Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: Giô-suê

Bản Dịch Việt Ngữ: Giô-suê

Giô-suê

1

  1. Và rồi, sau khi Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, qua đời, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê, con trai của Nun, phụ tá của Môi-se, rằng: 2. “Môi-se, đầy tớ Ta, đã chết. Bây giờ ngươi và toàn thể dân nầy hãy đứng dậy, và hãy đi qua sông Giô-đanh để vào đất mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên. 3. Như Ta đã phán với Môi-se: Bất kỳ nơi nào bàn chân các ngươi đạp đến thì Ta ban cho các ngươi. 4. Từ hoang mạc và Li-ban nầy cho đến tận Đại Giang, là sông Ơ-phơ-rát, tất cả đất của dân Hê-tít cho đến Đại Hải về hướng mặt trời lặn, sẽ là bờ cõi của các ngươi. 5. Trọn đời ngươi, không ai có thể đứng lên chống lại ngươi. Như Ta đã ở cùng Môi-se, Ta sẽ ở cùng ngươi. Ta sẽ không lìa ngươi hay bỏ ngươi. 6. Hãy mạnh dạn và hãy can đảm bởi vì ngươi sẽ chia đất, mà Ta đã thề ban cho tổ phụ của họ, để sản nghiệp cho dân nầy. 7. Điều duy nhất là hãy mạnh dạn, hãy thật can đảm, và hãy cẩn thận làm theo tất cả luật pháp mà Môi-se, đầy tớ của Ta, đã truyền; đừng xây qua bên phải hoặc bên trái, để bất kỳ nơi nào ngươi đi, ngươi cũng được thịnh vượng. 8. Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy ngẫm ngày và đêm, hãy cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy, đường lối của ngươi sẽ được thịnh vượng và ngươi sẽ thành công. 9. Không phải Ta đã truyền cho ngươi hãy mạnh dạn và hãy can đảm hay sao? Đừng run sợ và đừng kinh hãi, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi vẫn ở cùng ngươi bất kỳ nơi nào ngươi đi.”
  2. Sau đó, Giô-suê đã ra lệnh cho các viên chức lãnh đạo của dân: 11. “Hãy thông báo khắp doanh trại và truyền lệnh cho dân chúng rằng hãy chuẩn bị lương thực cho mình; và trong ba ngày nữa các ngươi sẽ vượt qua sông Giô-đanh nầy để chiếm vùng đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã ban cho các ngươi để sở hữu.”
  3. Giô-suê nói với người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se rằng: 13. “Hãy nhớ lại lời Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho các ngươi rằng: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã ban cho các ngươi được an nghỉ và đã ban đất nầy cho các ngươi.’ 14. Vợ, các con nhỏ, và súc vật của các ngươi sẽ ở lại trong đất mà Môi-se đã ban cho các ngươi ở bên nầy của sông Giô-đanh; nhưng các ngươi, tất cả những chiến binh can trường, phải trang bị vũ khí, để đi trước những anh em của mình và giúp đỡ họ; 15. cho đến khi Đức Giê-hô-va ban cho anh em của các ngươi được sở hữu như Ngài đã ban cho các ngươi, và họ nhận được đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi ban; rồi các ngươi sẽ trở về phần đất sở hữu của mình mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban cho các ngươi ở phía bên nầy của sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc.”
  4. Họ đã trả lời cùng Giô-suê rằng: “Tất cả những điều ông truyền cho chúng tôi, chúng tôi sẽ thực hiện; và bất cứ nơi nào ông sai chúng tôi, chúng tôi sẽ đi. 17. Như chúng tôi đã nghe theo Môi-se trong mọi việc, chúng tôi sẽ nghe theo ông, miễn là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông ở với ông như Ngài đã ở với Môi-se. 18. Kẻ nào chống lại mệnh lệnh của ông, và không lắng nghe bất cứ điều gì ông ra lệnh, sẽ bị xử tử. Chỉ hãy mạnh dạn và hãy can đảm.”

 

2

  1. Từ Si-tim, Giô-suê con trai của Nun, đã sai hai người bí mật đi do thám. Ông dặn: “Hãy đi quan sát xứ, đặc biệt là Giê-ri-cô.”

Họ đã đi, rồi đến nhà của một kỹ nữ tên là Ra-háp, để trọ tại đó. 2. Vua của Giê-ri-cô được báo cáo rằng: “Kìa, đêm nay có những người của dân Y-sơ-ra-ên đến để do thám xứ.” 3. Vua của Giê-ri-cô đã truyền lịnh cho Ra-háp rằng: “Hãy đem nộp những kẻ đã đến với ngươi, tức là những kẻ đã vào nhà ngươi, bởi vì chúng đến để do thám cả xứ.”

