Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: I Sa-mu-ên

Bản Dịch Việt Ngữ: I Sa-mu-ên

I Sa-mu-ên

1

  1. Có một người quê tại Ra-ma-tha-im Xô-phim, thuộc vùng núi Ép-ra-im, tên là Ên-ca-na, con trai của Giê-rô-ham, con trai của Ê-li-hu, con trai của Tô-hu, con trai của Xu-phơ, là cư dân tại Ép-ra-im. 2. Ên-ca-na có hai vợ, một người tên là An-ne, người kia tên là Phê-ni-na. Phê-ni-na có nhiều con, nhưng An-ne không có con.
  2. Hằng năm, Ên-ca-na từ thành của mình đi lên để thờ phượng và dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va của các đạo quân tại Si-lô. Hai con trai của Hê-li, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đang làm tư tế của Đức Giê-hô-va tại đó.
  3. Đến ngày dâng sinh tế, Ên-ca-na chia lễ vật ra cho vợ của mình là Phê-ni-na, và cho tất cả các con trai và con gái của bà; 5. tuy nhiên ông dành cho An-ne một phần gấp đôi, bởi vì ông yêu An-ne, mặc dù Đức Giê-hô-va đã khiến nàng hiếm muộn 6. Kẻ ghét nàng không ngớt trêu chọc để nàng ưu phiền, bởi vì Đức Giê-hô-va đã khiến cho nàng hiếm muộn.
  4. Việc này cứ diễn ra như vậy năm nầy sang năm khác, mỗi khi nàng lên nhà của Đức Giê-hô-va, người phụ nữ kia chọc tức nàng; vì vậy, nàng khóc và bỏ ăn. 8. Ên-ca-na, chồng của nàng, nói cùng nàng: “An-ne! Tại sao em khóc? Tại sao em không ăn? Tại sao lòng của em phiền muộn? Anh không đáng cho em hơn mười đứa con trai hay sao?”
  5. Sau khi họ đã ăn uống xong tại Si-lô, An-ne trỗi dậy – Lúc đó, thầy tế lễ Hê-li đang ngồi trên ghế gần bên trụ cửa của nhà Đức Giê-hô-va – 10. Với tâm hồn đau khổ, nàng khóc cách thảm sầu, rồi cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va. 11. Nàng đã khấn nguyện: “Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của tớ gái Ngài, nhớ lại con và không quên tớ gái của Ngài, nhưng ban cho tớ gái của Ngài một con trai, thì con sẽ hiến dâng nó cho Đức Giê-hô-va trọn đời, và dao cạo sẽ không chạm đến đầu của nó.”
  6. Thời gian trôi qua, nhưng nàng tiếp tục cầu nguyện trước mặt Đức Giê-hô-va. Hê-li chú ý đến miệng của nàng – 13. bởi vì An-ne cầu nguyện trong lòng, chỉ mấp máy môi, không nghe tiếng – do đó, Hê-li nghĩ rằng nàng đang say rượu.
  7. Hê-li nói với nàng: “Con còn say cho đến bao giờ? Hãy đi dã rượu đi!”
  8. An-ne trả lời và nói: “Chúa ôi! Không phải vậy! Con là một phụ nữ có tâm linh đau khổ. Con không uống rượu mạnh hay rượu nho, nhưng con dốc đổ nỗi lòng của con trước mặt Đức Giê-hô-va. 16. Xin đừng nghĩ tớ gái của ngài là một phụ nữ hư đốn. Nỗi đau khổ và ưu phiền quá nhiều của con khiến con phải cầu khẩn cho đến bây giờ.”
  9. Hê-li trả lời và nói: “Hãy đi bình an! Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ ban cho con điều con cầu xin Ngài!”
  10. An-ne thưa: “Nguyện tớ gái của ngài được ơn trước mặt ngài.” Rồi nàng đi về, ăn, và nét mặt không còn u sầu.
  11. Sáng sớm, họ thờ phượng Đức Giê-hô-va, rồi trở về nhà của họ tại Ra-ma.

Ên-ca-na biết An-ne, vợ của mình. Đức Giê-hô-va nhớ đến nàng.

  1. Thời gian trôi qua, sau khi An-ne thụ thai, đến kỳ hạn, nàng sinh một con trai và đặt tên là Sa-mu-ên – nghĩa là “Tôi đã khẩn cầu nó từ Đức Giê-hô-va.”
  2. Ên-ca-na, người đàn ông, cùng với cả gia đình, đi lên để dâng sinh tế hằng năm cho Đức Giê-hô-va, và làm trọn lời khấn nguyện của mình; 22. nhưng An-ne không đi. Nàng nói với chồng: “Khi đứa trẻ thôi bú, em sẽ dẫn nó lên để trình diện với Đức Giê-hô-va, và ở đó mãi mãi.”
  3. Ên-ca-na, chồng nàng nói với nàng: “Hãy làm theo điều em cho là phải; hãy ở lại cho đến khi em dứt sữa cho con – miễn là hoàn thành lời hứa với Đức Giê-hô-va.” Vì vậy, nàng ở lại, cho con bú cho đến khi dứt sữa cho nó.
  4. Khi đứa trẻ thôi bú, nàng mang nó, cùng ba con bò tơ đực, một ê-pha bột, và một bầu rượu, rồi mang nó lên nhà của Đức Giê-hô-va tại Si-lô – đứa trẻ vẫn còn nhỏ. 25. Họ giết một con bò đực, rồi mang đứa trẻ đến Hê-li.
  5. Nàng nói: “Thưa chúa! Thật như linh hồn ngài đang sống. Thưa chúa! Tôi chính là người phụ nữ đã đứng tại đây bên cạnh ngài để cầu khẩn Đức Giê-hô-va. 27. Tôi đã cầu xin để được đứa trẻ nầy, và Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi điều tôi khẩn cầu. 28. Vì vậy, tôi trao nó cho Đức Giê-hô-va. Khi nào nó còn sống, nó sẽ được trao cho Đức Giê-hô-va.”

Và rồi cậu bé phục vụ Đức Giê-hô-va tại đó.

 

2

  1. Sau đó, An-ne đã cầu nguyện và thưa rằng:

“Lòng con vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tiếng kèn của con được trỗi lên nhờ Đức Giê-hô-va, miệng của con tươi cười trước những kẻ thù của con, bởi vì con được vui mừng nhờ sự giải cứu của Ngài. 2. Không ai thánh như Đức Giê-hô-va, không ai giống như Ngài, không ai là vầng đá như Đức Chúa Trời của chúng con.

  1. Đừng nói những lời cao ngạo nữa, đừng để những lời kiêu căng ra từ miệng của các ngươi, bởi vì Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của sự thông biết, Ngài đánh giá mọi hành động. 4. Cây cung của những kẻ hùng mạnh đã bị gãy, còn những người yếu đuối lại được trang bị bằng sức mạnh; 5. những kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn, còn những người đói bây giờ không còn đói nữa; và thậm chí những người hiếm muộn thì sinh sản được bảy lần, nhưng kẻ đông con thì lại suy tàn.
  2. Đức Giê-hô-va giết, rồi làm cho sống lại; Ngài đưa xuống mồ, rồi lại đem lên. 7. Đức Giê-hô-va làm cho nghèo, làm cho giàu; Ngài hạ xuống thấp và Ngài nâng lên. 8. Ngài nhấc người nghèo lên khỏi bụi đất, nâng người thiếu thốn lên khỏi đống tro, đặt họ giữa những người quyền quý, làm cho họ thừa hưởng ngôi vinh quang; bởi vì những trụ cột của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va, Ngài đặt thế giới ở trên chúng. 9. Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài, còn những kẻ ác sẽ bị hủy diệt nơi tối tăm; bởi vì không phải nhờ sức mạnh mà người ta được đắc thắng. 10. Những kẻ chống lại Đức Giê-hô-va sẽ bị đập nát tan tành; từ trên trời Ngài sẽ giáng sấm sét trên chúng. Đức Giê-hô-va sẽ xét xử cho đến tận cùng trái đất, Ngài ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua, và ban uy quyền cho người được Ngài xức dầu.”
  3. Ên-ca-na trở về nhà của mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục vụ Đức Giê-hô-va dưới sự hướng dẫn của Tư tế Hê-li.
  4. Các con trai của Hê-li là những kẻ đồi bại không biết kính sợ Đức Giê-hô-va, 13. cũng không giữ quy định của người làm tư tế đối với dân chúng. Khi có ai dâng sinh tế, lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, dùng tay cầm chĩa ba, 14. châm vào chảo, nồi, vạc, hoặc niêu, hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì người đó lấy cho tư tế. Họ đã làm như vậy tại Si-lô cho tất cả những người Y-sơ-ra-ên đến đó. 15. Hơn nữa, trước khi người ta thiêu mỡ, đầy tớ của tư tế đến nói với người dâng sinh tế rằng: “Hãy đưa thịt cho tư tế để nướng, vì ông không nhận thịt luộc nhưng chỉ nhận thịt sống mà thôi.” 16. Nếu có ai nói: “Hãy để cho họ dâng mỡ trước, sau đó ông sẽ lấy bất cứ thứ gì mà lòng ông muốn”, thì hắn trả lời: “Không được! Phải đưa ngay bây giờ, nếu không, ta sẽ dùng vũ lực để lấy!” 17. Tội lỗi của những người đó rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì họ đã khinh thường những lễ vật được dâng cho Đức Giê-hô-va.
  5. Nhưng Sa-mu-ên phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va. Cậu bé mặc một ê-phót bằng vải gai. 19. Năm này qua năm khác, mẹ của cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà cùng chồng của mình đi lên để dâng sinh tế hằng năm. 20. Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và An-ne rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi có nhiều hậu tự từ phụ nữ nầy để thay thế cho đứa con mà nàng đã cầu xin rồi đem dâng cho Đức Giê-hô-va!”. Sau đó, họ đã trở về nhà của mình. 21. Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne. Nàng thụ thai, sinh thêm ba con trai và hai con gái. Còn cậu bé Sa-mu-ên lớn lên trước mặt Đức Giê-hô-va.
  6. Lúc đó Hê-li đã già, ông nghe hết những chuyện các con của ông đã làm cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, và chuyện chúng đã ăn nằm với những phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến. 23. Ông nói với họ: “Tại sao các con làm những chuyện nầy? Bởi vì cha đã nghe mọi người nói về những chuyện xấu xa của các con. 24. Các con ơi! Không được làm như vậy. Bởi vì không có điều gì tốt lành trong những chuyện mà cha đã nghe. Các con đã làm cho dân của Đức Giê-hô-va vấp phạm. 25. Nếu một người phạm tội với người khác, thì Đức Chúa Trời sẽ phán xét người đó; nhưng nếu một người phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, thì ai sẽ cầu thay cho người đó?” Tuy nhiên, họ không chịu nghe theo lời cha của họ, bởi vì Đức Giê-hô-va muốn giết họ.
  7. Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên lớn lên, đẹp lòng cả Đức Giê-hô-va và nhiều người.
  8. Có một người của Đức Chúa Trời đến gặp Hê-li, nói với ông: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Không phải Ta đã hiện ra một cách rõ ràng với nhà của tổ phụ ngươi khi họ còn ở tại Ai Cập dưới triều của Pha-ra-ôn hay sao? 28. Trong tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, không phải Ta đã chọn người để làm tư tế cho Ta, để dâng sinh tế trên bàn thờ của Ta, để đốt hương, để đeo ê-phót và cầu hỏi ý của Ta hay sao? Không phải Ta đã ban cho nhà của tổ phụ ngươi tất cả những tế lễ thiêu của dân Y-sơ-ra-ên hay sao? 29. Như vậy, tại sao các ngươi lại chà đạp trên những sinh tế và lễ vật mà Ta truyền dâng tại nơi ngự của Ta? Ngươi coi trọng các con trai của ngươi hơn Ta. Các ngươi đã nuôi mình cho mập bằng những lễ vật tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. 30. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã từng phán rằng nhà của ngươi và nhà cha của ngươi sẽ bước đi trước mặt Ta đời đời. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Điều đó không còn nữa. Bởi vì ai coi trọng Ta sẽ được Ta coi trọng, nhưng ai xem thường Ta sẽ bị xem thường. 31. Kìa, trong những ngày đến, Ta sẽ hủy diệt sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, để rồi không còn người già trong nhà của ngươi nữa. 32. Ngươi sẽ nhìn thấy chuyện khốn khổ trong nhà của mình. Sẽ có nhiều chuyện tốt đẹp cho Y-sơ-ra-ên, nhưng sẽ không còn một người già nào trong gia đình của ngươi. 33. Còn người nào thuộc về ngươi, mà Ta không truất khỏi bàn thờ của Ta, thì sẽ làm cho lòng của ngươi đau khổ và mắt của ngươi mỏi mòn. Tất cả những người thuộc dòng dõi trong nhà của ngươi sẽ chết vào lúc thanh xuân. 34. Đây là một dấu hiệu cho ngươi: Sẽ có một ngày hai con của ngươi là Hóp-ni và Phi-nê-a, cả hai sẽ chết trong cùng một ngày. 35. Ta sẽ lập lên cho Ta một tư tế trung thành, là người sẽ làm theo lòng của Ta và theo ý của Ta. Ta sẽ xây dựng cho người một gia tộc vững vàng. Người sẽ đi trước mặt đấng được xức dầu của Ta mãi mãi. 36. Và rồi, người nào còn sống sót trong nhà của ngươi sẽ đến quì trước người đó để xin một đồng tiền hoặc một miếng bánh, rồi thưa: Xin hãy cho tôi một chức tế lễ để tôi có một miếng bánh ăn.”

 

3

  1. Cậu bé Sa-mu-ên phục vụ Đức Giê-hô-va dưới sự hướng dẫn của Hê-li. Vào lúc đó, lời của Đức Giê-hô-va rất hiếm và khải tượng không xảy ra.
  2. Thời gian trôi qua, mắt của Hê-li đã bắt đầu mờ, ông không còn nhìn thấy rõ nữa. Một hôm, Hê-li đang nằm tại chỗ của mình, 3. đèn của Đức Chúa Trời vẫn chưa tắt, Sa-mu-ên đang nằm ngủ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi có Rương Giao Ước của Đức Chúa Trời. 4. Đức Giê-hô-va đã gọi Sa-mu-ên. Cậu bé thưa: “Có con đây!” 5. Vì vậy, cậu đã chạy đến với Hê-li, rồi nói: “Có con đây, bởi vì ông đã gọi con.” Ông nói: “Ta không gọi. Hãy nằm xuống ngủ trở lại!” Vì vậy, cậu đã đi và ngủ.
  3. Và rồi, Đức Giê-hô-va lại gọi nữa: “Sa-mu-ên!” Cậu bé đã trỗi dậy, đi đến với Hê-li, rồi nói: “Có con đây, bởi vì ông đã gọi con.” Ông nói: “Con ơi! Ta không gọi. Hãy nằm xuống ngủ trở lại!” 7. Lúc đó, Sa-mu-ên chưa biết Đức Giê-hô-va, và lời của Đức Giê-hô-va chưa được mặc khải cho cậu.
  4. Đức Giê-hô-va lại gọi Sa-mu-ên lần thứ ba. Cậu trỗi dậy, đến với Hê-li, rồi nói: “Có con đây, bởi vì ông đã gọi con.” Hê-li nhận biết Đức Giê-hô-va đã gọi đứa trẻ. 9. Vì vậy, Hê-li nói với Sa-mu-ên: “Hãy đi, rồi hãy nằm xuống ngủ. Nếu có ai gọi con, thì hãy thưa: Đức Giê-hô-va! Xin hãy phán, bởi vì đầy tớ của Ngài đang lắng nghe.” Sa-mu-ên đã đi về, rồi nằm xuống tại chỗ của mình.
  5. Đức Giê-hô-va đã đến, đứng tại đó, rồi gọi như những lần trước: “Sa-mu-ên! Sa-mu-ên!” Sa-mu-ên thưa: “Xin hãy phán, vì đầy tớ của Ngài đang lắng nghe!” 11. Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Hãy xem! Ta sắp làm một việc trong Y-sơ-ra-ên mà ai nghe đến, đều phải lùng bùng cả hai tai. 12. Trong ngày đó, Ta sẽ làm ứng nghiệm cho Hê-li tất cả những điều Ta đã báo trước cho nhà của người, từ đầu cho đến cuối. 13. Ta đã bảo cho người rằng Ta sẽ trừng phạt nhà của người cho đến đời đời về những tội lỗi mà người đã biết, bởi vì chính các con trai của người đã làm chuyện tệ hại, nhưng người không ngăn cấm chúng nó. 14. Vì vậy, Ta đã thề cùng nhà Hê-li rằng cho đến đời đời, tội lỗi của nhà Hê-li sẽ không chuộc được bằng sinh tế hay bằng lễ vật.”
  6. Sa-mu-ên nằm ngủ cho đến sáng, rồi mở các cửa của nhà Đức Giê-hô-va. Sa-mu-ên sợ phải thuật lại khải tượng cho Hê-li. 16. Nhưng Hê-li đã gọi Sa-mu-ên rồi nói: “Sa-mu-ên! Con của ta!” Cậu thưa: “Có con đây!”. 17. Ông nói: “Ngài đã phán với con điều gì? Xin đừng giấu ta. Nếu con giấu ta bất cứ điều nào trong mọi điều Ngài đã phán với con, nguyện Đức Chúa Trời phạt con như vậy và còn hơn thế nữa.” 18. Vì vậy, Sa-mu-ên đã thuật lại cho ông mọi điều và không giấu ông điều nào. Và rồi ông nói: “Đức Giê-hô-va ôi! Nguyện Ngài làm điều gì Ngài thấy là tốt.”
  7. Sa-mu-ên lớn lên, Đức Giê-hô-va ở với người. Ngài không để một lời nào của người phải sa bại xuống đất. 20. Tất cả Y-sơ-ra-ên, từ Đan cho đến Bê-e Sê-ba, đều biết rằng Sa-mu-ên được lập nên để làm tiên tri của Đức Giê-hô-va. 21. Đức Giê-hô-va tiếp tục xuất hiện tại Si-lô. Tại Si-lô, Đức Giê-hô-va đã mặc khải cho Sa-mu-ên bằng lời của Ngài.

 

4

  1. Lời của Sa-mu-ên được loan truyền khắp Y-sơ-ra-ên. Lúc đó, người Y-sơ-ra-ên ra trận đánh người Phi-li-tin. Họ đóng trại gần Ê-bên Ê-xe, còn người Phi-li-tin đóng trại tại A-phéc. 2. Người Phi-li-tin dàn trận đánh người Y-sơ-ra-ên. Người Y-sơ-ra-ên giao chiến và bị người Phi-li-tin đánh bại, quân lính bị giết tại chiến trường khoảng bốn ngàn người. 3. Khi dân chúng trở về trại quân, các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên nói: “Tại sao hôm nay Đức Giê-hô-va để cho chúng ta bị đánh bại trước người Phi-li-tin? Chúng ta hãy thỉnh Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ Si-lô đến với chúng ta. Khi Rương đến ở giữa chúng ta, Rương sẽ cứu chúng ta khỏi tay kẻ thù của chúng ta.” 4. Vì vậy dân chúng sai người đến Si-lô rước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Ðấng ngự giữa các chê-ru-bim. Hai con trai của Ê-li là Hóp-ni và Phi-nê-a đi theo Rương Giao Ước của Ðức Chúa Trời.
  2. Khi Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào trong trại quân, toàn thể Y-sơ-ra-ên reo hò vang dội, rúng động cả đất. 6. Khi quân Phi-li-tin nghe tiếng reo hò, họ hỏi: “Tiếng ồn ào huyên náo trong trại quân Hê-bơ-rơ là gì vậy?” Sau đó, họ biết rằng Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va đã vào trong trại quân. 7. Vì vậy, người Phi-li-tin hoảng sợ, họ nói: “Đức Chúa Trời đã đến trong trại quân!” Rồi họ nói: “Thật khốn nạn cho chúng ta, bởi vì trước đây chưa bao giờ có việc như vậy. 8. Thật khốn nạn cho chúng ta! Ai sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay Ðức Chúa Trời quyền năng nầy? Đây là Ðức Chúa Trời đã trừng phạt người Ai Cập bằng đủ thứ tai họa trong hoang mạc. 9. Hỡi người Phi-li-tin! Hãy cư xử như những bậc trượng phu. Nếu không, các ngươi sẽ trở thành nô lệ cho người Hê-bơ-rơ, như họ đã từng làm nô lệ cho các ngươi! Hãy là những bậc trượng phu chiến đấu.”
  3. Vì vậy, người Phi-li-tin đã chiến đấu. Người Y-sơ-ra-ên thua trận, ai nấy chạy trốn về trại của mình. Đó là một cuộc thảm sát rất lớn: Ba mươi ngàn bộ binh Y-sơ-ra-ên đã tử trận. 11. Rương của Ðức Chúa Trời bị chiếm đoạt. Hai con trai của Hê-li là Hóp-ni và Phi-nê-a bị giết.
  4. Ngày hôm đó, có một người Bên-gia-min từ chiến trường chạy về Si-lô, quần áo tả tơi, đầu đầy bụi đất. 13. Khi người về đến nơi, thấy Ê-li đang ngồi trên ghế bên đường trông chờ, bởi vì lòng ông bồn chồn lo lắng cho Rương của Ðức Chúa Trời. Khi người đó vào trong thành báo tin, cả thành bật khóc. 14. Hê-li nghe tiếng khóc gào, ông hỏi: “Chuyện gì mà ồn ào vậy?” Người đó vội vàng đến báo cho Hê-li. 15. Lúc đó, Hê-li đã chín mươi tám tuổi, mắt ông đã mù, không nhìn thấy được. 16. Người đó nói với Hê-li: “Con là người từ chiến trường về. Hôm nay, con thoát khỏi trận đánh.” Hê-li hỏi: “Con ơi! Điều gì đã xảy ra?” 17. Người đưa tin trả lời: “Y-sơ-ra-ên đã chạy trốn trước mặt người Phi-li-tin. Dân chúng ta bị giết rất nhiều. Hai con trai của ông, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đều đã chết. Rương của Đức Chúa Trời đã bị chiếm đoạt.” 18. Khi người đó vừa nói đến Rương của Đức Chúa Trời, thì Hê-li ngã về phía sau khỏi chỗ của mình tại cổng, bị gãy cổ, rồi chết, vì ông đã già yếu và nặng nề. Ông đã làm thẩm phán cho Y-sơ-ra-ên bốn mươi năm.
  5. Con dâu của ông là vợ của Phi-nê-a đang có thai, gần đến ngày sanh. Nghe tin Rương của Đức Chúa Trời bị chiếm đoạt, cha chồng và chồng đều qua đời, cơn đau đẻ quặn lên, nàng gập người xuống sinh con. 20. Lúc nàng sắp chết, những phụ nữ hiện diện tại đó nói: “Đừng sợ, vì cô đã sinh được một con trai!” Nhưng nàng không trả lời và cũng không quan tâm. 21. Nàng đặt tên cho đứa trẻ là Y-ca-bốt, và nói rằng: “Vinh quang đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên” – bởi vì Rương của Ðức Chúa Trời đã bị chiếm đoạt – và vì cha chồng và chồng của nàng. 22. Nàng nói: “Vinh quang đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên, bởi vì Rương của Đức Chúa Trời đã bị chiếm đoạt!”

