Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: I Sử Ký

Bản Dịch Việt Ngữ: I Sử Ký

I Sử Ký

1

  1. A-đam, Sết, Ê-nót, 2. Kê-nan, Ma-ha-la-le, Giê-rệt, 3. Hê-nóc, Mê-tu-sê-la, Lê-méc, 4. Nô-ê, Sem, Cham và Gia-phết.
  2. Các con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra. 6. Các con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Đi-phát, và Tô-ga-ma. 7. Các con trai của Gia-van là Ê-li-sa, Ta-rê-si, Kít-tim, và Rô-đa-nim.
  3. Các con trai của Cham là Cút, Mích-ra-im, Phút, và Ca-na-an.
  4. Các con trai của Cút là Sê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma, và Sáp-tê-ca. Các con trai của Ra-ê-ma là Sê-ba, và Đê-đan. 10. Cút là cha của Nim-rốt – ông là người anh hùng đầu tiên trên mặt đất.
  5. Mích-ra-im sinh ra dân Lu-đim, A-na-mim, Lê-ha-bim, Náp-tu-him, 12. Phát-ru-sim, Cách-lu-him (là tổ phụ của dân Phi-li-tin), và dân Cáp-tô-rim.
  6. Ca-na-an sinh Si-đôn, là trưởng nam, rồi sinh Hếch, 14. và dân Giê-bu-sít, A-mô-rít, Ghi-rê-ga-sít, 15. Hê-vít, A-rê-kít, Si-nít, 16. A-va-đít, Xê-ma-rít, và Ha-ma-tít.
  7. Các con trai của Sem là Ê-lam, A-su-rơ, A-pác-sát, Lút, A-ram, Út-xơ, Hu-lơ, Ghê-te, và Mê-siếc. 18. A-pác-sát là cha của Sê-lách; Sê-lách là cha của Hê-be. 19. Hê-be sinh được hai con trai: Một người tên là Pê-léc; vì vào thời đó, đất đã bị phân chia; còn người em tên là Giốc-tan. 20. Giốc-tan là cha của A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết, Giê-rách, 21. Ha-đô-ram, U-xa, Điếc-la, 22. Ê-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba, 23. Ô-phia, Ha-vi-la, và Giô-báp. Tất cả những người này là con trai của Giốc-tan.
  8. Sem, A-pác-sát, Sê-lách, 25. Hê-be, Pê-léc, Rê-hu, 26. Sê-rúc, Na-cô, Tha-rê, 27. Áp-ram, về sau gọi là Áp-ra-ham.
  9. Các con trai của Áp-ra-ham là Y-sác và Ích-ma-ên. 29. Đây là dòng dõi của họ: Con trưởng nam của Ích-ma-ên là Nê-ba-giốt; kế đến là: Kê-đa, Át-bê-ên, Mi-bô-sam, 30. Mích-ma, Đu-ma, Ma-sa, Ha-đát, Thê-ma, 31. Giê-thu, Na-phích, và Kết-ma. Những người này là các con trai của Ích-ma-ên.
  10. Kê-tu-ra, vợ kế của Áp-ra-ham, sinh các con trai là Xim-ram, Giốc-san, Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác, và Su-ách. Các con trai của Giốc-san là Sê-ba và Đê-đan. 33. Các con trai của Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa, và Ên-đa. Tất cả những người nầy là con cháu của Kê-tu-ra.
  11. Áp-ra-ham sinh Y-sác. Các con trai của Y-sác là Ê-sau và Y-sơ-ra-ên.
  12. Các con trai của Ê-sau là Ê-li-pha, Rê-u-ên, Giê-úc, Gia-lam, và Cô-ra. 36. Các con trai của Ê-li-pha là Thê-man, Ô-ma, Xê-phi, Ga-tham, Kê-na, Thim-na, và A-ma-léc. 37. Các con trai của Rê-u-ên là Na-hát, Xê-rách, Sam-ma, và Mích-xa.
  13. Các con trai của Sê-i-rơ là Lô-than, Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na, Đi-sôn, Ét-xe, và Đi-san. 39. Các con trai của Lô-than là Hô-ri và Hô-man; Thim-na là em gái của Lô-than. 40. Các con trai của Sô-banh là A-li-an, Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phi, và Ô-nam. Các con trai của Xi-bê-ôn là Ai-gia và A-na. 41. Con trai của A-na là Đi-sôn. Các con trai của Đi-sôn là Ham-ran, Ếch-ban, Dít-ran, và Kê-ran. 42. Các con trai của Ét-xe là Binh-han, Xa-van, và Gia-a-can. Các con trai của Đi-san là Út-xơ, và A-ran.
  14. Trước khi dân Y-sơ-ra-ên có vua cai trị, đây là các vua trị vì xứ Ê-đôm:

Bê-la, con trai của Bê-ô; kinh đô là Đin-ha-ba.

  1. Khi Bê-la chết, Giô-báp, con trai của Xê-rách, người Bốt-ra, kế vị.
  2. Khi Giô-báp chết, Hu-sam, người xứ Thê-man, kế vị.
  3. Khi Hu-sam chết, Ha-đát, con trai của Bê-đát, kế vị; chính vua nầy đã đánh bại dân Ma-đi-an trong cánh đồng xứ Mô-áp; kinh đô là A-vít.
  4. Khi Ha-đát chết, Sam-la, người Ma-rê-ca, kế vị.
  5. Khi Sam-la chết, Sau-lơ, người Rê-hô-bốt, thuộc vùng sông Ơ-phơ-rát, kế vị.
  6. Khi Sau-lơ chết, Ba-anh Ha-nan, con của Ạc-bồ, kế vị.
  7. Khi Ba-anh Ha-nan chết, Ha-đát kế vị; kinh đô là Pha-i; vợ vua tên là Mê-hê-ta-bê-ên, con gái của Mát-rết, cháu ngoại Mê-xa-háp. 51. Sau đó, Ha-đát băng hà.

Các tộc trưởng của Ê-đôm là: tộc trưởng Thim-na, tộc trưởng A-li-a, tộc trưởng Giê-tết, 52. tộc trưởng Ô-hô-li-ba-ma, tộc trưởng Ê-la, tộc trưởng Phi-nôn, 53. tộc trưởng Kê-na, tộc trưởng Thê-man, tộc trưởng Mép-xa, 54. tộc trưởng Mác-đi-ên, và tộc trưởng Y-ram. Đó là các tộc trưởng của Ê-đôm.

 

2

  1. Con trai của Y-sơ-ra-ên là Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, 2. Đan, Giô-sép, Bên-gia-min, Nép-ta-li, Gát, và A-se.
  2. Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, và Sê-la. Ba người nầy do Bát Su-a, người Ca-na-an, sinh cho Giu-đa. Ê-rơ, con trưởng nam của Giu-đa, làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, nên Ngài đã cho ông bị chết. 4. Ta-ma, là dâu của Giu-đa, sinh cho ông Phê-rết và Xê-rách, cho nên Giu-đa có tất cả năm con trai.
  3. Con trai của Phê-rết là Hết-rôn và Ha-mun.
  4. Con trai của Xê-rách là Xim-ri, Ê-than, Hê-man, Canh-côn, và Đa-ra. Tất cả là năm người. 7. Con trai của Cạt-mi là A-ca, là kẻ gây tai họa cho Y-sơ-ra-ên, vì đã lấy vật cấm. 8. Con trai của Ê-than là A-xa-ria.
  5. Các con trai của Hết-rôn, tức là những người đã được sinh cho ông, là Giê-rác-mê-ên, Ram, và Kê-lu-bai. 10. Ram sinh A-mi-na-đáp, A-mi-na-đáp sinh Na-ha-sôn, là một lãnh đạo của người Giu-đa. 11. Na-ha-sôn sinh Sanh-ma, Sanh-ma sinh Bô-ô. 12. Bô-ô sinh Ô-bết, Ô-bết sinh Gie-sê.
  6. Gie-sê sinh con đầu lòng là Ê-li-áp, thứ nhì là A-bi-na-đáp, thứ ba là Si-mê-a, 14. thứ tư là Na-tha-na-ên, thứ năm là Ra-đai, 15. thứ sáu là Ô-xem, thứ bảy là Đa-vít. 16. Xê-ru-gia và A-bi-ga-in là chị em của những người đó. Xê-ru-gia có ba người con là A-bi-sai, Giô-áp, và A-sa-ên. 17. A-bi-ga-in sinh A-ma-sa; cha của A-ma-sa là Giê-the, người Ích-ma-ên.
  7. Ca-lép, con trai của Hết-rôn, lấy vợ là A-xu-ba người Giê-ri-ốt. Các con trai của nàng là Giê-se, Sô-báp, và Ạt-đôn. 19. Khi A-xu-ba qua đời, Ca-lép lấy Ê-phơ-rát làm vợ. Bà sinh Hu-rơ cho ông. 20. Hu-rơ sinh U-ri, U-ri sinh Bết-sa-lê-ên.
  8. Sau đó, khi Hết-rôn đã được sáu mươi tuổi thì cưới con gái của Ma-ki, là cha của Ga-la-át. Ông đến với bà, và bà đã sinh Sê-gúp. 22. Sê-gúp sinh Giai-rơ, là người có hai mươi ba thành tại xứ Ga-la-át. 23. Nhưng dân Ghê-su-rơ và dân Sy-ri chiếm các thành của Giai-rơ và Kê-nát, cùng với những vùng phụ cận gồm sáu mươi thành. Tất cả những người đó đều là con cháu của Ma-ki, là cha của Ga-la-át. 24. Sau khi Hết-rôn qua đời tại Ca-lép Ép-ra-ta, vợ của Hết-rôn là A-bi-gia đã sinh cho ông một con trai là A-su-rơ, cha của Thê-cô-a.
  9. Các con trai của Giê-rác-mê-ên, con trưởng nam của Hết-rôn, là Ram, Bu-na, Ô-ren, Ô-xem và A-hi-gia. 26. Giê-rác-mê-ên lấy một người vợ nữa tên là A-ta-ra. Bà là mẹ của Ô-nam. 27. Các con trai của Ram, con trưởng nam của Giê-rác-mê-ên, là Ma-ách, Gia-min và Ê-ke. 28. Các con trai của Ô-nam là Sha-mai và Gia-đa. Các con trai của Sha-mai là Na-đáp và A-bi-su. 29. Vợ của A-bi-su tên là A-bi-hai. Bà đã sinh Ạc-ban và Mô-lít. 30. Các con trai của Na-đáp là Sê-lê và Áp-ba-im. Sê-lê qua đời không có con. 31. Con trai của Áp-ba-im là Di-si. Con trai của Di-si là Sê-san và con trai của Sê-san là Ạc-lai. 32. Các con trai của Gia-đa, em của Sa-mai là Giê-the và Giô-na-than. Giê-the qua đời không con. 33. Các con trai của Giô-na-than là Phê-lết và Xa-xa. Đó là những con cháu của Giê-rác-mê-ên.
  10. Sê-san không có con trai, chỉ có con gái. Ông có một người tôi tớ Ai Cập tên Gia-ra. 35. Sê-san gả con gái mình làm vợ cho người đầy tớ. Bà đã sinh Ạt-tai. 36. Ạt-tai sinh Na-than, Na-than sinh Xa-bát, 37. Xa-bát sinh Ép-la, Ép-la sinh Ô-bết, 38. Ô-bết sinh Giê-hu, Giê-hu sinh A-xa-ria, 39. A-xa-ria sinh Hê-lết, Hê-lết sinh Ê-la-xa, 40. Ê-la-xa sinh Sít-mai, Sít-mai sinh Sa-lum, 41. Sa-lum sinh Giê-ca-mia, Giê-ca-mia sinh Ê-li-sa-ma.
  11. Các con trai của Ca-lép, em Giê-rác-mê-ên, là Mê-sa, con trưởng nam, người là tổ phụ của Xíp, và các con trai của Ma-rê-sa, là tổ phụ của Hếp-rôn. 43. Các con trai của Hếp-rôn là Cô-ra, Táp-bua, Rê-kem và Sê-ma. 44. Sê-ma sinh Ra-cham, tổ phụ của Giô-kê-am; Rê-kem sinh Sa-mai. 45. Con trai của Sa-mai là Ma-ôn và Ma-ôn là tổ phụ của Bết-sua. 46. Ê-pha, hầu thiếp của Ca-lép, sinh Ha-ran, Một-sa và Ga-xe; Ha-ran sinh Ga-xe. 47. Các con trai của Gia-đai là Rê-ghem, Giô-than, Ghê-san, Phê-lết, Ê-pha và Sa-áp. 48. Một nàng hầu khác của Ca-lép là Ma-a-ca sinh Sê-be và Ti-ra-na. 49. Nàng cũng sinh Sa-áp là tổ phụ của Mát-ma-na, và Sê-va là tổ phụ của Mác-bê-na và Ghi-bê-a, và Ạc-sa là con gái Ca-lép.
  12. Đây là dòng dõi của Ca-lép, thuộc con cháu của Hu-rơ, con trưởng nam của Ê-phơ-rát: Sô-banh là người sáng lập Ki-ri-át Giê-a-rim, 51. Sanh-ma là người sáng lập Bết-lê-hem, Ha-rép là người sáng lập Bết Ga-đe. 52. Sô-banh, người sáng lập Ki-ri-át Giê-a-rim, có con cháu là Ha-rô-ê và một nửa dân Mê-nu-hốt. 53. Những dòng dõi sống tại Ki-ri-át Giê-a-rim là Dít-rít, Phu-tít, Su-ma-tít và Mích-ra-ít. Dân Xô-ra-tít và Ếch-tao-lít xuất phát từ những dòng dõi này. 54. Con cháu của Sanh-ma tại Bết-lê-hem là dân Nê-tô-pha-tít, dân Ạt-rốt Bết Giô-áp, một nửa dân Ma-na-ha-tít, và dân Xô-rít. 55. Những gia tộc của các học giả giáo luật ở tại Gia-bết là Ti-ra-tít, Si-ma-tít và Su-ca-tít. Họ là con cháu của dân Kê-nít đến từ Ha-mát, tổ phụ của nhà Rê-cáp.

 

3

  1. Đây là các con trai của Đa-vít, đã sinh cho ông tại Hếp-rôn: Trưởng nam là Am-môn, con của A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên. Người thứ hai là Đa-ni-ên, con của A-bi-ga-in, người Cạt-mên. 2. Người thứ ba là Áp-sa-lôm, con của Ma-a-ca, là con gái của Thanh-mai, vua của xứ Ghê-su-rơ. Người thứ tư là A-đô-ni-gia, con của Ha-ghít. 3. Người thứ năm là Sê-pha-tia, con của A-bi-tanh. Người thứ sáu là Dít-rê-am, con của Éc-la, là vợ của Đa-vít. 4. Sáu người con nầy đã được sinh cho ông tại Hếp-rôn, là nơi ông đã trị vì bảy năm sáu tháng. Ông trị vì ba mươi ba năm tại Giê-ru-sa-lem.
  2. Đây là các con trai của Đa-vít, đã sinh cho ông tại Giê-ru-sa-lem: Si-mê-a, Sô-báp, Na-than, và Sa-lô-môn. Bốn người nầy là con của Bát-sua, con gái của A-mi-ên. 6. Cũng có Gi-ba, Ê-li-sa-ma, Ê-li-phê-lết, 7. Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia, 8. Ê-li-sa-ma, Ê-li-gia-đa và Ê-li-phê-lết. Tổng cộng là chín người.
  3. Họ là những con trai của Đa-vít, chưa kể các con trai của những cung phi. Ta-ma là chị em của họ.
  4. Con trai của Sa-lô-môn là Rô-bô-am, có con trai là A-bi-gia, có con trai là A-sa, có con trai là Giê-hô-sa-phát, 11. có con trai là Giô-ram, có con trai là A-cha-xia, có con trai là Giô-ách, 12. có con trai là A-ma-xia, có con trai là A-xa-ria, có con trai là Giô-tham, 13. có con trai là A-cha, có con trai là Ê-xê-chia, có con trai là Ma-na-se, 14. có con trai là A-môn, có con trai là Giô-si-a. 15. Các con trai của Giô-si-a là: Giô-ha-nan, con trưởng nam, người thứ nhì là Giê-hô-gia-kim, người thứ ba là Sê-đê-kia, và người thứ tư là Sa-lum. 16. Các con trai của Giê-hô-gia-kim là Giê-chô-nia và Sê-đê-kia. 17. Các con trai của Giê-chô-nia, người bị lưu đày, là Sa-la-thi-ên, 18. Manh-ki-ram, Phê-đa-gia, Sê-na-xa, Giê-ca-mia, Hô-sa-ma và Nê-đa-mia. 19. Các con trai của Phê-đa-gia là: Xô-rô-ba-bên và Si-mê-i. Các con trai của Xô-rô-ba-bên là Mê-su-lam và Ha-na-nia. Sê-lô-mi là chị em của họ, 20. và năm người nữa là Ha-su-ba, Ô-hên, Bê-rê-kia, Ha-sa-đia và Du-sáp Hê-sết. 21. Các con trai của Ha-na-nia là Phê-la-tia và I-sa, các con trai của Rê-pha-gia, các con trai của Ạc-nan, các con trai của Ô-ba-đia và các con trai của Sê-ca-nia. 22. Con trai của Sê-ca-nia là Sê-ma-gia. Các con trai của Sê-ma-gia là Hát-túc, Di-ganh, Ba-ria, Nê-a-ria, Sa-phát và Sô-phát, gồm sáu người. 23. Các con trai của Nê-a-ria là Ê-li-ô-ê-nai, Ê-xê-chia, và A-ri-kham, gồm ba người. 24. Các con trai của Ê-li-ô-ê-nai là Hô-đa-via, Ê-li-a-síp, Phê-la-gia, A-cúp, Giô-ha-nan, Đê-la-gia và A-na-ni, gồm bảy người.

 

4

  1. Các con trai của Giu-đa là: Phê-rết, Hết-rôn, Cạt-mi, Hu-rơ và Sô-banh. 2. Rê-a-gia, con trai của Sô-banh, sinh Gia-hát; Gia-hát sinh A-hu-mai và La-hát. Họ thuộc về các gia tộc của Xô-ra-tít.
  2. Đây là các con của Ê-tam: Gít-rê-ên, Dít-ma và Di-ba. Em gái của họ có tên là Ha-sê-lê-bô-ni.
  3. Phê-nu-ên là tổ phụ của Ghê-đô, và Ê-xe là tổ phụ của Hu-sa. Những người này là con cháu của Hu-rơ, con trưởng nam của Ép-ra-ta, tổ phụ của Bết-lê-hem.
  4. A-sua, tổ phụ của Thê-cô-a, có hai người vợ là Hê-lê-a và Na-a-ra. 6. Na-a-ra sinh A-hu-xam, Hê-phe, Thê-mê-ni, và A-hách-tha-ri. Những người này là các con trai của Na-a-ra.
  5. Các con trai của Hê-lê-a là Xê-rết, Dít-sê-ha, và Ết-nan. 8. Ha-cốt sinh A-núp, Hát-xô-bê-ba và các gia tộc của A-ha-bên, là con của Ha-rum.
  6. Gia-bê được tôn trọng hơn các anh em của mình. Mẹ của ông đã đặt tên là Gia-bê, vì nói rằng: “Ta đã sinh nó trong sự đau đớn.” 10. Gia-bê đã cầu khẩn Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên rằng: “Cầu xin Chúa ban phước cho con. Cầu xin Ngài mở rộng bờ cõi của con. Nguyện tay của Ngài ở cùng con và bảo vệ con khỏi những tai họa và đau khổ.” Đức Chúa Trời đã ban cho ông những điều ông cầu xin.
  7. Kê-lúp, anh của Su-ha, sinh Mê-hia, là tổ phụ của Ê-tôn. 12. Ê-tôn sinh Ra-pha, Pha-sê-a và Tê-hi-na, tổ phụ của I-na-hách. Họ là người Rê-ca.
  8. Các con trai của Kê-na là Ốt-ni-ên và Sê-ra-gia. Con trai của Ốt-ni-ên là Ha-thát.
  9. Mê-ô-nô-thai sinh Óp-ra; Sê-ra-gia sinh Giô-áp, là người đã lập Thung Lũng Thợ Thủ Công, bởi vì họ là những thợ thủ công.
  10. Các con trai của Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là Y-ru, Ê-la và Na-am. Con trai của Ê-la là Kê-na.
  11. Các con trai của Giê-ha-lê-le là Xíp, Xi-pha, Thi-ria và A-sa-rên.
  12. Các con trai của E-xơ-ra là Giê-the, Mê-rết, Ê-phe và Gia-luân. Vợ của Mê-rết sinh Mi-ri-am, Sa-mai và Dít-bác, tổ phụ của Ếch-tê-mô-a. 18. Một người vợ khác của ông là người Giu-đa đã sinh Giê-rệt, là người đã sáng lập Ghê-đô; Hê-be, người sáng lập Sô-cô; và Giê-cu-ti-ên, người sáng lập Xa-nô-a. Họ là con cháu của Bi-thia, con gái của Pha-ra-ôn, mà Mê-rết đã cưới.
  13. Các con trai của vợ của Hô-đia, em gái của Na-ham, là cha của Kê-hi-la, người Hạc-mít, và Ếch-tê-mô-a, người Ma-ca-thít.
  14. Các con trai của Si-môn là Am-nôn, Ri-na, Bên Ha-nan, và Ti-lôn. Các con trai của Di-si là Xô-hết và Bên Xô-hết.
  15. Các con trai của Sê-la, con trai của Giu-đa, là Ê-rơ, tổ phụ của Lê-ca, La-ê-đa, tổ phụ của Ma-rê-sa, và dòng dõi của những người dệt vải tại Bết Ách-bê-a.
  16. Giô-kim, những người Cô-xê-ba, Giô-ách và Sa-ráp, người cai trị vùng Mô-áp và Gia-su-bi Lê-chem. Những điều nầy đã được ký thuật từ xa xưa. 23. Những người nầy là thợ gốm. Họ cư ngụ tại Nê-ta-im và Ghê-đê-ra. Họ sống ở đó với vua để phục vụ vua.
  17. Dòng dõi của Si-mê-ôn là Nê-mu-ên, Gia-min, Gia-ríp, Xê-ra và Sau-lơ. 25. Sa-lum con trai của ông; Míp-sam con trai của ông, Mích-ma con trai của ông. 26. Dòng dõi của Mích-ma là Ha-mu-ên với con trai của ông; Xa-cu với con trai của ông; và Si-mê-i với các con của ông. 27. Si-mê-i có mười sáu con trai và sáu con gái, nhưng anh em của ông không có nhiều con. Cả gia tộc của họ không đông bằng người Giu-đa. 28. Họ ở tại Bê-e Sê-ba, Mô-la-đa, Ha-xa Su-anh, 29. Bi-la, Ê-xem, Tô-lát, 30. Bê-tu-ên, Họt-ma, Xiếc-lác, 31. Bết Ma-ca-bốt, Hát-sa Su-sim, Bết Bi-rê, và Sa-a-ra-im. Đó là các thành của họ cho đến khi Vua Đa-vít trị vì. 32. Họ cũng có năm thị trấn là Ê-tam, A-in, Rim-môn, Tô-ken, và A-san, 33. cùng những vùng phụ cận của các thị trấn nầy cho đến tận Ba-anh. Đó là những nơi cư ngụ và phổ hệ của họ.
  18. Mê-sô-báp, Giam-léc, Giô-sa, con của A-ma-xia; 35. Giô-ên và Giê-hu, con trai của Giô-xơ-bia, cháu của Sê-ra-gia, chắt của A-si-ên; 36. Ê-li-ô-ê-nai, Gia-cô-ba, Giê-sô-hai-gia, A-sa-gia, A-đi-ên, Giê-si-mi-ên, Bê-na-gia, 37. Xi-xa, con trai của Si-phi, cháu của A-lôn, chắt của Giê-đa-gia, chít của Sim-ri, con trai của Sê-ma-gia. 38. Những người có danh tánh được nhắc đến ở trên là những lãnh đạo trong các gia tộc của họ. Gia đình của họ đã gia tăng rất nhiều. 39. Họ đã chuyển đến lối vào của Ghê-đô về phía đông của thung lũng để tìm đồng cỏ cho các bầy súc vật của họ. 40. Họ đã tìm được những đồng cỏ phì nhiêu và trù phú, còn xứ sở thì rộng rãi, bằng phẳng, và yên lành, bởi vì cư dân từ thời xa xưa sống tại đó là con cháu của Cham. 41. Vào thời Ê-xê-chia làm vua của Giu-đa, những người có tên ở trên đã đến tấn công vào trại của những cư dân sống tại đó. Họ đã tuyệt diệt những người đó, rồi cư trú tại đó cho đến ngày nay bởi vì tại đó có những đồng cỏ cho các bầy súc vật của họ. 42. Năm trăm người Si-mê-ôn là những người ở giữa họ đã tiến đến vùng núi Sê-i-rơ. Các lãnh đạo của họ là Phê-la-tia, Nê-a-ria, Rê-pha-gia và U-xi-ên, là những con trai của Di-si. 43. Họ đã tiêu diệt những người A-ma-léc còn sót lại, rồi ở đó cho đến ngày nay.

 

5

  1. Sau đây là các con trai của Ru-bên, con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên. Ru-bên là con đầu lòng, nhưng vì ông đã làm ô nhơ giường của cha mình, cho nên quyền trưởng nam của ông đã được ban cho các con trai của Giô-sép, là con trai của Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, ông không được ghi vào gia phả như là con trưởng nam. 2. Mặc dù Giu-đa trổi hơn các anh em của mình, và một lãnh tụ sẽ từ nơi ông mà ra, nhưng quyền trưởng nam vẫn thuộc về Giô-sép.
  2. Đây là các con trai của Ru-bên, con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi. 4. Các con trai của Giô-ên là Sê-ma-gia con trai của ông, Gót con trai của ông, Si-mê-i con trai của ông, 5. Mi-ca con của ông, Rê-a-gia con của ông, Ba-anh con của ông, 6. và Bê-ê-ra con của ông. Ông là lãnh đạo của người Ru-bên, và đã bị Tiếc-lát Phin-nê-se, vua của A-sy-ri, lưu đày. 7. Các anh em của ông được liệt kê trong gia phả theo gia tộc của họ. Đứng đầu là Giê-i-ên, rồi đến Xa-cha-ri, 8. Bê-la, con trai của A-xa, cháu của Sê-ma, chắt của Giô-ên. Họ cư ngụ tại A-rô-e, cho đến Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn. 9. Về phía đông, họ đã tiến vào vùng hoang mạc bên sông Ơ-phơ-rát và định cư tại đó, bởi vì súc vật của họ đã gia tăng rất nhiều tại Ga-la-át. 10. Trong thời Vua Sau-lơ, họ đã đánh nhau với dân Ha-ga-rít, chiến thắng chúng, chiếm các lều trại chúng trong cả vùng phía đông của xứ Ga-la-át.
  3. Các con trai của Gát sống đối diện với họ trong xứ Ba-san, cho đến Sanh-ca. 12. Giô-ên là người lãnh đạo, kế đến là Sa-pham, rồi Gia-nai và Sa-phát tại Ba-san. 13. Các anh em theo gia tộc của họ gồm có Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia và Ê-be. 14. Những người này là con cháu của A-bi-hai, con trai của Hu-ri, con trai của Gia-ô-ra, con trai của Ga-la-át, con trai của Mi-ca-ên, con trai của Giê-si-sai, con trai của Giác-đô, con trai của Bu-xơ; 15. A-hi con trai của Áp-đi-ên, cháu của Gu-ni, là trưởng tộc của họ. 16. Họ sống tại Ga-la-át, Ba-san, trong các thị trấn của họ và những vùng phụ cận của Sa-rôn, cho đến biên cương của họ. 17. Tất cả những người này đều được chép trong gia phả vào thời Giô-tham làm vua của Giu-đa, và vào thời Giê-rô-bô-am làm vua của Y-sơ-ra-ên.
  4. Chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se có những người can trường, thông thạo trong việc sử dụng khiên và gươm, cung và tên, lão luyện trong chiến trường. Có bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người đã từng ra trận. 19. Họ đã giao chiến với dân Ha-ga-rít, dân Giê-tua, dân Na-phi và dân Nô-đáp. 20. Trong khi giao chiến, họ đã kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, và vì họ có lòng tin cậy nơi Ngài cho nên Ngài đã giúp đỡ họ. Ngài đã phó dân Ha-ga-rít và những người theo chúng vào trong tay của họ. 21. Họ đã bắt những bầy súc vật của chúng gồm năm mươi ngàn lạc đà, hai trăm năm mươi ngàn chiên, hai ngàn lừa, và một trăm ngàn người; 22. cùng với rất nhiều người đã ngã chết; bởi vì trận chiến nầy thuộc về Đức Chúa Trời. Họ đã chiếm đất của dân đó, rồi cư ngụ tại đó cho đến khi họ bị lưu đày.
  5. Con cháu của phân nửa chi tộc Ma-na-se đã sống trong xứ. Họ rất đông và định cư từ miền Ba-san cho đến Ba-anh Hẹt-môn, Sê-nia và núi Hẹt-môn. 24. Đây là các tộc trưởng của họ: Ê-phe, Di-si, Ê-li-ên, Ách-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-via và Giắt-đi-ên. Họ là những người dũng mãnh, can trường, danh tiếng, và là những trưởng tộc trong dòng tộc của họ.
  6. Tuy nhiên họ đã bất trung với Ðức Chúa Trời của tổ tiên họ. Họ đã lang chạ với các thần của những dân trong xứ, mà Ðức Chúa Trời đã tiêu diệt trước mặt họ. 26. Vì vậy, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã khuấy động tâm linh của Phun, vua của A-sy-ri, và tâm linh của Tiếc-la Phi-lê-se, vua của A-sy-ri, đến bắt người Ru-bên, Gát và phân nửa chi tộc Ma-na-se lưu đày sang Ha-la, Cha-bo, Ha-ra, đến tận sông Gô-sen, cho đến ngày nay.

 

6

  1. Các con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri. 2. Các con trai của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn và U-xi-ên. 3. Các con của Am-ram là A-rôn, Môi-se và Mi-ri-am. Các con trai của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma. 4. Ê-lê-a-sa sinh Phi-nê-a; Phi-nê-a sinh A-bi-sua. 5. A-bi-sua sinh Bu-ki; Bu-ki sinh U-xi. 6. U-xi sinh Xê-ra-hi-gia; Xê-ra-hi-gia sinh Mê-ra-giốt; 7. Mê-ra-giốt sinh A-ma-ria; A-ma-ria sinh A-hi-túp; 8. A-hi-túp sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-hi-ma-ách; 9. A-hi-ma-ách sinh A-xa-ria; A-xa-ria sinh Giô-ha-nan; 10. Giô-ha-nan sinh A-xa-ria, là người giữ chức tư tế tại đền thờ mà Vua Sa-lô-môn đã xây dựng tại Giê-ru-sa-lem. 11. A-xa-ria sinh A-ma-ria; A-ma-ria sinh A-hi-túp; 12. A-hi-túp sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh Sa-lum; 13. Sa-lum sinh Hinh-kia; Hinh-kia sinh A-xa-ria; 14. A-xa-ria sinh Sê-ta-gia; Sê-ra-gia sinh Giê-hô-xa-đác; 15. Giê-hô-xa-đác bị lưu đày khi Đức Giê-hô-va trao Giu-đa và Giê-ru-sa-lem vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa.
  2. Các con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri. 17. Đây là tên các con trai của Ghẹt-sôn: Líp-ni và Si-mê-i. 18. Các con trai của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn và U-xi-ên. 19. Các con của Mê-ra-ri là Mách-li và Mu-si. Đó là các gia tộc của người Lê-vi theo tổ tiên của họ:
  3. Thuộc về Ghẹt-sôn: Líp-ni con trai của ông; Gia-hát con trai của ông; Xim-ma con trai của ông; 21. Giô-a con trai của ông; Y-đô con trai của ông; Xê-ra con trai của ông; Giê-a-trai con trai của ông.
  4. Dòng dõi của Kê-hát gồm có: A-mi-na-đáp con trai của ông; Cô-ra con trai của ông; Át-si con trai của ông; 23. Ên-ca-na con trai của ông; Ê-bi-a-sáp con trai của ông; Át-si con trai của ông; 24. Át-si con trai của ông; Ta-hát con trai của ông; U-ri-ên con trai của ông; U-xi-gia con trai của ông; Sau-lơ con trai của ông.
  5. Các con trai của Ên-ca-na là A-ma-xai và A-hi-mốt. 26. Về phần Ên-ca-na, con cháu của Ên-ca-na gồm có Xô-phai con trai của ông; Na-hát con trai của ông; 27. Ê-li-áp con trai của ông; Giê-rô-ham con trai của ông; Ên-ca-na con trai của ông. 28. Các con trai của Sa-mu-ên có con đầu lòng, và con thứ hai là A-bi-gia.
  6. Dòng dõi của Mê-ra-ri gồm có: Mách-li con trai của ông; Líp-ni con trai của ông; Si-mê-i con trai của ông; U-xa con trai của ông; 30. Si-mê-a con trai của ông; Ha-ghi-gia con trai của ông; A-sai-gia con trai của ông.
  7. Ðây là những người Ða-vít đã lập để đặc trách việc ca hát thờ phượng trong nhà của Đức Giê-hô-va, sau khi Rương Giao Ước đã được an vị. 32. Họ phục vụ bằng sự ca ngợi trước Ðền Tạm, tức là Lều Hội Kiến, cho đến khi Sa-lô-môn xây dựng xong Ðền Thờ cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem. Họ chờ đợi để được phục vụ chức vụ của họ theo thứ tự. 33. Ðây là những người đã phục vụ cùng với con cháu của họ. Trong dòng dõi của Kê-hát có Hê-man làm ca đoàn trưởng, ông là con của Giô-ên, con của Sa-mu-ên, 34. con của Ên-ca-na, con của Giê-rô-ham, con của Ê-li-ên, con của Thô-a, 35. con của Xu-phơ, con của Ên-ca-na, con của Ma-hát, con của A-ma-sai, 36 con của Ên-ca-na, con của Giô-ên, con của A-xa-ria, con của Sô-phô-ni, 37. con của Ta-hát, con của Át-si, con của Ê-bi-a-sáp, con của Cô-ra, 38. con của Dít-sê-ha, con của Kê-hát, con của Lê-vi, con của Y-sơ-ra-ên.
  8. Em trai của ông là A-sáp, đứng bên phải ông. A-sáp là con của Bê-rê-kia, con của Si-mê-a, 40. con của Mi-ca-ên, con của Ba-a-sê-gia, con của Manh-ki-gia, 41. con của Ét-ni, con của Xê-ra, con của A-đa-gia, 42. con của Ê-than, con của Xim-ma, con của Si-mê-i, 43. con của Gia-hát, con của Ghẹt-sôm, con của Lê-vi.
  9. Các anh em của họ là các con của Mê-ra-ri đứng về phía bên trái. Ê-than con của Ki-si, con của Áp-đi, con của Ma-lúc, 45. con của Ha-sa-bia, con của A-ma-xia, con của Hinh-kia, 46. con của Am-xi, con của Ba-ni, con của Sê-me, 47. con của Mách-li, con của Mu-si, con của Mê-ra-ri, con của Lê-vi.
  10. Các anh em của họ là những người Lê-vi được chỉ định để thực hiện tất cả những công việc phục vụ trong Đền Tạm của Đức Chúa Trời. 49. Nhưng A-rôn và các con trai của ông thì dâng tế lễ hoặc trên bàn thờ về tế lễ thiêu hoặc trên bàn thờ xông hương, và thực hiện tất cả những công việc tại Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội cho Y-sơ-ra-ên, theo như mọi điều mà Môi-se, là đầy tớ của Đức Chúa Trời, đã truyền. 50. Đây là con cháu của A-rôn: Ê-lê-a-sa con trai của ông; Phi-nê-a con trai của ông; A-bi-sua con trai của ông; 51. Búc-ki con trai của ông; U-xi con trai của ông; Xê-ra-hi-a con trai của ông; 52. Mê-ra-giốt con trai của ông; A-ma-ri-a con trai của ông; A-hi-túp con trai của ông; 53. Xa-đốc con trai của ông; A-hi-ma-a con trai của ông.
  11. Ðây là chỗ ở tại những nơi định cư trong khắp lãnh thổ mà các con cháu của A-rôn, thuộc dòng họ Kê-hát đã nhận được theo sự phân bổ dành cho họ. 55. Người ta ban cho họ Hếp-rôn trong xứ Giu-đa và những vùng phụ cận chung quanh nơi đó. 56. Tuy nhiên, đồng ruộng và các làng mạc chung quanh thành thì được cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê. 57. Người ta ban cho các con cháu của A-rôn các thành: Hếp-rôn – là thành ẩn náu, Líp-na và những vùng phụ cận tại đó, Giát-tia, Ếch-tê-mô-a và những vùng phụ cận tại đó, 58. Hi-lên, và những vùng phụ cận tại đó; Đê-bia, và những vùng phụ cận tại đó; 59. A-san và những vùng phụ cận tại đó; Bết Sê-mết và những vùng phụ cận tại đó. 60. Họ được chi tộc Bên-gia-min cấp Ghê-ba, và những vùng phụ cận tại đó; A-lê-mết, và những vùng phụ cận tại đó; A-na-tốt, và những vùng phụ cận tại đó. Tất cả các thành tùy theo gia tộc của họ là mười ba thành.
  12. Con cháu còn lại của Kê-hát được cấp mười thành từ phân nửa chi tộc, tức là phân nửa của Ma-na-se. 62. Con cháu của Ghẹt-sôn theo họ hàng được cấp mười ba thành trong vùng Ba-san từ chi tộc Y-sa-ca, chi tộc A-se, chi tộc Nép-ta-li, và từ chi tộc Ma-na-se. 63. Con cháu Mê-ra-ri theo họ hàng được cấp mười hai thành từ chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát và chi tộc Sa-bu-lôn. 64. Như vậy, người Y-sơ-ra-ên đã cấp cho người Lê-vi các thành cùng với những vùng phụ cận chung quanh những nơi đó. 65. Các thành được nêu danh kể trên cũng được cấp từ chi tộc Giu-đa, chi tộc Si-mê-ôn và chi tộc Bên-gia-min.
  13. Một số người thuộc dòng họ Kê-hát được cấp các thành từ chi tộc Ép-ra-im. 67. Họ được ban cho các thành ẩn náu là Si-chem cùng những vùng phụ cận tại đó trong cao nguyên Ép-ra-im, và Ghê-xe cùng những vùng phụ cận tại đó. 68. Giốc-mê-am cùng những vùng phụ cận tại đó, Bết Hô-rôn cùng những vùng phụ cận tại đó, 69. A-gia-lôn cùng những vùng phụ cận tại đó, Gát Rim-môn cùng những vùng phụ cận tại đó; 70. Những con cháu còn lại của dòng họ Kê-hát được phân nửa chi tộc Ma-na-se cấp A-ne cùng những vùng phụ cận tại đó, và Bi-lê-am cùng những vùng phụ cận tại đó.
  14. Con cháu Ghẹt-sôn được một số dòng tộc thuộc nửa chi tộc Ma-na-se cấp cho Gô-lan tại Ba-san cùng những vùng phụ cận tại đó, Ách-ta-rốt cùng những vùng phụ cận tại đó. 72. Từ chi tộc Y-sa-ca họ được cấp Kê-đe với những vùng phụ cận tại đó, Đô-bê-rát cùng những vùng phụ cận tại đó, 73. Ra-mốt cùng những vùng phụ cận tại đó, A-nem cùng những vùng phụ cận tại đó. 74. Từ chi tộc A-se họ được cấp Ma-sanh cùng những vùng phụ cận tại đó, Áp-đôn cùng những vùng phụ cận tại đó, Hu-cô cùng những vùng phụ cận tại đó, 75. Rê-hốp cùng những vùng phụ cận tại đó. 76. Từ chi tộc Nép-ta-li họ được cấp Kê-đe tại Ga-li-lê cùng những vùng phụ cận tại đó, Ham-môn cùng những vùng phụ cận tại đó, Ki-ri-a-ta-im cùng những vùng phụ cận tại đó.
  15. Con cháu còn lại của Mê-ra-ri được chi tộc Sa-bu-lôn cấp Ri-mô-nô cùng những vùng phụ cận tại đó, Tha-bô cùng các đồng cỏ nó. 78. Từ phía bên kia của Giô-đanh, tức là phía đông của Giô-đanh gần Giê-ri-cô, họ được chi tộc Ru-bên cấp Bết-se trong hoang mạc với những vùng phụ cận tại đó, Gia-xa cùng những vùng phụ cận tại đó, 79. Kê-đê-mốt với những vùng phụ cận tại đó, Mê-phát với những vùng phụ cận tại đó. 80. Họ được chi tộc Gát cấp Ra-mốt tại Ga-la-át cùng những vùng phụ cận tại đó, Ma-ha-na-im cùng những vùng phụ cận tại đó, 81. Hết-rôn cùng những vùng phụ cận tại đó, và Gia-ê-xe cùng những vùng phụ cận tại đó.