  1. Nhưng nàng đã đem giấu hai người, rồi nói rằng: “Ðúng vậy! Có những người đã đến đây với tôi nhưng tôi không biết họ từ đâu đến. 5. Lúc trời sắp tối, trước khi cổng thành đóng lại, họ đã ra đi. Tôi không biết họ đã đi đâu. Hãy mau đuổi theo! Các ông sẽ bắt kịp họ.” 6. Thật ra, nàng đã đem họ lên mái nhà, giấu dưới đống cây đay mà nàng đã trải ra trên mái.
  2. Vì vậy, những người đó đã đuổi theo họ trên đường đi đến chỗ vượt qua sông Giô-đanh. Sau khi những người đuổi theo đó ra khỏi thành thì người ta đóng cổng thành lại.
  3. Trước khi các thám tử nằm xuống, nàng đã đi lên sân thượng để gặp họ. 9. Nàng nói với họ: “Tôi biết Đức Giê-hô-va sẽ ban cho các ông xứ nầy. Nỗi sợ hãi về các ông đã phủ trên chúng tôi, và tất cả cư dân trong xứ đều sờn lòng vì các ông. 10. Bởi vì chúng tôi đã nghe thể nào Đức Giê-hô-va đã khiến nước Biển Đỏ khô cạn trước mặt các ông khi các ông ra khỏi Ai Cập, cùng với điều mà các ông đã làm cho Si-hôn và Óc, hai vua của dân A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh, mà các ông đã tuyệt diệt. 11. Khi chúng tôi nghe điều đó thì lòng của chúng tôi tan chảy. Không ai trong chúng tôi còn chút can đảm nào để đối chọi với các ông nữa. Đức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của các ông, là Ðức Chúa Trời ở trên trời cao kia và ở dưới đất thấp nầy. 12. Vì vậy bây giờ, tôi xin các ông hãy chỉ Đức Giê-hô-va mà thề với tôi rằng bởi vì tôi đã đối xử nhân từ với các ông, xin các ông hãy đối xử nhân từ với nhà cha của tôi. Xin cho tôi một dấu hiệu bảo đảm 13. rằng các ông sẽ cứu mạng cha của tôi, mẹ của tôi, anh em của tôi, chị em của tôi, cùng tất cả những gì thuộc về họ. Xin cứu chúng tôi khỏi chết.”
  4. Họ trả lời nàng: “Mạng sống của chúng tôi sẽ đền cho mạng sống của những người thuộc về cô, miễn là cô không tiết lộ công việc của chúng tôi. Chúng tôi xin thề rằng khi Đức Giê-hô-va ban cho chúng tôi xứ nầy thì chúng tôi sẽ đối xử cách nhân từ và thành tín với cô.”
  5. Sau đó, nàng thả họ xuống bằng một sợi dây ngang qua cửa sổ, bởi vì nhà của nàng ở trên tường thành và nàng sống trên tường thành. 16. Nàng nói với họ: “Các ông hãy đi về phía núi. Đừng để những người truy lùng bắt gặp các ông. Hãy ẩn mình tại đó ba ngày, cho đến khi những người truy lùng trở về; sau đó các ông hãy đi theo đường của mình.”
  6. Những người đó nói với nàng: “Chúng tôi sẽ không bị ràng buộc bởi lời thề mà cô đã bắt chúng tôi thề, 18. nếu khi chúng tôi vào trong xứ mà cô không buộc sợi dây thừng đỏ nầy nơi cửa sổ mà cô đã hạ chúng tôi xuống, và nếu cô không tụ họp cha của cô, mẹ của cô, anh em của tôi, và tất cả những người trong gia đình cha của cô, lại trong nhà của cô. 19. Nếu người nào đi ra ngoài cửa nhà của cô thì máu người đó sẽ đổ lại trên đầu của người đó, còn chúng tôi thì vô tội. Nhưng nếu ai tra tay vào người nào ở với cô trong nhà, thì máu của người đó sẽ đổ lại trên đầu của chúng tôi. 20. Còn nếu cô tiết lộ công việc của chúng tôi thì chúng tôi sẽ không mắc lời thề mà cô đã bắt chúng tôi thề.”
  7. Nàng đáp: “Xin làm như lời các ông đã nói.” Nàng tiễn họ đi, rồi họ ra đi. Nàng cột dây thừng đỏ vào cửa sổ.
  8. Sau đó, họ đã đi lên núi rồi ở tại đó ba ngày, cho đến khi những người truy đuổi họ trở về. Những truy đuổi đã lùng sục khắp mọi nẻo đường nhưng không tìm được họ. 23. Và rồi, hai người đã xuống núi, trở về, vượt qua sông, đến với Giô-suê, con trai của Nun, thuật cho ông tất cả những gì đã xảy ra cho họ. 24. Họ nói với Giô-suê: “Thật vậy, Đức Giê-hô-va đã trao cả xứ vào tay của chúng ta. Tất cả cư dân trong xứ đều sờn lòng trước mặt chúng ta.”

