Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: I Các Vua

Bản Dịch Việt Ngữ: I Các Vua

I Các Vua

1

  1. Lúc này Vua Đa-vít đã già và cao tuổi, mặc dù người ta đắp nhiều lớp mền trên ông, ông vẫn không thấy ấm. 2. Vì vậy, các bề tôi của ông đã tâu với ông: “Xin hãy tìm cho vua, là chúa thượng của chúng tôi, một thiếu nữ đồng trinh, để nàng hầu hạ vua, và chăm sóc người. Nàng sẽ nằm trong lòng của người, để vua, là chúa thượng của chúng tôi, được ấm.”
  2. Vì vậy, họ đã tìm kiếm trong toàn lãnh thổ Y-sơ-ra-ên một thiếu nữ xinh đẹp. Họ tìm được A-bi-sác, người Su-nem, rồi đem nàng đến với vua. 4. Thiếu nữ ấy thật yêu kiều. Nàng chăm sóc và hầu hạ vua, nhưng vua không quan hệ tình dục với nàng.
  3. Bấy giờ, A-đô-ni-gia, con trai của Ha-ghít, tự tôn mình lên, ông nói rằng: “Ta sẽ làm vua”. Ông đã sắm cho mình những cỗ xe, những kỵ binh, và năm mươi người chạy trước mình. 6. Cha của ông không trách ông hay hỏi rằng: “Tại sao con làm như vậy?” Ông là một người thật tuấn tú. Sau khi mẹ của ông sanh Áp-sa-lôm thì sanh ra ông. 7. Ông đã bàn mưu với Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, và với Tư tế A-bia-tha. Họ đã theo và giúp A-đô-ni-gia. 8. Tuy nhiên Tư tế Xa-đốc, Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, Tiên tri Na-than, Si-mê-i, Rê-i, và các dũng sĩ của Đa-vít, thì không theo A-đô-ni-gia.
  4. A-đô-ni-gia đã dâng sinh tế bằng chiên, bò, và thú béo bên vầng đá Xô-hê-lết, gần Ên Rô-ghên. Ông đã mời tất cả các anh em của mình, là những hoàng tử, và tất cả những người Giu-đa, là bề tôi của vua. 10. Tuy nhiên, ông không mời Tiên tri Na-than, Bê-na-gia, các dũng sĩ, hay em trai của ông là Sa-lô-môn.
  5. Vì vậy, Na-than đã nói với Bát-sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn: “Bà không nghe rằng A-đô-ni-gia, con của Ha-ghít, đã trở thành vua mà Đa-vít, chúa thượng của chúng ta, không biết việc đó hay sao? 12. Xin hãy đến. Tôi sẽ cho bà một lời khuyên để bà có thể cứu mạng sống của chính mình, và mạng sống con trai của bà, là Sa-lô-môn. 13. Hãy lập tức đến gặp Vua Đa-vít và nói với người rằng: ‘Tâu bệ hạ, là chúa thượng của tôi! Không phải bệ hạ đã thề với tớ gái của bệ hạ rằng: Con trai của nàng, là Sa-lô-môn, chắc chắn sẽ kế vị ta và nó sẽ ngồi trên ngôi của ta, hay sao? Nếu như vậy, thì tại sao A-đô-ni-gia đã trở thành vua?’ 14. Và rồi, trong khi bà đang nói với vua như vậy, chính tôi cũng sẽ vào sau bà, rồi xác nhận lời của bà.”

15 Vì vật, Bát-sê-ba đã vào trong ngự phòng gặp vua. Lúc này, vua đã rất già; A-bi-sác, người Su-nem, hầu hạ vua. 16. Bát-sê-ba sấp mình phủ phục trước mặt vua. Rồi vua hỏi: “Nàng cầu xin điều gì?”

  1. Bà thưa với vua: “Tâu chúa thượng của thiếp! Bệ hạ đã nhân danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của bệ hạ. mà thề với tớ gái của bệ hạ rằng: ‘Sa-lô-môn con trai của khanh sẽ kế vị ta,và nó sẽ ngồi trên ngôi của ta.’ 18. Nhưng bây giờ, xem kìa! A-đô-ni-gia đã trở thành vua, mà chính bệ hạ, là chúa thượng của thiếp, đến bây giờ vẫn chưa biết về việc đó. 19. Người đã dâng sinh tế bằng bò đực, thú béo, và rất nhiều chiên, và đã mời tất cả những hoàng tử, Tư tế A-bia-tha, quan chỉ huy quân đội Giô-áp, nhưng người đã không mời Sa-lô-môn, đầy tớ của bệ hạ. 20. Tâu bệ hạ, là chúa thượng của thiếp! Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều hướng mắt về bệ hạ, để bệ hạ nói cho họ biết ai là người sẽ ngồi trên ngôi kế vị bệ hạ. 21. Nếu không, chuyện sẽ xảy ra: đó là khi bệ hạ an giấc với các tổ phụ, thì thiếp và con trai của thiếp, là Sa-lô-môn, sẽ bị xử như những kẻ có tội.”
  2. Và ngay lúc đó, khi bà đang tâu với vua thì Tiên tri Na-than cũng vào. 23. Họ báo cho vua: “Có Tiên tri Na-than ở đây!” Và khi Na-than tiếp kiến vua, ông sấp mình phủ phục dưới đất, trước mặt vua. 24. Na-than nói: “Tâu bệ hạ là chúa thượng của tôi! Có phải bệ hạ đã nói rằng: ‘A-đô-ni-gia sẽ kế vị trẫm và người sẽ ngồi trên ngai trẫm hay không?’ 25. Bởi vì hôm nay, người đã đi xuống và đã dâng sinh tế bằng bò, thú béo, và rất nhiều chiên, cùng mời tất cả các hoàng tử, các quan tướng quân đội, và Tư tế A-bia-tha. Kìa, họ đang ăn uống trước mặt người và tung hô rằng: ‘Vua A-đô-ni-gia vạn tuế!’ 26. Tuy nhiên, tôi là đầy tớ của bệ hạ, Tư tế Xa-đốc, Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa, hay Sa-lô-môn, là đầy tớ của bệ hạ, thì không được mời. 27. Phải chăng việc nầy là do bệ hạ mà ra, và bệ hạ đã không cho đầy tớ của bệ hạ biết ai là người sẽ ngồi trên ngai kế vị bệ hạ, là chúa thượng của tôi, hay không?”
  3. Sau đó, Vua Đa-vít đã trả lời và nói: “Hãy gọi Bát-sê-ba cho ta!” Vì vậy, bà đã vào và đứng chầu trước sự hiện diện của vua. 29. Đa-vít đã tuyên thệ và nói rằng: “Nguyện như Đức Giê-hô-va hằng sống – là Đấng đã giải cứu trẫm khỏi mọi hoạn nạn – chứng giám! 30. Đúng như ta đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề với nàng rằng: ‘Chắc chắc con trai của nàng là Sa-lô-môn sẽ kế vị ta, nó sẽ ngồi trên ngôi thay vào chỗ của ta’. Ta sẽ thực hiện điều này ngay hôm nay.” 31. Sau đó, Bát-sê-ba sấp mặt xuống đất, phủ phục trước vua và tâu: “Nguyện Vua Đa-vít, là chúa thượng của thiếp, vạn tuế!”
  4. Vua Đa-vít truyền: “Hãy gọi cho ta: Tư tế Xa-đốc, Tiên tri Na-than, và Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa.” Vì vậy, họ đã đến trước vua. 33. Vua truyền cho họ: “Hãy mang theo những người phục vụ chúa thượng của các ngươi, cùng với các ngươi, và Sa-lô-môn, con trai của ta, cưỡi trên con la của chính ta, rồi đưa người xuống Ghi-hôn. 34. Tại đó, Tư tế lễ Xa-đốc và Tiên tri Na-than sẽ xức dầu cho người làm vua của Y-sơ-ra-ên. Sau đó, hãy thổi kèn, và tung hô rằng: ‘Vua Sa-lô-môn vạn tuế!’ 35. Rồi các ngươi sẽ theo sau người để đi lên, và người sẽ ngồi trên ngôi của ta, và trị vì thế vào chỗ của ta. Bởi vì đó chính là người mà ta đã lập để làm vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.”
  5. Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa đáp lại lời vua: “A-men! Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của bệ hạ, là chúa thượng của tôi, cũng chuẩn y việc nầy. 37. Như Đức Giê-hô-va đã ở với bệ hạ thể nào, nguyện Ngài cũng ở với Sa-lô-môn cũng như vậy, và khiến ngôi của người còn cao trọng hơn ngôi của Vua Đa-vít, là chúa thượng của tôi!”
  6. Vì vậy, Tư tế Xa-đốc, Tiên tri Na-than, Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít, và Phê-lê-thít đã đi xuống, có Sa-lô-môn cưỡi trên con la của Vua Đa-vít, và đưa người xuống Ghi-hôn. 39. Sau đó, Tư tế Xa-đốc lấy sừng đựng dầu từ Lều Tạm rồi tấn phong cho Sa-lô-môn. Họ đã thổi kèn. Tất cả dân chúng cùng tung hô: “Vua Sa-lô-môn vạn tuế!” 40. Sau đó, tất cả dân chúng đã theo vua đi lên. Dân chúng thổi sáo và lớn tiếng reo mừng đến nỗi đất rúng động vì tiếng reo hò của họ.
  7. Lúc này, A-đô-ni-gia cùng tất cả những người khách đang ở với ông nghe điều này, khi vừa dự tiệc xong. Và khi Giô-áp nghe tiếng kèn, ông hỏi: “Tại sao trong thành có tiếng động vang rền như thế?” 42. Trong khi ông đang nói, có Giô-na-than con của Tư tế A-bia-tha đến. A-đô-ni-gia nói cùng người: “Hãy vào đây! Ông là một người đáng kính, và sẽ đem tin tức tốt lành.” 43. Sau đó, Giô-na-than đã đáp lại và nói cùng A-đô-ni-gia: “Không! Vua Đa-vít, chúa thượng của chúng ta, đã lập Sa-lô-môn làm vua. 44. Vua đã sai Tư tế Xa-đốc, Tiên tri Na-than, Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít đi theo Sa-lô-môn. Họ đã đưa người cưỡi trên con la của vua. 45. Tại Ghi-hôn, Tư tế Xa-đốc và Tiên tri Na-than đã xức dầu cho người làm vua. Rồi họ đã từ đó đi lên giữa những tiếng reo mừng và cả thành đều vang động. Đó chính là tiếng huyên náo mà các ông đã nghe. 46. Sa-lô-môn cũng đã ngự trên ngôi của vương quốc. 47. Hơn nữa, các đầy tớ của vua đã đến chúc mừng Vua Đa-vít, là chúa thượng của chúng ta, rằng: ‘Nguyện Đức Chúa Trời của bệ hạ làm cho danh của Sa-lô-môn rạng ngời hơn danh của bệ hạ, và khiến cho ngôi của Sa-lô-môn cao trọng hơn ngôi của bệ hạ!’ Sau đó, chính vua đã sấp mình trên giường, 48. và vua đã nói thế này: ‘Chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng hôm nay đã ban một người ngồi trên ngôi của con, mà chính mắt con nhìn thấy.’”
  8. Vì vậy, tất cả những người khách đang hiện diện với A-đô-ni-gia đều run sợ, và đã đứng dậy, ai đi đường nấy.
  9. Lúc này, A-đô-ni-gia khiếp sợ Sa-lô-môn cho nên đã đứng dậy, chạy vào, nắm các sừng của bàn thờ.
  10. Có người đã đến thuật cho Sa-lô-môn rằng: “Nầy! A-đô-ni-gia khiếp sợ Vua Sa-lô-môn. Xem kìa, ông ấy đã nắm các sừng của bàn thờ mà nói rằng: ‘Hôm nay, xin Vua Sa-lô-môn hãy thề với tôi rằng vua sẽ không giết đầy tớ của vua bằng gươm.’”
  11. Sau đó, Sa-lô-môn đã nói: “Nếu anh ấy tỏ ra là người xứng đáng thì không một sợi tóc nào của anh ấy sẽ rơi xuống đất; nhưng nếu người ta phát hiện có điều gian ác nào nơi anh ấy thì anh ấy phải chết.”
  12. Sau đó, Vua Sa-lô-môn sai người đem A-đô-ni-gia xuống khỏi bàn thờ. Ông ấy đã đến sấp mình xuống trước Vua Sa-lô-môn; và vua đã truyền cho ông ấy rằng: “Hãy trở về nhà của ngươi.”

 

2

  1. Khi ngày Ða-vít qua đời đã đến gần, Ða-vít căn dặn Sa-lô-môn, con trai của mình, rằng: 2. “Cha sắp đi vào con đường mà mọi người trên đất phải đi qua. Vì vậy con hãy mạnh mẽ; hãy chứng tỏ mình là một bậc trượng phu; 3. hãy gìn giữ điều mà Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, đã truyền; hãy bước đi trong các đường lối của Ngài; hãy gìn giữ những mạng lệnh, điều răn, luật lệ và hướng dẫn của Ngài như đã chép trong luật pháp của Môi-se, để con được thành công trong mọi việc con làm và mọi nơi con đến. 4. Để rồi Đức Giê-hô-va sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán về cha rằng: ‘Nếu con cháu của ngươi cẩn thận về đường lối của chúng, hết lòng, hết linh hồn bước đi cách trung thành trước mặt Ta, thì ngươi sẽ không hề thiếu người ngồi trên ngôi của Y-sơ-ra-ên.’”
  2. Bây giờ, con đã biết những việc mà Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, đã làm cho cha, và việc hắn đã làm cho hai tướng chỉ huy quân đội Y-sơ-ra-ên là Áp-ne con trai của Nê-rơ, và A-ma-sa con trai của Giê-the. Hắn đã giết họ, làm đổ máu trong thời bình như đang lúc có chiến tranh, khiến máu dính vào đai nơi thắt lưng của hắn, và vào giày nơi chân của hắn. 6. Vì vậy, con hãy dùng sự khôn ngoan của con mà xử sự trong việc nầy, đừng để đầu bạc của hắn xuống âm phủ một cách bình an. 7. Nhưng con hãy đối xử tốt với các con trai của Bát-xi-lai, người Ga-la-át. Hãy cho họ ăn đồng bàn với con, bởi vì họ đã đến cùng cha trong lúc cha chạy trốn khỏi Áp-sa-lôm, anh của con. 8. Và con thấy đó, Si-mê-i con trai của Ghê-ra người Bên-gia-min tại Ba-hu-rim, là kẻ đã lấy những lời độc ác mà nguyền rủa cha trong ngày cha đến Ma-ha-na-im. Nhưng vì hắn đã xuống đón cha tại Giô-đanh cho nên cha đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề với hắn rằng: ‘Ta sẽ không giết ngươi bằng gươm.’ 9. Nhưng con đừng coi hắn là vô tội, bởi vì con là một người khôn ngoan nên biết phải đối xử với hắn như thế nào. Con hãy làm cho đầu bạc của hắn vấy máu mà xuống âm phủ.”
  3. Sau đó Ða-vít an giấc cùng các tổ phụ của mình và được chôn trong thành Ða-vít. 11. Thời gian Đa-vít trị vì trên Y-sơ-ra-ên là bốn mươi năm: Bảy năm tại Hếp-rôn và ba mươi ba năm tại Giê-ru-sa-lem.
  4. Sa-lô-môn ngồi trên ngôi của Ða-vít, là cha của ông. Vương quốc của ông được thiết lập vững vàng.
  5. A-đô-ni-gia, con trai của Ha-ghít, đã đến gặp Bát-sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn. Bà hỏi: “Ngươi đến có việc gì? Bình an hay không?” Ông nói: “Bình an.” 14. Ông nói tiếp: “Tôi có một việc muốn thưa với bà.” Bà nói: “Hãy trình ra.” 15. Ông nói: “Bà biết rằng vương quyền vốn thuộc về tôi. Cả Y-sơ-ra-ên hướng mặt mong tôi trị vì nhưng vương quyền đã thuộc về em của tôi – bởi vì Đức Giê-hô-va cho nên nó đã thuộc về người. 16. Bây giờ, tôi xin bà một thỉnh cầu, mong bà đừng từ chối.” Bà nói: “Hãy trình ra.” 17. Ông nói: “Xin bà nói với Vua Sa-lô-môn — bởi vì vua chẳng từ chối điều gì với bà — xin vua ban cho tôi A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ.” 18. Bát-sê-ba đáp: “Được, ta sẽ nói với vua cho ngươi.”
  6. Bát-sê-ba đã đến gặp Vua Sa-lô-môn để xin vua giùm cho A-đô-ni-gia. Vua đã đứng dậy đón bà, cúi chào bà, rồi ngồi xuống trên ngai của mình. Vua truyền đem đặt một ngai nữa cho mẹ của vua, và rồi bà đã ngồi bên phải của vua. 20. Bà nói: “Mẹ có một việc nhỏ xin con, mong con đừng khước từ với mẹ.” Vua đáp: “Thưa mẹ! Cứ xin, bởi vì con sẽ không khước từ với mẹ.” 21. Bà nói: “Hãy ban A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ cho A-đô-ni-gia, anh của con.” 22. Vua Sa-lô-môn thưa với mẹ: “Tại sao mẹ lại xin A-bi-sác, người Su-nem, cho A-đô-ni-gia? Cũng hãy xin luôn vương quyền cho anh ấy bởi vì anh ấy là anh của con. Rồi hãy xin Tư tế A-bia-tha và Giô-áp con trai của Xê-ru-gia cho anh ấy nữa!” 23. Vua Sa-lô-môn đã thề cùng Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu A-đô-ni-gia không nói lời nầy để hại mạng sống của mình, nguyện Đức Chúa Trời xử con như vậy và còn hơn nữa. 24. Vì vậy bây giờ, thật như Đức Giê-hô-va, là Đấng đã thiết lập con, đặt con trên ngôi của Đa-vít là cha của con, và lập cho con một triều đại đúng như lời Ngài đã hứa, vẫn sống: Hôm nay, chắc chắn A-đô-ni-gia phải bị giết.” 25. Vua Sa-lô-môn đã truyền lệnh thi hành bởi tay của Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa. Bê-na-gia đã đánh A-đô-ni-gia và hắn chết.
  7. Vua truyền cho Tư tế A-bia-tha: “Hãy trở về A-na-tốt, tại sản nghiệp của ngươi. Ngươi đáng chết, nhưng ta không giết ngươi hôm nay, bởi vì ngươi có khiêng Rương Giao Ước của Chúa, là Đức Giê-hô-va, trước mặt Đa-vít, cha của ta, và vì ngươi đã chịu những cực khổ mà cha ta đã cực khổ.” 27. Sa-lô-môn đã đuổi A-bia-tha khỏi chức vụ tư tế trước mặt Đức Giê-hô-va, để lời của Đức Giê-hô-va đã phán tại Si-lô về gia đình của Hê-li được ứng nghiệm.