 

5

  1. Dân Phi-li-tin lấy Rương của Ðức Chúa Trời từ Ê-bên-ê-xe đem về Ách-đốt. 2. Dân Phi-li-tin lấy Rương của Ðức Chúa Trời đem vào đền thờ Ða-gôn, rồi để bên cạnh Ða-gôn.
  2. Sáng hôm sau, dân Ách-đốt dậy sớm, họ thấy Đa-gôn ngã sấp mặt xuống đất trước Rương của Đức Giê-hô-va. Sau đó, họ đã đem Đa-gôn đặt trở lại vào chỗ của hắn. 4. Sáng hôm sau, họ dậy sớm, thấy Đa-gôn ngã sấp mặt xuống đất trước Rương của Đức Giê-hô-va. Đầu của Đa-gôn và những bàn tay bị chặt đứt, nằm trên ngưỡng cửa, chỉ còn lại thân của Đa-gôn. 5. Vì vậy, kể từ đó các tế sư của Ða-gôn và tất cả những ai vào đền thờ Ða-gôn đều không giẫm chân lên ngạch cửa của đền thờ Ða-gôn tại Ách-đốt cho đến ngày nay.
  3. Đức Giê-hô-va đã ra tay nặng nề trên dân Ách-đốt. Ngài khiến cho dân Ách-đốt và vùng phụ cận phải kinh hoàng và đau đớn vì bệnh bướu độc.
  4. Khi người Ách-đốt thấy như vậy, họ nói: “Rương của Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên không thể ở với chúng ta, bởi vì tay Ngài đã giáng họa trên chúng ta và trên Đa-gôn là thần của chúng ta.” 8. Vì vậy, họ đã sai người mời tất cả các lãnh chúa của người Phi-li-tin đến, rồi hỏi: “Chúng ta sẽ làm gì với Rương của Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên?” Những người đó trả lời: “Phải đem Rương của Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên đến Gát.”

Sau đó, họ đã đem Rương của Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên đến đó. 9. Nhưng sau khi họ đã đem Rương đến đó, tay của Đức Giê-hô-va đã giáng sự hủy diệt nặng nề trên thành. Ngài hành hạ dân trong thành, từ nhỏ cho đến lớn, bằng bướu độc trên người của họ. 10. Vì vậy, họ đã gởi Rương của Đức Chúa Trời đến Éc-rôn.

Sau khi Rương của Đức Chúa Trời đến Éc-rôn, người Éc-rôn kêu than rằng: “Họ đem Rương của Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên đến để giết chúng ta và dân của chúng ta!” 11. Vì vậy, họ sai người mời tất cả các lãnh chúa của người Phi-li-tin đến, rồi nói: “Hãy gởi trả Rương của Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên! Hãy để cho nó trở về chỗ của nó, nếu không nó sẽ giết chúng ta và dân của chúng ta.”

Sự hủy diệt chết chóc xảy ra trong tất cả các thành, vì tay của Ðức Chúa Trời đã giáng họa nặng nề tại những nơi đó. 12. Những người nào không chết thì bị bướu độc hành hạ, và tiếng kêu than trong thành vang đến tận trời.

 

6

  1. Rương của Đức Giê-hô-va đã ở trong lãnh thổ của Phi-li-tin được bảy tháng. 2. Dân Phi-li-tin đã gọi những tế sư và các thuật sĩ của họ đến, rồi hỏi: “Chúng tôi phải làm gì đối với Rương của Đức Giê-hô-va? Hãy cho chúng tôi biết bằng cách nào để trả nó về nơi cũ?”
  2. Những người đó trả lời: “Nếu các ngươi trả lại Rương của Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên, thì đừng gởi đi không, nhưng phải trả cho Ngài một lễ vật chuộc tội. Sau đó các ngươi sẽ được chữa lành, và sẽ biết tại sao tay của Ngài không rời khỏi các ngươi.”
  3. Họ hỏi: “Lễ vật chuộc tội mà chúng tôi phải trả cho Ngài là gì?”

Những người đó trả lời: “Năm cục bướu bằng vàng và năm con chuột bằng vàng, theo số các lãnh chúa của người Phi-li-tin, bởi vì cùng một dịch bệnh đã giáng trên các ngươi và các lãnh chúa của các ngươi. 5. Vì vậy, các ngươi phải làm tượng của những cục bướu và tượng của những con chuột đã tàn phá cả xứ. Các ngươi hãy dâng vinh quang cho Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, may ra Ngài sẽ nhẹ tay đối với các ngươi, với những thần của các ngươi, và với xứ sở của các ngươi. 6. Tại sao các ngươi cứng lòng của mình như dân Ai Cập và Pha-ra-ôn đã cứng lòng của họ? Sau khi Ngài hành hạ họ, không phải họ đã để cho người Y-sơ-ra-ên ra đi hay sao? 7. Bây giờ, hãy đóng một cỗ xe mới, và bắt hai con bò cái còn cho con bú, chưa mang ách, thắng chúng vào xe, nhưng tách các con của chúng ra mà đưa vào chuồng. 8. Hãy đem Rương của Đức Giê-hô-va đặt trên xe, hãy để tất cả những lễ vật bằng vàng mà các ngươi dâng trả cho Đức Giê-hô-va để làm lễ chuộc tội vào trong một cái hộp rồi đặt nó ở bên cạnh. Rồi hãy gởi nó đi, thì nó sẽ đi. 9. Các ngươi hãy nhìn theo: Nếu xe đi về lãnh thổ của nó, tức là về hướng Bết Sê-mết, thì chính Ngài đã làm điều nầy trên chúng ta. Nếu không, thì chúng ta biết rằng không phải tay Ngài đã hành hạ chúng ta, nhưng đó chỉ là chuyện tình cờ xảy ra cho chúng ta.”

  1. Sau đó, người ta đã làm như vậy. Họ bắt hai con bò cái còn cho con bú, cột chúng vào cỗ xe, rồi bắt các con nhỏ của chúng nhốt lại trong chuồng. 11. Họ đặt Rương của Đức Giê-hô-va lên xe, cùng với hộp đựng những con chuột bằng vàng và tượng những cục bướu. 12. Những con bò cái đã đi thẳng theo hướng về Bết Sê-mết. Chúng theo một con đường cái mà đi, vừa đi vừa rống, không quay qua bên phải, cũng không quay qua bên trái. Các lãnh chúa Phi-li-tin đi theo sau chúng cho đến ranh giới Bết Sê-mết.
  2. Lúc đó, người Bết Sê-mết đang gặt lúa mì trong thung lũng, họ ngước mắt lên nhìn thấy Rương, họ rất vui mừng khi nhìn thấy nó. 14. Cỗ xe đến cánh đồng của Giô-suê, người Bết Sê-mết, rồi dừng lại tại đó. Có một tảng đá lớn tại đó. Họ đã chẻ gỗ của xe, rồi dâng những con bò cái làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. 15. Người Lê-vi đem Rương của Đức Giê-hô-va cùng với hộp đựng những lễ vật bằng vàng xuống khỏi xe, rồi đặt tất cả trên tảng đá lớn. Người Bết Sê-mết đã dâng những tế lễ thiêu và những sinh tế khác cho Đức Giê-hô-va trong ngày hôm đó. 16. Sau khi năm lãnh chúa Phi-li-tin nhìn thấy những điều đó, họ trở về Éc-rôn trong ngày hôm đó.
  3. Ðây là những cục bướu bằng vàng mà dân Phi-li-tin đã gởi làm của lễ chuộc lỗi dâng lên cho Đức Giê-hô-va: Một cho Ách-đốt, một cho Ga-xa, một cho Ách-kê-lôn, một cho Gát, và một cho Éc-rôn. 18. Những con chuột bằng vàng cũng theo số các thành của người Phi-li-tin thuộc về năm lãnh chúa, gồm cả thành kiên cố và những làng quê, trải dài cho đến tảng đá lớn vẫn còn cho đến ngày nay, là nơi họ đã đặt Rương của Đức Giê-hô-va trong cánh đồng của Giô-suê, người Bết Sê-mết.
  4. Đức Giê-hô-va trừng phạt người Bết Sê-mết bởi vì họ đã nhìn vào Rương của Đức Giê-hô-va. Ngài đã đánh chết bảy mươi người trong số năm mươi ngàn người. Dân chúng than khóc vì Đức Giê-hô-va đã giáng trên họ một tai họa nặng nề. 20. Người Bết Sê-mết nói: “Ai có thể đứng được trước mặt Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thánh khiết? Ngài sẽ rời chúng ta và đến với ai?” 21. Rồi họ sai các sứ giả đến cư dân Ki-ri-át Giê-a-rim, và nói: “Người Phi-li-tin đã trả lại Rương của Đức Giê-hô-va. Hãy xuống đây rồi đem về trên đó với anh em.”

 

7

  1. Người Ki-ri-át Giê-a-rim đến nhận Rương của Đức Giê-hô-va, đem vào nhà của A-bi-na-đáp ở trên đồi. Họ biệt riêng con trai của ông là Ê-lê-a-sa để canh giữ Rương của Đức Giê-hô-va.
  2. Và rồi, Rương của Đức Giê-hô-va đã ở tại Ki-ri-át Giê-a-rim một thời gian dài – khoảng hai mươi năm. Cả nhà Y-sơ-ra-ên đã hối tiếc thương nhớ Đức Giê-hô-va.
  3. Sa-mu-ên nói với cả nhà Y-sơ-ra-ên: “Nếu các ngươi hết lòng trở lại với Đức Giê-hô-va, hãy loại bỏ khỏi các ngươi những thần tượng ngoại bang và những tượng của Át-tạc-tê. Hãy hướng lòng về Đức Giê-hô-va và chỉ phụng sự một mình Ngài mà thôi, thì Ngài sẽ giải cứu các ngươi khỏi tay người Phi-li-tin.”
  4. Dân Y-sơ-ra-ên đã loại bỏ những tượng của Ba-anh và của Át-tạt-tê, và chỉ phụng sự một mình Đức Giê-hô-va mà thôi.
  5. Sa-mu-ên nói: “Hãy tập hợp toàn thể Y-sơ-ra-ên tại Mích-ba, rồi ta sẽ cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va cho các ngươi.”
  6. Vì vậy, họ tập hợp tại Mích-ba, họ múc nước, rồi đổ ra trước mặt Đức Giê-hô-va. Trong ngày đó, họ kiêng ăn, và tại đó họ xưng nhận rằng: “Chúng tôi đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va.” Sa-mu-ên xét xử dân Y-sơ-ra-ên tại Mích-ba.
  7. Khi người Phi-li-tin nghe tin dân Y-sơ-ra-ên tụ họp tại Mích-ba, các lãnh chúa của dân Phi-li-tin liền kéo lên đánh dân Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên nghe điều đó, họ khiếp sợ dân Phi-li-tin. 8. Dân Y-sơ-ra-ên đã nói với Sa-mu-ên: “Xin hãy vì chúng tôi không ngừng kêu cầu Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng tôi, để Ngài giải cứu chúng tôi khỏi tay của người Phi-li-tin.”
  8. Sa-mu-ên đã bắt một chiên con còn bú, làm tế lễ toàn thiêu dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Sa-mu-ên cầu khẩn Đức Giê-hô-va cho người Y-sơ-ra-ên, và Đức Giê-hô-va đã lắng nghe. 10. Trong lúc Sa-mu-ên dâng tế lễ thiêu, người Phi-li-tin đã kéo lại gần để giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Nhưng trong ngày đó, Đức Giê-hô-va đã giáng sấm sét kinh hoàng trên người Phi-li-tin, làm cho chúng bị hỗn loạn, và chúng đã bị đánh bại trước mặt người Y-sơ-ra-ên. 11. Từ Mích-ba, người Y-sơ-ra-ên đã tiến ra, truy đuổi người Phi-li-tin, đánh giết họ cho đến phía dưới của Bết-cạt.
  9. Sa-mu-ên đã lấy một tảng đá đặt giữa Mích-ba và Sen, đặt tên là Ê-bên Ê-xe, vì ông nói: “Đức Giê-hô-va đã cứu giúp chúng ta cho đến bây giờ.”
  10. Người Phi-li-tin bị khuất phục, không còn xâm lấn lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên nữa. Trọn đời của Sa-mu-ên, tay của Đức Giê-hô-va đã chống lại người Phi-li-tin. 14. Những thành mà người Phi-li-tin đã chiếm của Y-sơ-ra-ên từ Éc-rôn cho đến Gát đều được trả lại cho Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên chiếm lại lãnh thổ của họ khỏi tay của người Phi-li-tin. Hòa bình được thiết lập giữa Y-sơ-ra-ên và người A-mô-rít.
  11. Sa-mu-ên làm thẩm phán trên Y-sơ-ra-ên trọn đời của ông. 16. Từ năm nầy qua năm khác, ông đi một vòng đến Bê-tên, Ghinh-ganh, và Mích-ba. Ông xét xử dân Y-sơ-ra-ên tại những nơi đó. 17. Sau đó, ông trở về Ra-ma, bởi vì nhà của ông ở tại đó. Ông cũng xét xử Y-sơ-ra-ên tại đó, và lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va.

 

8

  1. Thời gian trôi qua, Sa-mu-ên đã già, ông lập các con trai của mình làm thẩm phán cai trị trên Y-sơ-ra-ên. 2. Tên của người con trưởng là Giô-ên, người con thứ là A-bi-gia. Họ đã xét xử tại Bê-e Sê-ba. 3. Các con trai của ông không đi theo đường lối của ông. Họ đã hành động sai lệch để kiếm lợi bất chính, chấp nhận hối lộ, và đảo lộn công lý.
  2. Vì vậy tất cả các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đã họp lại, rồi đến gặp Sa-mu-ên tại Ra-ma. 5. Họ nói với ông: “Kìa, cụ đã già! Các con của cụ không theo đường lối của cụ. Bây giờ xin cụ lập cho chúng tôi một vua để xét xử chúng tôi như những dân tộc khác.”
  3. Khi họ nói “Hãy cho chúng tôi có một vua để cai trị chúng tôi.” Điều này làm Sa-mu-ên buồn rầu. Sa-mu-ên đã cầu khẩn Đức Giê-hô-va.
  4. Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Hãy nghe tất cả những lời của dân chúng. Tất cả những điều mà họ nói với ngươi không phải là họ từ khước ngươi, nhưng là họ từ khước Ta để Ta không còn cai trị trên họ nữa. 8. Giống như những việc mà họ đã làm từ khi Ta đem họ ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay, họ đã từ bỏ Ta để phục vụ những thần khác, họ cũng đối xử với ngươi như vậy. 9. Bây giờ ngươi hãy nghe theo lời của họ, nhưng ngươi phải nghiêm khắc cảnh cáo họ. Hãy trình bày cho họ cách một vua khi cai trị sẽ đối xử với họ.”
  5. Sa-mu-ên thuật lại tất cả những lời của Đức Giê-hô-va cho những người đã xin ông một vua. 11. Ông nói: “Ðây là những điều mà vua cai trị trên các ngươi sẽ làm. Người sẽ bắt những con trai của các ngươi để chăm sóc những xe chiến mã và ngựa của mình. Chúng nó sẽ chạy trước các xe chiến mã của người. 12. Người sẽ bắt những con trai của các ngươi để chỉ huy hàng ngàn người hay năm mươi người, hay cày ruộng, thu hoạch mùa màng, làm vũ khí chiến tranh, làm trang cụ cho những xe chiến mã của mình. 13. Người sẽ bắt những con gái của các ngươi làm dầu thơm, nấu ăn, làm bánh. 14. Người sẽ lấy ruộng, vườn nho, và vườn ô liu tốt nhất của các ngươi để ban cho những đầy tớ của người. 15. Người sẽ thu một phần mười ngũ cốc và nho của các ngươi để cấp cho các viên chức và những kẻ phục vụ người. 16. Người sẽ bắt những tôi trai tớ gái của các ngươi, những gia súc tốt nhất và lừa của các ngươi để làm việc cho người. 17. Người ấy sẽ lấy một phần mười trên những bầy chiên của các ngươi và các ngươi sẽ làm tôi tớ cho người. 18. Lúc đó, các ngươi sẽ kêu than vì cớ vua mà các ngươi đã chọn, nhưng khi đó Đức Giê-hô-va sẽ không lắng nghe các ngươi.”
  6. Tuy nhiên, dân chúng nhất định không chịu nghe theo lời khuyến cáo của Sa-mu-ên. Họ nói! “Không! Phải có một vua để cai trị chúng tôi. 20. Chúng tôi muốn giống như tất cả các dân tộc khác là có một vua để xét xử, để lãnh đạo chúng tôi khi ra trận, và để chiến đấu cho chúng tôi.”
  7. Sa-mu-ên nghe tất cả những lời của dân chúng, rồi thưa lại với Đức Giê-hô-va. 22. Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Hãy nghe theo lời của họ và lập cho họ một vua.” Sau đó, Sa-mu-ên nói với người Y-sơ-ra-ên: “Mỗi người trong các ngươi hãy trở về thành của mình.”

 

9

  1. Lúc đó, có một người Bên-gia-min, tên là Kích, con trai của A-bi-ên, cháu của Xê-rô, chắt của Bê-cô-rát, chít của A-phi-ác. Ông là một dũng sĩ và quyền quý của người Bên-gia-min. 2. Ông có một con trai tên là Sau-lơ, trẻ tuổi đẹp trai. Trong dân Y-sơ-ra-ên, không có người nào đẹp trai bằng chàng. Sau-lơ cao hơn mọi người từ vai trở lên.
  2. Có một số lừa cái của Kích, cha của Sau-lơ, bị lạc. Kích nói với Sau-lơ, con trai của mình, rằng: “Hãy đứng dậy, đem theo con một người đầy tớ, rồi đi tìm mấy con lừa về.” 4. Vì vậy, chàng đã đi qua vùng núi Ép-ra-im và xứ Sa-li-sa, nhưng họ không tìm được chúng. Sau đó, họ đã đi qua miền Sa-lim nhưng cũng không thấy chúng. Kế đó, họ đi qua lãnh thổ của người Bên-gia-min, nhưng họ cũng chẳng thấy chúng.
  3. Khi họ đến xứ Xu-phơ, Sau-lơ nói với người đầy tớ cùng đi với mình: “Nầy! Chúng ta hãy trở về, kẻo cha tôi không còn nghĩ đến việc mất lừa, mà lại lo lắng về chúng ta.” 6. Người đầy tớ nói: “Kìa! Trong thành nầy có một người của Đức Chúa Trời, là một người rất được kính trọng. Tất cả những gì ông nói đều chắc chắn xảy ra. Bây giờ chúng ta hãy đến đó. Có thể ông ấy sẽ chỉ cho chúng ta đường nào phải đi.” 7. Sau-lơ nói với đầy tớ của mình: “Hãy xem. Nếu chúng ta đi đến đó, chúng ta sẽ đem gì đến cho người? Bởi vì bánh trong các bao của chúng ta đã hết. Chúng ta không có gì để dâng cho người của Đức Chúa Trời.” 8. Người đầy tớ trả lời Sau-lơ rằng: “Tôi có một phần tư siếc-lơ bạc. Tôi sẽ dâng bạc đó cho người của Đức Chúa Trời, để người chỉ đường cho chúng ta.” 9. – Trước kia trong Y-sơ-ra-ên, khi một người muốn đến cầu vấn Ðức Chúa Trời điều gì, người đó nói: “Chúng ta hãy đến gặp vị tiên kiến”, bởi vì những người mà ngày nay chúng ta gọi là “tiên tri” thì lúc đó người ta gọi là “tiên kiến.” 10. Sau-lơ nói với người đầy tớ: “Được! Chúng ta hãy đi.” Rồi họ đi đến thành nơi có người của Đức Chúa Trời.
  4. Khi hai người đang lên dốc để vào trong thành, họ gặp những thiếu nữ đi ra lấy nước, họ hỏi các cô gái: “Vị tiên kiến có ở đây không?” 12. Các cô gái trả lời cho họ rằng: “Vâng! Có ông đó ở đây. Ngay phía trước các anh đó. Hãy đi nhanh lên. Hôm nay ông đến thành nầy bởi vì hôm nay dân trong thành sẽ dâng một sinh tế tại nơi cao. 13. Khi vào thành các anh hãy đi thẳng để gặp ông trước khi ông lên chỗ tế lễ tại nơi cao để ăn, bởi vì dân chúng sẽ không ăn trước khi ông đến. Bởi vì ông phải chúc phước cho sinh tế, sau đó người ta mới ăn. Vì vậy, bây giờ các anh hãy đi nhanh lên, bởi vì bây giờ các anh sẽ gặp được ông ấy.” 14. Họ đi lên thành. Khi vừa vào thành, họ thấy Sa-mu-ên đang đi ra, hướng về phía họ, đang trên đường đi lên nơi cao.
  5. Một ngày trước khi Sau-lơ đến, Đức Giê-hô-va đã phán vào tai của Sa-mu-ên rằng: 16. “Ngày mai, vào giờ nầy, Ta sẽ sai một người từ xứ Bên-gia-min đến với ngươi, và ngươi sẽ xức dầu cho người để làm lãnh đạo cho dân Y-sơ-ra-ên của Ta. Người có thể cứu dân của Ta khỏi tay của người Phi-li-tin. Ta đã đoái xem dân của Ta bởi vì tiếng kêu than của họ đã thấu đến Ta.” 17. Khi Sa-mu-ên vừa thấy Sau-lơ, Đức Giê-hô-va phán với ông: “Kìa, đó là người mà Ta đã nói với ngươi. Người nầy sẽ cai trị dân của Ta.”
  6. Sau-lơ đến gần Sa-mu-ên tại cổng thành và hỏi: “Xin vui lòng cho tôi biết nhà của vị tiên kiến ở đâu?” 19. Sa-mu-ên trả lời Sau-lơ: “Ta là vị tiên kiến. Con hãy đi trước ta đến nơi cao. Hôm nay các con sẽ dùng bữa với ta. Sáng mai ta sẽ giải đáp mọi điều thắc mắc trong lòng của con, rồi cho con về. 20. Còn những con lừa cái của con đã mất ba ngày nay, đừng bận tâm về chúng, bởi vì chúng đã tìm được rồi. Vả lại, mọi thứ quý giá nhất trong Y-sơ-ra-ên sẽ được dành cho ai? Không phải là cho con và cho cả nhà cha của con hay sao?” 21. Sau-lơ nói: “Không phải con chỉ là một người Bên-gia-min, một chi tộc nhỏ nhất trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên hay sao? Không phải gia tộc của con là nhỏ nhất trong các gia tộc của chi tộc Bên-gia-min hay sao? Tại sao ông lại nói với con như vậy?”
  7. Sa-mu-ên dẫn Sau-lơ và người đầy tớ vào phòng khách, mời họ ngồi vào chỗ tôn trọng giữa vòng những khách dự tiệc, có khoảng ba mươi người. 23. Sa-mu-ên nói với người đầu bếp: “Hãy đem ra đây phần mà ta đã trao cho ngươi, là phần mà ta dặn ngươi hãy để riêng.” 24. Người đầu bếp đem thịt đùi dọn ra trước mặt Sau-lơ. Sa-mu-ên nói: “Đây là phần đã được giữ lại và để dành cho con. Con hãy ăn đi. Vì từ lúc ta mời khách, ta đã dặn hãy để dành phần đó cho con trong dịp nầy.” Vì vậy, Sau-lơ đã ăn với Sa-mu-ên trong ngày hôm đó.
  8. Sau khi họ từ nơi cao đi xuống và vào trong thành, Sa-mu-ên đã mời Sau-lơ lên sân thượng mái nhà đàm đạo. 26. Họ thức dậy sớm. Vừa khi bình minh vừa ló dạng, Sa-mu-ên đã gọi Sau-lơ đang ở trên sân thượng mái nhà, rồi nói: “Hãy thức dậy, ta sẽ tiễn con lên đường.” Sau-lơ trỗi dậy, rồi cả hai người, chàng và Sa-mu-ên, đi ra ngoài. 27. Khi họ đi xuống, đến cuối thành, Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Hãy bảo người đầy tớ đi trước chúng ta. Người đó hãy đi, nhưng con hãy đứng lại một lúc để ta nói cho con nghe lời của Đức Chúa Trời.”

 

10

  1. Sa-mu-ên lấy một ve dầu, đổ trên đầu của chàng, hôn chàng, rồi nói: “Không phải Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho con để lãnh đạo sản nghiệp của Ngài hay sao? 2. Hôm nay, sau khi con rời khỏi ta, con sẽ gặp hai người ở gần phần mộ của Ra-chên tại Xên-xa, thuộc địa phận của Bên-gia-min. Họ sẽ nói với con: Mấy con lừa cái mà cậu đi tìm đã kiếm được rồi. Bây giờ cha của cậu không còn lo lắng về mấy con lừa nữa, nhưng đang lo lắng về cậu. Ông cứ hỏi: Tôi phải làm gì cho con trai của tôi? 3. Từ đó, con hãy tiếp tục đi, và khi đến tại cây sồi ở Tha-bô, con sẽ gặp ba người đàn ông đang đi lên Bê-tên để thờ phượng Đức Chúa Trời, một người mang theo ba con dê con, một người mang ba ổ bánh, và người kia mang một bầu rượu. 4. Họ sẽ chào con và tặng con hai ổ bánh. Con hãy nhận bánh từ tay của họ. 5. Sau đó, con hãy đến Ghi-bê-a Ê-lô-him, là nơi có người Phi-li-tin đóng quân. Và rồi khi con vào thành, con sẽ gặp một đoàn tiên tri từ nơi cao đi xuống, có đàn lia, trống cơm, ống sáo, đàn hạc đi phía trước, họ sẽ nói tiên tri. 6. Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên con, con sẽ nói tiên tri cùng với họ, và con sẽ trở thành một người khác. 7. Khi thấy các dấu hiệu nầy xảy ra, thì con hãy chấp nhận như vậy. Con hãy làm theo điều Ngài chỉ dẫn bởi vì Đức Chúa Trời ở cùng con. 8. Sau đó, con hãy đi trước ta xuống Ghinh-ganh. Ta cũng sẽ xuống đó với con để dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Con hãy chờ tại đó bảy ngày cho tới khi ta đến, rồi ta sẽ chỉ cho con điều con phải làm.”
  2. Và rồi, sự việc đã xảy ra như vậy. Khi chàng vừa quay lưng đi khỏi Sa-mu-ên, Đức Chúa Trời đã ban cho chàng một tấm lòng khác, và tất cả các dấu hiệu đã được ứng nghiệm trong ngày hôm đó. 10. Khi họ đang đi lên đồi, có một nhóm tiên tri đến gặp chàng, Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên chàng, và chàng nói tiên tri ở giữa họ. 11. Sau đó, tất cả những người đã biết chàng từ trước, bây giờ họ thấy chàng đang thật sự nói tiên tri giữa vòng các tiên tri, những người đó nói với nhau: “Điều gì đã xảy ra cho con trai của Kích? Sau-lơ cũng thuộc vào hàng các tiên tri hay sao?” 12. Một người ở đó hỏi rằng: “Cha của những người đó là ai vậy?” Do đó, có một câu ngạn ngữ rằng: “Sau-lơ cũng thuộc vào hàng các tiên tri!” 13. Khi chàng nói tiên tri xong, chàng đã đi lên nơi cao.
  3. Sau đó, chú của Sau-lơ hỏi chàng và người đầy tớ của chàng: “Các cháu đã đi đâu vậy?” Chàng đáp: “Chúng cháu đi tìm mấy con lừa cái. Khi chúng cháu tìm không được, chúng cháu đã đến gặp Sa-mu-ên.” 15. Chú của Sau-lơ hỏi: “Hãy nói cho chú biết Sa-mu-ên đã nói gì với cháu?” 16. Sau-lơ trả lời chú của chàng: “Ông ấy bảo cho chúng cháu biết là mấy con lừa ấy đã tìm được rồi.” Nhưng về việc làm vua mà Sa-mu-ên đã nói với chàng, thì chàng không tiết lộ.
  4. Sau đó, Sa-mu-ên triệu tập dân chúng trước mặt Đức Giê-hô-va tại Mích-ba, 18. rồi nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy: Ta đã đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập. Ta đã giải cứu các ngươi khỏi tay người Ai Cập và khỏi tay tất cả các vương quốc đã áp bức các ngươi. 19. Ngày nay các ngươi đã khước từ Đức Chúa Trời của các ngươi, là Đấng đã giải cứu các ngươi khỏi tất cả những tai ương và hoạn nạn của các ngươi, các ngươi đã nói với Ngài rằng: Hãy lập một vua để cai trị chúng tôi! Vì vậy bây giờ, từng chi tộc và từng gia tộc hãy trình diện trước mặt Đức Giê-hô-va.”
  5. Khi Sa-mu-ên bảo tất cả các chi tộc đến gần, chi tộc Bên-gia-min được chọn. 21. Khi ông bảo các gia tộc của Bên-gia-min đến gần, gia tộc của Mát-ri được chọn. Và rồi, Sau-lơ, con trai của Kích, được chọn. Người ta tìm chàng nhưng không thấy chàng ở đâu cả. 22. Vì vậy, họ đã cầu hỏi Đức Giê-hô-va: “Người đó đã đến đây chưa?” Đức Giê-hô-va trả lời: “Người đó đang ẩn trong đống đồ ở đằng kia.” 23. Họ đã chạy đến đó, rồi đem chàng ra. Chàng đứng giữa dân chúng, cao hơn mọi người từ vai trở lên. 24. Sa-mu-ên nói với toàn dân: “Các ngươi có thấy người mà Đức Giê-hô-va đã chọn hay không? Trong cả dân chúng, không có ai giống như người.” Toàn dân đã tung hô: “Đức Vua vạn tuế!”
  6. Sau đó, Sa-mu-ên giải thích cho dân chúng về thể chế quân chủ. Ông ghi chép mọi điều đó trong một cuốn sách và để nó trước mặt Đức Giê-hô-va. Sau đó, Sa-mu-ên cho tất cả dân chúng, mỗi người trở về nhà của mình. 26. Sau-lơ cũng về nhà của chàng tại Ghi-bê-a. Có những người dũng mãnh, được Đức Giê-hô-va thúc giục tấm lòng, đã đi theo chàng. 27. Nhưng cũng có những kẻ chống đối nói: “Làm thế nào người nầy có thể cứu chúng ta được?” Chúng xem thường chàng, không tặng quà cho chàng, nhưng chàng vẫn yên lặng.

 

11

  1. Một thời gian sau, Na-hách, người Am-môn, đã đi lên bao vây để tấn công Gia-be Ga-la-át. Tất cả dân chúng tại Gia-be đã nói với Na-hách: “Xin hãy lập giao ước với chúng tôi thì chúng tôi sẽ phục vụ ngài.” 2. Na-hách, người Am-môn, đã trả lời họ: “Ta sẽ lập giao ước cùng các ngươi với điều kiện nầy: Ta sẽ móc mắt phải của tất cả các ngươi để làm sỉ nhục toàn thể Y-sơ-ra-ên.” 3. Các trưởng lão của Gia-be đã thưa với ông: “Xin hoãn cho chúng tôi bảy ngày để chúng tôi sai sứ giả đến khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên. Nếu không ai giải cứu chúng tôi thì chúng tôi sẽ ra đầu hàng ngài.”
  2. Khi các sứ giả đến Ghi-bê-a, là nơi của Sau-lơ, thuật lại những lời đó cho dân chúng nghe, tất cả mọi người đã bật khóc. 5. Lúc đó, Sau-lơ đang đi sau đàn bò từ ngoài đồng trở về, Sau-lơ hỏi: “Tại sao dân chúng khóc như vậy?” Người ta thuật lại cho chàng những lời mà người Gia-be đã nói. 6. Thần của Đức Chúa Trời ngự trên Sau-lơ, khi nghe những lời nầy chàng nổi giận bừng bừng. 7. Chàng bắt một cặp bò, sả ra từng miếng, sai những sứ giả đem đi khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, nói rằng: “Ai không theo Sau-lơ và Sa-mu-ên ra trận thì bò của người đó sẽ bị xử như vậy.” Đức Giê-hô-va khiến dân chúng sợ hãi, và họ đã đi ra như một người.
  3. Chàng đã thống kê họ tại Bê-xéc: Có ba trăm ngàn người Y-sơ-ra-ên và ba mươi ngàn người Giu-đa. 9. Họ đã nói với các sứ giả đã đến từ Ga-la-át rằng: “Hãy trở về nói với người Gia-be Ga-la-át như thế nầy: Ngày mai, khi nắng mặt trời bắt đầu nóng thì anh em sẽ được giải cứu.” Các sứ giả đã trở về báo tin nầy cho người Gia-be. Dân chúng đã vui mừng. 10. Vì vậy, dân Gia-be đã nói: “Ngày mai, chúng tôi sẽ ra gặp các ông, và các ông sẽ đối xử với chúng tôi theo điều các ông cho là tốt.”
  4. Ngày hôm sau, Sau-lơ chia dân chúng ra làm ba cánh quân. Họ đã xông vào giữa trại quân lúc rạng đông, và đánh người Am-môn cho đến khi trời bắt đầu nóng. Những kẻ sống sót chạy hoảng loạn đến nỗi không có hai người chạy chung với nhau.
  5. Sau đó, dân chúng đã nói với Sa-mu-ên: “Ai đã nói: Sau-lơ mà cai trị trên chúng ta hay sao? Hãy giao những kẻ đó cho chúng tôi để chúng tôi giết chúng.” 13. Tuy nhiên Sau-lơ đã nói: “Không một ai phải bị xử tử hôm nay, bởi vì hôm nay Đức Giê-hô-va đã giải cứu Y-sơ-ra-ên.”
  6. Sau đó, Sa-mu-ên đã nói với dân chúng: “Chúng ta hãy đi đến Ghinh-ganh, và chúng ta sẽ tái lập vương quốc tại đó.” 15. Tất cả dân chúng đã đến Ghinh-ganh. Tại đó, họ đã lập Sau-lơ làm vua trước mặt Đức Giê-hô-va. Họ đã dâng tế lễ bình an cho Đức Giê-hô-va tại Ghinh-ganh. Sau-lơ và tất cả dân Y-sơ-ra-ên đã vui mừng hân hoan tại đó.

 

12

  1. Sau đó, Sa-mu-ên đã nói với toàn thể Y-sơ-ra-ên: “Ta đã nghe theo tất cả những lời các ngươi đã nói với ta, và đã lập một vua trên các ngươi. 2. Hãy xem! Ta đã già, tóc đã bạc. Các con trai của ta hiện vẫn sống giữa các ngươi, nhưng kể từ nay vua sẽ dẫn dắt các ngươi. Ta đã dẫn dắt các ngươi từ khi ta còn trẻ cho đến nay. 3. Bây giờ, ta đứng đây. Hãy làm chứng cho ta trước mặt Đức Giê-hô-va và trước người được xức dầu của Ngài: Ta có bắt bò của ai hay không? Ta có bắt lừa của ai hay không? Ta có lừa gạt ai hay không? Ta có áp bức ai hay không? Ta có nhận của hối lộ nơi tay của người nào để nhắm mắt lại hay không? Nếu có, thì ta sẽ trả lại cho các ngươi.” 4. Họ đáp: “Ông không lừa gạt chúng tôi, không áp bức chúng tôi, và không lấy bất cứ vật gì từ tay của ai cả.” 5. Ông nói với họ: “Đức Giê-hô-va làm chứng với các ngươi, và người được xức dầu của Ngài cũng làm chứng rằng hôm nay các ngươi không tìm thấy gì trong tay của ta.” Họ đáp: “Nguyện Ngài làm chứng!”
  2. Sau đó, Sa-mu-ên nói với dân chúng: “Đức Giê-hô-va là Đấng đã lập Môi-se và A-rôn để đem tổ phụ của các ngươi ra khỏi đất Ai Cập. 7. Vì vậy bây giờ, hãy đứng đây để Ta có thể lý giải cho các ngươi trước mặt Đức Giê-hô-va về tất cả những việc công chính mà Đức Giê-hô-va đã làm cho các ngươi và tổ phụ của các ngươi. 8. Sau khi Gia-cốp đến Ai Cập, tổ phụ của các ngươi đã kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài đã sai Môi-se và A-rôn đem tổ phụ của các ngươi ra khỏi Ai Cập để họ định cư tại nơi nầy. 9. Nhưng họ đã quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình, cho nên Ngài đã phó họ vào tay của Si-sê-ra, tổng tư lệnh của Hát-so, vào tay của người Phi-li-tin, và vào tay của vua Mô-áp; và chúng đã tranh chiến với họ. 10. Họ đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va, và thưa rằng: Chúng con đã phạm tội bởi vì chúng con đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va mà phục vụ các thần Ba-anh và Át-tạt-tê. Nhưng bây giờ, xin giải cứu chúng con khỏi tay những kẻ thù của chúng con, thì chúng con sẽ phụng sự Ngài. 11. Đức Giê-hô-va đã sai Giê-ru-ba-anh, Bê-đan, Giép-thê, và Sa-mu-ên giải cứu các ngươi khỏi tay những kẻ thù từ mọi phía, và các ngươi đã được sống an ổn.
  3. Nhưng khi thấy Na-hách, vua của dân Am-môn, đến đánh các ngươi, thì các ngươi đã nói với ta rằng: ‘Không! Phải có một vua để cai trị chúng tôi!’ Trong khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đang là Vua của các ngươi. 13. Bây giờ, đây là vua mà các ngươi đã chọn và đã cầu xin. Đức Giê-hô-va đã lập người làm vua trên các ngươi. 14. Nếu các ngươi kính sợ Đức Giê-hô-va, phụng sự Ngài, vâng theo tiếng Ngài, không chống lại mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, thì các ngươi và vua cai trị các ngươi vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 15. Nhưng nếu các ngươi không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va, mà chống lại mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, thì tay của Đức Giê-hô-va sẽ chống lại các ngươi như đã chống lại tổ phụ của các ngươi. 16. Vì vậy, bây giờ hãy đứng tại đây để xem việc lớn lao mà Đức Giê-hô-va sẽ làm trước mắt của các ngươi. 17. Hiện nay không phải đang là mùa gặt lúa mì hay sao? Ta sẽ cầu khẩn Đức Giê-hô-va và Ngài sẽ ban sấm sét và mưa, để các ngươi nhận biết và thấy rằng việc cầu xin một vua là một tội lỗi rất lớn mà các ngươi đã phạm trước mắt của Đức Giê-hô-va.”
  4. Sa-mu-ên đã kêu cầu Đức Giê-hô-va. Ngay hôm đó, Đức Giê-hô-va đã sai sấm sét và mưa. Tất cả dân chúng vô cùng kính sợ Đức Giê-hô-va và Sa-mu-ên. 19. Tất cả dân chúng đã nói với Sa-mu-ên: “Xin ông cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông, cho chúng tôi, là tôi tớ của ông, để chúng tôi khỏi chết, bởi vì chúng tôi lại phạm thêm một tội ác vào những tội ác của chúng tôi, là cầu xin cho được một vua.”
  5. Sa-mu-ên nói với dân chúng: “Đừng sợ! Các ngươi đã làm mọi điều ác nầy, nhưng đừng lìa bỏ mà không theo Đức Giê-hô-va, nhưng phải hết lòng phụng sự Đức Giê-hô-va. 21. Đừng lìa khỏi Ngài để đi theo những hình tượng hư không, chúng chẳng có ích gì và cũng không thể giải cứu ai vì chúng chỉ là hư không. 22. Bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ không từ bỏ dân của Ngài vì cớ danh lớn lao của Ngài, và vì Đức Giê-hô-va đã vui lòng cho các ngươi làm dân của Ngài. 23. Về phần ta, ta cũng không thể nào phạm tội với Đức Giê-hô-va mà ngưng cầu nguyện cho các ngươi. Ta sẽ dạy cho các ngươi biết con đường tốt đẹp và đúng đắn. 24. Chỉ cần các ngươi phải kính sợ Đức Giê-hô-va, hết lòng trung tín phụng sự Ngài. Hãy xem những việc lớn lao mà Ngài đã làm cho các ngươi. 25. Tuy nhiên nếu các ngươi cứ làm điều gian ác, thì các ngươi, tức là các ngươi và vua của các ngươi, sẽ bị diệt vong.”

 

13

  1. Sau-lơ trị vì được một khoảng thời gian. Hai năm sau khi ông trị vì Y-sơ-ra-ên, 2. Sau-lơ chọn ba ngàn người trong dân Y-sơ-ra-ên: Hai ngàn người ở với vua Sau-lơ tại Mích-ma và tại núi Bê-tên, còn một ngàn người ở với Giô-na-than tại Ghi-bê-a, thuộc lãnh thổ của chi tộc Bên-gia-min. Số dân còn lại vua cho ai nấy trở về trại của mình.
  2. Giô-na-than tấn công trại quân của người Phi-li-tin tại Ghê-ba. Dân Phi-li-tin biết về việc nầy. Sau-lơ đã thổi kèn báo động khắp xứ rằng: “Hỡi người Hê-bơ-rơ! Hãy nghe.” 4. Toàn dân Y-sơ-ra-ên nghe Sau-lơ đã đánh hạ một đồn của người Phi-li-tin. Dân Y-sơ-ra-ên vốn căm thù người Phi-li-tin, cho nên dân chúng đã được kêu gọi đi theo Sau-lơ tại Ghinh-ganh.
  3. Dân Phi-li-tin đã tập trung lại để đánh Y-sơ-ra-ên. Họ có ba mươi ngàn xe chiến mã, sáu ngàn kỵ binh, và quân lính đông như cát trên bờ biển. Họ đi lên đóng trại tại Mích-ma, phía đông của Bết A-ven.
  4. Khi người Y-sơ-ra-ên thấy họ bị nguy khốn, họ sa sút tinh thần, dân chúng đã ẩn trốn trong các hang động, bụi rậm, hốc đá, mồ mả và hầm hố. 7. Một số người Hê-bơ-rơ khác thì vượt qua sông Giô-đanh, đến xứ Gát và Ga-la-át. Nhưng Sau-lơ vẫn ở lại Ghinh-ganh, và tất cả những người đi theo ông đều run sợ.
  5. Sau-lơ đợi bảy ngày, là thời gian mà Sa-mu-ên đã định. Nhưng Sa-mu-ên vẫn chưa đến Ghinh-ganh, dân chúng bắt đầu lìa bỏ vua. 9. Thấy vậy Sau-lơ nói: “Hãy đem của tế lễ thiêu và những tế lễ cầu an đến cho ta.” Rồi ông dâng tế lễ thiêu.
  6. Khi vua vừa dâng xong tế lễ thiêu thì Sa-mu-ên đến. Sau-lơ đi ra để gặp ông và chào đón ông. 11. Sa-mu-ên hỏi: “Ngươi đã làm gì vậy?” Sau-lơ trả lời: “Khi tôi thấy dân chúng bắt đầu bỏ tôi, còn cụ thì chưa đến đúng thời hạn đã ấn định, trong khi quân Phi-li-tin đã tập họp với nhau tại Mích-ma, 12. cho nên tôi nói: Quân Phi-li-tin sắp sửa xuống tấn công ta ở Ghinh-ganh, mà ta thì chưa cầu hỏi ý của Đức Giê-hô-va. Vì vậy, tôi buộc lòng phải dâng một tế lễ thiêu.”
  7. Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Ngươi đã hành động thật điên rồ, không vâng giữ mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngươi, đã truyền cho ngươi. Lẽ ra, Đức Giê-hô-va đã lập vương quốc của ngươi vững bền đời đời trên Y-sơ-ra-ên; 14. nhưng bây giờ vương quyền của ngươi sẽ không được tiếp tục. Đức Giê-hô-va đã tìm được cho Ngài một người đẹp lòng Ngài, và Đức Giê-hô-va đã truyền cho người đó sẽ chỉ huy trên toàn thể dân của Ngài, vì ngươi đã không vâng giữ những gì Đức Giê-hô-va đã truyền cho ngươi.”
  8. Nói xong, Sa-mu-ên đứng dậy, từ Ghinh-ganh đi đến Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min. Sau-lơ đếm lại số người còn lại với mình, có khoảng sáu trăm người.
  9. Sau-lơ và Giô-na-than, con trai của ông, cùng những người đi theo họ ở tại Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min, còn người Phi-li-tin hạ trại tại Mích-ma. 17. Có một đội quân đột kích từ trong trại quân Phi-li-tin đi ra, chia làm ba toán: Một toán theo con đường Óp-ra, thuộc xứ Su-anh; 18. một toán theo con đường Bết Hô-rôn; còn toán thứ ba theo đường ranh giới nhìn xuống thung lũng Sê-bô-im, về hướng hoang mạc.
  10. Lúc đó, trong cả xứ Y-sơ-ra-ên không có một thợ rèn nào cả, vì người Phi-li-tin đã nói: “Không được để cho người Hê-bơ-rơ rèn gươm và giáo.” 20. Vì vậy, tất cả những người Y-sơ-ra-ên đều phải xuống chỗ người Phi-li-tin để rèn lưỡi cày, cuốc, rìu, và lưỡi hái cho mình. 21. Giá tiền rèn một lưỡi cày hay một lưỡi cuốc là hai phần ba sê-kheo bạc, còn một lưỡi rìu hay một mũi nhọn gắn ở đầu gậy thúc bò là một phần ba sê-kheo bạc. 22. Vì vậy, lúc giao tranh, tất cả dân chúng không có gươm cũng không có giáo trong tay, chỉ Sau-lơ và con trai của ông là Giô-na-than mới có.
  11. Một toán quân trong đồn Phi-li-tin kéo ra đóng tại đèo Mích-ma.