 

3

  1. Giô-suê thức dậy vào sáng sớm. Ông cùng dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Si-tim đến sông Giô-đanh. Họ ở tại đó trước khi vượt qua sông. 2. Sau ba ngày, các viên chức đi khắp trại quân. 3. Họ truyền lệnh cho dân chúng rằng: “Khi nào các ngươi thấy Rương Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi được các tư tế thuộc dòng Lê-vi khiêng đi, thì các ngươi phải lìa khỏi chỗ của mình và đi theo nó. 4. Nhưng hãy giữ một khoảng cách giữa các ngươi với nó là hai ngàn cu-bít, và không được đến gần. Như vậy, các ngươi sẽ biết đường mình phải đi, bởi vì các ngươi chưa đi qua đường này bao giờ.”
  2. Sau đó, Giô-suê nói với dân chúng: “Hãy dọn mình ra thánh bởi vì ngày mai Đức Giê-hô-va sẽ làm những việc lạ lùng ở giữa vòng các ngươi.” 6. Và rồi, Giô-suê nói với các tư tế: “Hãy khiêng Rương Giao Ước để đi qua sông. Hãy đi trước dân chúng.” Vì vậy, họ khiêng Rương Giao Ước và đi phía trước dân chúng.
  3. Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê: “Hôm nay, Ta sẽ bắt đầu làm cho ngươi được tôn trọng trước mặt toàn dân Y-sơ-ra-ên để họ biết rằng Ta sẽ ở cùng ngươi như Ta đã ở cùng Môi-se. 8. Ngươi hãy truyền lịnh cho các tư tế khiêng Rương Giao Ước: Khi quý vị bước xuống mé nước của sông Giô-đanh, quý vị hãy đứng yên trong sông Giô-đanh.”
  4. Giô-suê truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: “Hãy đến đây để nghe lời của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi.” 10. Giô-suê nói: “Nhờ điều nầy, các ngươi sẽ biết rằng Đức Chúa Trời hằng sống đang ngự giữa các ngươi: Ngài sẽ đuổi khỏi trước mặt của các ngươi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Hê-vít, dân Phê-rê-sít, dân Ghi-rê-ga-sít, dân A-mô-rít và dân Giê-bu-sít. 11. Kìa, Rương Giao Ước của Ðấng Chủ Tể hoàn cầu sắp đi qua sông Giô-đanh trước mặt các ngươi. 12. Vì vậy bây giờ hãy chọn mười hai người trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, mỗi chi tộc một người. 13. Khi nào bàn chân của các tư tế khiêng Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va, Ðấng Chủ Tể của hoàn cầu, bước vào nước của sông Giô-đanh, nước của sông Giô-đanh từ trên chảy xuống sẽ dừng lại và sẽ dồn thành một khối.”
  5. Sau khi dân chúng đã nhổ trại của họ để vượt qua sông Giô-đanh, thì các tư tế khiêng Rương Giao Ước đi trước mặt dân chúng. 15. Khi những người khiêng Rương đến sông Giô-đanh, lúc bàn chân của các tư tế khiêng Rương vừa nhúng vào mé nước – Lúc đó, nước sông Giô-đanh dâng ngập bờ của nó suốt cả mùa gặt – 16. thì nước từ trên chảy xuống dừng lại, dồn thành một khối, cách một khoảng đến A-đam, là thành ở cạnh Xát-than; còn nước chảy về biển A-ra-ba, là Biển Muối, thì bị cắt đứt. Dân chúng đã vượt qua sông, nơi đối ngang Giê-ri-cô. 17. Các tư tế khiêng Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va đứng vững vàng trên đất khô giữa lòng sông Giô-đanh, trong khi tất cả dân Y-sơ-ra-ên đi qua sông như trên đất khô, cho đến khi toàn dân qua hết.

 