 

3

  1. Sa-lô-môn cưới con gái của Pha-ra-ôn để kết thân với Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập. Ông đưa nàng về thành Đa-vít cho đến khi hoàn tất việc xây cất cung điện cho mình, đền thờ của Đức Giê-hô-va, và tường thành chung quanh Giê-ru-sa-lem. 2. Trong khi đó, dân chúng vẫn còn dâng sinh tế tại những nơi cao, bởi vì cho đến lúc đó, đền thờ cho danh của Đức Giê-hô-va chưa được xây dựng.
  2. Sa-lô-môn yêu mến Đức Giê-hô-va, bước đi theo những quy định của Đa-vít, là cha của mình. Tuy nhiên, vua vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương tại những nơi cao. 4. Vua đã đến Ga-ba-ôn để dâng sinh tế tại đó, bởi vì đó là nơi cao trọng. Sa-lô-môn đã dâng một ngàn tế lễ thiêu trên bàn thờ tại đó.
  3. Đức Giê-hô-va đã hiện ra với Sa-lô-môn trong giấc chiêm bao vào ban đêm tại Ga-ba-ôn. Đức Chúa Trời phán: “Hãy xin điều gì con muốn để Ta ban cho con.”
  4. Sa-lô-môn thưa: “Ngài đã bày tỏ lòng nhân từ lớn lao đối với đầy tớ của Ngài là Đa-vít, là thân phụ của con, vì người đã bước đi trước mặt Ngài trong sự trung thành, công chính, và tấm lòng ngay thẳng. Ngài lại tiếp tục bày tỏ lòng nhân từ lớn lao cho người, nên đã ban cho người một con trai ngồi trên ngai của người như ngày hôm nay. 7. Hiện giờ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của con, đã cho đầy tớ của Ngài thay thế Đa-vít, cha của con, nhưng con chỉ là một đứa trẻ không biết phải vào ra như thế nào. 8. Đầy tớ của Ngài ở giữa dân mà Ngài đã chọn, một dân rất đông không thể đếm hay liệt kê được. 9. Vì vậy, xin Ngài hãy ban cho đầy tớ Ngài tấm lòng khôn sáng, để con có thể phân biệt đúng sai, để xét xử dân của Ngài, bởi vì ai có thể xét xử đoàn dân đông đảo nầy của Ngài?”
  5. Chúa hài lòng vì Sa-lô-môn đã cầu xin điều nầy. 11. Đức Chúa Trời phán với ông: “Bởi vì con đã xin điều nầy mà không xin cho con được sống lâu hay cho con được giàu có, cũng không xin mạng sống của những kẻ thù con, nhưng xin sự khôn sáng để xét xử chính đáng, 12. nên Ta thực hiện điều con cầu xin. Ta ban cho con tấm lòng khôn ngoan thông sáng, đến nỗi trước con không có ai giống như con, và sau con cũng sẽ không có ai trỗi cao hơn con. 13. Hơn nữa, Ta cũng ban cho con những điều con không xin, tức là sự giàu có và danh vọng, đến nỗi trọn đời con, không ai trong các vua được như con. 14. Nếu con bước đi trong đường lối của Ta, tuân giữ những điều răn và mạng lệnh của Ta, như cha của con là Đa-vít đã bước đi, thì Ta sẽ cho con được sống lâu.”
  6. Sa-lô-môn thức dậy, thấy đó là một giấc chiêm bao. Ông trở về Giê-ru-sa-lem, đứng trước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va, dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an, rồi mở tiệc khoản đãi tất cả quần thần của mình.
  7. Sau đó, có hai phụ nữ, là gái điếm, đến đứng chầu trước mặt vua. 17. Một phụ nữ nói: “Tâu chúa thượng! Tôi và người đàn bà nầy ở chung một nhà. Tôi sinh được một đứa con trai trong lúc người đàn bà nầy đang ở nhà với tôi. 18. Ngày thứ ba sau khi tôi sinh con thì người đàn bà nầy cũng sinh con. Chúng tôi ở chung với nhau, không có một người lạ nào ở trong nhà với chúng tôi. Trong nhà chỉ có hai chúng tôi. 19. Con trai của người đàn bà nầy chết vào ban đêm, vì bà đã nằm đè lên nó. 20. Trong khi tớ gái của ngài đang ngủ, giữa đêm khuya, bà đã đứng dậy lấy con trai của tôi đang ở bên cạnh tôi, đặt nó vào lòng của mình, rồi đặt đứa con đã chết của bà vào trong lòng của tôi. 21. Đến sáng, khi tôi thức dậy cho con bú thì thấy nó đã chết. Nhưng khi trời sáng, tôi nhìn kỹ thì thấy nó không phải là đứa con mà tôi đã sinh.”
  8. Nhưng người đàn bà kia trả lời: “Không! Đứa sống là con của tôi, còn đứa chết là con của chị.” Nhưng người nầy lại nói: “Không! Đứa chết là con của chị, còn đứa sống là con của tôi.” Họ cãi nhau như vậy trước mặt vua.
  9. Vua phán: “Người nầy nói: ‘Đứa sống là con của tôi, còn đứa chết là con của chị.’ Người kia nói: ‘Không! Đứa chết là con của chị, còn đứa sống là con của tôi.’” 24. Vua truyền: “Hãy đem cho ta một thanh gươm.” Người ta đem đến cho vua một thanh gươm. 25. Vua ra lệnh: “Hãy chặt đứa bé còn sống ra làm hai, rồi cho người nầy một nửa và cho người kia một nửa.”
  10. Người đàn bà có đứa con còn sống, lòng dạ xao xuyến vì con của mình, đã tâu với vua: “Ôi, chúa của tôi! Hãy cho chị ấy đứa trẻ còn sống, xin đừng giết nó!” Nhưng người kia nói: “Nó sẽ không thuộc về tôi, cũng không thuộc về chị. Cứ chia đôi.”
  11. Vua phán quyết rằng: “Đừng giết nó, nhưng hãy trao đứa bé còn sống cho người đàn bà nầy, vì bà chính là mẹ của nó.”
  12. Khi cả Y-sơ-ra-ên đã nghe về phán quyết và sự phân xử của vua, họ kính phục vua, vì họ nhận thấy vua có sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời để thi hành công lý.

 

4

  1. Vua Sa-lô-môn trị vì trên cả Y-sơ-ra-ên. 2. Đây là các triều thần của ông: A-xa-ria, con trai của Xa-đốc, làm tư tế; 3. Ê-li-ô-rếp và A-hi-gia, các con trai của Si-sa, đặc trách về thống kê; Giê-hô-sa-phát, con trai của A-hi-lút, làm ngự sử; 4. Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, chỉ huy quân đội; Xa-đốc và A-bia-tha làm tư tế. 5. A-xa-ria, con trai của Na-than, làm thủ tướng; Xa-bút, con trai của Na-than, làm tư tế và là cố vấn của vua; 6. A-hi-sa, đặc trách cung điện; và A-đô-ni-ram, con trai của Áp-đa, đặc trách về lao động.
  2. Trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, Sa-lô-môn có mười hai viên chức để cung cấp lương thực cho vua và hoàng gia. Mỗi người cung cấp phần của mình vào một tháng trong một năm. 8. Đây là tên của họ: Bên Hu-rơ đặc trách vùng đồi núi Ép-ra-im; 9. Bên Đê-ke đặc trách vùng Ma-kát, Sa-an-bim, Bết Sê-mết, và Ê-lôn Bết Ha-nan; 10. Bên Hê-sết đặc trách vùng A-ru-bốt, Sô-cô và toàn miền đất Hê-phe đều thuộc quyền ông; 11. Bên A-bi-na-đáp đặc trách toàn vùng cao nguyên Đô-rơ – vợ của ông là Ta-phát, con gái của Sa-lô-môn; 12. Ba-a-na, con trai của A-hi-lút, đặc trách vùng Tha-a-nác, Mê-ghi-đô, và toàn vùng Bết Sê-an, là vùng gần Xạt-han, phía dưới của Gít-rê-ên, từ Bết Sê-an cho đến A-bên Mê-hô-la, và cho đến tận bên kia của Giốc-mê-am; 13. Bên Ghê-be đặc trách vùng Ra-mốt Ga-la-át, kể cả những làng của Giai-rơ – Giai-rơ là con trai của Ma-na-se – trong miền Ga-la-át. Ông cũng đặc trách vùng Ạt-gốp trong Ba-san, gồm sáu mươi thành lớn có tường thành và then cửa bằng đồng; 14. A-hi-na-đáp, con trai của Y-đô, đặc trách vùng Ma-ha-na-im; 15. A-hi-mát đặc trách địa phận Nép-ta-li – ông cũng cưới con gái của Sa-lô-môn là Bách-mát làm vợ; 16. Ba-a-na, con trai của Hu-sai, đặc trách vùng A-se và Bê-a-lốt; 17. Giê-hô-sa-phát, con trai của Pha-ru-ác, đặc trách vùng Y-sa-ca; 18. Si-mê-i, con trai của Ê-la, đặc trách vùng Bên-gia-min; 19. Ghê-be, con trai của U-ri, đặc trách vùng đất Ga-la-át, là vùng đất trước kia thuộc quyền của Si-hôn, vua của dân A-mô-rít, và của Óc, vua của Ba-san. Chỉ có một mình Ghê-be coi sóc cả vùng nầy.
  3. Dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên nhiều như cát trên bờ biển. Họ ăn, uống, và vui thỏa.
  4. Sa-lô-môn cai trị trên tất cả các vương quốc từ dòng sông cho đến đất của người Phi-li-tin, và cho đến tận biên giới của Ai Cập. Họ phải triều cống và phục vụ Sa-lô-môn trọn đời của ông.
  5. Lương thực cần cung cấp cho nhà Sa-lô-môn mỗi ngày là ba mươi cô-rơ bột mịn, sáu mươi cô-rơ bột thô, 23. mười con bò béo tốt, hai mươi con bò nuôi ngoài đồng cỏ, và một trăm con chiên. Ngoài ra còn có nai, hoàng dương, hươu, và gia cầm được nuôi béo. 24. Vì ông cai trị toàn thể lãnh thổ ở phía bên nầy của sông, từ Típ-sắc cho đến Ga-xa, là tất cả các vua ở phía bên nầy của sông, cho nên có sự hòa bình với mọi lân bang của ông. 25. Trọn đời vua Sa-lô-môn trị vì, cả Giu-đa và Y-sơ-ra-ên từ Đan cho đến Bê-e Sê-ba đều được an cư, mỗi người ở dưới cây nho và cây vả của mình. 26. Sa-lô-môn có bốn mươi ngàn chuồng ngựa để kéo xe chiến mã và mười hai ngàn kỵ binh. 27. Các viên chức khu vực, mỗi người theo tháng của mình, lo cung cấp lương thực cho Vua Sa-lô-môn và tất cả những người được mời đến ăn nơi bàn của vua. Họ không thiếu gì cả. 28. Mỗi người cứ theo phiên thứ mình mà đem lúa mạch và rơm đến nơi đã chỉ định cho ngựa kéo xe chiến mã và ngựa để cưỡi.
  6. Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan thông sáng tuyệt vời, một tâm trí uyên bác, sâu rộng, phong phú như cát trên bãi biển. 30. Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn trổi hơn sự khôn ngoan của mọi người ở phương Đông, và trổi hơn tất cả sự khôn ngoan ở Ai Cập. 31. Sa-lô-môn khôn ngoan hơn mọi người, khôn ngoan hơn Ê-than người Ếch-ra-hít, hơn Hê-man, Canh-côn, và Đạt-đa, là các con trai của Ma-hôn. Danh tiếng của ông đồn ra khắp các dân tộc ở chung quanh. 32. Ông đã nói ba ngàn câu châm ngôn, và sáng tác một ngàn lẻ năm bài ca. 33. Ông đã khảo luận về thực vật, từ cây bá hương ở Li-ban cho đến cây bài hương mọc trên tường. Ông cũng khảo luận về động vật, chim chóc, loài bò sát, và loài cá. 34. Nhiều người từ mọi dân tộc, thuộc tất cả các vua trên thế giới đã nghe nói về sự khôn ngoan của ông, đã đến để nghe sự khôn ngoan của Sa-lô-môn.

 

5

  1. Hi-ram, vua của Ty-rơ, nghe rằng Sa-lô-môn đã được xức dầu để làm vua thay cho cha của mình, nên sai tôi tớ của mình đến cùng người, bởi vì Hi-ram luôn luôn yêu mến Đa-vít.
  2. Sa-lô-môn đã gởi sứ điệp đến Hi-ram rằng: 3. “Ngài biết là Đa-vít, thân phụ của tôi, không thể xây cất một đền thờ cho danh của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của người, bởi vì chiến tranh vây quanh mọi phía cho đến ngày Đức Giê-hô-va khiến các kẻ thù phục dưới chân của người. 4. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tôi, đã ban cho tôi mọi phía được yên ổn, không còn quân thù và cũng không có tai họa nào. 5. Vì vậy, tôi định xây cất một đền thờ cho danh của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tôi, như Đức Giê-hô-va đã phán cùng Đa-vít, thân phụ của tôi rằng: ‘Con trai của con, mà Ta đặt ngồi trên ngai kế vị con, sẽ xây một đền thờ cho danh của Ta.’ 6. Vì vậy bây giờ, xin ngài hãy truyền lệnh cho đốn những cây bá hương tại Li-ban cho tôi. Các đầy tớ của tôi sẽ cùng làm việc với các đầy tớ của ngài, và tôi sẽ trả tiền công cho các đầy tớ của ngài theo giá mà ngài quy định; bởi vì ngài biết rằng không ai trong chúng tôi thạo việc đốn gỗ như người Si-đôn.”
  3. Khi Hi-ram nghe những lời của Sa-lô-môn, ông rất vui và nói: “Chúc tụng Đức Giê-hô-va, bởi vì hôm nay Ngài đã ban cho Đa-vít một người con khôn ngoan để trị vì dân tộc đông đảo nầy.” 8. Sau đó Hi-ram sai sứ nói với Sa-lô-môn rằng: “Tôi đã được nghe sứ giả của ngài nói với tôi, và tôi sẽ làm mọi điều ngài yêu cầu về gỗ bá hương và gỗ tùng. 9. Các đầy tớ của tôi sẽ kéo gỗ từ Li-ban xuống biển, rồi tôi sẽ đóng bè thả trôi theo biển đến nơi ngài chỉ định. Tại đó tôi sẽ rã bè, và ngài sẽ nhận lấy đem đi. Còn ngài sẽ cung cấp lương thực cho triều đình của tôi theo nhu cầu của tôi.”
  4. Vì vậy, Hi-ram đã cung cấp tất cả gỗ bá hương và gỗ tùng cho Sa-lô-môn như ông muốn. 11. Còn Sa-lô-môn thì cung cấp cho Hi-ram hai mươi ngàn cô-rơ lúa mì để dùng làm lương thực cho triều đình của ông, và hai mươi cô-rơ dầu tinh khiết. Mỗi năm Sa-lô-môn cung cấp cho Hi-ram như vậy.
  5. Đức Giê-hô-va ban sự khôn ngoan cho Sa-lô-môn như Ngài đã hứa với ông. Giữa Hi-ram và Sa-lô-môn có mối giao hảo tốt. Hai vua đã ký kết hiệp ước với nhau.
  6. Vua Sa-lô-môn huy động lực lượng lao động trong cả Y-sơ-ra-ên được ba mươi ngàn người. 14. Vua sai họ đến Li-ban, thay phiên nhau mỗi tháng mười ngàn người. Họ ở Li-ban một tháng rồi ở nhà hai tháng. A-đô-ni-ram trông coi lực lượng lao động nầy. 15. Sa-lô-môn có bảy mươi ngàn nhân công khuân vác và tám mươi ngàn thợ đục đá trên núi. 16. Ngoài ra còn có ba ngàn ba trăm đốc công mà Sa-lô-môn đã đặt coi sóc công việc và điều động nhân công làm việc.
  7. Vua ra lệnh cho họ lấy những tảng đá lớn và những tảng đá quý giá để làm nền của đền thờ. Những tảng đá đã được đục ra. 18. Những người thợ của Sa-lô-môn, những người thợ của Hi-ram, cùng với người Ghi-bê-lít đã đục đá. Họ chuẩn bị sẵn sàng gỗ và đá để xây dựng đền thờ.

 

6

  1. Vào năm bốn trăm tám mươi sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, tức là năm thứ tư Sa-lô-môn trị vì trên Y-sơ-ra-ên, vào tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, vua bắt đầu xây dựng đền thờ cho Đức Giê-hô-va.
  2. Đền thờ mà Vua Sa-lô-môn xây cất cho Đức Giê-hô-va có chiều dài sáu mươi cu-bít, chiều ngang là hai mươi và chiều cao là ba mươi cu-bít. 3. Hành lang ở phía trước của đền thờ có chiều dài hai mươi cu-bít, theo chiều rộng của đền thờ, và rộng mười cu-bít hướng về phía trước của đền thờ. 4. Ông cũng làm những cửa sổ có khung và chấn song cho đền thờ. 5. Ông xây những tầng lầu chung quanh dựa vào tường của đền thờ. Ông cũng xây những căn phòng chung quanh dựa vào những bức tường vòng quanh đền thờ trong Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. 6. Tầng dưới rộng năm cu-bít, tầng giữa rộng sáu cu-bít, và tầng thứ ba rộng bảy cu-bít. Bên ngoài đền thờ, ông cho xây tường chung quanh thụt vào để những cây đà của các tầng lầu không đâm vào tường của đền thờ.
  3. Khi xây cất đền thờ, người ta dùng đá đã đục sẵn tại hầm đá nên trong lúc xây cất không ai nghe tiếng búa, đục hay bất cứ dụng cụ bằng sắt nào. 8. Cửa vào tầng giữa nằm bên phải của đền thờ. Người ta đi lên tầng giữa bằng một cái thang xoắn ốc, rồi từ tầng giữa đi lên tầng thứ ba.
  4. Ông đã xây dựng đền thờ và hoàn tất. Ông lợp đền thờ bằng những cây đà và gỗ bá hương. 10. Ông cũng xây những căn phòng dọc theo tường của đền thờ, cao năm cu-bít. Những phòng đó dính liền với đền thờ bằng những cây đà bằng gỗ bá hương.
  5. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-lô-môn rằng: 12. “Về đền thờ mà con đang xây, nếu con bước đi trong luật pháp của Ta, thực thi những mạng lệnh của Ta, tuân giữ và bước đi theo tất cả những điều răn của Ta, thì Ta sẽ thực hiện cho con lời hứa mà Ta đã phán với Đa-vít, thân phụ của con. 13. Ta sẽ ngự giữa Y-sơ-ra-ên, và sẽ không lìa bỏ Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta.”
  6. Sa-lô-môn đã xây cất đền thờ và hoàn tất. 15. Ông dùng ván bá hương lát mặt tường bên trong của đền thờ, từ nền cho đến trần, ông đều phủ vách tường phía trong bằng gỗ. Còn nền của đền thờ thì ông lát bằng ván gỗ tùng. 16. Ông cũng xây hai mươi cu-bít từ phía trong cùng của đền thờ, từ nền cho đến trần, bằng ván gỗ bá hương. Ông xây nơi đó ở bên trong của Nơi Thánh để làm Nơi Chí Thánh. 17. Phần còn lại của đền thờ ở phía trước là bốn mươi cu-bít. 18. Phía trong của đền thờ được lát bằng gỗ bá hương chạm trổ hình trái bầu và hoa nở. Tất cả đều làm bằng gỗ bá hương cho nên không thấy đá. 19. Ông cũng chuẩn bị phía trong của Nơi Thánh bên trong của đền thờ để đặt Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va. 20. Nơi Chí Thánh dài hai mươi cu-bít, rộng hai mươi cu-bít, và cao hai mươi cu-bít đều được bọc bằng vàng ròng. Bàn thờ bằng gỗ bá hương cũng được bọc vàng. 21. Sa-lô-môn bọc phía trong của đền thờ bằng vàng ròng, và cho giăng một dây xích bằng vàng trước Nơi Chí Thánh, là nơi cũng được bọc bằng vàng. 22. Ông bọc vàng toàn bộ đền thờ cho đến khi tất cả được hoàn thành. Toàn thể bàn thờ tại Nơi Chí Thánh cũng được bọc bằng vàng.
  7. Trong Nơi Chí Thánh, ông làm hai chê-ru-bim bằng gỗ ô-liu, cao mười cu-bít. 24. Một cánh của chê-rúp dài năm cu-bít, cánh kia cũng dài năm cu-bít. Cả hai cánh từ đầu cánh nầy đến đầu cánh kia là mười cu-bít. 25. Chê-rúp thứ hai cũng đo được mười cu-bít. Cả hai chê-ru-bim đều giống nhau về kích thước lẫn hình dạng. 26. Chiều cao của một chê-rúp là mười cu-bít. Chê-rúp thứ hai cũng vậy. 27. Ông đặt hai chê-ru-bim trong Nơi Chí Thánh của Ðền Thờ. Cánh của các chê-ru-bim dang ra. Một cánh của một chê-rúp đụng ở tường nầy, một cánh của chê-rúp kia đụng ở tường kia, hai cánh còn lại chạm vào nhau ở chính giữa đền thờ. 28. Ông dát vàng cả hai chê-ru-bim.
  8. Trên tường chung quanh đền thờ, ông chạm hình các chê-ru-bim, những cây cọ, và các cành hoa nở, cả bên trong lẫn bên ngoài. 30. Ông cũng dát vàng nền của đền thờ, từ phía trong ra đến phía ngoài.
  9. Lối vào Nơi Chí Thánh, ông làm những cánh cửa bằng gỗ ô-liu, gắn vào hai trụ cửa có năm cạnh. 32. Trên hai cánh cửa bằng gỗ ô-liu, ông cho chạm hình các chê-ru-bim, những cây cọ, và các cành hoa nở. Ông dát vàng hình các chê-ru-bim và các cây cọ bằng vàng cán mỏng. 33. Tại lối vào đền thờ, ông cũng làm trụ cửa bằng gỗ ô-liu có bốn cạnh. 34. Hai cửa làm bằng gỗ tùng. Cửa nầy có hai tấm được xếp lại, và cửa kia cũng có hai tấm được xếp lại. 35. Ông cho chạm hình các chê-ru-bim, những cây cọ, và các cành hoa nở trên các cánh cửa, rồi lấy vàng khảm vào những đường nét đã chạm.
  10. Ông cũng xây cất sân trong bằng ba hàng đá được chạm trổ và một hàng xà ngang bằng gỗ bá hương.
  11. Vào tháng Xíp, trong năm thứ tư, nền đền thờ của Đức Giê-hô-va được thiết lập. 38. Năm thứ mười một, tháng Bun, tức là tháng Tám, công trình xây cất đền thờ đã được hoàn thành đúng theo mọi chi tiết về kiểu mẫu và kích thước. Ông đã xây cất đền thờ trong bảy năm.