 

7

  1. Y-sa-ca có bốn con trai là Thô-la, Phu-a, Gia-súp và Sim-rôn. 2. Các con trai của Thô-la là U-xi, Rê-pha-gia, Giê-ri-ên, Giác-mai, Díp-sam và Sa-mu-ên. Họ là những trưởng tộc của dòng họ Thô-la. Họ là những chiến sĩ can trường trong thế hệ của họ. Vào thời Đa-vít, tổng số của họ là hai mươi hai ngàn sáu trăm người. 3. Con trai của U-xi là Dít-ra-hia. Các con trai của Dít-ra-hia là Mi-ca-ên, Ô-ba-đia, Giô-ên, và Di-si-gia. Cả năm người đều là trưởng tộc. 4. Theo gia phả của từng gia tộc, họ có tất cả ba mươi sáu ngàn người sẵn sàng ra trận, bởi vì họ có nhiều vợ và đông con. 5. Các anh em của họ trong tất cả các gia tộc của chi tộc Y-sa-ca cũng là những chiến sĩ can trường. Tổng cộng tất cả theo gia phổ của họ là tám mươi bảy ngàn người.
  2. Bên-gia-min có ba con trai là Bê-la, Bê-ke, và Giê-đi-ên. 7. Bê-la có năm con trai là Ét-bôn, U-xi, U-xi-ên, Giê-ri-mốt, và Y-ri. Họ là những trưởng tộc trong các gia tộc của họ. Theo gia phổ, họ có hai mươi hai ngàn ba mươi bốn chiến sĩ can trường. 8. Các con trai của Bê-ke là Xê-mi-ra, Giô-ách, Ê-li-ê-se, Ê-li-ô-ê-nai, Ôm-ri, Giê-rê-mốt, A-bi-gia, A-na-tốt, và A-lê-mết. Tất cả những người nầy đều là con trai của Bê-ke. 9. Theo gia phả của từng gia tộc trong dòng dõi của tổ phụ họ, họ có hai mươi ngàn hai trăm chiến sĩ can trường. 10. Con trai của Giê-đi-a-ên là Binh-han. Các con trai của Binh-han là Giê-úc, Bên-gia-min, Ê-hút, Kê-na-na, Xê-than, Ta-rê-xi và A-hi-sa-ha. 11. Tất cả những người nầy là con cháu của Giê-đi-a-ên. Họ là những trưởng tộc. Họ có mười bảy ngàn hai trăm chiến sĩ can trường sẵn sàng ra trận. 12. Súp-bim và Hốp-bim là con của Y-rơ; Hu-sim là con của A-he.
  3. Các con trai của Nép-ta-li là Gia-si-ên, Gu-ni, Giê-se và Sa-lum. Họ là con cháu của Bi-la.
  4. Con trai của Ma-na-se là Ách-ri-ên, do một hầu thiếp người A-ram sinh ra. Bà cũng sinh Ma-ki, là tổ phụ của Ga-la-át. 15. Ma-ki cưới em gái của Húp-pim và Súp-pim làm vợ. Tên của cô là Ma-a-ca, là tổ mẫu của Xê-lô-phát. Xê-lô-phát chỉ có các con gái. 16. Ma-a-ca, vợ của Ma-ki, sinh được một con trai, đặt tên là Phê-rết, và tên của người em là Sê-rết. Sê-rết sinh U-lam và Ra-kem. 17. Con trai của U-lam là Bê-đan. Những người này là con cháu của Ga-la-át, con cháu của Ma-ki và con cháu của Ma-na-se. 18. Em gái của ông là Ha-mô-lê-kết sinh Y-sốt, A-bi-ê-xe, và Mác-la. 19. Các con trai của Sê-mi-đa là A-hi-an, Sê-kem, Li-khi và A-ni-am.
  5. Các con trai của Ép-ra-im là Su-tê-la; Bê-re con trai của ông; Ta-hát con trai của ông; Ê-lê-a-đa con trai của ông; Ta-hát con trai của ông; 21. Xa-bát con trai của ông; Su-tê-la con trai của ông; Ê-xe và Ê-lê-át – họ đã bị những người sinh ra tại Gát giết chết bởi vì họ đã xuống Gát cướp bầy súc vật của chúng. 22. Ép-ra-im, cha của họ, đã than khóc họ nhiều ngày. Các anh em của ông đã đến an ủi ông. 23. Sau đó, ông đến với vợ của mình. Bà thụ thai rồi sinh được một con trai, và đặt tên là Bê-ri-a, bởi vì gia đình của ông đã gặp điều bất hạnh. 24. Con gái của ông là Sê-ê-ra – là người đã xây Bết Hô-rôn Thượng, Bết Hô-rôn Hạ, và U-xên Sê-ê-ra. 25. Rê-pha là con trai của ông; Rê-sép cũng vậy. Tê-la con trai của ông; Tha-han con trai của ông; 26. La-ê-đan con trai của ông; Am-mi-hút con trai của ông; Ê-li-sa-ma con trai của ông; 27. Nun con trai của ông; và Giô-suê con trai của ông.
  6. Sản nghiệp và những nơi định cư của họ là Bê-tên cùng những vùng phụ cận; về phía đông là Na-a-ran, và về phía tây là Ghê-xe cùng những vùng phụ cận; cũng có Si-chem và những vùng phụ cận, cho đến A-da và những vùng phụ cận. 29. Dọc theo ranh giới của Ma-na-se là Bết-sê-an và những vùng phụ cận, Ta-nác và những vùng phụ cận, Mê-ghi-đô và những vùng phụ cận, Đô-rơ và những vùng phụ cận. Con cháu của Giô-sép, con trai của Y-sơ-ra-ên, cư ngụ tại những nơi đó.
  7. Các con trai của A-se là Dim-na, Dích-va, Dích-vi, và Bê-ri-a. Em gái của họ là Sê-ra. 31. Các con trai của Bê-ri-a là Hê-be và Manh-ki-ên, tổ phụ của Biếc-xa-vít. 32. Hê-be sinh Giáp-phơ-lết, Sê-me, Hô-tham, và Su-a là em gái của họ. 33. Các con trai của Giáp-phơ-lết là Pha-sác, Bim-hanh, và A-vát. Đó là những con trai của Giáp-phơ-lết. 34. Các con trai của Sê-me là A-hi, Rô-hê-ga, Hu-ba, và A-ram. 35. Các con trai của Hê-lem, em của ông, là Xô-pha, Dim-na, Sê-lết và A-manh. 36. Các con trai của Xô-pha là: Su-a, Hạt-nê-phe, Su-anh, Bê-ri, Dim-ra, 37. Bết-se, Hốt, Sa-ma, Sinh-sa, Dít-ran, và Bê-ê-ra. 38. Các con trai của Giê-the là Giê-phu-nê, Phít-ba, và A-ra. 39. Các con trai của U-la là A-ra, Ha-ni-ên, và Ri-xi-a.
  8. Tất cả những người nầy là con cháu của A-se, làm trưởng tộc, là những chiến sĩ can trường được tuyển chọn, lãnh tụ của những người lãnh đạo. Số người sẵn sàng chiến đấu được ghi trong gia phả của họ là hai mươi sáu ngàn người.

 

8

  1. Bên-gia-min sinh con đầu lòng của ông là Bê-la, con thứ nhì là Ách-bên, con thứ ba là Ạc-ra, 2. con thứ tư là Nô-ha, và con thứ năm là Ra-pha.
  2. Các con trai của Bê-la là Át-đa, Ghê-ra, A-bi-hút, 4. A-bi-sua, Na-a-man, A-hoa, 5. Ghê-ra, Sê-phu-phan, và Hu-ram.
  3. Đây là các con trai của Ê-hút – họ là những trưởng tộc của các cư dân tại Ghê-ba, và họ đã di cư đến Ma-na-hát – 7. Na-a-man, A-hi-gia, và Ghê-ra – ông là người đã di cư và đã sinh U-xa và A-hi-hút.
  4. Sa-ha-ra-im sinh các con trong xứ Mô-áp sau khi ông đã bỏ những người vợ của ông là Hu-sim và Ba-ra. 9. Ông cưới Hô-đe làm vợ, rồi sinh Giô-báp, Xi-bia, Mê-sa, Manh-cam, 10. Giê-út, Sô-kia, và Mịt-ma. Những người nầy là các con trai của ông và là những trưởng tộc. 11. Hu-sim đã sinh cho ông A-bi-túp và Ên-ba-anh.
  5. Các con trai của Ên-ba-anh là Ê-be, Mi-sê-am và Sê-mết – Ông là người đã xây Ô-nô và Lót, cùng với những thị trấn chung quanh; 13. Bê-ri-a và Sê-ma là những trưởng tộc của những cư dân tại A-gia-lôn và họ đã đánh đuổi những cư dân tại Gát.
  6. A-hi-ô, Sa-sác, Giê-rê-mốt, 15. Xê-ba-đia, A-rát, Ê-đe, 16. Mi-ca-ên, Dít-pha và Giô-ha – Họ là những con trai của Bê-ri-a.
  7. Xê-ba-đia, Mê-su-lam, Hi-ki, Hê-be, 18. Gít-mê-rai, Gít-lia, và Giô-báp – Họ là những con trai của Ên-ba-anh.
  8. Gia-kim, Xiếc-ri, Xáp-đi, 20. Ê-li-ê-nai, Xi-lê-tai, Ê-li-ên. 21. A-đa-gia, Bê-ra-gia, và Sim-rát – Họ là những con trai của Si-mê-i.
  9. Gít-pan, Ê-be, Ê-li-ên, 23. Áp-đôn, Xiếc-ri, Ha-nan, 24. Ha-na-nia, Ê-lam, An-tô-ti-gia, 25. Gíp-đê-gia, và Phê-nu-ên – Họ là những con trai của Sa-sác.
  10. Sam-sê-rai, Sê-ha-ria, A-ta-lia, 27. Gia-rê-sia, Ê-li-gia, và Xiếc-ri – Họ là những con trai của Giê-rô-ham.
  11. Những người nầy là các trưởng tộc theo gia phả của họ. Họ là những lãnh đạo và sống tại Giê-ru-sa-lem.
  12. Cha của Ga-ba-ôn sống tại Ga-ba-ôn. Vợ của ông tên là Ma-a-ca. 30. Con trai đầu lòng của ông là Áp-đôn, kế đến là Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Na-đáp, 31. Ghê-đô, A-hi-ô, và Xê-ke. 32. Mích-lô sinh Si-mê-a. Họ sống gần những họ hàng của mình, nhưng đối diện với những người đó tại Giê-ru-sa-lem.
  13. Nê-rơ sinh Kích; Kích sinh Sau-lơ; Sau-lơ sinh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ếch-ba-anh. 34. Một con trai của Giô-na-than là Mê-ri Ba-anh. Mê-ri Ba-anh sinh Mi-ca. 35. Các con của Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha. 36. A-cha sinh Giê-hô-a-đa; Giê-hô-a-đa sinh A-lê-mết, Ách-ma-vết, và Xim-ri; Xim-ri sinh Một-sa; 37. Một-sa sinh Bi-nê-a; con trai của ông là Ra-pha; con trai của ông là Ê-lê-a-sa; con trai của ông là A-xên. 38. A-xên có sáu con trai. Tên của những người nầy là A-ri-kham, Bốc-ru, Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia, và Ha-nan. Tất cả những người nầy là con trai của A-xên. 39. Ê-sết, em trai của ông, cũng có những con trai. U-lam là con đầu lòng, con thứ nhì là Giê-úc, và con thứ ba là Ê-li-phê-lết. 40. Các con trai của U-lam là những chiến sĩ can trường, là những cung thủ. Họ có nhiều con trai và cháu trai – có đến một trăm năm mươi người. Tất cả những người nầy là con cháu của Bên-gia-min.

 

9

  1. Như vậy, tất cả dân Y-sơ-ra-ên đều được liệt kê theo những gia phả, và đã được ghi chép trong sách Các Vua của Y-sơ-ra-ên. Nhưng Giu-đa thì bị đày sang Ba-by-lôn vì tội bất trung của họ.
  2. Những người đầu tiên định cư trong những nơi họ đã chiếm hữu trong các thành của họ là những người Y-sơ-ra-ên, các tư tế, những người Lê-vi, và những người phục vụ đền thờ. 3. Tại Giê-ru-sa-lem lúc đó có con cháu của Giu-đa, con cháu của Bên-gia-min, con cháu của Ép-ra-im, và con cháu của Ma-na-se.
  3. U-thai con trai của Am-mi-hút, con trai của Ôm-ri, con trai của Im-ri, con trai của Ba-ni. Họ thuộc về dòng dõi của Phê-rết, con trai của Giu-đa.
  4. Thuộc về Si-lô-ni có A-sai-gia, là con trưởng nam, và các con trai của ông.
  5. Về dòng dõi của Xê-rách có Giê-u-ên và những anh em ông, tất cả là sáu trăm chín mươi người.
  6. Về dòng dõi của Bên-gia-min có Sa-lu, con trai của Mê-su-lam, con trai của Hô-đa-via, con trai của A-sê-nu-a; 8. Gíp-nê-gia con trai của Giê-rô-ham; và Ê-la con trai của U-xi, con trai của Mi-cơ-ri; và Mê-su-lam, con trai của Sê-pha-tia, con trai của Rê-u-ên, con trai của Gíp-nê-gia. 9. Con cháu của họ gồm nhiều thế hệ tổng cộng được chín trăm năm mươi sáu người. Những người được kể tên ở trên là những lãnh đạo trong gia tộc của họ và trong dòng họ của họ.
  7. Về các tư tế có Giê-đa-gia, Giê-hô-gia-ríp, Gia-kin, 11. và A-xa-ria, con trai của Hinh-kia, con trai của Mê-su-lam, con trai của Xa-đốc, con trai của Mê-ra-giốt, con trai của A-hi-túp, là viên chức lãnh đạo đền của Đức Chúa Trời. 12. A-đa-gia, con trai của Giê-rô-ham, con trai của Pha-sua, con trai của Manh-ki-gia, con trai của Ma-ê-sai, con trai của A-đi-ên, con trai của Gia-xê-ra, con trai của Mê-su-lam, con trai của Mê-si-lê-mít, con trai của Y-mê; 13. cùng với những anh em của họ, những người đứng đầu trong các gia tộc, là một ngàn bảy trăm sáu mươi người, là những người có khả năng để thực hiện công tác phục vụ trong nhà của Ðức Chúa Trời.
  8. Về những người Lê-vi có Sê-ma-gia, con trai của Ha-súp, con trai của A-ri-kham, con trai của Ha-sa-bia. Họ là con cháu của Mê-ra-ri. 15. Bác-ba-cát, Hê-re, Ga-la, và Ma-tha-nia, con trai của Mi-ca, con trai của Xiếc-ri, và con trai của A-sáp. 16. Ô-ba-đia, con trai của Sê-ma-gia, con trai của Ga-la, con trai của Giê-đu-thun. Bê-rê-kia, con trai của A-sa, con trai của Ên-ca-na, là người cư trú trong các làng của người Nê-tô-pha-tít.
  9. Về những người giữ cửa có Sa-lum, A-cúp, Tanh-môn, A-hi-man, và các anh em của họ. Sa-lum là lãnh đạo. 18. Hiện nay, họ là những người canh giữ cổng Vua ở phía đông, nhưng trước kia họ là những người khuân vác lều trại của những người Lê-vi. 19. Sa-lum con trai của Cô-rê, con trai của Ê-bi-a-sáp, con trai của Cô-ra, và các anh em của ông thuộc dòng họ Cô-ra, lo việc phục dịch và canh giữ những cửa của Ðền Tạm; cũng như trước kia tổ phụ họ chịu trách nhiệm canh giữ lối vào của trại Đức Giê-hô-va. 20. Trong quá khứ, Phi-nê-a con trai của Ê-lê-a-sa là người lãnh đạo của họ, và Đức Giê-hô-va ở với ông. 21. Xa-cha-ri, con trai của Mê-sê-lê-mia, là người canh giữ lối vào Lều Hội Kiến. 22. Tổng số những người được lựa chọn để canh giữ cửa là hai trăm mười hai người. Họ được ghi trong gia phả theo làng xóm của họ. Đa-vít và Sa-mu-ên, nhà tiên kiến, đã bổ nhiệm họ vào trách nhiệm tin cậy nầy. 23. Vì vậy, họ và con cháu họ có nhiệm vụ canh giữ các cửa của nhà Đức Giê-hô-va, tức là Đền Tạm. 24. Những người canh cửa được phân công canh giữ bốn hướng: đông, tây, bắc, và nam. 25. Các anh em của họ từ trong các làng, theo phiên thứ, đến với họ trong bảy ngày.
  10. Bốn người chỉ huy những người canh cửa trong trách nhiệm tin cậy nầy là những người Lê-vi. Họ coi sóc các phòng và kho tàng trong nhà của Đức Chúa Trời. 27. Họ ở chung quanh nhà của Đức Chúa Trời bởi vì trách nhiệm đã được giao cho họ, và vì họ phải mở cửa vào mỗi buổi sáng. 28. Một số người trong số họ được trao trách nhiệm trông coi các vật dụng trong đền thờ. Họ phải đếm khi khi chúng được đem ra, và lúc đem vào. 29. Một số người khác coi sóc đồ đạc và dụng cụ trong nơi thánh, cùng với bột, rượu, dầu, hương và trầm. 30. Một số con của các tư tế lo việc hòa chế các hương liệu. 31. Ma-ti-thia, con trưởng nam của Sa-lum thuộc họ Cô-rê, người Lê-vi được giao phó việc nướng bánh. 32. Một số anh em của họ thuộc dòng Kê-hát được chỉ định lo việc làm bánh cung hiến, chuẩn bị cho mỗi ngày Sa-bát.
  11. Đây là những người ca hát, trưởng tộc trong vòng người Lê-vi, họ ở trong các phòng trong đền thờ, được miễn các dịch vụ khác vì họ phục vụ suốt ngày đêm. 34. Đó là các trưởng tộc của người Lê-vi theo gia phả của họ. Những trưởng tộc này sống tại Giê-ru-sa-lem.
  12. Giê-i-ên, cha của Ga-ba-ôn, sống tại Ga-ba-ôn. Vợ của ông tên là Ma-a-ca. 36. Con đầu lòng của ông là Áp-đôn, kế đến là Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Nê-rơ, Na-đáp, 37. Ghê-đô, A-hi-ô, Xa-cha-ri, và Mích-lô. 38. Mích-lô sinh Si-mê-am. Họ sống gần những họ hàng của mình, nhưng đối diện với những người đó tại Giê-ru-sa-lem. 39. Nê-rơ sinh Kích; Kích sinh Sau-lơ; Sau-lơ sinh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ếch-ba-anh. 40. Một con trai của Giô-na-than là Mê-ri Ba-anh; Mê-ri Ba-anh sinh Mi-ca. 41. Các con trai của Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha. 42. A-cha sinh Gia-ê-ra; Gia-ê-ra sinh A-lê-mết, Ách-ma-vết và Xim-ri; Xim-ri sinh Một-sa; 43. Một-sa sinh Bi-nê-a, con trai của ông là Rê-pha-gia, con trai của ông là Ê-lê-a-sa, và con trai của ông là A-xên. 44. A-xên có sáu con trai. Tên của những người nầy là A-ri-kham, Bốc-ru, Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia, và Ha-nan. Những người nầy là con trai của A-xên.

 

10

  1. Lúc đó, người Phi-li-tin giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Người Y-sơ-ra-ên đã bỏ chạy trước mặt người Phi-li-tin, và họ đã gục ngã trên núi Ghinh-bô-a. 2. Người Phi-li-tin rượt theo Sau-lơ và các con trai của ông. Người Phi-li-tin đã giết các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, A-bi-na-đáp, và Manh-ki-sua.
  2. Trận chiến trở nên khốc liệt đối với Sau-lơ. Những người cầm cung đã bắn trúng ông. Ông bị thương bởi những người bắn cung. 4. Sau-lơ nói với người mang binh khí của ông: “Hãy tuốt gươm của ngươi, rồi đâm chết ta. Đừng để cho những kẻ chẳng chịu cắt bì kia đến lăng nhục ta.” Nhưng người mang khí giới của ông không dám làm, vì quá sợ. Do đó, Sau-lơ đã lấy gươm ra, rồi sấp mình vào đó. 5. Khi người mang khí giới thấy Sau-lơ đã chết, thì cũng tự sấp mình vào thanh gươm của mình mà chết. 6. Sau-lơ cùng với ba con trai của ông đã chết. Cả nhà của ông đã cùng tử trận.
  3. Khi người Y-sơ-ra-ên sống trong thung lũng thấy quân đội của mình đã bỏ chạy, Sau-lơ và các con ông đã chết, thì họ cũng bỏ thành của mình chạy trốn. Người Phi-li-tin đã đến và định cư tại những nơi đó.
  4. Ngày hôm sau, người Phi-li-tin đến để tước đoạt đồ đạc của những kẻ tử trận, họ thấy Sau-lơ và các con trai của ông đã ngã gục trên núi Ghinh-bô-a. 9. Chúng đã lột trần, chém đầu, lấy vũ khí của ông, rồi sai người đi khắp xứ Phi-li-tin để báo tin mừng cho những thần tượng và dân chúng. 10. Chúng đặt vũ khí của ông trong miếu các thần của chúng, và treo đầu của ông trong đền Đa-gôn.
  5. Khi tất cả dân cư tại Gia-bê Ga-la-át nghe về tất cả những điều mà dân Phi-li-tin đã làm cho Sau-lơ, 12. tất cả những chiến sĩ dũng cảm tại đó đã đứng dậy, họ đã đến lấy thi thể của ông và thi thể của các con trai của ông mang về Gia-be. Họ chôn cất những hài cốt dưới một cây sồi tại Gia-be, rồi kiêng ăn bảy ngày.
  6. Sau-lơ đã chết vì không trung tín với Đức Giê-hô-va, không tuân giữ mạng lệnh của Ngài, đi tìm cầu đồng bóng, 14. nhưng không cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Vì vậy, Ngài đã giết ông rồi trao vương quốc cho Ða-vít, là con trai của Giê-se.