4

  1. Sau đó, khi toàn thể dân chúng đã vượt qua sông Giô-đanh, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: 2. “Hãy chọn trong dân chúng mười hai người, mỗi chi tộc một người, 3. rồi truyền cho họ rằng: ‘Hãy lấy tại đây, từ giữa sông Giô-đanh, nơi chân những tư tế đang đứng, mười hai tảng đá. Hãy đem chúng theo với các ngươi, rồi đặt chúng tại chỗ nghỉ trọ, là nơi các ngươi sẽ trú ngụ đêm nay.'”
  2. Vì vậy, Giô-suê đã gọi mười hai người, là những người mà ông đã chọn từ dân Y-sơ-ra-ên, mỗi chi tộc một người. 5. Giô-suê nói với họ: “Các ngươi hãy đi trước Rương của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi để vào giữa sông Giô-đanh, và rồi mỗi người trong các ngươi hãy vác một tảng đá trên vai của mình, đúng theo số các chi tộc của dân Y-sơ-ra-ên; 6. để rồi nó sẽ làm một dấu lưu niệm giữa vòng các ngươi. Về sau, khi con cháu của các ngươi hỏi: ‘Những tảng đá nầy có ý nghĩa gì?’, 7. thì hãy thuật cho chúng biết rằng: ‘Nước sông Giô-đanh đã ngưng chảy khi Rương của Đức Giê-hô-va băng qua sông. Khi họ băng qua sông, thì nước sông Giô-đanh đã ngưng chảy.’ Những tảng đá nầy sẽ là đài kỷ niệm đời đời cho dân Y-sơ-ra-ên.”
  3. Vì vậy dân Y-sơ-ra-ên đã làm y như Giô-suê đã truyền. Họ đã lấy mười hai tảng đá theo số chi tộc của dân Y-sơ-ra-ên, từ giữa sông Giô-đanh, như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Giô-suê, rồi đem chúng đi qua với họ, đến nơi họ nghỉ trọ, rồi đặt chúng tại đó. 9. Giô-suê đã dựng mười hai tảng đá giữa sông Giô-đanh, nơi chân những tư tế khiêng Rương Giao Ước đã đứng, và chúng vẫn còn ở đó cho đến ngày hôm nay.
  4. Các tư tế khiêng Rương đã đứng giữa sông Giô-đanh cho đến khi mọi việc được thực hiện theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Giô-suê nói lại cho dân chúng, và theo tất cả những điều mà Môi-se đã truyền cho Giô-suê. Dân chúng đã vội vàng qua sông. 11. Khi tất cả dân chúng đã qua sông thì Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va và các tư tế cũng đi qua, trước sự hiện diện của dân chúng.
  5. Con cháu của Ru-bên, con cháu của Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se đã cầm khí giới đi trước dân Y-sơ-ra-ên, đúng như Môi-se đã truyền cho họ. 13. Có khoảng bốn chục ngàn người được trang bị để ra trận, đã đi qua trước mặt Đức Giê-hô-va, để tiến vào vùng đồng bằng của Giê-ri-cô.
  6. Ngày hôm đó, Đức Giê-hô-va làm cho Giô-suê được tôn trọng trước mặt toàn dân Y-sơ-ra-ên. Họ kính trọng ông suốt đời như đã kính trọng Môi-se.
  7. Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: 16. “Hãy truyền cho các tư tế khiêng Rương Chứng Ước lên khỏi sông Giô-đanh.”
  8. Vì vậy, Giô-suê đã truyền cho các tư tế: “Hãy lên khỏi sông Giô-đanh. 18. Khi các tư tế khiêng Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ giữa sông Giô-đanh đi lên, và khi bàn chân của các tư tế vừa đặt trên đất khô, thì nước sông Giô-đanh trở về chỗ cũ, và chảy tràn trên bờ như trước.”
  9. Dân chúng lên khỏi sông Giô-đanh vào ngày mười tháng Giêng, rồi đóng trại tại Ghinh-ganh, thuộc biên giới phía đông của Giê-ri-cô. 20. Mười hai hòn đá mà họ đã lấy lên từ khỏi sông Giô-đanh đã được Giô-sua dựng lên tại Ghinh-ganh. 21. Ông nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Trong tương lai, khi con cháu của các ngươi hỏi cha ông của chúng rằng: ‘Những hòn đá nầy có ý nghĩa gì?’ 22. thì các ngươi hãy nói cho con cháu mình biết rằng: Y-sơ-ra-ên đã đi qua sông Giô-đanh như đi trên đất khô, 23. vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã làm cho sông Giô-đanh khô cạn trước mặt các ngươi cho đến khi các ngươi đã đi qua khỏi đó, đúng như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã làm tại Biển Đỏ, Ngài khiến nó khô cạn trước mặt chúng ta cho đến khi chúng ta đã vượt qua; 24. để các dân tộc trên thế gian biết được bàn tay của Đức Giê-hô-va là quyền năng; và để anh em cũng luôn luôn kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.”

 