 

7

  1. Sa-lô-môn đã xây cất cung điện cho mình. Ông hoàn tất cung điện của mình trong mười ba năm. 2. Ông xây cung Rừng Li-ban dài một trăm cu-bít, rộng năm mươi cu-bít, và cao ba mươi cu-bít, với bốn hàng cột bằng gỗ bá hương, cùng với những xà ngang đặt trên cột cũng bằng gỗ bá hương. 3. Trần nhà làm bằng gỗ bá hương với những xà ngang được đặt trên bốn mươi lăm cây cột, mỗi hàng mười lăm cây. 4. Có ba dãy cửa sổ, cửa sổ nầy đối diện với cửa sổ kia tạo thành những bộ ba. 5. Tất cả các cửa và khung đều có hình vuông, cửa sổ nầy đối diện với cửa sổ kia tạo thành những bộ ba.
  2. Ông cũng làm một sảnh đường với những cây trụ. Sảnh đường dài năm mươi cu-bít, rộng ba mươi cu-bít. Phía trước sảnh đường có những cây trụ và một mái hiên.
  3. Ông xây một cung điện để đặt ngôi của mình, gọi là Cung Công Lý. Đó là nơi ông xét xử. Cung đó được lát bằng gỗ bá hương từ sàn cho đến trần. 8. Cung thất nơi ông ở là nội cung. Đó là một tòa nhà khác, nằm ở phía trong của sân và cũng có cùng kiến trúc như vậy. Sa-lô-môn cũng xây cho con gái của Pha-ra-ôn mà ông đã cưới làm vợ một cung tương tự.
  4. Tất cả những công trình nầy đều được làm bằng đá quý, được đẽo và cắt bằng cưa theo đúng kích thước từ trong ra ngoài, từ nền cho đến đầu tường, và từ bên ngoài cho đến sân lớn. 10. Nền được làm bằng đá quý rất lớn, có tảng đá rộng mười cu-bít, có tảng đá rộng tám cu-bít, 11. còn phía trên thì được làm bằng đá quý được đẽo theo đúng kích thước, và bằng gỗ bá hương. 12. Chung quanh sân lớn có ba hàng đá đẽo và một dãy xà ngang bằng gỗ bá hương, giống như tại sân trong và tiền sảnh của đền thờ Đức Giê-hô-va.
  5. Vua Sa-lô-môn sai người mời Hi-ram từ Ty-rơ đến. 14. Ông là con trai của một góa phụ thuộc chi tộc Nép-ta-li, cha của ông là người Ty-rơ, là thợ đồng. Ông là người thông minh, hiểu biết, thành thạo tất cả những công việc thuộc nghề đồng. Ông đã đến với Vua Sa-lô-môn và thực hiện những công việc được giao phó.
  6. Ông đã đúc hai cây trụ đồng: mỗi cây trụ cao mười tám cu-bít, dây đo chu vi của cả hai là hai mươi cu-bít. 16. Ông cũng đúc hai đầu trụ bằng đồng để đặt trên đỉnh của hai cây trụ. Chiều cao của đầu trụ thứ nhất là năm cu-bít, chiều cao của đầu trụ thứ hai là năm cu-bít. 17. Ông cũng làm những tấm lưới bằng đồng có những mắc xích tạo thành những dây chuyền quấn quanh các đầu trụ đặt trên đỉnh của cây trụ. Có bảy dây chuyền cho đầu trụ nầy và bảy dây chuyền cho đầu trụ kia. 18. Ông đã làm những cây trụ, rồi làm hai đường viền chung quanh lưới và gắn những trái lựu trên đầu trụ nầy. Ông cũng làm như vậy cho đầu trụ kia. 19. Các đầu trụ trên đỉnh của mỗi cây trụ nơi tiền sảnh có hình hoa huệ, cao bốn cu-bít. 20. Phía trên mỗi đầu trụ của hai cây trụ, tại phần nhô ra gần bên tấm lưới, có hai trăm trái lựu sắp thành hàng chung quanh hai đầu trụ. 21. Ông đã dựng hai cây trụ đồng nơi tiền sảnh của đền thờ. Ông dựng cây trụ bên phải rồi đặt tên là Gia-kin, và dựng cây trụ bên trái rồi đặt tên là Bô-ách. 22. Trên đỉnh của những cây trụ có hình hoa huệ. Như vậy, công việc làm những cây trụ đồng đã hoàn tất.
  7. Sau đó, ông đúc một cái bể hình tròn, từ vành nầy đến vành kia là mười cu-bít, cao năm cu-bít, chu vi vòng quanh là ba mươi cu-bít. 24. Chung quanh phía dưới của vành có gắn những vật trang trí hình nụ hoa, mỗi cu-bít mười cái, bao quanh cả cái bể. Lúc chúng được đúc, những vật trang trí hình nụ hoa được đúc thành hai hàng. 25. Cái bể được đặt trên mười hai con bò: ba con nhìn về hướng bắc, ba con nhìn về hướng tây, ba con nhìn về hướng nam, và ba con nhìn về hướng đông. Cái bể được đặt trên chúng, còn phần kín của chúng quay vào bên trong. 26. Thành của bể dày bằng bề ngang của bàn tay; miệng của bể giống như miệng cái chén với những hoa huệ. Bể có thể chứa được hai ngàn bát.
  8. Ông cũng làm mười chiếc xe bằng đồng, mỗi chiếc dài bốn cu-bít, rộng bốn cu-bít, và cao ba cu-bít. 28. Đây là cách làm những chiếc xe: Họ làm các tấm vách, và các tấm vách được đặt vào giữa những cái khung. 29. Trên các tấm vách giữa những cái khung có chạm hình những sư tử, bò đực, và chê-ru-bim. Phía trên cái bệ của khung và phía dưới những sư tử và bò đều có chạm những vòng hoa. 30. Mỗi chiếc xe có bốn bánh xe bằng đồng với những trục bằng đồng. Ở bốn góc có những cái giá. Những cái giá được đúc bên dưới cái chậu, và có những hoa văn trang trí ở mỗi cạnh của cái giá. 31. Cái chậu được đặt trên chiếc xe. Miệng của nó hình tròn, rộng một cu-bít rưỡi. Miệng của nó nằm về phía trong của đầu trụ, cao một cu-bít. Trên miệng nầy cũng có hình chạm trổ trên những tấm vách vuông vức, chứ không phải tròn. 32. Bốn bánh xe được đặt bên dưới những tấm vách. Các trục bánh xe thì được gắn vào chiếc xe. Mỗi bánh xe cao một cu-bít rưỡi. 33. Các bánh xe được làm giống như bánh xe chiến mã: Tất cả trục, vành, căm, và đùm bánh xe đều được đúc. 34. Ở bốn góc của mỗi chiếc xe có bốn cái giá. Những cái giá được dính liền vào chiếc xe. 35. Phía trên của chiếc xe là cái chậu tròn cao một cu-bít rưỡi. Trên chiếc xe cũng có những tấm vách và những khung. 36. Trên bề mặt của những khung và của những tấm vách, ông chạm các chê-ru-bim, sư tử, cây chà là; còn những chỗ trống thì chạm những vòng hoa bao bọc chung quanh. 37. Ông đã làm mười chiếc xe theo cách như vậy. Tất cả cùng một khuôn, cùng một kích thước, và cùng một hình dạng.
  9. Sau đó, ông làm mười cái bồn bằng đồng, mỗi bồn chứa được bốn mươi bát. Mỗi bồn cao bốn cu-bít và được đặt trên một trong mười chiếc xe, mỗi bồn một chiếc. 39. Ông đặt năm chiếc xe bên phải của đền thờ và năm chiếc xe bên trái của đền thờ; còn bể nước thì ông đặt ở bên phải của đền thờ, về hướng đông nam.
  10. Hi-ram cũng làm chảo, vá và chậu. Như vậy, Hi-ram đã làm xong mọi công việc cần phải làm cho Vua Sa-lô-môn để dùng cho nhà của Đức Giê-hô-va, gồm có: 41. Hai cây trụ, hai đầu trụ hình cái chậu đặt trên đỉnh hai cây trụ, hai tấm lưới phủ trên hai đầu trụ hình cái chậu đặt trên đỉnh những cây trụ; 42. bốn trăm trái lựu cho hai tấm lưới, hai hàng trái lựu phủ trên hai đầu trụ hình cái chậu đặt trên đỉnh những cây trụ; 43. mười chiếc xe, và mười cái bồn để trên những chiếc xe; 44. một cái bể và mười hai con bò phía dưới cái bể; 45. chảo, vá và chậu. Tất cả những vật dụng mà Hi-ram đã làm cho Vua Sa-lô-môn để dùng cho nhà của Đức Giê-hô-va đều bằng đồng đánh bóng. 46. Vua cho đúc những vật đó trong đồng bằng Giô-đanh, tại một nơi có nhiều đất sét, giữa Su-cốt và Xát-than. 47. Sa-lô-môn không cho cân những vật dụng đó vì chúng quá nhiều, và số lượng đồng không thể tính nổi.
  11. Sa-lô-môn cũng làm những vật dụng cho nhà của Đức Giê-hô-va gồm có: Bàn thờ bằng vàng, bàn để đặt bánh cung hiến bằng vàng, 49. các chân đèn bằng vàng ròng đặt trước Nơi Chí Thánh, năm cái bên phải và năm cái bên trái; hoa đèn, thếp đèn, và kẹp gắp đều bằng vàng; 50. những cái chén, kéo cắt tim đèn, những cái chậu, khay đựng tro và khay đựng than đều bằng vàng ròng; các bản lề cửa vào nơi trong cùng của đền thờ, tức là Nơi Chí Thánh, và cửa ra vào của đền thờ cũng làm bằng vàng.
  12. Như vậy, Vua Sa-lô-môn đã hoàn tất những công trình cần làm cho nhà của Đức Giê-hô-va. Sa-lô-môn đã đem những vật mà Ða-vít, cha của ông đã dâng hiến, gồm bạc, vàng, và những vật dụng; rồi để những vật đó trong những kho tàng của nhà Đức Giê-hô-va.

8

  1. Sau đó, Sa-lô-môn triệu tập các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, tất cả các trưởng chi tộc và các trưởng gia tộc trong Y-sơ-ra-ên đến với Vua Sa-lô-môn tại Giê-ru-sa-lem, để rước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ thành Đa-vít, tức là Si-ôn. 2. Tất cả những người nam của Y-sơ-ra-ên đã tập hợp lại với Vua Sa-lô-môn vào tháng Ê-tha-nim, là tháng bảy, để dự lễ. 3. Khi tất cả các trưởng lão đến, các tư tế khiêng Rương ra đi. 4. Các tư tế và những người Lê-vi khiêng Rương của Đức Giê-hô-va, Lều Hội Kiến và tất cả các vật dụng thánh trong Lều. Các tư tế và người Lê-vi đã đem những vật đó. 5. Vua Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, tức những người đã tụ họp trước mặt vua, hiệp với ông đến trước Rương. Họ dâng hiến chiên và bò, không thể kể, và cũng không thể đếm được vì quá nhiều. 6. Sau đó các tư tế đem Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào chỗ của nó, vào nơi trong cùng của đền thờ, tức là Nơi Chí Thánh, dưới những cánh của các chê-ru-bim. 7. Các chê-ru-bim dang cánh ra trên Rương, các chê-ru-bim che trên Rương và các đòn khiêng. 8. Các đòn khiêng khá dài. Đầu của đòn khiêng có thể nhìn thấy từ Nơi Thánh ngay trước Nơi Chí Thánh, nhưng ai đứng ở ngoài thì không thấy được. Các đòn khiêng vẫn còn ở đó cho đến ngày nay. 9. Trong Rương không có gì ngoài hai bảng đá mà Môi-se đã đặt vào tại Hô-rếp, là nơi Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập.
  2. Sau đó, khi các tư tế ra khỏi Nơi Thánh, có một đám mây đến bao phủ đền thờ của Đức Giê-hô-va, 11. đến nỗi các tư tế không thể đứng để tiếp tục hành lễ vì đám mây, và vì vinh quang của Đức Giê-hô-va tràn ngập đền thờ của Đức Giê-hô-va.
  3. Sau đó, Sa-lô-môn thưa: “Đức Giê-hô-va đã phán rằng Ngài ngự trong đám mây dày đặc. 13. Nhưng con đã xây cho Ngài một đền thờ để tôn vinh Ngài. Một nơi để Ngài ngự đời đời.”
  4. Rồi vua quay mặt lại để chúc phước cho hội chúng Y-sơ-ra-ên, trong khi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đứng. 15. Ông nói, “Chúc tụng Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng đã dùng tay của Ngài làm trọn mọi điều miệng Ngài đã hứa với Ða-vít, là cha của tôi rằng: 16. ‘Từ ngày Ta đem dân Y-sơ-ra-ên Ta ra khỏi Ai Cập, Ta đã không chọn thành nào trong tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên để xây một đền thờ, để danh Ta ngự tại đó. Nhưng Ta đã chọn Ða-vít để lãnh đạo dân của Ta là Y-sơ-ra-ên.’ 17. Lúc đó trong lòng Ða-vít, cha của tôi, đã có ý định xây một đền thờ cho danh của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, 18. nhưng Đức Giê-hô-va đã phán với Ða-vít, cha của tôi, rằng: ‘Lòng ngươi muốn xây một đền thờ cho danh của Ta, đó là điều tốt đẹp từ lòng của ngươi. 19. Tuy nhiên, ngươi sẽ không xây đền thờ, nhưng con trai của ngươi, là kẻ do ngươi sinh ra, sẽ xây đền thờ cho danh của Ta.’  20. Đức Giê-hô-va đã thực hiện những lời Ngài đã phán. Tôi đã được nhấc lên để thay vào chỗ của Ða-vít, cha của tôi, và được ngồi trên ngôi của Y-sơ-ra-ên như Đức Giê-hô-va đã hứa; và tôi đã xây một đền thờ cho danh của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 21. Tôi đã sắp đặt một nơi để đặt Rương Giao Ước, trong đó có giao ước của Đức Giê-hô-va, mà Ngài đã lập với tổ phụ của chúng ta, khi Ngài đem họ ra khỏi xứ Ai Cập.”
  5. Sau đó, Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ Đức Giê-hô-va, trước sự hiện diện của toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, giơ tay lên trời, 23. rồi ông cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Không có thần nào trên trời cao kia hoặc dưới đất thấp nầy giống như Ngài. Ngài đã giữ giao ước và lòng nhân từ với các đầy tớ Ngài, là những người bước đi trước mặt Ngài với cả tấm lòng. 24. Ngài đã giữ lời Ngài đã hứa với đầy tớ của Ngài là Đa-vít, cha của con. Điều chính miệng Ngài phán hứa thì tay Ngài đã thực hiện như đã có ngày nay. 25. Vì vậy bây giờ, lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin giữ lời Ngài đã phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con, rằng: ‘Nếu con cháu của ngươi cẩn thận trong đường lối của mình, bước đi trước mặt Ta như ngươi đã bước đi, thì trước mặt Ta, ngươi sẽ không hề thiếu người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên.’ 26. Lạy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin Ngài làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con.
  6. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ cư ngụ trên đất nầy sao? Kìa, các tầng trời, ngay cả trời của các tầng trời cũng không thể chứa được Ngài, huống chi đền thờ nầy mà con đã xây cất! 28. Dầu vậy, lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của con! Xin đoái đến lời cầu nguyện và cầu xin của đầy tớ Ngài. Xin đoái nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện mà hôm nay đầy tớ Ngài đang dâng lên trước mặt Ngài. 29. Nguyện mắt của Ngài ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là nơi mà Ngài đã phán rằng: ‘Danh Ta sẽ ngự tại đó,’ để nghe lời khẩn nguyện của đầy tớ Ngài hướng về nơi nầy mà kêu cầu. 30. Xin Ngài lắng nghe lời khẩn cầu mà đầy tớ Ngài và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài hướng về nơi nầy cầu nguyện. Từ nơi ngự của Ngài trên các tầng trời, xin Ngài đoái nghe; và khi Ngài nghe thì xin tha thứ cho.
  7. Nếu có ai phạm tội với người lân cận mình và bị buộc phải thề, nên người ấy đến thề trước bàn thờ của Ngài trong đền thờ nầy, 32. thì từ trên trời xin Ngài lắng nghe, hành động và phân xử cho các đầy tớ của Ngài. Xin kết án kẻ có tội, khiến nó phải chịu lấy hậu quả của tội lỗi mình, và xưng công chính cho người công chính bằng cách ban thưởng theo sự công chính của người ấy.
  8. Khi dân của Ngài, là Y-sơ-ra-ên, bị kẻ thù đánh bại vì phạm tội với Ngài, nếu họ trở lại với Ngài, xưng nhận danh của Ngài và cầu nguyện nài xin với Ngài trong đền thờ nầy, 34. thì từ trên trời xin Ngài lắng nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài và khiến họ trở về đất mà Ngài đã ban cho tổ phụ của họ.
  9. Khi các tầng trời bị đóng lại, không có mưa, bởi vì họ đã phạm tội với Ngài, nếu họ hướng về nơi nầy mà cầu nguyện, xưng nhận danh của Ngài, lìa bỏ tội lỗi của mình, vì Ngài đã sửa phạt họ, 36. thì từ trên trời xin Ngài lắng nghe, tha tội cho những đầy tớ của Ngài, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Xin Ngài chỉ cho họ con đường chính đáng mà họ phải đi, và cho mưa rơi trên đất mà Ngài đã ban cho dân của Ngài làm sản nghiệp.
  10. Khi trong xứ có đói kém, dịch bệnh, hoặc hạn hán, nấm mốc, cào cào, châu chấu, hoặc có quân thù vây hãm các cổng thành của xứ, hoặc có bất cứ tai họa, bệnh tật gì; 38. nếu có một người, hoặc toàn dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, trong lòng nhận biết tai họa của mình, và giơ tay ra hướng về đền thờ nầy mà cầu nguyện, khẩn xin điều gì, 39. thì xin Ngài ở trên trời, là nơi Ngài ngự, lắng nghe, tha thứ, hành động và báo trả cho mỗi người tùy theo đường lối của họ, và theo những gì Ngài biết trong lòng của họ, bởi vì chỉ một mình Ngài biết rõ lòng người; 40. để khiến họ kính sợ Ngài trọn đời, khi họ sống trên đất mà Ngài đã ban cho tổ phụ của họ.
  11. Hơn nữa, đối với người ngoại quốc, là người không thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, nhưng vì nghe danh của Ngài nên từ xứ xa đến 42. bởi vì họ đã nghe về uy danh của Ngài, về cánh tay quyền năng và cánh tay giơ thẳng ra của Ngài. Khi họ đến cầu nguyện trong đền thờ nầy, 43. thì xin Ngài ở trên trời, là nơi Ngài ngự, lắng nghe và thực hiện cho họ tất cả những điều họ cầu xin Ngài, để tất cả các dân tộc trên đất nhận biết danh của Ngài và kính sợ Ngài giống như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và để người ta biết rằng danh Ngài được kêu cầu nơi đền thờ mà con đã xây cất.
  12. Khi dân của Ngài ra trận chiến đấu với quân thù ở bất cứ nơi nào Ngài sai họ đi, nếu họ cầu khẩn Đức Giê-hô-va, hướng về thành Ngài đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Ngài, 45. thì từ trên trời xin Ngài lắng nghe những lời cầu nguyện và nài xin của họ mà thực thi công lý cho họ.
  13. Khi họ phạm tội với Ngài — bởi vì không có người nào mà không phạm tội — khiến Ngài nổi giận với họ và phó họ cho kẻ thù để họ bị lưu đày trong xứ của kẻ thù, hoặc xa hay gần. 47. Nếu trong đất lưu đày, họ hồi tâm, ăn năn và nài xin với Ngài rằng: ‘Chúng con đã phạm tội, đã hành động một cách bướng bỉnh và gian ác;’ 48. nếu trong xứ của kẻ thù, nơi họ bị lưu đày, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Ngài, cầu nguyện với Ngài, hướng về xứ mà Ngài đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Ngài đã chọn, và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh của Ngài, 49. thì xin Ngài ở trên trời, là nơi Ngài ngự, lắng nghe lời cầu nguyện nài xin của họ và thực thi công lý cho họ. 50. Xin Ngài tha thứ cho dân của Ngài, là dân đã phạm tội với Ngài, và tha thứ tất cả sự vi phạm mà họ đã phạm với Ngài. Xin Ngài khiến những kẻ bắt họ lưu đày có lòng thương xót họ, 51. bởi vì họ là dân của Ngài, là cơ nghiệp mà Ngài đã đem ra khỏi Ai Cập, tức là khỏi lò luyện sắt. 52. Nguyện mắt của Ngài đoái xem đầy tớ Ngài và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Xin lắng tai nghe lời cầu nguyện và nài xin của họ mỗi khi họ kêu cầu cùng Ngài. 53. Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va! Ngài đã biệt riêng Y-sơ-ra-ên ra khỏi mọi dân tộc trên mặt đất để họ làm cơ nghiệp của Ngài, như Ngài đã tuyên phán qua Môi-se là đầy tớ của Ngài, khi Ngài đem tổ phụ của chúng con ra khỏi Ai Cập.”
  14. Khi Sa-lô-môn đã dâng lên Đức Giê-hô-va những lời khẩn nguyện và nài xin nầy xong, thì vua đứng dậy trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi vua đã quỳ và giơ tay lên trời. 55. Vua đứng và lớn tiếng chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng:
  15. “Tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài được an nghỉ như mọi lời Ngài đã phán! Trong tất cả các lời hứa tốt lành mà Ngài đã phán qua Môi-se, đầy tớ của Ngài, thì không có lời nào không ứng nghiệm. 57. Cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta ở với chúng ta như Ngài đã ở với tổ phụ của chúng ta. Cầu xin Ngài đừng lìa, đừng bỏ chúng ta. 58. Cầu xin Ngài giục lòng chúng ta hướng về Ngài, để chúng ta đi trong tất cả đường lối của Ngài, tuân giữ những điều răn, luật pháp và mạng lệnh của Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng ta. 59. Nguyện những lời ta đã nài xin trước mặt Đức Giê-hô-va sẽ ở bên cạnh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta, ngày và đêm, để bảo vệ quyền lợi của đầy tớ Ngài và của dân Y-sơ-ra-ên Ngài, tùy theo nhu cầu mỗi ngày, 60. để muôn dân trên đất biết rằng chính Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chứ không có ai khác. 61. Vì vậy, các ngươi hãy hết lòng trung thành với Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của chúng ta, bước đi trong luật pháp, và tuân giữ những điều răn của Ngài như các ngươi đã làm ngày nay.”
  16. Sau đó, vua và toàn dân Y-sơ-ra-ên đang ở cùng vua dâng các sinh tế trước mặt Đức Giê-hô-va. 63. Sa-lô-môn đã dâng sinh tế lên Đức Giê-hô-va gồm hai mươi hai ngàn con bò đực và một trăm hai mươi ngàn con chiên làm tế lễ bình an. Như vậy, vua và toàn thể Y-sơ-ra-ên đã cung hiến đền thờ cho Đức Giê-hô-va. 64. Trong ngày đó, vua biệt riêng ra thánh phần giữa của hành lang ở trước đền thờ của Đức Giê-hô-va để làm nơi dâng các tế lễ thiêu, tế lễ chay, và mỡ của tế lễ bình an, bởi vì bàn thờ bằng đồng để trước mặt Đức Giê-hô-va quá nhỏ, không thể chứa các tế lễ thiêu, tế lễ chay, và mỡ của tế lễ bình an.
  17. Vào lúc đó, Sa-lô-môn và toàn thể Y-sơ-ra-ên ở bên vua cùng dự lễ trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta, trong bảy ngày, rồi kéo dài thêm bảy ngày nữa, cộng tất cả là mười bốn ngày. Thật là một hội chúng đông đảo, từ cửa ải Ha-mát cho đến sông của Ai Cập. 66. Vào ngày thứ tám, vua cho dân chúng ra về. Họ chúc phước cho vua rồi trở về trại của mình, lòng vui mừng phấn khởi về mọi điều tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, đầy tớ của Ngài, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.