 

14

  1. Một hôm, Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, nói với người trẻ mang binh khí của chàng, “Hãy đi! Chúng ta hãy đi qua đồn của dân Phi-li-tin ở bên kia.” Tuy nhiên, chàng không báo cho cha của chàng.
  2. Lúc đó Sau-lơ đang đóng quân ở ngoại ô Ghi-bê-a, dưới cây lựu ở Mi-gơ-rôn. Có sáu trăm người đang ở với ông. 3. Có A-hi-gia, con trai của A-hi-túp – A-hi-túp là anh của Y-ca-bốt, con trai của Phi-nê-a, cháu của Hê-li, là tư tế của Đức Giê-hô-va tại Si-lô – lúc đó mang ê-phót. Dân chúng không biết Giô-na-than đã đi.
  3. Quãng đường đèo mà Giô-na-than tìm cách vượt qua để đến đồn quân Phi-li-tin có hai đỉnh núi đá, một đỉnh bên nầy và một đỉnh bên kia. Đỉnh ở bên nầy gọi là Bốt-sết và đỉnh bên kia gọi là Sê-nê. 5. Đỉnh phía bắc đối diện với Mích-ma, còn đỉnh phía nam đối diện với Ghê-ba.
  4. Giô-na-than nói với người trẻ mang binh khí của mình: “Hãy đi! Chúng ta hãy đến đồn của những kẻ không được cắt bì. Có thể Đức Giê-hô-va sẽ hành động vì chúng ta, bởi vì không có điều gì có thể ngăn trở sự giải cứu của Đức Giê-hô-va, bất kể có nhiều người hay ít người.”
  5. Người mang binh khí nói với chàng: “Hãy làm theo mọi điều trong lòng ông. Xin ông cứ đi. Lòng ông muốn thế nào, tôi sẽ theo ông như vậy.” 8. Giô-na-than nói: “Được rồi, chúng ta sẽ đi về phía bọn chúng, và để cho chúng nhìn thấy chúng ta. 9. Nếu bọn chúng nói: ‘Hãy đợi đó, chúng ta sẽ đến chỗ các ngươi.’ Chúng ta sẽ đứng lại, không đi lên phía chúng nữa. 10. Nhưng nếu chúng nói: ‘Hãy tiến lên đây’ thì chúng ta sẽ lên. Bởi vì đó sẽ là một dấu hiệu rằng Đức Giê-hô-va sẽ phó chúng vào tay của chúng ta.”
  6. Vì vậy, hai người xuất hiện trước đồn của người Phi-li-tin. Người Phi-li-tin nói: “Kìa, bọn Hê-bơ-rơ đang chui ra khỏi các hang mà chúng đã ẩn trốn.” 12. Những người trong đồn gọi Giô-na-than và người vác khí giới của chàng: “Hãy lên đây! Chúng ta sẽ dạy cho các ngươi một bài học.” Giô-na-than nói với người vác khí giới: “Hãy theo ta! Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay của Y-sơ-ra-ên.”
  7. Giô-na-than leo lên bằng cả tay và chân, và người vác khí giới theo sau chàng. Người Phi-li-tin ngã gục trước mặt Giô-na-than, và người vác khí giới theo sau ông đã giết chúng. 14. Trong trận thứ nhất nầy, Giô-na-than và người vác khí giới của ông giết khoảng hai mươi người trên một mảnh đất rộng chừng nửa mẫu.
  8. Nỗi kinh hoàng lan ra trong trại quân, ngoài chiến trường, và trong toàn dân. Quân trong đồn cũng như đội quân đột kích đều khiếp đảm, đất thì rúng động. Nỗi kinh khiếp đến từ Đức Chúa Trời. 16. Lính canh của Sau-lơ ở tại Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min nhìn thấy đoàn quân chạy tán loạn và tan tác. 17. Sau-lơ nói với những người đang ở với ông: “Hãy điểm binh để xem ai đã rời khỏi chúng ta.” Khi họ điểm binh, họ thấy cả Giô-na-than và người mang binh khí của chàng vắng mặt.
  9. Sau-lơ nói với A-hi-gia: “Hãy đem Rương Giao Ước của Đức Chúa Trời đến đây.” – Lúc đó, Rương Giao Ước của Đức Chúa Trời đang ở với dân Y-sơ-ra-ên. 19. Nhưng đang khi Sau-lơ còn nói với tư tế, tiếng náo động bên trại quân Phi-li-tin càng ngày càng gia tăng, vì vậy Sau-lơ nói với tư tế, “Xin ông hãy rút tay lại.”
  10. Sau-lơ tập hợp toàn quân xông vào trận mạc. Họ thấy ai nấy giết người bên cạnh của mình, trận chiến cực kỳ hỗn loạn. 21. Thêm vào đó, những người Hê-bơ-rơ trước kia theo dân Phi-li-tin, đã kéo lên với chúng, hạ trại quanh đó. Bây giờ, họ trở về với Y-sơ-ra-ên, với Sau-lơ và Giô-na-than. 22. Tương tự, tất cả những người Y-sơ-ra-ên đang ẩn trốn trong vùng núi Ép-ra-im nghe tin người Phi-li-tin vỡ chạy, họ cũng rượt theo đánh đuổi chúng. 23. Đức Giê-hô-va đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên trong ngày hôm ấy. Chiến tranh lan rộng vượt khỏi Bết A-ven.
  11. Trong ngày hôm đó người Y-sơ-ra-ên bị kiệt sức vì Sau-lơ có thề với dân chúng rằng: “Đáng nguyền rủa cho kẻ nào ăn vật gì trước chiều tối, để ta có thể báo thù xong những kẻ thù của ta!” Vì vậy, toàn dân không ai dám ăn gì cả. 25. Mọi người đến một cánh rừng, có mật ong ngay trên mặt đất. 26. Họ vào trong rừng, thấy mật ong chảy, nhưng không ai dám lấy tay chấm đưa vào miệng, vì sợ lời thề. 27. Nhưng Giô-na-than không có nghe cha mình buộc dân chúng giữ lời thề. Cho nên chàng đã giơ cây gậy cầm trong tay ra, nhúng đầu gậy vào tàng ong, lấy tay chấm cho vào miệng. Tức thì mắt chàng sáng lên. 28. Có một người đã nói rằng: “Cha của ngài buộc dân chúng giữ lời thề: ‘Người nào ăn chút gì ngày hôm nay đáng bị rủa sả!’ Vì vậy dân chúng đều kiệt sức.”
  12. Giô-na-than đáp: “Cha tôi đã gây rắc rối cho đất nước. Anh em xem mắt tôi bừng sáng chỉ vì tôi nếm chút mật ong này. 30. Nếu hôm nay dân được tự do ăn uống những chiến lợi phẩm chiếm được của quân thù thì quân Phi-li-tin càng thất trận nặng nề hơn biết chừng nào!”
  13. Ngày hôm đó họ đã đánh đuổi quân Phi-li-tin từ Mích-ma cho đến A-gia-lôn. Và rồi dân chúng đã kiệt sức. 32. Dân chúng xông vào chiến lợi phẩm, bắt chiên, bò, và bê, giết chúng trên đất, rồi ăn thịt còn máu. 33. Có người báo với Sau-lơ: “Dân chúng đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, họ đã ăn thịt còn máu.” Ông nói: “Các người đã phạm tội! Hãy lăn ngay một hòn đá to lại đây cho ta.” 34. Sau-lơ nói: “Hãy phân tán các ngươi ra giữa dân và nói cho họ biết: ‘Mỗi người hãy đem bò của mình, mỗi người hãy đem chiên của mình, hãy giết chúng và ăn tại đây. Ðừng phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà ăn thịt vẫn còn máu ở trong đó.’” Vì vậy, đêm hôm đó mỗi người đã dắt bò của mình đến rồi làm thịt tại đó.
  14. Sau-lơ lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va. Đó là bàn thờ thứ nhất mà ông đã lập cho Đức Giê-hô-va. 36. Sau-lơ nói: “Chúng ta hãy đi xuống đuổi theo người Phi-li-tin suốt đêm nay, cướp phá chúng cho đến sáng sớm, và đừng để một ai thoát.” Họ đáp: “Xin cứ làm mọi điều ngài cho là phải.” Nhưng các tư tế nói: “Chúng ta hãy cầu hỏi Đức Chúa Trời, ngay tại đây.” 37. Sau-lơ cầu hỏi Đức Chúa Trời: “Con có nên đi xuống đuổi theo người Phi-li-tin không? Ngài sẽ phó chúng vào tay Y-sơ-ra-ên không?” Nhưng Ngài không trả lời ông trong ngày hôm ấy.
  15. Vì vậy, Sau-lơ ra lệnh: “Tất cả các chỉ huy của dân chúng hãy đến đây, để tìm xem hôm nay ai đã phạm tội. 39. Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng giải cứu Y-sơ-ra-ên, kẻ đã phạm tội dù chính là Giô-na-than, con trai của ta, chắc chắn cũng phải chết!” Không một ai trong dân chúng đáp lời ông.
  16. Ông nói với toàn thể Y-sơ-ra-ên: “Các ngươi hãy đứng bên nầy, ta và Giô-na-than, con trai ta, sẽ đứng bên kia.” Dân chúng thưa với Sau-lơ: “Xin cứ làm điều ngài cho là phải.” 41. Sau-lơ thưa với Đức Giê-hô-va: “Ôi, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin bày tỏ sự thật.” Giô-na-than và Sau-lơ bị chỉ ra, còn dân chúng thì vô can. 42. Sau-lơ nói: “Hãy bắt thăm giữa ta và Giô-na-than, con trai của ta.” Giô-na-than bị chỉ ra. 43. Sau-lơ nói với Giô-na-than: “Hãy nói cho ta biết con đã làm gì.” Giô-na-than thú thật: “Con có dùng đầu gậy cầm trong tay mà nếm chút mật ong. Vì vậy, con đây phải chết.” 44. Sau-lơ nói: “Giô-na-than! Nếu con không chết, nguyện Đức Giê-hô-va phạt cha như vậy hoặc nặng hơn nữa.”
  17. Nhưng dân chúng nói với Sau-lơ: “Giô-na-than là người đã làm cho Y-sơ-ra-ên chiến thắng vẻ vang như thế mà phải chết sao? Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, Ngài không cho phép, dù một sợi tóc trên đầu người cũng sẽ không rụng xuống đất, vì hôm nay người đã cùng làm việc với Đức Chúa Trời.” Vì vậy, dân chúng đã giải cứu Giô-na-than, và chàng không phải chết.
  18. Sau-lơ không truy đuổi người Phi-li-tin nữa; còn người Phi-li-tin thì rút về xứ của mình. 47. Khi đã nắm được vương quyền trên Y-sơ-ra-ên, Sau-lơ giao chiến với tất cả những kẻ thù ở mọi phía: đánh Mô-áp, đánh Am-môn, đánh Ê-đôm, đánh các vua Xô-ba, và đánh người Phi-li-tin. Ông đánh đâu thắng đó. 48. Ông cũng tập họp quân đội, tấn công dân A-ma-léc, giải thoát dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay những kẻ bóc lột họ.
  19. Các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, Gi-sê-vi, và Manh-ki-sua. Tên hai con gái của ông: cô lớn tên là Mê-ráp, và cô nhỏ tên là Mi-canh. 50. Tên của vợ Sau-lơ là A-hi-nô-am, là con gái của A-hi-mát. Tổng tư lệnh quân đội của Sau-lơ là Áp-ne, con của Nê-rơ, chú của Sau-lơ. 51. Kích, là cha của Sau-lơ; còn Nê-rơ, là cha của Áp-ne, đều là con của A-bi-ên. 52. Suốt đời Sau-lơ luôn có chiến tranh khốc liệt với người Phi-li-tin. Mỗi khi thấy người nào mạnh mẽ và gan dạ thì Sau-lơ chiêu mộ cho mình.

15

  1. Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Đức Giê-hô-va đã sai tôi xức dầu cho vua để cai trị Y-sơ-ra-ên, là dân của Ngài. Vì vậy bây giờ, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 2. Đức Giê-hô-va vạn quân phán như thế nầy: Ta sẽ phạt A-ma-léc về việc chúng đã cản đường Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập. 3. Vì vậy bây giờ, hãy tấn công người A-ma-léc rồi tận diệt tất cả những gì thuộc về chúng. Đừng thương xót chúng, nhưng phải giết hết đàn ông, đàn bà, trẻ em, trẻ thơ còn bú, cả đến bò, chiên, lạc đà và lừa.”
  2. Vì vậy, Sau-lơ đã triệu tập dân chúng, rồi điểm quân số tại Tê-la-im: Có hai trăm ngàn bộ binh và mười ngàn người Giu-đa. 5. Sau-lơ tiến đến thành của người A-ma-léc, rồi phục kích trong thung lũng.
  3. Sau-lơ nói với người Kê-nít: “Hãy đi xuống, hãy rời khỏi người A-ma-léc. Đừng để tôi diệt anh em luôn với chúng, bởi vì anh em đã làm ơn cho toàn dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập.” Vì vậy, người Kê-nít đã rời khỏi người A-ma-léc.
  4. Sau-lơ đánh bại dân A-ma-léc từ Ha-vi-la cho đến Su-rơ, đối diện với Ai Cập. 8. Ông bắt sống A-ga, vua của dân A-ma-léc, rồi dùng gươm diệt tất cả dân chúng. 9. Nhưng Sau-lơ và dân chúng không giết A-ga, cùng những con tốt nhất trong bầy chiên, bò, những con vật mập mạnh, chiên con, và tất cả những con vật tốt đẹp. Họ không muốn diệt những con vật đó, chỉ diệt tất cả những con xấu xí và không giá trị.
  5. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên: 11. “Ta rất buồn vì đã lập Sau-lơ làm vua, bởi vì người đã xây bỏ Ta, không thực hành những mạng lệnh của Ta.” Sa-mu-ên than khóc, và ông đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va suốt cả đêm.
  6. Sáng hôm sau, Sa-mu-ên dậy sớm để gặp Sau-lơ. Sa-mu-ên được báo tin rằng Sau-lơ đã đến Cạt-mên, dựng một đài kỷ niệm cho mình, rồi trở lại, đi ngang qua đây, và đã đi xuống Ghinh-ganh.
  7. Sa-mu-ên đến với Sau-lơ. Sau-lơ nói với ông: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ông! Tôi đã thi hành mạng lệnh của Đức Giê-hô-va.” 14. Sa-mu-ên hỏi: “Nếu vậy thì tiếng chiên kêu vang đến tai của tôi, cùng tiếng bò rống mà tôi nghe kia, là gì vậy?” 15. Sau-lơ trả lời: “Dân chúng đã đem chúng từ nơi người A-ma-léc trở về. Họ đã chừa lại những con tốt nhất trong đàn chiên và bò để làm sinh tế dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông. Số còn lại, chúng tôi đã diệt hết.” 16. Sa-mu-ên nói với Sau-lơ. “Xin đừng nói nữa. Ðể tôi nói cho ngài nghe những gì Đức Giê-hô-va đã nói với tôi đêm qua.” Vua nói ông: “Xin hãy nói.”
  8. Sa-mu-ên nói: “Trong lúc ngài thấy mình còn là người thấp hèn, không phải Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ngài cai trị trên Y-sơ-ra-ên, và không phải ngài đã trở nên người đứng đầu các chi tộc của Y-sơ-ra-ên hay sao? 18. Đức Giê-hô-va đã sai ngài đi với sứ mạng: ‘Hãy đi tiêu diệt toàn bộ những kẻ tội lỗi, là người A-ma-léc. Hãy giao chiến cùng chúng cho đến khi ngươi đã tận diệt chúng.’ 19. Nhưng tại sao vua không vâng theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va? Tại sao vua lao vào chiến lợi phẩm và làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va?”
  9. Sau-lơ nói với Sa-mu-ên: “Tôi có nghe theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va. Tôi đã thi hành sứ mạng mà Đức Giê-hô-va đã sai tôi. Tôi đã đem A-ga, vua A-ma-léc về, và tiêu diệt toàn bộ người A-ma-léc. 21. Nhưng dân chúng đã lấy từ trong chiến lợi phẩm những chiên và bò, là vật tốt nhất trong các vật đáng tận diệt, để dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông tại Ghinh-ganh.”
  10. Sa-mu-ên nói: “Đức Giê-hô-va có vui về tế lễ thiêu và các sinh tế bằng sự vâng theo tiếng phán của Ngài hay sao? Nầy, sự vâng lời tốt hơn sinh tế, sự nghe theo tốt hơn mỡ các chiên đực. 23. Bởi vì sự bất tuân cũng đáng tội như tà thuật. Sự kiêu căng cũng có tội như thờ lạy hình tượng. Ngươi đã gạt bỏ mạng lệnh của Đức Giê-hô-va cho nên bây giờ Đức Giê-hô-va cũng gạt bỏ ngươi, không cho ngươi làm vua nữa.”
  11. Sau-lơ liền thưa cùng Sa-mu-ên: “Tôi đã phạm tội. Tôi đã bất tuân mạng lệnh của Đức Giê-hô-va và lời dặn của ông. Tôi đã sợ dân chúng nên làm theo lời của họ. 25. Bây giờ, xin ông hãy tha tội cho tôi, hãy trở lại cùng tôi, để tôi thờ phượng Đức Giê-hô-va.”
  12. Sa-mu-ên trả lời Sau-lơ: “Tôi không trở lại với ngài. Vì ngài đã từ bỏ lời của Đức Giê-hô-va, cho nên Đức Giê-hô-va đã từ bỏ ngài, không cho ngài cai trị trên Y-sơ-ra-ên nữa.” 27. Khi Sa-mu-ên quay đi thì Sau-lơ nắm lấy vạt áo choàng của ông, khiến áo bị xé rách.
  13. Sa-mu-ên nói với ông: “Hôm nay, Đức Giê-hô-va đã xé vương quốc Y-sơ-ra-ên ra khỏi vua như vậy, để ban cho một người lân cận của vua, xứng đáng hơn vua. 29. Hơn nữa, Ðấng Vinh Hiển của Y-sơ-ra-ên không bao giờ nói dối và cũng không ăn năn, bởi vì Ngài không phải là con người mà ăn năn.”
  14. Vua nói: “Tôi có tội! Xin ông hãy tôn trọng tôi trước mặt các trưởng lão của dân tôi, và trước Y-sơ-ra-ên. Xin ông hãy trở lại với tôi, để tôi thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông.” 31. Vì vậy, Sa-mu-ên đã trở lại với Sau-lơ, và Sau-lơ đã thờ phượng Đức Giê-hô-va.
  15. Sau đó, Sa-mu-ên nói: “Hãy dẫn A-ga, vua của A-ma-léc, đến cho ta.” A-ga vui mừng đi đến với ông. A-ga nghĩ rằng: “Nỗi đắng cay của sự chết đã qua rồi.” 33. Nhưng Sa-mu-ên nói: “Gươm của ngươi đã làm cho phụ nữ mất con thể nào, thì mẹ ngươi cũng sẽ là phụ nữ mất con như vậy.” Sa-mu-ên đã phân thây A-ga từng mảnh trước mặt Đức Giê-hô-va tại Ghinh-ganh.
  16. Sau đó Sa-mu-ên trở về Ra-ma, còn Sau-lơ đi lên nhà của ông tại Ghi-bê-a, là chỗ của Sau-lơ. 35. Sa-mu-ên không hề gặp lại Sau-lơ nữa cho đến ngày ông qua đời. Ông tiếc nuối về Sau-lơ. Đức Giê-hô-va buồn vì đã lập Sau-lơ làm vua trên Y-sơ-ra-ên.

 

16

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên rằng: “Ngươi cứ than khóc vì chuyện Sau-lơ cho đến chừng nào? Ngươi có thấy Ta đã loại bỏ nó và không cho nó làm vua trên Y-sơ-ra-ên nữa hay không? Hãy đổ dầu cho đầy vào chiếc sừng của ngươi rồi đi. Ta sai ngươi đến nhà của Giê-se người Bết-lê-hem, bởi vì Ta đã tìm được cho Ta trong vòng các con trai của người một người để làm vua.”
  2. Sa-mu-ên nói: “Làm sao con đi được? Nếu Sau-lơ nghe việc nầy thì sẽ giết con!” Đức Giê-hô-va phán: “Ngươi hãy đem theo một con bò cái tơ và nói rằng: Tôi đến để dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va. 3. Ngươi hãy mời Giê-se đến dự tế lễ, rồi Ta sẽ chỉ cho ngươi phải làm gì. Ngươi sẽ xức dầu cho người nào Ta sẽ bảo ngươi.”
  3. Sa-mu-ên đã làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán với ông. Ông đến Bết-lê-hem. Các trưởng lão của thành run sợ đón ông, họ hỏi: “Có phải ông đem bình an đến chăng?” 5. Ông nói: “Bình an! Ta đến để dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va. Các ngươi hãy thanh tẩy chính mình rồi đến dự tế lễ với ta.” Ông cũng thanh tẩy cho Gie-sê và các con trai của người, rồi mời họ đến dự tế lễ.
  4. Sau đó, khi họ đến, Sa-mu-ên thấy Ê-li-áp, ông nói: “Chắc hẳn người được Đức Giê-hô-va xức dầu đang ở trước mặt Ngài.” 7. Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên: “Đừng xem diện mạo và vóc dáng cao lớn của nó, bởi vì Ta đã loại nó. Đức Giê-hô-va không xem theo cách loài người xem: Loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng.”
  5. Gie-sê gọi A-bi-na-đáp, rồi bảo đi qua trước mặt Sa-mu-ên. Nhưng ông nói: “Đức Giê-hô-va cũng không chọn người nầy.” 9. Gie-sê bảo Sam-ma đi ngang qua, nhưng ông nói: “Đức Giê-hô-va cũng không chọn người nầy.” 10. Gie-sê bảo bảy con trai của mình đi qua trước mặt Sa-mu-ên, nhưng Sa-mu-ên nói với Gie-sê: “Đức Giê-hô-va không chọn những người nầy.”
  6. Sa-mu-ên hỏi Gie-sê: “Có phải đây là tất cả các con trai của ông hay không?” Ông trả lời: “Còn một đứa con út, nhưng nó đang chăn chiên.” Sa-mu-ên nói với Gie-sê: “Hãy cho gọi nó về! Chúng ta sẽ không ngồi ăn trước khi nó đến.” 12. Vì vậy, ông đã cho gọi chàng về. Chàng hồng hào, đôi mắt tinh anh, và diện mạo khôi ngô. Đức Giê-hô-va phán: “Người nầy đây! Hãy đứng dậy xức dầu cho người.” 13. Sa-mu-ên lấy sừng dầu và xức cho chàng trước mặt các anh của chàng. Kể từ ngày đó trở đi, Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Đa-vít.

Sa-mu-ên đứng dậy đi về Ra-ma.

  1. Thần của Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi Sau-lơ. Một ác thần từ Đức Giê-hô-va đến quấy nhiễu ông. 15. Triều thần của Sau-lơ nói với ông: “Nầy, có một ác thần mà Đức Chúa Trời sai đến quấy rối bệ hạ. 16. Xin chúa của chúng tôi hãy truyền cho bề tôi đang đứng chầu trước mặt ngài tìm một người biết đánh đàn hạc, để khi nào Đức Chúa Trời sai ác thần đến, thì người đó sẽ đánh đàn, và ngài sẽ được khuây khỏa.” 17. Sau-lơ nói với các triều thần: “Các ngươi hãy đi tìm một người đánh đàn giỏi, rồi dẫn đến cho ta.” 18. Một người trong các triều thần tâu: “Nầy! Tôi biết có một con trai của Gie-sê, người Bết-lê-hem, đàn rất giỏi, là một dũng sĩ và là một chiến sĩ can trường. Chàng ăn nói khôn ngoan, diện mạo khôi ngô, và Đức Giê-hô-va ở cùng chàng.” 19. Sau-lơ sai sứ giả đến với Gie-sê, nói: “Hãy sai Đa-vít, con trai của ngươi, là người chăn chiên đến với ta.” 20. Gie-sê lấy bánh, một bầu da rượu, một con dê con, chất trên một con lừa, rồi sai Đa-vít, con trai của mình, đem đến cho Sau-lơ. 21. Đa-vít đến với Sau-lơ, và phục vụ vua. Sau-lơ rất thương yêu Đa-vít và chàng trở thành người vác khí giới của vua. 22. Sau-lơ sai người đến nói với Gie-sê: “Ngươi hãy để Đa-vít đứng chầu trước mặt ta, vì nó vừa lòng ta.” 23. Kể từ đó, khi nào ác thần từ Đức Chúa Trời đến quấy nhiễu Sau-lơ, Đa-vít mang đàn hạc ra gảy. Sau-lơ được giải khuây, cảm thấy dễ chịu, và ác thần lìa khỏi ông.