5

  1. Sau đó khi tất cả các vua của những người A-mô-rít, là những người ở phía tây của sông Giô-đanh, cùng tất cả các vua của dân Ca-na-an ở dọc theo miền duyên hải nghe rằng Đức Giê-hô-va đã làm cho nước của sông Giô-đanh cạn khô trước mặt dân Y-sơ-ra-ên để chúng tôi đi qua, thì lòng họ tan chảy và họ không còn tinh thần để đối phó với dân Y-sơ-ra-ên nữa.
  2. Lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê: “Hãy làm những con dao bằng đá để cắt bì lần thứ hai cho dân Y-sơ-ra-ên.” 3. Vì vậy, Giô-suê đã làm những con dao bằng đá, để cắt bì cho dân Y-sơ-ra-ên tại đồi A-ra-lốt.
  3. Đây là lý do tại sao Giô-suê đã thực hiện việc cắt bì: Tất cả những người nam đã ra khỏi Ai Cập, tức là tất cả các chiến sĩ từ lúc ra khỏi Ai Cập, đã chết dọc đường trong hoang mạc. 5. Tất cả những người nam ra khỏi Ai Cập đã được cắt bì, nhưng tất cả những người được sinh ra tại hoang mạc trong hành trình từ khi họ ra khỏi Ai Cập, đều chưa cắt bì. 6. Vì dân Y-sơ-ra-ên đã đi trong hoang mạc bốn mươi năm cho đến khi tất cả những chiến sĩ, là những người đã rời khỏi Ai Cập, đã chết, bởi vì họ đã không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va là Đấng đã thề với họ rằng Ngài sẽ không cho họ thấy xứ mà Đức Giê-hô-va đã hứa với tổ phụ của họ rằng Ngài sẽ ban cho chúng tôi một xứ đượm sữa và mật; 7. và những con của trai của họ mà Ngài đã nuôi nấng để thay thế cho họ, chính là những người được Giô-suê cắt bì. Bởi vì trong suốt cuộc hành trình người ta chưa làm cắt bì cho những người đó, cho nên họ vẫn chưa được cắt bì.
  4. Sau đó, khi người ta đã làm cắt bì cho tất cả những người nam trong dân chúng, những người đó đã ở lại tại chỗ của mình trong trại quân cho đến khi được lành. 9. Và rồi Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: “Hôm nay Ta đã cuốn xa khỏi các ngươi sự sỉ nhục của Ai Cập.” Vì vậy, người ta đã đặt tên địa điểm này là Ghinh-ganh cho đến ngày nay.
  5. Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại tại Ghinh-ganh, rồi họ giữ lễ Vượt Qua vào lúc chiều tối của ngày mười bốn tháng đó tại đồng bằng Giê-ri-cô. 11. Sau ngày lễ Vượt Qua, chính trong ngày đó họ ăn sản phẩm của xứ như bánh không men và lúa rang. 12. Ma-na đã chấm dứt sau khi họ ăn hoa màu của xứ. Dân Y-sơ-ra-ên không có ma-na nữa, nhưng trong năm đó họ ăn hoa màu của xứ Ca-na-an.
  6. Một thời gian sau, khi Giô-suê đang ở gần Giê-ri-cô, ông ngước mắt lên, nhìn thấy có một người đứng ngay trước mặt của ông, và tay của người đó cầm gươm trần. Giô-suê đến với người đó, rồi hỏi người đó: “Ngài ủng hộ chúng tôi hay ủng hộ những kẻ thù của chúng tôi?” 14. Người đó trả lời: “Không! Nhưng bây giờ ta đến để làm tướng chỉ huy đạo quân của Đức Giê-hô-va.” Giô-suê liền sấp mặt xuống đất, thờ lạy, rồi hỏi: “Chúa muốn truyền cho đầy tớ của Ngài điều gì?” 15. Vị chỉ huy đạo quân của Đức Giê-hô-va nói với Giô-suê: “Hãy cởi giày khỏi chân của ngươi, bởi vì nơi ngươi đang đứng là thánh.” Giô-suê đã làm như vậy.