 

9

  1. Sau đó, Sa-lô-môn triệu tập các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, tất cả các trưởng chi tộc và các trưởng gia tộc trong Y-sơ-ra-ên đến với Vua Sa-lô-môn tại Giê-ru-sa-lem, để rước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ thành Đa-vít, tức là Si-ôn. 2. Tất cả những người nam của Y-sơ-ra-ên đã tập hợp lại với Vua Sa-lô-môn vào tháng Ê-tha-nim, là tháng bảy, để dự lễ. 3. Khi tất cả các trưởng lão đến, các tư tế khiêng Rương ra đi. 4. Các tư tế và những người Lê-vi khiêng Rương của Đức Giê-hô-va, Lều Hội Kiến và tất cả các vật dụng thánh trong Lều. Các tư tế và người Lê-vi đã đem những vật đó. 5. Vua Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, tức những người đã tụ họp trước mặt vua, hiệp với ông đến trước Rương. Họ dâng hiến chiên và bò, không thể kể, và cũng không thể đếm được vì quá nhiều. 6. Sau đó các tư tế đem Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào chỗ của nó, vào nơi trong cùng của đền thờ, tức là Nơi Chí Thánh, dưới những cánh của các chê-ru-bim. 7. Các chê-ru-bim dang cánh ra trên Rương, các chê-ru-bim che trên Rương và các đòn khiêng. 8. Các đòn khiêng khá dài. Đầu của đòn khiêng có thể nhìn thấy từ Nơi Thánh ngay trước Nơi Chí Thánh, nhưng ai đứng ở ngoài thì không thấy được. Các đòn khiêng vẫn còn ở đó cho đến ngày nay. 9. Trong Rương không có gì ngoài hai bảng đá mà Môi-se đã đặt vào tại Hô-rếp, là nơi Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập.
  2. Sau đó, khi các tư tế ra khỏi Nơi Thánh, có một đám mây đến bao phủ đền thờ của Đức Giê-hô-va, 11. đến nỗi các tư tế không thể đứng để tiếp tục hành lễ vì đám mây, và vì vinh quang của Đức Giê-hô-va tràn ngập đền thờ của Đức Giê-hô-va.
  3. Sau đó, Sa-lô-môn thưa: “Đức Giê-hô-va đã phán rằng Ngài ngự trong đám mây dày đặc. 13. Nhưng con đã xây cho Ngài một đền thờ để tôn vinh Ngài. Một nơi để Ngài ngự đời đời.”
  4. Rồi vua quay mặt lại để chúc phước cho hội chúng Y-sơ-ra-ên, trong khi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đứng. 15. Ông nói, “Chúc tụng Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng đã dùng tay của Ngài làm trọn mọi điều miệng Ngài đã hứa với Ða-vít, là cha của tôi rằng: 16. ‘Từ ngày Ta đem dân Y-sơ-ra-ên Ta ra khỏi Ai Cập, Ta đã không chọn thành nào trong tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên để xây một đền thờ, để danh Ta ngự tại đó. Nhưng Ta đã chọn Ða-vít để lãnh đạo dân của Ta là Y-sơ-ra-ên.’ 17. Lúc đó trong lòng Ða-vít, cha của tôi, đã có ý định xây một đền thờ cho danh của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, 18. nhưng Đức Giê-hô-va đã phán với Ða-vít, cha của tôi, rằng: ‘Lòng ngươi muốn xây một đền thờ cho danh của Ta, đó là điều tốt đẹp từ lòng của ngươi. 19. Tuy nhiên, ngươi sẽ không xây đền thờ, nhưng con trai của ngươi, là kẻ do ngươi sinh ra, sẽ xây đền thờ cho danh của Ta.’  20. Đức Giê-hô-va đã thực hiện những lời Ngài đã phán. Tôi đã được nhấc lên để thay vào chỗ của Ða-vít, cha của tôi, và được ngồi trên ngôi của Y-sơ-ra-ên như Đức Giê-hô-va đã hứa; và tôi đã xây một đền thờ cho danh của Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 21. Tôi đã sắp đặt một nơi để đặt Rương Giao Ước, trong đó có giao ước của Đức Giê-hô-va, mà Ngài đã lập với tổ phụ của chúng ta, khi Ngài đem họ ra khỏi xứ Ai Cập.”
  5. Sau đó, Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ Đức Giê-hô-va, trước sự hiện diện của toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, giơ tay lên trời, 23. rồi ông cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Không có thần nào trên trời cao kia hoặc dưới đất thấp nầy giống như Ngài. Ngài đã giữ giao ước và lòng nhân từ với các đầy tớ Ngài, là những người bước đi trước mặt Ngài với cả tấm lòng. 24. Ngài đã giữ lời Ngài đã hứa với đầy tớ của Ngài là Đa-vít, cha của con. Điều chính miệng Ngài phán hứa thì tay Ngài đã thực hiện như đã có ngày nay. 25. Vì vậy bây giờ, lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin giữ lời Ngài đã phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con, rằng: ‘Nếu con cháu của ngươi cẩn thận trong đường lối của mình, bước đi trước mặt Ta như ngươi đã bước đi, thì trước mặt Ta, ngươi sẽ không hề thiếu người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên.’ 26. Lạy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin Ngài làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con.
  6. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ cư ngụ trên đất nầy sao? Kìa, các tầng trời, ngay cả trời của các tầng trời cũng không thể chứa được Ngài, huống chi đền thờ nầy mà con đã xây cất! 28. Dầu vậy, lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của con! Xin đoái đến lời cầu nguyện và cầu xin của đầy tớ Ngài. Xin đoái nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện mà hôm nay đầy tớ Ngài đang dâng lên trước mặt Ngài. 29. Nguyện mắt của Ngài ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là nơi mà Ngài đã phán rằng: ‘Danh Ta sẽ ngự tại đó,’ để nghe lời khẩn nguyện của đầy tớ Ngài hướng về nơi nầy mà kêu cầu. 30. Xin Ngài lắng nghe lời khẩn cầu mà đầy tớ Ngài và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài hướng về nơi nầy cầu nguyện. Từ nơi ngự của Ngài trên các tầng trời, xin Ngài đoái nghe; và khi Ngài nghe thì xin tha thứ cho.
  7. Nếu có ai phạm tội với người lân cận mình và bị buộc phải thề, nên người ấy đến thề trước bàn thờ của Ngài trong đền thờ nầy, 32. thì từ trên trời xin Ngài lắng nghe, hành động và phân xử cho các đầy tớ của Ngài. Xin kết án kẻ có tội, khiến nó phải chịu lấy hậu quả của tội lỗi mình, và xưng công chính cho người công chính bằng cách ban thưởng theo sự công chính của người ấy.
  8. Khi dân của Ngài, là Y-sơ-ra-ên, bị kẻ thù đánh bại vì phạm tội với Ngài, nếu họ trở lại với Ngài, xưng nhận danh của Ngài và cầu nguyện nài xin với Ngài trong đền thờ nầy, 34. thì từ trên trời xin Ngài lắng nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài và khiến họ trở về đất mà Ngài đã ban cho tổ phụ của họ.
  9. Khi các tầng trời bị đóng lại, không có mưa, bởi vì họ đã phạm tội với Ngài, nếu họ hướng về nơi nầy mà cầu nguyện, xưng nhận danh của Ngài, lìa bỏ tội lỗi của mình, vì Ngài đã sửa phạt họ, 36. thì từ trên trời xin Ngài lắng nghe, tha tội cho những đầy tớ của Ngài, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Xin Ngài chỉ cho họ con đường chính đáng mà họ phải đi, và cho mưa rơi trên đất mà Ngài đã ban cho dân của Ngài làm sản nghiệp.
  10. Khi trong xứ có đói kém, dịch bệnh, hoặc hạn hán, nấm mốc, cào cào, châu chấu, hoặc có quân thù vây hãm các cổng thành của xứ, hoặc có bất cứ tai họa, bệnh tật gì; 38. nếu có một người, hoặc toàn dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, trong lòng nhận biết tai họa của mình, và giơ tay ra hướng về đền thờ nầy mà cầu nguyện, khẩn xin điều gì, 39. thì xin Ngài ở trên trời, là nơi Ngài ngự, lắng nghe, tha thứ, hành động và báo trả cho mỗi người tùy theo đường lối của họ, và theo những gì Ngài biết trong lòng của họ, bởi vì chỉ một mình Ngài biết rõ lòng người; 40. để khiến họ kính sợ Ngài trọn đời, khi họ sống trên đất mà Ngài đã ban cho tổ phụ của họ.
  11. Hơn nữa, đối với người ngoại quốc, là người không thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, nhưng vì nghe danh của Ngài nên từ xứ xa đến 42. bởi vì họ đã nghe về uy danh của Ngài, về cánh tay quyền năng và cánh tay giơ thẳng ra của Ngài. Khi họ đến cầu nguyện trong đền thờ nầy, 43. thì xin Ngài ở trên trời, là nơi Ngài ngự, lắng nghe và thực hiện cho họ tất cả những điều họ cầu xin Ngài, để tất cả các dân tộc trên đất nhận biết danh của Ngài và kính sợ Ngài giống như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và để người ta biết rằng danh Ngài được kêu cầu nơi đền thờ mà con đã xây cất.
  12. Khi dân của Ngài ra trận chiến đấu với quân thù ở bất cứ nơi nào Ngài sai họ đi, nếu họ cầu khẩn Đức Giê-hô-va, hướng về thành Ngài đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Ngài, 45. thì từ trên trời xin Ngài lắng nghe những lời cầu nguyện và nài xin của họ mà thực thi công lý cho họ.
  13. Khi họ phạm tội với Ngài — bởi vì không có người nào mà không phạm tội — khiến Ngài nổi giận với họ và phó họ cho kẻ thù để họ bị lưu đày trong xứ của kẻ thù, hoặc xa hay gần. 47. Nếu trong đất lưu đày, họ hồi tâm, ăn năn và nài xin với Ngài rằng: ‘Chúng con đã phạm tội, đã hành động một cách bướng bỉnh và gian ác;’ 48. nếu trong xứ của kẻ thù, nơi họ bị lưu đày, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Ngài, cầu nguyện với Ngài, hướng về xứ mà Ngài đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Ngài đã chọn, và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh của Ngài, 49. thì xin Ngài ở trên trời, là nơi Ngài ngự, lắng nghe lời cầu nguyện nài xin của họ và thực thi công lý cho họ. 50. Xin Ngài tha thứ cho dân của Ngài, là dân đã phạm tội với Ngài, và tha thứ tất cả sự vi phạm mà họ đã phạm với Ngài. Xin Ngài khiến những kẻ bắt họ lưu đày có lòng thương xót họ, 51. bởi vì họ là dân của Ngài, là cơ nghiệp mà Ngài đã đem ra khỏi Ai Cập, tức là khỏi lò luyện sắt. 52. Nguyện mắt của Ngài đoái xem đầy tớ Ngài và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Xin lắng tai nghe lời cầu nguyện và nài xin của họ mỗi khi họ kêu cầu cùng Ngài. 53. Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va! Ngài đã biệt riêng Y-sơ-ra-ên ra khỏi mọi dân tộc trên mặt đất để họ làm cơ nghiệp của Ngài, như Ngài đã tuyên phán qua Môi-se là đầy tớ của Ngài, khi Ngài đem tổ phụ của chúng con ra khỏi Ai Cập.”
  14. Khi Sa-lô-môn đã dâng lên Đức Giê-hô-va những lời khẩn nguyện và nài xin nầy xong, thì vua đứng dậy trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi vua đã quỳ và giơ tay lên trời. 55. Vua đứng và lớn tiếng chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng:
  15. “Tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài được an nghỉ như mọi lời Ngài đã phán! Trong tất cả các lời hứa tốt lành mà Ngài đã phán qua Môi-se, đầy tớ của Ngài, thì không có lời nào không ứng nghiệm. 57. Cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta ở với chúng ta như Ngài đã ở với tổ phụ của chúng ta. Cầu xin Ngài đừng lìa, đừng bỏ chúng ta. 58. Cầu xin Ngài giục lòng chúng ta hướng về Ngài, để chúng ta đi trong tất cả đường lối của Ngài, tuân giữ những điều răn, luật pháp và mạng lệnh của Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng ta. 59. Nguyện những lời ta đã nài xin trước mặt Đức Giê-hô-va sẽ ở bên cạnh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta, ngày và đêm, để bảo vệ quyền lợi của đầy tớ Ngài và của dân Y-sơ-ra-ên Ngài, tùy theo nhu cầu mỗi ngày, 60. để muôn dân trên đất biết rằng chính Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chứ không có ai khác. 61. Vì vậy, các ngươi hãy hết lòng trung thành với Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của chúng ta, bước đi trong luật pháp, và tuân giữ những điều răn của Ngài như các ngươi đã làm ngày nay.”
  16. Sau đó, vua và toàn dân Y-sơ-ra-ên đang ở cùng vua dâng các sinh tế trước mặt Đức Giê-hô-va. 63. Sa-lô-môn đã dâng sinh tế lên Đức Giê-hô-va gồm hai mươi hai ngàn con bò đực và một trăm hai mươi ngàn con chiên làm tế lễ bình an. Như vậy, vua và toàn thể Y-sơ-ra-ên đã cung hiến đền thờ cho Đức Giê-hô-va. 64. Trong ngày đó, vua biệt riêng ra thánh phần giữa của hành lang ở trước đền thờ của Đức Giê-hô-va để làm nơi dâng các tế lễ thiêu, tế lễ chay, và mỡ của tế lễ bình an, bởi vì bàn thờ bằng đồng để trước mặt Đức Giê-hô-va quá nhỏ, không thể chứa các tế lễ thiêu, tế lễ chay, và mỡ của tế lễ bình an.
  17. Vào lúc đó, Sa-lô-môn và toàn thể Y-sơ-ra-ên ở bên vua cùng dự lễ trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta, trong bảy ngày, rồi kéo dài thêm bảy ngày nữa, cộng tất cả là mười bốn ngày. Thật là một hội chúng đông đảo, từ cửa ải Ha-mát cho đến sông của Ai Cập. 66. Vào ngày thứ tám, vua cho dân chúng ra về. Họ chúc phước cho vua rồi trở về trại của mình, lòng vui mừng phấn khởi về mọi điều tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, đầy tớ của Ngài, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.

 

10

  1. Khi nữ hoàng của Sê-ba nghe nói về danh tiếng của Sa-lô-môn và về danh của Đức Giê-hô-va, bà đã đến để thử Sa-lô-môn bằng những câu hỏi thật khó. 2. Bà đã đến Giê-ru-sa-lem với một đoàn tùy tùng rất đông, cùng với những con lạc đà chở hương liệu, rất nhiều vàng và đá quý. Khi bà gặp Vua Sa-lô-môn, bà đã nói với vua tất cả những gì trong lòng của bà. 3. Sa-lô-môn đã giải đáp tất cả các câu hỏi của bà. Không có điều gì quá bí ẩn mà vua không giải đáp cho bà. 4. Khi nữ hoàng Sê-ba thấy tất cả sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện vua đã xây cất, 5. những món ăn trên bàn của vua, chỗ ngồi của các quần thần, cung cách làm việc của các cận thần và trang phục của họ, những người dâng rượu cho vua, cùng các tế lễ thiêu mà vua đã dâng lên trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, thì bà mất vía. 6. Bà nói với vua: “Những gì tôi đã nghe tại nước của tôi về công việc của ngài và sự khôn ngoan của ngài đều là thật. 7. Nhưng tôi đã không tin những lời đó cho đến khi tôi đến đây và trông thấy tận mắt. Những điều tôi nghe chỉ là phân nửa. Sự khôn ngoan và sự giàu sang của ngài thật vượt quá những gì tôi đã nghe. 8. Thật phước hạnh cho những người của ngài, phước hạnh cho các triều thần của ngài, những người thường xuyên chầu chực trước mặt ngài và được nghe sự khôn ngoan của ngài! 9. Chúc tụng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngài, là Đấng đã vui lòng đặt ngài trên ngôi của Y-sơ-ra-ên! Bởi vì Đức Giê-hô-va yêu thương Y-sơ-ra-ên đời đời cho nên đã lập ngài làm vua để thực thi công lý và sự công chính.” 10. Bà đã tặng cho nhà vua một trăm hai mươi ta-lâng vàng, rất nhiều hương liệu, và đá quý. Chưa bao giờ có ai đem tặng số hương liệu nhiều như nữ hoàng của Sê-ba đã tặng cho Vua Sa-lô-môn.
  2. Đoàn tàu của Hi-ram đã đem vàng từ Ô-phia về. Họ cũng đem từ Ô-phia về rất nhiều gỗ đàn hương và ngọc quý. 12. Vua đã dùng những gỗ đàn hương đó làm những trụ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va và trong hoàng cung, làm những đàn lia và hạc cầm cho các nhạc sĩ. Gỗ đàn hương không còn được chở đến nữa, và cũng không còn thấy nữa cho đến ngày nay.
  3. Vua Sa-lô-môn đã tặng cho nữ hoàng của Sê-ba tất cả những gì bà thích và bà yêu cầu. Thêm vào đó, Vua Sa-lô-môn đã tặng cho bà theo sự hào phóng của hoàng gia. Sau đó, bà và đoàn tuỳ tùng của bà lên đường trở về nước của bà.
  4. Số vàng mà Vua Sa-lô-môn thâu nhận hàng năm cân nặng đến sáu trăm bảy mươi sáu ta-lâng, 15. không kể số thu được từ các thương gia, từ những người buôn bán, và từ tất cả các vua Ả-rập và các quan trưởng ở các tỉnh đem nộp. 16. Vua Sa-lô-môn làm hai trăm chiếc thuẫn lớn bọc vàng dát mỏng. Mỗi chiếc dùng sáu trăm siếc-lơ vàng. 17. Vua cũng cho làm ba trăm chiếc thuẫn nhỏ hơn bọc vàng dát mỏng. Mỗi chiếc dùng ba min vàng. Vua cho đặt những thuẫn đó trong cung Rừng Li-ban. 18. Vua cũng cho làm một chiếc ngai lớn bằng ngà, bọc vàng ròng. 19. Chiếc ngai có sáu cấp. Phần cao nhất của ngai là chỗ dựa lưng hình tròn. Hai bên chỗ ngồi có chỗ gác tay, bên cạnh hai chỗ gác tay là hai con sư tử. 20. Có mười hai con sư tử khác, mỗi con đứng ở đầu bên nầy và đầu bên kia của sáu bậc cấp. Không có vương quốc nào làm ngai giống như vậy. 21. Tất cả các vật dụng dùng để uống của Vua Sa-lô-môn đều bằng vàng, và tất cả vật dụng trong cung Rừng Li-ban cũng đều bằng vàng ròng. Không có vật dụng gì làm bằng bạc, vì trong thời Vua Sa-lô-môn, bạc không có giá trị gì cả. 22. Cứ mỗi ba năm, đoàn tàu đi Ta-rê-si của vua vượt biển cùng với đoàn tàu của Hi-ram đem về vàng, bạc, ngà voi, khỉ và công.
  5. Vì vậy, Vua Sa-lô-môn trỗi hơn tất cả các vua trên đất về sự giàu có và khôn ngoan. 24. Khắp nơi trên đất người ta mong được gặp Sa-lô-môn để nghe sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong lòng của vua. 25. Người nào đến diện kiến phải đem theo lễ vật là những vật dụng bằng bạc, bằng vàng, áo khoác, binh giáp, hương liệu, ngựa và la – theo tỷ lệ được ấn định hằng năm.
  6. Sa-lô-môn cũng thâu thập các xe chiến mã và ngựa. Ông có một ngàn bốn trăm xe chiến mã và mười hai ngàn ngựa. Ông cho chúng ở trong các thành của các đơn vị sử dụng các xe chiến mã, trú đóng gần bên vua tại Giê-ru-sa-lem. 27. Tại Giê-ru-sa-lem, vua đã làm cho bạc trở nên tầm thường như đá, và gỗ bá hương nhiều như cây sung mọc trong thung lũng. 28. Sa-lô-môn cho nhập ngựa từ Ai Cập và Cơ-vê về. Những thương gia của vua đến tận Cơ-vê trả giá để mua. 29. Một xe chiến mã mua từ Ai Cập có giá sáu trăm siếc-lơ bạc, còn một con ngựa trị giá một trăm năm mươi siếc-lơ. Sau đó các thương gia của hoàng gia đem bán lại cho các vua của dân Hít-ti và các vua của dân A-ram.

 

11

  1. Bên cạnh con gái của Pha-ra-ôn, Vua Sa-lô-môn còn yêu mến nhiều phụ nữ ngoại quốc khác, là những phụ nữ Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Si-đôn và Hê-tít. 2. Họ thuộc những dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Các ngươi đừng kết hiệp với chúng, cũng đừng để chúng đến với các ngươi, bởi vì chắc chắn chúng sẽ hướng tấm lòng của các ngươi theo những thần của chúng.” Nhưng Sa-lô-môn vẫn gắn bó với những phụ nữ nầy. 3. Ông có bảy trăm người vợ là các công chúa, và ba trăm cung phi. Họ đã làm cho lòng của ông thay đổi.
  2. Thật vậy, khi Sa-lô-môn đã già, những bà vợ của ông đã quyến rũ ông theo những thần khác. Tấm lòng của ông không còn trọn thành với Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông, như tấm lòng của Đa-vít, là cha của ông. 5. Sa-lô-môn đã đi theo Át-tạt-tê là nữ thần của người Si-đôn, và Minh-côm là một thần đáng kinh tởm của người Am-môn. 6. Sa-lô-môn đã làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va và đã không trọn thành theo Đức Giê-hô-va như Đa-vít, cha của ông. 7. Sa-lô-môn đã xây một nơi cao trên núi đối diện với Giê-ru-sa-lem cho Kê-mốt là thần đáng kinh tởm của người Mô-áp, và cho Mo-lóc là thần đáng kinh tởm của người Am-môn. 8. Vua cũng làm như vậy cho tất cả những bà vợ ngoại quốc của mình để họ xông hương và dâng sinh tế cho những thần của họ.
  3. Đức Giê-hô-va nổi giận cùng Sa-lô-môn bởi vì lòng của ông đã lìa bỏ Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã hai lần hiện ra với ông, 10. và đã truyền cho ông về việc nầy, tức là đừng theo những thần khác, nhưng ông đã không tuân giữ điều mà Đức Giê-hô-va đã truyền. 11. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã phán cùng Sa-lô-môn: “Bởi vì ngươi đã làm như vậy, ngươi đã không tuân giữ giao ước và luật pháp mà Ta đã truyền cho ngươi, cho nên Ta chắc chắn sẽ tách vương quốc của ngươi ra, rồi ban nó cho đầy tớ của ngươi. 12. Tuy nhiên, vì Đa-vít, cha của ngươi, Ta sẽ không làm điều đó trong đời của ngươi. Nhưng Ta sẽ tách vương quốc khỏi tay con trai của ngươi. 13. Dầu vậy, Ta sẽ không tách cả vương quốc ra khỏi nó; nhưng vì cớ Đa-vít, là đầy tớ của Ta, và vì Giê-ru-sa-lem mà Ta đã chọn, Ta sẽ để lại một chi tộc cho con trai của ngươi.”
  4. Đức Giê-hô-va khiến một người nổi lên chống lại Sa-lô-môn là Ha-đát, người Ê-đôm. Ông thuộc về hoàng tộc của Ê-đôm. 15. Lúc Đa-vít ở tại Ê-đôm, Giô-áp, tướng chỉ huy của quân đội, đã tiến lên giết tất cả những người nam tại Ê-đôm, rồi chôn đi. 16. Giô-áp và toàn thể Y-sơ-ra-ên đã ở lại đó sáu tháng để giết tất cả những người nam tại Ê-đôm. 17. Lúc đó, Ha-đát còn là một thiếu niên, chàng đã cùng với một số người Ê-đôm, là những đầy tớ của cha mình, đã chạy trốn sang Ai Cập. 18. Họ đã đi từ Ma-đi-an đến Pha-ran. Họ đã đem theo một số người của họ ra khỏi Pha-ran, họ đến Ai Cập. Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, đã cấp cho họ nhà ở và lương thực. Ông cũng cấp cho họ một phần đất. 19. Ha-đát rất được lòng Pha-ra-ôn cho nên vua đã gả em vợ cho ông, tức là em gái của Hoàng hậu Tác-bê-ne. 20. Em gái của Tác-bê-ne sinh cho Ha-đát một con trai tên là Ghê-nu-bát, là đứa con mà Tác-bê-ne đã dứt sữa trong cung điện của Pha-ra-ôn. Ghê-nu-bát sống trong cung điện của Pha-ra-ôn, và ở giữa các con trai của Pha-ra-ôn. 21. Khi Ha-đát ở Ai Cập nghe tin Đa-vít đã an giấc cùng các tổ phụ của mình, và tướng chỉ huy quân đội là Giô-áp cũng đã chết, thì Ha-đát nói với Pha-ra-ôn rằng: “Xin cho phép tôi khởi hành để tôi trở về đất nước của tôi.” 22. Pha-ra-ôn hỏi ông: “Ngươi ở với ta có thiếu gì không mà ngươi thình lình muốn tìm cách về xứ của ngươi?” Ha-đát trả lời: “Không thiếu gì cả, nhưng cho phép tôi được ra đi.”
  5. Đức Chúa Trời khiến một người khác nổi lên chống lại ông là Rê-xôn, con trai của Ê-li-gia-đa, là người đã trốn khỏi chủ của mình là Ha-đa-rê-xe, vua của Xô-ba. 24. Hắn đã chiêu tập một số người quanh mình, rồi trở thành thủ lĩnh một băng cướp. Khi Đa-vít đánh diệt chúng, thì chúng chạy đến Đa-mách, ở tại đó, rồi cai trị Đa-mách. 25. Trọn đời của Sa-lô-môn, bên cạnh sự quấy phá của Ha-đát, hắn đã chống lại Y-sơ-ra-ên. Khi hắn cai trị A-ram, hắn càng thù địch với Y-sơ-ra-ên.
  6. Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là một người Ép-ra-im tại Xê-rê-đa. Ông là một triều thần của Sa-lô-môn. Mẹ của ông là một góa phụ tên là Xê-ru-ha. Ông đã nổi dậy và đưa tay chống lại vua. 27. Đây là lý do tại sao ông nổi lên chống lại vua. Sa-lô-môn đã xây dựng Mi-lô, và sửa lại những chỗ hư hỏng của thành Đa-vít vốn thuộc về cha của vua. 28. Khi nhìn thấy Giê-rô-bô-am là một người trẻ, mạnh mẽ, có khả năng, biết cách làm việc, Sa-lô-môn đã lập ông làm người chỉ huy lực lượng lao động cho nhà Giô-sép.
  7. Một hôm, Giê-rô-bô-am trên đường từ Giê-ru-sa-lem đi ra, ông gặp A-hi-gia, một tiên tri tại Si-lô, đang mặc một chiếc áo choàng mới. Khi chỉ có hai người ở ngoài đồng, 30. A-hi-gia đã nắm chiếc áo mới mà mình đang mặc, xé ra làm mười hai mảnh. 31. Rồi ông nói với Giê-rô-bô-am: “Hãy lấy mười mảnh về phần của ông, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán: ‘Nầy, Ta sẽ lấy vương quốc ra khỏi tay của Sa-lô-môn, rồi ban cho ngươi mười chi tộc. 32. Nhưng vì cớ đầy tớ của Ta là Đa-vít, và vì Giê-ru-sa-lem là thành mà Ta đã chọn giữa các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, cho nên sẽ còn lại một chi tộc cho nó. 33. Bởi vì chúng đã lìa bỏ Ta mà thờ lạy Át-tạt-tê là nữ thần của người Si-đôn, Kê-mốt thần của người Mô-áp, và Minh-côm thần của người Am-môn. Chúng không bước đi theo những đường lối của Ta để làm điều ngay thẳng trong mắt của Ta, và nó cũng không tuân giữ những luật lệ và điều răn của Ta như Đa-vít, là cha của nó. 34. Tuy nhiên, Ta sẽ không truất cả vương quốc khỏi tay của nó nhưng sẽ để cho nó làm vua trọn đời, vì cớ Đa-vít, là đầy tớ mà Ta đã chọn, bởi vì người đã giữ các điều răn và luật lệ của Ta. 35. Nhưng Ta sẽ lấy vương quốc khỏi tay con trai của nó, và trao cho ngươi mười chi tộc. 36. Ta sẽ dành lại một chi tộc cho con trai của nó, để cho Đa-vít, là đầy tớ của Ta, vẫn còn một ngọn đèn trước mặt Ta tại Giê-ru-sa-lem, là thành mà Ta đã chọn để đặt danh Ta tại đó. 37. Ta sẽ lấy ngươi và đặt ngươi trị vì trên tất cả như lòng ngươi ao ước. Ngươi sẽ làm vua trên Y-sơ-ra-ên. 38. Nếu ngươi nghe theo mọi điều Ta truyền cho ngươi, đi trong các đường lối của Ta, làm điều công chính trước mắt Ta bằng cách vâng giữ những luật lệ và điều răn của Ta, như Đa-vít, tôi tớ Ta đã làm, thì Ta sẽ ở với ngươi, Ta sẽ lập cho ngươi một triều đại vững chắc như Ta đã lập cho Đa-vít, và Ta sẽ ban Y-sơ-ra-ên cho ngươi. 39. Ta sẽ trừng phạt con cháu của Đa-vít vì điều nầy, nhưng Ta sẽ không trừng phạt chúng nó mãi mãi.’”
  8. Vì vậy, Sa-lô-môn đã tìm cách giết Giê-rô-bô-am, nhưng Giê-rô-bô-am đã đứng dậy trốn qua Ai Cập, đến với Si-sắc, vua của Ai Cập, rồi tại Ai Cập cho đến khi Sa-lô-môn băng hà.
  9. Những công việc khác của Sa-lô-môn, tất cả những gì vua đã thực hiện, và sự khôn ngoan của vua không phải đã được chép trong sử ký của Sa-lô-môn hay sao? 42. Sa-lô-môn đã trị vì trên toàn thể Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem trong bốn mươi năm. 43. Sa-lô-môn an giấc cùng các tổ phụ của mình và được an táng trong thành Đa-vít, là cha của ông. Rô-bô-am, con trai của ông, kế vị của ông.

 

12

  1. Rô-bô-am đến Si-chem bởi vì toàn thể Y-sơ-ra-ên đã đến Si-chem để lập ông làm vua.
  2. Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, đang ở tại Ai Cập, nghe tin nầy – bởi vì Giê-rô-bô-am đã chạy trốn Vua Sa-lô-môn, hiện đang ở tại Ai Cập. 3. Người ta đã sai mời ông trở về. Giê-rô-bô-am và toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đến nói với Rô-bô-am rằng: 4. “Thân phụ của ngài đã đặt trên chúng tôi một cái ách nặng nề. Vì vậy bây giờ, xin ngài giảm nhẹ khổ dịch và ách nặng nề mà thân phụ của ngài đã đặt trên chúng tôi thì chúng tôi sẽ phục vụ ngài.” 5. Vua trả lời cho họ: “Hãy đi về nhưng ba ngày nữa các ngươi hãy trở lại đây gặp ta.” Dân chúng đã đi về.
  3. Vua Rô-bô-am đã tham khảo với các trưởng lão đã từng phục vụ Sa-lô-môn, cha của ông, lúc người còn sống. Vua hỏi: “Các ngươi góp ý để ta trả lời với dân nầy như thế nào?” 7. Họ tâu với vua: “Nếu ngày nay bệ hạ làm đầy tớ cho dân nầy, phục vụ họ, trả lời họ, và dùng những lời tốt đẹp nói với họ, thì họ sẽ làm tôi cho bệ hạ mãi mãi.”
  4. Nhưng vua đã từ bỏ lời khuyên của các trưởng lão đã trao cho ông, rồi hỏi ý kiến của những người trẻ, là những người đã lớn lên đồng thời với vua và đang phục vụ vua. 9. Vua nói với họ: “Các ngươi góp ý phải làm gì để chúng ta trả lời với dân nầy, là những kẻ đã nói với ta rằng: ‘Xin làm nhẹ bớt cái ách mà cha của ngài đã đặt trên chúng tôi’?” 10. Những người trẻ đã lớn lên đồng thời với vua nói với vua rằng: “Xin vua hãy nói với dân nầy, là những người đã nói với vua: ‘Thân phụ của ngài đã bắt chúng tôi mang một cái ách nặng nề, bây giờ xin ngài làm cho cái ách của chúng tôi nhẹ bớt’ thì bệ hạ hãy nói với họ rằng: ‘Ngón tay út của ta còn lớn hơn cái hông của cha ta. 11. Cha ta đã đặt một cái ách nặng nề cho các ngươi, ta sẽ làm cho cái ách của các ngươi nặng nề hơn. Cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng bọ cạp’”
  5. Đến ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am đã cùng tất cả dân chúng đến gặp Vua Rô-bô-am như vua đã hướng dẫn rằng: “Ba ngày nữa các ngươi hãy trở lại đây gặp ta.” 13. Vua đã nói với dân chúng một cách gay gắt, từ bỏ lời khuyên mà các trưởng lão đã trao cho ông. 14. Vua đã nói với họ theo ý kiến của những người trẻ rằng: “Cha của ta đã đặt trên các ngươi một ách nặng nề, ta sẽ làm cho ách của các ngươi càng nặng nề hơn. Cha của ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng bọ cạp.” 15. Như vậy, vua đã không nghe lời thỉnh cầu của dân chúng, bởi vì những việc đó do Đức Giê-hô-va cho phép xảy ra để làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán bởi A-hi-gia, người Si-lô, về Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát.
  6. Khi thấy vua không chịu nghe lời thỉnh cầu của họ thì toàn dân Y-sơ-ra-ên đã nói với vua: “Chúng ta có phần gì cùng Đa-vít? Chúng ta cũng không có phần gì với con trai của Gie-sê. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy trở về trại của mình. Hỡi Đa-vít! Từ nay hãy coi chừng nhà của ngươi.” Rồi người Y-sơ-ra-ên đã trở về những lều trại của mình. 17. Tuy nhiên, những người Y-sơ-ra-ên đang cư ngụ trong các thành của Giu-đa thì Rô-bô-am cai trị họ.
  7. Khi Vua Rô-bô-am sai A-đô-ram người phụ trách lực lượng lao dịch đến, thì toàn thể Y-sơ-ra-ên đã dùng đá ném vào ông và ông đã chết. Do đó, Vua Rô-bô-am đã vội vàng lên xe chạy trốn về Giê-ru-sa-lem. 19. Từ đó, người Y-sơ-ra-ên đã chống lại nhà Đa-vít cho đến ngày nay.
  8. Sau đó, khi dân Y-sơ-ra-ên nghe rằng Giê-rô-bô-am đã trở về, họ sai người mời ông đến với hội chúng, và họ đã lập ông làm vua trên Y-sơ-ra-ên. Không còn ai đi theo nhà Ða-vít, ngoại trừ chi tộc Giu-đa.
  9. Khi Rô-bô-am về đến Giê-ru-sa-lem, ông đã triệu tập toàn thể nhà Giu-đa và chi tộc Bên-gia-min, được một trăm tám mươi ngàn người tuyển chọn, là những chiến binh, để đánh nhà Y-sơ-ra-ên, để khôi phục vương quốc cho Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn. 22. Nhưng có lời của Đức Chúa Trời đến với Sê-ma-gia, là người của Đức Chúa Trời, rằng: 23. “Hãy nói với Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn, vua của Giu-đa, cùng toàn thể nhà Giu-đa, Bên-gia-min và dân chúng còn lại rằng. 24. Đây là điều Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi không được tiến lên cũng không được đánh những anh em của mình, là dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi người hãy trở về nhà của mình, bởi vì điều nầy do Ta cho phép xảy đến.’” Vì vậy, họ đã nghe theo lời của Đức Giê-hô-va, và đã trở về theo như lời của Đức Giê-hô-va.
  10. Giê-rô-bô-am đã xây dựng Si-chem trong vùng đồi núi Ép-ra-im, rồi ở tại đó. Sau đó, ông rời khỏi nơi đó, và xây dựng Phê-nu-ên. 26. Giê-rô-bô-am đã nói trong lòng rằng: “Vương quốc có thể trở về với nhà Đa-vít. 27. Nếu dân nầy cứ đi lên Giê-ru-sa-lem để dâng sinh tế trong đền thờ của Đức Giê-hô-va thì lòng họ chắc sẽ quay trở về với chủ của mình là Rô-bô-am, vua của Giu-đa. Họ sẽ giết ta rồi quay về với Rô-bô-am, vua của Giu-đa.” 28. Sau khi tham khảo, ông đã truyền làm hai con bò con bằng vàng, rồi nói với dân chúng: “Thật khó khăn cho các ngươi phải đi lên Giê-ru-sa-lem! Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là những thần đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập.” 29. Ông đã đặt một bức tượng tại Bê-tên, còn bức tượng kia tại Đan. 30. Điều nầy đã trở thành tội lỗi, bởi vì dân chúng đã thờ lạy bức tượng đó, thậm chí đến tận Ðan.
  11. Ông đã xây cất đền miếu trên những nơi cao, lập các tư tế từ mọi thành phần trong dân chúng, nhưng không thuộc dòng dõi Lê-vi. 32. Giê-rô-bô-am đã thiết lập một ngày lễ vào ngày mười lăm tháng Tám, giống như ngày lễ tại Giu-đa, rồi ông đến đó dâng tế lễ trên bàn thờ. Ông làm điều đó tại Bê-tên, dâng những tế lễ cho những con bò con mà ông đã dựng nên. Ông cũng đặt tại Bê-tên các tư tế phục vụ tại những nơi cao ông đã xây cất. 33. Ông đã dâng những tế lễ trên bàn thờ mà ông đã làm tại Bê-tên vào ngày mười lăm tháng Tám, là ngày mà ông đã lập ra theo tấm lòng của mình. Ông đã lập một ngày lễ cho dân Y-sơ-ra-ên, dâng lễ vật trên bàn thờ, và dâng hương.