 

11

  1. Sau đó, toàn thể Y-sơ-ra-ên đã kéo đến cùng Đa-vít tại Hếp-rôn và nói rằng: “Kìa, chúng tôi vốn là cốt nhục của ông. 2. Trước kia, ngay lúc Sau-lơ còn làm vua, chính ông đã dẫn Y-sơ-ra-ên đi ra và đi vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã phán với ông rằng: ‘Ngươi sẽ chăn dắt dân của Ta là Y-sơ-ra-ên, và ngươi sẽ cai trị trên dân của Ta là Y-sơ-ra-ên.’”
  2. Vì vậy, tất cả các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đã đến cùng vua tại Hếp-rôn. Đa-vít đã lập giao ước với họ tại Hếp-rôn trước mặt Đức Giê-hô-va. Họ xức dầu tôn Đa-vít làm vua trên Y-sơ-ra-ên, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán bởi Sa-mu-ên.
  3. Sau đó, Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên kéo đến Giê-ru-sa-lem, lúc ấy gọi là Giê-bu. Dân bản địa là người Giê-bu-sít đang sống tại đó. 5. Dân cư tại Giê-bu nói với Đa-vít: “Ngươi không thể vào đây được đâu.” Nhưng Đa-vít đã chiếm được đồn lũy Si-ôn, và bây giờ là thành Đa-vít.
  4. Đa-vít nói: “Ai là người đầu tiên giết dân Giê-bu-sít sẽ được làm chỉ huy trưởng các tướng.” Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, đã tiến lên trước nhất, nên được làm chỉ huy trưởng. 7. Đa-vít đã cư trú trong đồn lũy nầy cho nên nó đã được gọi là thành của Đa-vít. 8. Ông đã xây dựng chung quanh thành, từ Mi-lô đến các vùng chung quanh; và Giô-áp sửa chữa phần còn lại của thành.
  5. Ða-vít càng ngày càng hùng mạnh, vì Đức Giê-hô-va của các đạo quân ở với ông.
  6. Đây là những người chỉ huy các dũng sĩ của Đa-vít. Họ là những người đã hỗ trợ mạnh mẽ cho ông trong vương quốc của ông, và đã hiệp cùng với toàn dân Y-sơ-ra-ên tôn Đa-vít làm vua, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán về Y-sơ-ra-ên.
  7. Ðây là danh sách các dũng sĩ của Ða-vít: Gia-sô-bê-am, con của Hách-mô-ni, đứng đầu những viên chỉ huy. Ông đã dùng cây giáo của mình chỉ trong một lần đánh chết ba trăm người.
  8. Sau ông có Ê-lê-a-sa, con trai của Đô-đô tại A-hô-hi, là một trong ba dũng sĩ. 13. Ông đã ở với Đa-vít tại Pha-đa-mim lúc quân Phi-li-tin tập hợp tại đó để giao chiến. Khi đó, cánh đồng đầy lúa mạch và quân lính đã bỏ chạy trước quân Phi-li-tin; 14. nhưng họ đã đứng lại giữa cánh đồng chống cự và đánh giết quân Phi-li-tin. Đức Giê-hô-va đã giúp họ đại thắng.
  9. Trong lúc ấy quân Phi-li-tin đang đóng trại bao vây tại thung lũng Rê-pha-im, có ba người trong số ba mươi viên chỉ huy đã đi xuống vầng đá tại hang A-đu-lam để đến với Đa-vít. 16. Lúc đó Ða-vít đang ở trong chiến lũy, còn quân Phi-li-tin đang đóng trong đồn tại Bết-lê-hem. 17. Đa-vít ao ước, nói: “Ước gì có ai cho ta uống nước của cái giếng bên cạnh cái cổng của Bết-lê-hem!” 18. Ba người nầy băng qua trại quân của Phi-li-tin, múc nước giếng bên cạnh cái cổng của Bết-lê-hem, rồi đem về cho Đa-vít. Tuy nhiên, Đa-vít không uống, nhưng đã rót nước đó ra trước mặt Đức Giê-hô-va, 19. rồi nói: “Nguyện Ðức Chúa Trời của tôi ngăn cản tôi làm điều nầy. Lẽ nào tôi uống máu của những người nầy, là những người đã liều sinh mạng của họ. Thật vậy họ đã liều chính sinh mạng của họ để mang nó về đây.” Vì vậy ông đã không uống nước đó. Ba dũng sĩ đó đã làm những điều như vậy.
  10. A-bi-sai, em trai của Giô-áp, đứng đầu trong ba dũng sĩ. Ông đã vung giáo giết chết ba trăm người, nên nổi danh giữa ba người đó. 21. Trong nhóm ba người, ông được kính trọng hơn hai người kia, và được lập làm lãnh đạo của họ, nhưng ông không phải là ba người hàng đầu.
  11. Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa tại Cáp-xê-ên, là một người dũng cảm đã lập được nhiều kỳ công. Ông đã giết hai người Mô-áp mạnh như sư tử. Vào một ngày có tuyết rơi, ông đã đi xuống một cái hố rồi giết một con sư tử tại đó. 23. Ông đã giết một người Ai Cập cao năm cu-bít, trong tay của người Ai Cập có một cây giáo lớn bằng cây trục cửi của thợ dệt. Ông đã đi xuống gặp hắn chỉ với một cây gậy. Ông đã giật cây giáo ra khỏi tay của người Ai Cập, rồi giết hắn bằng chính cây giáo của hắn. 24. Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, đã làm những việc nầy. Ông cũng nổi tiếng trong số ba dũng sĩ. 25. Bê-na-gia được tôn trọng trong số ba mươi dũng sĩ, nhưng ông không ở trong số ba người hàng đầu. Đa-vít đặt ông chỉ huy quân cận vệ của mình.
  12. Những dũng sĩ khác trong quân đội có A-sa-ên em trai của Giô-áp, Ên-ha-nan con trai của Ðô-đô tại Bết-lê-hem, 27. Sa-mốt, người Ha-rôn; Hê-lết, người Pha-lôn; 28. Y-ra, con trai của Y-kết, người Thê-kô-a; A-bi-ê-se ở A-na-tốt; 29. Si-bê-cai ở Hu-xa; Y-lai ở A-hô-a; 30. Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; Hê-lết, con trai của Ba-a-na ở Nê-tô-pha; 31. Y-tai, con trai của Ri-bai tại Ghi-bê-a, thuộc dòng dõi của Bên-gia-min; Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn; 32. Hu-rai ở Na-ha-lê-Ga-ách; A-bi-ên ở A-ra-ba; 33. Ách-ma-vết ở Ba-hu-rim; Ê-li-ác-ba ở Sa-anh-bôn; 34. Bê-nê-ha-sem ở Ghi-xôn; Giô-na-than, con trai của Sa-ghê ở Ha-ra; 35. A-hi-giam, con trai của Sa-ca ở Ha-ra; Ê-li-pha, con trai của U-rơ; 36. Hê-phê ở Mê-kê-ra; A-hi-gia ở Pha-lôn; 37. Hết-rô ở Cạt-mên; Na-a-rai, con trai của Ê-bai; 38. Giô-ên, em trai của Na-than; Mi-bê-ha, con trai của Ha-gơ-ri; 39. Xê-léc là người Am-môn; Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là người vác binh khí của Giô-áp; con trai của Xê-ru-gia. 40. Y-ra ở Giê-the; Ga-rép cũng ở Giê-the; 41. U-ri người Hê-tít; Xa-bát, con trai của Ạc-lai; 42. A-đi-na, con trai của Si-xa, người Ru-bên, là một trưởng tộc của Ru-bên có ba mươi người theo mình. 43. Ha-nan, con trai của Ma-a-ca; Giô-sa-phát ở Mê-then; 44. U-xia ở Ách-ta-rốt; Sa-ma và Giê-hi-ên, con trai của Hô-tam ở A-rô-e; 45. Giê-đi-a-ên, con trai của Sim-ri và Giô-ha, em trai của ông, là người Thi-sít; 46. Ê-li-ên ở Ma-ha-vim; Giê-ri-bai và Giô-sa-via, con trai của Ên-na-am; Gít-ma là người Mô-áp; 47. Ê-li-ên, Ô-bết và Gia-a-si-ên, là người Bết-sô-ba.

 

12

  1. Đây là những người đã đến với Đa-vít tại Xiếc-lác trong khi ông trốn tránh khỏi Sau-lơ, con trai của Kích. Họ là những người trong số các dũng sĩ đã giúp Đa-vít trong cuộc chiến. 2. Họ sử dụng cung, có thể dùng tay phải hay tay trái để ném đá hay bắn tên. Có người là họ hàng của Sau-lơ thuộc chi tộc Bên-gia-min. 3. Đứng đầu là A-hi-ê-xe, rồi đến Giô-ách, con trai của Sê-ma tại Ghi-bê-a; Giê-xi-ên và Phê-lết, là các con trai của Ách-ma-vết; Bê-ra-ca và Giê-hu ở A-na-tốt; 4. Gít-ma-giai ở Ga-ba-ôn, là một dũng sĩ trong số ba mươi người và là chỉ huy của nhóm ba mươi người; Giê-rê-mi, Gia-ha-xi-ên, Giô-ha-nan, Giô-xa-bát ở Ghê-đê-ra; 5. Ê-lu-xai; Giê-ri-mốt; Bê-a-lia; Sê-ma-ri-a; Sê-pha-tia ở Ha-rốp; 6. Ên-ca-na; Di-si-gia; A-xa-rên; Giô-ê-xe và Gia-sô-bê-am, người Cô-rê; 7. Giô-ê-lê và Xê-ba-đia, là các con trai của Giê-rô-ham ở Ghê-đô.
  2. Có một số người Gát đã ly khai vào tận chiến khu trong đồng hoang để đi theo Ða-vít. Họ là những người dũng cảm, thiện chiến, sử dụng thành thạo khiên và giáo; diện mạo họ như sư tử, họ nhanh nhẹn như hoàng dương trên núi. 9. Đứng đầu là Ê-xe, thứ nhì là Ô-ba-đia, thứ ba là Ê-li-áp, 10. thứ tư là Mích-ma-na, thứ năm là Giê-rê-mi, 11. thứ sáu là Ạt-tai, thứ bảy là Ê-li-ên, 12. thứ tám là Giô-ha-nan, thứ chín là Ên-xa-bát, 13. thứ mười là Giê-rê-mi, thứ mười một là Mác-ba-nai. 14. Họ đều là con cháu của Gát, và làm chỉ huy trưởng quân đội; cấp thấp nhất chỉ huy một trăm quân, cấp cao nhất chỉ huy một ngàn quân.
  3. Đây là những người đã vượt sông Giô-đanh vào tháng giêng, lúc nước ngập bờ. Họ đánh đuổi tất cả các dân trong thung lũng về phía đông và phía tây. 16. Một số người Bên-gia-min và Giu-đa cũng đến gặp Đa-vít tại chiến khu. 17. Đa-vít đã đi ra đón họ, trò chuyện, rồi nói: “Nếu các ông đến với tinh thần hòa hảo và muốn hỗ trợ tôi thì lòng tôi cũng kết hiệp với các ông. Nhưng nếu các ông mưu phản tôi để giúp địch thì nguyện Đức Chúa Trời của tổ tiên chúng ta nhìn thấy và đoán phạt, bởi vì tay tôi không làm điều gì sai trật.”
  4. Lúc đó Thánh Linh ngự trên A-ma-sai, lãnh đạo của nhóm ba mươi người. Ông nói: “Đa-vít! Chúng tôi thuộc về ông. Con trai của Gie-sê! Chúng tôi ở về phía của ông. Nguyện ông được bình an, bình an. Nguyện những người giúp ông cũng được bình an, bởi vì Đức Chúa Trời giúp đỡ ông.” Vì vậy Đa-vít kết nạp họ và cho họ chỉ huy các toán quân.
  5. Một số người Ma-na-se đã ngã theo Đa-vít khi ông đến với người Phi-li-tin chiến đấu chống lại Sau-lơ. Nhưng họ không giúp gì cho chúng cả, bởi vì sau khi bàn luận, các lãnh chúa của Phi-li-tin đã đuổi ông đi, vì cho rằng: “Nếu nó qui phục chủ của nó là Sau-lơ thì chúng ta sẽ mất đầu.” 20. Khi Đa-vít đến Xiếc-lác, có những người Ma-na-se đã ngã về phía ông, đó là Át-na, Giô-sa-bát, Giê-đi-a-ên, Mi-ca-ên, Giô-sa-bát, Ê-li-hu và Xi-lê-thai. Họ là những lãnh đạo cả ngàn quân của Ma-na-se. 21. Họ đã giúp Đa-vít đối đầu với những băng đảng trộm cướp, bởi vì họ là những chiến sĩ dũng cảm và là những người chỉ huy quân đội. 22. Ngày nào cũng có người đến gặp Đa-vít để giúp ông, cho đến khi ông có một đội quân rất lớn, như đạo quân của Đức Chúa Trời.
  6. Đây là số các đơn vị đã được trang bị để ra trận đã đến với Đa-vít tại Hếp-rôn, để chuyển giao vương quốc của Sau-lơ cho ông như lời của Đức Giê-hô-va đã phán. 24. Trong con cháu của Giu-đa, sáu ngàn tám trăm người thành thạo sử dụng khiên và giáo, sẵn sàng ra trận. 25. Trong con cháu của Si-mê-ôn, bảy ngàn một trăm chiến sĩ dũng mãnh, sẵn sàng ra trận. 26. Trong con cháu của Lê-vi, bốn ngàn sáu trăm người. 27. Giê-hô-gia-đa là lãnh đạo của con cháu A-rôn. Có ba ngàn bảy trăm người ở dưới quyền điều khiển của ông. 28. Xa-đốc, một người trẻ tuổi dũng cảm, cùng với hai mươi hai người chỉ huy trong gia tộc của ông. 29. Trong con cháu của Bên-gia-min, những người bà con của Sau-lơ, có được ba ngàn người. Ðến lúc đó, hầu hết những người trong chi tộc của họ còn trung thành với gia đình của Sau-lơ. 30. Trong con cháu của Ép-ra-im, hai mươi ngàn tám trăm chiến sĩ dũng mãnh, những người nổi danh trong gia tộc của họ. 31. Phân nửa chi tộc Ma-na-se, mười tám ngàn người, được chỉ định đích danh để đến lập Ða-vít làm vua. 32. Trong con cháu của Y-sa-ca có những người thông hiểu thời cuộc, biết lúc nào Y-sơ-ra-ên cần phải làm những gì. Chi tộc đó có hai trăm lãnh đạo như vậy. Họ chỉ huy tất cả bà con của họ. 33. Trong con cháu của Sa-bu-lôn, năm mươi ngàn chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm chiến trường, thông thạo việc sử dụng các thứ vũ khí, sẵn sàng ra trận theo từng đơn vị, không một người nào có hai lòng. 34. Trong con cháu của Náp-ta-li, một ngàn viên chỉ huy ba mươi bảy ngàn quân mang khiên và giáo. 35. Trong con cháu của Ðan, hai mươi tám ngàn sáu trăm người dày dạn kinh nghiệm chiến trường. 36. Trong con cháu của A-se, bốn mươi ngàn người đã kinh nghiệm chiến trường, sẵn sàng ra trận. 37. Về phía bên kia của Giô-đanh, từ người Ru-bên, người Gát và một nửa chi tộc Ma-na-se, có một trăm hai mươi ngàn người được trang bị mọi thứ vũ khí để chiến đấu.
  7. Tất cả những người nầy đều là quân thiện chiến. Họ kéo đến Hếp-rôn theo đội ngũ, một lòng tôn Đa-vít lên làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên. Tất cả phần còn lại của Y-sơ-ra-ên cũng một lòng muốn tôn Đa-vít lên làm vua. 39. Họ đã ở tại đó với Ða-vít ba ngày, ăn uống bởi vì các anh em của họ đã chuẩn bị cho họ. 40. Thêm vào đó, những người ở gần đó, và thậm chí những người ở xa như Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, và Nép-ta-li đã đem lương thực đến. Họ dùng lừa, lạc đà, la, và bò để chở bánh mì, bột miến, bánh trái vả, bánh nho khô, rượu, dầu, cùng với rất nhiều bò và chiên, bởi vì đó là nỗi vui mừng của Y-sơ-ra-ên.

 

13

  1. Đa-vít đã tham khảo với những viên chỉ huy một ngàn quân và một trăm quân, cùng với tất cả các lãnh đạo. 2. Đa-vít đã nói với toàn thể hội chúng của Y-sơ-ra-ên rằng: “Nếu quý vị thấy điều nầy là tốt lành và đến từ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta, thì tôi sẽ sai người đến với các anh em của chúng ta ở khắp nơi, và những người còn lại trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên, cùng với những tư tế và những người Lê-vi ở trong các thành và những vùng phụ cận, để họ họp lại với chúng ta. 3. Chúng ta sẽ đem Rương của Đức Chúa Trời trở về với chúng ta, bởi vì chúng ta không cầu vấn trong thời của Sau-lơ.” 4. Toàn thể hội chúng nói rằng nên làm như vậy, bởi vì điều đó là đúng trong mắt của mọi người.
  2. Đa-vít đã tập hợp toàn thể dân Y-sơ-ra-ên lại, từ Si-ho ở Ai Cập cho đến lối vào Ha-mát, để rước Rương của Đức Chúa Trời từ Ki-ri-át Giê-a-rim. 6. Ða-vít và toàn dân Y-sơ-ra-ên đi lên Ba-a-la, tức Ki-ri-át Giê-a-rim, trong lãnh thổ của Giu-đa, để rước Rương của Ðức Chúa Trời, và Đức Giê-hô-va, là Ðấng ngự giữa các chê-ru-bim, là nơi danh Ngài được cầu khẩn. 7. Họ đã chở Rương của Ðức Chúa Trời trên một cỗ xe mới ra khỏi nhà của A-bi-na-đáp; có U-xa và A-hi-ô dẫn xe. 8. Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên hết sức vui mừng trước mặt Đức Chúa Trời, cùng với tiếng hát, tiếng đàn hạc, đàn lia, tiếng trống, chập chõa, và kèn.
  3. Khi đến sân đạp lúa của Ki-đôn, vì con bò bị vấp chân, U-xa đã đưa tay để giữ lấy Rương. 10. Cơn giận của Đức Giê-hô-va đã nổi lên cùng U-xa. Ngài đã đánh ông, bởi vì ông đã đưa tay chạm vào Rương. Ông đã chết ngay tại đó trước mặt Ðức Chúa Trời. 11. Đa-vít bứt rứt bởi vì Đức Giê-hô-va đã trừng phạt U-xa. Nơi đó đã được gọi là Pê-rết U-xa cho đến ngày nay. 12. Ða-vít đã khiếp sợ Ðức Chúa Trời trong ngày hôm đó. Ông nói: “Làm thế nào tôi có thể rước Rương của Ðức Chúa Trời về với tôi được?” 13. Vì vậy, Đa-vít đã không rước Rương về với ông tại trong thành Đa-vít, nhưng đã đem nó vào trong nhà của Ô-bết Ê-đôm, người Ghít-ti. 14. Rương của Đức Chúa Trời ở trong nhà của Ô-bết Ê-đôm ba tháng. Đức Giê-hô-va đã ban phước cho nhà của Ô-bết Ê-đôm, và tất cả những gì mà ông có.