 

6

  1. Lúc đó, vì cớ dân Y-sơ-ra-ên, Giê-ri-cô đã đóng kín, không ai được đi ra cũng không ai được đi vào.
  2. Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê: “Nầy, Ta ban Giê-ri-cô, vua và các dũng sĩ của nó vào trong tay của ngươi. 3. Các ngươi, tất cả các chiến sĩ, hãy đi vòng quanh thành một vòng. Các ngươi hãy làm như vậy trong sáu ngày. 4. Bảy tư tế sẽ cầm bảy cái kèn bằng sừng của chiên đực đi trước Rương. Nhưng đến ngày thứ bảy, các ngươi sẽ đi vòng quanh thành bảy lần và các tư tế sẽ thổi kèn. 5. Sau đó, họ sẽ thổi một hồi kèn dài bằng sừng của chiên đực. Khi các ngươi nghe tiếng kèn, tất cả dân chúng hãy thét lên thật lớn, tường thành sẽ đổ xuống. Dân chúng hãy tiến lên, mỗi người hãy xông vào ngay phía trước của mình.”
  3. Giô-suê, con trai của Nun, đã gọi các tư tế rồi nói với họ: “Hãy khiêng Rương Giao Ước, và bảy tư tế hãy cầm bảy cái kèn bằng sừng của chiên đực đi trước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va.” 7. Sau đó, ông nói với dân chúng: “Hãy tiến lên để đi vòng quanh thành. Hãy để cho những người đã được vũ trang đi trước Rương của Đức Giê-hô-va.”
  4. Sau khi Giô-suê đã truyền lệnh cho dân chúng, bảy tư tế cầm bảy kèn bằng sừng của chiên đực đi trước mặt Đức Giê-hô-va, và họ thổi kèn, còn Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va theo sau họ. 9. Những người được vũ trang đi trước các tư tế đang thổi kèn, còn đội quân hậu vệ thì đi phía sau của Rương. Và rồi họ vừa đi vừa thổi kèn.
  5. Tuy nhiên, Giô-suê đã truyền lệnh cho dân chúng rằng: “Các ngươi không được la hét, cũng không được để ai nghe tiếng của mình, và miệng của các ngươi cũng không được nói một lời nào cho đến ngày ta bảo các ngươi hãy la lên, thì lúc đó các ngươi hãy la lên.”
  6. Vì vậy, Rương của Đức Giê-hô-va đã đi vòng quanh thành một lần; rồi họ trở về doanh trại, và họ nghỉ đêm trong doanh trại.
  7. Sáng hôm sau, Giô-suê dậy sớm. Các tư tế khiêng Rương của Đức Giê-hô-va. 13. Bảy tư tế cầm kèn bằng sừng của chiên đực đi trước Rương của Đức Giê-hô-va, họ vừa đi vừa thổi kèn. Những người được vũ trang đi trước họ, tuy nhiên đội quân hậu vệ thì đi theo sau Rương của Đức Giê-hô-va. Họ đã vừa đi vừa thổi kèn. 14. Trong ngày thứ nhì, họ đi vòng quanh thành một lần rồi trở về doanh trại. Họ làm như vậy trong sáu ngày.
  8. Sau đó, đến ngày thứ bảy, họ dậy sớm vào lúc bình minh của ngày hôm đó. Họ đã đi vòng quanh thành cùng một cách như vậy trong bảy lần. Chỉ trong ngày hôm đó họ đi quanh thành bảy lần. 16. Khi lần thứ bảy đã xong, trong lúc các tư tế thổi kèn, Giô-suê đã truyền cho dân chúng: Hãy la lên, bởi vì Đức Giê-hô-va đã ban thành nầy cho các ngươi. 17. Thành và mọi vật trong thành thuộc về Đức Giê-hô-va. Thành sẽ bị hủy diệt, chỉ có kỹ nữ Ra-háp – nàng và mọi người ở với nàng tại trong nhà của nàng – sẽ được sống, bởi vì nàng đã giấu các sứ giả mà chúng ta đã sai đi. 18. Tất cả các ngươi hãy giữ mình khỏi những vật đã được định rằng phải bị tiêu diệt. Đừng để các ngươi sẽ bị tiêu diệt khi các ngươi lấy vật phải bị tiêu diệt, rồi làm cho doanh trại của Y-sơ-ra-ên bị nguyền rủa và hoạn nạn vì điều đó. 19. Tất cả bạc, vàng, và những vật dụng bằng đồng, bằng sắt đều được biệt riêng ra cho Đức Giê-hô-va. Các vật đó sẽ được nhập vào kho của Đức Giê-hô-va.
  9. Vì vậy dân chúng đã la lên khi tư tế thổi kèn. Khi dân chúng nghe tiếng kèn, dân chúng đã la lên thật lớn, tường thành ngã sập xuống. Dân chúng tiến vào thành, mỗi người xông thẳng vào phía trước của mình, rồi họ chiếm lấy thành. 21. Họ đã dùng gươm tiêu diệt mọi vật trong thành: nam, nữ, già, trẻ, bò, chiên, và lừa.
  10. Giô-suê nói với hai người đã đi do thám xứ: “Hãy vào nhà của người kỹ nữ, đem nàng và mọi người trong nhà nàng ra, y như các ngươi đã thề với nàng.” 23. Vì vậy hai thanh niên, là những người đã đi do thám xứ, đã đi vào đem Ra-háp, cha mẹ, anh em của cô, và mọi vật gì thuộc về cô ra khỏi đó. Họ đã đem cả gia quyến của cô ra, rồi để ở bên ngoài doanh trại của Y-sơ-ra-ên.
  11. Sau đó, họ phóng hỏa đốt thành và mọi vật ở trong đó. Họ chỉ đem bạc, vàng, và những vật dụng bằng đồng, bằng sắt vào trong kho của nhà Đức Giê-hô-va. 25. Giô-suê đã bảo tồn mạng sống cho kỹ nữ Ra-háp, cùng cả nhà cha của cô, và mọi vật gì thuộc về cô. Cô đã sống ở giữa Y-sơ-ra-ên cho đến ngày nay, bởi vì cô đã che giấu các sứ giả mà Giô-suê đã sai đi để do thám Giê-ri-cô.
  12. Lúc đó, Giô-suê đã nguyền rằng: “Đáng nguyền rủa cho kẻ nào trỗi dậy trước mặt Đức Giê-hô-va để xây dựng lại thành Giê-ri-cô nầy. Khi hắn xây nền của thành, con đầu lòng của hắn sẽ chết. Khi hắn xây cổng của thành, con út của hắn sẽ chết.”
  13. Đức Giê-hô-va ở với Giô-suê. Danh tiếng của ông truyền ra khắp xứ.

 