 

13

  1. Có một người của Đức Chúa Trời theo lệnh của Đức Giê-hô-va đã từ Giu-đa đến Bê-tên trong lúc Giê-rô-bô-am đứng gần bàn thờ để dâng hương. 2. Theo lệnh của Đức Giê-hô-va, người đó đã lớn tiếng quở trách bàn thờ rằng: “Hỡi bàn thờ, bàn thờ! Đức Giê-hô-va phán: ‘Kìa! Có một con trai sẽ được sinh ra cho nhà Đa-vít, tên của nó là Giô-si-a. Nó sẽ dâng trên ngươi các tư tế của những nơi cao, là những người đã xông hương trên ngươi, và xương người sẽ được thiêu ở trên ngươi.’” 3. Người đó đã ban một dấu lạ trong ngày hôm đó, và nói: “Đây là dấu hiệu xác nhận Đức Giê-hô-va đã phán: Bàn thờ sẽ bị nứt ra, rồi tro trên bàn thờ sẽ đổ xuống.”
  2. Khi nghe người của Đức Chúa Trời quở trách bàn thờ tại Bê-tên, Vua Giê-rô-bô-am đã giang tay ra trên bàn thờ, rồi nói: “Hãy bắt lấy hắn!” Nhưng khi vua vừa giang tay ra chỉ vào người đó, thì cánh tay của vua bị khô cứng, không thể co lại được. 5. Bàn thờ cũng bị nứt ra và tro trên bàn thờ đổ xuống, đúng như dấu lạ mà người của Đức Chúa Trời theo lệnh của Đức Giê-hô-va đã ban.
  3. Sau đó, vua nói với người của Đức Chúa Trời rằng: “Bây giờ, xin hãy cầu khẩn trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông, và cầu nguyện cho tôi, để tay của tôi có thể hồi phục trở lại.” Người của Đức Chúa Trời đã cầu khẩn Đức Giê-hô-va, và tay của vua đã hồi phục như trước.
  4. Vua nói với người của Đức Chúa Trời: “Xin mời ông về cung với tôi, để ông được bổ sức lại, và tôi sẽ ban thưởng cho ông.” 8. Nhưng người của Đức Chúa Trời nói với vua: “Dù vua có cho phân nửa cung điện của ngài, tôi cũng không thể về với vua, cũng không ăn bánh hay là uống nước tại nơi nầy. 9. Bởi vì lời của Đức Giê-hô-va đã truyền cho tôi rằng: ‘Ngươi không được ăn bánh hoặc uống nước, cũng không được trở lại con đường mà ngươi đã đến.’” 10. Vì vậy, người đó đã đi theo một con đường khác, không trở lại con đường mà người đó đã đến Bê-tên.
  5. Có một tiên tri già đang sống tại Bê-tên. Các con trai của ông đã đến thuật lại cho ông mọi việc mà người của Đức Chúa Trời đã làm trong ngày hôm đó tại Bê-tên. Họ cũng thuật lại cho cha của họ những lời mà người đó đã nói với vua. 12. Cha của họ hỏi họ: “Người đó đã đi đường nào?” Bởi vì các con trai của ông đã thấy con đường mà người của Đức Chúa Trời ở Giu-đa đã đi về. 13. Ông bảo các con trai mình: “Hãy thắng yên lừa cho cha.” Họ thắng yên lừa, rồi ông cưỡi lên, 14. đuổi theo người của Đức Chúa Trời, và gặp người đó đang ngồi dưới gốc cây sồi. Ông hỏi: “Có phải ông là người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến hay không?” Người đó đáp: “Chính tôi đây.” 15. Ông nói với người đó: “Mời ông về nhà dùng bữa với tôi.” 16. Người đó nói: “Tôi không thể trở về với ông, không được đi với ông, cũng không được ăn bánh hay là uống nước với ông tại nơi nầy. 17. Bởi vì có lời của Đức Giê-hô-va đã truyền cho tôi rằng: ‘Ngươi không được ăn bánh hoặc uống nước, cũng không được trở lại con đường mà ngươi đã đến.’” 18. Nhưng cụ đã nói với ông: “Tôi cũng là tiên tri như ông. Một thiên sứ đã vâng lệnh Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng: ‘Hãy dẫn người đó về nhà với ngươi để người có thể ăn bánh và uống nước.’” Nhưng cụ đã nói dối. 19. Vì vậy, người đó đã trở lại với cụ, đã ăn bánh và uống nước trong nhà của cụ.
  6. Khi hai người đang ngồi trong bàn, có lời của Đức Giê-hô-va phán với tiên tri đã đem người kia trở lại. 21. Cụ liền nói lớn với người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến rằng: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Vì ngươi đã bất tuân lời từ miệng của Đức Giê-hô-va, không tuân giữ mạng lệnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền cho ngươi, 22. nhưng đã trở lại, ăn bánh, và uống nước tại nơi mà Ngài đã phán cùng ngươi rằng không được ăn bánh và không được uống nước. Vì vậy, thây của ngươi sẽ không được nằm chung trong phần mộ của tổ phụ ngươi.”
  7. Và rồi, sau khi người đó đã ăn bánh, sau khi người đó đã uống, cụ đã thắng yên lừa cho tiên tri mà cụ đã dẫn trở về. 24. Người đó ra đi, một con sư tử gặp người đó trên đường và đã giết người đó. Xác của người đó nằm sải trên đường, có con lừa đứng một bên, và con sư tử cũng đứng gần bên xác chết. 25. Có người đi ngang qua đó, thấy xác chết trên đường và sư tử đứng kế bên, thì vào thành nơi vị tiên tri già cư trú, thuật lại điều đó.
  8. Khi vị tiên tri, là người đã đem người đó trở lại, nghe điều đó thì nói rằng: “Đó là người của Đức Chúa Trời. Người không vâng lời của Đức Giê-hô-va, cho nên Đức Giê-hô-va đã phó người cho sư tử, để bị xé xác và bị giết chết, đúng như lời của Đức Giê-hô-va, mà Ngài đã phán với người.” 27. Rồi ông bảo các con trai của mình: “Hãy thắng yên lừa cho cha.” Họ thắng yên lừa. 28. Ông đi và gặp xác nằm trên đường, có con lừa và sư tử đứng bên cạnh xác chết. Sư tử không ăn xác chết, cũng không cắn xé con lừa. 29. Sau đó, vị tiên tri đã đem xác của người Đức Chúa Trời đặt lên lừa, đem nó trở về. Vị tiên tri già trở lại thành, than khóc, rồi chôn cất người đó. 30. Ông đặt xác của người đó trong phần mộ của mình, và người ta đã than khóc: “Ôi! Em của tôi.” 31. Sau khi chôn cất xong, ông nói với các con trai của mình rằng: “Khi cha chết, các con hãy chôn cha vào phần mộ đã chôn người của Đức Chúa Trời, để hài cốt của cha được ở bên cạnh hài cốt của người. 32. Bởi vì lời của Đức Giê-hô-va mà người đó đã quở trách bàn thờ tại Bê-tên, và các đền miếu trên những nơi cao ở trong những thành phố của Sa-ma-ri, chắc chắn sẽ được ứng nghiệm.”
  9. Sau việc nầy, Giê-rô-bô-am vẫn không từ bỏ đường lối gian ác của mình, nhưng cứ tiếp tục bổ nhiệm các tư tế từ mọi thành phần trong dân chúng cho các đền miếu trên những nơi cao. Người nào muốn thì ông phong cho làm tư tế tại những nơi cao. 34. Điều nầy đã trở thành tội lỗi của nhà Giê-rô-bô-am, khiến nó bị cắt bỏ và bị tiêu diệt khỏi mặt đất.

 

14

  1. Lúc đó, A-bi-gia, con trai của Giê-rô-bô-am, bị bệnh. 2. Giê-rô-bô-am nói với vợ của ông: “Bây giờ, xin bà hãy cải trang để người ta không nhận biết bà là vợ của Giê-rô-bô-am, rồi bà hãy đi đến Si-lô. Tiên tri A-hi-gia đang ở tại đó. Ông là người đã báo trước cho tôi biết rằng tôi sẽ làm vua của nước nầy. 3. Bà hãy đem theo mười ổ bánh, một ít bánh ngọt và một bình mật ong rồi đến gặp tiên tri. Ông ấy sẽ nói cho bà điều sẽ xảy đến cho đứa trẻ.”
  2. Vợ Giê-rô-bô-am đã làm như vậy. Bà đã đứng dậy, đi đến Si-lô, vào nhà của A-hi-gia. Lúc đó, A-hi-gia không thấy được nữa. Mắt của ông đã lòa, vì cớ tuổi già. 5. Tuy nhiên Đức Giê-hô-va đã phán với A-hi-gia: “Vợ của Giê-rô-bô-am đang đến để gặp ngươi, bởi vì con của nàng đang bệnh. Khi vợ của Giê-rô-bô-am đến, nàng đã cải trang thành một người khác. Ngươi hãy nói với nàng như thế nầy.”
  3. A-hi-gia nghe tiếng chân của bà. Khi bà bước đến cửa, ông nói: “Mời vợ của Vua Giê-rô-bô-am vào. Tại sao bà lại giả làm người khác? Tôi có một tin dữ cho bà. 7. Hãy về nói với Giê-rô-bô-am rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy: ‘Ta đã cất nhắc ngươi giữa vòng dân chúng để làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. 8. Ta đã xé vương quốc của nhà Ða-vít ra để ban cho ngươi, nhưng ngươi không giống như Ða-vít, tôi tớ của Ta, là người đã vâng giữ những điều răn của Ta, đã theo Ta hết lòng, và làm điều ngay lành trong mắt của Ta. 9. Ngươi đã làm điều tội lỗi hơn tất cả những người trước ngươi. Ngươi đã làm cho mình những thần khác, đúc tượng của chúng, chọc cho Ta giận, rồi vứt Ta ra sau lưng của ngươi. 10. Vì vậy, Ta sẽ giáng tai họa trên nhà Giê-rô-bô-am. Ta sẽ tiêu diệt mọi người nam thuộc về Giê-rô-bô-am, dù là nô lệ hay tự do trong Y-sơ-ra-ên. Ta sẽ thiêu hủy nhà của Giê-rô-bô-am như người ta đốt phân, cho đến khi không còn lại gì nữa. 11. Người nào thuộc về Giê-rô-bô-am chết trong thành sẽ bị chó ăn. Người nào chết ngoài đồng sẽ bị chim trời ăn.’ Đức Giê-hô-va đã phán như vậy.”
  4. “Vì vậy, hãy đứng dậy mà về nhà của ngươi. Khi ngươi bước chân vào thành, thì con của ngươi sẽ chết. 13. Toàn thể Y-sơ-ra-ên sẽ than khóc và chôn cất nó. Trong số những người thuộc về Giê-rô-bô-am, chỉ có một mình nó được chôn cất nơi mồ mả, bởi vì trong nó còn có một chút gì tốt đẹp hướng về Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 14. Đức Giê-hô-va sẽ cất nhắc một người để làm vua của Y-sơ-ra-ên. Người sẽ tiêu diệt nhà Giê-rô-bô-am ngay hôm nay. Cái gì? Ngay bây giờ! 15. Bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ hành hại Y-sơ-ra-ên như một cây sậy bị lắc lư trong nước. Ngài sẽ bứng Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ tốt đẹp mà Ngài đã ban cho tổ phụ của họ, và sẽ làm tản lạc họ bên kia sông, bởi vì họ đã lấy những hình tượng của họ để chọc giận Đức Giê-hô-va. 16. Ngài sẽ từ bỏ Y-sơ-ra-ên bởi vì những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, mà ông đã phạm, và đã làm cho Y-sơ-ra-ên vi phạm.”
  5. Vợ của Giê-rô-bô-am đứng dậy đi về. Bà về đến Tiệt-sa. Khi bà vừa bước chân qua ngạch cửa thì đứa trẻ chết. 18. Người ta chôn cất nó và toàn thể Y-sơ-ra-ên than khóc nó, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua đầy tớ Ngài, là Tiên tri A-hi-gia.
  6. Những công việc khác mà Giê-rô-bô-am làm, ông tham chiến như thế nào, ông cai trị như thế nào, đều được chép trong sách sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên. 20. Giê-rô-bô-am trị vì hai mươi hai năm rồi an giấc cùng các tổ phụ của mình. Na-đáp, con trai của ông, lên ngôi kế vị.
  7. Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn, trị vì Giu-đa. Rô-bô-am được bốn mươi mốt tuổi khi làm vua. Ông đã trị vì mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, là thành mà Đức Giê-hô-va đã chọn trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên để đặt danh Ngài tại đó. Mẹ của ông tên là Na-a-ma, là người Am-môn. 22. Dân Giu-đa đã làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va. Họ đã chọc giận Ngài vì những tội lỗi mà họ đã phạm nhiều hơn tất cả những gì mà tổ tiên của họ đã làm. 23. Họ cũng xây cất cho mình những nơi cao, những trụ thờ, và những tượng A-sê-ra trên các đồi cao và dưới những tàn cây rậm rạp. 24. Trong xứ cũng có những người nam làm điếm để phục vụ trong các đền miếu. Chúng làm mọi thứ kinh tởm của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi đi trước dân Y-sơ-ra-ên.
  8. Trong năm thứ năm dưới thời Vua Rô-bô-am, Vua Si-rắc của Ai Cập đã tiến lên đánh Giê-ru-sa-lem. 26. Ông chiếm đoạt tất cả kho tàng trong đền thờ Đức Giê-hô-va và những kho tàng trong hoàng cung. Ông lấy mọi thứ. Ông lấy cả những khiên dát vàng mà Sa-lô-môn đã làm. 27. Vì vậy Rô-bô-am đã làm những khiên bằng đồng để thay thế, rồi trao chúng cho các quan chỉ huy vệ binh, là những người canh gác cổng hoàng cung. 28. Mỗi khi vua vào đền thờ Đức Giê-hô-va, vệ binh mang những khiên đó ra, rồi sau đó đem cất chúng vào trong phòng của vệ binh.
  9. Những công việc khác của Rô-bô-am và tất cả những việc ông đã làm đều được chép trong sách sử ký của các vua Giu-đa. 30. Giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am luôn có chiến tranh với nhau. 31. Rô-bô-am an giấc cùng các tổ phụ của mình. Ông được an táng cùng tổ phụ của mình trong thành Đa-vít. Mẹ của ông tên là Na-a-ma, người Am-môn. A-bi-giam, con trai của ông, lên ngôi kế vị.

 

15

  1. Vào năm thứ mười tám đời Vua Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, thì A-bi-giam lên làm vua Giu-đa. 2. Ông trị vì ba năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của ông tên là Ma-a-ca, con gái của A-bi-sa-lôm. 3. Ông đã theo tất cả những tội lỗi của cha của ông đã phạm trước kia. Lòng của ông không trung thành với Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông, như tấm lòng của Đa-vít, là tổ phụ của ông. 4. Tuy nhiên, vì cớ Đa-vít, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho ông một ngọn đèn tại Giê-ru-sa-lem bằng cách tiếp tục lập con cháu của ông lên ngôi kế vị và làm cho Giê-ru-sa-lem được vững lập. 5. Bởi vì Đa-vít đã làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va, không bỏ qua bất cứ điều gì Ngài đã truyền cho ông trọn cả đời ông sống, ngoại trừ vấn đề U-ri, người Hê-tít. 6. Chiến tranh giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am vẫn tiếp diễn suốt triều đại A-bi-giam.
  2. Những công việc khác của A-bi-giam và tất cả những việc vua đã làm không phải đều được chép trong sách sử ký của các vua Giu-đa hay sao? Giữa A-bi-giam và Giê-rô-bô-am luôn có chiến tranh với nhau. 8. A-bi-giam an giấc cùng tổ phụ mình. Họ chôn cất ông trong thành Đa-vít. A-sa, con trai của ông, lên ngôi kế vị.
  3. Vào năm thứ hai mươi đời Giê-rô-bô-am làm vua Y-sơ-ra-ên, thì A-sa lên ngôi vua Giu-đa. 10. Vua cai trị bốn mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Bà nội của vua tên là Ma-a-ca, con gái của A-bi-sa-lôm. 11. A-sa làm điều ngay thẳng trong mắt của Đức Giê-hô-va như Đa-vít, tổ phụ của ông, đã làm. 12. Ông trục xuất những người nam làm điếm ra khỏi xứ, và dẹp tất cả những hình tượng mà tổ phụ của ông đã làm. 13. Ông cũng cách chức thái hậu của Ma-a-ca, là bà nội của mình, vì bà đã dựng tượng A-sê-ra. A-sa triệt hạ hình tượng đó và đốt trong thung lũng Xết-rôn. 14. Nhưng ông không phá hủy những nơi cao. Dù vậy, lòng của A-sa vẫn trọn thành với Đức Giê-hô-va suốt đời. 15. Ông đem vào đền thờ Đức Giê-hô-va những vật thánh mà cha của ông và chính ông đã dâng: đó là bạc, vàng, và những vật dụng.
  4. A-sa và vua của Y-sơ-ra-ên là Ba-ê-sa giao chiến suốt thời gian trị vì của mình. 17. Ba-ê-sa, vua của Y-sơ-ra-ên, tiến lên đánh Giu-đa, xây đồn tại Ra-ma để không cho ai ra vào với A-sa, vua của Giu-đa. 18. Lúc đó, A-sa lấy hết bạc vàng còn lại trong kho tàng của đền thờ Đức Giê-hô-va và trong kho tàng của hoàng cung, trao cho những đầy tớ của ông, rồi sai họ đến gặp Bên Ha-đát, con trai của Táp-ri-môn, cháu của Hê-xi-ôn, là vua của A-ram tại Đa-mách, rồi nói rằng: 19. “Chúng ta hãy lập một hiệp ước với nhau, như cha của ngài và cha của tôi đã làm. Nay tôi cho đem lễ vật bằng bạc và vàng để tặng ngài. Xin ngài hủy bỏ hiệp ước của ngài với Ba-ê-sa, vua của Y-sơ-ra-ên, để hắn rút lui khỏi xứ tôi.” 20. Bên Ha-đát nghe lời của Vua A-sa, sai các quan quân của mình tiến đánh những thành của Y-sơ-ra-ên, chiếm lấy Y-giôn, Đan, A-bên Bết Ma-ca, và cả xứ Ki-nê-rết với xứ Nép-ta-li. 21. Sau khi Ba-ê-sa nghe được điều đó, ông ngưng xây đồn Ra-ma, nhưng ở lại Tiệt-sa. 22. Vua A-sa liền tập hợp tất cả người Giu-đa, không trừ một ai để họ dời đá và gỗ mà Ba-ê-sa định dùng xây đồn Ra-ma. Vua A-sa dùng chúng xây cất Ghê-ba tại Bên-gia-min và Mích-ba.
  5. Những công việc khác của A-sa, quyền thế của ông, những việc ông đã làm, và các thành mà ông đã xây cất, không phải đều được chép trong sách sử ký của các vua Giu-đa hay sao? Lúc về già, vua bị đau chân. 24. A-sa an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng cùng các tổ phụ mình trong thành Đa-vít. Giê-hô-sa-phát, con trai của ông, lên ngôi kế vị.
  6. Na-đáp, con trai của Giê-rô-bô-am, lên ngôi làm vua của Y-sơ-ra-ên vào năm thứ hai của triều đại A-sa, vua của Giu-đa. Na-đáp trị vì trên Y-sơ-ra-ên hai năm. 26. Ông làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của tổ phụ mình, phạm tội mà ông đã phạm và làm cho Y-sơ-ra-ên phạm tội nữa.
  7. Ba-ê-sa, con trai của A-hi-gia, thuộc nhà Y-sa-ca, mưu phản ông. Trong lúc Na-đáp và cả Y-sơ-ra-ên bao vây Ghi-bê-thôn, thuộc về dân Phi-li-tin, thì Ba-ê-sa giết ông tại đó. 28. Vào năm thứ ba triều đại A-sa, vua của Giu-đa, thì Ba-ê-sa giết Na-đáp và chiếm ngôi vua. 29. Khi lên ngôi, ông đã giết hết tất cả những người thuộc về Giê-rô-bô-am, không để một ai còn hơi thở cho đến khi đã tận diệt cả nhà Giê-rô-bô-am, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua A-hi-gia, là đầy tớ của Ngài tại Si-lô; 30. bởi vì tội lỗi Giê-rô-bô-am đã phạm, và làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội, cùng với sự khiêu khích của ông đã chọc giận Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
  8. Những công việc khác của Na-đáp và tất cả những gì ông đã làm đều được chép trong sách sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
  9. Giữa A-sa và Ba-ê-sa, vua của Y-sơ-ra-ên, luôn có chiến tranh với nhau suốt thời gian trị vì của họ.
  10. Vào năm thứ ba triều đại của A-sa, vua của Giu-đa, thì Ba-ê-sa, con trai của A-hi-gia, lên làm vua toàn cõi Y-sơ-ra-ên và trị vì hai mươi bốn năm tại Tiệt-sa. 34. Ông đã làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am và tội lỗi mà người đã phạm, và làm cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.