 

14

  1. Hi-ram, vua của Ty-rơ, đã sai các sứ giả đem thợ nề, thợ mộc, cùng với nhiều gỗ bá hương đến gặp Đa-vít để xây cho ông một cung điện. 2. Ða-vít nhận biết Đức Giê-hô-va đã lập ông làm vua trên Y-sơ-ra-ên, và vì cớ dân Y-sơ-ra-ên của Ngài mà vương quốc của ông được đề cao.
  2. Đa-vít lấy thêm vợ tại Giê-ru-sa-lem, và Đa-vít có thêm những con trai và những con gái. 4. Đây là tên những đứa con mà ông có tại Giê-ru-sa-lem: Sa-mua, Sô-báp, Na-than, Sa-lô-môn, 5. Gi-ba, Ê-li-sua, Ên-bê-lết, 6. Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia, 7. Ê-li-sa-ma, Bê-ên-gia-đa, và Ê-li-phê-lết.
  3. Khi người Phi-li-tin nghe tin Đa-vít đã được xức dầu làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, thì toàn quân Phi-li-tin đã kéo lên để tìm gặp Đa-vít. Nghe tin đó, Đa-vít đã kéo quân ra để chống lại họ. 9. Quân Phi-li-tin đã kéo đến cướp phá trong thung lũng Rê-pha-im. 10. Đa-vít đã cầu vấn Đức Chúa Trời: “Con có nên tiến đánh người Phi-li-tin hay không? Ngài sẽ phó chúng vào tay của con hay không?” Đức Giê-hô-va trả lời: “Hãy tiến đánh. Ta sẽ phó chúng vào tay của con.”
  4. Chúng đã kéo đến Ba-anh Phê-rát-sim, và Đa-vít đánh bại chúng tại đó. Đa-vít nói: “Đức Chúa Trời đã đập tan những kẻ thù của tôi bằng tay của tôi như đấm vào nước” Vì vậy, người ta gọi chỗ đó là Ba-anh Phê-rát-sim. 12. Chúng đã bỏ lại các tượng thần của chúng tại đó, và Đa-vít đã truyền lệnh thiêu đốt những vật đó.
  5. Một lần nữa, quân Phi-li-tin lại cướp phá trong thung lũng. 14. Vì vậy, Đa-vít lại cầu vấn Đức Chúa Trời. Ngài phán với ông: “Đừng đi lên theo chúng nó, nhưng hãy đi vòng quanh, rồi tấn công chúng tại chỗ đối diện những cây dâu. 15. Và rồi, khi ngươi nghe tiếng bước đi trên ngọn những cây dâu, thì hãy ra trận vì Đức Chúa Trời sẽ đi ra trước ngươi để đánh quân đội Phi-li-tin.” 16. Ða-vít đã làm y như Ðức Chúa Trời đã truyền cho ông, và họ đã đánh bại quân Phi-li-tin từ Ghi-bê-ôn cho đến Ghê-xe. 17. Danh tiếng của Đa-vít đồn ra khắp nơi. Đức Giê-hô-va khiến cho tất cả các dân tộc khiếp sợ ông.

 

15

  1. Ða-vít đã xây những cung điện cho ông trong thành Ða-vít. Ông đã chuẩn bị một nơi để đặt Rương của Ðức Chúa Trời và đã dựng một cái trại tại đó. 2. Ða-vít nói: “Không ai được khiêng Rương của Ðức Chúa Trời ngoại trừ những người Lê-vi, bởi vì Đức Giê-hô-va đã chọn họ để khiêng Rương của Ðức Chúa Trời và phục vụ Ngài đời đời.”
  2. Ða-vít đã triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên đến Giê-ru-sa-lem để rước Rương của Đức Giê-hô-va vào trong chỗ mà ông đã chuẩn bị. 4. Ða-vít đã triệu tập các con cháu của A-rôn và những người Lê-vi như sau: 5. Dòng dõi Kê-hát, U-ri-ên lãnh đạo các anh em của ông là một trăm hai mươi người. 6. Dòng dõi Mê-ra-ri, A-sa-gia lãnh đạo các anh em của ông là hai trăm hai mươi người. 7. Dòng dõi Ghẹt-sôn, Giô-ên lãnh đạo các anh em của ông là một trăm ba mươi người. 8. Dòng dõi Ê-li-sa-phan, Sê-ma-gia lãnh đạo các anh em của ông là hai trăm người. 9. Dòng dõi Hếp-rôn, Ê-li-ên lãnh đạo các anh em của ông là tám mươi người. 10. Dòng dõi U-xi-ên, A-mi-na-đáp lãnh đạo các anh em ông là một trăm mười hai người.
  3. Đa-vít đã gọi các Tư tế Xa-đốc và A-bia-tha, cùng những người Lê-vi là U-ri-ên, A-sa-gia, Giô-ên, Sê-ma-gia, Ê-li-ên và A-mi-na-đáp. 12. Ông nói với họ: “Quý vị là những lãnh đạo của các gia tộc của người Lê-vi, hãy thanh tẩy chính quý vị và thân nhân của quý vị, để quý vị có thể khiêng Rương của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vào trong chỗ mà tôi đã chuẩn bị. 13. Bởi vì lần trước quý vị đã không làm điều đó, cho nên Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta, đã nổi giận đối với chúng ta, bởi vì chúng ta đã không cầu hỏi Ngài để biết cách làm cho đúng quy định.” 14. Vì vậy, các tư tế và những người Lê-vi đã thanh tẩy chính mình để khiêng Rương của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 15. Những người Lê-vi đã dùng đòn để khiêng Rương của Đức Chúa Trời trên vai y như Môi-se đã truyền theo lời của Đức Giê-hô-va.
  4. Đa-vít đã nói với các lãnh đạo của người Lê-vi hãy bổ nhiệm những anh em của họ là những người biết hát và sử dụng những nhạc khí như đàn hạc, đàn lia, khánh chiêng, để cất giọng ca hát vui vẻ. 17. Vì vậy, người Lê-vi đã cử Hê-man, con trai của Giô-ên, và trong các anh em của ông có A-sáp, con trai của Bê-rê-kia; về dòng Mê-ra-ri, là anh em của họ, có Ê-than, con trai của Cu-sa-gia; 18. cùng với họ, có những anh em bổ nhiệm vào bậc thứ hai đó là Xa-cha-ri, Bên, Gia-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Ma-ti-thia, Ê-li-phê-lêt, Mích-nê-gia, Ô-bết-ê-đôm và Giê-i-ên là những người giữ cổng.
  5. Vì vậy, những người ca hát là Hê-man, A-sáp, và Ê-than được giao thêm trách nhiệm sử dụng khánh chiêng bằng đồng. 20. Xa-cha-ri, A-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp, Ma-a-xê-gia, và Bê-na-gia, đánh đàn lia theo điệu A-la-mốt. 21. Ma-ti-thia, Ê-li-phê-lê, Mích-nê-gia, Ô-bết Ê-đôm, Giê-i-ên, và A-xa-xia, đánh đàn hạc hướng dẫn theo điệu Sê-mi-nít. 22. Kê-na-nia, lãnh đạo của người Lê-vi, điều khiển việc ca hát bởi vì ông có năng khiếu về việc nầy. 23. Bê-rê-kia và Ên-ca-na là những người canh giữ Rương. 24. Sê-ba-nia, Giô-sa-phát, Nê-tha-nê-ên, A-ma-xai, Xa-cha-ri, Bê-na-gia, và Ê-li-ê-se, là những tư tế, thổi kèn trước Rương của Đức Chúa Trời; Ô-bết-Ê-đôm và Giê-hi-gia là những người canh giữ Rương.
  6. Vì vậy, Đa-vít cùng với các trưởng lão Y-sơ-ra-ên và các cấp chỉ huy ngàn quân đi lên rước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va ra khỏi nhà của Ô-bết Ê-đôm trong sự vui mừng. 26. Đức Chúa Trời đã phù hộ người Lê-vi khiêng Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va, cho nên đã họ đã dâng bảy con bò đực và bảy con chiên đực. 27. Ða-vít mặc một áo choàng bằng vải gai mịn, giống như tất cả những người Lê-vi khiêng Rương, những người trong ca đoàn, và Kê-na-nia người điều khiển âm nhạc. Ða-vít cũng mặc một ê-phót bằng vải gai mịn. 28. Toàn dân Y-sơ-ra-ên đã rước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va trong tiếng reo hò vui vẻ, hòa lẫn với tiếng tù và, tiếng kèn, tiếng khánh chiêng, tiếng hạc cầm, và tiếng đàn lia.
  7. Sau đó, khi Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va về đến thành Đa-vít, thì Mi-canh, con gái của Sau-lơ, nhìn qua cửa sổ thấy Vua Đa-vít nhảy múa vui mừng, thì bà khinh bỉ ông trong lòng của bà.

 

16

  1. Họ đem Rương của Đức Chúa Trời vào đặt giữa căn trại mà Đa-vít đã dựng lên. Họ cũng dâng những tế lễ thiêu và tế lễ cầu an trước mặt Đức Chúa Trời. 2. Sau khi Đa-vít đã dâng tế lễ thiêu và tế lễ cầu an, ông đã nhân danh Đức Giê-hô-va chúc phước cho dân chúng. 3. Sau đó, ông phát cho dân chúng, không phân biệt nam hay nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một cái bánh nho khô.
  2. Ông đã bổ nhiệm một số người Lê-vi vào chức vụ phục vụ trước Rương của Đức Giê-hô-va để cầu xin, để cảm tạ, và để tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 5. A-sáp là lãnh đạo, kế đến là Xa-cha-ri, rồi đến Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Ma-ti-thia, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ô-bết-ê-đôm và Giê-i-ên. Họ sử dụng các nhạc khí như đàn hạc, đàn lia. A-sáp là người sử dụng khánh chiêng. 6. Các Tư tế Bê-na-gia và Gia-ha-xi-ên cứ tiếp tục thổi kèn trước Rương Giao Ước của Ðức Chúa Trời.
  3. Trong ngày hôm đó, lần đầu tiên Đa-vít đã trao vào tay A-sáp và các anh em của ông một thánh thi để tôn ngợi Đức Giê-hô-va:
  4. “Hãy tạ ơn Đức Giê-hô-va! Hãy cầu khẩn danh của Ngài! Hãy công bố giữa các dân những công việc của Ngài! 9. Hãy tôn ngợi Ngài bằng những thánh thi! Hãy thuật lại những công việc diệu kỳ của Ngài! 10. Hãy tôn vinh danh thánh của Ngài. Nguyện lòng của những người tìm kiếm Đức Giê-hô-va được vui mừng. 11. Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va và quyền năng của Ngài. Hãy luôn luôn tìm kiếm mặt Ngài. 12. Hãy ghi nhớ những công việc diệu kỳ của Ngài, tức là những việc kỳ diệu mà Ngài đã làm, cùng những phán quyết từ miệng của Ngài.”
  5. “Hỡi dòng dõi Y-sơ-ra-ên là đầy tớ Ngài! Hỡi con cháu Gia-cốp là những người Ngài đã chọn! 14. Ngài là Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta. Ngài cai trị toàn thế giới. 15. Hãy luôn luôn ghi nhớ giao ước của Ngài, tức là lời Ngài đã truyền cho hằng ngàn thế hệ, 16. mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham, và lời thề của Ngài với Y-sác, 17. đã được xác nhận làm quy luật cho Gia-cốp, và làm giao ước đời đời cho Y-sơ-ra-ên. 18. Ngài phán: ‘Ta sẽ ban cho các ngươi xứ Ca-na-an để làm sản nghiệp cho các ngươi,’ 19. vào lúc họ có rất ít người, thật vậy rất ít, và họ là những ngoại kiều tại đó. 20. Họ đã lưu lạc từ nước này sang nước khác, từ vương quốc này đến dân tộc kia. 21. Ngài không để ai áp bức họ. Ngài đã quở trách các vua vì cớ họ: 22. ‘Ðừng đụng đến những người được xức dầu của Ta. Không được làm hại những tiên tri của Ta.'”
  6. “Hỡi cả trái đất, hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va. Hãy công bố sự cứu rỗi của Ngài từ ngày này sang ngày khác. 24. Hãy công bố vinh quang của Ngài ở giữa các dân tộc, và những việc diệu kỳ của Ngài ở giữa các nước. 25. Bởi vì Đức Giê-hô-va thật vĩ đại, rất đáng được ca ngợi, Ngài đáng kính sợ hơn tất cả các thần, 26. và bởi vì tất cả các thần của các dân tộc đều là hình tượng, nhưng Đức Giê-hô-va đã tạo dựng nên các tầng trời. 27. Vinh quang và sự uy nghi ở trước mặt Ngài, quyền năng và sự tráng lệ ở trong nơi thánh của Ngài.”
  7. “Hỡi các dòng họ của muôn dân! Hãy quy về cho Đức Giê-hô-va. Hãy quy về cho Đức Giê-hô-va vinh hiển và quyền năng. 29. Hãy quy vinh quang về Đức Giê-hô-va xứng đáng với danh của Ngài. Hãy đem lễ vật dâng lên trước mặt Ngài. Hãy trang điểm bằng sự thánh khiết để thờ phượng Đức Giê-hô-va. 30. Hỡi cả trái đất, hãy run sợ trước mặt Ngài. Thế giới sẽ được thiết lập vững bền, không bao giờ rúng động. 31. Nguyện các từng trời vui mừng! Nguyện trái đất hân hoan! Nguyện người ta nói giữa các quốc gia rằng: ‘Đức Giê-hô-va trị vì!’ 32. Biển cả và mọi vật ở trong đó hãy reo vang. Cánh đồng và mọi vật trong đó hãy vui mừng. 33. Tất cả những cây cối trong rừng hãy ca hát trước mặt Đức Giê-hô-va; bởi vì Ngài đến để phán xét thế gian.”
  8. “Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện, sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. 35. Hãy nói: ‘Đức Chúa Trời, là Đấng Cứu Tinh của chúng con! Xin giải cứu chúng con. Xin tập họp chúng con lại với nhau. Xin giải cứu chúng con từ các dân, để chúng con cảm tạ danh thánh của Ngài và tôn vinh ca ngợi Ngài.’ 36. Tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, từ cõi đời đời cho đến đời đời!”

Toàn dân đã nói: “Tôn ngợi Đức Giê-hô-va! A-men!”

  1. Vì vậy, ông đã đặt để A-sáp và những anh em của ông ấy trước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va, để họ tiếp tục phục vụ mỗi ngày trước Rương theo quy định như sau: 38. Ô-bết Ê-đôm và sáu mươi tám anh em của ông phục vụ tại đó. Ô-bết Ê-đôm, là con trai của Giê-đu-thun, và Hô-sa làm người canh giữ cổng. Tư tế Xa-đốc và những tư tế là anh em của ông để phục vụ trước Đền Tạm của Đức Giê-hô-va tại nơi cao ở Ghi-bê-ôn, 40. để họ thường xuyên dâng những tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va trên bàn thờ dâng của lễ thiêu vào mỗi sáng và mỗi chiều, theo như tất cả những gì đã được ghi chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va đã được truyền cho Y-sơ-ra-ên. 41. Cùng với họ còn có Hê-man, Giê-đu-thun và những người đã được chọn đích danh khác, để tạ ơn Đức Giê-hô-va bởi vì sự nhân từ của Ngài còn đến đời đời. 42. Thêm vào đó, Hê-man và Giê-đu-thun còn sử dụng kèn, khánh chiêng để tạo tiếng vang, và những nhạc cụ khác để ca tụng Đức Chúa Trời. Các con trai của Giê-đu-thun là những người canh giữ cổng.
  2. Sau đó, tất cả mọi người ra về. Mỗi người trở về nhà của mình. Đa-vít trở về nhà để chúc phước cho gia đình của mình.

 

17

  1. Thời gian trôi qua, sau khi Ða-vít đã ổn định trong cung điện của ông, Ða-vít nói với Tiên tri Na-than: “Tôi ở trong cung điện làm bằng gỗ bá hương, còn Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va thì đang ở dưới những tấm lều.” 2. Na-than nói với Ða-vít: “Hãy làm tất cả những gì trong lòng của ngài, bởi vì Ðức Chúa Trời đang ở với ngài.”
  2. Tuy nhiên tối hôm đó, có lời của Đức Chúa Trời phán cùng Na-than: 4. “Hãy đi và nói với Ða-vít, là tôi tớ của Ta, Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ngươi sẽ không xây cho Ta một ngôi nhà để Ta ở, 5. bởi vì từ khi Ta đã đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập cho đến ngày nay, Ta đã không ở trong một ngôi nhà nào cả, nhưng Ta đã di chuyển từ lều nầy đến lều khác, trong Ðền Tạm. 6. Ta đã đi cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên khắp nơi, nhưng Ta có nói một lời nào với một trong những lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên, tức là người mà Ta đã truyền để chăn dắt dân của Ta, rằng: ‘Tại sao các ngươi không xây cho Ta một căn nhà bằng gỗ bá hương?’ 7. Vì vậy, bây giờ ngươi hãy đi nói với Ða-vít, tôi tớ của Ta, rằng Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán như thế nầy: Ta đã lấy ngươi ra khỏi đồng cỏ, từ phía sau của bầy chiên, để trở thành người lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. 8. Ta đã ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi, và đã diệt tất cả các kẻ thù của ngươi khỏi trước mặt ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi được nổi danh như danh tiếng của những người vĩ đại trên thế giới. 9. Ta sẽ chọn một nơi cho dân Y-sơ-ra-ên của Ta. Ta sẽ trồng chúng, chúng sẽ cư ngụ tại chỗ của mình, và sẽ không di chuyển nữa. Những kẻ gian ác sẽ không làm khổ chúng như thuở trước nữa, 10. kể từ lúc Ta lập các lãnh đạo trên dân của Ta, là Y-sơ-ra-ên. Ta sẽ triệt hạ tất cả những kẻ thù của ngươi.

Hơn thế nữa, Ta cũng báo cho ngươi biết rằng Đức Giê-hô-va sẽ xây dựng một triều đại cho ngươi. 11. Và rồi, khi những ngày của ngươi trên đất mãn, ngươi sẽ về với tổ tiên của ngươi. Ta sẽ dấy lên một người trong dòng dõi của ngươi, tức là một trong các con trai của ngươi, để kế vị ngươi. Ta sẽ làm vững lập vương quốc của người. 12. Người sẽ xây một ngôi nhà cho Ta, và Ta sẽ lập ngôi của người được vững bền mãi mãi. 13. Ta sẽ làm cha của người, và người sẽ là con trai của Ta. Ta sẽ không rút lại tình thương mà Ta dành cho người, như Ta đã làm đối với kẻ tiền nhiệm của ngươi. 14. Ta sẽ làm cho người được vững lập trong nhà của Ta và trong vương quốc của Ta đời đời. Ngôi của người sẽ được vững lập mãi mãi.”

  1. Na-than đã thuật lại tất cả những lời nầy và tất cả những khải tượng đó cho Ða-vít.
  2. Sau đó, Đa-vít đã đến, ngồi trước mặt Đức Giê-hô-va, và thưa rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời! Con là ai và gia đình con là gì mà Ngài cho con đến được như thế nầy? 17. Ðức Chúa Trời ôi! Ngài coi đó chỉ là việc nhỏ trước mặt Ngài sao? Giê-hô-va Đức Chúa Trời ôi! Ngài còn hứa ban ơn cho nhà của đầy tớ Ngài về lâu dài trong tương lai, và còn xem con như là một người được tôn trọng. 18. Bởi vì Ngài biết rõ đầy tớ của Ngài, Đa-vít còn có thể nói thêm điều gì nữa về sự tôn trọng mà Ngài đã dành cho đầy tớ của Ngài. 19. Đức Giê-hô-va ôi! Chỉ vì đầy tớ Ngài, mà Ngài đã làm mọi việc lớn lao nầy theo lòng tốt của Ngài, và công bố tất cả những việc lớn lao đó. 20. Đức Giê-hô-va ôi! Không có ai giống như Ngài! Và theo như tất cả những gì mà tai của chúng con đã nghe: Không có Đức Chúa Trời nào khác ngoài Ngài! 21. Có dân tộc nào trên đất được như dân Y-sơ-ra-ên, là dân của Ngài – Một dân tộc mà Đức Chúa Trời đã cứu chuộc để làm dân riêng của Ngài, để làm cho Danh Ngài được vĩ đại và kính sợ, khi Ngài xua đuổi các nước khỏi trước mặt dân của Ngài, là dân mà Ngài đã cứu chuộc khỏi Ai Cập. 22. Ngài đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên trở thành một dân thuộc riêng về Ngài đến đời đời. Còn Ngài, Đức Giê-hô-va ôi, Ngài là Đức Chúa Trời của họ.
  3. Bây giờ, Đức Giê-hô-va ôi! Nguyện lời Ngài đã hứa về đầy tớ của Ngài và về nhà của người được vững lập đời đời. Cầu xin Ngài thực hiện lời Ngài đã phán. 24. Nguyện danh của Ngài được vững lập và được tôn vinh đời đời. Nguyện người ta sẽ nói rằng Đức Giê-hô-va của các đạo quân là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Nguyện nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài, được đứng vững trước mặt Ngài. 25. Bởi vì Ngài, là Ðức Chúa Trời của con, đã bày tỏ cho đầy tớ của Ngài rằng Ngài sẽ lập cho người một triều đại. Vì vậy, đầy tớ của Ngài mới dám cầu nguyện trước mặt Ngài. 26. Đức Giê-hô-va ôi! Chính Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng đã phán hứa những điều tốt đẹp nầy với đầy tớ của Ngài. 27. Vì vậy, bây giờ, cầu xin Ngài ban phước cho triều đại của đầy tớ Ngài để nó có thể tồn tại mãi mãi trước mặt Ngài. Bởi vì Đức Giê-hô-va ôi! Khi nào Ngài ban phước, thì phước lành đó sẽ còn đến đời đời.”

