùng những việc làm của ông, từ đầu cho đến cuối – Kìa, chúng đều được chép trong sách Các Vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
36
- Sau đó, dân chúng trong xứ đã tôn Giô-a-cha, con trai của Giô-si-a, làm vua thay cho cha của ông tại Giê-ru-sa-lem. 2. Giô-a-cha được hai mươi ba tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông trị vì được ba tháng tại Giê-ru-sa-lem. 3. Tuy nhiên, vua của Ai Cập đã truất ngôi của Giô-a-cha tại Giê-ru-sa-lem, rồi bắt dân Giu-đa cống nạp một trăm ta-lâng bạc và một ta-lâng vàng. 4. Sau đó, vua của Ai Cập đã lập Ê-li-a-kim, anh của Giô-a-cha, làm vua của Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem, rồi đổi tên thành Giê-hô-gia-kim; nhưng Vua Nê-cô đã bắt em của ông là Giô-a-cha đem về Ai Cập.
- Giê-hô-gia-kim được hai mươi lăm tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông trị vì mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Ông đã làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của ông. 6. Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã tấn công ông, xiềng ông bằng xích đồng, rồi giải về Ba-by-lôn. 7. Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy những vật dụng tại Đền Thờ của Đức Giê-hô-va đem về Ba-by-lôn, rồi để trong đền thờ của ông tại Ba-by-lôn. 8. Những công việc khác của Giê-hô-gia-kim, những việc kinh tởm mà ông đã làm, cùng những việc khác của ông – Kìa, chúng đều được chép trong sách Các Vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Giê-hô-gia-kin, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
- Giê-hô-gia-kin được mười tám tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông trị vì ba tháng mười ngày tại Giê-ru-sa-lem. Ông làm điều gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va. 10. Vào đầu năm, Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã sai người bắt giải ông đem về Ba-by-lôn cùng với những vật dụng quý giá của Đền Thờ Đức Giê-hô-va, rồi lập em của ông là Sê-đê-kia làm vua của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
- Sê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông trị vì mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. 12. Ông làm điều gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông. Ông không hạ mình xuống trước mặt Giê-rê-mi, là người công bố lời tiên tri từ miệng của Đức Giê-hô-va. 13. Ông đã nổi loạn chống lại Vua Nê-bu-cát-nết-sa, là người đã buộc ông phải nhân danh Đức Chúa Trời mà thề. Nhưng ông đã trở nên cứng cổ, cứng lòng, không trở về cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 14. Thêm vào đó, tất cả trưởng tế và dân chúng đều phạm tội rất nặng. Họ đã làm theo tất cả những điều kinh tởm của các dân tộc chung quanh. Họ đã làm ô uế Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi mà Ngài đã biệt riêng ra thánh tại Giê-ru-sa-lem.
- Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, bởi vì Ngài thương xót dân của Ngài, cho nên từ nơi ngự của Ngài, Ngài đã dậy sớm, sai các sứ giả đến với họ. 16. Nhưng họ đã nhạo báng các sứ giả của Đức Chúa Trời, xem thường lời của Ngài, chế nhạo các tiên tri của Ngài, cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân của Ngài, thì không thể cứu chữa.
- Vì vậy, Ngài đã sai vua của dân Canh-đê đến đánh họ. Ông đã dùng gươm giết các thanh niên ngay tại đền thánh của họ không chút thương xót. Bất kể thanh niên hay thiếu nữ, người cao tuổi hay kẻ già yếu, Ngài đã phó tất cả vào tay của ông. 18. Ông đã đem về Ba-by-lôn tất cả những vật dụng trong Ðền Thờ Ðức Chúa Trời bất kể lớn hay nhỏ, những đồ vật trong các kho tàng của Ðền Thờ của Đức Giê-hô-va, trong các kho tàng của vua, và trong các kho tàng của những bầy tôi của vua. 19. Sau đó, chúng đã thiêu hủy Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời, đập phá tường thành Giê-ru-sa-lem, dùng lửa thiêu đốt các cung điện, rồi phá hủy tất cả những gì có giá trị. 20. Những ai còn sót lại không bị giết bằng gươm thì bị bắt lưu đày sang Ba-by-lôn. Họ đã trở thành nô lệ cho ông và con cháu của ông cho đến thời trị vì của vương quốc Ba-tư. 21. Điều đó ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua miệng của Giê-rê-mi rằng đất được hưởng bù những năm sa-bát của nó. Suốt thời gian bị bỏ hoang, đất được nghỉ ngơi cho đến khi bảy mươi năm được trọn.
- Vào năm thứ nhất của triều đại Si-ru, vua của Ba-tư, để làm ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua miệng của Giê-rê-mi, Đức Giê-hô-va đã tác động tâm linh của Si-ru, vua của Ba-tư, khiến ông ra một chiếu chỉ, công bố khắp đế quốc, và cũng được viết xuống, rằng: 23. “Si-ru, là vua của Ba-tư và của tất cả các vương quốc trên trần gian mà Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời ở trên trời đã ban cho ta, công bố như thế nầy: Ngài đã truyền cho ta xây cất cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, thuộc xứ Giu-đa. Vì vậy, ai trong các ngươi là dân của Ngài, nguyện Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của người ấy ở cùng người ấy, và hãy tiến lên.”
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl