Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: II Các Vua

Bản Dịch Việt Ngữ: II Các Vua

II Các Vua

1

  1. Sau khi A-háp băng hà, dân Mô-áp nổi lên chống lại Y-sơ-ra-ên.
  2. Lúc đó, Vua A-cha-xia bị té ngang qua chấn song trên lầu của mình tại Sa-ma-ri, và bị thương. Vua sai các sứ giả và dặn họ rằng: “Hãy đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn, xem ta có thể qua khỏi thương tích nầy hay không?”
  3. Nhưng thiên sứ của Đức Giê-hô-va đã phán với Ê-li, người Thi-sê-be: “Hãy đứng dậy, đi lên gặp những sứ giả của vua của Sa-ma-ri, rồi nói với họ: ‘Trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời hay sao mà các ngươi đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, là thần của Éc-rôn?’ 4. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã phán thế nầy: ‘Ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã lên, nhưng ngươi chắc chắn sẽ chết.’” Vì vậy, Ê-li đã đi.
  4. Khi các sứ giả trở về với vua, vua hỏi họ: “Tại sao các ngươi trở về?”
  5. Họ đáp cùng người: “Có một người đi lên, gặp chúng tôi, rồi nói với chúng tôi: ‘Hãy đi, trở về với vua đã sai các ngươi, và nói với người rằng: Đức Giê-hô-va phán: Trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời hay sao mà ngươi sai các sứ giả đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn? Vì vậy, ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã lên, nhưng ngươi chắc chắn sẽ chết.’”
  6. Người hỏi họ: “Người đã đi lên gặp các ngươi và nói những lời nầy, là người như thế nào?”
  7. Họ trả lời người: “Một người có nhiều lông và thắt lưng bằng dây da.”

Người nói: “Đó là Ê-li, người Thi-sê-be.”

  1. Sau đó, vua sai một sĩ quan chỉ huy năm mươi lính, đã cùng với năm mươi lính của mình đi lên gặp Ê-li. Lúc đó, Ê-li đang ngồi trên một đỉnh đồi. Người nầy nói với ông: “Hỡi người của Đức Chúa Trời! Vua truyền rằng: ‘Hãy xuống!’”
  2. Vì vậy, Ê-li đã trả lời viên sĩ quan chỉ huy năm mươi lính: “Nếu ta là người của Đức Chúa Trời, nguyện lửa từ trời giáng xuống thiêu hủy ngươi cùng với năm mươi lính của ngươi!” Và lửa từ trời đã giáng xuống thiêu hủy người đó với năm mươi lính của mình.
  3. Vua lại sai một sĩ quan khác chỉ huy năm mươi lính cùng đi với năm mươi lính của mình. Người nầy đã chấp hành, rồi nói với ông: “Hỡi người của Đức Chúa Trời! Vua đã truyền điều này: ‘Hãy xuống thật nhanh!’”
  4. Vì vậy, Ê-li đã trả lời và nói với họ: “Nếu ta là người của Đức Chúa Trời, nguyện lửa từ trời giáng xuống thiêu hủy ngươi cùng với năm mươi lính của ngươi!” Và lửa của Đức Chúa Trời từ trời đã giáng xuống thiêu hủy người nầy cùng với năm mươi lính của mình.
  5. Vua lại sai một sĩ quan thứ ba chỉ huy năm mươi lính đi với năm mươi người của mình. Viên sĩ quan thứ ba nầy đi lên, và khi đến, đã quỳ xuống trước đầu gối của Ê-li, nài xin, và nói với ông: “Hỡi người của Đức Chúa Trời! Xin quý trọng mạng sống của tôi, và mạng sống của năm mươi đầy tớ của ông trước mặt của ông. 14. Kìa, lửa từ trời đã giáng xuống thiêu hủy hai sĩ quan trước cùng với những toán năm mươi lính của họ. Nhưng bây giờ, xin quý trọng mạng sống tôi trước mặt ông.”
  6. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói với Ê-li: “Hãy đi xuống với người, đừng sợ người.” Vì vậy, Ê-li đã đứng dậy, đi xuống với người để gặp vua. 16. Sau đó, ông đã nói với người rằng: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Bởi vì ngươi đã sai sứ giả đến cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn, có phải trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời để cầu vấn hay sao? Vì vậy, ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã lên, nhưng ngươi chắc chắn sẽ chết.’”
  7. Vì vậy, A-cha-xia đã chết đúng như lời Đức Giê-hô-va đã dùng Ê-li nói. Do A-cha-xia không có con trai, Giô-ram trở thành vua thay chỗ của người vào năm thứ nhì của Giô-ram, con trai của Giê-hô-sa-phát, làm vua của Giu-đa.
  8. Những việc khác mà A-cha-xia đã làm không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên hay sao?

 

2

  1. Sau đó, khi Đức Giê-hô-va sắp đem Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc, Ê-li và Ê-li-sê đã từ Ghinh-ganh ra đi.
  2. Ê-li nói với Ê-li-sê: “Xin ngươi hãy ở lại đây bởi vì Đức Giê-hô-va đã sai ta đến Bê-tên.” Nhưng Ê-li-sê nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống! Hễ thầy còn sống thì con sẽ không rời khỏi thầy.” Vì vậy, họ đã đi xuống Bê-tên. 3. Một nhóm tiên tri tại Bê-tên đã đi ra gặp Ê-li-sê, rồi nói với ông: “Anh không biết là hôm nay Đức Giê-hô-va sẽ đem thầy của anh lên khỏi anh hay sao?” Ông nói: “Vâng! Tôi biết. Xin hãy yên lặng.”
  3. Ê-li nói với ông: “Ê-li-sê! Xin ngươi hãy ở lại đây bởi vì Đức Giê-hô-va sai ta đến Giê-ri-cô.” Nhưng ông nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống! Hễ thầy còn sống thì con sẽ không rời khỏi thầy.” Vì vậy họ đã đến Giê-ri-cô. 5. Một nhóm tiên tri tại Giê-ri-cô đã đến gặp Ê-li-sê, rồi nói với ông: “Anh không biết là hôm nay Đức Giê-hô-va sẽ đem thầy của anh lên khỏi anh hay sao?” Ông nói: “Vâng! Tôi biết. Xin hãy yên lặng.”
  4. Ê-li nói với ông: “Xin ngươi hãy ở lại đây bởi vì Đức Giê-hô-va sai ta đến Giô-đanh.” Nhưng ông nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống! Hễ thầy còn sống thì con sẽ không rời khỏi thầy.” Vì vậy hai người tiếp tục đi.
  5. Có năm mươi người trong những môn đệ của các tiên tri đã đến, họ đứng nhìn từ đàng xa, và họ đã đứng bên cạnh sông Giô-đanh. 8. Ê-li lấy áo choàng của mình cuộn lại, rồi đập xuống nước. Nước rẽ ra bên nầy và bên kia, và rồi hai người đã đi qua trên đất khô.
  6. Sau khi họ đã qua sông, Ê-li nói với Ê-li-sê: “Trước khi ta được đem lên khỏi ngươi, ta sẽ làm cho ngươi điều ngươi cầu xin.” Ê-li-sê nói: “Cầu xin thần của thầy giáng trên con gấp đôi.” 10. Ê-li nói: “Ngươi xin một điều khó. Nhưng nếu ngươi thấy ta, lúc ta được đem lên khỏi ngươi, thì điều đó sẽ xảy ra cho ngươi. Nếu không, thì điều đó sẽ không xảy ra.”
  7. Sau đó, khi họ tiếp tục đi và nói chuyện với nhau, có một xe chiến mã bằng lửa và những ngựa lửa tách hai người ra, rồi Ê-li được cất lên trời trong một cơn gió lốc. 12. Ê-li-sê nhìn thấy thì thốt lên: “Cha của con ơi! Cha của con ơi! Các xe chiến mã và những kỵ binh của Y-sơ-ra-ên!” Rồi ông không còn thấy người nữa. Ông đã nắm áo của mình xé ra làm hai mảnh.
  8. Ông đã nhặt chiếc áo choàng từ Ê-li rơi xuống, rồi trở về và đứng bên bờ sông Giô-đanh. 14. Ông lấy chiếc áo choàng từ Ê-li làm rơi xuống, đập xuống nước và nói: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Ê-li ở đâu?” Khi Ê-li-sê đập xuống nước thì nước liền rẽ ra, và ông đã đi ngang qua.
  9. Khi các môn đệ của những tiên tri tại Giê-ri-cô nhìn thấy việc trước mắt, họ nói với nhau: “Thần của Ê-li đã ngự trên Ê-li-sê.” Họ đã đến gặp ông, rồi cúi đầu sát đất trước mặt ông. 16. Họ nói với ông: “Xem nầy! Có năm mươi người lực lưỡng ở đây sẵn sàng phục vụ ngài. Xin hãy cho họ đi tìm thầy của ngài. Có thể Thần của Đức Giê-hô-va đã cất lấy người rồi đặt người xuống một nơi nào đó trên núi hoặc trong thung lũng.” Ông nói: “Các ngươi đừng sai họ đi.” 17. Nhưng họ cứ nài nỉ mãi khiến ông cảm thấy ái ngại nên ông nói: “Hãy để cho họ đi.” Vì vậy, họ đã sai năm mươi người đi tìm trong ba ngày, nhưng họ không tìm được. 18. Khi họ trở về, ông vẫn còn ở tại Giê-ri-cô. Ông nói với họ: “Không phải tôi đã nói với các anh là đừng đi hay sao?”
  10. Sau đó, dân trong thành đã nói với Ê-li-sê: “Như chúa của chúng tôi đã thấy: Địa thế của thành thì tốt, nhưng nước thì không tốt, cho nên đất đai trơ trọi.” 20. Ông nói: “Hãy đem cho tôi một cái bát mới và bỏ muối vào trong đó.” Vì vậy, họ đã đem một bát muối đến cho ông. 21. Ông đã đi đến nguồn nước, đổ muối xuống, rồi nói: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Ta đã chữa lành nguồn nước nầy. Nó sẽ không còn gây chết chóc hoặc làm cho đất trơ trọi nữa.’” 22. Vì vậy, nguồn nước đã được chữa lành cho đến ngày nay, y như lời Ê-li-sê đã nói.
  11. Từ đó, ông đã đi lên Bê-tên. Khi ông đang đi dọc đường, có những đứa trẻ trong thành kéo ra chế nhạo ông. Chúng nói với ông: “Lão hói đầu! Hãy lên đây. Lão hói đầu! Hãy lên đây.” 24. Ông quay lại, nhìn chúng, rồi nhân danh Đức Giê-hô-va nguyền rủa chúng. Có hai con gấu cái từ trong rừng đi ra, vồ xé bốn mươi hai đứa trẻ. 25. Từ đó, ông đã đi đến núi Cạt-mên, và từ đó ông trở về Sa-ma-ri.

 

3

  1. Vào năm thứ mười tám khi Giê-hô-sa-phát làm vua của Giu-đa thì Giô-ram, con trai của Vua A-háp, lên làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Ông trị vì mười hai năm. 2. Ông làm điều ác trong nhãn quan của Đức Giê-hô-va. Tuy nhiên, không giống như cha mẹ của mình, ông đã dẹp bỏ đền thờ Ba-anh mà cha của ông đã lập. 3. Dầu vậy, ông vẫn dính líu vào những tội của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. Ông không lìa khỏi những điều đó.
  2. Lúc đó, Mê-sa, vua của Mô-áp, nuôi chiên. Ông thường triều cống cho vua của Y-sơ-ra-ên một trăm ngàn chiên con và lông của một trăm ngàn chiên đực. 5. Tuy nhiên, sau khi Vua A-háp qua đời, vua của Mô-áp đã nổi lên chống lại vua của Y-sơ-ra-ên. 6. Vì vậy, Vua Giô-ram đã huy động toàn thể Y-sơ-ra-ên, rồi từ Sa-ma-ri tiến ra. 7. Ông đã đi, và cũng sai sứ giả đến nói với Giê-hô-sa-phát, vua của Giu-đa rằng: “Vua của Mô-áp đã nổi lên chống lại tôi. Ngài có cùng đi với tôi để đánh Mô-áp hay không?” Ông trả lời: “Tôi sẽ đi. Tôi cũng như ngài. Dân của tôi cũng như dân của ngài, ngựa của tôi cũng như ngựa của ngài.” 8. Sau đó, ông hỏi: “Chúng ta sẽ tiến lên theo đường nào?” Người trả lời: “Theo con đường xuyên hoang mạc Ê-đôm.”
  3. Vì vậy, vua của Y-sơ-ra-ên đã cùng với vua của Giu-đa và vua của Ê-đôm tiến quân theo đường vòng mất bảy ngày, nhưng không có nước cho đoàn quân và các thú vật cùng đi. 10. Vua Y-sơ-ra-ên nói: “Than ôi! Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua nầy họp lại với nhau, để nộp họ vào tay của người Mô-áp.” 11. Nhưng Giê-hô-sa-phát hỏi: “Ở đây không có vị tiên tri nào của Đức Giê-hô-va để chúng ta có thể nhờ người cầu hỏi Đức Giê-hô-va hay sao?” Một bầy tôi của vua Y-sơ-ra-ên tâu: “Có Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, là người thường rót nước rửa tay cho Ê-li, ở gần đây.” 12. Giê-hô-sa-phát nói: “Người nầy có lời của Đức Giê-hô-va.” Vì vậy, vua của Y-sơ-ra-ên, Giê-hô-sa-phát, và vua của Ê-đôm đã đi xuống gặp ông.
  4. Ê-li-sê nói với vua của Y-sơ-ra-ên: “Tôi đâu có liên hệ gì với ngài. Hãy đi đến với các tiên tri của cha ngài và các tiên tri của mẹ ngài.” Nhưng vua của Y-sơ-ra-ên nói: “Xin đừng làm như vậy, bởi vì Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua họp lại với nhau, để rồi nộp chúng tôi vào tay của người Mô-áp.” 14. Ê-li-sê nói: “Trước mặt Đức Giê-hô-va của các đạo quân hằng sống, là Đấng mà tôi phục vụ, tôi thề rằng nếu không kính nể Giê-hô-sa-phát, vua của Giu-đa, thì tôi chẳng coi ngài ra gì và cũng không tiếp ngài nữa. 15. Bây giờ, hãy đem đến cho tôi một nhạc công.” Sau đó, khi nhạc công chơi đàn thì tay của Đức Giê-hô-va giáng trên Ê-li-sê. 16. Ông nói: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Hãy đào hố khắp thung lũng nầy.’ 17. Bởi vì Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi sẽ không thấy gió, các ngươi cũng không thấy mưa, nhưng thung lũng nầy sẽ đầy nước, để các ngươi, gia súc của các ngươi, và thú vật của các ngươi, có thể uống.’ 18. Nhưng đây chỉ là việc nhỏ trong mắt của Đức Giê-hô-va. Ngài sẽ nộp dân Mô-áp vào tay của các ngươi. 19. Các ngươi sẽ triệt hạ tất cả những thành kiên cố và tất cả những thành quan trọng, sẽ đốn ngã tất cả những cây tốt, chận tất cả những nguồn nước, và dùng đá phá hủy tất cả những cánh đồng phì nhiêu.”
  5. Sáng hôm sau, vào giờ dâng tế lễ, họ thấy nước từ hướng Ê-đôm chảy đến, và rồi cả xứ tràn đầy nước.
  6. Khi toàn thể dân Mô-áp nghe tin các vua kéo đến để đánh chúng, chúng triệu tập tất cả những có thể mang vũ khí trở lên, rồi đóng ở biên giới. 22. Sau đó, khi chúng thức dậy vào sáng sớm, ánh sáng mặt trời chiếu vào nước, người Mô-áp thấy nước ở phía bên kia đỏ như máu. 23. Chúng nói: “Đúng là máu! Các vua đó chắc chắn đã đánh nhau, và đã giết nhau. Vì vậy bây giờ, hỡi người Mô-áp, hãy đi cướp của!”
  7. Nhưng khi chúng đến trại quân của Y-sơ-ra-ên thì người Y-sơ-ra-ên đã đứng lên tấn công người Mô-áp, khiến chúng bỏ chạy trước mặt họ. Họ đã tiến vào trong xứ, và giết người Mô-áp. 25. Họ đã triệt hạ các thành, mỗi người đã liệng đá của mình để lấp những cánh đồng phì nhiêu. Họ đã chận tất cả những nguồn nước và đốn ngã tất cả những cây tốt. Kiệt Ha-rê-xết chỉ còn lại những đống gạch vụn, bởi vì quân bắn đá đã bao vây và phá hủy thành.
  8. Khi vua của Mô-áp thấy mình không thể chống cự nổi, thì đem theo bảy trăm người với mình, cầm gươm đánh vua Ê-đôm để thoát thân, nhưng không được. 27. Ông đã bắt đứa con trai lớn nhất của mình, tức đứa con sẽ trị vì thế cho ông, rồi dâng nó làm tế lễ thiêu trên tường thành. Một cơn thịnh nộ lớn đã giáng xuống trên Y-sơ-ra-ên, nên họ đã rời khỏi đó rồi trở về xứ của mình.

 

4

  1. Lúc đó, có vợ của một trong những môn đồ của các tiên tri đã than khóc với Ê-li-sê rằng: “Chồng của tôi là đầy tớ của ngài đã qua đời. Ngài biết rằng đầy tớ của ngài kính sợ Đức Giê-hô-va. Bây giờ, chủ nợ đến, đòi bắt hai con trai của tôi làm nô lệ.”
  2. Ê-li-sê nói với bà: “Tôi có thể giúp cho bà điều gì? Xin cho tôi biết, trong nhà của bà còn có vật gì hay không?” Bà thưa: “Đầy tớ gái của ngài không còn vật gì trong nhà, ngoại trừ một bình dầu nhỏ.” 3. Ông nói: “Hãy đi khắp nơi mượn những cái bình, tức là những cái bình không của những người hàng xóm, nhưng đừng mượn ít. 4. Khi trở về, hãy đóng cửa phía sau của bà và các con lại. Sau đó, hãy rót dầu vào tất cả những cái bình. Bình nào đầy thì để riêng ra.”
  3. Vì vậy, bà đã lìa khỏi ông. Sau đó, bà đã đóng cửa phía sau bà và các con lại, rồi chúng mang những cái bình đến cho bà để bà rót dầu vào. 6. Thời gian trôi qua, khi những cái bình đã đầy, bà nói với một con trai của bà: “Hãy mang cho mẹ một cái bình nữa.” Nó nói với bà: “Không còn bình nào nữa!” Dầu liền ngừng lại.
  4. Sau đó, bà đã đến trình với người của Đức Chúa Trời. Ông nói: “Hãy đi, bán dầu, trả nợ, rồi bà và các con của mình hãy sinh sống với những gì còn lại.”
  5. Một thời gian sau, một hôm Ê-li-sê đi ngang qua Su-nem. Tại đó, có một phụ nữ sang trọng, bà đã nài nỉ mời ông dùng bữa. Từ đó, mỗi khi đi ngang qua đây, ông ghé lại nơi nầy để dùng bữa. 9. Bà đã nói với chồng của mình: “Ông à! Tôi biết người vẫn thường đi qua nhà của chúng ta là một người thánh của Đức Chúa Trời. 10. Chúng ta hãy xây một căn phòng nhỏ trên sân thượng có tường, rồi đặt vào đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cái đèn, để khi nào người đến với chúng ta, người có thể ở tại đó.”
  6. Một thời gian sau, một ngày nọ ông đến nơi đó, ông ghé vào căn phòng và nằm nghỉ tại đó. 12. Ông nói với Ghê-ha-xi, đầy tớ của mình: “Hãy gọi người phụ nữ Su-nem.” Ghê-ha-xi đã gọi bà, rồi bà đến đứng trước mặt ông.
  7. Ông nói với người đầy tớ: “Hãy nói với bà: Kìa, bà đã vất vả chăm sóc cho chúng tôi. Chúng tôi có thể làm điều gì cho bà? Bà có muốn chúng tôi trình với vua hay với quan chỉ huy quân đội điều gì hay không?” Bà trả lời: “Tôi chỉ muốn sống giữa vòng dân chúng của tôi.”
  8. Ông nói: “Nếu vậy thì chúng ta phải làm gì cho bà?” Ghê-ha-xi đáp: “Thật ra bà không có con trai, mà chồng của bà thì đã già rồi.” 15. Ông nói: “Hãy đi gọi bà.” Khi được gọi đến, người phụ nữ đứng ngoài cửa. 16. Ông nói với bà: “Năm tới, vào lúc nầy, bà sẽ ẵm một đứa con trai.” Bà nói: “Không đâu! Thưa chúa là người của Đức Chúa Trời! Xin đừng nói dối với tớ gái của ngài.”
  9. Sau đó, bà đã thụ thai, và năm sau bà sinh một con trai đúng vào thời điểm mà Ê-li-sê đã báo trước cho bà.
  10. Ðứa trẻ lớn lên. Một ngày kia, nó đến với cha của nó đang ở giữa vòng những thợ gặt. 19. Nó nói với cha của mình: “Con nhức đầu! Con nhức đầu!” Người cha nói với đầy tớ của ông: “Hãy đem nó về cho mẹ của nó.” 20. Người đó đem nó về, trao cho mẹ của nó. Đứa trẻ ngồi trên đùi của mẹ nó cho đến trưa, thì nó chết. 21. Bà đem nó lên, đặt nó nằm trên giường của người Đức Chúa Trời, rồi đi ra và đóng cửa lại. 22. Sau đó, bà gọi chồng của bà và nói: “Xin ông hãy gởi cho tôi một đầy tớ trai và một con lừa, để tôi chạy đến người của Đức Chúa Trời, rồi tôi sẽ trở về.” 23. Ông hỏi: “Hôm nay không phải là ngày trăng mới, cũng không phải là ngày sa-bát, tại sao bà lại đến gặp người?” Bà trả lời: “Hãy yên tâm!” 24. Rồi bà bảo thắng lừa và dặn người đầy tớ: “Hãy thúc lừa đi cho nhanh. Đừng vì tôi mà chậm lại. Chỉ khi nào tôi bảo cậu mà thôi.”
  11. Như vậy, bà đã đi đến gặp người của Đức Chúa Trời tại núi Cạt-mên. Khi người của Đức Chúa Trời thấy bà từ xa, ông nói với Ghê-ha-xi là người phục vụ của mình: “Nhìn kìa, đó người phụ nữ tại Su-nem. 26. Hãy chạy đến đón rồi hỏi bà: ‘Bà có bình an không? Chồng bà và đứa trẻ có bình an không?’” Bà đáp: “Bình an.”
  12. Khi bà đến gần người của Đức Chúa Trời trên núi, bà ôm lấy chân của ông. Ghê-ha-xi đã đến gần để đưa bà ra, nhưng người của Đức Chúa Trời nói: “Hãy để yên cho bà, bởi vì bà đang đắng cay và sầu khổ. Đức Giê-hô-va đã giấu ta việc nầy. Ngài không cho ta biết.” 28. Sau đó, bà nói: “Thưa chúa! Tôi đã không dám cầu xin một con trai. Không phải tôi đã thưa: ‘Xin đừng gạt tôi’ hay sao?”
  13. Sau đó, ông bảo Ghê-ha-xi: “Ngươi hãy thắt lưng, cầm trong tay cây gậy của ta, rồi lên đường. Nếu ngươi gặp ai, đừng chào hỏi. Nếu ai chào hỏi ngươi, đừng đáp lại người đó. Hãy đặt cây gậy của ta trên mặt của đứa trẻ.”
  14. Nhưng người mẹ của đứa trẻ nói: “Thật như Đức Giê-hô-va là Đấng Hằng Sống và như linh hồn của ngài đang sống, tôi sẽ không rời khỏi nơi đây!” Vì vậy, ông đã đứng dậy, và đi theo bà.
  15. Ghê-ha-xi đã đi trước họ, đặt cây gậy trên mặt đứa trẻ, nhưng không nghe tiếng, cũng không thấy động đậy gì. Anh ta trở lại đón ông, rồi thưa với ông rằng: “Đứa trẻ không tỉnh lại.”
  16. Sau đó, khi Ê-li-sê vào trong nhà, thì đứa bé đã chết và nằm trên giường của ông. 33. Ông vào trong phòng, đóng cửa lại trước hai người đó, rồi ông cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va. 34. Sau đó, ông lên nằm sấp trên đứa trẻ, đặt miệng của ông trên miệng nó, mắt của ông trên mắt nó, và tay của ông trên tay nó. Khi ông nằm ấp trên mình đứa trẻ như vậy thì cơ thể nó ấm trở lại. 35. Ông bước xuống, đi qua đi lại trong phòng; rồi lại lên nằm ấp trên mình đứa trẻ. Đứa trẻ hắt hơi bảy lần, rồi mở mắt của nó.
  17. Ông gọi Ghê-ha-xi vào, và bảo: “Hãy đi gọi người phụ nữ Su-nem.” Anh đã đi gọi bà. Khi bà đến, ông nói với bà: “Hãy ẵm con trai của bà!” 37. Bà đến, quỳ xuống nơi chân của ông, cúi đầu sát đất, ẵm con trai của mình, rồi bước ra.
  18. Sau khi Ê-li-sê trở lại Ghinh-ganh, trong xứ có nạn đói. Các môn đồ của những tiên tri ngồi trước mặt ông, ông bảo người phục vụ mình: “Hãy bắc một nồi lớn lên, rồi nấu canh cho các môn đồ của những tiên tri.” 39. Một người trong nhóm đi ra đồng hái rau, gặp một dây dưa dại, nên hái những trái dưa dại, bọc đầy một vạt áo, đem về cắt ra, bỏ vào nồi mà không biết đó là trái gì. 40. Sau đó họ múc canh cho mọi người ăn. Nhưng sau khi vừa nếm canh, họ la lên, “Thưa người của Ðức Chúa Trời! Nồi canh nầy có chất độc.” Rồi họ ngừng ăn. 41. Ông bảo: “Hãy đem đến một ít bột.” Ông bỏ nó vào trong nồi, rồi nói: “Hãy múc ra cho mọi người ăn.” Trong nồi không còn chất độc nữa.
  19. Có một người từ Ba-anh Sa-li-sa đến, đem cho người của Đức Chúa Trời một ít bánh làm từ trái đầu mùa: gồm hai mươi ổ bánh lúa mạch, và cốm trong bao của mình. Ông nói: “Hãy phát cho mọi người, để họ ăn.” 43. Người phục vụ ông nói: “Làm sao có thể phát cho một trăm người ăn?” Nhưng ông nói: “Hãy phát cho mọi người để họ ăn, bởi vì Đức Giê-hô-va phán: ‘Người ta sẽ ăn và còn thừa lại.’” 44. Vì vậy, người đó đã dọn ra cho mọi người. Họ đã ăn và còn thừa lại, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.

 

5

  1. Lúc đó, Na-a-man, tướng chỉ huy quân đội của vua của A-ram, là một người cao trọng trong mắt người chủ của mình. Ông được kính trọng bởi vì qua ông, Đức Giê-hô-va đã ban chiến thắng cho dân A-ram. Ông là một chiến binh dũng cảm, nhưng ông mắc bệnh phung. 2. Lúc đó, các toán quân của A-ram đi đột kích, bắt được một thiếu nữ trong đất của người Y-sơ-ra-ên, đem về làm người hầu hạ cho vợ của Na-a-man. 3. Cô nói với bà chủ của mình: “Ôi! Phải chi ông chủ của con đến với vị tiên tri ở Sa-ma-ri. Ông ấy sẽ chữa cho ông chủ khỏi bệnh phung.”
  2. Ông đã đến tâu với chủ của mình về những lời mà cô gái người Y-sơ-ra-ên đã nói. 5. Vua của A-ram nói: “Như vậy ngươi nên đi. Ta sẽ gửi thư cho vua của Y-sơ-ra-ên.” Vì vậy, ông đã đi, đem theo mười ta-lâng bạc, sáu ngàn miếng vàng, và mười bộ trang phục. 6. Ông đem bức thư trình cho vua của Y-sơ-ra-ên. Thư viết rằng: “Cùng với bức thư gửi đến cho ngài, bây giờ tôi đã sai Na-a-man, là cận thần của tôi, đến với ngài để ngài chữa cho người khỏi bệnh phung.”
  3. Sau khi vua Y-sơ-ra-ên đọc xong bức thư thì vua xé trang phục của mình, rồi nói: “Ông ấy sai người đến với ta để cho ta chữa lành bịnh phung. Ta đâu phải là Đức Chúa Trời có quyền làm sống làm chết? Các ngươi hãy suy nghĩ và thấy rằng ông ấy kiếm cớ gây hấn với ta.”
  4. Khi Ê-li-sê, là người của Đức Chúa Trời, nghe rằng vua của Y-sơ-ra-ên đã xé trang phục của mình, thì sai người nói với vua: “Tại sao ngài phải xé trang phục của mình? Hãy bảo ông ấy đến với tôi, thì ông ấy sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có một tiên tri.”
  5. Vì vậy, Na-a-man đã cùng với những ngựa và xe của mình kéo đến đứng trước cửa nhà Ê-li-sê. 10. Ê-li-sê sai một sứ giả đến nói với ông rằng: “Hãy đi tắm dưới sông Giô-đanh bảy lần thì da thịt của ông sẽ phục hồi, và ông sẽ được sạch.” 11. Nhưng Na-a-man nổi giận, bỏ đi, rồi nói: “Ta nghĩ rằng chính ông ấy sẽ đi ra đón ta, đứng gần mà cầu khẩn danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông ấy, rồi đưa tay qua lại trên chỗ bệnh, và chữa lành cho ta. 12. Các dòng sông tại Đa-mách là A-ba-na và Bạt-ba không tốt hơn những dòng nước tại Y-sơ-ra-ên hay sao? Ta không thể tắm ở đó để được sạch hay sao?” Vì vậy ông đã quay lại, rồi giận dữ bỏ đi. 13. Những người phục vụ ông đã đến gần ông, và nói với ông rằng: “Cha ơi! Nếu vị tiên tri truyền cho cha một việc khó, cha không làm hay sao? Huống chi ông ấy chỉ nói rằng: ‘Hãy đi tắm thì được sạch!’” 14. Vì vậy, ông đã xuống sông Giô-đanh tắm bảy lần, và đúng như lời của người Đức Chúa Trời: Da thịt của ông đã phục hồi giống như da thịt của một đứa trẻ và ông đã được sạch.
  6. Sau đó, ông và cả đoàn tùy tùng của ông liền trở lại gặp người của Ðức Chúa Trời. Ông đến đứng trước người và nói: “Bây giờ tôi nhận biết rằng trên cả thế gian không có Ðức Chúa Trời nào khác, ngoài Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Xin ngài vui lòng nhận một lễ vật của tôi tớ ngài.” 16. Nhưng người đã từ chối: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng tôi phụng sự, tôi sẽ không nhận gì cả.” Ông đã nài nỉ người, nhưng người vẫn từ chối. 17. Na-a-man nói: “Nếu ngài không chịu nhận vật gì, xin ngài cho tôi tớ ngài mang về một ít đất đủ cho hai con lừa chở được. Bởi vì tôi tớ ngài sẽ không dâng tế lễ thiêu hay sinh tế cho thần nào khác ngoại trừ một mình Đức Giê-hô-va. 18. Nhưng xin Đức Giê-hô-va tha thứ cho đầy tớ của ngài điều nầy: Mỗi khi chủ của tôi vào đền thờ Rim-môn để thờ lạy thì vịn vào cánh tay của tôi, cho nên tôi cũng phải quỳ xuống trong đền thờ Rim-môn. Vì vậy, cầu xin Đức Giê-hô-va tha thứ điều nầy cho đầy tớ của ngài.” 19. Người nói với ông: “Hãy đi bình an.”

Sau khi ông đi được một khoảng khá xa, 20. Ghê-ha-xi, đầy tớ của Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, nghĩ rằng: “Thầy của mình đã dè dặt không chịu nhận món gì từ Na-a-man, người A-ram, đã tự tay đem đến. Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, mình sẽ chạy theo để nhận vật gì từ ông ấy.” 21. Vì vậy, Ghê-ha-xi đã đuổi theo Na-a-man. Khi Na-a-man thấy Ghê-ha-xi chạy theo sau ông, thì ông đã nhảy xuống xe để đón, rồi hỏi: “Mọi việc có bình an không?” 22. Hắn nói: “Mọi việc đều bình an! Thầy của tôi sai tôi nói với ông: ‘Vừa rồi, có hai thanh niên, là môn đồ của các tiên tri, từ vùng núi Ép-ra-im đến. Xin ông hãy cho họ một ta-lâng bạc và hai bộ trang phục.’” 23. Na-a-man nài nỉ: “Xin hãy nhận hai ta-lâng.” Rồi ông lấy hai ta-lâng bạc và hai bộ trang phục để trong hai cái bao, trao cho hai đầy tớ của mình mang đi phía trước hắn. 24. Khi đến chỗ tháp canh, hắn đã lấy những vật đó từ tay của họ, đem cất trong nhà của mình. Sau đó, hắn cho họ về, và họ đã ra về.

  1. Khi hắn đi vào, đứng hầu trước mặt chủ của mình, thì Ê-li-sê hỏi: “Ghê-ha-xi! Ngươi đã đi đâu?” Hắn đáp: “Đầy tớ của ngài không có đi đâu cả.” 26. Nhưng ông nói với hắn: “Khi người xuống khỏi xe để đón ngươi, lòng ta không ở với ngươi hay sao? Bây giờ có phải là lúc để nhận tiền bạc, y phục, vườn ô-liu, vườn nho, chiên, bò, tôi trai, và tớ gái hay sao? 27. Vì vậy, bịnh phung của Na-a-man sẽ dính vào ngươi và con cháu ngươi mãi mãi.”

Khi hắn rời khỏi sự hiện diện của người, bịnh phung đã trổ ra như tuyết.

 

6

  1. Các môn đồ của những tiên tri đã nói với Ê-li-sê: “Xin thầy hãy xem! Nơi chúng con và thầy đang ở quá chật cho chúng ta. 2. Xin cho phép chúng con đến Giô-đanh, mỗi người sẽ đốn cây, rồi xây dựng một chỗ để chúng ta có thể ở tại đó.” Ông trả lời: “Hãy đi.” 3. Một người thưa: “Xin thầy cùng đi với những đầy tớ của thầy.” Ông trả lời: “Ta sẽ đi.” 4. Vì vậy, ông đã đi với họ. Khi đến Giô-đanh, họ chặt cây. 5. Nhưng có một người lúc chặt cây, lưỡi rìu bị văng xuống nước. Người đó kêu lên: “Ôi thầy ơi! Cái rìu nầy là vật con mượn.” 6. Người của Đức Chúa Trời hỏi: “Nó đã rơi ở chỗ nào?” Người đó chỉ chỗ cho ông. Ông chặt một nhánh cây ném xuống nơi đó, thì lưỡi rìu nổi lên. 7. Ông nói với người đó: “Ngươi hãy nhặt nó lên!” Người đó đưa tay ra, cầm lấy nó.
  2. Một thời gian sau, vua của A-ram giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Vua bàn với các thuộc hạ của mình: “Ta sẽ đóng quân tại chỗ nầy chỗ nọ.” 9. Người của Đức Chúa Trời đã sai người báo cho vua của Y-sơ-ra-ên: “Hãy thận trọng, đừng đi ngang qua những nơi đó, bởi vì quân A-ram đang phục kích tại đó.” 10. Vua của Y-sơ-ra-ên đã sai người đến những nơi mà người Đức Chúa Trời đã báo trước cho ông, và ông đã thoát hiểm không phải chỉ một hoặc hai lần.
  3. Vua của A-ram nổi giận trong lòng về việc nầy. Ông gọi các thuộc hạ của mình, rồi hỏi: “Các ngươi không thể báo cho ta biết ai trong chúng ta đang ủng hộ vua của Y-sơ-ra-ên hay sao?” 12. Một người trong những thuộc hạ của ông nói: “Tâu bệ hạ là chúa của tôi! Không có ai cả, nhưng chính Ê-li-sê, vị tiên tri của Y-sơ-ra-ên, đã cho vua của Y-sơ-ra-ên biết những điều mà bệ hạ đã nói trong phòng ngủ của mình.” 13. Vì vậy, ông bảo: “Hãy đi tìm xem ông ấy ở đâu để ta sẽ sai người đến bắt.” Người ta báo cho ông: “Ông ấy đang ở Đô-than.” 14. Vì vậy, ông đã sai một đội quân lớn có kỵ binh và những xe chiến mã đến đó. Họ kéo đến vào ban đêm, rồi bao vây thành.
  4. Một đầy tớ của người Đức Chúa Trời đã dậy sớm, đi ra ngoài, nhìn thấy đoàn quân với những kỵ binh và các xe chiến mã đang bao vây thành, người đầy tớ nói với ông: “Thầy ơi! Chúng ta phải làm gì bây giờ?” 16. Ông nói: “Ðừng sợ, bởi vì những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng.” 17. Sau đó, Ê-li-sê đã cầu nguyện rằng: “Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy mở mắt cho chàng thanh niên nầy để nó thấy được.” Đức Giê-hô-va đã mở mắt cho chàng thanh niên, và chàng đã nhìn thấy trên núi đầy những kỵ binh và những xe chiến mã bằng lửa đang bao quanh Ê-li-sê. 18. Khi quân lính kéo xuống về phía ông, Ê-li-sê đã cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va: “Xin Ngài khiến cho họ bị mù.” Ngài đã khiến cho họ bị mù theo lời cầu xin của Ê-li-sê. 19. Sau đó Ê-li-sê đã nói với họ: “Đây không phải là đường. Đây cũng không phải là thành. Hãy theo tôi! Tôi sẽ dẫn các ông đến người mà các ông tìm kiếm.” Rồi ông dẫn họ đến Sa-ma-ri.
  5. Sau khi họ đã vào trong Sa-ma-ri, Ê-li-sê cầu nguyện: “Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy mở mắt cho những người nầy để họ nhìn thấy.” Đức Giê-hô-va đã mở mắt cho họ, và họ đã nhìn thấy – Xem kìa! Họ đang ở giữa Sa-ma-ri. 21. Khi vua của Y-sơ-ra-ên thấy họ, ông nói với Ê-li-sê: “Thưa cha! Tôi phải giết chúng hay không? Tôi phải giết chúng hay không?” 22. Ông nói: “Ðừng! Ngài có bao giờ giết những người ngài đã dùng gươm và cung mà bắt sống hay không? Hãy lấy bánh và nước tiếp đãi. Hãy để họ ăn uống rồi trở về với chủ của họ.” 23. Vì vậy, vua đã dọn tiệc lớn đãi họ. Sau khi họ đã ăn và uống rồi, vua cho họ ra đi và họ đã trở về cùng chủ của họ. Vì vậy, những toán quân của A-ram không còn đột kích vào lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên nữa.
  6. Một thời gian sau, Bên Ha-đát, vua của A-ram, đã tập hợp toàn quân kéo lên bao vây Sa-ma-ri. 25. Trong lúc họ bao vây, tại Sa-ma-ri có một nạn đói nghiêm trọng, đến nỗi một cái đầu của con lừa giá bán tám mươi miếng bạc, và một phần tư của một cáp phân bồ câu giá bán năm miếng bạc. 26. Trong khi vua của Y-sơ-ra-ên đang đi trên tường thành, có một phụ nữ đã kêu cầu với ông: “Xin bệ hạ là chúa của tôi, hãy cứu giúp!” 27. Ông nói: “Nếu Đức Giê-hô-va không cứu giúp ngươi thì ta lấy gì để giúp ngươi? Bởi vì không còn sân đập lúa cũng không còn lò ép rượu.” 28. Sau đó, vua hỏi bà: “Điều gì kiến ngươi phiền não?” Bà đã thưa: “Người phụ nữ nầy đã nói với tôi: ‘Hôm nay hãy ăn thịt con trai của chị, rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai của tôi.’ 29. Vì vậy, chúng tôi đã nấu con trai của tôi và đã ăn nó. Hôm sau, tôi nói với bà ấy: ‘Hãy đưa con trai của chị, để chúng ta ăn nó.’ Nhưng bà ấy đã giấu con trai của mình.” 30. Khi nghe những lời của người phụ nữ nầy nói xong thì vua liền xé trang phục của mình. Lúc đó ông đang đi trên tường thành cho nên dân chúng có thể thấy ông mặc vải sô trên thân thể của mình. 31. Sau đó ông nói: “Nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề nếu hôm nay cái đầu của Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, vẫn còn nằm trên vai của hắn.”
  7. Vua đã sai sứ giả đi đến gặp Ê-li-sê trong lúc ông đang ngồi trong nhà của mình và các trưởng lão ngồi đang ngồi với ông. Nhưng trước khi sứ giả đến với ông, ông đã nói với các trưởng lão: “Quý vị có biết là kẻ sát nhân đang sai người đến để chặt đầu tôi hay không? Khi sứ giả đến, hãy đóng chặt cửa lại và không cho hắn vào. Không phải là tiếng chân của chủ hắn đang theo sau hắn hay sao?” 33. Trong khi ông còn đang nói với họ thì sứ giả đã đi xuống gặp ông, và người đó nói: “Ông thấy đó! Tai họa nầy đến từ Đức Giê-hô-va. Tại sao tôi còn trông đợi Đức Giê-hô-va làm gì nữa?”

 

7

  1. Sau đó, Ê-li-sê nói: “Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va! Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Ngày mai, vào giờ nầy, tại cổng thành Sa-ma-ri, một lường bột lọc sẽ được bán giá một siếc-lơ, và hai lường lúa mạch sẽ được bán giá một siếc-lơ.’” 2. Vị quan hộ giá, là người đưa tay cho vua vịn vào, đã trả lời và nói với người của Đức Chúa Trời: “Dầu Đức Giê-hô-va có mở các cửa sổ ở trên trời mà đổ xuống, thì điều đó có thể nào xảy ra được sao?” Nhưng Ê-li-sê nói: “Hãy xem! Ông sẽ nhìn thấy bằng chính mắt của mình, nhưng ông sẽ không được ăn.”
  2. Lúc đó, tại lối vào của cổng thành có bốn người phung. Họ nói với nhau: “Tại sao chúng ta cứ ngồi đây chờ chết? 4. Giả sử chúng ta nói: ‘Hãy vào trong thành,’ thì trong thành đang có cơn đói kém, nên chúng ta sẽ chết trong đó; nhưng nếu chúng ta cứ ngồi đây, thì chúng ta cũng sẽ chết. Chi bằng chúng ta hãy qua trại quân của A-ram và đầu hàng. Nếu họ tha mạng cho thì chúng ta sẽ sống; còn nếu họ giết thì chúng ta cũng chỉ chết mà thôi.” 5. Vì vậy họ đã đứng dậy vào lúc trời vừa sập tối để đi đến trại quân của A-ram. Khi họ đến vòng ngoài của trại quân A-ram thì không thấy có ai ở đó cả, 6. bởi vì Chúa đã khiến quân A-ram nghe tiếng xe, tiếng ngựa chiến và tiếng một đạo quân rất lớn, nên chúng đã nói với nhau rằng: “Kìa, vua của Y-sơ-ra-ên đã thuê các vua của Hê-tít và vua của Ai Cập đến đánh chúng ta.” 7. Vì vậy, chúng đã đứng dậy và chạy trốn lúc trời vừa sập tối, bỏ lại những lều trại, ngựa và lừa. Chúng để nguyên doanh trại mà chạy trốn cứu mạng.
  3. Khi những người phung vào bên trong vòng ngoài của trại quân, họ vào trong một doanh trại, ăn và uống, rồi lấy bạc, vàng, và quần áo đem đi giấu. Họ trở lại, vào trong một doanh trại khác, rồi lấy những của cải và đem đi giấu nữa.
  4. Sau đó, họ nói với nhau: “Chúng ta đang làm điều không đúng. Hôm nay là ngày có tin mừng mà chúng ta cứ yên lặng. Nếu chúng ta chờ đến rạng đông thì hình phạt chắc sẽ đổ trên chúng ta. Vì vậy chúng ta hãy đi báo tin nầy cho những người trong cung vua.” 10. Vì vậy, họ đã đến và gọi những người canh gác tại cổng thành rồi nói: “Chúng tôi đã đến trại quân của A-ram, nhưng không thấy ai và không nghe tiếng người nào ở đó cả. Chúng tôi thấy ngựa đang cột, lừa đang cột, và các lều trại vẫn còn nguyên.” 11. Những người canh gác cổng thành đã báo cáo rồi thuật lại cho những người trong cung vua.
  5. Sau đó, vua đã thức dậy trong ban đêm rồi nói với những bầy tôi của mình: “Ta sẽ nói cho các ngươi biết những gì quân A-ram định làm để hại chúng ta. Họ biết chúng ta đang đói nên đã rút ra khỏi trại quân để phục kích ngoài đồng. Họ nói rằng: ‘Khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi thành, chúng ta sẽ bắt sống chúng, rồi vào chiếm thành.’” 13. Tuy nhiên có một người trong những bầy tôi của vua đã tâu và đề nghị: “Xin bệ hạ truyền cho vài người bắt năm trong số những con ngựa còn lại rồi đi do thám để xem thực hư ra sao. Chúng ta thấy đó: Có gì đi nữa họ cũng sẽ cùng chung số phận với đoàn dân Y-sơ-ra-ên còn lại đang chết dần ở trong thành mà thôi.” 14. Vì vậy, họ đã lấy hai xe chiến mã, mắc ngựa vào. Vua sai họ đuổi theo đạo quân A-ram và bảo: “Hãy đi và xem thế nào!” 15. Sau đó, họ đã đuổi theo chúng cho đến Giô-đanh. Suốt quãng đường đầy những quần áo và những vật dụng mà quân A-ram đã vứt lại trong lúc hốt hoảng tháo chạy. Các sứ giả trở về trình báo với vua.
  6. Dân chúng đã kéo ra cướp của từ trại quân của A-ram. Vì vậy, một lường bột lọc được bán giá một siếc-lơ và hai lường lúa mạch được bán giá một siếc-lơ, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán. 17. Lúc đó, vua đã chỉ định vị quan hộ giá, là người đưa tay cho vua vịn vào, phụ trách việc kiểm soát cổng thành. Dân chúng đã giẫm đạp trên ông tại cổng thành và ông đã chết đúng như người của Đức Chúa Trời đã nói. Người đã nói điều đó khi vua đến gặp người. 18. Thật vậy, khi người của Đức Chúa Trời nói với vua rằng: “Ngày mai, vào giờ nầy, tại cổng thành Sa-ma-ri, một lường bột lọc sẽ được bán giá một siếc-lơ, và hai lường lúa mạch sẽ được bán giá một siếc-lơ.” 19. Tuy nhiên vị quan đó đã nói với người của Đức Chúa Trời rằng: “Dầu Đức Giê-hô-va có mở các cửa sổ ở trên trời mà đổ xuống, thì điều đó có thể nào xảy ra được sao?” Sau đó, người đã nói: “Hãy xem! Ông sẽ nhìn thấy bằng chính mắt của mình, nhưng ông sẽ không được ăn.” 20. Và rồi, điều đó đã xảy ra cho ông: Người ta đã giẫm đạp lên ông, và ông đã chết tại cổng thành.

 

8

  1. Ê-li-sê nói với người phụ nữ có đứa con trai mà ông đã làm cho sống lại rằng: “Bà và gia đình của bà hãy đứng dậy, rồi đi đến một xứ nào có thể sống được; bởi vì Đức Giê-hô-va đã công bố một nạn đói, và hơn thế nữa nó sẽ kéo dài bảy năm trên cả xứ.” 2. Người phụ nữ đã đứng dậy làm theo lời của người Đức Chúa Trời đã nói. Bà cùng với gia đình của bà đã đến kiều ngụ trong xứ của người Phi-li-tin trong bảy năm. 3. Cuối bảy năm, bà đã từ xứ của người Phi-li-tin trở về. Bà đã đến kêu cầu với vua cho bà được phục hồi chủ quyền nhà cửa và đất đai. 4. Lúc đó, vua đang trò chuyện với Ghê-ha-xi, là đầy tớ của người Đức Chúa Trời. Vua bảo: “Hãy kể cho ta nghe tất cả những việc lớn lao mà Ê-li-sê đã làm.” 5. Đang khi Ghê-ha-xi kể cho vua nghe như thế nào Ê-li-sê đã khiến cho một người từ cõi chết sống lại, thì người phụ nữ có con được sống lại đến kêu cầu vua cho bà được phục hồi chủ quyền nhà cửa và đất đai. Ghê-ha-xi nói: “Tâu vua, là chúa của tôi! Đây là người phụ nữ đó. Đứa con trai của bà đã được Ê-li-sê cứu sống lại.” 6. Vua hỏi người phụ nữ, và bà kể cho vua. Sau đó, vua chỉ định một viên chức, và dặn rằng: “Hãy phục hồi tất cả tài sản của bà và tất cả những hoa lợi của đồng ruộng, kể từ ngày bà rời khỏi xứ cho đến nay.”
  2. Ê-li-sê đến Đa-mách vào lúc Bên Ha-đát, vua của A-ram, đang bị bệnh. Ông được báo cáo: “Có người của Đức Chúa Trời đã đến đây.” 8. Vua sai Ha-xa-ên: “Hãy đem lễ vật đến gặp người của Đức Chúa Trời, rồi hãy nhờ người cầu vấn với Đức Giê-hô-va xem ta có thể bình phục sau cơn bịnh nầy chăng?” 9. Vì vậy, Ha-xa-ên đã đến gặp người của Ðức Chúa Trời. Ông đem theo lễ vật gồm tất cả những gì tốt nhất tại Đa-mách, chất đầy trên bốn mươi con lạc đà. Ông đã đến trước mặt người của Ðức Chúa Trời rồi thưa: “Con trai của ngài là Bên Ha-đát, vua của A-ram, sai tôi đến gặp ngài để hỏi rằng: ‘Tôi sẽ được lành bệnh nầy hay không?’” 10. Ê-li-sê đáp: “Hãy đi nói với vua: ‘Bệ hạ chắc chắn sẽ được lành bệnh.’ Nhưng Đức Giê-hô-va đã cho ta biết vua chắc chắn sẽ chết.” 11. Người của Ðức Chúa Trời nghiêm sắc mặt nhìn chăm vào Ha-xa-ên đến nỗi ông ấy phát ngượng, và người của Ðức Chúa Trời đã bật khóc. 12. Ha-xa-ên hỏi: “Tại sao chúa của tôi khóc?” Người trả lời: “Bởi vì ta biết ngươi sẽ gây thảm họa cho dân Y-sơ-ra-ên. Các thành trì kiên cố của họ bị phóng hỏa, các thanh niên của họ bị giết bằng gươm, trẻ con bị đập nát, phụ nữ có thai bị mổ bụng.” 13. Nhưng Ha-xa-ên nói: “Kẻ đầy tớ của ngài là ai? Chỉ là một con chó, thì làm sao có thể làm được những việc lớn lao như vậy?” Ê-li-sê đáp: “Đức Giê-hô-va đã cho ta biết rằng ngươi sẽ làm vua của A-ram.” 14. Sau đó, ông đã rời khỏi Ê-li-sê, trở về gặp chủ của mình. Vua hỏi ông: “Ê-li-sê đã nói điều gì với ngươi?” Ông trả lời: “Người nói với tôi rằng vua chắc chắn sẽ khỏi bịnh.” 15. Nhưng ngày hôm sau, ông đã lấy một cái mền, thấm đầy nước, đem phủ trên mặt của vua, khiến vua chết, rồi ông đã lên ngôi thay thế để làm vua.
  3. Vào năm thứ năm khi Giô-ram, con trai của A-háp, làm vua của Y-sơ-ra-ên, trong khi Giê-hô-sa-phát còn làm vua của Giu-đa thì Giô-ram, con trai của Giê-hô-sa-phát, bắt đầu cai trị và làm vua của Giu-đa. 17. Ông bắt đầu trị vì vào lúc ba mươi hai tuổi, và cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem. 18. Ông đã đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên như nhà A-háp đã làm, bởi vì con gái của A-háp là vợ của ông. Ông đã làm những việc gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va. 19. Nhưng vì cớ Đa-vít, là đầy tớ của Đức Giê-hô-va, cho nên Ngài chưa tiêu diệt Giu-đa như lời Ngài đã hứa với ông, đó là Ngài sẽ mãi mãi ban cho ông và dòng dõi của ông một ngọn đèn. 20. Trong đời của ông, người Ê-đôm đã nổi lên chống lại quyền cai trị của Giu-đa, rồi lập một vua riêng cho họ. 21. Vì vậy, Giô-ram đã kéo toàn bộ xe chiến mã của mình vượt qua Xai-rơ. Trong ban đêm, ông đã trỗi dậy tấn công người Ê-đôm đang bao vây ông và các quan chỉ huy xe chiến mã, tuy nhiên quân lính của ông đã bỏ trốn về trại của mình. 22. Ê-đôm đã nổi dậy và không còn thần phục Giu-đa từ đó cho đến nay. Và rồi, cùng lúc đó, Líp-na cũng nổi dậy. 23. Những việc khác của Giô-ram, tất cả những việc ông làm, không phải được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 24. Giô-ram an giấc cùng tổ phụ của mình và được an táng với họ trong thành Đa-vít. A-cha-xia, con trai của vua, lên ngôi kế vị.
  4. Vào năm thứ mười hai khi Giô-ram, con trai của A-háp, trị vì Y-sơ-ra-ên, thì A-cha-xia, con trai của Vua Giô-ram, bắt đầu cai trị Giu-đa. 26. A-cha-xia được hai mươi hai tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông cai trị được một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là A-tha-li, cháu nội của Ôm-ri, vua của Y-sơ-ra-ên. 27. Vua đi theo đường lối của nhà A-háp, làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, như nhà A-háp đã làm, bởi vì ông là con rể của nhà A-háp. 28. Ông đã đi với Giô-ram, con trai của A-háp, để đánh Ha-xa-ên, vua của A-ram, tại Ra-mốt Ga-la-át. Nhưng quân A-ram đã làm cho Giô-ram bị thương. 29. Vì vậy, Vua Giô-ram đã trở về Gít-rê-ên để chữa trị những vết thương do quân A-ram gây ra tại Ra-mốt trong lúc đánh nhau với Ha-xa-ên, vua của A-ram. A-cha-xia, con trai của Giô-ram, vua của Giu-đa, đã đi xuống Gít-rê-ên để thăm Giô-ram, con trai của A-háp, vì ông đang bị thương.

 

9

  1. Tiên tri Ê-li-sê đã gọi một môn đồ của những tiên tri đến, rồi nói: “Hãy thắt lưng của ngươi, mang chai dầu nầy trong tay của ngươi, rồi đi đến Ra-mốt Ga-la-át. 2. Khi đến đó, ngươi hãy tìm Giê-hu, con trai của Giê-hô-sa-phát cháu của Nim-si. Ngươi hãy mời người đứng dậy khỏi những anh em của mình, rồi dẫn người vào trong một phòng kín. 3. Ngươi hãy lấy chai dầu, rót trên đầu của người, rồi nói: Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Ta xức dầu cho ngươi làm vua trên Y-sơ-ra-ên.’ Xong rồi hãy mở cửa và chạy trốn. Đừng chần chờ.”
  2. Vì vậy, chàng thanh niên, là người phục vụ của một tiên tri, đã đi đến Ra-mốt Ga-la-át. 5. Khi chàng đến đó, chàng thấy các sĩ quan trong quân đội đang ngồi. Chàng nói: “Thưa tướng quân! Tôi có một sứ điệp cho ngài.” Giê-hu hỏi: “Cho ai trong chúng ta?” Chàng trả lời: “Cho ngài, thưa tướng quân.” 6. Ông đã đứng dậy rồi đi vào trong nhà. Chàng đã rót dầu trên đầu của ông, rồi nói với ông: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy: ‘Ta xức dầu cho ngươi làm vua trên Y-sơ-ra-ên, trên dân của Đức Giê-hô-va. 7. Ngươi sẽ triệt hạ nhà của A-háp, chủ của ngươi. Như vậy Ta sẽ trả thù cho máu của những đầy tớ của Ta – là các tiên tri, và cho máu của tất cả những người phục vụ Đức Giê-hô-va, đã gây ra bởi tay của Giê-sa-bên. 8. Toàn thể nhà của A-háp phải bị tuyệt diệt. Ta sẽ diệt khỏi nhà của A-háp mọi người nam, bất kể là nô lệ hay tự do, trong cả Y-sơ-ra-ên. 9. Ta sẽ làm cho nhà của A-háp giống như nhà của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, và giống như nhà của Ba-ê-sa, con trai của A-hi-gia. 10. Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên trong cánh đồng Gít-rê-ên, không ai chôn cất.’” Nói xong, chàng mở cửa rồi chạy trốn.
  3. Sau đó, Giê-hu trở lại với những người phục vụ chủ của mình, họ hỏi ông: “Mọi sự đều bình an chứ? Tại sao tên điên khùng nầy lại đến gặp ông?” Ông trả lời: “Các ông biết loại người nầy và cách nó nói rồi.” 12. Nhưng họ nói: “Đừng nói dối! Bây giờ xin hãy nói thật cho chúng tôi.” Vì vậy, ông đã kể lại cho họ: “Người ấy nói với tôi những điều nầy những điều kia, và Đức Giê-hô-va đã phán như vầy: Ta xức dầu cho ngươi làm vua trên Y-sơ-ra-ên.” 13. Họ vội vàng lấy áo choàng của mình trải xuống dưới chân của ông, trên các bậc thang. Rồi họ thổi kèn và hô lên rằng: “Giê-hu là vua!”
  4. Như vậy, Giê-hu, con trai của Giê-hô-sa-phát, cháu của Nim-si, đã âm mưu chống lại Giô-ram. Lúc đó, Giô-ram đang bảo vệ Ra-mốt Ga-la-át. Ông và và toàn quân Y-sơ-ra-ên đang chống lại Ha-xa-ên, vua của A-ram. 15. Nhưng Vua Giô-ram đã trở về Gít-rê-ên để chữa trị những vết thương mà quân A-ram đã gây ra trong lúc vua giao chiến với Ha-xa-ên, vua của A-ram. Giê-hu nói: “Nếu các ông đồng ý thì đừng ai đào thoát khỏi thành để báo tin cho Gít-rê-ên.” 16. Vì vậy, Giê-hu lên xe chiến mã đi đến Gít-rê-ên bởi vì Giô-ram đang nằm điều trị tại đó; và A-cha-xia, vua của Giu-đa, cũng đã xuống đó để thăm Giô-ram.
  5. Tại Gít-rê-ên, có một lính gác nơi tháp canh trông thấy đạo quân của Giê-hu tiến đến, bèn báo: “Tôi thấy có một đạo quân đang tiến đến.” Giô-ram bảo: “Hãy sai một kỵ binh ra đón họ, và hỏi: ‘Có bình an hay không?’” 18. Vì vậy, một kỵ binh đã cỡi ngựa đến gặp ông, rồi nói: “Vua hỏi như thế nầy: ‘Có bình an hay không?’” Giê-hu trả lời: “Bình an hay không thì có can hệ gì đến ngươi? Hãy lui ra phía sau ta.” Người lính canh báo cáo: “Sứ giả đã đến gặp họ, nhưng không trở về.” 19. Vua sai một kỵ binh thứ hai đến với họ và nói: “Vua hỏi như thế nầy: ‘Có bình an hay không?’” Giê-hu trả lời: “Bình an hay không thì có can hệ gì đến ngươi? Hãy lui ra phía sau ta.” 20. Người lính canh báo cáo: “Sứ giả đã đến gặp họ rồi, nhưng cũng không trở về. Cách đánh xe trông giống như cách của Giê-hu, con trai của Nim-si, bởi vì ông ấy đánh xe một cách hung hăng.”
  6. Giô-ram bảo: “Hãy chuẩn bị!” Người ta chuẩn bị xe chiến mã cho vua. Rồi Giô-ram, vua của Y-sơ-ra-ên, và A-cha-xia, vua của Giu-đa, đã tiến ra, mỗi người trên xe của mình. Họ đến gặp Giê-hu, rồi gặp ông ấy trong cánh đồng của Na-bốt, người Gít-rê-ên. 22. Sau đó, khi Giô-ram nhìn thấy Giê-hu thì hỏi: “Giê-hu! Bình an chứ?” Nhưng ông trả lời: “Bình an sao được khi mà sự dâm đãng và những tà thuật của Giê-sa-bên, mẹ của vua, vẫn còn quá nhiều?” 23. Giô-ram liền quay xe chạy trốn, nói với A-cha-xia: “A-cha-xia! Có quân phản loạn.” 24. Giê-hu lấy hết sức lực giương cung bắn trúng Giô-ram giữa hai vai. Mũi tên xuyên thủng trái tim. Vua gục xuống trên xe chiến mã của mình. 25. Giê-hu nói với Bích-ca, sĩ quan tùy viên của mình: “Hãy lôi xác hắn ra, đem vất vào cánh đồng của Na-bốt, người Gít-rê-ên. Ngươi còn nhớ không, khi ta và ngươi cùng nhau cỡi ngựa theo sau A-háp, cha của hắn, thì Đức Giê-hô-va đã đặt gánh nặng nầy trên hắn: 26. ‘Đức Giê-hô-va phán: Thật vậy! Hôm qua Ta đã thấy máu của Na-bốt và máu của những con trai của người bị đổ ra, cho nên Ta sẽ bắt ngươi phải trả nợ máu tại chính trên cánh đồng nầy.’ Đức Giê-hô-va đã phán quyết như thế. Vì vậy bây giờ, hãy đem xác của hắn ném vào cánh đồng đó, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.”
  7. Khi A-cha-xia, vua của Giu-đa, thấy vậy thì chạy trốn về hướng Bết Ha-gan. Giê-hu đã đuổi theo và ra lệnh: “Hãy bắn vào xe chiến mã” Vì vậy, họ đã bắn trúng ông tại dốc Gu-rơ, gần Gíp-lê-am. Ông đã chạy thoát đến Mê-ghi-đô, rồi chết tại đó. 28. Các đầy tớ của ông đã đem xác của ông đặt trên một xe chiến mã, chở về Giê-ru-sa-lem, rồi an táng trong phần mộ của những tổ phụ của ông tại thành Đa-vít. 29. A-cha-xia đã lên ngôi làm vua của Giu-đa vào năm thứ mười một đời trị vì của Giô-ram, con trai của A-háp.
  8. Lúc Giê-hu đến Gít-rê-ên, Giê-sa-bên hay tin thì bà vẽ mắt, trang điểm đầu của mình, rồi trông qua cửa sổ. 31. Khi Giê-hu vào cổng, bà nói: “Hỡi Xim-ri! Tên giết chủ. Bình an chứ?” 32. Giê-hu nhìn lên cửa sổ và nói: “Có ai ở trên đó theo ta không? Có ai không?” Có hai ba thái giám nhìn về hướng Giê-hu. 33. Ông bảo: “Hãy quăng nó xuống.” Vì vậy, họ đã quăng bà xuống. Máu của bà đã văng ra trên tường, trên ngựa. Ông đã giày đạp bà dưới chân.
  9. Sau đó, Giê-hu đã đi vào để ăn và uống. Sau đó, ông nói: “Bây giờ hãy ra xem người đàn bà đáng bị nguyền rủa, rồi chôn cất nó, bởi vì dù sao nó cũng là con gái của vua.” 35. Nhưng khi họ đi ra để chôn bà, họ không thấy gì khác, ngoài cái sọ, những bàn chân, và những bàn tay của bà. 36. Họ trở vào báo cáo cho Giê-hu. Ông nói: “Đây là lời của Đức Giê-hô-va mà Ngài đã phán qua tôi tớ của Ngài là Ê-li, người Thi-sê-be: Trong cánh đồng tại Gít-rê-ên, chó sẽ ăn thịt của Giê-sa-bên. 37. Thây của Giê-sa-bên sẽ như phân trên bề mặt của cánh đồng tại Gít-rê-ên; đến nỗi không ai có thể nói: ‘Đây là Giê-sa-bên.’”

 

10

  1. A-háp có bảy mươi con trai sống tại Sa-ma-ri. Giê-hu đã viết thư gởi đến Sa-ma-ri cho các lãnh đạo tại Gít-rê-ên, cho các trưởng lão, và cho các quan đỡ đầu các con trai của A-háp, rằng: 2. “Các ngươi đang có các con trai của chủ các ngươi ở với các ngươi. Các ngươi cũng có những xe chiến mã, ngựa, thành trì kiên cố, và vũ khí. Khi nhận được thư nầy, 3. các ngươi hãy chọn một người giỏi nhất trong các con trai của chủ các ngươi, tôn nó lên ngôi thay cho cha của mình, rồi hãy chiến đấu cho triều đại của chủ các ngươi.”
  2. Tuy nhiên, họ đã vô cùng kinh hãi, và nói: “Kìa! Cả hai vua còn không thể chống cự lại ông ấy thì làm sao chúng ta có thể chống cự lại.” 5. Vì vậy, quan tổng quản hoàng cung, quan tổng quản hoàng thành, các trưởng lão, và các quan đỡ đầu của các hoàng tử đã gởi sứ điệp đến cùng Giê-hu rằng: “Chúng tôi là tôi tớ của ông. Chúng tôi sẽ làm bất cứ điều gì ông dạy bảo. Chúng tôi sẽ không lập ai làm vua. Xin hãy làm điều gì ông cho là đẹp ý của mình.”
  3. Sau đó, Giê-hu đã viết một lá thư thứ hai, rằng: “Nếu các ngươi thuộc về ta và vâng lời ta thì hãy cắt đầu các con trai của chủ các ngươi, rồi ngày mai vào khoảng giờ nầy hãy đến gặp ta tại Gít-rê-ên.” Lúc đó, bảy mươi con trai của vua đang ở với những nhân vật quyền quý trong thành phố, là những người giám hộ chúng. 7. Khi nhận được thư, họ đã bắt các con trai của vua, giết bảy mươi người, để thủ cấp của chúng trong những cái giỏ, rồi gửi đến cho ông tại Gít-rê-ên. 8. Một sứ giả đã đến báo cho ông rằng: “Họ đã đem đầu các con trai của vua đến.” Ông nói: “Hãy đem chất chúng thành hai đống tại lối vào của cổng thành cho đến sáng mai.”
  4. Đến sáng hôm sau, Giê-hu đã đi ra đứng trước dân chúng, rồi nói cùng họ rằng: “Các ngươi vô tội. Các ngươi phải biết rằng chính ta đã âm mưu chống lại chủ của ta, và đã giết người. Nhưng ai đã giết những người nầy? 10. Các ngươi hãy biết rằng không có điều nào Đức Giê-hô-va đã phán về gia đình A-háp mà không ứng nghiệm; bởi vì Đức Giê-hô-va đã thực hiện điều Ngài đã phán qua Ê-li, là tôi tớ của Ngài.” 11. Vì vậy, Giê-hu đã giết tất cả những người còn lại trong nhà của A-háp tại Gít-rê-ên gồm tất cả những nhân vật cao trọng, những người thân thiết với vua, cùng các tư tế của vua, cho đến khi không ai sót lại.
  5. Sau đó, ông đã trỗi dậy đi đến Sa-ma-ri. Khi đến một trại cắt lông chiên, 13. Giê-hu đã gặp các anh em của A-cha-xia, vua của Giu-đa, thì hỏi: “Các ông là ai?” Họ đáp: “Chúng tôi là những anh em của A-cha-xia. Chúng tôi xuống thăm các con trai của vua và các con trai của thái hậu.” 14. Giê-hu ra lệnh: “Hãy bắt sống chúng!” Người ta đã bắt sống, rồi giết những người đó tại một cái hố tại trại cắt lông chiên, tất cả là bốn mươi hai người, không chừa lại một ai.
  6. Sau khi rời khỏi nơi đó, ông gặp Giô-na-đáp, con trai của Rê-cáp, đang đến đón ông. Ông đã chào người, rồi hỏi: “Ông có một lòng với tôi, như tấm lòng của tôi đối với tấm lòng của ông hay không?” Giô-na-đáp trả lời: “Có.” Giê-hu nói: “Nếu vậy thì hãy đưa tay của ông ra.” Giô-na-đáp đã đưa tay ra, và Giê-hu đã đỡ ông ấy lên xe chiến mã của mình. 16. Sau đó, Giê-hu nói: “Hãy đi với tôi và chứng kiến lòng nhiệt thành của tôi đối với Đức Giê-hô-va.” Vì vậy, họ đã cùng đi với nhau trên xe chiến mã. 17. Khi đến Sa-ma-ri, ông đã giết tất cả những người thuộc về nhà A-háp tại Sa-ma-ri cho đến khi ông diệt sạch nhà đó, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán với Ê-li.
  7. Sau đó, Giê-hu đã triệu tập toàn dân lại, rồi nói với họ: “A-háp đã phụng thờ Ba-anh quá ít, Giê-hu sẽ phụng thờ Ba-anh nhiều hơn. 19. Vì vậy, bây giờ hãy triệu tập cho ta tất cả các tiên tri của Ba-anh, tất cả những người phục vụ, và tất cả các tư tế của Ba-anh, không được thiếu một ai, bởi vì ta sẽ dâng một tế lễ lớn cho Ba-anh. Ai vắng mặt, người đó sẽ không được sống.” Thật ra, Giê-hu đã lập mưu kéo léo để tiêu diệt tất cả những người thờ phượng Ba-anh.
  8. Giê-hu nói: “Hãy triệu tập một đại hội thật trọng thể để thờ phượng Ba-anh.” Vì vậy, người ta đã công bố điều đó. 21. Giê-hu đã sai sứ giả đi khắp Y-sơ-ra-ên. Do đó, tất cả những người thờ phượng Ba-anh đã đến, không thiếu một ai. Họ đã vào đền của Ba-anh, cho nên đền của Ba-anh đã đầy ắp người từ đầu nầy cho đến đầu kia. 22. Ông bảo người phụ trách lễ phục: “Hãy đem lễ phục ra phân phát cho mọi người đến thờ phượng Ba-anh.” Vì vậy, người đó đã đem lễ phục ra phân phát cho họ. 23. Sau đó, Giê-hu và Giô-na-đáp, con trai của Rê-cáp, vào trong đền thờ Ba-anh, rồi nói với họ: “Hãy lục soát kỹ, để không có một tôi tớ nào của Đức Giê-hô-va ở đây, nhưng chỉ có những người thờ phượng Ba-anh mà thôi.” 24. Sau đó, họ đã dâng những sinh tế và tế lễ thiêu.

Giê-hu đã đặt tám mươi người mai phục bên ngoài, và dặn rằng: “Nếu có ai trong những người mà ta trao vào tay của các ngươi trốn thoát, thì phải lấy mạng thế mạng.” 25. Sau đó, khi vừa dâng tế lễ thiêu xong, Giê-hu ra lệnh cho quân lính và các sĩ quan: “Hãy xông vào, giết chúng, đừng để một ai trốn thoát!” Vì vậy, quân lính và các sĩ quan đã dùng gươm giết chúng, rồi ném xác ra ngoài. Sau đó, họ đã đi vào nội điện của đền thờ Ba-anh, 26. đem những trụ thờ của đền thờ Ba-anh ra, rồi thiêu đốt chúng. 27. Họ đã đập vỡ trụ thờ Ba-anh, phá hủy đền thờ Ba-anh, biến nó thành một nơi ô uế cho đến ngày nay.

  1. Như vậy, Giê-hu đã trừ diệt Ba-anh khỏi Y-sơ-ra-ên. 29. Tuy nhiên, Giê-hu đã không từ bỏ những bò con bằng vàng tại Bê-tên và tại Đan, là những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
  2. Đức Giê-hô-va phán với Giê-hu: “Bởi vì ngươi đã làm những điều tốt và đúng trước mắt Ta, và đã làm tất cả những điều Ta muốn cho nhà A-háp, cho nên con cháu của ngươi sẽ ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên cho đến đời thứ tư.” 31. Giê-hu không hết lòng gìn giữ và bước đi theo luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Ông đã không từ bỏ những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
  3. Lúc đó, Đức Giê-hô-va bắt đầu thu hẹp bờ cõi Y-sơ-ra-ên. Ha-xa-ên đã đánh bại họ khắp lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên 33. tại phía đông của Giô-đanh: Tất cả vùng đất phía đông của Ga-la-át, Gát, Ru-bên, Ma-na-se; và từ A-rô-e, tức từ bờ suối Ạt-nôn cho đến cả vùng Ga-la-át và Ba-san.
  4. Tất cả các việc khác của Giê-hu, mọi việc ông đã làm, và những thành quả của ông, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua Y-sơ-ra-ên hay sao? 35. Giê-hu đã an giấc cùng các tổ phụ của mình, và được an táng tại Sa-ma-ri. Giô-a-cha, con trai của ông, trị vì thay cho ông. 36. Thời gian Giê-hu đã cai trị trên Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri là hai mươi tám năm.

 

11

  1. Khi A-tha-li, mẹ của Vua A-cha-xia, thấy con trai của mình đã chết, bà đã trỗi dậy giết tất cả những người thuộc dòng dõi nhà vua. 2. Tuy nhiên, Giô-sê-ba, con gái của Vua Giô-ram và là chị của A-cha-xia, đã bắt trộm Giô-ách, con trai của A-cha-xia, khỏi những con trai của vua sắp bị giết. Họ đã giấu cậu và người vú nuôi trong một phòng ngủ, cho nên cậu đã thoát khỏi A-tha-lia và cậu không bị giết. 3. Cậu bé và bà đã trốn trong đền thờ của Đức Giê-hô-va sáu năm, trong khi A-tha-li cai trị xứ sở.
  2. Đến năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa sai người đi mời các quan chỉ huy một trăm quân ngự lâm và quân cảnh vệ đến gặp ông trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. Ông đã lập giao ước với họ, buộc họ tuyên thệ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, rồi giới thiệu con trai của vua cho họ. 5. Ông truyền cho họ rằng: “Đây là điều các ông sẽ làm: Một phần ba trong các ông đến phiên trực ngày sa-bát sẽ là những người canh giữ hoàng cung, 6. một phần ba sẽ canh giữ cổng Su-rơ, còn một phần ba sẽ canh cổng phía sau quân cảnh vệ. Các ông sẽ canh giữ đền, đừng để nó bị phá hủy. 7. Còn hai phần ba trong các ông đã mãn phiên trực ngày sa-bát, sẽ canh giữ đền thờ của Đức Giê-hô-va và vua. 8. Các ông sẽ bao bọc vua, mỗi người cầm vũ khí trong tay. Ai muốn xâm vào hàng ngũ của các ông, thì hãy diệt kẻ đó. Khi vua đi ra đi vào thì các ông phải ở bên cạnh vua.”
  3. Các quan chỉ huy một trăm quân đã làm theo lệnh của Tư tế Giê-hô-gia-đa. Mỗi người đem quân lính của mình, gồm những người đang ở trong phiên trực, cũng như những người đã mãn phiên trực ngày sa-bát, đến với Tư tế Giê-hô-gia-đa. 10. Tư tế đã trao cho các quan chỉ huy một trăm quân những giáo và khiên của Vua Đa-vít được cất giữ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. 11. Quân lính, mỗi người cầm vũ khí trong tay, đứng chung quanh vua, từ góc bên phải của đền thờ cho đến góc bên trái của đền thờ, dọc theo bàn thờ và đền thờ. 12. Ông đã đem con trai của vua ra, đội vương miện trên đầu, rồi trao cuộn Chứng Ước cho người. Họ đã xức dầu và phong vương cho người, rồi vỗ tay và tung hô: “Đức Vua vạn tuế!”
  4. Sau đó, khi A-tha-li nghe tiếng huyên náo của quân cảnh vệ và của dân chúng thì bà đến gặp dân chúng tại đền thờ của Đức Giê-hô-va. 14. Khi bà thấy vua đang đứng trên bệ cao, theo nghi thức có các vị lãnh đạo và những người thổi kèn ở bên cạnh vua, rồi kèn thổi và toàn thể dân chúng trong xứ đều vui mừng, A-tha-li đã xé trang phục của mình rồi la lên: “Phản loạn! Phản loạn!”
  5. Tư tế Giê-hô-gia-đa đã ra lệnh cho các viên chỉ huy một trăm quân, là những người chỉ huy quân đội. Ông bảo: “Hãy đưa bà ra ngoài, đem vào trại quân. Hãy giết những ai theo bà.” Vị tư tế đã truyền cho họ: “Không được giết bà trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.” 16. Vì vậy, họ đã trói tay của bà, đưa bà đến cổng ngựa gần cung vua, rồi giết bà tại đó.
  6. Giê-hô-gia-đa đã lập giao ước giữa Đức Giê-hô-va với vua và dân chúng để xác định dân Y-sơ-ra-ên là dân của Đức Giê-hô-va. Ông cũng lập một giao ước giữa vua với dân chúng. 18. Toàn dân trong xứ đã đến phá sập đền thờ của Ba-anh. Họ đã đập nát những bàn thờ và những tượng thần ra từng mảnh; còn Ma-than, tế sư của Ba-anh, thì bị họ giết ngay trước những bàn thờ. Sau đó, vị tư tế đã bổ nhiệm những người coi sóc đền thờ của Đức Giê-hô-va. 19. Ông đem các vị chỉ huy trăm quân, ngự lâm quân, các toán quân cảnh vệ, và tất cả dân chúng trong xứ đến rước vua từ đền thờ của Đức Giê-hô-va xuống, rồi tiến về hoàng cung, đi qua lối vào của cổng dành cho quân hộ vệ. Vua đã ngồi lên ngai của vua. 20. Toàn dân trong xứ đều vui mừng, và kinh thành được yên tĩnh sau khi người ta giết A-tha-li bằng gươm tại hoàng cung.
  7. Giô-ách được bảy tuổi khi bắt đầu trị vì.

 

12

  1. Vào năm thứ bảy của triều đại Giê-hu, Giô-ách bắt đầu trị vì. Ông đã trị vì bốn mươi hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Xi-bia, người gốc Bê-e Sê-ba. 2. Giô-ách làm điều ngay thẳng trong mắt Đức Giê-hô-va trọn cả đời ông, bởi vì Tư tế Giê-hô-gia-đa đã hướng dẫn ông. 3. Tuy nhiên, các tế đàn trên những nơi cao vẫn chưa bị tháo gỡ. Dân chúng vẫn tiếp tục dâng sinh tế và đốt hương trên các tế đàn trên những nơi cao đó.
  2. Giô-ách nói với các tư tế: “Tất cả tiền dâng được đem vào trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, tức là tiền quy định cho mỗi người, tiền phạt ấn định cho mỗi người, và tiền mỗi người tự nguyện dâng hiến trong đền thờ của Đức Giê-hô-va; 5. các tư tế hãy nhận chúng từ người dâng hiến, rồi dùng tiền đó tu sửa những chỗ bị hư hại trong đền thờ, nơi nào những nơi hư hại được tìm thấy.”
  3. Nhưng mãi đến năm thứ hai mươi ba đời Vua Giô-ách, các tư tế vẫn chưa sửa những nơi hư hỏng của đền thờ. 7. Vì vậy, Vua Giô-ách đã gọi Tư tế Giê-hô-gia-đa và các tư tế khác đến, rồi hỏi: “Tại sao các ông không sửa những nơi hư hỏng của đền thờ? Vì vậy từ nay các ông đừng nhận tiền từ những người dâng hiến nữa, nhưng hãy trao nó lại để sửa những nơi hư hỏng của đền thờ.” 8. Các tư tế đồng ý không nhận tiền của dân chúng, và cũng không đảm trách việc sửa chữa đền thờ.
  4. Tư tế Giê-hô-gia-đa đã lấy một cái rương, đục một cái lỗ trên nắp, rồi để nó bên cạnh bàn thờ, về phía bên phải lối vào đền thờ của Đức Giê-hô-va. Các tư tế canh cửa đền thờ đã bỏ vào trong rương tất cả số tiền mà người ta đem đến đền thờ Đức Giê-hô-va. 10. Khi nào người ta thấy rương đầy tiền, thì viên thư ký của vua cùng với vị thượng tế đi lên đếm số tiền trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, rồi bỏ nó vào trong bao. 11. Họ trao số tiền, đã được báo cáo, vào tay những người trông coi việc sửa chữa đền thờ của Đức Giê-hô-va. Những người đó chi trả cho thợ mộc và thợ xây, là những người làm việc trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, 12. cùng với những thợ nề và thợ đẽo đá. Họ cũng dùng tiền đó mua gỗ và đá đẽo, để sửa chữa những chỗ hư hại trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, và trang trải tất cả những phí tổn trong việc tu sửa đền thờ.
  5. Tuy nhiên người ta không dùng số tiền đã đem đến đền thờ của Đức Giê-hô-va để làm những chậu bằng bạc, kéo cắt tim đèn, bát, kèn, hay bất cứ dụng cụ nào bằng vàng, bằng bạc, dùng trong đền thờ của Đức Giê-hô-va; 14. nhưng họ đã trao nó cho những người thợ để họ sửa chữa đền thờ của Đức Giê-hô-va. 15. Họ cũng không đòi những người nhận tiền để chi trả cho các nhân công phải khai trình, bởi vì những người đó đã làm việc một cách trung thực. 16. Họ cũng không đem những tiền thuộc về của lễ chuộc lỗi và của lễ chuộc tội vào trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, bởi vì chúng thuộc về các tư tế.
  6. Sau đó, Ha-xa-ên, vua của A-ram, đã tiến lên, tấn công Gát, rồi chiếm nơi đó. Ha-xa-ên đã dự định tiến lên hướng về Giê-ru-sa-lem. 18. Giô-ách, vua của Giu-đa, đã lấy tất cả các vật thánh mà các tiên vương của Giu-đa là Giê-hô-sa-phát, Giô-ram và A-cha-xia đã dâng, cùng với những vật thánh mà chính vua đã dâng, và tất cả vàng trong kho của đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung vua, rồi đem nộp hết cho Ha-xa-ên, vua của A-ram. Vì vậy, hắn đã rời khỏi Giê-ru-sa-lem.
  7. Những việc khác của Giô-ách, và tất cả những việc ông thực hiện, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 20. Những thuộc hạ của ông đã nổi lên, lập mưu phản, rồi giết Giô-ách tại cung Mi-lô, trên đường đi xuống Si-la. 21. Giô-sa-bát, con trai của Si-mê-át, và Giê-hô-sa-bát, con trai của Sô-mê, là những thuộc hạ của ông, đã sát hại ông, và rồi ông đã chết. Người ta an táng ông với những tổ phụ của ông trong thành Đa-vít. A-ma-xia, con trai của ông, đã lên ngôi kế vị ông.

 

13

  1. Vào năm thứ hai mươi ba khi Giô-ách, con trai của A-cha-xia, làm vua của Giu-đa, thì Giô-a-cha, con trai của Giê-hu, bắt đầu làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Ông cai trị mười bảy năm. 2. Ông làm điều tội lỗi trong mắt Đức Giê-hô-va, đi theo những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, nhưng đã không từ bỏ điều đó. 3. Vì vậy, cơn giận của Đức Giê-hô-va đã nổi lên cùng dân Y-sơ-ra-ên, và Ngài đã phó họ vào tay của Ha-xa-ên, vua của A-ram, và vào tay của Bên Ha-đát, con trai của Ha-xa-ên, trọn đời của họ.
  2. Sau đó, Giô-a-cha đã cầu xin Đức Giê-hô-va, và Ngài đã lắng nghe. Đức Giê-hô-va đã nhìn thấy sự khốn khổ của Y-sơ-ra-ên bởi vì vua của A-ram đã ngược đãi họ. 5. Đức Giê-hô-va đã ban cho Y-sơ-ra-ên một vị cứu tinh để giải thoát họ khỏi tay dân A-ram. Vì vậy, dân Y-sơ-ra-ên đã được sống trong lều trại của mình như thời trước. 6. Tuy nhiên, họ vẫn không từ bỏ những tội lỗi của nhà Giê-rô-bô-am, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; họ vẫn tiến hành như vậy, và trụ thờ A-sê-ra vẫn còn tại Sa-ma-ri. 7. Do đó, Ngài đã không để lại cho Giô-a-cha một quân đội, ngoại trừ năm mươi kỵ binh, mười chiến xa, và mười ngàn bộ binh; bởi vì vua của A-ram đã tiêu diệt họ và đã nghiền nát họ như bụi trong sân đập lúa.
  3. Những việc làm khác của Giô-a-cha, tất cả những gì ông đã làm, quyền lực của ông, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên hay sao? 9. Giô-a-cha an giấc cùng các tổ phụ của mình và được an táng tại Sa-ma-ri. Giô-ách, con trai của ông, trị vì thế cho ông.
  4. Vào năm thứ ba mươi bảy khi Giô-ách làm vua của Giu-đa, thì Giô-ách, con trai của Giô-a-cha, bắt đầu làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, trị vì được mười sáu năm. 11. Ông làm điều tội lỗi trong mắt Đức Giê-hô-va, đi theo những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, nhưng vẫn tiến hành như vậy. 12. Những việc khác của Giô-ách, tất cả những gì ông đã làm, và chiến công của ông khi đánh nhau với A-ma-xia, vua của Giu-đa, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên hay sao?
  5. Ê-li-sê lâm bệnh và cơn bệnh đã khiến cho ông qua đời. Giô-ách, vua của Y-sơ-ra-ên, đã xuống thăm ông, khóc trước mặt ông, và thốt lên rằng: “Cha của tôi! Cha của tôi! Những xe chiến mã và những kỵ binh của Y-sơ-ra-ên!” 15. Ê-li-sê nói với vua của Y-sơ-ra-ên: “Xin hãy lấy cung và tên.” Ông đã lấy cung và tên. 16. Ê-li-sê nói với vua của Y-sơ-ra-ên: “Vua hãy giương cung.” Vua liền giương cung. Ê-li-sê đã đặt tay của mình trên tay của vua, 17. rồi nói: “Hãy mở cửa sổ về hướng đông!” Vua mở. Ê-li-sê nói: “Hãy bắn!” Vua bắn. Sau đó, Ê-li-sê nói: “Đó là mũi tên giải cứu của Đức Giê-hô-va, là mũi tên giải cứu khỏi quân A-ram, bởi vì vua sẽ đánh quân A-ram tại A-phéc, cho đến khi tận diệt chúng.” 18. Ông nói: “Xin hãy lấy một bó tên.” Vua đã lấy một bó tên. Ông nói với vua của Y-sơ-ra-ên: “Hãy đập chúng xuống đất.” Vua đã đập chúng xuống đất ba lần rồi ngừng lại. 19. Người của Đức Chúa Trời nổi giận với vua và nói: “Ngài phải đập năm hoặc sáu lần thì mới có thể đánh quân A-ram và tận diệt chúng. Nhưng bây giờ, ngài sẽ chỉ đánh bại quân A-ram được ba lần mà thôi.”
  6. Sau đó, Ê-li-sê đã qua đời và được an táng. Các toán cướp người Mô-áp thường xâm nhập xứ sở vào dịp đầu năm. 21. Có lần người ta đang đem một người chết đi chôn, thình lình quân cướp kéo đến, họ liền ném người chết vào mộ của Ê-li-sê. Vừa khi chạm đến hài cốt của Ê-li-sê, người đó đã được sống lại và đứng trên chân của mình.
  7. Ha-xa-ên, vua của A-ram, đã áp bức dân Y-sơ-ra-ên trọn đời của Giô-a-cha. 23. Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va vẫn gia ân cho họ. Ngài vẫn thương xót và hướng về họ bởi vì giao ước mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Ngài không muốn tiêu diệt họ, và vẫn không loại bỏ họ khỏi mặt Ngài cho đến ngày hôm nay.
  8. Ha-xa-ên, vua của A-ram, đã qua đời. Bên-ha-đát, con trai của ông, trị vì thế cho ông. 25. Giô-ách, con trai của Giô-a-cha, đã lấy lại từ tay của Bên Ha-đát, con trai của Ha-xa-ên, những thành mà người đã chiếm được trong cuộc chiến với vua cha là Giô-a-cha. Giô-ách đã đánh bại hắn ba lần, và đã lấy lại các thành của Y-sơ-ra-ên.

 

14

  1. Vào năm thứ hai đời khi Giô-ách, con trai của Giô-a-cha, làm vua của Y-sơ-ra-ên, thì A-ma-xia, con trai của Giô-ách, trở thành vua của Giu-đa. 2. Ông được hai mươi lăm tuổi khi bắt đầu trị vì, và ông đã trị vì hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là Giê-hoa-đan, người Giê-ru-sa-lem. 3. Ông đã làm điều ngay lành trong mắt Đức Giê-hô-va, nhưng không được như Đa-vít, tổ phụ của ông, nhưng ông chỉ làm những điều Giô-ách, cha của ông, đã làm. 4. Tuy nhiên, các tế đàn trên những nơi cao vẫn chưa bị tháo gỡ. Dân chúng vẫn tiếp tục dâng sinh tế và đốt hương trên các tế đàn trên những nơi cao đó. 5. Một thời gian sau, khi vương quyền đã được nắm vững trong tay, ông xử tử những người đã ám sát cha của ông. 6. Nhưng ông không giết các con của những kẻ sát nhân, đúng theo lời đã chép trong sách luật pháp của Môi-se; trong đó, Đức Giê-hô-va đã truyền rằng: “Cha sẽ không bị giết vì con, và con cũng không bị giết vì cha, nhưng mỗi người sẽ chết vì tội của mình.” 7. Ông đã đánh bại mười ngàn quân Ê-đôm tại thung lũng Muối, và đánh chiếm Sê-la rồi đặt tên cho nó là Giốc-then như ngày nay.
  2. Sau đó, A-ma-xia đã sai sứ giả đến gặp Giô-ách, con trai của Giô-a-cha, cháu của Giê-hu, vua của Y-sơ-ra-ên, và nói rằng: “Hãy đến để chúng ta đối mặt với nhau.” 9. Giô-ách, vua của Y-sơ-ra-ên, sai người nói với A-ma-xia, vua của Giu-đa rằng: “Cây gai ở Li-ban sai người đến nói với cây bá hương ở Li-ban rằng: ‘Hãy gả con gái của anh làm vợ cho con trai của tôi.’ Nhưng có một con thú rừng của Li-ban đã đi ngang qua, và đã giẫm nát cây gai. 10. Thật vậy, ông đã đánh bại Ê-đôm, rồi sinh lòng kiêu ngạo. Hãy ở nhà mà hưởng vinh quang. Tại sao ông lại muốn gây họa cho chính mình, rồi khiến cho ông và cả Giu-đa phải bị gục ngã?”
  3. Nhưng A-ma-xia đã không lắng nghe. Vì vậy, Giô-ách, vua của Y-sơ-ra-ên, đã tiến lên. Ông và A-ma-xia, vua của Giu-đa, đã đối mặt nhau tại Bết Sê-mết, thuộc về Giu-đa. 12. Người Giu-đa đã bị người Y-sơ-ra-ên đánh bại. Mọi người đều bỏ trốn, chạy về trại của mình. 13. Giô-ách, vua của Y-sơ-ra-ên, đã bắt được A-ma-xia, vua của Giu-đa, con trai của Giô-ách, cháu của A-cha-xia tại Bết Sê-mết. Giô-ách đã tiến đến Giê-ru-sa-lem, rồi phá đổ tường thành từ cổng Ép-ra-im cho đến cổng Góc, một đoạn dài bốn trăm cu-bít. 14. Ông đã lấy tất cả vàng bạc, cùng tất cả vật dụng tìm thấy trong đền thờ của Đức Giê-hô-va và trong các kho tàng của hoàng cung. Ông cũng bắt nhiều con tin, rồi trở về Sa-ma-ri.
  4. Những việc khác mà Giô-ách đã làm, chiến công của ông, và ông đã đánh bại A-ma-xia, vua của Giu-đa, như thế nào, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên hay sao? 16. Giô-ách an giấc cùng các tổ phụ của mình, và được an táng tại Sa-ma-ri chung với các vua của Y-sơ-ra-ên. Rồi Giê-rô-bô-am, con trai của ông, đã trị vì thế cho ông.
  5. A-ma-xia, con trai của Giô-ách, vua của Giu-đa, còn sống mười lăm năm, sau cái chết của Giô-ách, con trai của Giô-a-cha, vua của Y-sơ-ra-ên. 18. Tất cả những việc khác của A-ma-xia không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 19. Người ta âm mưu chống lại ông tại Giê-ru-sa-lem, cho nên ông đã chạy trốn đến La-ki. Nhưng họ đã sai người đuổi theo ông đến La-ki, rồi giết ông tại đó. 20. Sau đó, họ đặt xác của ông trên lưng ngựa rồi chở về Giê-ru-sa-lem. Họ đã chôn ông tại Giê-ru-sa-lem với các tổ tiên của ông trong thành của Ða-vít.
  6. Toàn dân Giu-đa đã lập A-xa-ria, được mười sáu tuổi, lên làm vua thay cho cha của mình là A-ma-xia. 22. Ông đã xây lại Ê-lát và sáp nhập nó vào Giu-đa sau khi vua an giấc cùng các tổ phụ của mình.
  7. Vào năm thứ mười lăm khi A-ma-xia, con trai của Giô-ách, làm vua Giu-đa, thì Giê-rô-bô-am, con trai của Giô-ách, bắt đầu làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Vua cai trị bốn mươi mốt năm. 24. Ông làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, đã không từ bỏ những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. 25. Ông đã tái lập biên cương cho Y-sơ-ra-ên từ ải Ha-mát cho đến biển A-ra-ba, y như lời của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán bởi tôi tớ của Ngài là Tiên tri Giô-na, con trai của A-mi-tai, người Gát Hê-phe. 26. Vì Đức Giê-hô-va đã thấy nỗi khốn khổ của Y-sơ-ra-ên. Thật là cay đắng, không còn một ai, dù là nô lệ hay tự do, giúp đỡ Y-sơ-ra-ên cả. 27. Đức Giê-hô-va đã không phán rằng Ngài sẽ xóa tên của Y-sơ-ra-ên dưới bầu trời, cho nên Ngài đã dùng tay của Giê-rô-bô-am, con trai của Giô-ách, để giải cứu họ.
  8. Tất cả những việc khác của Giê-rô-bô-am, tất cả những việc ông đã làm, quyền lực của ông, thể nào ông đã chiến tranh với Ða-mách, thể nào ông đã thâu hồi Ha-mát từ Giu-đa trở về cho Y-sơ-ra-ên, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên hay sao? 29. Giê-rô-bô-am an giấc với các tổ phụ mình, là các vua của Y-sơ-ra-ên. Xa-cha-ri, con trai của ông, trị vì thay cho ông.

 

15

  1. Vào năm thứ hai mươi bảy khi Giê-rô-bô-am làm vua của Y-sơ-ra-ên, thì A-xa-ria, con trai của A-ma-xia, bắt đầu làm vua của Giu-đa. 2. Ông được mười sáu tuổi khi lên ngôi và trị vì năm mươi hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Giê-cô-lia, là dân Giê-ru-sa-lem. 3. Ông làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va giống như những gì mà A-ma-xia, cha của ông, đã làm. 4. Tuy nhiên, các tế đàn trên những nơi cao vẫn chưa bị tháo gỡ. Dân chúng vẫn tiếp tục dâng sinh tế và đốt hương trên các tế đàn trên những nơi cao đó. 5. Đức Giê-hô-va đã trừng phạt ông, khiến ông mắc bệnh phung cho đến ngày qua đời. Ông phải sống cách biệt trong một căn nhà. Giô-tham, con trai của ông, đảm trách việc triều chính và phân xử cho dân chúng trong nước. 6. Tất cả những việc khác của A-xa-ria, tất cả những việc ông làm, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 7. A-xa-ria an giấc với các tổ phụ mình. Người ta chôn ông bên cạnh những tổ phụ của ông trong thành của Đa-vít. Giô-tham, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
  2. Vào năm thứ ba mươi tám đời khi A-xa-ria làm vua Giu-đa, thì Xa-cha-ri, con trai của Giê-rô-bô-am, lên làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Ông cai trị sáu tháng. 9. Ông làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ của ông đã làm. Ông không từ bỏ những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. 10. Sa-lum, con trai của Gia-be, âm mưu chống lại ông. Hắn tấn công ông trước mặt dân chúng, giết ông, rồi chiếm ngôi. 11. Những việc khác của vua Xa-cha-ri đã được ghi chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên. 12. Như vậy, lời của Đức Giê-hô-va đã phán với Giê-hu rằng: “Con cháu ngươi sẽ ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên cho đến đời thứ tư”, điều đó đã được ứng nghiệm.
  3. Vào năm thứ ba mươi chín khi Ô-xia làm vua của Giu-đa, thì Sa-lum, con trai của Gia-be, lên làm vua tại Sa-ma-ri. Ông cai trị chỉ được một tháng, 14. bởi vì Mê-na-hem, con trai của Ga-đi, đã từ Tiệt-sa đi lên Sa-ma-ri. Hắn đánh Sa-lum, con trai của Gia-be, ngay tại Sa-ma-ri. Hắn đã giết ông, rồi làm vua thay cho ông. 15. Những việc khác của Sa-lum, âm mưu do ông chủ xướng, đều được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên.
  4. Sau đó, Mê-na-hem đã tiêu diệt Tiệt-sa, cùng với mọi người tại đó và khắp miền phụ cận. Ông đã tiêu diệt Típ-sắc; bởi vì người trong thành không chịu mở cổng đầu hàng cho nên ông đã mổ bụng tất cả những phụ nữ có thai.
  5. Vào năm thứ ba mươi chín khi A-xa-ria làm vua của Giu-đa, thì Mê-na-hem, con trai của Ga-đi, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Ông cai trị được mười năm. 18. Ông làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va. Suốt cả đời, ông không từ bỏ những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. 19. Phun, vua của A-sy-ri, xâm lăng xứ. Mê-na-hem đã nộp cho Phun một ngàn ta-lâng bạc, để nhờ tay của vua đó hổ trợ cho ông giữ vững vương quyền trong tay của mình. 20. Mê-na-hem đã thu số bạc đó từ những người giàu có trong dân Y-sơ-ra-ên, mỗi người năm mươi siếc-lơ bạc, để nộp cho vua của A-sy-ri. Vì vậy, vua của A-sy-ri đã rút quân về, không ở lại trong xứ. 21. Những việc khác của Mê-na-hem, tất cả những việc ông làm, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên hay sao? 22. Mê-na-hem an giấc cùng các tổ phụ của mình. Phê-ca-hia, con trai của ông, làm vua thay cho ông.
  6. Vào năm thứ năm mươi khi A-xa-ria làm vua của Giu-đa, thì Phê-ca-hia, con trai của Mê-na-hem, lên làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Ông cai trị hai năm. 24. Ông làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, không từ bỏ những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. 25. Sau đó, Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia, chỉ huy trưởng quân đội của ông, đã mưu phản ông. Ông ấy đã giết chết vua trong hoàng cung tại Sa-ma-ri, cùng với Ạc-gốp và A-ri-ê; cùng theo ông ấy có năm mươi người Ga-la-át. Ông ấy đã giết vua, rồi trị vì thay thế. 26. Những việc khác của Phê-ca-hia, tất cả những việc ông làm, đều được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên.
  7. Vào năm thứ năm mươi hai khi A-xa-ria làm vua của Giu-đa, thì Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia, lên ngôi làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Ông cai trị được hai mươi năm. 28. Ông làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, không từ bỏ những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. 29. Trong thời Phê-ca làm vua của Y-sơ-ra-ên, Tiếc-la Phi-lê-se, vua của A-sy-ri, đã đến chiếm Y-giôn, A-bên Bết Ma-ca, Gia-nô-ác, Kê-đe, Hát-so, Ga-la-át, Ga-li-lê, tất cả địa phận của Nép-ta-li; rồi bắt dân những nơi đó đày sang A-sy-ri. 30. Ô-sê, con trai của Ê-la, đã lập mưu phản Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia. Ông ấy đã tấn công, giết vua, rồi lên ngôi thế vị vào năm thứ hai mươi của triều Vua Giô-tham, con trai của Ô-xia. 31. Những việc khác của Phê-ca, tất cả những việc ông làm, đều được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Y-sơ-ra-ên.
  8. Vào năm thứ hai khi Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia, làm vua của Y-sơ-ra-ên, thì Giô-tham, con trai của Ô-xia, bắt đầu làm vua của Giu-đa. 33. Ông được hai mươi lăm tuổi khi bắt đầu trị vì, và trị vì mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Giê-ru-sa, là con gái của Xa-đốc. 34. Ông làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va. Ông đã làm theo mọi điều mà Ô-xia, cha của ông, đã làm. 35. Tuy nhiên, các tế đàn trên những nơi cao vẫn chưa bị tháo gỡ. Dân chúng vẫn tiếp tục dâng sinh tế và đốt hương trên các tế đàn trên những nơi cao đó. Ông đã xây cổng phía trên của đền thờ Đức Giê-hô-va. 36. Những việc khác của Giô-tham, tất cả những việc ông làm, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao?
  9. Vào thời gian đó, Đức Giê-hô-va bắt đầu khiến Rê-xin, vua của A-ram, và Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia, đến đánh Giu-đa. 38. Giô-tham an giấc cùng các tổ phụ mình và được chôn bên cạnh các tổ phụ của mình trong thành của Đa-vít, là tổ phụ của ông. A-cha, con trai của ông, lên trị vì thay cho ông.

 

16

  1. Vào năm thứ mười bảy khi Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia, trị vì, thì A-cha, con trai của Giô-tham, lên làm vua của Giu-đa. 2. A-cha được hai mươi tuổi khi lên làm vua, và ông cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Ông không làm điều ngay thẳng trong mắt của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình, giống như tổ phụ của ông là Đa-vít đã làm. 3. nhưng ông đã đi theo đường lối của các vua của Y-sơ-ra-ên. Thậm chí ông đã thiêu con trai của mình trong lửa, theo tập tục gớm ghiếc của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi ra khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. 4. Ông đã dâng sinh tế và đốt hương trên những nơi cao, trên các ngọn đồi và dưới tất cả những cây xanh.
  2. Sau đó, Rê-xin, vua của A-ram, và Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia, vua của Y-sơ-ra-ên, đã kéo quân lên Giê-ru-sa-lem để gây chiến. Họ bao vây A-cha, nhưng không thắng được ông. 6. Lúc đó, Rê-xin, vua của A-ram, đã chiếm lại Ê-lát cho A-ram. Ông đuổi dân Giu-đa ra khỏi Ê-lát, và rồi dân A-ram đã đến sống tại Ê-lát cho đến ngày nay.
  3. A-cha đã sai các sứ giả đến với Tiếc-lác Phi-lê-se, vua của A-sy-ri, và tâu rằng: “Tôi là tôi tớ của vua và là con trai của vua. Xin hãy đến giải cứu tôi khỏi tay của vua A-ram và khỏi tay của vua Y-sơ-ra-ên, bởi vì họ đang vây hãm tôi.” 8. A-cha đã lấy bạc và vàng trong đền thờ của Đức Giê-hô-va và trong các kho tàng của hoàng cung để gởi làm lễ vật cho vua của A-sy-ri. 9. Vua của A-sy-ri đã chấp nhận yêu cầu của ông. Vua của A-sy-ri đã kéo quân lên đánh Đa-mách, bắt dân chúng lưu đày sang Ki-rơ, rồi giết Rê-xin.
  4. Khi Vua A-cha đến Đa-mách để gặp Tiếc-la Phi-lê-se, là vua của A-sy-ri, ông thấy có một bàn thờ tại Đa-mách. Vua A-cha đã gởi cho Tư tế U-ri kiểu mẫu, mô hình, và chi tiết của nó. 11. Tư tế U-ri đã làm một bàn thờ giống như kiểu mẫu mà Vua A-cha từ Sa-ma-ri đã gởi về. Tư tế U-ri đã thực hiện xong việc đó trước khi Vua A-cha từ Đa-mách trở về. 12. Khi vua từ Đa-mách trở về, vua đã đến xem bàn thờ, vua đến gần rồi dâng tế lễ trên đó, 13. là tế lễ thiêu, tế lễ chay, đã rót tế lễ quán và huyết của tế lễ bình an trên bàn thờ. 14. Còn bàn thờ bằng đồng, vẫn thường đặt trước mặt Đức Giê-hô-va, ông đem nó đặt ở giữa bàn thờ mới và đền thờ của Đức Giê-hô-va, và đặt nó ở phía bắc của bàn thờ mới. 15. Vua A-cha đã truyền cho Tư tế U-ri rằng: “Trên bàn thờ lớn, hãy dâng tế lễ thiêu buổi sáng và tế lễ chay buổi chiều, tế lễ thiêu và tế lễ chay của vua, tế lễ thiêu và tế lễ chay của toàn dân trong xứ cùng với lễ quán, và rảy huyết sinh tế của tế lễ thiêu, luôn cả huyết của các sinh tế khác trên bàn thờ nầy. Còn bàn thờ bằng đồng, ta sẽ dùng để thỉnh cầu.” 16. Tư tế U-ri đã làm đúng theo mọi điều Vua A-cha đã truyền.
  5. Sau đó, vua A-cha cho gỡ bỏ các tấm vách trên những chiếc xe, và dẹp tất cả những bồn nước đặt ở trên. Vua cho hạ bể nước kê trên những con bò bằng đồng xuống rồi đem đặt nó trên một nền đá. 18. Vua cũng dẹp bỏ lều che nắng dùng trong ngày Sa-bát nơi sân của đền thờ, còn cổng vào dành đặt biệt cho vua ở phía trước đền thờ của Đức Giê-hô-va, vua cũng dẹp bỏ. Vua làm tất cả những việc đó vì vua A-sy-ri. 19. Những việc khác mà Vua A-cha đã không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 20. A-cha an giấc cùng các tổ phụ và được an táng bên cạnh họ trong thành của Đa-vít. Ê-xê-chia, con trai của vua, trị vì thay cho ông.

 

17

  1. Vào năm thứ mười hai khi A-cha làm vua của Giu-đa, thì Ô-sê, con trai của Ê-la, lên làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Ông cai trị chín năm. 2. Ông đã làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, tuy nhiên không bằng các vua của Y-sơ-ra-ên trước ông. 3. Sanh-ma-na-sa, vua của A-sy-ri, đã kéo đến đánh ông cho nên Ô-sê đã thần phục và triều cống cho hắn.
  2. Sau đó, vua của A-sy-ri khám phá ra rằng Vua Ô-sê đã sai sứ giả đến gặp Sô, vua của Ai Cập, và cũng không nộp triều cống hằng năm cho vua của A-sy-ri; vì vậy vua của A-sy-ri đã bắt ông rồi giam ông vào ngục. 5. Vua của A-sy-ri đã xâm chiếm cả xứ, rồi tiến lên bao vây Sa-ma-ri trong ba năm. 6. Vào năm thứ chín đời trị vì của Ô-sê, vua của A-sy-ri đã chiếm Sa-ma-ri, đày dân Y-sơ-ra-ên sang A-sy-ri, rồi cho họ định cư tại Cha-la, tại Cha-bo bên bờ sông Gô-xan, và trong các thành của Mê-đi.
  3. Việc nầy đã xảy ra bởi vì dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, là Đấng đã đem họ ra khỏi Ai Cập và khỏi tay của Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, nhưng họ lại thờ phượng những thần khác. 8. Họ đã sống theo thói tục của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, và theo những điều mà các vua của Y-sơ-ra-ên đã làm. 9. Dân Y-sơ-ra-ên đã lén lút làm những việc không đẹp lòng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của họ. Họ đã xây dựng cho họ những tế đàn trên các nơi cao trong các thành của họ, từ những tháp canh cho đến những thành trì kiên cố. 10. Họ đã thiết lập cho mình những trụ thờ bằng đá và tượng nữ thần A-sê-ra trên tất cả những nơi cao và cả dưới những cây xanh. 11. Họ đã dâng tế lễ trên các tế đàn tại những nơi cao, giống như các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi đi khỏi trước mặt họ. Họ đã làm những điều tội lỗi để chọc giận Đức Giê-hô-va. 12. Họ đã thờ những hình tượng mà Đức Giê-hô-va đã phán với họ rằng: “Các ngươi không được thờ chúng.” 13. Mặc dầu Đức Giê-hô-va đã sai các tiên tri và các tiên kiến khuyến cáo Y-sơ-ra-ên và Giu-đa rằng: “Hãy quay khỏi những đường lối gian ác của các ngươi! Hãy tuân giữ những điều răn và mạng lịnh của Ta, tuân theo tất cả luật pháp mà Ta đã truyền cho tổ tiên của các ngươi, mà Ta đã gởi đến cho các ngươi bởi các tôi tớ của Ta là những tiên tri.”
  4. Tuy nhiên, họ đã không chịu nghe, nhưng cứ cứng cổ của họ, giống như cổ của những tổ phụ của họ, là những người đã không tin vào Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình. 15. Họ đã xem thường những mạng lịnh của Ngài cùng những giao ước mà Ngài đã lập với các tổ tiên của họ và những cảnh cáo mà Ngài đã cảnh cáo họ. Họ đã đi theo sự hư không, rồi trở thành hư không. Họ đã bắt chước các dân tộc chung quanh, là những dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã truyền họ không được làm giống như chúng. 16. Họ đã loại bỏ tất cả những điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, đúc cho họ hai tượng bò con, làm tượng nữ thần A-sê-ra, thờ phượng tất cả các thiên thể, và phục vụ Ba-anh. 17. Họ đã đem các con trai và các con gái của họ thiêu trong lửa, đã tập tành tà thuật và coi bói, đã tự bán chính mình để làm điều gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va để chọc giận Ngài. 18. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã nổi thịnh nộ cùng dân Y-sơ-ra-ên và loại bỏ họ khỏi mặt Ngài, không ai còn lại, ngoại trừ chi tộc Giu-đa.
  5. Giu-đa cũng không tuân giữ những điều răn của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của họ, nhưng họ đã bước đi theo các thói tục mà người Y-sơ-ra-ên đã làm. 20. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã loại bỏ toàn thể dòng dõi của Y-sơ-ra-ên, để cho họ bị đau khổ, rồi phó họ vào tay những kẻ cướp đoạt, cho đến khi Ngài ném họ ra khỏi trước mặt Ngài.
  6. Khi Ngài xé Y-sơ-ra-ên ra khỏi nhà Đa-vít thì họ lập Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, làm vua. Giê-rô-bô-am đã kéo Y-sơ-ra-ên đừng theo Đức Giê-hô-va và khiến cho họ phạm trọng tội. 22. Dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tất cả những tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm. Họ không lìa bỏ chúng. 23. cho đến khi Đức Giê-hô-va cất bỏ họ khỏi trước mặt Ngài, như Ngài đã bảo trước qua các tiên tri, là những đầy tớ của Ngài. Vì vậy, Y-sơ-ra-ên bị lưu đày sang A-sy-ri, và lìa khỏi xứ sở của mình, cho đến ngày nay.
  7. Sau đó, vua của A-sy-ri đã đem người từ Ba-by-lôn, Cu-tha, A-va, Ha-mát và Sê-phạt-va-im đến định cư trong các thành của Sa-ma-ri, để thay vào chỗ của dân Y-sơ-ra-ên. Chúng đã chiếm xứ Sa-ma-ri rồi ở trong các thành tại đó. 25. Khi mới bắt đầu định cư tại đó, chúng không kính sợ Đức Giê-hô-va cho nên Đức Giê-hô-va sai sư tử đến giữa họ, và giết một số người của họ. 26. Người ta đã tâu với vua của A-sy-ri rằng: “Các dân tộc mà vua đã đày sang định cư trong các thành của Sa-ma-ri không biết cách thờ phượng Đức Chúa Trời trong xứ; vì vậy Ngài đã sai sư tử đến ở giữa họ, và chúng đã giết họ bởi vì họ không biết cách thờ phượng Đức Chúa Trời trong xứ.” 27. Vua của A-sy-ri đã truyền lệnh rằng: “Hãy đưa một người, trong số các tư tế mà các ngươi đã bắt từ đó đem qua đây, trở về và sống tại đó để dạy họ cách thờ phượng Đức Chúa Trời của xứ.” 28. Sau đó, một tư tế trong số những tư tế bị bắt đem lưu đày khỏi Sa-ma-ri đã trở về, sống tại Bê-tên, và dạy cho họ phải thờ phượng Đức Giê-hô-va như thế nào.
  8. Tuy nhiên, mỗi dân tộc đều làm những tượng thần riêng của họ, rồi đem đặt trong những đền miếu trên các nơi cao mà người ta đã làm tại Sa-ma-ri. Dân tộc nào cũng làm như vậy trong các thành họ ở. 30. Dân Ba-by-lôn dựng tượng Su-cốt Bê-nốt, dân Cút lập tượng Nẹt-ganh, dân Ha-mát làm tượng A-si-ma, 31. dân A-vim làm tượng Níp-ca và Tạt-tác, dân Sê-phạt-va-im thiêu các con của mình trong lửa cho A-tra-mê-léc và A-na-mê-léc, là những thần của dân Sê-phạt-va-im. 32. Họ cũng kính sợ Đức Giê-hô-va, nhưng lại chọn người từ đủ các thành phần của họ làm tư tế tại những nơi cao, để dâng tế lễ cho chúng trong các đền miếu tại những nơi cao đó. 33. Họ kính sợ Đức Giê-hô-va nhưng cũng phục vụ các thần riêng của mình theo những thói tục của các dân tộc mà họ đã có trước khi bị lưu đày.
  9. Cho đến ngày nay, họ vẫn còn làm theo những thói tục trước kia của mình. Họ không thờ phượng Đức Giê-hô-va, và cũng không làm theo những quy tắc, quy định, luật pháp, và mạng lệnh mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho con cháu của Gia-cốp, mà Ngài đã đặt tên là Y-sơ-ra-ên. 35. Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với Y-sơ-ra-ên và truyền cho họ rằng: “Các ngươi không được thờ phượng những thần khác, không được thờ lạy chúng, không được phục vụ chúng, và cũng không được dâng sinh tế cho chúng. 36. Nhưng Đức Giê-hô-va, là Ðấng đã đưa cánh tay quyền năng của Ngài ra và đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai Cập, thì các ngươi hãy thờ phượng Ngài, thờ lạy Ngài, và dâng sinh tế cho Ngài. 37. Những quy tắc, quy định, luật pháp, và mạng lệnh mà Ngài đã viết ra cho các ngươi, các ngươi phải cẩn thận vâng giữ. Các ngươi không được thờ phượng những thần khác. 38. Các ngươi không được quên giao ước mà Ta đã lập với các ngươi, cũng không thờ phượng những thần khác. 39. Nhưng các ngươi chỉ thờ phượng Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của các ngươi. Ngài sẽ giải cứu các ngươi khỏi tay của tất cả những kẻ thù của các ngươi.” 40. Tuy nhiên, họ không nghe theo, và vẫn làm theo những thói tục trước kia của mình. 41. Vì vậy, các dân tộc đó kính sợ Đức Giê-hô-va, nhưng thờ phượng các thần do họ đã chạm khắc để tạo nên. Con cháu của họ và con cháu của con cháu họ đã làm theo truyền thống của tổ tiên họ, và tiếp tục làm như vậy cho đến ngày nay.

 

18

  1. Thời gian trôi qua, vào năm thứ ba khi Ô-sê, con trai của Ê-la, làm vua của Y-sơ-ra-ên, thì Ê-xê-chia, con trai của A-cha, làm vua của Giu-đa. 2. Ông được hai mươi lăm tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông đã trị vì hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là A-bi, là con gái của Xa-cha-ria. 3. Ông làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va như Đa-vít, tổ phụ của ông, đã làm. 4. Ông dẹp bỏ những nơi cao, đập vỡ những hình tượng, triệt hạ những lùm cây nơi thờ A-sê-ra, và đập nát con rắn bằng đồng mà Môi-se đã làm, bởi vì cho đến lúc đó dân Y-sơ-ra-ên đã dâng hương cho nó, và gọi nó là Nê-hu-tan. 5. Ông tin cậy Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Trong số những vị vua Giu-đa sau ông, không ai được như thế; và trong số các vị vua trước ông, cũng không ai được như vậy. 6. Ông bám chặt Đức Giê-hô-va, không lìa bỏ, nhưng cứ theo Ngài, tuân giữ những điều răn của Ngài mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  2. Đức Giê-hô-va ở với ông nên ông làm gì cũng được thành công. Ông nổi lên chống lại vua của A-sy-ri và không chịu thần phục người nữa. 8. Ông tiến đánh người Phi-li-tin cho đến tận Ga-xa và những vùng phụ cận, từ tháp canh cho đến thành trì kiên cố.
  3. Thời gian trôi qua, vào năm thứ tư khi Ê-xê-chia đang làm vua, tức là năm thứ bảy khi Ô-sê, con trai của Ê-la, làm vua của Y-sơ-ra-ên, thì Sanh-ma-na-sa, vua của A-sy-ri, đã tiến đánh Sa-ma-ri, rồi bao vây thành. 10. Họ chiếm được thành vào cuối năm thứ ba. Năm thứ sáu của triều Vua Ê-xê-chia, tức là năm thứ chín khi Ô-sê làm vua của Y-sơ-ra-ên, thì Sa-ma-ri bị thất thủ. 11. Vua của A-sy-ri đã đày dân Y-sơ-ra-ên sang A-sy-ri, đặt họ tại Cha-la, tại Cha-bo bên bờ sông Gô-xan, và trong các thành của Mê-đi. 12. Bởi vì họ đã không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của họ, nhưng đã vi phạm giao ước của Ngài, tức là tất cả những điều mà Môi-se, tôi tớ của Ngài, đã truyền. Họ đã không lắng nghe và cũng không làm theo.
  4. Vào năm thứ mười bốn đời trị vì của Ê-xê-chia, San-chê-ríp, vua của A-sy-ri, đã tiến đánh tất cả những thành kiên cố của Giu-đa, rồi chiếm lấy. 14. Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, sai người đến La-ki nói với vua của A-sy-ri rằng: “Tôi có lỗi! Xin lui binh khỏi đất của tôi; rồi ngài đòi điều gì, tôi xin chấp nhận.” Vua A-sy-ri buộc Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, phải nộp ba trăm ta-lâng bạc, và ba mươi ta-lâng vàng. 15. Ê-xê-chia đã nộp tất cả số bạc có trong đền thờ của Đức Giê-hô-va và trong các kho tàng của cung vua. 16. Lúc đó, Ê-xê-chia phải gỡ vàng từ những cửa và cột của đền thờ Đức Giê-hô-va mà chính vua đã cẩn vào, rồi đem nộp cho vua A-sy-ri.
  5. Nhưng vua của A-sy-ri đã sai Tạt-tan, Ráp-sa-ri, và Ráp-sa-kê, cùng một đạo binh rất lớn từ La-chi đến tấn công Ê-xê-chia tại Giê-ru-sa-lem. Họ đã tiến lên và đến Giê-ru-sa-lem. Khi tiến gần, họ đến và dừng lại tại đầu kênh dẫn nước của hồ trên, tức là chỗ con đường dẫn đến cánh đồng của thợ nện. Khi tới nơi, chúng đến đứng tại cống dẫn nước của ao trên, nằm trên con đường dẫn đến cánh đồng của thợ giặt. 18. Họ yêu cầu được gặp vua, nhưng Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, quan tổng quản hoàng cung, Sép-na, quan bí thư, và Giô-a, con trai của A-sáp, quan quản lý văn khố, đã đi ra gặp họ.
  6. Ráp-sa-kê đã nói với họ: “Hãy về nói lại với Ê-xê-chia rằng: Đại đế của A-sy-ri nói như thế nầy: ‘Dựa vào đâu mà ngươi tự tin như vậy? 20. Ngươi tưởng rằng trong chiến tranh, lời nói suông có thể thay thế được mưu lược và sức mạnh hay sao? Ngươi dựa vào gì mà dám chống lại ta? 21. Hãy xem, ngươi đang nhờ cậy vào Ai-cập chứ gì? Ðó chỉ là một cây sậy đã bị gãy. Ai dựa vào nó sẽ bị đứt tay. Bất cứ kẻ nào dựa vào Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, sẽ bị như vậy. 22. Có thể các ngươi nói với ta rằng: ‘Chúng tôi tin cậy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng tôi. Không phải chính Ê-xê-chia đã phá hủy các nơi cao và những bàn thờ ở trên đó, rồi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem phải thờ lạy trước bàn thờ tại Giê-ru-sa-lem hay sao?’ 23. Bây giờ hãy đánh cuộc với chủ của ta là vua của A-sy-ri. Ta sẽ cho các ngươi hai ngàn con ngựa, xem thử các ngươi có đủ kỵ binh để cỡi hay không. 24. Làm thế nào các ngươi có thể nhờ cậy vào các xe chiến mã và những kỵ binh của Ai Cập để đối diện với chỉ một tiểu tướng trong đám đầy tớ của chủ ta? 25. Hơn nữa, không phải là theo ý muốn của Đức Giê-hô-va mà ta tiến đánh để hủy diệt nơi nầy hay sao? Chính Đức Giê-hô-va đã phán với ta: ‘Hãy tiến lên, đánh xứ nầy, rồi hủy diệt nó.’”
  7. Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, cùng với Sép-na và Giô-a đã nói với Ráp-sa-kê: “Xin nói với các đầy tớ của Ngài bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu được. Đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Giu-đa, để lọt vào tai của dân chúng ở trên tường thành.”
  8. Nhưng Ráp-sa-kê đã nói với họ: “Có phải chủ ta sai ta đến để chỉ nói những lời nầy với chủ của các ngươi và các ngươi thôi sao? Không phải là để nói với những người đang ngồi trên vách thành, tức là những người sẽ cùng chung số phận với các ngươi, sẽ phải ăn phân và uống nước tiểu mình hay sao?”
  9. Sau đó, Ráp-sa-kê đã đứng lên, rồi nói lớn bằng tiếng Giu-đa rằng: “Hãy nghe lời của đại đế, là vua của A-sy-ri. 29. Đức vua nói như thế nầy: ‘Đừng để cho Ê-xê-chia lừa gạt các ngươi, bởi vì hắn không thể nào giải cứu các ngươi khỏi tay của ta. 30. Cũng đừng để cho Ê-xê-chia làm cho các ngươi tin cậy Đức Giê-hô-va, khi nói rằng Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ giải cứu chúng ta và thành nầy sẽ không rơi vào tay của vua A-sy-ri. 31. Đừng nghe theo Ê-xê-chia, bởi vì vua của A-sy-ri đã nói như thế nầy: Hãy ra đầu hàng ta và trình lễ vật cho ta, thì mỗi người trong các ngươi sẽ được ăn hoa quả trong vườn nho của mình, trong vườn vả của mình, và uống nước từ giếng của mình, 32. cho đến khi ta sẽ đến để đem các ngươi vào trong một xứ giống như xứ của các ngươi, tức là một xứ có ngũ cốc và rượu, bánh và vườn nho, một xứ có dầu ô-liu và mật ong. Như thế, các ngươi sẽ sống mà không chết. Vì vậy, các ngươi đừng lắng nghe Ê-xê-chia, bởi vì hắn đã lừa dối các ngươi khi nói rằng Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta. 33. Có thần của dân tộc nào đã giải cứu xứ sở của họ khỏi tay của vua A-sy-ri hay không? 34. Các thần của dân Ha-mát và dân Ạt-bát ở đâu? Các thần của dân Sê-phạt-va-im, dân Hê-na, và dân Y-va ở đâu? Các thần đó có giải cứu Sa-ma-ri thoát khỏi tay của ta hay không? 35. Tất cả các thần của các nước, có thần nào đã giải cứu nước của họ thoát khỏi tay của ta hay không? Như vậy, làm thế nào Đức Giê-hô-va có thể giải cứu Giê-ru-sa-lem thoát khỏi tay của ta?”
  10. Nhưng dân chúng im lặng, không đáp lại một lời, bởi vì vua đã ra lệnh: “Các ngươi đừng trả lời hắn.”
  11. Sau đó, Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, quan tổng quản hoàng cung, Sép-na, quan bí thư, và Giô-a, con trai của A-sáp, quan quản lý văn khố, đã xé rách trang phục của mình, rồi đến với Vua Ê-xê-chia để trình lại những lời Ráp-sa-kê đã nói.

 

19

  1. Khi Vua Ê-xê-chia nghe những lời đó, ông đã xé trang phục của mình, mặc vải gai, rồi đi vào đền thờ của Đức Giê-hô-va. 2. Ông sai Ê-li-a-kim, quan tổng quản hoàng cung, Sép-na, quan bí thư, và các tư tế trưởng thượng, mặc vải gai đến gặp Tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt, 3. và nói với ông: “Ê-xê-chia đã nói như thế nầy: ‘Hôm nay là ngày hoạn nạn, là ngày bị quở trách và sỉ nhục; bởi vì giống như đã đến lúc phải sinh con, nhưng không còn đủ sức để sinh. 4. Có lẽ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông, đã nghe tất cả những lời của Ráp-sa-kê, mà chủ hắn là vua của A-sy-ri đã sai đến để phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống. Vì vậy, xin ông hãy dâng lời cầu nguyện cho những người còn sót lại, để Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông sẽ trừng phạt chúng về những lời mà Ngài đã nghe.’”
  2. Vì vậy, các đầy tớ của Vua Ê-xê-chia đã đến gặp Ê-sai. 6. Ê-sai đã nói với họ: “Đây là điều mà các ông hãy nói với chủ của mình: Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Đừng sợ những lời mà ngươi đã nghe, tức là những lời mà các đầy tớ của vua A-sy-ri đã xúc phạm đến Ta. 7. Nầy, Ta sẽ đặt một thần linh trong nó, khiến nó sẽ nghe tin đồn rồi rút quân về xứ của nó, và nó sẽ bị gục ngã bởi gươm ngay trong xứ của nó.’”
  3. Khi Ráp-sa-kê trở về, ông thấy vua của A-sy-ri đã rời khỏi La-ki và đang tranh chiến tại Líp-na. 9. Ông nghe báo cáo về Tiệt-ha-ca, vua của Cút, rằng: “Kìa, hắn đang kéo quân ra giao chiến với ngài.” Ông đã sai các sứ giả đến gặp Ê-xê-chia và nói rằng: 10. “Hãy nói với Ê-xê-chia, vua của Giu-đa, rằng: ‘Đừng để Đức Chúa Trời, là Đấng mà ngươi tin cậy, lừa dối ngươi rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không rơi vào tay của vua A-sy-ri.’ 11. Kìa, hãy xem những gì mà vua của A-sy-ri đã làm cho tất cả các xứ. Người đã tiêu diệt tất cả, còn ngươi sẽ thoát khỏi hay sao? 12. Các thần của những dân tộc mà tổ phụ của ta đã tiêu diệt, tức là các thần của Gô-xan, Ha-ran, Rết-sép, và dòng dõi của Ê-đen tại Tê-la-sa, có giải cứu họ được không? 13. Vua của Ha-mát, vua của Ạt-bát, vua của các thành Sê-phạt-va-im, Hê-na, và Y-va ở đâu?”
  4. Ê-xê-chia nhận bức thư từ tay của các sứ giả. Đọc xong, ông liền lên đền thờ của Đức Giê-hô-va, rồi trải bức thư ra trước mặt Đức Giê-hô-va. 15. Ê-xê-chia đã cầu nguyện trước mặt Đức Giê-hô-va rằng: “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Ngài là Đấng đang ngự giữa những chê-ru-bim, và chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời của mọi vương quốc trên đất. Chính Ngài đã dựng nên trời và đất. 16. Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy nghiêng tai của Ngài và lắng nghe. Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy mở mắt của Ngài và đoái xem. Xin hãy nghe những lời mà San-chê-ríp đã gởi đến để sỉ nhục Đức Chúa Trời hằng sống. 17. Đức Giê-hô-va ôi! Các vua của A-sy-ri thật sự đã tàn phá các nước và đất đai của những nơi đó, 18. đã ném những thần tượng của họ vô lửa, bởi vì chúng không phải là thần mà chỉ là những sản phẩm do bàn tay của loài người làm ra. Chúng chỉ là gỗ và đá cho nên chúng đã bị họ hủy diệt. 19. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng con. Con cầu xin Ngài giải cứu chúng con khỏi tay của hắn, để tất cả các vương quốc trên đất đều biết rằng Ngài là Đức Giê-hô-va, và chỉ có một mình Ngài là Đức Chúa Trời.”
  5. Ê-sai, con của trai của A-mốt, đã sai người đến nói với Vua Ê-xê-chia rằng: “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán như thế nầy: Ta đã nghe lời cầu nguyện của ngươi về San-chê-ríp, vua của A-sy-ri.”
  6. “Đây là lời mà Đức Giê-hô-va phán về hắn: Trinh nữ tại Si-ôn đã khinh miệt ngươi, đã chế nhạo ngươi. Con gái của Giê-ru-sa-lem đã lắc đầu sau lưng của ngươi. 22. Ngươi đã phỉ báng và xúc phạm ai? Ngươi đã lên giọng và ngước mắt tự cao để chống lại ai? Ngươi dám chống lại Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên hay sao? 23. Ngươi đã dùng sứ giả để phỉ báng Chúa. Ngươi nói: ‘Trẫm sẽ tràn lên đỉnh của những ngọn núi bằng vô số xe chiến mã, sẽ đến tận đỉnh cao của Li-ban. Trẫm sẽ đốn những cây bá hương cao ngất và những cây tùng tốt nhất của nó. Trẫm sẽ đi đến tận biên cương của nó, vào trong những rừng cây um tùm của nó. 24. Trẫm đã đào giếng và uống nước nơi xứ lạ. Trẫm đã làm khô cạn các dòng suối tại Ai Cập bằng gót chân của trẫm.'”
  7. “Ta đã hoạch định từ xa xưa và Ta đã thực hiện từ lâu, mà ngươi chưa nghe sao? Bây giờ, Ta sẽ làm cho ứng nghiệm: Ngươi sẽ làm cho các thành trì kiên cố trở thành những đống đổ nát hoang tàn. 26. Cư dân của các thành đó bị bó tay, khiếp sợ và bối rối. Họ giống như cỏ ngoài đồng, giống như cỏ xanh, như cỏ non mọc trên mái nhà, bị khô héo khi chưa kịp lớn. 27. Nhưng, Ta biết lúc ngươi ngồi, khi ngươi đứng, lúc ngươi đi ra, khi ngươi đi vào, và khi ngươi điên cuồng chống lại Ta. 28. Bởi vì ngươi đã điên cuồng chống lại Ta và lời ngạo mạn của ngươi đã thấu đến tai của Ta, cho nên Ta sẽ móc khoen vào mũi của ngươi và tra hàm thiếc vào môi của ngươi. Ta sẽ khiến ngươi phải trở về theo con đường mà ngươi đã đến.”
  8. “Đây là dấu hiệu cho ngươi: Năm nay ngươi sẽ ăn những gì tự mọc. Năm thứ hai ngươi sẽ ăn những gì mọc lên từ những giống đó. Năm thứ ba ngươi sẽ gieo, gặt, trồng vườn nho và ăn trái. 30. Những người còn lại của nhà Giu-đa, là những người đã trốn thoát, sẽ đâm rễ bên dưới, và sẽ kết quả bên trên. 31. Bởi vì từ Giê-ru-sa-lem những người còn lại sẽ tràn ra, và từ núi Si-ôn những người trốn thoát sẽ đi ra. Lòng nhiệt thành của Đức Giê-hô-va của các đạo quân sẽ thực hiện điều đó.”
  9. “Cho nên, Đức Giê-hô-va phán về vua của A-sy-ri như thế nầy: ‘Hắn sẽ không vào được thành nầy, sẽ không bắn một mũi tên nào vào đó, cũng không dùng khiên hay đắp lũy mà tấn công thành. 33. Hắn đã dùng đường nào để đến thì cũng sẽ dùng đường đó mà trở về. Hắn sẽ không vào thành nầy. Đức Giê-hô-va phán vậy. 34. Bởi vì Ta sẽ bảo vệ thành và giải cứu nó, vì cớ Ta và vì cớ Đa-vít, là tôi tớ của Ta.”
  10. Đêm hôm đó, một thiên sứ của Đức Giê-hô-va đã đi ra đánh giết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong trại quân của A-sy-ri. Sáng hôm sau, người ta dậy sớm và thấy toàn là xác chết. 36. San-chê-ríp, vua của A-sy-ri, đã rút quân về, rồi ở tại Ni-ni-ve. 37. Một ngày kia, khi ông đang quỳ lạy trong đền thờ của Nít-róc, là thần của ông, các con trai của ông là A-tra-mê-léc và Sa-rết-se đã dùng gươm giết ông, rồi trốn sang xứ A-ra-rát. Ê-sạt Ha-đôn, con trai của ông, đã trị vì thay cho ông.

 

20

  1. Trong những ngày đó, Ê-xê-chia lâm bệnh gần chết. Tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt, đã đến gặp ông và nói: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Hãy sắp đặt việc nhà của ngươi bởi vì ngươi sắp chết, không sống được nữa.’”
  2. Ông đã xoay mặt của mình vào tường, rồi cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: 3. “Đức Giê-hô-va ôi! Con cầu xin Ngài hãy nhớ lại con đã bước đi cách trung tín hết lòng và đã làm những điều tốt đẹp trước mặt Ngài như thế nào.” Rồi Ê-xê-chia khóc thật thảm thiết.
  3. Sau đó, lúc Ê-sai chưa ra khỏi giữa sân thì có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng ông: 5. “Hãy trở lại nói với Ê-xê-chia, người lãnh đạo của dân Ta, rằng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ của ngươi, phán như thế nầy: Ta đã nghe lời cầu nguyện của ngươi. Ta đã thấy nước mắt của ngươi. Chắc chắn Ta sẽ chữa lành cho ngươi. Đến ngày thứ ba, ngươi sẽ lên đền thờ của Đức Giê-hô-va. 6. Ta sẽ cho ngươi sống thêm mười lăm năm nữa. Ta sẽ giải cứu ngươi và thành nầy khỏi tay của vua A-sy-ri.”
  4. Sau đó, Ê-sai nói: “Hãy lấy một cái bánh trái vả.” Họ đã đem đến, rồi đắp trên chỗ ung độc. Sau đó, vua đã hồi phục.
  5. Ê-xê-chia hỏi Ê-sai: “Dấu hiệu nào chứng tỏ rằng Đức Giê-hô-va sẽ chữa lành cho tôi, và đến ngày thứ ba tôi sẽ có thể lên đền thờ của Đức Giê-hô-va?” 9. Ê-sai nói: “Đây là dấu hiệu Đức Giê-hô-va ban cho vua để xác nhận rằng Ngài sẽ thực hiện điều Ngài đã hứa. Vua muốn bóng mặt trời đi tới mười bậc hay lui lại mười bậc?” 10. Ê-xê-chia trả lời: “Bóng đi tới mười bậc thì dễ. Không! Xin hãy cho bóng lui lại mười bậc.” 11. Tiên tri Ê-sai đã cầu xin Đức Giê-hô-va, và Ngài đã cho bóng đã đi qua trên dụng cụ đo mặt trời của A-cha lui lại mười bậc.
  6. Lúc đó, vua của Ba-by-lôn là Bê-rô-đác Ba-la-đan, con trai của Ba-la-đan, đã sai người đem thư và quà tặng cho Ê-xê-chia, bởi vì ông đã nghe Ê-xê-chia bị bệnh. 13. Ê-xê-chia đã lắng nghe họ và cho họ xem tất cả các kho tàng của ông: vàng, bạc, hương liệu, dầu quý, và kho vũ khí. Tất cả những thứ trong những kho tàng của ông, không có vật gì trong cung điện và trong toàn lãnh thổ mà Ê-xê-chia không cho họ xem.
  7. Sau đó, Tiên tri Ê-sai đã đến gặp Vua Ê-xê-chia rồi hỏi ông: “Những người đó đã nói gì với vua, và họ từ đâu đến?” Ê-xê-chia đáp: “Họ đã từ một quốc gia xa xôi đến – từ Ba-by-lôn.” 15. Rồi ông hỏi tiếp: “Họ đã xem điều gì trong cung của vua?” Ê-xê-chia đáp: “Họ đã xem tất cả những gì có trong cung điện của ta. Không có vật gì trong những kho tàng của ta mà ta không cho họ xem.” 16. Sau đó, Ê-sai nói với Ê-xê-chia: “Xin hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va: 17. ‘Nầy, trong những ngày đến, tất cả những gì trong cung điện của ngươi và những gì mà tổ tiên của ngươi đã tích trữ cho đến ngày nay, sẽ bị đem qua Ba-by-lôn. Không còn lại một vật gì.’ Đức Giê-hô-va phán vậy. 18. Một số con cái của ngươi – do chính ngươi sinh ra – sẽ bị bắt đi. Chúng sẽ trở thành những hoạn quan trong cung điện của vua Ba-by-lôn.” 19. Ê-xê-chia nói với Ê-sai: “Lời của Đức Giê-hô-va mà ông vừa nói là tốt.” Rồi ông nói: “Không phải trong đời của ta sẽ được hòa bình và ổn định hay sao?”
  8. Những việc khác của Ê-xê-chia, tất cả những thế lực của ông, việc xây hồ chứa nước và lập hệ thống dẫn nước vào kinh thành như thế nào, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 21. Ê-xê-chia an giấc cùng các tổ phụ của mình. Con trai của ông là Ma-na-se đã trị vì thay cho ông.

 

21

  1. Ma-na-se được mười hai tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông đã trị vì năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Hép-si-ba. 2. Ông làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, làm theo những điều kinh tởm của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên; 3. bởi vì ông đã xây dựng lại các tế đàn tại những nơi cao mà Ê-xê-chia, là cha của ông, đã phá hủy; ông cũng lập lại những bàn thờ cho Ba-anh, làm những tượng A-sê-ra giống như của A-háp, vua của Y-sơ-ra-ên, đã làm; và ông đã quỳ lạy, phục vụ tất cả các tinh tú ở trên trời. 4. Ông đã xây những bàn thờ khác trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Chính tại Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ đặt danh Ta tại đó.” 5. Ông cũng xây bàn thờ cho các tinh tú ở trên trời trong hai sân của đền thờ Đức Giê-hô-va. 6. Ông đưa con trai của mình qua lửa, tin vào chiêm tinh và bói toán, cầu hỏi những đồng cốt và thầy bói. Ông làm rất nhiều điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va để chọc giận Ngài. 7. Ông đem tượng A-sê-ra do ông làm, đặt trong đền thờ mà Đức Giê-hô-va đã phán với Đa-vít và Sa-lô-môn, là con trai của người, rằng: “Chính trong đền thờ nầy ngay tại Giê-ru-sa-lem mà Ta đã chọn trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, là nơi Ta sẽ đặt danh Ta đến đời đời. 8. Nếu họ cẩn thận làm theo tất cả những gì Ta đã truyền cho họ, và vâng theo tất cả luật lệ mà Môi-se, là tôi tớ của Ta, đã truyền cho họ, thì Ta sẽ không để cho chân của dân Y-sơ-ra-ên phải lang thang ra khỏi xứ mà Ta đã ban cho tổ phụ của họ.” 9. Nhưng họ đã không chịu nghe. Ma-na-se đã dụ dỗ họ, khiến họ phạm nhiều tội hơn các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã diệt khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
  2. Vì vậy, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: “Ta sẽ giáng những tai vạ xuống trên Giê-ru-sa-lem và Giu-đa đến nỗi ai nghe đến, cả hai tai sẽ bị lùng bùng. 13. Ta sẽ giăng trên Giê-ru-sa-lem thước dây đã đo Sa-ma-ri, và sẽ dùng dây dọi đã áp dụng cho nhà A-háp. Ta sẽ chùi sạch Giê-ru-sa-lem như người ta chùi một cái dĩa, chùi sạch nó, rồi lật ngược nó xuống. 14. Ta sẽ vứt bỏ những gì còn lại của cơ nghiệp Ta. Ta sẽ phó chúng vào tay quân thù của chúng. Chúng sẽ trở thành một miếng mồi, một chiến lợi phẩm cho quân thù của chúng, 15. bởi vì chúng đã làm những việc tội lỗi trước mặt Ta, đã chọc cho Ta giận, kể từ khi tổ tiên của chúng ra khỏi Ai Cập cho đến ngày hôm nay.”
  3. Thêm vào đó, ngoài những tội lỗi mà Ma-na-se đã phạm và gây cho Giu-đa phạm tội, khiến họ làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, ông cũng đã làm tràn ngập Giê-ru-sa-lem, từ đầu nầy cho đến đầu kia, bằng rất nhiều máu của những người vô tội. 17. Những việc khác của Ma-na-se, tất cả những việc ông đã làm, những tội lỗi mà ông đã phạm, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 18. Ma-na-se đã an giấc cùng các tổ phụ của mình. Ông được an táng trong vườn của cung vua, tức trong vườn U-xa. A-môn, con trai của ông, trị vì thay cho ông.
  4. A-môn được hai mươi hai tuổi khi ông làm vua. Ông đã trị vì hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Mê-su-lê-mết, con gái của Ha-rút, cháu của Giô-ba. 20. Ông làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, như Ma-na-se, cha của ông, đã làm. 21. Ông đi theo tất cả đường lối mà cha của ông đã đi. Ông phục vụ những thần tượng mà cha của ông đã phục vụ, và ông đã thờ phượng chúng. 22. Ông đã từ bỏ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, không đi theo đường lối của Đức Giê-hô-va. 23. Các tôi tớ của A-môn lập mưu làm phản, rồi giết vua trong cung điện của ông. 24. Nhưng dân trong nước đã xử tử tất cả những kẻ đã âm mưu chống lại Vua A-môn, và dân trong nước đã lập Giô-si-a, con trai của ông lên, thế cho ông. 25. Tất cả những việc khác của A-môn đã làm không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 26. Ông được an táng trong mộ riêng của mình tại vườn U-xa. Giô-si-a, con trai của ông, trị vì thay cho ông.

 

22

  1. Giô-si-a được tám tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông đã trị vì ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Giê-đi-đa con gái của A-đa-gia và là cháu của Bô-cát. 2. Ông đã làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va, đã bước đi trong mọi đường lối của Ða-vít, là tổ phụ của mình. Ông không xây qua bên phải hay bên trái.
  2. Vào năm thứ mười tám triều Vua Giô-si-a, vua sai Sa-phan, con trai của A-xa-lia, cháu của Mê-su-lam, là bí thư của vua đến đền thờ của Đức Giê-hô-va, và dặn rằng: 4. “Hãy đi lên gặp Hinh-kia, là vị thượng tế, xin ông kiểm số tiền mà những người giữ cửa đền thờ đã thu nơi dân chúng, đang được giữ trong đền của Đức Giê-hô-va. 5. Hãy trao số tiền đó vào tay của những người đang làm việc, là những người trông coi đền thờ của Đức Giê-hô-va, để họ trao lại cho những người đang thực hiện việc sửa sang những nơi hư hỏng trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, 6. tức là thợ mộc, thợ xây, thợ hồ, và để mua gỗ và đá chẻ để tu sửa đền thờ. 7. Không cần bắt họ phải tường trình về số tiền đã trao vào tay của họ, bởi vì họ làm việc rất chân thật.”
  3. Thượng tế Hinh-kia đã nói với Bí thư Sa-phan: “Tôi đã tìm thấy quyển sách luật pháp trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.” Hinh-kia đã trao quyển sách đó cho Sa-phan để ông đọc. 9. Sau đó, Bí thư Sa-phan đến gặp vua, và tâu lời nầy với vua: “Các đầy tớ của bệ hạ đã lấy số tiền có trong đền thờ, và giao tận tay những người trông coi công việc của đền thờ Đức Giê-hô-va.” 10. Bí thư Sa-phan đã trình với vua rằng: “Thượng tế Hinh-kia đã trao cho tôi một quyển sách.” Rồi Sa-phan đọc sách đó trước mặt vua.
  4. Khi vua nghe xong những lời trong cuốn sách luật pháp, ông đã xé trang phục của mình. 12. Vua đã truyền cho Tư tế Hinh-kia, A-hi-cam – con trai của Sa-phan, Ạc-bồ – con trai của Mi-ca-gia, Sa-phan – viên bí thư, và A-sa-gia – cận thần của vua, rằng: 13. “Hãy đi cầu hỏi Đức Giê-hô-va cho ta, cho dân chúng, và cho cả Giu-đa, về những lời trong cuốn sách vừa tìm thấy. Vì cơn thịnh nộ mà Đức Giê-hô-va đang nhen lên để nghịch lại chúng ta rất lớn, bởi vì tổ tiên của chúng ta đã không vâng theo những lời trong sách nầy, để làm theo những điều đã được viết cho chúng ta.”
  5. Vì vậy, Tư tế Hinh-kia, A-hi-cam, Ạc-bồ, Sa-phan, và A-sa-gia đã đi gặp nữ Tiên tri Hun-đa, là vợ của Sa-lum, người giữ áo lễ. Ông là con trai của Tiếc-va, và là cháu của Hạt-ha. Bà ở tại quận hai của Giê-ru-sa-lem. Họ đã trình bày cho bà.
  6. Bà nói với họ: “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Hãy nói với người đã sai các ngươi đến gặp Ta rằng, 16. Đức Giê-hô-va phán: ‘Thật vậy, Ta sẽ giáng tai họa trên nơi nầy và trên cư dân của nó, đúng theo mọi lời được chép trong sách mà vua của Giu-đa đã đọc. 17. Bởi vì chúng đã lìa bỏ Ta, dâng hương cho các thần khác, để chúng có thể chọc cho Ta giận bằng tất cả những công việc mà tay của chúng đã làm, cho nên cơn giận của Ta nổi bừng lên chống lại nơi nầy, và sẽ không nguôi.’ 18. Nhưng về phần vua của Giu-đa, là người đã sai các ngươi cầu hỏi Đức Giê-hô-va, các ngươi hãy thuật với người về những lời người đã nghe, rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy: 19. ‘Khi ngươi nghe lời Ta phán chống lại nơi nầy và chống lại cư dân của nó – chúng sẽ bị hoang vu và bị nguyền rủa – thì ngươi đã có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, ngươi đã xé trang phục của mình và khóc lóc trước mặt Ta; vì vậy, Ta đã nghe lời cầu nguyện của ngươi.” Đức Giê-hô-va phán vậy. 20. Vì vậy, Ta sẽ cho ngươi được sum họp cùng các tổ phụ của ngươi. Ngươi sẽ được chôn cất trong mộ cách bình an, và mắt của ngươi sẽ không thấy những tai họa mà Ta sẽ giáng xuống trên nơi nầy.’”

Họ đã trở về tâu lại cho vua sứ điệp đó.

 

23

  1. Vua sai triệu tập tất cả các trưởng lão của Giu-đa và của Giê-ru-sa-lem. 2. Vua đã đi lên đền thờ của Đức Giê-hô-va cùng với tất cả những người Giu-đa, tất cả dân cư Giê-ru-sa-lem, các tư tế, các tiên tri, cùng toàn dân từ nhỏ cho đến lớn. Ông đã đọc cho họ nghe tất cả những lời trong sách giao ước đã được tìm thấy trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. 3. Vua đứng bên cạnh cây trụ và lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa nguyện đi theo Đức Giê-hô-va, hết lòng hết linh hồn tuân giữ những điều răn, mệnh lệnh, và luật lệ của Ngài, để hoàn thành những lời của giao ước đã được chép trong sách nầy. Toàn dân đã đứng cam kết thực hiện giao ước đó.
  2. Vua đã ra lệnh cho Thượng tế Hinh-kia, các tư tế bậc nhì, và những người canh cửa phải đem ra khỏi đền thờ của Đức Giê-hô-va tất cả những vật dụng đã làm cho Ba-anh, A-sê-ra, và tất cả các thiên thể. Ông đã thiêu hủy các vật đó không phải tại Giê-ru-sa-lem, nhưng trong những cánh đồng tại Xết-rôn, rồi mang tro của chúng đến Bê-tên. 5. Ông đã diệt tất cả các tư tế lo việc thờ lạy thần tượng, là những người mà các vua của Giu-đa đã phong chức để dâng hương trên các tế đàn tại những nơi cao trong các thành của Giu-đa và trong những nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem. Ông đã diệt tất cả các tư tế lo việc dâng hương cho Ba-anh, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, và các thiên binh trên trời. 6. Ông đã đem trụ thờ A-sê-ra trong đền thờ Đức Giê-hô-va ra bên ngoài Giê-ru-sa-lem, đến khe Xết-rôn, thiêu hủy nó tại đó, nghiền ra tro, rồi rải tro đó trên mộ của thường dân. 7. Ông đã phá sập những nhà của bọn nam mại dâm trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi các phụ nữ thêu dệt trại cho A-sê-ra. 8. Ông đã trục xuất tất cả các tư tế ra khỏi các thành của Giu-đa, rồi làm ô uế tất cả các tế đàn tại những nơi cao, là nơi các tư tế đó đã dâng hương, từ Ghê-ba cho đến Bê-e Sê-ba. Ông đã phá hủy tất cả các tế đàn tại những nơi cao của các cổng thành và tại lối vào của cổng Giô-suê, thống đốc của thành, ở về bên trái lối vào cổng thành. 9. Dầu những tư tế của các tế đàn tại những nơi cao không được đến gần bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, nhưng họ được ăn bánh không men giữa vòng các anh em của mình. 10. Ông đã làm ô uế Tô-phết trong thung lũng Bên Hi-nôm, để không ai còn đem con trai hay con gái của mình vào lửa để tế cho Mo-lóc nữa. 11. Ông đã dẹp bỏ những con ngựa mà các vua của Giu-đa đã dâng cho mặt trời, tại lối vào của đền thờ Đức Giê-hô-va, gần phòng của hoạn quan Nê-than Mê-léc, trong hành lang của đền thờ. Ông đã thiêu hủy những xe đã được dâng cho mặt trời. 12. Ông đã triệt hạ và đập tan những bàn thờ mà các vua của Giu-đa đã xây trên sân thượng tại căn lầu của Vua A-cha, và những bàn thờ mà Ma-na-se đã dựng lên trong hai sân của đền thờ Đức Giê-hô-va, rồi ném chúng xuống khe Xết-rôn. 13. Ông đã làm ô uế những nơi cao tại phía đông của Giê-ru-sa-lem, phía nam của núi Hủy Diệt, là những nơi cao mà Sa-lô-môn, vua của Y-sơ-ra-ên, đã xây dựng cho Át-tạt-tê, thần tượng kinh tởm của dân Si-đôn; Kê-mốt, thần tượng kinh tởm của dân Mô-áp; và Minh-côm, thần tượng kinh tởm của dân Am-môn. 14. Ông đã đập nát những trụ thờ, triệt hạ các hình tượng A-sê-ra, rồi lấp vào những nơi đó bằng xương người.
  3. Ngoài ra, về phần bàn thờ tại Bê-tên và tế đàn tại nơi cao mà Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là kẻ đã gây cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, đã làm, thì ông đập phá cả bàn thờ và tế đàn tại nơi cao, thiêu hủy tế đàn tại nơi cao, nghiền nó ra thành bụi. Ông đã đốt trụ thờ A-sê-ra. 16. Giô-si-a đã quay lại, nhìn thấy những mồ mả ở trên núi. Ông sai người lấy hài cốt trong những mồ mả, rồi thiêu chúng trên bàn thờ, làm cho bàn thờ bị ô uế, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã công bố. Về phần người của Đức Chúa Trời đã công bố, 17. ông hỏi: “Lăng mộ mà ta thấy đó là lăng mộ của ai?” Những người trong thành tâu: “Đó là phần mộ của người Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến, là người đã báo trước về những điều mà ngài đã làm cho bàn thờ tại Bê-tên.” 18. Ông nói: “Hãy để yên. Không ai được dời hài cốt của ông ấy.” Vì vậy họ đã để yên hài cốt của ông ấy cùng với hài cốt của vị tiên tri từ Sa-ma-ri đến. 19. Tất cả đền miếu tại những nơi cao trong các thành thuộc Sa-ma-ri mà các vua Y-sơ-ra-ên đã làm để chọc giận Đức Giê-hô-va, thì Giô-si-a phá hủy và làm cho chúng như những gì ông đã làm cho Bê-tên. 20. Ông đã giết tất cả các tế sư của những nơi cao trên các bàn thờ, thiêu hài cốt của họ trên đó, rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
  4. Sau đó, vua truyền lệnh cho tất cả dân chúng rằng: “Hãy giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi, như đã được chép trong sách giao ước nầy.” 22. Kể từ thời các thẩm phán đoán xét trên dân Y-sơ-ra-ên, hay trong thời của các vua Y-sơ-ra-ên, hay trong thời của các vua Giu-đa, người ta chưa hề thấy một lễ Vượt Qua nào được tổ chức như vậy. 23. Nhưng vào năm thứ mười tám triều vua Giô-si-a lễ Vượt Qua nầy đã được tổ chức cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem.
  5. Ngoài ra, Giô-si-a cũng diệt trừ những đồng bóng, những thầy bói, những vị thần trong nhà, những hình tượng, và mọi điều gớm ghiếc được tìm thấy trong xứ Giu-đa và tại Giê-ru-sa-lem. Vua đã làm theo những lời đã được viết trong cuốn sách luật pháp mà Thượng tế Hinh-kia đã tìm được trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. 25. Trước ông không có vua nào hướng về Đức Giê-hô-va một cách hết lòng, hết linh hồn, và hết sức vâng theo mọi điều trong luật pháp của Môi-se như ông. Sau ông cũng không có vua nào giống như vậy.
  6. Dầu vậy, Đức Giê-hô-va không nguôi cơn giận của Ngài, là cơn thịnh nộ đã bừng lên để chống lại Giu-đa về tất cả những việc khiêu khích mà Ma-na-se đã làm để chọc giận Ngài. 27. Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ dẹp bỏ Giu-đa khỏi mặt Ta, như Ta đã dẹp bỏ Y-sơ-ra-ên. Ta sẽ loại bỏ thành Giê-ru-sa-lem nầy mà Ta đã chọn, cùng loại bỏ đền thờ nầy mà Ta đã nói: Danh Ta sẽ ngự tại đó.”
  7. Những việc khác của Giô-si-a, tất cả những việc ông đã làm, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 29. Trong thời của ông, Pha-ra-ôn Nê-cô, vua của Ai Cập, đem quân đi đánh vua của A-sy-ri tại sông Ơ-phơ-rát. Vua Giô-si-a kéo quân ra chống lại. Hắn đã giết ông tại Mê-ghi-đô khi hắn gặp ông. 30. Các tôi tớ của ông đã mang xác ông từ Mê-ghi-đô về Giê-ru-sa-lem trên một xe chiến mã. Người ta đã chôn ông trong phần mộ của ông. Dân chúng trong nước đã đem Giô-a-cha, con trai của Giô-si-a, để xức dầu cho chàng, rồi lập chàng làm vua thay cho cha của mình.
  8. Giô-a-cha được hai mươi ba tuổi khi ông bắt đầu làm vua. Ông đã trị vì ba tháng tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi tại Líp-na. 32. Ông làm điều gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ của ông đã làm. 33. Pha-ra-ôn Nê-cô đã xiềng Giô-a-cha tại Ríp-la, trong xứ Ha-mát, để ông không thể làm vua tại Giê-ru-sa-lem, rồi bắt xứ sở tiến cống một trăm ta-lâng bạc và một ta-lâng vàng.
  9. Sau đó, Pha-ra-ôn Nê-cô đã lập Ê-li-a-kim, một con trai của Vua Giô-si-a, để thế vào chỗ của Giô-si-a, là cha của mình, rồi đổi tên Ê-li-a-kim thành Giê-hô-gia-kim. Hắn đã đưa Giô-a-cha sang Ai Cập, rồi ông chết tại đó. 35. Giê-hô-gia-kim phải nộp bạc và vàng cho Pha-ra-ôn. Nhưng để có tiền nộp theo lệnh của Pha-ra-ôn, ông phải đánh thuế trong xứ. Ông thu bạc và vàng của dân chúng trong xứ, mỗi người theo mức thuế của mình, rồi ông đem nộp cho Pha-ra-ôn Nê-cô.
  10. Giê-hô-gia-kim được hai mươi lăm tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông đã trị vì mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Xê-bụt-đa, con gái Phê-đa-gia tại Ru-ma. 37. Ông làm điều gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ của ông đã làm.

 

24

  1. Trong lúc Giê-hô-gia-kim trị vì, Nê-bu-cát-nê-xa, vua của Ba-by-lôn, đã tiến lên tấn công. Vì vậy, Giê-hô-gia-kim đã thần phục hắn trong ba năm, nhưng sau đó ông đã đổi ý, rồi chống lại hắn. 2. Đức Giê-hô-va đã khiến quân Canh-đê, quân A-ram, quân Mô-áp, và quân của người Am-môn đến đánh phá hủy hoại Giu-đa, theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán bởi các đầy tớ của Ngài là những tiên tri. 3. Thật vậy, điều nầy đã xảy đến cho Giu-đa theo lệnh của Đức Giê-hô-va, để dẹp bỏ họ khỏi trước mặt Ngài, do tội lỗi của Ma-na-se về tất cả những gì mà ông đã làm, 4. cũng vì máu vô tội mà ông đã làm đổ ra, khiến cho Giê-ru-sa-lem ngập tràn máu vô tội đến nỗi Đức Giê-hô-va không còn tha thứ được. 5. Những việc khác của Giê-hô-gia-kim, tất cả những việc ông đã làm, không phải đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua của Giu-đa hay sao? 6. Giê-hô-gia-kim đã an giấc cùng các tổ phụ của mình. Giê-hô-gia-kin, con trai của ông, đã trị vì thay cho ông. 7. Vua của Ai Cập không dám ra khỏi xứ của mình nữa, bởi vì vua của Ba-by-lôn đã chiếm tất cả lãnh thổ thuộc về vua của Ai Cập từ lưu vực của Ai Cập cho đến sông Ơ-phơ-rát.
  2. Giê-hô-gia-kin được mười tám tuổi khi lên ngôi làm vua. Ông đã trị vì ba tháng tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông là Nê-hu-ta, con gái của Ên-na-than, tại Giê-ru-sa-lem. 9. Ông đã làm những điều gian ác trong mắt của Đức Giê-hô-va giống như tất cả những gì mà cha của ông đã làm.
  3. Lúc đó, các tôi tớ của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã kéo lên tấn công Giê-ru-sa-lem, và thành bị bao vây. 11. Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã đến đánh thành trong lúc các tôi tớ của ông bao vây thành. 12. Giê-hô-gia-kin, vua của Giu-đa, đã ra đầu hàng vua của Ba-by-lôn. Cùng với ông là mẹ của ông, những bầy tôi của ông, các tướng lãnh của ông, và những triều thần của ông. Vua của Ba-by-lôn đã bắt Giê-hô-gia-kin giam trong ngục vào năm thứ tám của triều đại mình. 13. Ông đã đem đi tất cả những bảo vật trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, những bảo vật của hoàng cung. Ông đã đập vỡ mọi vật dụng bằng vàng mà Vua Sa-lô-môn đã làm cho đền thờ của Đức Giê-hô-va, theo như mọi lời mà Đức Giê-hô-va đã phán. 14. Sau đó, ông đã lưu đày tất cả những người ở Giê-ru-sa-lem: Tất cả các lãnh đạo, tất cả các chiến binh dũng mãnh, tất cả các chuyên viên, và tất cả các thợ rèn, không chừa lại ai, ngoại trừ những người nghèo nhất trong xứ. Tất cả khoảng mười ngàn người. 15. Ông đã đem Giê-hô-gia-kin sang Ba-by-lôn, cùng với mẹ của vua, những người vợ của vua, triều thần, và những người quyền quý trong xứ. Đó là những người ông đã đem họ từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn để lưu đày, 16. cùng với bảy ngàn chiến sĩ dũng mãnh, tất cả đều là những người có khả năng sẵn sàng ra chiến trường để chiến đấu. Vua của Ba-by-lôn cũng lưu đày sang Ba-by-lôn một ngàn chuyên viên và thợ rèn.
  4. Vua của Ba-by-lôn đã lập Ma-tha-nia, chú của Giê-hô-gia-kin, làm vua thay cho ông, và đã được đổi tên là Sê-đê-kia. 18. Sê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi khi bắt đầu làm vua. Ông đã cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi, tại Líp-na. 19. Ông đã làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va giống như tất cả những gì Giê-hô-gia-kim đã làm. 20. Chính vì vậy mà cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên, khiến những điều nầy xảy đến cho Giê-ru-sa-lem và Giu-đa cho đến khi Ngài đuổi họ khỏi mặt của Ngài. Sau đó, Sê-đê-kia đã nổi lên chống lại vua của Ba-by-lôn.

 

25

  1. Sau đó, vào năm thứ chín của triều đại Sê-đê-kia, ngày mồng mười tháng mười, Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã đem toàn thể quân lực của ông đến bao vây Giê-ru-sa-lem để tấn công thành. Ông đã hạ trại, đắp lũy bao vây thành để tấn công. 2. Thành bị bao vây cho đến năm thứ mười một đời Vua Sê-đê-kia.
  2. Ngày chín tháng tư, nạn đói trong thành trở nên trầm trọng đến nỗi không còn lương thực cho dân ở trong xứ. 4. Tường thành đã bị vỡ. Tất cả quân lính đã rút đi theo con đường dẫn đến cái cửa nằm giữa hai bức tường gần vườn của vua vào ban đêm. Trong khi quân Canh-đê còn đang bao vây thành thì vua đã đi về hướng A-ra-ba. 5. Tuy nhiên quân đội Canh-đê đã rượt theo vua, và bắt được ông trong đồng bằng Giê-ri-cô. Toàn thể quân đội của ông đã bị tan rã. 6. Họ đã bắt ông, rồi dẫn ông đến vua của Ba-by-lôn đang ở tại Ríp-la. Họ kết tội ông. 7. Họ đã giết những con trai của Sê-đê-kia trước mắt ông. Họ đã móc mắt của Sê-đê-kia, xiềng ông bằng xích đồng, rồi dẫn về Ba-by-lôn.
  3. Ngày bảy tháng năm, năm thứ mười chín khi Nê-bu-cát-nết-sa làm vua Ba-by-lôn, Nê-bu-xa-ra-đan, quan chỉ huy quân vệ binh, tôi tớ của vua Ba-by-lôn, đã tiến vào thành Giê-ru-sa-lem. 9. Ông thiêu hủy đền thờ Đức Giê-hô-va, cung vua, và tất cả những căn nhà tại Giê-ru-sa-lem; ông cũng đốt nhà của những người quyền quý. 10. Sau đó toàn quân Canh-đê, đi theo quan chỉ huy vệ binh, đã đập phá những bức tường bao quanh Giê-ru-sa-lem. 11. Nê-bu-xa-ra-đan, quan chỉ huy vệ binh, đã lưu đày tất cả những người còn lại trong thành, những người đào ngũ theo vua Ba-by-lôn, và những chuyên viên còn sót lại trong dân. 12. Nhưng quan chỉ huy vệ binh đã chừa lại trong xứ những người nghèo khổ nhất để trồng nho và làm ruộng.
  4. Quân Canh-đê đã đập bể những trụ đồng trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, những cái đế và cái bể bằng đồng tại đền thờ của Đức Giê-hô-va, rồi đem số đồng đó về Ba-by-lôn. 14. Họ cũng lấy đi những nồi, vá, dao, kéo, bát hương, và mọi vật dụng bằng đồng để dùng trong việc tế lễ. 15. Quan chỉ huy vệ binh cũng lấy đi những lư hương, chậu, những vật dụng bằng vàng, những vật dụng bằng bạc. 16. Những vật dụng bằng đồng, cùng với hai cây trụ, cái bể nước, và những cái đế mà Sa-lô-môn đã làm cho đền thờ của Đức Giê-hô-va thì không thể cân được. 17. Mỗi cây trụ cao mười tám cu-bít, bên trên cây trụ có đầu trụ bằng đồng, chiều cao của đầu trụ là ba cu-bít, có tấm lưới và những trái lựu quấn chung quanh đầu trụ. Tất cả những vật nầy đều bằng đồng. Cây trụ thứ nhì có một tấm lưới giống như vậy.
  5. Quan chỉ huy vệ binh đã bắt Trưởng tế Sê-ra-gia, phó Trưởng tế Sô-phô-ni, và ba viên chức canh cửa đền thờ. 19. Ông cũng bắt một tướng chỉ huy quân đội ở bên ngoài thành, năm người thân cận với vua được tìm thấy ở trong thành, cùng với quan bí thư, người đặc trách việc chiêu mộ quân binh trong nước, và sáu mươi người dân trong xứ còn trốn trong thành. 20. Quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-ra-đan đã bắt tất cả những người nầy rồi dẫn họ đến cho vua của Ba-by-lôn, tại Ríp-la. 21. Vua của Ba-by-lôn truyền giết họ tại Ríp-la, trong xứ Ha-mát. Như vậy, dân Giu-đa đã bị lưu đày khỏi xứ sở của mình.
  6. Về phần những người mà Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã để lại trong xứ Giu-đa thì ông đã đặt Ghê-đa-lia, con trai của A-hi-cam, cháu của Sa-phan, làm tổng đốc. 23. Các viên chức chỉ huy quân đội và binh sĩ dưới quyền nghe rằng vua của Ba-by-lôn đã cử Ghê-đa-lia làm tổng trấn, nên họ đã đến gặp ông tại Mích-ba. Những người đó là Ích-ma-ên, con trai của Nê-tha-nia; Giô-ha-nan, con trai của Ca-rê-át; Sê-ra-gia, con trai của Tan-hu-mết tại Nê-tô-pha; và Gia-a-xa-nia, con trai của Ma-ca-thít. 24. Ghê-đa-lia đã thề với họ và quân lính của họ rằng: “Đừng sợ những viên chức người Canh-đê. Hãy ở trong xứ, phục vụ vua của Ba-by-lôn, thì quý vị sẽ được bình an.”
  7. Nhưng sau đó, vào tháng bảy, Ích-ma-ên, con trai của Nê-tha-nia, cháu của Ê-li-sa-ma, thuộc hoàng tộc, và mười người đã đến Mích-ba giết chết Ghê-đa-lia, cùng với những người Giu-đa và những người Canh-đê đang ở với ông. 26. Sau đó toàn dân, từ nhỏ đến lớn, và các viên chức chỉ huy quân đội đã đứng dậy đi xuống Ai Cập, bởi vì họ sợ người Canh-đê.
  8. Sau đó, vào ngày hai mươi bảy tháng mười hai, năm thứ ba mươi bảy kể từ ngày Giê-hô-gia-kin, vua của Giu-đa, bị bắt giam, Ê-vinh Mê-rô-đác, vua của Ba-by-lôn, trong năm đầu trị vì của mình đã phóng thích Giê-hô-gia-kin, vua của Giu-đa, ra khỏi ngục. 28. Vua dùng lời tử tế nói với vua Giê-hô-gia-kin, rồi ban cho ông một ngôi vị cao hơn ngôi vị của các vua đang ở với ông tại Ba-by-lôn. 29. Giê-hô-gia-kin đã được thay áo tù và thường xuyên được ngồi ăn đồng bàn với vua trọn cả đời của ông. 30. Về việc cấp dưỡng, ông được nhận chu cấp thường xuyên từ vua, mỗi ngày một phần, trọn cả cuộc đời còn lại của ông.

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top