 

16

  1. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va đến với Giê-hu, con trai của Ha-na-ni, nghịch cùng Ba-ê-sa, rằng: 2. “Kìa, Ta đã cất nhắc ngươi lên khỏi bụi đất và lập ngươi làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. Nhưng ngươi đã đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên của Ta phạm tội, và đã chọc cho Ta giận bằng những tội lỗi của chúng nó. 3. Vì vậy, Ta sẽ cất bỏ những hậu tự của Ba-ê-sa, cùng những hậu tự trong nhà của nó, và làm cho nhà của nó giống như nhà của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát. 4. Người nào thuộc về Ba-ê-sa chết trong thành, sẽ bị chó ăn; còn người nào chết ngoài đồng, sẽ bị chim trời ăn.”
  2. Những công việc khác của Ba-ê-sa và những việc ông đã làm, cùng quyền thế của ông không phải đều được chép trong sách sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên hay sao? 6. Ba-ê-sa an giấc cùng các tổ phụ của mình và được an táng tại Tiệt-sa. Con trai của ông là Ê-la lên ngôi kế vị. 7. Như vậy, lời của Đức Giê-hô-va đã đến với Giê-hu, con trai của Ha-na-ni, nghịch cùng Ba-ê-sa và nhà của ông bởi vì những tội lỗi mà vua đã làm trước mặt Đức Giê-hô-va, và đã dùng những việc của tay mình mà chọc giận Ngài giống như nhà Giê-rô-bô-am, mặc dù chính ông đã tiêu diệt họ.
  3. Vào năm thứ hai mươi sáu thuộc triều đại của A-sa, vua của Giu-đa, thì Ê-la, con trai của Ba-ê-sa, làm vua của Y-sơ-ra-ên tại Tiệt-sa. Ông trị vì hai năm. 9. Xim-ri, một bầy tôi của Ê-la, là chỉ huy trưởng phân nửa xe chiến mã của ông tại Tiệt-sa, đã âm mưu chống lại ông. Khi ông uống rượu say trong nhà của Ạt-sa, quản đốc hoàng cung tại Tiệt-sa, 10. Xim-ri đã xông vào, chém, và giết ông, rồi chiếm ngôi vào năm thứ hai mươi bảy thuộc triều đại của A-sa, vua của Giu-đa. 11. Sau đó, khi bắt đầu trị vì, lúc vừa ngồi trên ngôi, Xim-ri đã giết cả nhà Ba-ê-sa, không chừa lại một người nam nào, dù là bà con hay là bạn hữu. 12. Xim-ri đã tận diệt cả nhà Ba-ê-sa như vậy, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã dùng Tiên Tri Giê-hu nghịch cùng Ba-ê-sa, 13. vì tất cả những tội lỗi của Ba-ê-sa và những tội lỗi của Ê-la, con trai của vua, đã phạm; qua đó họ đã làm cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, và đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên bằng những thần tượng hư không. 14. Những công việc khác của Ê-la và những việc ông đã làm không phải đều được chép trong sách sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên hay sao?
  4. Vào năm thứ hai mươi bảy thuộc triều đại của A-sa, vua của Giu-đa, Xim-ri cai trị tại Tiệt-sa được bảy ngày. Lúc đó quân lính đang bao vây Ghi-bê-thôn, thuộc về dân Phi-li-tin. 16. Khi quân lính, đang đóng trại, nghe tin Xim-ri đã phản loạn và giết vua, thì ngay ngày hôm đó, toàn thể Y-sơ-ra-ên đã lập Ôm-ri, là tư lệnh quân đội, lên làm vua của Y-sơ-ra-ên ngay tại trại quân. 17. Sau đó, Ôm-ri và toàn thể Y-sơ-ra-ên đã từ Ghi-bê-thôn đi lên bao vây Tiệt-sa. 18. Khi Xim-ri thấy hoàng thành bị bao vây thì rút vào pháo đài của hoàng cung, phóng hỏa đốt cả hoàng cung, rồi bị chết thiêu trong đó. 19. Đó là vì những tội lỗi mà ông đã phạm, đã làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, đã đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, và phạm những tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm, là làm cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. 20. Những việc khác của Xim-ri và cuộc phản loạn do ông chỉ huy không phải được chép trong sách sử ký của các vua của Y-sơ-ra-ên hay sao?
  5. Sau đó, dân Y-sơ-ra-ên chia làm hai phe. Phân nửa theo Típ-ni, con trai của Ghi-nát, rồi lập ông làm vua; còn phân nửa kia theo Ôm-ri. 22. Nhưng phe theo Ôm-ri thắng phe theo Típ-ni, con trai của Ghi-nát. Típ-ni đã chết, rồi Ôm-ri cai trị.
  6. Vào năm thứ ba mươi mốt thuộc triều đại của A-sa, vua của Giu-đa, Ôm-ri lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên. Ông đã trị vì mười hai năm, trong đó có sáu năm ông trị vì tại Tiệt-sa. 24. Ông đã mua ngọn đồi Sa-ma-ri của Sê-me với giá hai ta-lâng bạc. Ông đã xây dựng một thành phố trên ngọn đồi, rồi gọi nó là Sa-ma-ri, theo tên của Sê-me, là chủ nhân của ngọn đồi.
  7. Ôm-ri làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va, và làm tệ hại hơn những người trước ông. 26. Ông đã đi theo tất cả đường lối của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, phạm những tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm, là làm cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, và đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên bằng những thần tượng hư không. 27. Những việc khác mà Ôm-ri đã làm, và quyền lực mà ông đã biểu dương không phải được chép trong sách sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên hay sao? 28. Ôm-ri an giấc cùng tổ phụ của ông, và được an táng tại Sa-ma-ri. Con trai của ông là A-háp lên ngôi kế vị.
  8. Vào năm thứ ba mươi tám thuộc triều đại của A-sa, vua của Giu-đa, A-háp, con trai của Ôm-ri, lên ngôi làm vua của Y-sơ-ra-ên. Ông trị vì Y-sơ-ra-ên hai mươi hai năm tại Sa-ma-ri. 30. A-háp, con trai của Ôm-ri, làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va hơn tất cả những người trước ông.
  9. Thời gian cho thấy rằng việc làm theo những tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, đối với ông chỉ là chuyện nhỏ. Ông đã cưới Giê-sa-bên, con gái của Ếch-ba-anh, vua của Si-đôn, làm vợ. Ông đã đi phục vụ Ba-anh và thờ phượng nó. 32. Ông đã xây một bàn thờ cho Ba-anh trong đền thờ của Ba-anh mà ông đã xây cất tại Sa-ma-ri. 33. A-háp cũng dựng một hình tượng A-sê-ra. A-háp đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nhiều hơn các vua của Y-sơ-ra-ên trước ông. 34. Trong thời của ông, Hi-ên ở Bê-tên đã xây lại Giê-ri-cô. Khi ông đặt nền thì mất A-bi-ram, con trưởng nam của mình. Lúc ông dựng các cửa thì mất Sê-gúp, con trai út của mình – đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã được phán qua Giô-suê, con trai của Nun.

17

  1. Ê-li, người Thi-sê-be, là một cư dân tại Ga-la-át, đã nói với A-háp: “Thật như Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, hằng sống – là Đấng mà ta đang đứng trước mặt của Ngài. Trong những năm sắp đến, nếu không có lời của ta thì sẽ không có sương và cũng không có mưa.”
  2. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Ê-li: 3. “Hãy rời khỏi đây, đi về hướng đông, rồi ẩn mình bên khe Kê-rít, về phía đông của Giô-đanh. 4. Ngươi sẽ uống nước trong khe. Ta đã truyền cho các chim quạ nuôi ngươi tại đó.”
  3. Vì vậy, ông đã đi và làm theo lời của Đức Giê-hô-va. Ông đã đến ở tại khe Kê-rít, về phía đông của Giô-đanh. 6. Buổi sáng, các chim quạ mang bánh và thịt đến cho ông. Chúng cũng mang bánh và thịt đến vào buổi chiều. Ông uống nước trong khe. 7. Một thời gian sau, nước trong khe bị khô cạn bởi vì trong xứ không có mưa.
  4. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Ê-li rằng: 9. “Hãy đứng dậy, đi đến Sa-rép-ta thuộc về Si-đôn, rồi ở tại đó. Kìa, Ta đã truyền cho một góa phụ nuôi ngươi tại đó.”
  5. Vì vậy, ông đã đứng dậy, đi đến Sa-rép-ta. Khi ông đến cổng thành, nhìn thấy một góa phụ đang lượm củi tại đó. Ông gọi bà, rồi nói: “Xin bà vui lòng lấy bình đem một ít nước cho tôi uống.” 11. Lúc bà đang đi lấy nước, ông gọi bà, rồi nói: “Xin bà cũng cầm trong tay một miếng bánh đem đến cho tôi.” 12. Nhưng bà nói: “Thật như Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông hằng sống, tôi không có bánh nhưng chỉ còn một nắm bột trong vò và một chút dầu trong bình. Nầy, tôi lượm hai khúc củi rồi về nấu cho tôi và con trai của tôi ăn, rồi chúng tôi sẽ chết.” 13. Ê-li nói với bà: “Đừng sợ! Hãy trở về và làm như bà đã nói. Nhưng trước hết, hãy làm một cái bánh nhỏ rồi đem đến cho tôi; rồi sau đó hãy làm cho bà và con trai của bà. 14. Bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán: ‘Bột sẽ không hết trong vò, và dầu sẽ không thiếu trong bình, cho đến ngày Đức Giê-hô-va ban mưa xuống đất.’” 15. Bà đã đi và làm như lời Ê-li đã nói. Và rồi bà, cùng với ông, và cả nhà của bà, đã ăn trong nhiều ngày. 16. Bột không hết trong vò và dầu cũng không thiếu trong bình, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán bởi Ê-li.
  6. Thời gian trôi qua, sau những việc nầy, con trai của góa phụ chủ nhà bị bệnh. Bệnh tình của nó trầm trọng đến nỗi nó tắt thở. 18. Bà đến nói với Ê-li: “Hỡi người của Đức Chúa Trời! Tôi đã làm gì sai với ông, mà ông đến để nhắc lại tội lỗi của tôi, khiến con trai tôi phải chết?” 19. Ông nói với bà: “Hãy trao con trai của bà cho tôi.” Rồi ông bồng đứa trẻ từ lòng mẹ của nó, đem nó lên phòng trên lầu, là nơi ông ở, rồi đặt nó trên giường của ông. 20. Ông đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Tại sao Ngài giáng tai họa trên người góa phụ nầy, là chủ nhà nơi con đang trú ngụ, để cho con trai của bà phải chết?” 21. Ông nằm ấp trên mình đứa trẻ ba lần, và kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Xin Ngài cho linh hồn của đứa trẻ nầy trở lại với nó.” 22. Đức Giê-hô-va lắng nghe lời kêu cầu của Ê-li, linh hồn của đứa trẻ trở lại trong thân xác của nó, và nó đã sống lại. 23. Ê-li bồng đứa trẻ, từ phòng trên lầu đi xuống nhà, trao lại cho mẹ của nó, rồi nói: “Hãy xem! Con trai của bà đang sống.” 24. Bà nói với Ê-li: “Bây giờ tôi nhận biết ông là người của Đức Chúa Trời, và những lời của Đức Giê-hô-va từ miệng ông nói ra là chân thật.”

 

18

  1. Nhiều ngày đã trôi qua, một thời gian sau đến năm thứ ba có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Ê-li rằng: “Hãy đi gặp A-háp. Ta sẽ ban mưa xuống trên đất.” 2. Vì vậy, Ê-li đã đi gặp A-háp.

Lúc đó, tại Sa-ma-ri có một nạn đói trầm trọng. 3. A-háp đã gọi Áp-đia, quan tổng quản hoàng cung đến. Áp-đia rất kính sợ Đức Giê-hô-va. 4. Khi Giê-sa-bên giết các tiên tri của Đức Giê-hô-va thì Áp-đia có đem một trăm tiên tri giấu trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, rồi lấy bánh và nước mà nuôi họ. 5. A-háp nói với Áp-đia: “Chúng ta hãy đi khắp xứ, hãy đến tất cả các suối nước và tất cả các khe, may ra chúng ta sẽ tìm được cỏ để giữ cho ngựa và lừa được sống, và chúng ta không phải giết những gia súc.” 6. Vì vậy, họ đã chia nhau đi khắp xứ. A-háp đi theo hướng của mình, còn Áp-đia đi theo hướng của ông.

  1. Đang khi Áp-đia đi đường, Ê-li đã gặp ông. Áp-đia nhận biết ông, liền sấp mặt xuống đất, và hỏi: “Thưa chúa của tôi! Ông có phải là Ê-li hay không?” 8. Người trả lời cho ông: “Phải! Chính ta. Hãy đi nói với chủ của ngươi rằng: ‘Ê-li đang ở đây.’” 9. Ông nói: “Tôi có tội gì mà ngài muốn trao tôi vào tay của A-háp để giết tôi? Thật như Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông hằng sống, không có nước nào hoặc vương quốc nào mà chủ của tôi không sai người đến kiếm ngài. Khi người ta bảo rằng ngài không có ở đó, thì ông ấy đòi nước đó hoặc vương quốc đó phải thề là họ không có gặp ngài. 11. Nhưng bây giờ ngài bảo tôi: ‘Hãy đi, nói với chủ của ngươi rằng Ê-li đang ở đây.’ 12. Nhưng nếu khi tôi rời khỏi đây, và Thần của Đức Giê-hô-va đem ngài đi đến nơi nào tôi không biết; rồi khi tôi đến nói cho A-háp, và ông ấy đến mà không thấy ngài, thì ông ấy chắc sẽ giết tôi. Tôi là tôi tớ của ngài. Tôi đã kính sợ Đức Giê-hô-va từ thuở nhỏ. 13. Chúa của tôi không được báo cáo rằng tôi đã làm gì khi Giê-sa-bên tàn sát các tiên tri của Đức Giê-hô-va, và thế nào tôi đã đem giấu một trăm tiên tri của Đức Giê-hô-va, năm mươi người trong một hang, rồi cung cấp bánh và nước để nuôi họ hay sao? 14. Bây giờ ngài bảo tôi: ‘Hãy đi, và nói với chủ của ngươi rằng Ê-li đang ở đây.’ Ông ấy chắc chắn sẽ giết tôi.” 15. Nhưng Ê-li nói: “Thật như Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, hằng sống – là Đấng mà ta đang đứng trước mặt Ngài! Hôm nay chắc chắn chính ta sẽ gặp ông ấy.” 16. Vì vậy Áp-đia đã đến gặp A-háp và báo cho ông. A-háp đã đến để gặp Ê-li.
  2. Khi A-háp thấy Ê-li, A-háp đã nói với ông: “Ngươi, là kẻ gây rối cho Y-sơ-ra-ên, có phải ngươi đó không?” 18. Ông trả lời rằng: “Không phải tôi đã gây rối cho Y-sơ-ra-ên, nhưng chính là vua và nhà cha của vua; bởi vì quý vị đã bỏ những điều răn của Đức Giê-hô-va, và vua đã đi theo Ba-anh. 19. Vì vậy bây giờ, hãy sai người đi triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên lại với tôi trên núi Cạt-mên, cùng với bốn trăm năm mươi tiên tri của Ba-anh và bốn trăm tiên tri của A-sê-ra, là những người đang ăn tại bàn của Giê-sa-bên.”
  3. Vì vậy, A-háp sai người triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên và các tiên tri họp lại tại núi Cạt-mên. 21. Ê-li đã đến nói với tất cả dân chúng rằng: “Các ngươi còn đi qua lại giữa hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, hãy theo Ngài; còn nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, thì hãy theo hắn.” Nhưng dân chúng không đáp một lời.
  4. Sau đó, Ê-li nói với dân chúng: “Tôi là tiên tri của Đức Giê-hô-va, chỉ có một mình, nhưng các tiên tri của Ba-anh là bốn trăm năm mươi người. 23. Bây giờ hãy đem cho chúng tôi hai con bò đực. Hãy để họ chọn một con bò cho họ, sả nó ra từng mảnh, rồi chất trên củi, nhưng không được đốt lửa; và tôi sẽ sả con bò kia, chất nó trên củi, nhưng cũng không đốt lửa. 24. Các ông hãy kêu cầu danh thần của các ông; còn tôi, tôi sẽ kêu cầu danh Đức Giê-hô-va. Vị thần nào đáp lời bằng lửa thì vị đó chính là Đức Chúa Trời.” Toàn thể dân chúng đã đáp rằng: “Ðề nghị rất hữu lý!”
  5. Ê-li nói với các tiên tri Ba-anh: “Bởi vì các ông đông, hãy chọn một con bò đực và sả thịt nó cho các ông trước đi. Hãy kêu cầu danh của thần các ông, nhưng đừng đốt lửa.” 26. Họ đã bắt một con bò đực đem đến đó, sả thịt nó ra, rồi kêu cầu danh thần Ba-anh từ sáng đến trưa, rằng: “Lạy Ba-anh! Xin hãy lắng nghe.” Nhưng chẳng có tiếng nào, cũng chẳng có ai trả lời. Họ nhảy xung quanh bàn thờ họ đã dựng. 27. Đến trưa, Ê-li chế nhạo họ và nói rằng: “Hãy la lớn lên, bởi vì người là thần. Có lẽ người đang tĩnh tâm, hoặc bận rộn, hoặc đang đi đường, hoặc đang ngủ và cần được đánh thức.” 28. Họ lại càng kêu cầu lớn hơn, và theo như thói tục của họ, họ lấy gươm và giáo rạch mình cho đến nỗi máu tuôn ra trên người của họ. 29. Đến quá trưa, họ vẫn tiếp tục nói lảm nhảm như vậy cho đến giờ dâng tế lễ, nhưng không có tiếng nào đáp lại, cũng không ai trả lời, và cũng không ai quan tâm.
  6. Sau đó, Ê-li đã gọi toàn thể dân chúng: “Hãy lại đây với ta.” Toàn thể dân chúng đã đến gần ông. Ông đã sửa lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va, đã bị phá sập. 31. Ê-li đã lấy mười hai phiến đá, theo số chi tộc của các con trai Gia-cốp, là người mà lời của Đức Giê-hô-va đã phán: “Y-sơ-ra-ên sẽ là tên của ngươi.” 32. Ê-li dùng những phiến đá đó xây lại một bàn thờ cho danh của Đức Giê-hô-va. Rồi ông đào một đường mương chung quanh bàn thờ, rộng cỡ chứa được hai thúng hạt giống. 33. Sau đó, ông sắp củi, sả con bò ra từng mảnh, chất nó trên củi, rồi ông nói: “Hãy múc đầy bốn bình nước, đem đổ trên tế lễ thiêu và trên củi.” 34. Sau đó ông nói: “Hãy làm lần thứ hai.” Họ đã làm lần thứ hai. Rồi ông nói: “Hãy làm lần thứ ba.” Họ đã làm lần thứ ba. 35. Nước chảy tràn chung quanh bàn thờ và cái mương cũng đầy nước.
  7. Đến giờ dâng tế lễ, Tiên tri Ê-li đã đến gần rồi thưa rằng: “Lạy Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác, và Y-sơ-ra-ên! Hôm nay xin Ngài cho mọi người biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, con là đầy tớ của Ngài, và con làm điều nầy theo lời của Ngài. 37. Đức Giê-hô-va ôi! Xin lắng nghe con. Xin lắng nghe con để cho dân nầy biết rằng Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Xin Ngài hãy khiến cho lòng của họ quay trở lại.”
  8. Lửa của Đức Giê-hô-va đã giáng xuống, thiêu đốt tế lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương. 39. Khi toàn dân thấy vậy, họ đã sấp mặt xuống đất và nói: “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!”
  9. Ê-li nói với họ: “Hãy bắt các tiên tri của Ba-anh. Đừng để một người nào trốn thoát.” Họ liền bắt chúng. Ê-li đem chúng xuống khe Kít-sôn, rồi giết chúng tại đó.
  10. Ê-li nói với A-háp: “Xin mời ngài đi lên, ăn và uống; vì tôi nghe có tiếng mưa rào.” 42. Vì vậy, A-háp đã đi lên, ăn và uống.

Ê-li đã đi lên đỉnh Cạt-mên. Tại đó, ông sấp mặt xuống đất giữa hai đầu gối. 43. Sau đó, ông nói với người đầy tớ của mình: “Hãy đi lên, rồi nhìn về hướng biển.” Người đó đi, nhìn, rồi trở lại và nói: “Con không thấy gì cả.” Ông nói: “Hãy đi trở lại bảy lần như vậy.” 44. Lần thứ bảy người đó nói: “Kìa, con thấy có một đám mây, cỡ bằng bàn tay của một người, đang nổi lên ngoài biển.” Ông bảo: “Hãy đến nói với A-háp: ‘Xin ngài hãy chuẩn bị và đi xuống cho mau, đừng để mưa sẽ giữ ngài lại.’ 45. Sau đó không bao lâu, gió thổi và mây đen đã kéo đến phủ khắp bầu trời, một trận mưa lớn đã đổ xuống. A-háp đã chạy thoát đến Gít-rê-ên. 46. Tay của Đức Giê-hô-va đặt trên Ê-li. Ông đã thắt lưng và chạy trước A-háp đến lối vào của Gít-rê-ên.