7

  1. Tuy nhiên, dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội vì đã lấy vật đáng bị tiêu diệt. Bởi vì A-can, con trai của Cạt-mi, cháu của Xáp-đi, chắt của Xê-rách, thuộc chi tộc Giu-đa, đã lấy vật đáng bị tiêu diệt, cơn giận của Đức Giê-hô-va đã bừng lên cùng dân Y-sơ-ra-ên.
  2. Giô-suê đã sai người từ Giê-ri-cô đến A-hi, bên cạnh Bết A-ven, về phía đông của Bê-tên. Ông nói với họ: “Hãy đi lên do thám xứ” – Vì vậy, họ đã đi lên để do thám A-hi. 3. Sau đó, họ trở về với Giô-suê, rồi nói với ông: “Đừng đem tất cả dân chúng đi lên đó. Chỉ cần khoảng hai hoặc ba ngàn người lên tấn công A-hi. Đừng làm cho tất cả dân chúng phải mệt nhọc, bởi vì những người tại đó rất ít.”
  3. Do đó có khoảng ba ngàn người đã lên đó, nhưng họ đã chạy trốn trước mặt dân A-hi. 5. Dân A-hi đã giết ba mươi sáu người. Chúng đã rượt đuổi họ từ phía trước cổng thành cho đến Sê-ba-rim, đánh hạ họ lúc họ chạy xuống. Vì vậy, lòng của dân chúng tan ra như nước.
  4. Giô-suê xé rách y phục của mình rồi sấp mặt xuống đất trước Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va cho đến chiều tối. Ông và các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đã làm như vậy. Họ lấy bụi đất rải trên đầu của họ. 7. Sau đó, Giô-suê nói: “Chúa là Đức Giê-hô-va ôi! Tại sao Ngài đem tất cả dân nầy qua sông Giô-đanh, rồi trao chúng con vào tay của người A-mô-rít, để hủy diệt chúng con? Ôi! Ước gì chúng con thỏa lòng và ở lại phía bên kia của sông Giô-đanh. 8. Chúa ôi! Con biết nói gì khi Y-sơ-ra-ên phải đưa lưng của mình cho những kẻ thù của họ. 9. Bởi vì dân Ca-na-an và tất cả cư dân trong xứ sẽ nghe điều nầy, sẽ bao vây chúng con, rồi hủy diệt danh của chúng con khỏi mặt đất. Ngài sẽ làm sao cho danh vĩ đại của Ngài?”
  5. Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê: “Hãy trỗi dậy! Tại sao ngươi nằm sấp mặt xuống đất như vậy? 11. Y-sơ-ra-ên đã phạm tội và họ đã vi phạm giao ước của Ta mà Ta đã truyền cho họ. Bởi vì họ đã lấy vật đáng bị tiêu diệt, họ vừa ăn cắp vừa gian dối, rồi lấy những vật đó làm vật của mình. 12. Do đó, dân Y-sơ-ra-ên không thể chống cự trước mặt những kẻ thù của chúng, nhưng phải đưa lưng cho những kẻ thù của chúng, bởi chúng là những kẻ đáng bị tiêu diệt. Ta sẽ không ở với các ngươi nữa, trừ khi các ngươi loại bỏ những gì đã định phải bị tiêu diệt khỏi giữa các ngươi. 13. Hãy đứng dậy để thanh tẩy! Hãy nói với dân chúng rằng: Ngày mai, các ngươi hãy thanh tẩy chính mình, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy: Hỡi Y-sơ-ra-ên! Có vật đã định phải bị tiêu diệt ở giữa các ngươi. Các ngươi sẽ không thể nào đứng nổi trước mặt kẻ thù của các ngươi, nếu vật đã định phải bị tiêu diệt không bị loại khỏi giữa các ngươi. 14. Vì vậy, sáng mai các chi tộc hãy đến gần. Chi tộc nào Đức Giê-hô-va chỉ ra, thì các gia tộc hãy đến gần. Gia tộc nào Đức Giê-hô-va chỉ ra, thì các gia đình hãy đến gần. Gia đình nào Đức Giê-hô-va chỉ ra, thì từng người hãy đến gần. 15. Người nào bị chỉ ra thì kẻ đó, và tất cả những gì thuộc về hắn, sẽ bị thiêu cùng với vật đáng bị tiêu diệt; bởi vì hắn đã vi phạm giao ước của Đức Giê-hô-va và đã làm điều ô nhục trong Y-sơ-ra-ên.”
  6. Vì vậy, sáng hôm sau Giô-suê dậy sớm. Các chi tộc đã đến gần, và chi tộc Giu-đa đã bị chỉ ra. 17. Các gia tộc của Giu-đa đã đến gần, và gia tộc Xê-rách bị chỉ ra. Các gia đình trong gia tộc Xê-rách đã đến gần, gia đình Xáp-đi bị chỉ ra. 18. Mỗi một gia trưởng đã đến gần, A-can, con trai của Cạt-mi, cháu của Xáp-đi, chắt của Xê-rách, thuộc chi tộc Giu-đa, bị chỉ ra.
  7. Giô-suê nói với A-can: “Con ơi! Ta khuyên con hãy tôn ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, rồi xưng nhận tội lỗi của con với Ngài. Hãy nói cho ta điều gì con đã làm, và đừng giấu ta điều gì cả.”
  8. A-can đã trả lời với Giô-suê rằng: “Thật vậy! Con đã phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Đây là những điều con đã làm: 21. Khi con thấy trong những chiến lợi phẩm có một áo choàng Si-nê-a rất đẹp, hai trăm siếc-lơ bạc, và một nén vàng nặng năm mươi siếc-lơ, thì con đã tham muốn và đã lấy những vật đó. Kìa, chúng được giấu dưới đất trong trại của con, còn bạc thì ở bên dưới.”
  9. Giô-suê đã sai các sứ giả, và họ đã chạy đến trại. Họ thấy nó được giấu dưới trại, còn bạc thì ở bên dưới. 23. Họ đã lấy những vật đó ra khỏi trại đem đến cho Giô-suê và cho tất cả dân Y-sơ-ra-ên, rồi đặt chúng trước mặt Đức Giê-hô-va.
  10. Giô-suê và tất cả Y-sơ-ra-ên đã đem A-can, con cháu của Xê-rách, cùng với bạc, áo choàng, nén vàng, các con trai, các con gái, bò, lừa, chiên, lều trại, và tất cả những gì thuộc về hắn, rồi dẫn chúng đến thung lũng A-cô.
  11. Giô-suê nói: “Tại sao các ngươi đem hoạn nạn đến cho chúng ta? Hôm nay Đức Giê-hô-va sẽ đem hoạn nạn đến cho các ngươi.”