 

17

  1. Người Phi-li-tin tập trung quân đội để giao chiến. Họ tập họp lại tại Sô-cô, thuộc Giu-đa, rồi đóng trại tại Ê-phê Đa-mim, ở giữa Sô-cô và A-xê-ca. 2. Sau-lơ và người Y-sơ-ra-ên tập trung và đóng trại tại thung lũng Ê-la, dàn trận để chống lại người Phi-li-tin. 3. Người Phi-li-tin đứng trên núi bên nầy, người Y-sơ-ra-ên đứng trên núi bên kia, có một thung lũng ở giữa ngăn cách họ.
  2. Từ trong trại quân Phi-li-tin có một dũng sĩ vô địch đi ra, tên là Gô-li-át, quê ở Gát, người cao hơn sáu cu-bít và một gang. 5. Hắn đội mão đồng trên đầu, mặc áo giáp bằng vảy đồng, nặng năm ngàn siếc-lơ. 6. Chân hắn có giáp che bằng đồng, vai đeo một cây lao bằng đồng. 7. Cán giáo của hắn như một cây trục cửi của thợ dệt, và mũi của cây giáo nặng sáu trăm siếc-lơ. Có một người mang khiên đi trước hắn.
  3. Hắn đứng trước đạo quân Y-sơ-ra-ên, thét lớn: “Sao các ngươi ra đây để dàn trận? Ta há không phải là một người Phi-li-tin, còn các ngươi là tôi tớ của Sau-lơ hay sao? Hãy chọn một người trong vòng các ngươi, rồi đem người đó xuống đây đấu với ta. 9. Nếu hắn có thể đánh bại ta và giết được ta, chúng ta sẽ làm tôi tớ cho các ngươi. Còn nếu ta thắng hắn và giết hắn, các ngươi sẽ làm tôi tớ cho chúng ta và phục vụ chúng ta.” 10. Tên Phi-li-tin nói: “Hôm nay, ta thách cả đạo quân của Y-sơ-ra-ên. Các ngươi hãy tìm một người để xuống đây để đấu với ta.”
  4. Khi Sau-lơ và cả đạo quân Y-sơ-ra-ên nghe những lời đó của tên Phi-li-tin, họ lấy làm khiếp đảm và cực kỳ sợ hãi.
  5. Đa-vít là con trai của một người Ê-phơ-rát, quê ở Bết-lê-hem thuộc Giu-đa, tên là Gie-sê. Ông có tám con trai. Vào thời Sau-lơ trị vì thì cụ đã già và đã cao tuổi. 13. Ba con trai lớn của Gie-sê đã theo Sau-lơ ra chiến trường. Tên của ba người con trai đã đi ra chiến trường là: Ê-li-áp, con cả; kế đến là A-bi-na-đáp; và người thứ ba là Sa-ma. 14. Ba người anh lớn đã theo Sau-lơ. Đa-vít là con út. 15. Đa-vít đã đến với Sau-lơ, rồi trở về để chăn chiên cho cha của mình tại Bết-lê-hem.
  6. Mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều, trong suốt bốn mươi ngày, người Phi-li-tin cứ ra đứng như vậy.
  7. Gie-sê nói với Đa-vít, con trai của mình: “Bây giờ, con hãy lấy một ê-pha hột rang nầy và mười ổ bánh cho các anh của con, rồi hãy chạy đến trại quân của các anh con. 18. Con cũng mang theo mười miếng phó mát này cho viên chỉ huy ngàn quân. Con hỏi thăm sức khỏe các anh của con rồi đem về cho cha một vật gì chứng tỏ các anh của con được bình an.” 19. Lúc đó, Sau-lơ và tất cả người Y-sơ-ra-ên đang ở trong thung lũng Ê-la để chống lại người Phi-li-tin.
  8. Sáng hôm sau, Ða-vít dậy sớm, giao bầy chiên cho một người khác giữ, lấy những thứ cần thiết như cha chàng đã dặn bảo, rồi lên đường. Chàng đến trại quân vừa đúng lúc quân đội đang ra trận và hò hét để chiến đấu. 21. Người Y-sơ-ra-ên và người Phi-li-tin đã dàn trận, quân đội bên nầy đối diện với quân đội bên kia. 22. Đa-vít để hành lý lại, giao cho người trông coi, rồi chạy vào đoàn quân để chào thăm các anh của mình.
  9. Trong khi chàng nói chuyện với họ, nầy, tên dũng sĩ vô địch người Phi-li-tin, quê ở Gát, tên Gô-li-át, từ trong hàng quân Phi-li-tin bước ra, nói những lời như trước. Ða-vít nghe những lời đó. 24. Tất cả những người Y-sơ-ra-ên thấy hắn đều chạy trốn và vô cùng sợ hãi. 25. Những người Y-sơ-ra-ên nói với nhau: “Các anh có thấy kẻ xông tới hay không? Hắn đến để sỉ nhục Y-sơ-ra-ên. Nếu người nào giết được hắn, thì vua sẽ ban thưởng nhiều của cải, gả con gái cho, và miễn sưu thuế cho nhà cha của người đó trong Y-sơ-ra-ên.”
  10. Đa-vít hỏi những người đứng bên cạnh chàng: “Người ta sẽ thưởng gì cho người giết được tên Phi-li-tin nầy, và cất bỏ sự sỉ nhục khỏi Y-sơ-ra-ên? Tên Phi-li-tin không chịu cắt bì nầy là ai, mà lại dám sỉ nhục đạo quân của Đức Chúa Trời hằng sống?” 27. Người ta trả lời chàng như trước và nói: “Người nào giết được tên đó sẽ được thưởng như vậy.”
  11. Ê-li-áp, anh cả của Đa-vít, nghe chàng nói chuyện với những người đó, Ê-li-áp nổi giận cùng Ða-vít, rồi nói: “Tại sao mầy xuống đây? Mầy bỏ mấy con chiên trong đồng hoang cho ai? Tao biết tính kiêu ngạo và sự độc ác trong lòng của mầy. Mầy muốn xem đánh nhau nên mầy mới đến đây.” 29. Đa-vít đáp: “Em có làm gì đâu? Em đâu có gây rắc rối gì đâu?” 30. Chàng quay khỏi anh của mình, đến với người khác, lặp lại câu hỏi đó, và người ta cũng trả lời như lần trước.
  12. Có người nghe những lời Ða-vít nói, đến báo cho Sau-lơ, và ông đã truyền đem chàng đến. 32. Ða-vít tâu với Sau-lơ: “Xin đừng ai ngã lòng vì hắn. Tôi tớ của ngài sẽ ra chiến đấu với tên Phi-li-tin nầy.” 33. Sau-lơ nói với Ða-vít: “Ngươi không thể đánh nổi với tên Phi-li-tin nầy đâu, vì ngươi chỉ là một đứa trẻ, còn hắn đã chinh chiến từ thời còn trẻ.”
  13. Nhưng Ða-vít nói với Sau-lơ: “Tôi tớ của ngài đã giữ bầy chiên cho cha của mình. Mỗi khi có sư tử hay gấu đến bắt một con chiên trong bầy, 35. thì tôi đuổi theo nó, đánh nó, và giải thoát con chiên khỏi mồm của nó. Khi nó quay lại tấn công tôi, thì tôi nắm lấy râu nó, đánh nó, và giết nó. 36. Tôi tớ của ngài đã từng giết cả sư tử và gấu, thì tên Phi-li-tin không được cắt bì kia cũng sẽ đồng số phận như chúng, bởi vì hắn đã sỉ nhục đạo quân của Ðức Chúa Trời hằng sống.” 37. Ða-vít nói tiếp: “Đức Giê-hô-va là Ðấng đã cứu tôi khỏi móng vuốt của sư tử và khỏi móng vuốt của gấu, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ cứu tôi khỏi tay của tên Phi-li-tin nầy.” Sau-lơ nói với Ða-vít: “Hãy đi! Cầu xin Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi.”
  14. Sau-lơ lấy binh giáp của ông mặc cho Ða-vít. Ông lấy mũ đồng của ông đội trên đầu của chàng, và cũng lấy áo giáp của ông mặc cho chàng. 39. Ða-vít đeo thanh gươm của vua trao cho chàng vào bộ binh giáp, rồi tập đi thử vì chưa quen. Sau đó Ða-vít thưa với Sau-lơ: “Tôi không thể đi với những thứ nầy, vì tôi không quen.” Rồi Ða-vít cởi chúng ra. 40. Chàng cầm cây gậy của mình trong tay, chọn dưới khe năm viên đá bóng nhẵn để trong túi chăn chiên – trong một cái túi nhỏ mà chàng có – và cầm chiếc trành ném đá trong tay, rồi đến gần người Phi-li-tin.
  15. Người Phi-li-tin tiến lên, đến gần Ða-vít. Kẻ vác khiên của hắn đi trước hắn. 42. Người Phi-li-tin nhìn thấy Đa-vít, vì chàng chỉ là một thiếu niên, hồng hào, diện mạo khôi ngô, nên khinh thường chàng. 43. Người Phi-li-tin nói với Đa vít: “Ta có phải là một con chó đâu mà ngươi cầm gậy đến với ta?” Rồi người Phi-li-tin lấy danh các thần mình mà rủa sả Đa-vít. 44. Người Phi-li-tin nói với Ða-vít: “Hãy lại đây với ta. Ta sẽ phó thân xác của ngươi làm thức ăn cho chim trời và thú đồng.”
  16. Đa-vít nói với người Phi-li-tin: “Ngươi cầm gươm, giáo, và lao đến với ta. Còn ta nhân danh Đức Giê-hô-va của các đạo quân, tức là Đức Chúa Trời của đạo quân Y-sơ-ra-ên, mà ngươi đã sỉ nhục, để đến với ngươi. 46. Hôm nay, Đức Giê-hô-va sẽ phó ngươi vào trong tay của ta. Ta sẽ đánh hạ ngươi và cắt đầu của ngươi. Hôm nay, ta sẽ phó xác của đạo quân Phi-li-tin làm thức ăn cho chim trời và thú hoang trên đất, để cả thế giới sẽ biết rằng có Ðức Chúa Trời ở trong Y-sơ-ra-ên. 7. Mọi người đang tụ họp ở đây sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va không cứu bằng gươm hoặc giáo, bởi vì trận chiến nầy là của Đức Giê-hô-va, và Ngài sẽ nộp các ngươi vào tay của chúng ta.”
  17. Sau đó, người Phi-li-tin đứng dậy, tiến lên, đến gần, để đối đầu với Đa-vít. Đa-vít vội vàng chạy nhanh về phía trận tuyến để đối đầu với người Phi-li-tin. 49. Đa-vít thọc tay vào túi lấy một viên đá, rồi dùng trành ném đá ném trúng vào trán của người Phi-li-tin. Viên đá thấu vào trong trán, làm cho hắn ngã sấp mặt xuống đất. 50. Ða-vít đã thắng người Phi-li-tin với một chiếc trành ném đá và với một viên đá. Chàng đánh bại hắn và giết chết hắn, dù trong tay Ða-vít không có một thanh gươm.
  18. Ða-vít chạy đến, đứng trên xác của người Phi-li-tin, cầm cây gươm của hắn, rút nó ra khỏi vỏ, rồi dùng nó kết liễu đời hắn và cắt đầu hắn. Khi quân Phi-li-tin thấy dũng sĩ vô địch của chúng đã chết, chúng bỏ chạy. 52. Dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đứng dậy, reo hò, rồi đuổi theo quân Phi-li-tin cho đến tận thung lũng, đến cổng thành Éc-rôn. Quân Phi-li-tin bị thương ngã gục đầy đường từ Sa-a-ra-gim cho đến Gát và Éc-rôn. 53. Dân Y-sơ-ra-ên đuổi theo quân Phi-li-tin, sau đó họ trở về cướp phá trại của chúng. 54. Ða-vít mang đầu của người Phi-li-tin, đem nó về Giê-ru-sa-lem, nhưng những khí giới của hắn, chàng để trong lều của mình.
  19. Khi Sau-lơ thấy Ða-vít ra chiến đấu với người Phi-li-tin, ông hỏi Áp-ne, tướng chỉ huy quân đội: “Áp-ne! Cậu thiếu niên đó là con của ai?” Áp-ne trả lời: “Tâu đức vua! Tôi xin lấy mạng sống của ngài mà thề, tôi không biết.” 56. Vua nói: “Hãy hỏi xem thiếu niên đó là con của ai.”
  20. Lúc Đa-vít đã giết người Phi-li-tin trở về, thì Áp-ne đón chàng, dẫn đến trước mặt Sau-lơ, trong tay chàng đang xách cái đầu của người Phi-li-tin. 58. Sau-lơ hỏi chàng: “Nầy chàng trai, ngươi là con của ai?” Đa-vít thưa: “Tôi là con của Gie-sê, người Bết-lê-hem, là đầy tớ của bệ hạ.”

 

18

  1. Sau khi chàng trả lời Sau-lơ xong, tâm hồn của Giô-na-than gắn bó với tâm hồn của Ða-vít. Giô-na-than yêu thương Ða-vít như chính mình. 2. Kể từ ngày đó, Sau-lơ giữ chàng, không để chàng trở về nhà cha của mình nữa. 3. Giô-na-than kết ước với Đa-vít, bởi vì Giô-na-than yêu mến chàng như chính mạng sống của mình. 4. Giô-na-than cởi áo khoác mình đang mặc ban cho Đa-vít, cùng với áo giáp, gươm, cung, và thắt lưng của mình.
  2. Mỗi khi Sau-lơ sai Đa-vít đi đâu, chàng luôn luôn thành công. Do đó, Sau-lơ đã đặt chàng chỉ huy những chiến binh. Chàng được đẹp lòng toàn thể dân chúng và cũng đẹp lòng các triều thần của Sau-lơ.
  3. Thời gian trôi qua, khi Đa-vít trở về sau khi giết người Phi-li-tin, phụ nữ từ các thành của Y-sơ-ra-ên đi ra đón vua Sau-lơ. Họ dùng trống nhỏ và các thứ nhạc khí vui mừng ca hát và nhảy múa. 7. Các phụ nữ vừa nhảy múa vừa hát rằng: “Sau-lơ giết hằng ngàn, còn Ða-vít giết hằng vạn.” 8. Sau-lơ rất tức giận và bực mình vì những lời nầy. Ông nói: “Họ kể công Đa-vít giết hàng vạn, còn ta giết hàng ngàn. Chỉ còn thiếu vương quyền trao cho nó mà thôi!” 9. Kể từ hôm đó, Sau-lơ nhìn Ða-vít với ánh mắt ganh tị.
  4. Hôm sau, ác thần từ Ðức Chúa Trời đến nhập vào Sau-lơ nên ông nói nhảm trong nhà của mình. Ða-vít dùng tay khảy đàn cho ông như những lần trước. Trong tay Sau-lơ đang cầm một cây giáo, 11. Sau-lơ đã phóng cây giáo vì nghĩ rằng: “Ta sẽ ghim Ða-vít vào tường.” Tuy nhiên Đa-vít đã tránh khỏi hai lần.
  5. Sau-lơ sợ Đa-vít bởi vì Đức Giê-hô-va ở với chàng, nhưng Ngài đã lìa khỏi Sau-lơ. 13. Vì vậy Sau-lơ không cho chàng hiện diện trước mặt ông nữa. Ông đặt chàng chỉ huy một ngàn quân. Chàng đã dẫn quân ra vào trận mạc. 14. Ða-vít thành công trong đường lối của mình bởi vì Đức Giê-hô-va ở cùng chàng. 15. Khi Sau-lơ thấy chàng cư xử cách khôn ngoan, ông càng sợ chàng. 16. Nhưng toàn thể Y-sơ-ra-ên và Giu-đa yêu mến Đa-vít vì chàng đã dẫn họ ra vào trận mạc.
  6. Sau đó, Sau-lơ nói với Ða-vít: “Ðây là Mê-ráp, con gái lớn của ta. Ta sẽ ban nàng cho ngươi làm vợ. Nhưng ngươi phải dũng cảm chiến đấu cho ta và đánh trận cho Đức Giê-hô-va.” Bởi vì Sau-lơ nói rằng: “Ðừng để tay ta hại nó, nhưng hãy để tay của quân Phi-li-tin hại nó.” 18. Ða-vít nói với Sau-lơ: “Tôi là ai, gia đình tôi có là gì, hay dòng họ của cha tôi có gì trong Y-sơ-ra-ên, mà tôi có thể làm con rể của vua?” 19. Nhưng sau đó, đến lúc phải gả Mê-ráp, con gái của Sau-lơ, cho Đa-vít thì nàng lại được gả cho Át-ri-ên, người Mê-hô-la.
  7. Tuy nhiên, Mi-canh, con gái của Sau-lơ, yêu Đa-vít. Người ta nói điều đó với Sau-lơ. Điều nầy làm ông hài lòng. 21. Sau-lơ nói thầm: “Ta sẽ ban nó cho hắn, để nó sẽ làm cái bẫy cho hắn, và hắn sẽ bị hại bởi tay người Phi-li-tin.” Vì vậy, Sau-lơ nói với Ða-vít lần thứ hai: “Lúc nầy ngươi sẽ được làm rể của ta.” 22. Sau đó Sau-lơ truyền cho triều thần của ông: “Hãy nói riêng cho Ða-vít biết: Nầy, vua rất thích ông và cả triều thần đều mến ông. Vì vậy, hãy làm con rể của vua.” 23. Vì vậy triều thần của Sau-lơ nói lại những lời đó vào tai Ða-vít. Ða-vít đáp: “Bộ quý vị tưởng làm con rể của vua là chuyện nhỏ hay sao? Hãy xem! Tôi chỉ là một kẻ nghèo nàn thấp hèn.” 24. Triều thần của Sau-lơ đã thuật lại với vua rằng Ða-vít đã nói như vậy.
  8. Sau-lơ nói: “Các ngươi hãy nói với Ða-vít thế nầy. Nhà vua không đòi hỏi sính lễ gì, nhưng chỉ cần một trăm dương bì của người Phi-li-tin, vì ngài muốn báo thù những kẻ thù của mình.” Vua Sau-lơ đã suy tính dùng tay của người Phi-li-tin để triệt hạ Ða-vít.
  9. Khi triều thần của vua thuật lại những lời nầy cho Đa-vít, Đa-vít chấp nhận điều kiện để làm phò mã. Khi kỳ hạn chưa mãn, 27. Đa-vít đã trỗi dậy, ông cùng với những người theo mình đã đi và đánh giết hai trăm người Phi-li-tin. Đa-vít đem dương bì của họ, nộp đầy đủ cho vua để ông có thể trở thành phò mã. Vì vậy, Sau-lơ đã gả Mi-canh, con gái của mình, cho Đa-vít làm vợ.
  10. Sau-lơ thấy Đức Giê-hô-va ở cùng Đa-vít, và thấy Mi-canh, con gái của mình, yêu chàng. 29. Sau-lơ càng sợ Đa-vít hơn. Sau-lơ trở thành kẻ thù của Đa-vít liên tục cả đời.
  11. Sau đó, mỗi khi các lãnh chúa của dân Phi-li-tin kéo quân ra gây chiến, Ða-vít luôn luôn lập chiến công nhiều hơn tất cả các tướng lãnh khác của Sau-lơ, vì vậy danh tiếng của chàng lại càng được nể trọng.

 

19

  1. Sau-lơ bàn với Giô-na-than, con trai của mình, và những người phục vụ mình để giết Đa-vít. Nhưng Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, rất thương yêu Đa-vít. 2. Vì vậy Giô-na-than nói với Ða-vít: “Cha của tôi đang tìm cách giết anh. Vì vậy, từ bây giờ cho đến sáng, tôi xin anh hãy đề phòng. Hãy đến một nơi kín đáo rồi trốn tại đó. 3. Về phần tôi, tôi sẽ đi ra đứng cạnh cha tôi tại cánh đồng nơi anh đang trú ẩn. Rồi tôi sẽ nói với cha tôi về anh. Tôi thấy thế nào thì tôi sẽ báo cho anh như vậy.”
  2. Vì vậy, Giô-na-than đã nói tốt về Đa-vít với Sau-lơ, cha của mình. Chàng nói với ông rằng: “Xin cha đừng phạm tội với Đa-vít, là đầy tớ của cha, bởi vì anh ấy không phạm tội với cha, nhưng ngược lại đã làm những việc ích lợi cho cha. 5. Anh ấy đã liều mạng sống của mình mà giết tên Phi-li-tin, và Đức Giê-hô-va đã thực hiện sự giải cứu lớn lao cho toàn thể Y-sơ-ra-ên. Cha đã thấy và vui mừng về điều đó. Như vậy, tại sao cha lại định phạm tội với máu vô tội mà vô cớ giết Đa-vít?”
  3. Sau-lơ đã lắng nghe lời của Giô-na-than nên thề rằng: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống! Đa-vít sẽ không bị giết.” 7. Sau đó, Giô-na-than đã gọi Ða-vít và nói cho chàng tất cả những điều đó. Giô-na-than đã dẫn Ða-vít đến trước mặt Sau-lơ. Chàng đã đứng chầu tại trước mặt ông như trước.
  4. Và rồi, chiến tranh lại xảy ra. Đa-vít đã ra trận chiến đấu với người Phi-li-tin. Chàng đã đánh chúng và sát hại chúng rất nhiều. Chúng bỏ chạy khỏi chàng.
  5. Sau đó, ác thần từ Đức Giê-hô-va đã nhập vào Sau-lơ. Ông đang ngồi trong nhà, tay cầm cây giáo của mình, còn Đa-vít đang gẩy đàn. 10. Sau-lơ định đâm Đa-vít vào vách bằng cây giáo, nhưng Đa-vít né khỏi ngay trước mặt Sau-lơ, và ông đã đâm cây giáo vào vách. Đa-vít đã chạy trốn rồi tẩu thoát trong đêm đó.
  6. Sau-lơ sai người đến nhà Đa-vít, theo dõi chàng để sáng hôm sau giết chàng. Mi-canh, vợ của Đa-vít, nói với chàng rằng: “Nếu đêm nay chàng không trốn thoát thì sáng mai chàng sẽ bị giết.” 12. Mi-canh đã dòng Đa-vít xuống qua cửa sổ. Chàng đã chạy trốn rồi tẩu thoát. 13. Sau đó, Mi-canh lấy một pho tượng, đặt nằm trên giường, dùng một tấm lông dê trùm lên đầu, rồi lấy vải phủ lên trên.
  7. Khi Sau-lơ sai người đến bắt Đa-vít thì nàng nói: “Anh ấy bị bệnh.” 15. Sau-lơ lại sai người đến xem xét Đa-vít, rồi nói: “Hãy khiêng nó nằm trên giường đến cho ta, để ta giết nó.” 16. Khi các sứ giả vào, họ thấy có một pho tượng trên giường, đầu phủ một tấm lông dê. 17. Sau-lơ nói với Mi-canh: “Tại sao con lừa dối cha để cho kẻ thù của cha chạy đi rồi trốn thoát?” Mi-canh thưa với Sau-lơ: “Anh ấy nói với con: Hãy để cho anh đi, nếu không, anh sẽ giết em!”
  8. Đa-vít đã chạy trốn, tẩu thoát, rồi đến Ra-ma gặp Sa-mu-ên. Chàng thuật lại cho ông tất cả những điều Sau-lơ đã làm cho chàng. Sau đó, chàng cùng Sa-mu-ên đến ở tại Na-giốt.
  9. Một thời gian sau, Sau-lơ được báo cáo rằng: “Kìa, Đa-vít đang ở tại Na-giốt thuộc Ra-ma.” 20. Sau-lơ sai một số người đi bắt Đa-vít. Nhưng khi họ thấy một đoàn tiên tri, do Sa-mu-ên dẫn đầu, đang nói tiên tri, thì Thần của Đức Chúa Trời ngự trên những người của Sau-lơ, và họ cũng nói tiên tri. 21. Khi Sau-lơ nghe báo cáo như vậy, ông sai những người khác, và họ cũng nói tiên tri như vậy. Sau-lơ lại sai một số người đi lần thứ ba, và họ cũng nói tiên tri.
  10. Sau đó, Sau-lơ đích thân đến Ra-ma. Khi tới một cái giếng lớn ở Sê-cu, ông hỏi rằng: “Sa-mu-ên và Đa-vít ở đâu?” Có người trả lời: “Kìa, họ đang ở tại Na-giốt thuộc Ra-ma.” 23. Lúc ông đi đến Na-giốt thuộc Ra-ma, Thần của Đức Chúa Trời cũng ngự trên ông, rồi ông vừa đi vừa nói tiên tri cho đến khi tới Na-giốt thuộc Ra-ma. 24. Ông cởi trần, và cũng nói tiên tri trước mặt Sa-mu-ên, rồi cứ ở trần như vậy nằm dưới đất trọn ngày và đêm đó. Vì vậy, người ta có câu tục ngữ: “Sau-lơ cũng thuộc vào hàng ngũ các tiên tri sao?”