 

19

  1. Sau đó, A-háp đã thuật lại cho Giê-sa-bên tất cả những việc mà Ê-li đã làm, và ông đã dùng gươm giết tất cả các tiên tri như thế nào. 2. Giê-sa-bên đã sai một sứ giả đến gặp Ê-li và nói: “Nếu ngày mai vào giờ nầy, ta không làm cho sinh mạng của ngươi như sinh mạng của một trong những người đó, nguyện các thần làm như vậy cho ta, và còn làm hơn nữa.”
  2. Thấy vậy, ông đã đứng dậy chạy trốn để cứu mạng sống của mình. Khi đến Bê-e Sê-ba thuộc Giu-đa, ông để người đầy tớ của mình ở lại đó. 4. Còn ông thì đi một ngày đường nữa vào trong hoang mạc. Ông đến ngồi dưới một cây kim tước rồi cầu xin cho chính mình được chết: “Đức Giê-hô-va ôi! Bây giờ đã đủ rồi. Xin hãy cất mạng sống của con, bởi vì con không hơn gì các tổ phụ của con.” 5. Sau đó, ông nằm xuống và ngủ dưới cây kim tước. Có một thiên sứ đã chạm vào ông, rồi nói với ông: “Hãy dậy và ăn.” 6. Ông nhìn thấy gần nơi đầu của ông có một cái bánh nướng trên than và một bình nước. Ông ăn và uống, rồi nằm xuống trở lại. 7. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến lần thứ nhì, chạm vào ông, rồi nói: “Hãy thức dậy và ăn, vì đường còn xa quá cho ngươi.” 8. Ông thức dậy ăn và uống; nhờ sức lực của thực phẩm đó, ông đi bộ bốn mươi ngày và bốn mươi đêm đến Hô-rếp, là núi của Ðức Chúa Trời.
  3. Sau đó, ông đã vào trong một cái hang để qua đêm tại đó. Có lời của Đức Giê-hô-va đến với ông. Ngài phán với ông: “Hỡi Ê-li! Con làm gì ở đây?” 10. Ông đáp: “Con rất nhiệt thành vì Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của các đạo quân. Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ giao ước của Ngài, đã phá đổ những bàn thờ của Ngài, đã dùng gươm giết các tiên tri của Ngài; và rồi chỉ còn con, một mình con còn sót lại. Họ đã tìm kiếm mạng sống của con để cất nó đi.” 11. Ngài phán: “Hãy đi ra, đứng trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va.” Kìa, Đức Giê-hô-va đã đi qua. Có một ngọn gió rất mạnh, xé những hòn núi, làm vỡ thành những tảng đá trước mặt Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va không có trong ngọn gió. Sau ngọn gió, có cơn động đất, Đức Giê-hô-va không có trong cơn động đất. 12. Sau cơn động đất, có đám lửa, nhưng Đức Giê-hô-va không có trong đám lửa. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ. 13. Và rồi khi Ê-li nghe tiếng đó, ông vội lấy áo choàng che mặt, chạy ra và đứng nơi lối vào của hang. Kìa, có một tiếng nói phán với ông: “Ê-li! Con làm gì ở đây?” 14. Ông nói: “Con rất nhiệt thành vì Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của các đạo quân. Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ giao ước của Ngài, đã phá đổ những bàn thờ của Ngài, đã dùng gươm giết các tiên tri của Ngài; và rồi chỉ còn con, một mình con còn sót lại. Họ đã tìm kiếm mạng sống của con để cất nó đi.”
  4. Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy đi! Hãy trở lại con đường của ngươi vào hoang mạc rồi đến Đa-mách. Khi đến nơi, con sẽ xức dầu cho Ha-xa-ên làm vua của A-ram; 16. con cũng sẽ xức dầu cho Giê-hu, con trai của Nim-si, làm vua của Y-sơ-ra-ên; và con sẽ xức dầu cho Ê-li-sê, con trai của Sa-phát tại A-bên Mê-hô-la, làm tiên tri thế cho con. 17. Và rồi, ai thoát khỏi gươm của Ha-xa-ên sẽ bị Giê-hu giết, ai thoát khỏi gươm của Giê-hu sẽ bị Ê-li-sê giết. 18. Ta đã để dành cho Ta bảy ngàn người trong Y-sơ-ra-ên. Tất cả những người nầy chưa hề quỳ gối trước Ba-anh, và môi họ chưa hề hôn nó.”
  5. Vì vậy, ông đã rời khỏi nơi đó và gặp Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, đang cày với mười hai đôi bò đang cày trước mặt ông, chính ông đang cày đôi thứ mười hai. Ê-li đi ngang qua và quăng chiếc áo choàng của mình trên ông. 20. Ông bỏ những con bò, chạy theo Ê-li, và nói: “Xin thầy cho phép con về hôn chào từ giã cha của con và mẹ của con, rồi con sẽ theo thầy.” Ê-li nói với ông: “Hãy đi, rồi trở lại. Ta có làm gì ngươi đâu.” 21. Ê-li-sê đã quay trở lại, bắt đôi bò đang cày, giết chúng. Ông đã chẻ cày làm củi để nấu thịt, đãi cho người ta ăn, và họ đã ăn. Sau đó, ông đã đứng dậy đi theo Ê-li để phục vụ người.

 

20

  1. Bên Ha-đát, vua của A-ram, đã triệu tập tất cả quân đội của ông lại. Có ba mươi hai vua theo ông, cùng với ngựa và các xe chiến mã. Ông đã kéo lên bao vây Sa-ma-ri để tấn công nó. 2. Ông đã sai các sứ giả vào trong thành gặp A-háp, vua của Y-sơ-ra-ên, rồi nói rằng: “Bên Ha-đát nói như thế nầy: 3. Bạc của ngươi và vàng của ngươi là của ta. Những người vợ của ngươi, các con của ngươi, và những gì tốt đẹp nhất của ngươi là của ta.” 4. Vua của Y-sơ-ra-ên đã trả lời: “Tâu vua, là chúa của tôi! Thật đúng như vậy. Bản thân tôi và mọi sự mà tôi có đều thuộc về vua.”
  2. Sau đó, các sứ giả đã trở lại và nói: “Bên Ha-đát nói như thế nầy: Ta sai sứ giả đến báo cho ngươi biết: ‘Ngươi hãy nộp cho ta bạc của ngươi, vàng của ngươi, những người vợ của ngươi, và các con của ngươi. 6. Ngoài ra, ngày mai vào giờ nầy, ta sẽ sai các đầy tớ của ta đến cùng ngươi. Chúng sẽ lục soát cung điện của ngươi và nhà của các quần thần của ngươi. Bất cứ món gì ngươi coi là quý, chúng sẽ lấy và đem đi.’”
  3. Vua của Y-sơ-ra-ên đã triệu tập tất cả các trưởng lão trong xứ lại rồi nói: “Xin quý vị hãy xem! Người nầy đến để gây sự với chúng ta. Hắn đã sai sứ đến đòi ta phải nộp những người vợ của ta, các con của ta, bạc của ta, và vàng của ta cho hắn, và ta đã không từ chối.” 8. Tất cả các trưởng lão và mọi người đều nói: “Xin ngài đừng nghe theo lời hắn và đừng đồng ý gì cả.” 9. Vì vậy ông đã trả lời cho các sứ giả của Bên Ha-đát: “Xin tâu với vua, là chúa thượng của tôi: ‘Tất cả những gì ngài đòi hỏi tôi lần đầu, tôi xin tuân theo, nhưng lần nầy thì tôi không thể làm theo được.’” Các sứ giả đã ra đi, đem tin về cho người.
  4. Bên Ha-đát đã sai sứ đến nói rằng: “Nếu bụi đất ở Sa-ma-ri đủ cho những người đang theo ta, mỗi người một nắm, nguyện các thần giáng tai họa cho ta cách nặng nề!” 11. Nhưng vua Y-sơ-ra-ên đã trả lời: “Hãy nói với vua rằng: ‘Người mặc áo giáp đừng có khoe mình như người cởi nó ra.’” 12. Bên Ha-đát nghe sứ điệp nầy khi ông và các vua đang uống rượu trong trại quân, ông ra lịnh cho những bầy tôi của mình: “Hãy dàn trận!” Họ liền dàn trận để tấn công thành.
  5. Lúc đó có một tiên tri đến gặp A-háp, vua của Y-sơ-ra-ên, và nói: “Đức Giê-hô-va phán: Ngươi có thấy đạo quân đông đảo nầy không? Hãy xem! Hôm nay Ta sẽ phó nó vào tay của ngươi, để ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va.’” 14. A-háp hỏi: “Nên dùng ai?” Người trả lời: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Các viên chức trẻ trong những lãnh đạo của các tỉnh.’” Vua hỏi: “Ai sẽ cầm quân ra trận?” Người đáp: “Chính vua!” 15. Sau đó, ông đã kiểm kê số các viên chức trẻ trong những lãnh đạo của các tỉnh, có được hai trăm ba mươi hai người; và rồi ông kiểm kê toàn quân Y-sơ-ra-ên được bảy ngàn người, để đi theo họ.
  6. Họ tiến ra vào lúc giữa trưa. Khi đó, Bên-Ha-đát và các vua, tức là ba mươi hai vua hỗ trợ ông, đang say sưa trong lều. 17. Các viên chức trẻ trong những lãnh đạo của các tỉnh tiến ra trước. Bên Ha-đát sai quân thám thính. Họ báo lại với ông rằng: “Có người từ Sa-ma-ri kéo ra.” 18. Ông nói: “Nếu chúng ra để cầu hòa, hãy bắt sống chúng. Nếu chúng ra để gây chiến, cũng hãy bắt sống chúng.”
  7. Các viên chức trẻ trong những lãnh đạo của các tỉnh kéo ra ngoài thành, và đạo quân đã theo sau họ. 20. Họ đánh hạ đối phương của mình. Quân A-ram tháo chạy, còn quân Y-sơ-ra-ên thì truy đuổi. Bên Ha-đát, vua của A-ram, lên ngựa chạy thoát với một số kỵ binh. 21. Vua của Y-sơ-ra-ên đã kéo ra tấn công ngựa và các xe chiến mã. Ông đã đánh bại quân A-ram và gây tổn thất nặng nề cho họ.
  8. Sau đó, vị tiên tri đến với vua của Y-sơ-ra-ên, rồi nói với ông: “Hãy đi. Hãy củng cố lực lượng. Hãy chuẩn bị và đề phòng, bởi vì mùa xuân năm sau vua của A-ram sẽ trở lại tấn công.”
  9. Các triều thần của vua A-ram nói với người rằng: “Thần của họ là thần núi, cho nên họ mạnh hơn chúng ta. Nhưng nếu chúng ta giao chiến với họ trong đồng bằng, chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng họ. 24. Xin ngài hãy làm điều nầy: Hãy cách chức các vua, mỗi người phải rời khỏi vị trí của mình, rồi thay vào đó bằng các tướng lãnh. 25. Xin ngài hãy lập lại một đội quân như đội quân đã mất: Ngựa thay cho ngựa, xe chiến mã thay cho xe chiến mã, rồi chúng ta sẽ đến đánh họ tại đồng bằng. Chắc chắn chúng ta sẽ mạnh hơn họ.” Ông đã chấp thuận theo ý kiến của họ, rồi làm như vậy.
  10. Mùa xuân năm sau, Bên Ha-đát điểm quân A-ram, rồi kéo đến A-phéc để giao chiến với Y-sơ-ra-ên. 27. Người Y-sơ-ra-ên cũng điểm quân, chuẩn bị lương thực, và kéo ra nghênh chiến. Quân Y-sơ-ra-ên đóng trại đối diện quân A-ram. Họ chỉ giống như hai bầy dê nhỏ, còn quân A-ram thì tràn ngập khắp cả xứ.
  11. Khi đó, có người của Đức Chúa Trời đã đến nói với vua của Y-sơ-ra-ên. Người nói: “Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì người A-ram nói rằng Đức Giê-hô-va là thần núi chứ không phải thần thung lũng, cho nên Ta sẽ phó đoàn quân rất đông đảo nầy vào tay của ngươi, để các ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va.”
  12. Hai bên đóng trại đối diện nhau trong bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, chiến cuộc bùng nổ. Trong một ngày, dân Y-sơ-ra-ên đã đánh giết một trăm ngàn bộ binh A-ram. 30. Số còn lại chạy trốn vào thành A-phéc, nhưng các vách thành đã đổ xuống đè trên hai mươi bảy ngàn quân còn lại. Bên Ha-đát cũng bỏ chạy vào thành và trốn trong một phòng kín.
  13. Bầy tôi của ông đến tâu với ông: “Chúng tôi có nghe nói các vua của Y-sơ-ra-ên đều là những vị vua nhân từ. Vì vậy, xin cho phép chúng tôi buộc vải gai quanh lưng, quấn dây quanh đầu, rồi ra trình diện vua của Y-sơ-ra-ên, có thể vua đó sẽ tha mạng cho ngài.” 32. Vì vậy, họ đã buộc vải gai quanh lưng và quấn dây quanh đầu, rồi đến gặp vua của Y-sơ-ra-ên, và nói: “Bên Ha-đát, tôi tớ vua có nói như vầy: ‘Xin vua tha mạng cho tôi.’” Vua của Y-sơ-ra-ên hỏi: “Ông ấy vẫn còn sống sao? Ông ấy là anh em của ta.” 33. Những người đó quan sát tìm hiểu, khi thấy cử chỉ đó, họ liền vội vàng dựa vào đó và nói: “Vâng, Bên Ha-đát là anh em của ngài.” Sau đó vua của Y-sơ-ra-ên đã ra lệnh: “Hãy đi dẫn ông ấy đến gặp ta.” Vì vậy, Bên Ha-đát đã đến gặp vua của Y-sơ-ra-ên. Vua của Y-sơ-ra-ên đã mời hắn lên xe chiến mã của mình.
  14. Bên Ha-đát nói với A-háp: “Tôi sẽ trả lại cho ngài các thành mà cha tôi đã chiếm của cha ngài, và ngài có thể thiết lập phố chợ của ngài tại Đa-mách, giống như cha tôi đã làm tại Sa-ma-ri.” A-háp nói: “Tôi chấp thuận thỏa ước nầy và sẽ để cho ngài ra đi.” Và rồi A-háp đã lập thỏa ước với Bên Ha-đát, và để cho vua ấy ra đi.
  15. Sau đó, có một người trong các tiên tri đã vâng lệnh Đức Giê-hô-va nói với người bạn của mình: “Xin anh hãy đánh tôi.” Tuy nhiên người kia không chịu đánh ông. 36. Người đó nói với người kia: “Bởi vì anh đã không vâng lời Đức Giê-hô-va, cho nên sau khi anh rời khỏi tôi, một con sư tử sẽ giết anh.” Ngay sau khi người kia rời khỏi ông, một con sư tử đã gặp người kia, và vồ người kia chết.
  16. Sau đó, người đó gặp một người khác, và nói: “Xin anh hãy đánh tôi.” Người đó đã đánh ông và làm cho ông bị thương. 38. Sau đó, vị tiên tri đã ra đi. Ông băng bó đôi mắt để giả dạng, rồi chờ vua bên đường. 39. Khi vua đi ngang qua, ông kêu than với vua rằng: “Đầy tớ của bệ hạ đang ở giữa chiến trường thì có người dẫn đến một tù binh, rồi bảo: ‘Hãy canh giữ người nầy, nếu để nó chạy thoát thì mạng anh phải đền mạng cho nó, hoặc anh phải đền một ta-lâng bạc.’ 40. Nhưng trong khi đầy tớ của bệ hạ đang bận việc nầy việc kia thì tên tù binh trốn mất.” Vua Y-sơ-ra-ên liền nói với người ấy: “Đó là hình phạt của ngươi! Chính ngươi đã quyết định.” 41. Người đó vội vàng gỡ tấm vải che mắt xuống. Vua của Y-sơ-ra-ên liền nhận ra ông là một người trong các tiên tri. 42. Ông nói với vua: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: ‘Bởi vì ngươi đã để cho kẻ Ta muốn hủy diệt thoát đi; vì vậy mạng của ngươi sẽ đền cho mạng của nó, và dân của ngươi sẽ thay cho dân của nó.’”
  17. Vua của Y-sơ-ra-ên trở về cung điện tại Sa-ma-ri, ông cảm thấy buồn rầu và bực bội.

 

21

  1. Thời gian trôi qua, sau những việc nầy, Na-bốt, người Gít-rê-ên, có một vườn nho tại Gít-rê-ên gần bên cung điện của A-háp, vua của Sa-ma-ri. 2. A-háp nói với Na-bốt: “Hãy nhượng vườn nho của ngươi cho ta, để ta làm vườn rau, bởi vì nó ở bên cạnh nhà của ta. Ta sẽ bù lại cho ngươi một vườn nho khác tốt hơn. Hoặc nếu ngươi thích, ta sẽ trả cho ngươi bằng tiền theo trị giá của nó.” 3. Na-bốt trả lời A-háp: “Đức Giê-hô-va không cho phép tôi nhượng gia sản của tổ tiên tôi cho ngài.” 4. A-háp trở về nhà, bực bội và khó chịu, bởi vì Na-bốt, người Gít-rê-ên, đã nói với vua: “Tôi không thể nhượng cho ngài sản nghiệp của tổ tiên tôi.” Ông nằm trên giường, quay mặt đi, và không chịu ăn.
  2. Giê-sa-bên, vợ của ông, đã đến với ông và hỏi ông: “Tại sao tâm thần của ngài buồn rầu và ngài không chịu ăn?” 6. Ông nói với bà: “Tại vì ta có nói với Na-bốt, người Gít-rê-ên, rằng: ‘Hãy bán vườn nho của ngươi cho ta, rồi ta sẽ trả tiền cho; hoặc nếu ngươi muốn, ta sẽ đền cho ngươi một vườn nho khác.’ Nhưng hắn nói: ‘Tôi sẽ không nhượng vườn nho của tôi cho vua.’” 7. Giê-sa-bên, vợ của ông, nói với ông: “Không phải ngài đang cai trị trên Y-sơ-ra-ên hay sao? Xin ngài hãy trỗi dậy và ăn. Xin ngài hãy vui lên. Tôi sẽ tặng cho ngài vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên.”
  3. Sau đó, bà đã nhân danh A-háp viết những bức thư và đóng ấn bằng ấn của vua, rồi gởi những bức thư đó cho các trưởng lão và những người quyền quý sống cùng thành với Na-bốt. 9. Trong những bức thư, bà viết rằng: “Hãy công bố một kỳ kiêng ăn. Hãy đặt Na-bốt vào nơi cao trọng giữa vòng dân chúng. 10. Hãy đem hai kẻ vô lại ngồi đối diện với hắn, rồi bảo chúng tố cáo hắn rằng hắn đã rủa sả Đức Chúa Trời và vua. Sau đó, hãy đem hắn ra ngoài rồi ném đá cho hắn chết.”
  4. Những người trong thành, các trưởng lão và những người quyền quý sống trong thành đã làm như Giê-sa-bên đã gởi cho họ. Theo như bức thư bà đã gởi cho họ, 12. họ đã công bố một kỳ kiêng ăn, rồi đặt Na-bốt vào một nơi cao trọng giữa vòng dân chúng. 13. Hai kẻ vô lại đã bước vào, ngồi đối diện với Na-bốt. Những kẻ vô lại đó đã tố cáo Na-bốt trước sự hiện diện của dân chúng trong thành rằng: “Na-bốt đã rủa sả Đức Chúa Trời và vua.” Họ đem ông ra ngoài thành, lấy đá ném ông, và ông đã chết. 14. Họ gởi tin cho Giê-sa-bên rằng: “Na-bốt đã bị ném đá và đã chết.”
  5. Sau đó, khi Giê-sa-bên nghe tin Na-bốt đã bị ném đá và đã chết, Giê-sa-bên đã đến nói với A-háp: “Xin vua hãy đứng dậy, chiếm lấy vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên, mà hắn đã từ chối bán cho ngài để lấy tiền, bởi vì Na-bốt không còn sống nữa, nhưng đã chết rồi.” 16. Sau khi A-háp nghe tin Na-bốt đã chết, A-háp đã đứng dậy, đi xuống vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên, để chiếm đoạt nó.
  6. Có lời của Đức Giê-hô-va đến với Ê-li, người Thi-sê-be, rằng: 18. “Hãy đứng dậy, đi xuống gặp A-háp, vua của Y-sơ-ra-ên, tại Sa-ma-ri. Kìa, nó đang ở trong vườn nho của Na-bốt, là nơi mà nó đã đến đó để chiếm đoạt cho mình. 19. Ngươi hãy nói với nó rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: ‘Ngươi đã giết người và cướp của phải không?’ Sau đó, ngươi hãy nói với nó rằng: ‘Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tại chỗ chó đã liếm máu của Na-bốt, chó cũng sẽ liếm máu của ngươi.’”
  7. A-háp nói với Ê-li: “Hỡi kẻ thù của ta! Ngươi đã tìm ra ta phải không?” Ông nói: “Tôi đã tìm ra ông. Bởi vì ông đã tự bán mình để làm điều ác trước mặt của Đức Giê-hô-va. 21. Ngài phán: ‘Ta sẽ mang tai họa đến trên ngươi. Ta sẽ thiêu rụi hậu tự của ngươi. Ta sẽ diệt mọi người nam của nhà A-háp, bất kể là nô lệ hay tự do trong Y-sơ-ra-ên. 22. Ta sẽ khiến nhà của ngươi giống như nhà của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, và giống như nhà của Ba-ê-sa, con trai của A-hi-gia, bởi vì ngươi đã chọc giận Ta và đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.’ 23. Về phần Giê-sa-bên, Đức Giê-hô-va phán rằng: ‘Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên bên cạnh tường thành của Gít-rê-ên.’ 24. Ai thuộc gia đình A-háp chết trong thành, sẽ bị chó ăn; còn ai trong gia đình của hắn chết ngoài đồng, sẽ bị chim trời ăn. 25. Không ai giống như A-háp, là kẻ đã tự bán mình để làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì hắn đã để cho Giê-sa-bên, vợ của hắn, xúi giục hắn. 26. Hắn đã hành động thật kinh tởm để đi theo những thần tượng, và đã làm tất cả những thứ mà dân A-mô-rít – là những kẻ mà Đức Giê-hô-va đã xua đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên – đã làm.”
  8. Sau khi A-háp nghe những lời đó thì ông đã xé trang phục của mình, mặc bao gai trên thân xác của mình, kiêng ăn, nằm trong tro, và cư xử cách mềm mỏng. 28. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Ê-li, người Thi-sê-be, rằng: 29. “Ngươi có nhìn thấy A-háp đã hạ mình như thế nào trước mặt Ta hay không? Bởi vì nó đã hạ mình trước mặt Ta, cho nên Ta sẽ không giáng tai họa trong đời của nó. Nhưng trong đời con của nó, Ta sẽ giáng tai họa xuống trên nhà của nó.”

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top