 

18

  1. Sau việc nầy, Đa-vít đã đánh bại người Phi-li-tin, bắt chúng phục tùng. Ông đã chiếm thành Gát và những vùng phụ cận từ tay của người Phi-li-tin. 2. Ông đánh bại Mô-áp. Dân Mô-áp phải đầu phục Ða-vít và nộp triều cống cho ông.
  2. Đa-vít đã đánh bại Ha-đa-rê-xe, vua của Xô-ba, về hướng Ha-mát, khi vua nầy đang giành quyền kiểm soát khu vực sông Ơ-phơ-rát. 4. Đa-vít chiếm được một ngàn xe chiến mã, bảy ngàn kỵ binh, hai mươi ngàn bộ binh. Ða-vít cho cắt đứt tất cả gân chân của những ngựa kéo xe chiến mã và chỉ chừa lại một trăm con.
  3. Khi quân A-ram ở Ða-mách kéo đến giúp Ha-đa-đê-xe vua của Xô-ba, Ða-vít đã giết hai mươi hai ngàn quân A-ram. 6. Sau đó Ða-vít đặt người cai trị nước A-ram tại Ða-mách. Dân A-ram phải thần phục Ða-vít và nộp triều cống cho ông. Đức Giê-hô-va ban chiến thắng cho Ða-vít bất cứ nơi nào ông đi đến. 7. Đa-vít đã lấy những khiên bằng vàng của các đầy tớ của Ha-đa-rê-xe, rồi đem về Giê-ru-sa-lem. 8. Ða-vít lấy rất nhiều đồng từ Ti-bát và Cun, những thành của Ha-đa-đê-xe. Sa-lô-môn đã làm cái bể bằng đồng, các trụ đồng, và những vật dụng bằng đồng từ số đồng nầy.
  4. Khi Tô-hu, vua của Ha-mát, nghe tin Đa-vít đã đánh bại toàn bộ quân đội của Ha-đa-rê-xe, vua của Xô-ba, 10. ông đã sai Ha-đô-ram, con trai của mình, đến yết kiến Vua Ða-vít và chúc mừng vua, vì vua đã đánh bại Ha-đa-đê-xe và giết hắn. Trước kia, Ha-đa-đê-xe thường gây chiến với Tô-hu. Ông đem theo những vật dụng bằng vàng, bạc, và đồng làm tặng phẩm. 11. Đa-vít đã biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va những vật dụng đó, cùng với bạc vàng mà vua đã lấy được từ các dân tộc Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, Phi-li-tin, và A-ma-léc.
  5. A-bi-sai, con trai của Xê-ru-gia, đã đánh bại mười tám ngàn quân Ê-đôm tại thung lũng Muối. 13. Ông đặt quân đồn trú tại Ê-đôm. Toàn dân Ê-đôm thần phục Ða-vít. Đức Giê-hô-va bảo tồn Ða-vít bất cứ nơi nào ông đi.
  6. Ða-vít trị vì trên toàn thể Y-sơ-ra-ên. Ông thực thi công lý và công chính cho tất cả dân của ông. 15. Giô-áp, con trai Xê-ru-gia, chỉ huy quân đội; Giê-hô-sa-phát, con trai A-hi-lút, làm ngự sử, 16. Xa-đốc, con trai của A-hi-túp và A-bi-mê-léc, con trai của A-bi-tha, làm tư tế; Sa-vê-sa làm thư ký; 17. Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, chỉ huy người Kê-rê-thít và người Phê-lê-thít; còn các con trai của Đa-vít đều là những lãnh đạo ở bên cạnh vua.

 

19

  1. Một thời gian sau việc nầy, Na-hách, vua của dân Am-môn chết, và con trai của ông đã trị vì thay cho ông. 2. Đa-vít nói: “Ta sẽ bày tỏ sự thân thiện với Ha-nun, con trai của Na-hách, bởi vì cha của người đã đối xử thân thiện với ta.” Sau đó, Đa-vít đã sai sứ giả đến an ủi Ha-nun về việc thân phụ của ông. Vì vậy, các bề tôi của Đa-vít đã đến gặp Ha-nun trong xứ của dân Am-môn để phân ưu.
  2. Tuy nhiên các lãnh đạo của dân Am-môn đã nói với Ha-nun: “Ngài tưởng rằng Đa-vít sai sứ giả đến an ủi ngài là vì tôn kính thân phụ của ngài hay sao? Không phải các bề tôi của hắn đến để xem xét, do thám xứ rồi lật đổ hay sao?” 4. Vì vậy, Ha-nun đã bắt các bề tôi của Đa-vít cạo râu và cắt một nửa trang phục của họ cho đến mông, rồi đuổi về. 5. Có người đến trình cho Đa-vít về những người nầy. Ông sai người đi đón họ vì họ rất xấu hổ. Ông nói: “Hãy ở tại Giê-ri-cô cho đến khi râu của các ngươi mọc trở lại rồi hãy trở về.”
  3. Khi dân Am-môn thấy chúng đã tự làm cho mình bị Ða-vít kinh tởm, thì Ha-nun và dân Am-môn đã gởi một ngàn ta-lâng bạc để thuê các xe chiến mã và kỵ binh từ Mê-sô-pô-ta-mi, từ A-ram Ma-a-ca, và từ Xô-ba. 7. Chúng đã thuê được ba mươi hai ngàn xe chiến mã, cùng với vua của Ma-a-ca và quân đội của ông. Chúng đã kéo đến và đóng trại trước Mê-đê-ba. Dân Am-môn từ các thành của chúng cũng tập hợp lại để ra trận.
  4. Khi Ða-vít nghe tin đó, ông sai Giô-áp dẫn toàn quân gồm các chiến binh dũng cảm. 9. Quân Am-môn kéo ra và dàn trận trước cổng thành, còn các vua đã kéo quân đến thì đóng quân ngoài đồng.
  5. Khi Giô-áp thấy quân thù đã dàn trận phía trước và phía sau mình, ông đã chọn một số người tuyển chọn trong đạo quân Y-sơ-ra-ên, rồi đặt họ dàn trận để chống lại quân A-ram. 11. Số quân còn lại, ông giao cho em trai của ông là A-bi-sai; và họ đã dàn trận để chống lại quân Am-môn. 12. Ông nói: “Nếu quân A-ram mạnh hơn anh, em sẽ tiếp viện anh; còn nếu quân Am-môn mạnh hơn em, anh sẽ tiếp viện em. 13. Hãy mạnh mẽ. Chúng ta hãy can đảm vì dân tộc của chúng ta và vì các thành của Ðức Chúa Trời của chúng ta. Nguyện Đức Giê-hô-va thực hiện điều tốt đẹp trong mắt của Ngài.”
  6. Vì vậy, Giô-áp và quân lính theo ông đã xáp chiến đánh quân A-ram, và chúng đã tháo chạy khỏi ông. 15. Khi quân Am-môn thấy quân A-ram đã tháo chạy thì chúng cũng tháo chạy khỏi A-bi-sai, em trai của Giô-áp, và trở vào thành. Sau đó, Giô-áp trở về Giê-ru-sa-lem.
  7. Khi quân A-ram thấy họ đã bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại, họ đã sai các sứ giả đến cầu viện với quân A-ram ở phía bên kia Sông do Sô-phác, tướng chỉ huy quân đội của Ha-đa-rê-xe, lãnh đạo. 17. Khi việc này được báo cho Đa-vít, ông đã triệu tập toàn quân Y-sơ-ra-ên, vượt Giô-đanh, đến với chúng, dàn trận để đánh chúng. Sau khi Đa-vít đã dàn trận để chống quân A-ram, chúng giao chiến với ông. 18. Quân A-ram tháo chạy trước mặt Y-sơ-ra-ên. Đa-vít đã giết bảy ngàn kỵ binh, bốn mươi ngàn bộ binh của quân A-ram, và cũng giết Sô-phác, tướng chỉ huy quân đội. 19. Khi các tôi tớ của Ha-đa-đê-xe thấy rằng chúng đã bị Y-sơ-ra-ên đánh bại, chúng xin cầu hòa với Ða-vít và thần phục ông. Từ đó dân A-ram không giúp dân Am-môn nữa.

 

20

  1. Mùa xuân là lúc các vua thường kéo quân ra trận, Giô-áp đã đem lực lượng quân đội tàn phá xứ Am-môn, rồi kéo đến bao vây Ráp-ba. Tuy nhiên, Đa-vít ở lại Giê-ru-sa-lem. Giô-áp đã tấn công rồi hủy phá Ráp-ba. 2. Đa-vít đã lấy vương miện trên đầu vua của chúng. Vương miện cân nặng một ta-lâng vàng, có cẩn một viên ngọc quý, đã được đặt trên đầu của Đa-vít. Ông cũng thu được rất nhiều chiến lợi phẩm trong thành. 3. Ông đưa dân chúng ra khỏi thành, bắt họ làm việc bằng cưa, cuốc, và rìu. Đa-vít đã làm như vậy cho tất cả các thành phố của người Am-môn. Sau đó, Đa-vít và toàn quân trở về Giê-ru-sa-lem.
  2. Sau đó, có chiến tranh với người Phi-li-tin tại Ghê-xe. Trong dịp nầy, Si-bê-cai người Hu-sa-tít đã giết Síp-bai, một trong những con cháu của những người khổng lồ, nên chúng phải thuận phục.
  3. Sau đó, lại có chiến tranh với người Phi-li-tin. Ên-ha-nan, con trai của Giai-rơ đã giết Lác-mi, em của Gô-li-át, người Ghít-ti. Cán giáo của hắn như trục khung cửi của thợ dệt.
  4. Sau đó lại có chiến tranh tại Gát. Có một người mà chân và tay đều có sáu ngón – tất cả là hai mươi bốn ngón. Người này cũng thuộc dòng dõi người khổng lồ. 7. Khi hắn sỉ nhục Y-sơ-ra-ên thì Giô-na-than, con trai của Si-mê-a, anh của Đa-vít, đã giết hắn.
  5. Những người này thuộc dòng dõi những người khổng lồ tại Gát. Chúng đã rơi vào tay của Đa-vít và vào tay những thuộc hạ của ông.

 

21

  1. Sa-tan đã nổi lên chống lại Y-sơ-ra-ên, cho nên đã xúi giục Đa-vít kiểm tra dân Y-sơ-ra-ên.
  2. Đa-vít đã nói với Giô-áp và các lãnh đạo của dân chúng: “Hãy đi thống kê khắp Y-sơ-ra-ên từ Bê-e Sê-ba đến Đan, rồi hãy trình cho ta biết con số.” 3. Giô-áp nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va gia tăng dân số của Ngài nhiều gấp trăm lần như hiện có! Tâu bệ hạ là chúa của tôi! Không phải tất cả dân chúng đều là tôi tớ của chúa tôi hay sao? Tại sao chúa tôi lại yêu cầu làm điều nầy? Tại sao chúa tôi làm cho Y-sơ-ra-ên phải phạm tội?”
  3. Tuy nhiên lời của vua đã thắng hơn lời của Giô-áp, cho nên Giô-áp phải đi. Ông đã đi khắp Y-sơ-ra-ên rồi trở về Giê-ru-sa-lem. 5. Giô-áp đã trình tổng dân số cho Đa-vít. Toàn thể Y-sơ-ra-ên có một triệu một trăm ngàn người có thể cầm gươm, và Giu-đa có bốn trăm bảy chục ngàn người có thể cầm gươm. 6. Tuy nhiên, ông không đếm người Lê-vi và người Bên-gia-min, bởi vì mệnh lệnh của vua thật là kinh tởm đối với Giô-áp.
  4. Ðức Chúa Trời không hài lòng về việc nầy, nên Ngài trừng phạt Y-sơ-ra-ên. 8. Đa-vít thưa với Đức Chúa Trời: “Con đã phạm tội thật nghiêm trọng khi làm điều nầy. Nhưng bây giờ, xin Ngài bỏ qua tội ác của con, là đầy tớ của Ngài, bởi vì con đã hành động một cách dại dột.”
  5. Đức Giê-hô-va phán với Gát, vị tiên kiến của Đa-vít: 10. “Hãy đi nói với Đa-vít rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Ta cho ngươi ba điều. Chính ngươi hãy chọn một trong những điều đó để Ta thực hiện cho ngươi.’”
  6. Vì vậy, Gát đã đến gặp Ða-vít rồi nói với ông: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Ngươi hãy chọn 12. hoặc ba năm bị nạn đói, hoặc ba tháng bị tàn hại bởi những kẻ thù của ngươi – với gươm của những kẻ thù rượt đuổi theo ngươi, hoặc ba ngày bởi gươm của Đức Giê-hô-va – bằng dịch bệnh lan tràn trong xứ và Thiên sứ của Đức Giê-hô-va sẽ hủy diệt toàn cõi Y-sơ-ra-ên.’ Vì vậy bây giờ, chính ngài hãy cho tôi một lời, để tôi thưa lại với Đấng đã sai tôi.”
  7. Ða-vít nói với Gát: “Tôi đang ở trong cảnh cực kỳ khốn cùng. Xin để tôi rơi vào tay của Đức Giê-hô-va bởi vì lòng thương xót của Ngài rất lớn, nhưng đừng để tôi rơi vào tay của loài người.”
  8. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã giáng dịch bệnh trên Y-sơ-ra-ên khiến bảy mươi ngàn người Y-sơ-ra-ên ngã chết. 15. Ðức Chúa Trời đã sai một thiên sứ đến tiêu diệt Giê-ru-sa-lem, nhưng khi thiên sứ đang tiêu diệt, thì Đức Giê-hô-va thay đổi về tai họa và đã truyền cho thiên sứ đang hủy diệt rằng: “Đủ rồi! Ngay lập tức hãy dừng tay lại.” Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đã đứng lại bên sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.
  9. Đa-vít ngước mắt lên nhìn thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đang đứng giữa trời và đất, trong tay đang cầm một thanh gươm đã tuốt ra hướng về Giê-ru-sa-lem. Sau đó Ða-vít và các trưởng lão đã mặc áo vải sô, rồi sấp mình xuống đất. 17. Ða-vít đã thưa với Ðức Chúa Trời: “Không phải chính con đã ra lịnh thống kê dân số hay sao? Thật vậy, chính con đã phạm tội và làm điều gian ác nầy. Tuy nhiên, những con chiên nầy họ có làm gì đâu? Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của con! Con cầu xin tay của Ngài hãy sửa phạt con và những người trong nhà cha của con, nhưng đừng để dân chúng bị dịch bệnh.”
  10. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đã truyền cho Gát nói với Đa-vít rằng Đa-vít hãy đi lên, dựng một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít. 19. Vì vậy, Đa-vít đã đi lên theo lời của Gát mà ông đã nhân danh Đức Giê-hô-va phán.
  11. Ọt-nan quay lại và nhìn thấy vị thiên sứ. Bốn con trai của ông, đang ở với ông, liền ẩn trốn, nhưng Ọt-nan vẫn tiếp tục đập lúa. 21. Khi Ða-vít đi đến gặp Ọt-nan, Ọt-nan nhìn lên và thấy Ða-vít đang đến, ông đã rời khỏi sân đập lúa, và sấp mặt xuống đất trước mặt Ða-vít. 22. Ða-vít nói với Ọt-nan: “Xin nhường cho ta sân đập lúa của ngươi, để ta xây một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại đó. Xin hãy nhường cho ta đúng giá để dịch bệnh có thể lìa khỏi dân chúng.” 23. Tuy nhiên, Ọt-nan đã nói với Ða-vít: “Xin bệ hạ, là chúa thượng của tôi, cứ lấy nó mà dùng theo ý bệ hạ cho là tốt. Này, tôi xin dâng những con bò để làm tế lễ thiêu, khung đập lúa để làm củi, và lúa mì để làm tế lễ chay. Tôi xin dâng tất cả.” 24. Nhưng Vua Ða-vít đã nói với Ọt-nan: “Không! Ta muốn mua nó đúng giá. Ta không muốn dâng lên cho Đức Giê-hô-va những gì thuộc về ngươi, và ta cũng không muốn dâng tế lễ thiêu mà ta không tốn kém gì cả.” 25. Vì vậy, Đa-vít đã trả cho Ọt-nan sáu trăm siếc-lơ vàng để mua nơi đó. 26. Đa-vít đã xây một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại đó. Ông đã dâng những tế lễ thiêu, tế lễ bình an, và cầu khẩn Đức Giê-hô-va. Ngài đã đáp lời cho ông bằng lửa từ trời giáng trên bàn thờ đã dâng tế lễ thiêu. 27. Đức Giê-hô-va đã truyền cho thiên sứ tra gươm vào vỏ.
  12. Từ khi thấy Đức Giê-hô-va đã nhậm lời mình tại sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít, Đa-vít đã dâng sinh tế tại đó. 29. Bởi vì lúc đó Đền Tạm của Đức Giê-hô-va mà Môi-se đã dựng trong hoang mạc và bàn thờ dâng tế lễ thiêu vẫn còn ở tại nơi cao ở Ga-ba-ôn. 30. Tuy nhiên, Đa-vít không dám đến trước bàn thờ đó để cầu hỏi Đức Chúa Trời, bởi vì vua khiếp sợ gươm của Thiên sứ của Đức Giê-hô-va.

 

22

  1. Đa vít nói: “Đây sẽ là đền của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và đây là bàn thờ để Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ thiêu.”
  2. Ða-vít đã truyền lệnh triệu tập tất cả những ngoại kiều đang sống trong đất Y-sơ-ra-ên, rồi chỉ định họ làm thợ đục đá để cắt đá cho việc xây cất đền của Đức Chúa Trời. 3. Đa-vít đã chuẩn bị rất nhiều sắt để làm đinh, và những bản lề cho các cửa của những cái cổng. Đa-vít đã chuẩn bị rất nhiều đồng – không thể nào cân được. 4. Gỗ bá hương nhiều vô số, bởi vì người Si-đôn và Ty-rơ đã đem rất nhiều gỗ bá hương đến cho Đa-vít. 5. Đa-vít nói: “Sa-lô-môn là con trai của ta hãy còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, còn ngôi đền sẽ xây cho Đức Giê-hô-va phải tráng lệ, thật nguy nga, và nổi tiếng khắp nơi. Vì vậy, ta phải chuẩn bị cho nó.” Do đó, Đa-vít đã chuẩn bị rất nhiều trước khi qua đời.
  3. Sau đó, Đa-vít đã gọi Sa-lô-môn, con trai của ông, đến, rồi trao việc xây cất ngôi đền cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 7. Đa-vít đã nói với Sa-lô-môn: “Con ơi! Cha có ý định xây cất một ngôi đền cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha. 8. Nhưng có lời của Đức Giê-hô-va đã phán với cha rằng: ‘Ngươi đã làm đổ máu quá nhiều. Ngươi đã tham chiến quá nhiều, vì vậy ngươi sẽ không xây đền cho danh của Ta, bởi vì ngươi đã làm đổ máu trên đất quá nhiều trước mặt Ta. 9. Nầy, một con trai sẽ được sinh ra cho ngươi. Nó sẽ là một người an hòa. Ta sẽ ban sự thái bình cho nó, các kẻ thù chung quanh sẽ không còn quấy nhiễu nó. Vì vậy, tên của nó sẽ là Sa-lô-môn. Trong đời của nó, Ta sẽ ban hòa bình an ổn cho Y-sơ-ra-ên. 10. Nó sẽ xây cất ngôi đền cho danh của Ta. Nó sẽ làm con trai của Ta và Ta sẽ làm cha của nó. Ta sẽ lập ngôi nước của nó vững bền trên Y-sơ-ra-ên cho đến đời đời.’ 11. Bây giờ, con ơi! Cầu xin Đức Giê-hô-va ở với con, để con xúc tiến công việc xây cất ngôi đền cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con đúng như lời Ngài đã phán về con. 12. Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho con sự khôn ngoan thông sáng để con cai trị trên Y-sơ-ra-ên và tuân giữ luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. 13. Con sẽ được thịnh vượng nếu con cẩn thận làm theo những luật lệ và mạng lịnh mà Đức Giê-hô-va đã truyền Môi-se ban cho Y-sơ-ra-ên. Hãy mạnh dạn và can đảm! Đừng sợ hãi, đừng hoang mang! 14. Nầy, cha đã vất vả để chuẩn bị cho ngôi đền của Đức Giê-hô-va một trăm ngàn ta-lâng vàng, một triệu ta-lâng bạc, còn đồng và sắt thì không thể nào cân hết được, bởi vì quá nhiều. Cha cũng chuẩn bị gỗ và đá nữa, nhưng con phải thêm vào. 15. Hơn nữa, có rất nhiều nhân công làm cho con: thợ đá, thợ nề, thợ mộc, và những người thông thạo mọi ngành nghề. 16. Vàng, bạc, đồng, và sắt rất nhiều. Hãy đứng lên và làm việc. Đức Giê-hô-va sẽ ở cùng con.”
  4. Ða-vít cũng truyền cho tất cả các lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên phải giúp Sa-lô-môn, con trai của ông: 18. “Không phải Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi, đang ở với các ngươi và Ngài đã ban cho các ngươi được an ổn từ mọi phía hay sao? Bởi vì Ngài đã ban dân cư trong xứ vào tay của ta và cả xứ đã chịu khuất phục trước mặt Đức Giê-hô-va, và dân của Ngài. 19. Vì vậy bây giờ, hãy hết lòng hết linh hồn tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Hãy đứng lên xây cất đền thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời, rồi đem Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va và các vật thánh của Đức Chúa Trời vào trong ngôi đền được xây cho danh của Đức Giê-hô-va.”

 

23

  1. Khi Đa-vít đã già và tuổi cao, ông đã lập Sa-lô-môn, con trai của mình, làm vua của Y-sơ-ra-ên. 2. Ông đã triệu tập tất cả các lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên, các tư tế, và những người Lê-vi.
  2. Người ta đếm những người Lê-vi từ ba mươi tuổi trở lên. Con số của họ, đếm từng người, là ba mươi tám ngàn. 4. Trong số đó, hai mươi bốn ngàn người được sắp đặt để làm việc trong đền của Đức Giê-hô-va; và sáu ngàn người là viên chức và thẩm phán. 5. Thêm vào đó, bốn ngàn người đảm trách công việc canh giữ cửa, và bốn ngàn người ca hát thờ phượng Đức Giê-hô-va bằng những nhạc cụ mà ta đã lập ra để ca ngợi.
  3. Đa-vít đã phân chia họ thành từng ban theo dòng dõi các con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
  4. Các con trai của Ghẹt-sôn là La-ê-đan và Si-mê-i. 8. Các con trai của La-ê-đan, đứng đầu là Giê-hi-ên, rồi đến Xê-tham và Giô-ên – ba người. 9. Các con trai của Si-mê-i là Sê-lô-mi, Ha-xi-ên và Ha-ran – ba người. Những người này là các trưởng tộc của La-ê-đan. 10. Các con trai của Si-mê-i là Gia-hát, Xi-na, Giê-úc và Bê-ri-a. Bốn người nầy là các con trai của Si-mê-i. 11. Đứng đầu là Gia-hát, và thứ nhì là Xi-xa, còn Giê-úc và Bê-ri-a không có nhiều con cháu cho nên họ được kể chung như là một gia tộc.
  5. Các con trai của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, U-xi-ên – bốn người. 13. Các con của Am-ram là A-rôn và Môi-se. A-rôn đã được biệt riêng ra cho những việc chí thánh. Ông và các con cháu của ông sẽ dâng hương và phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va cho đến đời, và nhân danh Ngài mà chúc phước cho đến đời đời. 14. Về phần Môi-se, là người của Đức Chúa Trời, các con trai của ông được kể vào chi tộc Lê-vi. 15. Các con trai của Môi-se là Ghẹt-sôn và Ê-li-ê-se. 16. Trong số con cháu của Ghẹt-sôn, Sê-bu-ên là trưởng. 17. Con trai của Ê-li-ê-se là Rê-ha-bia, là lãnh đạo. Ê-li-ê-se không có con trai nào khác nhưng Rê-ha-bia có rất nhiều con trai. 18. Trong số các con trai của Dít-sê-ha, Sê-lô-mi là lãnh đạo. 19. Trong các con của Hếp-rôn thì Giê-ri-gia là lãnh đạo, thứ nhì là A-ma-ria, thứ ba là Gia-ha-xi-ên, và thứ tư là Giê-ca-mê-am. 20. Trong các con của U-xi-ên thì Mi-ca là lãnh đạo, và thứ nhì là Di-si-gia.
  6. Các con trai của Mê-ra-ri là Mác-li và Mu-si. Các con trai của Mác-li là Ê-lê-a-sa và Kích. 22. Ê-lê-a-sa chết, không có con trai, chỉ có những con gái. Các con trai của Kích, là bà con của họ, đã cưới họ. 23. Các con của Mu-si là Mác-li, Ê-đe và Giê-rê-mốt – ba người.
  7. Đó là những con cháu của Lê-vi theo dòng tộc của họ, theo trưởng gia tộc. Họ được đăng ký theo tên, theo số lượng từ hai mươi tuổi trở lên, để phục vụ trong đền của Đức Giê-hô-va.
  8. Vì Đa-vít nói rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban cho dân Ngài được an cư. Ngài sẽ ngự tại Giê-ru-sa-lem cho đến đời đời. 26. Vì vậy, người Lê-vi sẽ không phải khiêng Ðền Tạm và những vật dụng để dùng trong việc thờ phượng nữa.”
  9. Theo lời dặn sau cùng của Đa-vít, người ta đã kiểm kê số người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên. 28. Nhiệm vụ của họ là hổ trợ con cháu A-rôn phục vụ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, trong các sân, trong các phòng, giữ tinh sạch các vật thánh, và làm bất cứ công việc nào trong nhà của Đức Chúa Trời như: 29. sắp đặt bánh để dâng trên bàn thờ, chuẩn bị bột thượng hạng để làm của lễ chay, làm bánh không men, nướng trong chảo, hòa trộn theo cân đong và kích thước. 30. Mỗi buổi sáng họ phải đứng tại đó để cảm tạ và ca ngợi Đức Giê-hô-va, và buổi chiều cũng làm như vậy. 31. Vào ngày sa-bát, ngày trăng mới, và những ngày lễ được ấn định, họ dâng những tế lễ thiêu lên trước mặt Đức Giê-hô-va. Họ tiếp tục phục vụ Đức Giê-hô-va theo số lượng và theo thứ tự đã được truyền cho họ. 32. Họ chịu trách nhiệm về Lều Hội Kiến, về Nơi Thánh, và giúp đỡ con cháu của A-rôn, là anh em của họ, để phục vụ trong đền của Đức Giê-hô-va.

 

24

  1. Đây là những phân ban trong dòng dõi của A-rôn. Các con trai của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma. 2. Na-đáp và A-bi-hu chết trước cha của họ và không có con; vì vậy Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma đã đảm nhận chức vụ tư tế.
  2. Đa-vít cùng với Xa-đốc, con cháu của Ê-lê-a-sa, và A-hi-mê-léc, con cháu của Y-tha-ma, đã phân chia con cháu của A-rôn thành nhiều ban theo nhiệm vụ của họ. 4. Bởi vì trong con cháu của Ê-lê-a-sa có nhiều lãnh đạo hơn trong con cháu của Y-tha-ma, cho nên đã họ phân chia như sau: Con cháu của Ê-lê-a-sa có mười sáu vị lãnh đạo, và con cháu của Y-tha-ma có tám vị lãnh đạo. 5. Họ đã bắt thăm giữa vòng những người nầy để phân chia chức vụ trong Đền Thánh và trong nhà của Đức Chúa Trời giữa vòng con cháu của Ê-lê-a-sa và con cháu của Y-tha-ma. 6. Thư ký Sê-ma-gia, con trai của Na-tha-na-ên, thuộc chi tộc Lê-vi, đã ghi tên của họ trước mặt vua, các lãnh đạo, Tư tế Xa-đốc, A-hi-mê-léc con trai của A-bia-tha, và trước mặt các trưởng gia tộc của các tư tế và những người Lê-vi. Một thăm cho một gia tộc thuộc con cháu của Ê-lê-a-sa, và một thăm cho một gia tộc thuộc con cháu của Y-tha-ma.
  3. Thăm thứ nhất thuộc về Giê-hô-gia-ríp, thăm thứ nhì thuộc về Giê-đa-ê-gia, 8. thăm thứ ba thuộc về Ha-rim, thăm thứ tư thuộc về Sê-ô-rim, 9. thăm thứ năm thuộc về Manh-kia, thăm thứ sáu thuộc về Mia-min, 10. thăm thứ bảy thuộc về Ha-cốt, thăm thứ tám thuộc về A-bi-gia, 11. thăm thứ chín thuộc về Giê-sua, thăm thứ mười thuộc về Sê-ca-nia, 12. thăm thứ mười một thuộc về Ê-li-a-síp, thăm thứ mười hai thuộc về Gia-kim, 13. thăm thứ mười ba thuộc về Húp-pa, thăm thứ mười bốn thuộc về Giê-sê-báp, 14. thăm thứ mười lăm thuộc về Binh-ga, thăm thứ mười sáu thuộc về Y-mê, 15. thăm thứ mười bảy thuộc về Hê-xia, thăm thứ mười tám thuộc về Phi-xết, 16. thăm thứ mười chín thuộc về Phê-ta-hia, thăm thứ hai mươi thuộc về Ê-xê-chi-ên, 17. thăm thứ hai mươi mốt thuộc về Gia-kin, thăm thứ hai mươi hai thuộc về Ga-mun, 18. thăm thứ hai mươi ba thuộc về Đê-la-gia, và thăm thứ hai mươi bốn thuộc về Ma-a-xia.
  4. Đây là lịch trình phục vụ trong nhà của Đức Giê-hô-va theo quy định của A-rôn, là tổ phụ của họ, đã thiết lập theo điều mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền cho ông.
  5. Những con cháu còn lại của Lê-vi như sau: Trong con cháu của Am-ram có Su-ba-ên; trong con cháu của Su-ba-ên có Giê-đia. 21. Trong con cháu của Rê-ha-bia có Di-si-gia lãnh đạo. 22. Trong con cháu của Dít-sê-ha có Sê-lô-mốt; trong con cháu của Sê-lô-mốt có Gia-hát. 23. Trong con cháu của Hếp-rôn có Giê-ri-gia đứng đầu, thứ nhì là A-ma-ria, thứ ba là Gia-ha-xi-ên, và thứ tư là Gia-ca-mê-am. 24. Trong con cháu của U-xi-ên có Mi-ca; trong con cháu của Mi-ca có Sa-mia. 25. Anh em của Mi-ca là Di-si-gia; trong con cháu của Di-si-gia có Xa-cha-ri. 26. Trong các con cháu của Mê-ra-ri có Mác-li và Mu-si. Trong các con cháu của Gia-a-xi-gia có Bê-nô. 27. Các con trai của Mê-ra-ri là Gia-a-xi-a, Bê-nô, Sô-ham, Xác-cua và Y-bê-ri. 28. Về dòng Mác-li có Ê-lê-a-sa, không có con trai. 29. Trong các con cháu của Kích có Giê-rác-mê-ên. 30. Các con trai của Mu-si là Mác-li, Ê-đe và Giê-ri-mốt.

Đó là những con cháu của Lê-vi theo gia tộc của họ.

  1. Họ cũng bắt thăm như vậy cho những con cháu thuộc dòng dõi của A-rôn trước sự hiện của Đa-vít – là vua, Xa-đốc, A-bi-mê-léc, và trước mặt các trưởng tộc của các tư tế và những người Lê-vi. Các trưởng tộc cũng bắt thăm như những người em của mình.

 

25

  1. Ngoài ra, Ða-vít và các chỉ huy quân đội đã chọn ra một số người trong vòng con cháu của A-sáp, con cháu của Hê-man, và con cháu của Giê-đu-thun để công bố sứ điệp tiên tri với sự phụ họa của đàn hạc, đàn cầm, và khánh chiêng. Số người phục vụ trong trách nhiệm của họ như sau:
  2. Trong các con trai của A-sáp có Xác-cua, Giô-sép, Nê-tha-nia, và A-sa-rê-la. Những người con của A-sáp ở dưới quyền điều khiển của A-sáp, còn ông thì công bố sứ điệp tiên tri theo sự hướng dẫn của vua.
  3. Trong các con trai của Giê-đu-thun có Ghê-đa-lia, Xê-ri, Ê-sai, Ha-sa-bia, Ma-ti-thia, và Si-mê-i. Sáu người ở dưới quyền điều khiển của Giê-đu-thun, là cha của họ. Ông dùng đàn hạc công bố sứ điệp tiên tri, cảm tạ và ca ngợi Đức Giê-hô-va.
  4. Trong các con trai của Hê-man có Búc-ki-gia, Ma-tha-nia, U-xi-ên, Sê-bu-ên, Giê-ri-mốt, Ha-na-nia, Ha-na-ni, Ê-li-a-tha, Ghi-đanh-thi, Rô-mam-ti Ê-xe, Giốt-bê-ca-sa, Ma-lô-thi, Hô-thia, và Ma-ha-xi-ốt. 5. Tất cả những người nầy đều là con của Hê-man, vị tiên kiến của vua. Ông dùng tiếng kèn của mình để tôn cao lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã ban cho Hê-man mười bốn con trai và ba con gái.
  5. Tất cả những người nầy đều ở dưới quyền cai quản của cha họ để lo việc ca hát trong đền thờ của Đức Giê-hô-va với khánh chiêng, đàn cầm và đàn hạc, để phục vụ trong đền thờ của Đức Chúa Trời, theo lệnh của vua truyền cho A-sáp, Giê-đu-thun, và Hê-man. 7. Tổng số những người nầy và bà con của họ, tức là những người đã được huấn luyện để ca hát tôn ngợi Đức Giê-hô-va với kỹ năng, là hai trăm tám mươi tám người. 8. Họ bắt thăm để thay phiên phục vụ, bất kể nhỏ hay lớn, nhạc sư hay nhạc sinh.
  6. Thăm thứ nhất thuộc về Giô-sép thuộc dòng A-sáp; thăm thứ nhì thuộc về Ghê-đa-lia, cùng với anh em và các con trai của ông, tất cả là mười hai người; 10. thăm thứ ba thuộc về Xác-cua, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 11. thăm thứ tư thuộc về Dít-sê-ri, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 12. thăm thứ năm thuộc về Nê-tha-nia, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 13. thăm thứ sáu thuộc về Búc-ki-gia, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 14. thăm thứ bảy thuộc về Giê-sa-rê-la, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 15. thăm thứ tám thuộc về Ê-sai, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 16. thăm thứ chín thuộc về Ma-tha-nia, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 17. thăm thứ mười thuộc về Si-mê-i, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 18. thăm thứ mười một thuộc về A-xa-rên, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 19. thăm thứ mười hai thuộc về Ha-sa-bia, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 20. thăm thứ mười ba thuộc về Su-ba-ên, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 21. thăm thứ mười bốn thuộc về Ma-ti-thia, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 22. thăm thứ mười lăm thuộc về Giê-rê-mốt, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 23. thăm thứ mười sáu thuộc về Ha-na-nia, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 24. thăm thứ mười bảy thuộc về Giốt-bê-ca-sa, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 25. thăm thứ mười tám thuộc về Ha-na-ni, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 26. thăm thứ mười chín thuộc về Ma-lô-thi, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 27. thăm thứ hai mươi thuộc về Ê-li-gia-ta, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 28. thăm thứ hai mươi mốt thuộc về Hô-thia, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 29. thăm thứ hai mươi hai thuộc về Ghi-đanh-thi, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 30. thăm thứ hai mươi ba thuộc về Ma-ha-xi-ốt, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người; 31. thăm thứ hai mươi bốn thuộc về Rô-mam-ti Ê-xe, cùng các con trai và anh em của ông, tất cả là mười hai người.

 

26

  1. Việc phân chia những người gác cổng:

Về dòng Cô-rê có Mê-sê-lê-mia, con trai của Cô-rê, cháu của A-sáp. 2. Các con trai của Mê-sê-lê-mia gồm có con trưởng là Xa-cha-ri, con thứ nhì là Giê-đi-a-ên, con thứ ba là Xê-ba-đia, con thứ tư là Giát-ni-ên, 3. con thứ năm là Ê-lam, con thứ sáu là Giô-ha-nan, và con thứ bảy là Ê-li-ô-ê-nai. 4. Các con trai của Ô-bết Ê-đôm gồm có con trưởng là Sê-ma-gia, con thứ nhì là Giê-hô-xa-bát, con thứ ba là Giô-a, con thứ tư là Sa-ca, con thứ năm là Nê-ta-nên, 5. con thứ sáu là A-mi-ên, con thứ bảy là Y-sa-ca, và con thứ tám là Phê-u-lê-tai – bởi vì Đức Chúa Trời đã ban phước cho Ô-bết Ê-đôm. 6. Sê-ma-gia, con trai của ông, sinh nhiều con trai. Họ là những lãnh đạo trong gia tộc của họ, bởi vì họ đều là những người dũng mãnh can trường. 7. Các con trai của Sê-ma-gia là Ốt-ni, Rê-pha-ên, Ô-bết, Ên-xa-bát, và anh em của họ là Ê-li-hu và Sê-ma-kia, đều là những người dũng mãnh. 8. Tất cả những người này đều là con cháu của Ô-bết-ê-đôm. Họ, con cái của họ, và anh em của họ đều là những người dũng mãnh để phục vụ. Thuộc về Ô-bết-ê-đôm có sáu mươi hai người. 9. Mê-sê-lê-mia có các con trai và những anh em đều là người dũng cảm – mười tám người. 10. Hô-sa, thuộc dòng Mê-ra-ri, cũng có các con. Lãnh đạo là Sim-ri, dù ông không phải là con đầu lòng, nhưng cha của ông đã lập ông làm lãnh đạo; 11. con thứ nhì là Hinh-kia, con thứ ba là Tê-ba-lia, và con thứ tư là Xa-cha-ri. Tất cả các con trai và anh em của Hô-sa là mười ba người.

  1. Đó là việc phân chia những người gác cổng theo những người lãnh đạo và những anh em của họ để phục vụ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. 13. Họ đã bắt thăm, bất kể lớn hay nhỏ, theo gia tộc của tổ phụ, để chọn cổng. 14. Thăm của cổng phía đông trúng nhằm Sê-lê-mia. Sau đó, người ta bắt thăm cho con trai của ông là Xa-cha-ri, một mưu sĩ khôn ngoan, và ông được trúng thăm về cổng phía bắc. 15. Thăm của cổng phía Nam trúng nhằm Ô-bết-ê-đôm; các con trai của ông thì canh giữ kho tàng. 16. Súp-pim và Hô-sa bắt thăm giữ cổng phía tây gần cổng Sa-lê-kết, bên cạnh con đường lên dốc. Trạm gác nầy đối diện trạm gác kia. 17. Mỗi ngày có sáu người Lê-vi gác cổng phía đông, bốn người ở cổng bắc, bốn người ở cổng nam, còn các kho tàng thì hai toán hai người. 18. Tại khu vực cổng phía tây, bốn người canh ngoài đường và hai người tại khu vực của cổng. 19. Đó là những nhóm gác cổng thuộc con cháu của Cô-rê và Mê-ra-ri.
  2. Trong vòng người Lê-vi, A-hi-gia được trao cho trách nhiệm quản lý các kho tàng của nhà Ðức Chúa Trời và các kho chứa những vật thánh. 21. Trong vòng con cháu của La-đan, những người trong dòng họ Ghẹt-sôn đều thuộc quyền điều khiển của gia tộc La-đan. Lãnh đạo trong dòng họ Ghẹt-sôn là một người trong gia tộc La-đan tên là Giê-hi-ê-li. 22. Các con trai của Giê-hi-ê-li là Xê-tham và em trai là Giô-ên, chịu trách nhiệm quản lý các kho tàng của đền thờ Đức Giê-hô-va. 23. Trong dòng dõi của Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên, 24. có Sê-bu-ên, con cháu của Ghẹt-sôn, con trai của Môi-se, là viên chức phụ trách những kho tàng. 25. Những người bà con của ông ra từ Ê-li-ê-xe có Rê-ha-bia con trai của ông, Ê-sai con trai của ông, Giô ram con trai của ông, Xiếc-ri con trai của ông, và Sê-lô-mít con trai của ông. 26. Sê-lô-mít nầy và những anh em của ông quản lý tất cả các kho chứa những vật thánh mà Ða-vít, là Đức Vua, các vị trưởng tộc, các sĩ quan chỉ huy hàng ngàn quân và hàng trăm quân, và các vị chỉ huy quân đội đã dâng hiến. 27. Họ đã trích từ những chiến lợi phẩm đem về sau các trận đánh, dâng vào để dùng cho việc bảo trì đền thờ Đức Giê-hô-va. 28. Tất cả những gì mà Sa-mu-ên – đấng tiên kiến, Sau-lơ – con trai của Kích, Áp-ne – con trai của Nê-rơ, và Giô-áp – con trai của Xê-ru-gia, đã biệt riêng ra thánh, cùng tất cả những vật thánh khác đều thuộc quyền quản lý của Sê-lô-mít và những anh em của ông.
  3. Trong dòng dõi của Dít-sê-ha, có Kê-na-nia và các con trai của ông đã được lập lên làm các viên chức và thẩm phán để phụ trách những công tác bên ngoài Y-sơ-ra-ên.
  4. Trong dòng dõi của Hếp-rôn, Ha-sa-bia và những anh em của ông đều là những dũng sĩ – một ngàn bảy trăm người. Họ là những viên chức ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, ở bên nầy sông Giô-đanh về phía tây, coi sóc các công việc của Đức Giê-hô-va và phục vụ vua. 31. Trong dòng dõi của Hếp-rôn có Giê-ri-gia làm trưởng tộc. Vào năm thứ bốn mươi đời trị vì của Đa-vít, người ta tìm kiếm và đã tìm được những người dũng mãnh của họ tại Gia-ê-xe thuộc Ga-la-át. 32. Họ hàng của ông là những dũng sĩ. Hai ngàn bảy trăm người là trưởng tộc. Họ đã được Vua Đa-vít lập lên cai quản người Ru-bên, người Gát và một nửa chi tộc Ma-na-se trong mọi việc liên quan đến Đức Chúa Trời lẫn những công việc của nhà vua.