 

20

  1. Sau đó, Đa-vít trốn khỏi Na-giốt thuộc Ra-ma, rồi đến với Giô-na-than, và hỏi: “Tôi đã làm gì? Tôi có tội ác gì? Tôi đã phạm tội gì với cha của anh mà người đã tìm hại mạng sống của tôi?”
  2. Giô-na-than nói với chàng: “Không thể như vậy được! Anh không chết đâu. Cha tôi không làm bất cứ điều gì, dù lớn hay nhỏ, mà không nói với tôi. Tại sao cha tôi lại giấu điều nầy với tôi? Không thể như thế được!”
  3. Nhưng Đa-vít đã thề và nói: “Cha anh biết rõ rằng tôi được ơn trước mặt anh. Người nói: Đừng cho Giô-na-than biết điều nầy, kẻo nó buồn. Nhưng như Đức Giê-hô-va hằng sống và như anh vẫn sống đây, sự thật là giữa tôi và cái chết chỉ cách có một bước.”
  4. Giô-na-than nói với Đa-vít: “Bất cứ điều gì anh muốn, thì tôi sẽ làm cho anh.”
  5. Đa-vít nói với Giô-na-than: “Nầy, ngày mai là ngày trăng mới, tôi phải ngồi ăn chung bàn với vua. Nhưng xin anh cho tôi đi ẩn ngoài đồng cho đến tối ngày thứ ba. 6. Nếu cha của anh thấy tôi vắng mặt thì hãy tâu với người rằng: Đa-vít đã nài xin con cho nó về Bết-lê-hem, quê hương của nó, bởi vì cả gia tộc dâng sinh tế hằng năm tại đó. 7. Nếu người trả lời: “Tốt!” thì đầy tớ anh sẽ được bình an. Còn nếu người nổi giận, thì hãy biết rằng người cố ý hại tôi. 8. Vì vậy, xin anh hãy bày tỏ lòng nhân từ đối với đầy tớ của anh, bởi vì anh đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà kết ước với đầy tớ của anh. Nếu tôi có tội gì, xin chính anh hãy giết tôi. Có lẽ nào anh lại đưa tôi đến với cha của anh?”
  6. Giô-na-than nói: “Đó là chuyện xa vời. Bởi vì nếu tôi biết cha tôi có ý định xấu để hại anh, lẽ nào tôi không nói cho anh biết hay sao?”
  7. Đa-vít hỏi Giô-na-than: “Nếu cha anh trả lời anh cách giận dữ thì ai sẽ báo cho tôi biết?”
  8. Giô-na-than nói với Đa-vít: “Hãy đi! Chúng ta hãy ra ngoài đồng.” Vì vậy hai người đi ra ngoài đồng. 12. Sau đó, Giô-na-than nói với Đa-vít: “Xin Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, làm chứng! Ngày mai hay là ngày thứ ba, vào giờ nầy, tôi sẽ dọ ý cha của tôi. Đa-vít! Nếu thấy có điều gì tốt, thì tôi không sai người nào đến cho anh biết. 13. Nhưng nếu cha tôi quyết lòng hại anh thì tôi sẽ cho anh hay, để anh tránh đi, và anh sẽ đi bình an. Nếu không, nguyện Đức Giê-hô-va phạt Giô-na-than cách nặng nề! Cầu xin Đức Giê-hô-va ở với anh, như Ngài đã ở với cha của tôi. 14. Nếu tôi còn sống, xin anh lấy sự nhân từ của Đức Giê-hô-va mà đối đãi với tôi. Còn nếu tôi chết, 15. xin anh cũng đừng bao giờ cất bỏ ơn thương xót khỏi gia đình của tôi cho đến đời đời. Đừng làm như vậy ngay cả khi Đức Giê-hô-va tận diệt tất cả những kẻ thù của Đa-vít khỏi mặt đất.”
  9. Như vậy, Giô-na-than đã kết ước với nhà của Đa-vít rằng: “Nguyện Đức Giê-hô-va sẽ đòi lại từ tay của những kẻ thù của Đa-vít.” 17. Giô-na-than bắt Ða-vít thề một lần nữa, bởi vì ông rất thương chàng. Ông thương chàng như thương chính mạng sống của mình.
  10. Sau đó Giô-na-than nói với Ða-vít: “Ngày mai là ngày trăng mới, anh sẽ vắng mặt. Ghế của anh sẽ trống. 19. Sau khi ở đó ba ngày, anh hãy mau mau đi xuống, đến mà chỗ anh đã ẩn hôm trước, lúc chuyện đã xảy ra, rồi anh sẽ đợi bên tảng đá Ê-xe. 20. Tôi sẽ bắn ba mũi tên về phía tảng đá đó như bắn vào một cái bia. 21. Rồi tôi sẽ sai một thiếu niên và bảo rằng: ‘Hãy đi, kiếm mấy mũi tên đem về đây.’ Nếu tôi bảo nó: ‘Kìa, mấy mũi tên đó ở bên nầy của ngươi, hãy lượm lên.’ Lúc đó anh hãy đến, bởi vì thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, mọi việc đều bình an cho anh, không có gì đáng sợ cả. 22. Nhưng nếu tôi nói với đứa thiếu niên: ‘Kìa, các mũi tên ở xa hơn mầy.’ Lúc đó, anh hãy đi theo đường của anh, bởi vì Đức Giê-hô-va đã gởi anh đi. 23. Còn về lời chúng ta đã hứa với nhau, nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa anh và tôi cho đến đời đời.”
  11. Vì vậy Ða-vít đã đi trốn ngoài đồng. Đến ngày trăng mới, vua ngồi xuống dự tiệc. 25. Vua ngồi vào chỗ của mình, như những lần trước, chỗ ngồi bên cạnh tường. Giô-na-than ngồi đối diện, Áp-ne ngồi bên cạnh Sau-lơ, nhưng chỗ của Đa-vít thì bỏ trống. 26. Nhưng hôm đó Sau-lơ không nói gì, bởi vì ông nghĩ: “Chắc có chuyện gì đã xảy ra cho nó. Chắc nó không được tinh sạch. Có lẽ nó chưa được thanh tẩy.” 27. Nhưng qua ngày hôm sau, tức ngày thứ hai trong tháng, ghế của Ða-vít cũng còn trống. Sau-lơ hỏi Giô-na-than, con trai của ông: “Tại sao con trai của Giê-se, cả hôm qua lẫn hôm nay, không đến ăn?” 28. Giô-na-than thưa với Sau-lơ: “Đa-vít đã nài xin con cho anh ấy về Bết-lê-hem. 29. Anh ấy nói: ‘Xin cho phép tôi đi, bởi vì gia tộc của chúng tôi có một buổi dâng sinh tế trong thành mà anh tôi đã dặn tôi phải về. Vì vậy bây giờ, nếu tôi được ơn trước mặt anh, xin cho phép tôi đi đến đó để thăm các anh của tôi. Vì vậy, Đa-vít không đến ngồi cùng bàn với đức vua.’”
  12. Sau-lơ nổi giận với Giô-na-than, ông nói: “Mầy là đứa con gian tà và phản bội! Ta không biết mầy đã kết bạn với con trai của Gie-sê, để làm hổ nhục cho mầy, và hổ nhục cho người mẹ đã sinh ra mầy hay sao? 31. Hễ con trai của Gie-sê còn sống bao lâu trên mặt đất thì mầy và vương quốc mầy sẽ không vững bền. Vì vậy bây giờ, hãy sai người đi tìm nó, dẫn nó về cho ta, bởi vì nó phải chết.”
  13. Giô-na-than nói với Sau-lơ, cha của chàng: “Tại sao phải giết nó? Nó đã làm điều gì sai?” 33. Sau-lơ phóng cây giáo để đâm chàng. Khi đó chàng biết rằng cha của mình đã quyết tâm giết Đa-vít. 34. Giô-na-than nổi giận, đứng dậy rời khỏi bàn tiệc. Chàng không ăn gì hết trong ngày thứ hai của tháng. Chàng buồn về việc Đa-vít, và bởi vì cha của chàng đã sỉ nhục chàng.
  14. Sáng hôm sau, Giô-na-than đi ra ngoài đồng đến chỗ đã hẹn với Đa-vít. Có một thiếu niên đi theo chàng. 36. Chàng nói với nó: “Hãy chạy để nhặt những mũi tên mà ta sẽ bắn.” Cậu bé chạy đi, Giô-na-than bắn một mũi tên vượt qua nó. 37. Khi cậu bé chạy đến nơi có mũi tên mà Giô-na-than đã bắn, thì Giô-na-than la lên: “Mũi tên không phải ở phía trước của mầy hay sao?” 38. Giô-na-than kêu theo cậu bé: “Hãy chạy nhanh lên. Đừng dừng lại.” Cậu bé của Giô-na-than đã nhặt những mũi tên, rồi trở lại với chủ mình; 39. tuy nhiên cậu bé không biết gì cả, chỉ có Đa-vít và Giô-na-than hiểu việc gì. 40. Giô-na-than đưa cung tên cho cậu bé, rồi bảo nó: “Hãy đi, đem vào thành.”
  15. Khi cậu bé đã đi khỏi, Ða-vít đứng dậy đi về phía nam. Chàng sấp mặt xuống đất, rồi cúi xuống ba lần. Họ hôn nhau và khóc với nhau, nhưng Ða-vít khóc nhiều hơn. 42. Giô-na-than nói với Đa-vít: “Anh hãy đi bình an! Chúng ta đã nhân danh Đức Giê-hô-va lập lời thề với nhau rằng: ‘Đức Giê-hô-va sẽ làm chứng giữa tôi và anh, giữa dòng dõi tôi và dòng dõi anh đến đời đời.’” Ða-vít đứng dậy ra đi, còn Giô-na-than thì trở vào trong thành.

 

21

  1. Ða-vít đến Nóp gặp Tư tế A-hi-mê-léc. A-hi-mê-léc lo sợ khi gặp Ða-vít. Người hỏi: “Tại sao ông đi một mình mà không ai đi với ông?” 2. Đa-vít trả lời Tư tế A-hi-mê-léc: “Vua có sai tôi một công việc và dặn rằng: ‘Đừng cho ai biết gì về việc ta sai ngươi làm, và cũng đừng cho ai biết lệnh ta đã truyền cho ngươi.’ Tôi đã hẹn với các thuộc hạ ở nơi khác. 3. Bây giờ, trong tay ông có gì? Ông có thể cho tôi năm ổ bánh hay là thức gì mà ông có thể tìm được hay không?” 4. Tư tế trả lời Ða-vít, ông nói: “Tôi không có bánh thường, nhưng chỉ có bánh thánh, miễn là các thuộc hạ của ông không gần gũi với phụ nữ.” 5. Đa-vít trả lời tư tế, chàng nói với ông: “Thật vậy, từ lúc tôi ra đi đã ba ngày, chúng tôi không gần gũi với phụ nữ. Các thuộc hạ của tôi giữ thân thể thanh sạch ngay cả trong công tác thông thường. Vâng, thân thể của họ vẫn còn thanh sạch cho đến hôm nay.” 6. Vì vậy, tư tế đã trao cho chàng bánh thánh, bởi vì không có bánh nào khác ngoài bánh trưng bày đã được dâng trước mặt Đức Giê-hô-va, mà chúng được lấy đi để thay vào bằng bánh nóng mỗi ngày.
  2. Hôm đó, có một đầy tớ của Sau-lơ ở tại đó. Hắn là người đang bị giữ lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Tên của hắn là Đô-e, người Ê-đôm. Hắn là người đứng đầu những người chăn bầy của Sau-lơ.
  3. Sau đó Đa-vít hỏi A-hi-mê-léc: “Ở đây ông có một cây giáo hay có một thanh gươm nào không? Tôi đã không đem theo gươm hay là vũ khí gì, vì lệnh của vua quá khẩn cấp!” 9. Tư tế đáp: “Có thanh gươm của Gô-li-át, người Phi-li-tin, mà ông đã giết tại thung lũng Ê-la. Nó được bọc trong một miếng vải, để phía sau của ê-phót. Nếu ông muốn, thì hãy lấy đi, bởi vì ở đây không có thứ nào khác.” Đa-vít nói: “Không có gươm nào bằng! Hãy đưa đó cho tôi.”
  4. Trong ngày đó, Đa-vít đã ra đi và trốn khỏi Sau-lơ. Ông đến gặp A-kích, vua của Gát. 11. Triều thần của A-kích hỏi: “Người nầy không phải là Đa-vít, vua của xứ đó hay sao? Không phải người ta đã hát mừng người nầy trong lúc nhảy múa rằng: Sau-lơ giết hàng ngàn, còn Đa-vít giết hàng vạn, hay sao?”
  5. Đa-vít để tâm vào những lời đó, rất sợ A-kích, vua của Gát. 13. Chàng thay đổi cách cư xử, giả bộ điên dại trong tay họ, chàng vẽ nguệch ngoạc trên cửa, và để nước miếng chảy xuống râu. 14. A-kích nói với các triều thần: “Các ngươi có thấy tên này điên rồi hay không? Tại sao lại dẫn nó về đây cho ta? 15. Ta có cần một người điên đâu mà các ngươi dẫn tên nầy đến, để nó bày trò điên khùng trước mặt ta? Làm thế nào một kẻ như vậy ở trong cung của ta được?”

 

22

  1. Ða-vít đã rời khỏi đó, đến trốn tại một cái hang ở A-đu-lam. Khi các anh của chàng và tất cả những người trong gia đình của chàng nghe điều đó, họ đã xuống nơi đó với chàng. 2. Tất cả những người cùng khốn, nợ nần, và bất mãn đã quy tụ chung quanh chàng, và chàng đã trở thành thủ lãnh của họ. Có khoảng bốn trăm người theo chàng.
  2. Từ nơi đó, Đa-vít đã đi đến Mích-ba thuộc Mô-áp, chàng nói với vua của Mô-áp: “Tôi xin ngài cho phép cha mẹ của tôi đến ở gần với quý vị cho đến khi tôi biết được điều Đức Chúa Trời sẽ làm cho tôi.” 4. Sau đó, chàng đã dẫn cha mẹ của mình đến trình diện trước vua của Mô-áp, và họ đã ở lại với người suốt thời gian Đa-vít trấn đóng tại đó.
  3. Sau đó, Tiên tri Gát nói với Ða-vít: “Đừng cư ngụ và trú đóng tại đây, nhưng hãy rời khỏi và vào trong đất Giu-đa.” Vì vậy, Ða-vít đã ra đi, rồi vào trong rừng tại Hê-rết.
  4. Khi Sau-lơ nghe rằng đã tìm được Đa-vít và những người theo ông – Lúc đó, Sau-lơ đang ngồi dưới gốc cây liễu trên một đồi cao tại Ghi-bê-a, tay cầm cây giáo, còn tất cả tùy tùng đang đứng quanh ông – 7. Sau-lơ đã nói với những tùy tùng đang đứng chầu bên cạnh mình: “Hỡi những người Bên-gia-min, hãy nghe! Có phải con trai của Gie-sê sẽ ban cho các ngươi những đồng ruộng và vườn nho, lập các ngươi làm chỉ huy trưởng ngàn người và trăm người? 8. Tất cả các ngươi đồng mưu chống lại ta, không ai cho ta biết rằng con trai của ta đã kết ước với con trai của Gie-sê. Không ai trong các ngươi thương xót ta cho ta biết rằng con trai của ta đã xúi giục kẻ đầy tớ ta chống lại ta, và nằm chờ cơ hội như ngày hôm nay.”
  5. Sau đó, Đô-e, người Ê-đôm, là người được lập làm lãnh đạo những người phục vụ Sau-lơ, đã nói: “Tôi thấy con trai của Giê-se đến Nóp, vào nhà của A-hi-mê-léc, con trai của A-hi-túp. 10. Ông ấy đã cầu hỏi Đức Giê-hô-va cho hắn, cung cấp thực phẩm cho hắn, rồi trao cho hắn thanh gươm của Gô-li-át, người Phi-li-tin.”
  6. Vua truyền triệu tập Tư tế A-hi-mê-léc, con trai của A-hi-túp, mọi người trong dòng họ cha của ông, cùng tất cả những tư tế tại Nóp – và rồi tất cả những người đó đã đến gặp vua. 12. Sau-lơ nói: “Hỡi con trai của A-hi-túp, hãy nghe!” Ông đáp: “Tâu chúa thượng! Có tôi đây.” 13. Sau-lơ nói: “Tại sao ngươi đồng mưu với con trai của Gie-sê chống lại ta? Ngươi đã cấp bánh và gươm cho nó, cầu hỏi Đức Chúa Trời cho nó, để nó nổi lên chống lại ta, và nằm chờ cơ hội như ngày hôm nay?” 14. A-hi-mê-léc trả lời vua và nói: “Trong cả triều thần của ngài, có ai là người trung thành như Đa-vít, là phò mã, thực thi mạng lệnh của ngài, và được trọng vọng trong cả triều đình? 15. Tôi có bắt đầu cầu hỏi Đức Chúa Trời cho người không? Không hề như vậy! Xin bệ hạ đừng quy tội cho đầy tớ của bệ hạ hoặc cho người nào trong dòng họ cha của tôi về bất cứ điều gì, bởi vì đầy tớ bệ hạ không hề biết gì, hoặc ít hay nhiều, về điều đó.”
  7. Nhưng vua đáp: “A-hi-mê-léc! Ngươi và toàn thể dòng họ cha của ngươi phải chết.” 17. Vua truyền cho các cận vệ đứng bên mình: “Hãy lại gần để giết các tư tế của Đức Giê-hô-va, bởi vì chúng đã tiếp tay với Đa-vít, biết nó trốn mà không cho ta hay.” Nhưng các cận vệ của vua không muốn tra tay giết các tư tế của Đức Giê-hô-va. 18. Vì vậy, vua truyền cho Ðô-ê: “Hãy quay lại giết các tư tế.” Vì vậy Ðô-ê, người Ê-đôm, đã quay lại giết các tư tế. Ngày hôm đó hắn đã giết tám mươi lăm người đang mặc ê-phót bằng vải gai. 19. Sau đó, hắn cũng dùng gươm giết dân thành Nóp, là thành của các tư tế. Đàn ông và đàn bà, trẻ con và trẻ đang bú, cả bò, lừa, và chiên, đều bị giết bằng gươm.
  8. Một con trai của A-hi-mê-léc, cháu của A-hi-túp, tên là A-bi-a-tha, đã trốn được, chạy đến với Ða-vít. 21. A-bia-tha thuật lại cho Đa-vít việc Sau-lơ đã giết các tư tế của Đức Giê-hô-va. 22. Đa-vít nói với A-bia-tha: “Tôi biết Đô-e, người Ê-đôm, có mặt tại đó trong ngày hôm ấy. Chắc chắn hắn đã báo cho Sau-lơ. Chính tôi là nguyên nhân gây ra cái chết cả nhà cha của anh. 23. Hãy ở lại với tôi. Đừng sợ, bởi vì ai tìm hại mạng sống anh là tìm hại mạng sống tôi. Ở bên tôi, anh sẽ được bảo vệ.”

 

23

  1. Người ta báo tin cho Đa-vít rằng: “Kìa, người Phi-li-tin đang đánh Kê-i-la. Họ đã chiếm các sân đập lúa.”
  2. Đa-vít đã cầu hỏi Đức Giê-hô-va: “Con có nên đi đánh những người Phi-li-tin nầy không?” Đức Giê-hô-va phán cùng Đa-vít: “Hãy đi đánh người Phi-li-tin và giải cứu Kê-i-la.” 3. Tuy nhiên, những người theo Đa-vít nói: “Hãy xem! Ngay tại đây ở trong đất Giu-đa mà chúng ta còn lo sợ, huống chi đến Kê-i-la để đánh quân Phi-li-tin!”
  3. Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va một lần nữa. Đức Giê-hô-va trả lời ông rằng: “Hãy trỗi dậy, đi xuống Kê-i-la. Ta sẽ phó người Phi-li-tin vào tay của ngươi.” 5. Vì vậy, Đa-vít cùng với những người theo ông đã đến Kê-i-la. Họ đánh người Phi-li-tin, lấy súc vật của chúng. Đa-vít giết rất nhiều người Phi-li-tin và giải cứu dân Kê-i-la.
  4. Khi con trai của A-hi-mê-léc là A-bia-tha trốn đến với Đa-vít, ông có đem theo một cái ê-phót, và cùng Đa-vít đến Kê-i-la.
  5. Người ta báo cho Sau-lơ hay rằng Đa-vít đã vào trong Kê-i-la. Sau-lơ nói: “Đức Chúa Trời đã phó nó vào tay ta, vì nó đã tự giam mình khi vào trong một thành có cửa đóng then cài.” 8. Sau-lơ đã triệu tập toàn quân ra trận để kéo xuống Kê-i-la, bao vây Đa-vít và những người theo ông. 9. Khi Ða-vít biết Sau-lơ lập mưu chống mình, ông nói với Tư tế A-bi-a-tha: “Xin hãy đem ê-phót đến đây.” 10. Sau đó Đa-vít khẩn cầu: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Đầy tớ của Ngài đã nghe rằng vì cớ con mà Sau-lơ định đến Kê-i-la để phá hủy thành nầy. 11. Dân Kê-i-la có nộp con vào tay của Sau-lơ hay không? Sau-lơ sẽ đi xuống đúng như lời đầy tớ Ngài đã nghe hay không? Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Con cầu xin Ngài hãy trả lời cho đầy tớ của Ngài.” Đức Giê-hô-va phán: “Sau-lơ sẽ đi xuống.” 12. Đa-vít hỏi: “Dân Kê-i-la có nộp con và những người theo con vào tay của Sau-lơ hay không?” Đức Giê-hô-va phán: “Chúng sẽ nộp các ngươi.” 13. Vì vậy, Đa-vít và những người theo mình, khoảng sáu trăm người, liền trỗi dậy ra khỏi Kê-i-la, rồi đi từ nơi nầy đến nơi khác. Khi Sau-lơ được báo rằng Đa-vít đã thoát ra khỏi Kê-i-la, ông đã từ bỏ và không kéo quân đến. 14. Đa-vít trú tại những nơi hiểm trở trong hoang mạc thuộc vùng đồi núi của hoang mạc Xíp. Sau-lơ săn đuổi ông hằng ngày, nhưng Đức Chúa Trời không phó ông vào tay của Sau-lơ.
  6. Đa-vít thấy Sau-lơ đã kéo quân ra để săn đuổi mạng sống của mình thì ở lại trong rừng thuộc hoang mạc Xíp. 16. Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, đã vào trong rừng để gặp Đa-vít, khích lệ Đa-vít tin cậy Đức Chúa Trời. 17. Ông nói: “Đừng sợ, vì tay của cha tôi là Sau-lơ sẽ không đụng đến anh. Anh sẽ làm vua của Y-sơ-ra-ên và tôi sẽ kế cận anh. Sau-lơ, cha của tôi, cũng biết rõ như vậy.” 18. Họ đã lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va. Rồi Đa-vít ở lại trong rừng, còn Giô-na-than trở về nhà của mình.
  7. Sau đó, người Xíp đến Ghi-bê-a gặp Sau-lơ và nói rằng: “Không phải Đa-vít đang trốn ở giữa chúng tôi tại những vùng hiểm trở trong rừng trên đồi Ha-ki-la, về phía nam của Giê-si-môn hay sao? 20. Vì vậy bây giờ, nếu vua muốn xuống vùng đất của chúng tôi, xin vua cứ xuống. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ nộp hắn vào trong tay của vua.”
  8. Sau-lơ nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho các ngươi, bởi vì các ngươi có lòng thương xót ta. 22. Hãy đi tìm biết chính xác nơi nào nó ẩn trốn, có ai thấy nó ở đó không, bởi vì người ta nói với ta rằng hắn rất quỷ quyệt. 23. Vì vậy, các ngươi hãy tìm tất cả những nơi nào nó có thể ẩn núp, rồi trở về cho ta biết thật chắc chắn để ta cùng đi với các ngươi. Nếu nó còn ở trong xứ, ta sẽ cho lùng cả ngàn chỗ khắp cả Giu-đa để tìm kiếm nó.”
  9. Họ liền lên đường trở về Xíp trước Sau-lơ. Đa-vít và các thuộc hạ của ông ở trong hoang mạc Ma-ôn tại đồng bằng phía nam của Giê-si-môn. 25. Sau-lơ và các thuộc hạ đi lùng bắt Đa-vít. Người ta báo cho Đa-vít, cho nên ông đã đi xuống vào vùng núi đá, rồi ở trong hoang mạc Ma-ôn. Khi Sau-lơ nghe điều đó, ông đã đuổi theo Đa-vít trong hoang mạc Ma-ôn. 26. Sau-lơ đi trên sườn núi bên nầy, còn Đa-vít và những thuộc hạ đi trên sườn núi bên kia. Đa-vít vội vàng chạy trốn vì sợ Sau-lơ, bởi vì Sau-lơ và các thuộc hạ đang bao vây để bắt Đa-vít và những người theo ông. 27. Tuy nhiên, có một sứ giả đến báo cho Sau-lơ: “Xin ngài về gấp, bởi vì người Phi-li-tin đang xâm lấn xứ sở.” 28. Sau-lơ đã ngưng truy đuổi Đa-vít, để trở về đánh người Phi-li-tin. Vì vậy, người ta gọi chỗ nầy là Vầng Đá Phân Rẽ. 29. Ða-vít đã rời khỏi nơi đó, đến trú đóng tại những nơi hiểm trở trong vùng Ên-ghê-đi.

 

24

  1. Sau khi đã đánh đuổi người Phi-li-tin trở về, Sau-lơ được người ta báo tin: “Kìa, Đa-vít đang ở trong hoang mạc Ên-ghê-đi.” 3. Sau-lơ đem ba ngàn quân tuyển chọn trong toàn Y-sơ-ra-ên để tìm bắt Đa-vít và những thuộc hạ trên dãy núi đá Dê Rừng. 3. Ông đến một nơi có các ràn chiên bên đường. Tại đó có một hang đá, Sau-lơ đã đi vào đó để giải quyết chuyện cần.

Trong khi đó, Ða-vít và những người theo ông đang ẩn trốn sâu bên trong hang. 4. Những người của Ða-vít nói với ông: “Ðây là ngày Đức Giê-hô-va đã phán với ông: Nầy, Ta sẽ trao kẻ thù của ngươi vào tay của ngươi, để ngươi muốn làm gì với nó tùy ý.”

Ða-vít đã đứng dậy, lén cắt một góc áo choàng của Sau-lơ. 5. Nhưng sau đó, Ða-vít cảm thấy áy náy trong lòng, bởi vì đã cắt đứt góc áo của Sau-lơ. 6. Ông nói với các thuộc hạ của mình: “Cầu xin Đức Giê-hô-va đừng để tôi làm điều nầy đối với chúa thượng của tôi, là người được Đức Giê-hô-va xức dầu, mà giơ tay ra làm hại người, bởi vì người đã được Đức Giê-hô-va xức dầu.” 7. Đa-vít đã dùng những lời đó ngăn chặn những thuộc hạ của mình, không cho họ xông vào tấn ông Sau-lơ. Sau đó, Sau-lơ đã ra khỏi hang rồi tiếp tục lên đường.

  1. Đa-vít cũng đứng dậy ra khỏi hang đá, gọi theo vua Sau-lơ: “Tâu vua, là chúa thượng của con!” Vua Sau-lơ nhìn lại phía sau, thì Đa-vít cúi sấp mặt xuống đất mà lạy.
  2. Đa-vít nói với Sau-lơ: “Tại sao cha nghe lời người ta đồn rằng con muốn hại cha? 10. Hãy xem hôm nay chính mắt cha đã thấy thế nào Đức Giê-hô-va đã phó cha vào tay của con, và người ta đã giục con giết cha, nhưng con đã giữ sinh mạng của cha. Con đã nói: ‘Tôi sẽ không giang tay ra chống lại chúa thượng của tôi, bởi vì người đã được Đức Giê-hô-va xức dầu.’ 11. Hơn nữa, thưa cha, xin cha hãy nhìn và xem. Nầy, một góc áo choàng của cha đang ở trong tay của con. Con đã cắt đứt một góc áo choàng của cha, nhưng con không giết cha, để cha nhìn thấy và biết rằng tay của con không làm điều ác và cũng không phản loạn. Con không có tội chống lại cha, nhưng cha cứ mãi săn đuổi mạng sống của con. 12. Đức Giê-hô-va phân xử giữa con và cha. Đức Giê-hô-va báo thù cho con về cha, nhưng chính tay của con sẽ không đụng đến cha. 13. Như tục ngữ của người xưa đã nói: ‘Hành động gian ác xuất phát từ kẻ ác.’ Nhưng tay của con sẽ không đụng đến cha. 14. Vua của Y-sơ-ra-ên truy tìm ai? Cha truy lùng ai? Một con chó chết! Một con bọ chét! 15. Đức Giê-hô-va là Đấng Công Chính. Ngài phân xử giữa con và cha. Ngài thấy duyên cớ của con và đã giải cứu con khỏi tay của cha.”
  3. Sau khi Ða-vít nói những lời nầy với Sau-lơ, Sau-lơ nói rằng: “Có phải đó là tiếng nói của con không? Ða-vít! Con của ta.” Rồi Sau-lơ cất tiếng lên khóc. 18. Ông nói với Đa-vít: “Con thật công chính hơn cha, bởi vì con đã đối xử tốt với cha, trong khi cha đối xử xấu với con. 18. Ngày nay, con đã cho cha thấy rằng con đã đối xử với cha tốt như thế nào. Đức Giê-hô-va đã trao cha vào tay của con mà con đã không giết cha. 20. Bởi vì có người nào bắt được kẻ thù của mình mà lại để cho hắn đi bình an? Nguyện Đức Giê-hô-va lấy điều thiện báo cho con về điều con đã làm cho cha ngày hôm nay. 21. Bây giờ, cha biết rằng chắc chắn con sẽ làm vua, và vương quốc Y-sơ-ra-ên sẽ vững bền trong tay của con. 22. Hãy nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề cùng cha rằng con sẽ không tiêu diệt dòng dõi của cha, và cũng không hủy diệt danh của cha khỏi nhà tổ phụ của cha.”
  4. Đa-vít đã thề cùng Sau-lơ. Sau đó Sau-lơ đã trở về nhà, còn Đa-vít và các thuộc hạ đi trở lên những đồn lũy.

 

25

  1. Sau đó, Sa-mu-ên qua đời. Toàn dân Y-sơ-ra-ên đã họp lại để than khóc ông. Họ đã an táng ông tại quê nhà của ông ở Ra-ma. Sau đó, Đa-vít đã đứng lên đi xuống hoang mạc Pha-ran.
  2. Lúc đó, có một người sống tại Ma-ôn, nhưng sản nghiệp thì ở Cạt-mên, người nầy rất giàu có. Ông có ba ngàn chiên và một ngàn dê. Ông đang hớt lông chiên của mình tại Cạt-mên. 3. Ông ta tên là Na-banh, vợ của ông tên là A-bi-ga-in. Người vợ thì hiểu biết khôn ngoan, diện mạo xinh đẹp, còn ông thì cứng cỏi hung ác, thuộc dòng dõi của Ca-lép.
  3. Từ trong hoang mạc, Đa-vít nghe tin Na-banh đang hớt lông chiên. 5. Ða-vít đã sai mười người trẻ đi, rồi Ða-vít dặn những người trẻ rằng: “Hãy đi lên Cạt-mên, đến gặp Na-banh, nhân danh tôi chào ông ấy. 6. Các ngươi hãy nói như thế nầy: ‘Chúc ông sống lâu! Nguyện ông được bình an! Nguyện gia đình ông được bình an! Nguyện tất cả những gì thuộc về ông được bình an! 7. Tôi có nghe rằng ông có nhiều thợ hớt lông chiên. Trước đây, những người chăn của ông ở gần chúng tôi, chúng tôi không hề quấy nhiễu họ. Trọn thời gian ở tại Cạt-mên, họ không mất mát gì cả. 8. Xin ông hãy hỏi những đầy tớ của ông, họ sẽ nói cho ông biết. Vì vậy, cầu xin những người trẻ nầy được ơn trước mắt ông. Bởi vì chúng tôi sắp đến ngày lễ, xin ông vui lòng cho những người phục vụ ông và cho Ða-vít, con trai của ông, những gì mà ông có sẵn trong tay.’”
  4. Khi những thanh niên của Đa-vít đến gặp Na-banh, nhân danh Đa-vít nói tất cả những lời đó vừa xong, 10. thì Na-banh đã trả lời cho những người phục vụ Ða-vít rằng: “Ai là Ða-vít? Ai là con trai của Giê-se? Thời nầy có nhiều đầy tớ đã bỏ chủ của mình để chạy trốn. 11. Ta có nên lấy bánh, nước, và thịt đã chuẩn bị cho những thợ hớt lông chiên của ta để cho những kẻ nầy, là những kẻ mà ta không biết từ đâu đến hay sao?”
  5. Các thanh niên của Đa-vít đã quay lại, trở về. Khi đến nơi, họ đã thuật lại tất cả những lời nầy. 13. Đa-vít nói với những người theo ông: “Mỗi người hãy đeo gươm của mình vào!” Sau đó, mỗi người đều đeo gươm của mình, và Đa-vít cũng đeo gươm của ông. Có khoảng bốn trăm người đã đi lên theo Đa-vít, còn hai trăm người thì ở lại giữ đồ đạc.
  6. Nhưng có một thanh niên trong số những người trẻ tuổi đã đến báo tin cho A-bi-ga-in, vợ của Na-banh: “Đa-vít đã sai những sứ giả từ hoang mạc đến chào chủ của chúng ta, nhưng ông ấy đã mắng nhiếc họ. 15. Những người nầy rất tốt với chúng tôi. Họ đã không làm hại chúng tôi. Trong suốt thời gian ở ngoài đồng với họ, lúc chúng tôi theo họ, chúng tôi không bị mất vật gì cả. 16. Trong suốt thời gian chúng tôi ở với họ để giữ chiên, họ giống như một bức tường che chở chúng tôi cả ngày và đêm. 17. Vì vậy bây giờ, xin bà suy nghĩ cần phải làm gì, bởi vì tai họa sẽ giáng trên chủ của chúng ta và trên cả nhà của người. Người hung dữ quá, nên ai nói với người được.”
  7. A-bi-ga-in vội vàng lấy hai trăm ổ bánh, hai bầu rượu nho, năm con chiên đực đã làm thịt, năm đấu hạt rang, một trăm bánh nho khô, và hai trăm bánh trái vả, chất trên lưng những con lừa. 19. Bà nói với những đầy tớ của mình: “Các ngươi hãy đi trước. Ta sẽ theo sau các ngươi.” Nhưng bà không nói gì cả với Na-banh, chồng của mình.
  8. Sau đó, khi bà cưỡi lừa đi xuống theo một con đường khuất sau ngọn núi, thì kìa, Đa-vít và những người theo ông cũng đang đi xuống về phía bà, và bà đã gặp họ. 21. Đa-vít đã nói: “Thật uổng công cho ta đã bảo vệ tất cả những gì của người nầy trong hoang mạc, đến đỗi không mất mất gì cả. Nhưng hắn đã lấy oán trả ơn cho ta. 22. Nguyện Đức Chúa Trời phạt kẻ thù của Đa-vít thật nặng nề! Ta sẽ không để bất cứ người nam nào trong nhà của hắn sống sót cho đến sáng mai.”
  9. Vừa khi A-bi-ga-in nhìn thấy Ða-vít, bà đã vội vàng xuống khỏi lừa, sấp mình dưới đất, cúi mặt của mình trước Ða-vít. 24. Bà quỳ xuống nơi chân của ông, rồi nói: “Lạy chúa! Lỗi tại tôi, tại tôi! Xin cho phép tớ gái của ngài được trình bày. Xin tai của ngài hãy nghe lời của tớ gái ngài. 25. Xin chúa tôi đừng để ý đến con người hung ác kia là Na-banh. Tên của hắn như thế nào thì hắn cũng như vậy. Tên của hắn là Na-banh nên sự điên dại ở trong hắn. Nhưng tôi, là tớ gái của ngài, đã không gặp những người trẻ của ngài mà ngài đã sai đến.
  10. Vì vậy bây giờ, thật như Đức Giê-hô-va hằng sống và như ngài đang sống, xin chúa của tôi hãy nhìn thấy rằng Đức Giê-hô-va đã ngăn ngài khỏi chuyện làm đổ máu, vì phải dùng chính tay của mình để báo thù cho mình. Bây giờ, nguyện những kẻ thù của ngài, và những kẻ tìm hại chúa của tôi, sẽ như Na-banh. 27. Đây là món quà mà tớ gái của ngài đem đến cho chúa của tôi. Xin hãy ban cho những người trẻ theo chúa của tôi. 28. Xin tha thứ tội lỗi cho tớ gái của ngài, bởi vì Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ lập cho chúa của tôi một nhà vững bền, bởi vì chúa của tôi đã đánh trận cho Đức Giê-hô-va, và trọn đời của ngài sẽ không tìm thấy một điều xấu xa nào. 29. Nếu có ai nổi lên săn đuổi và tìm hại mạng sống của ngài, thì Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ngài, sẽ bảo bọc mạng sống của ngài; còn mạng sống những kẻ thù của ngài thì Đức Giê-hô-va sẽ ném chúng ra như ném khỏi ná. 30. Khi Đức Giê-hô-va đã làm cho chúa của tôi tất cả những điều tốt lành mà Ngài đã hứa và lập người làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên, 31. thì ngài sẽ không phải hối tiếc về chuyện nầy và lương tâm chúa của tôi sẽ không bị cắn rứt, bởi vì đã làm đổ máu vô cớ, và chúa của tôi phải tự báo thù cho chính mình. Nhưng, khi Đức Giê-hô-va đã làm ơn cho chúa tôi, xin hãy nhớ đến tớ gái của ngài.”
  11. Đa-vít nói với A-bi-ga-in: “Tôn ngợi Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì hôm nay Ngài đã sai nàng đến gặp ta. 33. Đáng khen sự suy xét của nàng, và thật phước hạnh cho nàng bởi vì hôm nay nàng đã cản ngăn ta khỏi làm đổ máu, cũng như khỏi việc dùng chính tay của ta để báo thù cho chính mình. 34. Nhưng thật như Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, hằng sống, là Đấng đã ngăn cản ta hại nàng. Nếu như nàng không vội vàng đến gặp ta, thì chắc chắn sáng mai sẽ không một người nam nào trong nhà của Na-banh còn sống.”
  12. Sau đó, Đa-vít nhận từ tay nàng những gì nàng đem đến cho ông, rồi nói với nàng: “Hãy trở về nhà của nàng bình an. Hãy xem, ta đã lắng nghe nàng, và trân quý sự hiện diện của nàng.”
  13. A-bi-ga-in trở về cùng Na-banh nhìn thấy ông đang tổ chức tiệc trong nhà của mình, như yến tiệc của một vị vua. Na-banh vui vẻ trong lòng của mình vì đang say khướt, cho nên nàng không nói cho ông biết điều gì dù lớn hay nhỏ, cho đến khi trời tỏ sáng.
  14. Sáng hôm sau, khi Na-banh đã tỉnh rượu, vợ của ông thuật lại tất cả những điều đó, thì tim ông chết điếng, và cứng đờ người ra như đá. 38. Mười ngày sau, Đức Giê-hô-va đánh Na-banh, và ông đã chết.
  15. Khi Đa-vít nghe rằng Na-banh đã chết, ông nói: “Tôn ngợi Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã bênh vực duyên cớ của con về việc sỉ nhục bởi tay của Na-banh, và đã giữ cho đầy tớ của Ngài khỏi việc ác, bởi vì Đức Giê-hô-va đã khiến sự gian ác của Na-banh đổ lại trên đầu của hắn!”

Sau đó, Đa-vít đã sai người đến cầu hôn A-bi-ga-in để xin nàng làm vợ của ông. 40. Các đầy tớ của Đa-vít đến gặp A-bi-ga-in tại Cạt-mên, rồi thưa với nàng: “Đa-vít sai chúng tôi đến gặp bà để xin cưới bà làm vợ của ông.” 41. Nàng đã đứng dậy, rồi sấp mặt của mình xuống đất, và nói: “Tôi chỉ là tớ gái của người. Kẻ tớ gái nầy sẽ rửa chân cho các đầy tớ của chúa tôi.”

  1. Sau đó, A-bi-ga-in đã vội vàng đứng dậy, cưỡi lừa, cùng với năm nữ tỳ đi theo nàng, rồi nàng đi theo các sứ giả của Đa-vít, để trở thành vợ của ông. 43. Đa-vít cũng đã cưới A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên. Cả hai người đó là vợ của ông.
  2. Sau-lơ đã gả Mi-canh, con gái mình và là vợ của Đa-vít, cho Phanh-ti, con trai của La-ít, người Ga-lim.

 

26

  1. Người Xíp đến gặp Sau-lơ tại Ghi-bê-a, và nói rằng: “Không phải Đa-vít đang trốn trên đồi Ha-ki-la, đối diện Giê-si-môn hay sao?”
  2. Sau-lơ đã đứng dậy, cùng với ba ngàn quân tuyển chọn của Y-sơ-ra-ên, đi xuống hoang mạc Xíp để truy tìm Đa-vít trong hoang mạc Xíp. 3. Sau-lơ đóng trại bên đường, trên đồi Ha-ki-la, đối diện hoang mạc; còn Đa-vít thì ở trong hoang mạc.

Khi thấy Sau-lơ đuổi theo mình trong hoang mạc, 4. Đa-vít đã sai người đi do thám, và biết chắc rằng Sau-lơ đã đến. 5. Đa-vít đã đứng lên đến tận nơi Sau-lơ đóng trại. Ða-vít nhìn thấy chỗ Sau-lơ nằm, cùng với Áp-ne, con trai của Nê-rơ, là tư lệnh quân đội của vua. Sau-lơ nằm trong trại, còn những người khác đóng trại chung quanh ông.

  1. Sau đó, Đa-vít hỏi A-hi-mê-léc, người Hê-tít, và A-bi-sai, con trai của Xê-ru-gia, em trai của Giô-áp rằng: “Ai sẽ đi với ta xuống trại quân để gặp Sau-lơ?” A-bi-sai đáp: “Tôi sẽ đi xuống với ông.” 7. Vì vậy, Đa-vít và A-bi-sai đã lẻn vào trại quân lúc ban đêm, họ thấy Sau-lơ đang ngủ trong trại, cây giáo của ông cắm xuống đất chỗ ông gối đầu. Áp-ne và quân lính nằm chung quanh ông. 8. A-bi-sai nói với Đa-vít: “Hôm nay, Đức Chúa Trời đã trao kẻ thù của ông vào tay ông. Xin ông cho phép tôi lấy giáo đâm chỉ một nhát là ghim ông ta xuống đất. Tôi không cần phải đâm lại lần thứ hai.” 9. Nhưng Đa-vít nói với A-bi-sai: “Đừng giết ông ấy! Bởi vì có ai tra tay trên người được xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị trừng phạt?” 10. Đa-vít nói thêm: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống! Đức Giê-hô-va sẽ đánh phạt ông ấy, hoặc đến ngày ông ấy phải chết, hoặc ông ấy sẽ ngã gục lúc lâm trận và chết. 11. Nguyện Đức Giê-hô-va giữ ta khỏi tra tay vào người được xức dầu của Ngài! Ngươi hãy lấy cây giáo nơi gối đầu và bình nước, rồi chúng ta đi.” 12. Vì vậy Ða-vít đã lấy cây giáo và bình nước tại nơi gối đầu của Sau-lơ, rồi hai người thoát ra mà không ai thấy, hoặc hay biết, hoặc thức dậy cả, vì tất cả họ đều ngủ say, và bởi vì Đức Giê-hô-va đã giáng một cơn ngủ say trên họ.
  2. Sau khi Ða-vít đã đi qua phía bên kia, đứng trên đỉnh của một ngọn đồi khá xa, và có một khoảng cách lớn ở giữa họ. 14. Đa-vít đã gọi thật to cho quân lính và cho Áp-ne, con trai của Nê-rơ, rằng: “Hỡi Áp-ne! Ông không trả lời hay sao?” Áp-ne đáp lại rằng: “Ngươi là ai mà dám gọi vua?” 15. Ða-vít nói với Áp-ne: “Ông không phải là một bậc anh hùng hay sao? Trong Y-sơ-ra-ên có ai như ông? Tại sao ông không bảo vệ đức vua, là chúa thượng của ông? Bởi vì có một người đã đến, định giết đức vua, là chúa thượng của ông. 16. Điều ông đã làm là không tốt. Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, ông đáng chết bởi vì ông đã không canh giữ chúa thượng của ông, là người được xức dầu của Đức Giê-hô-va. Bây giờ, hãy xem cây giáo của vua và bình nước tại chỗ vua gối đầu ở đâu rồi?”
  3. Sau-lơ biết tiếng của Đa-vít, nên hỏi: “Hỡi Đa-vít! Con trai của ta. Có phải đó là tiếng của con hay không?”

Đa-vít thưa: “Tâu đức vua, là chúa thượng của con. Đúng là tiếng của con.” 18. Rồi ông nói: “Tại sao chúa thượng lại truy đuổi tôi tớ của ngài? Con đã làm điều gì sai? Tay của con đã gây nên tội lỗi gì? 19. Vì vậy, bây giờ, xin đức vua là chúa thượng của con hãy nghe lời của tôi tớ ngài. Nếu Đức Giê-hô-va đã giục lòng đức vua chống lại con, nguyện Ngài chấp nhận tế lễ. Nhưng nếu đó là ý của con cái loài người, nguyện chúng bị nguyền rủa trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì hôm nay, người ta đã đuổi con ra khỏi nơi con thừa hưởng sản nghiệp của Đức Giê-hô-va, mà nói rằng: ‘Hãy cút đi! Hãy đi thờ phượng những thần khác.’ 20. Vì vậy, bây giờ, xin đừng để cho máu của con rơi xuống đất trước mặt của Đức Giê-hô-va, bởi vì vua của Y-sơ-ra-ên đã đi ra để tìm một con bọ chét, như người ta săn lùng chim đa đa trên những ngọn núi.”