 

27

  1. Đây là quân số của Y-sơ-ra-ên, các lãnh đạo theo gia tộc, các chỉ huy của hàng ngàn quân và hàng trăm quân, các viên chức phục vụ vua được phân chia thành binh đoàn, theo từng tháng, từ tháng này sang tháng khác trong suốt cả năm, và mỗi binh đoàn có hai mươi bốn ngàn quân.
  2. Chỉ huy binh đoàn thứ nhất phụ trách tháng thứ nhất là Gia-sô-bê-am, con trai của Xáp-đi-ên. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân. 3. Ông thuộc về dòng dõi của Phê-rết, và là lãnh đạo các chỉ huy của quân đội cho tháng thứ nhất.
  3. Chỉ huy binh đoàn thứ hai phụ trách tháng thứ hai là Đô-đai người A-hô-hi, có Mích-lô làm chỉ huy phó. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  4. Chỉ huy binh đoàn thứ ba phụ trách tháng thứ ba là Bê-na-gia, con trai của Tư tế Giê-hô-gia-đa. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân. 6. Bê-na-gia là một dũng sĩ trong nhóm ba mươi dũng sĩ mà ông là lãnh đạo. Am-mi-xa-đáp, con trai của ông, cũng ở trong binh đoàn của ông.
  5. Chỉ huy binh đoàn thứ tư phụ trách tháng thứ tư là A-sa-ên, em trai của Giô-áp. Phía sau của ông là Xê-ba-đia, con trai của ông. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  6. Chỉ huy binh đoàn thứ năm phụ trách tháng thứ năm là Sa-mê-hút, người Gít-ra. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  7. Chỉ huy binh đoàn thứ sáu phụ trách tháng thứ sáu là Y-ra, con trai của Y-ke tại Thê-cô-a. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  8. Chỉ huy binh đoàn thứ bảy phụ trách tháng thứ bảy là Hê-lết, thuộc chi tộc Ép-ra-im ở Pha-lôn. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  9. Chỉ huy binh đoàn thứ tám phụ trách tháng thứ tám là Si-bê-cai ở Hu-sa, thuộc về dòng Xê-rách. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  10. Chỉ huy binh đoàn thứ chín phụ trách tháng thứ chín là A-bi-ê-xe, thuộc chi tộc Bên-gia-min ở A-na-tốt. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  11. Chỉ huy binh đoàn thứ mười phụ trách tháng thứ mười là Ma-ha-rai, thuộc dòng Xê-rách ở Nê-tô-pha. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  12. Chỉ huy binh đoàn thứ mười một phụ trách tháng thứ mười một là Bê-na-gia, thuộc chi tộc Ép-ra-im ở Phi-ra-thôn. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  13. Chỉ huy binh đoàn thứ mười hai phụ trách tháng thứ mười hai là Hiên-đai, thuộc dòng Ốt-ni-ên ở Nê-tô-pha. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn ngàn quân.
  14. Đây là lãnh đạo các chi tộc của Y-sơ-ra-ên: Ê-li-ê-se, con trai của Xiếc-ri, lãnh đạo Ru-bên; Sê-pha-tia, con trai của Ma-a-ca, lãnh đạo Si-mê-ôn; 17. Ha-sa-bia, con trai của Kê-mu-ên, lãnh đạo Lê-vi; Xa-đốc, lãnh đạo con cháu của A-rôn. 18. Ê-li-hu, anh của Đa-vít, lãnh đạo Giu-đa; Ôm-ri, con trai của Mi-ca-ên, lãnh đạo Y-sa-ca. 19. Dít-ma-hia, con trai Ô-ba-đia, lãnh đạo Sa-bu-lôn; Giê-ri-mốt, con trai A-ri-ên, lãnh đạo Nép-ta-li; 20. Ô-sê, con trai của A-xa-xia, lãnh đạo Ép-ra-im; Giô-ên, con trai của Phê-đa-gia, lãnh đạo phân nửa chi tộc Ma-na-se; 21. Gi-đô, con trai của Xa-cha-ri, lãnh đạo phân nửa chi tộc Ma-na-se tại Ga-la-át; Gia-a-xi-ên, con trai của Áp-ne, lãnh đạo Bên-gia-min. 22. A-xa-rên, con trai của Giê-rô-ham, lãnh đạo Đan. Đó là những lãnh đạo của các chi tộc Y-sơ-ra-ên. 23. Ða-vít không tính những người dưới hai mươi tuổi, bởi vì Đức Giê-hô-va đã hứa sẽ làm cho Y-sơ-ra-ên đông như sao trên trời. 24. Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, bắt đầu thống kê nhưng không hoàn tất. Điều đó đã gây tai họa cho Y-sơ-ra-ên. Số liệu thống kê không được ghi vào biên niên sử của Vua Đa-vít.
  15. Ách-ma-vết, con trai của A-đi-ên, quản lý các kho tàng của vua; Giô-na-than, con trai của U-xi-gia, quản lý các kho ngoài đồng, trong các thành phố, làng mạc, và trong những đồn lũy. 26. Ết-ri, con trai của Kê-lúp, điều hành những nông dân canh tác đất đai. 27. Sim-ri, người Ra-ma, coi sóc các vườn nho; còn Xáp-đi, người Sê-pham, coi sóc kho rượu trong vườn nho; 28. Ba-anh Ha-nan, người Ghê-đe, quản lý những vườn ô liu và vả tại đồng bằng. Giô-ách chịu trách nhiệm cung cấp dầu. 29. Sít-trai, người Sa-rôn, quản lý những đàn súc vật tại Sa-rôn; Sa-phát, con trai của Át-lai, quản lý những đàn súc vật trong thung lũng. 30. Ô-binh, người Ích-ma-ên, coi sóc lạc đà; Giê-đia, người Mê-rô-nốt coi sóc những con lừa; 31. Gia-xít, người Ha-ga-rít coi sóc các bầy chiên. Tất cả những người này là những viên chức quản lý sản nghiệp của Vua Đa-vít. 32. Giô-na-than, cậu của Ða-vít, là mưu sĩ của vua. Ông là một người khôn ngoan và trí thức. Giê-hi-ên, con trai của Hách-mô-ni, phụ trách việc giáo dục các con của vua. 33. A-hi-tô-phên là cố vấn của vua; Hu-sai, người Ạt-kít, là bạn của vua.

 

28

  1. Ða-vít đã triệu tập về Giê-ru-sa-lem tất cả những lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên: Những lãnh đạo của các chi tộc, những vị chỉ huy các quân đoàn phục vụ vua, các chỉ huy trưởng hàng ngàn quân, các chỉ huy trưởng hàng trăm quân, các quan chức trông coi tất cả tài sản và súc vật của vua và của các con của vua, cùng các viên chức, những người có quyền thế, và tất cả các dũng sĩ.
  2. Vua Đa-vít đã đứng dậy trên chân của mình, rồi nói: “Các anh em của tôi và đồng bào của tôi! Xin hãy nghe tôi. Tôi đã có ý định trong lòng xây cất một đền thờ để làm nơi đặt Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va, và để làm bệ chân cho Đức Chúa Trời của chúng ta. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để xây cất. 3. Nhưng Ðức Chúa Trời đã phán với tôi rằng: ‘Ngươi sẽ không xây một căn nhà cho danh của Ta, bởi vì ngươi là người của chiến tranh, và ngươi đã làm đổ máu quá nhiều.’ 4. Tuy nhiên, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã chọn tôi giữa bao nhiêu người trong cả nhà của cha tôi để làm vua của Y-sơ-ra-ên mãi mãi. Ngài đã chọn Giu-đa để lãnh đạo, và trong nhà Giu-đa, Ngài chọn gia đình của cha tôi, và rồi trong số các con trai của cha tôi, Ngài đã vui lòng chọn và lập tôi làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên. 5. Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi có nhiều con trai. Trong những con trai đó, Ngài đã chọn Sa-lô-môn, con trai của tôi, đặt ngồi trên ngôi của vương quốc thuộc về Đức Giê-hô-va để cai trị Y-sơ-ra-ên. 6. Ngài đã phán với tôi rằng: ‘Sa-lô-môn, con trai của ngươi, sẽ xây cất đền thờ và khuôn viên cho Ta; bởi vì Ta đã chọn nó làm con của Ta, và Ta sẽ làm cha của nó. 7. Ta sẽ làm cho vương quốc của nó được vững lập đời đời, nếu nó luôn luôn vâng giữ những điều răn và các mạng lịnh của Ta như ngươi đang làm ngày nay.’ 8. Vì vậy bây giờ, trước mặt toàn thể Y-sơ-ra-ên, là hội chúng của Đức Giê-hô-va, và có Đức Chúa Trời của chúng ta đang lắng nghe, xin hãy hết lòng tìm kiếm và vâng giữ tất cả những điều răn của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của chúng ta, để quý vị có thể sở hữu đất nước tốt đẹp nầy, và sẽ để nó lại làm sản nghiệp cho con cháu của quý vị mãi mãi về sau.”
  3. “Còn con, hỡi Sa-lô-môn, con trai của ta! Hãy nhận biết Đức Chúa Trời của cha con. Hãy hết lòng và hết linh hồn mà phục vụ Ngài bởi vì Đức Giê-hô-va dò xét mọi tấm lòng, biết mọi ý định và tư tưởng. Nếu con tìm kiếm Ngài, con sẽ gặp được; nhưng nếu con từ bỏ Ngài thì Ngài sẽ loại bỏ con đời đời. 10. Bây giờ, hãy cẩn thận, bởi vì Đức Giê-hô-va đã chọn con xây cất một đền thờ để dùng làm nơi thánh của Ngài. Hãy mạnh dạn và thực hiện.”
  4. Sau đó, Đa-vít đã trao cho Sa-lô-môn, con trai của ông, đồ án của tiền sảnh, đền thờ, các kho tàng, tầng lầu, nội điện của đền thờ, và nắp thi ân. 12. Vua cũng trao cho Sa-lô-môn những đồ án mà Thánh Linh đã cho vua biết về khuôn viên của đền thờ của Đức Giê-hô-va, về các phòng chung quanh, về những kho tàng của đền thờ Đức Chúa Trời, và về các kho để vật thánh; 13. về việc phân công các tư tế và người Lê-vi; về những công việc trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, và về tất cả vật dụng phục vụ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va; 14. về số lượng vàng cho tất cả các vật dụng làm bằng vàng để dùng trong mỗi công việc, và số lượng bạc cho tất cả các vật dụng làm bằng bạc để dùng trong mỗi công việc; 15. số lượng vàng để làm các chân đèn và đèn bằng vàng, với số lượng của mỗi chân đèn và đèn; số lượng bạc để làm các chân đèn và đèn bằng bạc, tùy cách dùng của mỗi chân đèn; 16. số lượng vàng cho những bàn để bánh cung hiến, và số lượng bạc cho những bàn bằng bạc; 17. số lượng vàng cho các nĩa, chậu, và ly bằng vàng ròng; cho các chén vàng, và số lượng của mỗi cái; cho các chén bạc, và số lượng của mỗi cái; 18. số lượng vàng tinh luyện để làm bàn thờ dâng hương; và kiểu mẫu của chiếc xe với các chê-ru-bim bằng vàng xòe cánh ra che trên Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va.
  5. Đa-vít nói: “Đức Giê-hô-va đã làm cho tôi hiểu tất cả những chi tiết của đồ án. Tất cả đã chép lại bằng tay.”
  6. Ða-vít nói với Sa-lô-môn, con trai của ông: “Hãy mạnh mẽ và hãy can đảm thực hiện! Đừng sợ hãi, đừng nản lòng, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của cha, sẽ ở cùng con. Ngài sẽ không để cho con thất bại. Ngài sẽ không từ bỏ con, không hề lìa khỏi con cho đến khi công việc xây cất đền thờ của Đức Giê-hô-va được hoàn tất. 21. Kìa, các ban của các tư tế và người Lê-vi sẵn sàng làm tất cả các công việc cho đền thờ của Đức Chúa Trời. Trong bất cứ công việc nào, cũng có những người thạo nghề vui lòng giúp để thực hiện mọi việc. Ngoài ra, các vị lãnh đạo và toàn dân sẵn sàng vâng lịnh con.”

 

29

  1. Sau đó, Vua Ða-vít đã nói với toàn thể hội chúng: “Sa-lô-môn, con trai của ta, là người được Ðức Chúa Trời chọn, vẫn còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, trong khi trọng trách thật lớn lao, bởi vì ngôi đền sắp được xây dựng không phải để cho người ta nhưng cho Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời. 2. Tôi đã hết sức chuẩn bị cho đền thờ của Đức Chúa Trời của tôi: vàng để làm đồ bằng vàng, bạc để làm đồ bằng bạc, đồng để làm đồ bằng đồng, sắt để làm đồ bằng sắt, gỗ để làm đồ bằng gỗ, đá mã não, những loại đá quý để khảm, những loại ngọc thạch có vân và nhiều màu đẹp đẽ, cùng mọi thứ đá quý và cẩm thạch rất nhiều. 3. Hơn nữa, vì lòng yêu mến đền thờ của Đức Chúa Trời, nên ngoài số vật liệu đã sắm sẵn cho đền thánh, tôi cũng dâng hiến vàng bạc từ kho riêng của tôi cho đền thờ của Đức Chúa Trời của tôi, 4. gồm ba ngàn ta-lâng vàng – vàng Ô-phia, và bảy ngàn ta-lâng bạc tinh luyện để khảm trên các vách tường của ngôi đền. 5. Vàng để làm những vật bằng vàng, bạc để làm những vật bằng bạc, và để những chuyên viên mỹ thuật làm tất cả những công việc khác. Vì vậy ngày nay, ai là người sẵn sàng dâng hiến chính mình cho Đức Giê-hô-va?”
  2. Sau đó, các trưởng tộc, các lãnh đạo của những chi tộc, những viên chỉ huy hàng ngàn quân và hàng trăm quân, và những người quản lý công việc của vua, đã vui vẻ dâng hiến. 7. Họ đã dâng cho công việc xây đền của Đức Chúa Trời năm ngàn ta-lâng vàng, mười ngàn đa-riếc, mười ngàn ta-lâng bạc, mười tám ngàn ta-lâng đồng, và một trăm ngàn ta-lâng sắt. 8. Những người có đá quí thì dâng vào kho của Đức Giê-hô-va, do Giê-bi-ên về dòng Ghẹt-sôn quản lý. 9. Dân chúng vui mừng về điều mình đã tự nguyện và hết lòng dâng hiến cho Đức Giê-hô-va. Vua Đa-vít cũng rất vui mừng.
  3. Vì vậy, Ða-vít đã chúc tụng Đức Giê-hô-va trước mặt toàn thể hội chúng. Ða-vít nói: “Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên tổ phụ của chúng con! Nguyện Ngài được chúc tụng từ đời đời cho đến đời đời. 11. Đức Giê-hô-va ôi! Sự vĩ đại, quyền năng, vinh quang, đắc thắng, và uy nghi đều thuộc về Ngài. Tất cả những gì trên trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Vương quốc thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài được tôn cao là đầu của tất cả. 12. Sự giàu sang và tôn trọng đều đến từ Ngài. Ngài tể trị tất cả. Quyền năng và sức mạnh đều ở trong tay của Ngài. Tay Ngài ban sự tôn trọng và sức mạnh cho mọi người. 13. Vì vậy bây giờ, Ðức Chúa Trời của chúng con! Chúng con cảm tạ Ngài và tôn ngợi danh vinh hiển của Ngài.
  4. Nhưng con là ai và dân tộc con là gì mà chúng con có thể dâng hiến cách vui lòng như vậy? Bởi vì mọi vật đều đến từ Ngài, và những gì chúng con dâng cho Ngài thật ra đã thuộc về Ngài. 15. Vì chúng con chỉ là những kiều dân, những người tạm trú trước mặt Ngài, giống như tổ phụ của chúng con. Những ngày của chúng con trên đất chỉ như những cái bóng, không có hy vọng. 16. Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng con! Tất cả những gì đã thâu trữ chuẩn bị để xây cất đền thờ cho danh thánh của Ngài, đều do tay Ngài mà đến, và tất cả đều thuộc về Ngài. 17. Lạy Đức Chúa Trời của con! Con biết rằng Ngài dò xét lòng người và vui về điều ngay thẳng. Về phần con, con vui lòng dâng những vật nầy với lòng ngay thẳng của con. Và bây giờ, con vui mừng nhìn thấy dân của Ngài đang hiện diện tại đây, cũng dâng hiến cho Ngài cách vui lòng. 18. Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, là những tổ phụ của chúng con! Cầu xin Ngài cứ giữ mãi những ý nguyện và những tâm tình đó trong lòng của dân Ngài, và khiến lòng họ hướng về Ngài. 19. Cầu xin Ngài ban cho Sa-lô-môn, con trai của con, một tấm lòng trọn vẹn để tuân giữ những điều răn, luật lệ, và mạng lịnh của Ngài, và làm theo tất cả những điều đó, rồi xây dựng một ngôi đền cho Ngài mà con đã chuẩn bị.”
  5. Đa-vít nói với cả hội chúng: “Hãy chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của quý vị.” Cả hội chúng đã chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, cúi đầu thờ lạy Đức Giê-hô-va, và cúi chào vua.
  6. Ngày hôm sau, họ đã dâng sinh tế và tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, gồm một ngàn con bò đực, một ngàn con chiên đực, một ngàn con chiên con, cùng với những lễ quán cặp theo, và rất nhiều sinh tế cho toàn dân Y-sơ-ra-ên. 22. Trong ngày hôm đó, họ đã ăn uống vui vẻ trước mặt Đức Giê-hô-va. Họ đã tôn con trai Đa-vít, là Sa-lô-môn, lên làm vua lần thứ hai. Họ đã nhân danh Đức Giê-hô-va xức dầu cho Sa-lô-môn làm vua và lập Xa-đốc làm tư tế. 23. Sau đó, Sa-lô-môn đã ngồi trên ngôi mà Đức Giê-hô-va đã ban, để làm vua thế cho Đa-vít, là cha của ông. Ông được hưng thịnh và toàn thể Y-sơ-ra-ên đều vâng lệnh ông. 24. Tất cả các lãnh đạo, các dũng sĩ, và tất cả các con trai của Vua Ða-vít đều suy phục Vua Sa-lô-môn.
  7. Đức Giê-hô-va đã làm cho Vua Sa-lô-môn được tôn trọng trước mắt toàn thể Y-sơ-ra-ên. Ngài ban cho ông sự huy hoàng uy vệ của một bậc đế vương mà trong Y-sơ-ra-ên chưa có một vua nào trước ông có được như vậy.
  8. Đa-vít, con trai của Gie-sê, đã cai trị trên toàn thể Y-sơ-ra-ên như vậy. 27. Ông trị vì trên Y-sơ-ra-ên bốn mươi năm. Ông đã trị vì bảy năm tại Hếp-rôn và ba mươi ba năm tại Giê-ru-sa-lem. 28. Ông qua đời lúc tuổi cao, thỏa nguyện về cuộc đời của mình, về sự giàu có và vinh quang. Sa-lô-môn, con trai của ông, trị vì thay cho ông. 29. Những công việc của Vua Đa-vít, từ đầu cho đến cuối, đã được chép trong sách của Sa-mu-ên – vị tiên kiến, trong sách của Na-than – vị tiên tri, và trong sách của Gát – vị tiên kiến, 30. bao gồm cả triều đại của ông, quyền lực của ông, những diễn biến đã xảy ra cho ông, cho cả Y-sơ-ra-ên, và cho tất cả các vương quốc lân cận.

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top