  1. Sau đó Sau-lơ nói: “Ta có tội. Hỡi Đa-vít! Con của ta, hãy trở về. Ta sẽ không làm hại con nữa, bởi vì hôm nay con đã xem trọng mạng sống của ta. Thật vậy, ta đã hành động điên rồ, đã sai lầm quá lớn.”
  2. Ða-vít trả lời rằng: “Ðây là cây giáo của đức vua. Xin hãy sai một người trẻ qua đây để mang về. 23. Đức Giê-hô-va sẽ ban thưởng cho mỗi người tùy theo sự công chính và lòng trung thành của người ấy. Hôm nay, Đức Giê-hô-va đã trao cha vào tay của con, nhưng con đã không giang tay chống lại người được xức dầu của Đức Giê-hô-va. 24. Hôm nay, con đã xem mạng sống của cha là quý trọng thể nào, nguyện Đức Giê-hô-va cũng sẽ xem mạng sống của con là quý trọng như vậy. Nguyện Ngài sẽ giải cứu con khỏi mọi hoạn nạn.”
  3. Sau-lơ nói với Đa-vít: “Hỡi Đa-vít! Con trai của ta. Nguyện con được phước! Con sẽ làm những việc lớn lao và sẽ thành công.”

Sau đó Đa-vít đã đi theo đường của mình, còn Sau-lơ trở về nơi của ông.

 

27

  1. Lúc đó, Đa-vít nói trong lòng rằng: “Sẽ có ngày ta sẽ bị giết bởi tay của Sau-lơ. Ta nên nhanh chóng trốn sang xứ của người Phi-li-tin không phải là tốt hơn hay sao? Sau-lơ sẽ thất vọng, và sẽ không tìm kiếm ta khắp bờ cõi của Y-sơ-ra-ên nữa. Như vậy ta sẽ thoát khỏi tay của người.”
  2. Sau đó, Ða-vít đã đứng dậy, ông cùng với sáu trăm người theo mình, đến với A-kích, con trai của Ma-óc, vua của Gát. 3. Ða-vít đã ở với A-kích tại Gát. Ða-vít và những người theo ông, mỗi người cùng đi với gia đình của mình. Ða-vít cùng đi với hai người vợ là A-hi-nô-am người Giê-rê-ên, và A-bi-ga-in người Cạt-mên, là vợ góa của Na-banh. 4. Người ta báo cho Sau-lơ hay rằng Ða-vít đã trốn đến Gát, nên vua không truy lùng ông nữa.
  3. Đa-vít nói với A-kích: “Nếu tôi được ơn trước mặt ngài, xin hãy cho tôi một nơi tại một làng thuộc một vùng quê để ở. Đầy tớ của ngài ở trong hoàng thành với ngài sao được?” 6. Vì vậy trong ngày hôm đó, A-kích đã ban Xiếc-lác cho ông. Do đó, Xiếc-lác thuộc về các vua của Giu-đa cho đến ngày hôm nay. 7. Thời gian Đa-vít cư ngụ trong xứ của người Phi-li-tin là một năm bốn tháng.
  4. Đa-vít và các thuộc hạ tiến đánh người Ghê-su-rít, Ghiệt-xít, và A-ma-léc. Đó là những dân tộc từ lâu đã sống trong xứ, trải dài từ Su-rơ cho đến đất Ai Cập. 9. Khi Ða-vít tấn công nơi nào, ông không chừa một người đàn ông hay đàn bà nào sống sót. Ông cướp đi tất cả chiên, bò, lừa, lạc đà, và quần áo, rồi trở về, đến gặp A-kích. 10. A-kích hỏi: “Hôm nay, các ngươi đi đánh nơi nào?” Đa-vít trả lời: “Đánh phá ở miền nam của Giu-đa, miền nam của dân Giê-ra-mê-lít, hay miền nam của dân Kê-nít.” 11. Đa-vít không để một người nam hay nữ nào sống sót để dẫn về Gát. Ông nói: “Đừng để họ báo cáo về chúng ta rằng Đa-vít đã hành động như vậy.” Đa-vít đã làm như vậy suốt thời gian Đa-vít cư ngụ tại vùng quê của Phi-li-tin. 12. A-kích tin Đa-vít. Ông nghĩ rằng: “Hắn tự làm cho mình bị dân tộc của hắn kinh tởm, cho nên hắn sẽ làm đầy tớ của ta mãi mãi.”

 

28

  1. Sau khoảng thời gian đó, người Phi-li-tin tập hợp quân đội của họ để chuẩn bị chiến tranh với người Y-sơ-ra-ên. A-kích nói với Đa-vít: “Ngươi phải biết rằng ngươi và các thuộc hạ của ngươi sẽ đi ra trận với ta.” 2. Đa-vít nói với A-kích: “Vâng! Ngài sẽ thấy điều đầy tớ ngài có thể làm.” A-kích nói với Đa-vít: “Như vậy, ta sẽ đặt ngươi làm vệ sĩ cho ta suốt đời.”
  2. Lúc đó, Sa-mu-ên đã qua đời. Toàn dân Y-sơ-ra-ên đã than khóc và an táng ông tại Ra-ma, là thành của ông. Trong khi đó, Sau-lơ đã trục xuất những người cầu hồn và đồng bóng ra khỏi xứ. 4. Người Phi-li-tin đã tập hợp lại với nhau đến đóng quân tại Su-nem. Sau-lơ cũng tập hợp toàn thể Y-sơ-ra-ên, và họ đóng trại tại Ghinh-bô-a. 5. Khi Sau-lơ thấy quân đội của người Phi-li-tin, ông sợ hãi. Lòng ông quá đỗi khiếp sợ, 6. Sau-lơ đã cầu hỏi Đức Giê-hô-va, nhưng Đức Giê-hô-va không trả lời, dù bằng chiêm bao, u-rim, hay qua các tiên tri.
  3. Sau đó, Sau-lơ đã nói với các tôi tớ của mình rằng: “Hãy kiếm cho ta một người đàn bà biết cầu hồn. Ta sẽ gặp người đó để cầu vấn.” Các tôi tớ nói với ông rằng: “Tại Ên-đô-rơ có một người đàn bà biết cầu hồn.” 8. Sau đó, Sau-lơ đã giả dạng, mặc y phục khác. Ông đã đi với hai người, và họ đã đến nhà của người đàn bà nầy vào ban đêm. Sau-lơ nói: “Xin bà hãy cầu hồn để bói cho tôi. Hãy gọi người mà tôi sẽ nói tên cho bà.” 9. Người đàn bà nói với ông: “Nầy, ông biết rõ những gì Sau-lơ đã làm. Ông ấy đã tiêu diệt những người cầu hồn và đồng bóng trong cả xứ. Tại sao ông lại muốn gài bẫy để hại mạng sống của tôi, và để tôi phải chết?” 10. Sau-lơ đã thề với bà bằng danh của Đức Giê-hô-va: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống! Sẽ không có hình phạt nào xảy đến cho bà về việc nầy!”
  4. Sau đó, người đàn bà hỏi: “Tôi phải gọi ai lên cho ông?” Ông nói: “Hãy gọi Sa-mu-ên cho tôi.” 12. Khi người đàn bà thấy Sa-mu-ên thì la lên một tiếng thật lớn, rồi bà nói với Sau-lơ rằng: “Tại sao ngài lừa tôi? Ngài là Sau-lơ!” 13. Vua nói với bà: “Đừng sợ! Bà đã thấy gì?” Người đàn bà đáp: “Tôi thấy những vị thần từ dưới đất lên.” 14. Ông đã hỏi bà: “Hình dáng như thế nào?” Bà nói: “Có một cụ già đi lên, ông khoác một áo choàng.” Sau-lơ biết đó là Sa-mu-ên, cho nên ông đã sấp mặt xuống đất và lạy.
  5. Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Tại sao ngươi quấy rầy ta, và gọi ta lên?” Sau-lơ trả lời: “Tôi đang ở trong tình cảnh rất nguy khốn bởi vì dân Phi-li-tin đang gây chiến chống lại tôi nhưng Ðức Chúa Trời đã lìa bỏ tôi, không trả lời cho tôi nữa dù qua các tiên tri hay qua giấc mộng. Vì vậy, tôi phải gọi ông để ông có thể nói cho tôi biết tôi cần phải làm gì.” 16. Sa-mu-ên nói: “Tại sao ngươi còn cầu hỏi ta, trong khi Đức Giê-hô-va đã từ bỏ ngươi và trở thành kẻ thù của ngươi? 17. Đức Giê-hô-va đã làm cho ngươi đúng như những gì Ngài đã phán qua ta. Đức Giê-hô-va đã lấy vương quốc khỏi tay ngươi, rồi ban cho một người gần gũi với ngươi, là Đa-vít. 18. Bởi vì ngươi đã không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va và cũng không thực thi cơn thịnh nộ của Ngài trên dân A-ma-léc, cho nên Đức Giê-hô-va đã đối xử với ngươi như vậy trong ngày hôm nay. 19. Hơn thế nữa, Đức Giê-hô-va sẽ trao Y-sơ-ra-ên và ngươi vào tay của người Phi-li-tin. Ngày mai, ngươi và các con trai của ngươi sẽ ở cùng một nơi với ta. Đức Giê-hô-va cũng sẽ trao quân đội Y-sơ-ra-ên vào tay của người Phi-li-tin.”
  6. Sau-lơ liền ngã dài xuống đất vì ông quá sợ những lời của Sa-mu-ên. Ông không còn sức lực gì nữa, bởi vì ông đã không ăn thức ăn gì suốt cả ngày và suốt cả đêm.
  7. Người đàn bà đến bên vua Sau-lơ, thấy ông quá sợ hãi, bà nói với ông: “Đầy tớ của ngài đã vâng lời của ngài. Tôi đã liều mạng sống của mình để vâng theo những lời ngài đã truyền cho tôi. 22. Vì vậy, bây giờ xin ngài hãy lắng nghe tớ gái của ngài. Xin cho tôi dọn cho ngài thức ăn, và xin ngài ăn để có sức mà đi đường.”
  8. Sau-lơ từ chối, nói rằng: “Ta không ăn.” Tuy nhiên, những người hầu cận của ông cũng như người đàn bà nài nỉ quá, cho nên ông đã lắng nghe theo lời của họ. Vua đã trỗi dậy khỏi đất, rồi ngồi lên giường.
  9. Người đàn bà vội vàng bắt một con bê béo tốt tại nhà làm thịt; lấy bột, nhồi, rồi làm bánh không men. 25. Sau đó, bà dọn ra cho Sau-lơ và cho những người hầu cận của ông. Ăn xong, họ đã đứng dậy rồi ra đi ngay trong đêm hôm đó.

 

29

  1. Dân Phi-li-tin tập họp tất cả quân đội của họ tại A-phéc, còn người Y-sơ-ra-ên đóng trại gần một suối nước ở Gít-rê-ên. 2. Các lãnh chúa người Phi-li-tin dẫn hàng trăm, hàng ngàn người đi qua, còn Đa-vít cùng các thuộc hạ của ông thì đi phía sau với A-kích.
  2. Các chỉ huy của người Phi-li-tin hỏi: “Những người Hê-bơ-rơ đó là ai?” A-kích trả lời các chỉ huy của người Phi-li-tin: “Đó là Đa-vít, đầy tớ của Sau-lơ, vua của Y-sơ-ra-ên, đã ở với ta nhiều ngày, nhiều năm. Từ khi hắn đến với ta cho đến bây giờ, ta không thấy hắn có lỗi gì.”
  3. Các chỉ huy của người Phi-li-tin nổi giận với ông. Các chỉ huy của người Phi-li-tin nói với ông rằng: “Hãy bảo hắn trở về, rồi đi đến nơi ngài đã chỉ định cho hắn. Không được cho hắn theo chúng tôi vào trận mạc, kẻo khi xung trận hắn đổi ý rồi trở thành kẻ thù của chúng ta. Bằng cách nào hắn có thể làm hòa lại với chủ của hắn? Nếu không phải là những thủ cấp của chúng ta hay sao? 5. Không phải đây là Đa-vít mà người ta đã nhảy múa và ca hát với nhau rằng: ‘Sau-lơ giết hàng ngàn, còn Đa-vít giết hàng vạn’ hay sao?”
  4. Vì vậy, A-kích đã gọi Ða-vít đến, rồi nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, ngươi là người chính trực. Ngươi đã ra vào chiến trận với ta và tốt đẹp trước mắt của ta. Từ ngày ngươi đến với ta cho đến hôm nay, ta chưa hề thấy ngươi có điều gì không tốt. Tuy nhiên các lãnh chúa không thích ngươi. 7. Vì vậy, bây giờ hãy trở về và đi bình an để khỏi phật lòng các lãnh chúa Phi-li-tin.”
  5. Đa-vít nói với A-kích: “Thưa vua! Tôi có làm gì đâu? Từ khi tôi ở gần ngài cho đến nay, ngài có thấy tôi làm điều gì đáng trách, khiến tôi không được đi đánh quân thù của chúa thượng?”
  6. A-kích nói với Đa-vít: “Ta biết ngươi là người tốt trước mắt ta như một thiên sứ của Đức Chúa Trời. Nhưng các chỉ huy của Phi-li-tin nói: ‘Hắn sẽ không được ra trận với chúng ta.’ 10. Vì vậy, ngươi và các lãnh đạo của những thuộc hạ đã theo ngươi hãy dậy sớm. Ngay sau khi ngươi dậy sớm, lúc trời vừa sáng, thì hãy ra đi.”
  7. Vì vậy, Đa-vít và các thuộc hạ dậy sớm, ra đi vào lúc trời vừa sáng, rồi trở về xứ Phi-li-tin; còn người Phi-li-tin thì tiến lên Gít-rê-ên.

 

30

  1. Ba ngày sau, khi Đa-vít và những người của ông đến Xiếc-lác, thì người A-ma-léc đã xâm lăng vào miền Nam và Xiếc-lác. Chúng đã tấn công, rồi dùng lửa đốt Xiếc-lác. 2. Chúng đã bắt những phụ nữ và mọi người sống tại đó, từ nhỏ cho đến lớn. Chúng đã không giết một ai, nhưng dẫn họ theo, rồi lên đường.
  2. Khi Đa-vít và những người của ông đến thành, thì thấy thành đã bị đốt cháy, còn vợ, các con trai, và các con gái của họ, thì đã bị bắt làm tù binh. 4. Đa-vít và những người đang ở với ông đã bật khóc. Họ khóc đến nỗi không còn sức để khóc nữa. 5. Hai người vợ của Đa-vít, là A-hi-nô-am ở Gít-rê-ên, và A-bi-ga-in, trước kia là vợ của Na-banh tại Cạt-mên, cũng bị bắt làm tù binh.
  3. Đa-vít lâm vào tình cảnh thật khốn đốn bởi vì người ta định ném đá ông, do tâm hồn của mọi người đều cay đắng khi nghĩ đến các con trai và các con gái của mình. Nhưng Đa-vít có được sức lực nhờ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông. 7. Ða-vít đã nói với Tư tế A-bi-a-tha, là con trai của A-hi-mê-léc: “Xin đem ê-phót đến cho tôi.” A-bi-a-tha đã đem ê-phót đến cho Ða-vít. 8. Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va rằng: “Con có nên đuổi theo đội quân nầy hay không? Con sẽ bắt kịp họ hay không?” Đức Giê-hô-va phán: “Chắc chắn ngươi sẽ theo kịp, và sẽ giải cứu tất cả, và không bị thất bại.”
  4. Đa-vít đã ra đi cùng với sáu trăm người theo ông. Khi họ đến khe Bê-sô thì một số người đã dừng lại, 10. nhưng Đa-vít cùng với bốn trăm người cứ truy đuổi. Hai trăm người đã dừng lại vì họ đã kiệt sức, không thể vượt qua khe Bê-sô được.
  5. Sau đó, họ tìm thấy một người Ai Cập trong một cánh đồng nên đã mang về cho Đa-vít. Họ cho hắn bánh, hắn đã ăn, rồi họ cho hắn uống nước. 12. Họ cho hắn một miếng bánh trái vả và hai chùm nho khô. Sau khi đã ăn uống, sức lực của hắn được phục hồi, bởi vì đã ba ngày và ba đêm hắn không ăn bánh cũng không uống nước gì cả.
  6. Sau đó Ða-vít đã hỏi hắn: “Ngươi là người của ai, và ngươi từ đâu đến?” Hắn trả lời: “Tôi là một thanh niên Ai Cập, làm đầy tớ cho một người A-ma-léc. Cách đây ba ngày, chủ của tôi đã bỏ tôi bởi vì tôi bị đau. 14. Chúng tôi đã xâm lăng miền nam của Kê-rê-thít cho đến tận Giu-đa, và miền nam của Ca-lép. Chúng tôi đã dùng lửa đốt Xiếc-lác.” 15. Ða-vít nói với hắn: “Ngươi có thể dẫn ta xuống chỗ đạo quân đó được không?” Hắn đáp: “Nếu ngài nhân danh Ðức Chúa Trời mà thề rằng ngài sẽ không giết tôi và không giao nộp tôi vào tay chủ của tôi, thì tôi sẽ dẫn ngài xuống chỗ đạo quân đó.” 16. Sau đó, hắn đã dẫn ông xuống nơi đó. Họ thấy chúng tản ra khắp xứ, ăn, uống, nhảy nhót, bởi vì chúng đã cướp được rất nhiều chiến lợi phẩm từ đất của người Phi-li-tin và từ đất của người Giu-đa.
  7. Đa-vít đã đánh giết chúng từ rạng đông đến chiều ngày hôm sau. Không ai trốn thoát ngoại trừ bốn trăm thanh niên đã cưỡi lạc đà chạy trốn. 18. Đa-vít đã thu hồi lại tất cả những gì người A-ma-léc đã mang đi. Ða-vít cũng cứu được hai người vợ của ông. 19. Không một thứ gì của họ bị mất, dù lớn hay nhỏ. Các con trai hay các con gái, chiến lợi phẩm hay bất cứ món gì mà chúng đã cướp của họ, Ða-vít đã lấy lại tất cả. 20. Ða-vít đã lấy tất cả những bầy chiên và những bầy bò của chúng. Những người đi trước, dẫn các đàn súc vật, đã nói rằng: “Ðây là chiến lợi phẩm của Ða-vít.”
  8. Khi Ða-vít đến chỗ của hai trăm người, là những người đã kiệt sức đến nỗi họ không thể cùng Ða-vít truy đuổi, tức những người mà họ đã để ở lại tại khe Bê-sô, những người đó đã chạy ra đón Ða-vít và đón những người đi theo ông. Ða-vít đã đến gần những người đó, chào họ và thăm hỏi họ. 22. Tuy nhiên tất cả những kẻ xấu và những tên vô lại trong số những người cùng đi với Ða-vít, đã nói: “Bởi vì họ đã không đi với chúng ta, cho nên chúng ta không cho họ bất cứ chiến lợi phẩm nào mà chúng ta đã lấy được, ngoại trừ vợ con của họ. Họ có thể dắt những người của họ rồi đi đi.”
  9. Nhưng Ða-vít nói: “Các anh em của tôi ơi! Xin anh em đừng làm như vậy với những gì mà Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta. Ngài đã gìn giữ chúng ta và trao những kẻ đã làm hại chúng ta vào tay của chúng ta. 24. Vì ai có thể nghe lời nầy của anh em được, bởi vì phần của người đi vào chiến trường cũng bằng phần của người ở lại giữ đồ đạc. Họ sẽ chia với nhau.” 25. Vì vậy, kể từ đó trở đi, ông đã lập điều đó trở thành luật lệ trong Y-sơ-ra-ên cho đến ngày hôm nay.
  10. Khi Đa-vít về đến Xiếc-lác, ông đã gởi một phần chiến lợi phẩm cho các trưởng lão Giu-đa, cho những người bạn của ông, và nói: “Đây là món quà dành cho quý vị, lấy từ chiến lợi phẩm chiếm được từ kẻ thù của Đức Giê-hô-va.” 27. Đó là những người ở Bê-tên, những người ở Ra-mốt Nê-ghép, những người ở Giạt-thia, 28. những người ở A-rô-e, những người ở Síp-mốt, những người ở Ê-thê-mô-a, 29. những người ở Ra-canh, những người ở trong các thành của người Giê-ra-mê-lít, những người ở trong các thành của người Kê-nít, 30. những người ở Họt-ma, những người ở Bọt-a-san, những người ở A-tát, 31. những người ở Hếp-rôn, và cho tất cả những nơi mà chính Đa-vít và những người của ông đã đi qua.

 

31

  1. Lúc nầy, người Phi-li-tin giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Người Y-sơ-ra-ên đã chạy trốn trước mặt người Phi-li-tin; nhiều người đã bị giết và ngã gục trên núi Ghinh-bô-a. 2. Người Phi-li-tin đã rượt theo Sau-lơ và các con trai của ông. Họ đã giết Giô-na-than, A-bi-na-đáp, và Manh-ki-sua, là các con trai của Sau-lơ.
  2. Trận chiến trở nên khốc liệt cho Sau-lơ. Lính bắn cung đã bắn trúng ông, và ông đã bị thương bởi những lính bắn cung. 4. Sau đó, Sau-lơ nói với người vác binh khí của mình: “Hãy rút gươm của ngươi, rồi đâm ta. Đừng để những kẻ không được cắt bì đó đến đâm ta, rồi làm nhục ta.” Nhưng người vác binh khí của ông không dám, vì quá sợ. Do đó, Sau-lơ đã lấy gươm của mình, rồi sấn mình vào đó. 5. Khi người vác binh khí của Sau-lơ thấy vua đã chết, thì cũng sấn mình trên gươm của mình rồi chết theo ông. 6. Như vậy, Sau-lơ, với ba con trai, người vác khí giới, cùng tất cả những người theo ông đã chết cùng trong ngày hôm đó.
  3. Khi những người Y-sơ-ra-ên ở bên kia thung lũng và bên kia sông Giô-đanh thấy người Y-sơ-ra-ên chạy trốn, Sau-lơ và ba con trai của ông đã chết, thì họ đã bỏ thành, rồi trốn đi. Sau đó, người Phi-li-tin đã đến, rồi ở tại những nơi đó.
  4. Hôm sau, người Phi-li-tin đến lục soát các xác chết, họ thấy Sau-lơ và ba con trai của ông đã ngã chết trên núi Ghinh-bô-a. 9. Họ đã cắt đầu của ông, lột binh giáp của ông, rồi sai báo tin khắp xứ Phi-li-tin, trong đền thờ các thần của họ, và trong dân chúng. 10. Họ đã để vũ khí của ông trong đền thờ Át-tạt-tê, và treo xác ông trên tường của Bết-san.
  5. Khi cư dân của Gia-be Ga-la-át biết việc người Phi-li-tin đã đối xử với Sau-lơ, 12. tất cả những dũng sĩ đã đứng lên, đi suốt đêm. Họ đã lấy thi thể của Sau-lơ cùng với thi thể các con trai của ông khỏi bức tường tại Bết-san, rồi đem về Gia-be và thiêu hủy tại đó. 13. Họ đã lấy hài cốt chôn dưới một cây liễu tại Gia-be, rồi kiêng ăn bảy ngày.

 

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top