Tất cả Y-sơ-ra-ên đã ném đá hắn. Sau khi họ ném đá những người đó, họ hỏa thiêu những người đó. 26. Họ đã chất trên hắn một đống đá lớn, vẫn còn cho đến ngày nay. Đức Giê-hô-va đã nguôi cơn thịnh nộ của Ngài. Vì vậy, người ta đã gọi nơi đó là thung lũng A-cô cho đến ngày nay.

 

8

  1. Sau đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê: “Đừng sợ cũng đừng nản chí. Hãy đem tất cả chiến sĩ cùng đi với ngươi. Hãy trỗi dậy đi lên đánh A-hi. Hãy xem, Ta đã phó vua của A-hi, dân chúng, thành trì, và đất đai của hắn vào tay của ngươi. 2. Ngươi hãy đối xử với A-hi và vua của nó như ngươi đã đối xử với Giê-ri-cô và vua của nó; tuy nhiên tài sản của nó và súc vật của nó thì các ngươi có thể lấy làm chiến lợi phẩm cho mình. Hãy mai phục phía sau của thành.”
  2. Giô-suê đã trỗi dậy cùng với tất cả các chiến sĩ để đi lên đánh A-hi. Ông chọn ba chục ngàn chiến binh dũng cảm, rồi sai họ đi vào ban đêm. 4. Ông truyền lệnh cho họ: “Các ngươi hãy mai phục phía sau thành. Đừng mai phục quá xa thành; và tất cả hãy sẵn sàng. 5. Ta và tất cả những người theo ta sẽ tiến gần thành. Và rồi, khi chúng tấn công chúng tôi, như lần trước chúng tôi sẽ chạy trốn trước mặt chúng. 6. Chúng sẽ đuổi theo chúng tôi và chúng tôi sẽ dụ chúng xa khỏi thành; bởi vì chúng sẽ nói: ‘Chúng bỏ chạy trước mặt chúng ta như lần trước’ – Cho nên chúng tôi sẽ bỏ chạy trước mặt chúng. 7. Khi đó, các ngươi hãy trỗi dậy khỏi nơi mai phục, rồi chiếm lấy thành, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi sẽ phó thành đó vào tay của các ngươi. 8. Khi các ngươi chiếm được thành, các ngươi hãy phóng hỏa đốt thành như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho các ngươi phải thực hiện; và ta đã truyền cho các ngươi như vậy.” 9. Sau đó, Giô-suê sai họ đi. Họ đã đi, nằm mai phục ở giữa Bê-tên và A-hi, về hướng tây của A-hi. Nhưng Giô-suê thì ở trọ qua đêm cùng với dân chúng.
  3. Giô-suê dậy sớm vào buổi sáng, tập hợp dân chúng, rồi ông và các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên dẫn dân chúng tiến lên A-hi. 11. Tất cả những chiến binh đi theo ông đã tiến lên, tụ họp lại với nhau, đến phía trước thành, rồi đóng trại ở phía bắc của A-hi. Có một thung lũng ở giữa họ và A-hi. 12. Ông dẫn năm ngàn người, đặt họ mai phục tại phía tây của thành, ở khoảng giữa Bê-tên và A-hi. 13. Khi họ đã bố trí dân chúng và cả đạo quân tại phía bắc của thành, và những người mai phục đằng sau, tại phía tây của thành, thì Giô-suê đã đến qua đêm tại trong thung lũng.
  4. Và rồi, khi vua của A-hi thấy vậy, những người trong thành đã vội vàng dậy sớm, rồi ông và tất cả dân chúng của ông đã tiến ra giao chiến chống lại dân Y-sơ-ra-ên tại nơi đối diện với đồng bằng. Ông không biết có quân mai phục ở phía sau thành. 15. Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên làm như là họ bị đánh bại trước mặt chúng, rồi họ bỏ chạy về phía hoang mạc. 16. Vì vậy tất cả dân trong thành A-hi đã hiệp lại với nhau để đuổi theo họ. Chúng đã rượt đuổi theo Giô-suê và bị kéo ra xa khỏi thành. 17. Không một người nam nào tại A-hi hay Bê-tên mà không chạy ra để đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên. Chúng đã bỏ trống thành để đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên.
  5. Khi đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê: “Hãy giơ ngọn giáo trong tay của ngươi hướng về A-hi, bởi vì Ta sẽ trao nó vào trong tay của ngươi.” Vì vậy, Giô-suê đã giơ ngọn giáo trong tay của ông hướng về thành. 19. Khi ông vừa giơ tay của mình, những người mai phục đã nhanh chóng đứng dậy khỏi chỗ của mình, rồi chạy thật nhanh; họ tiến vào thành, chiếm nó, rồi vội vàng đốt thành. 20. Khi người A-hi quay lại, nhìn phía sau, và thấy khói trong thành bay lên trời, thì chúng không còn sức lực nào để chạy trốn về phía nầy hay về phía kia nữa. Những người đang chạy trốn về phía hoang mạc đã quay lại đánh những kẻ rượt đuổi theo mình. 21. Khi Giô-suê và tất cả những người Y-sơ-ra-ên thấy quân mai phục đã chiếm được thành và khói của thành đã bay lên, thì họ quay lại đánh giết người A-hi. 22. Những người khác đã ra khỏi thành để đánh chúng. Chúng bị vây ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, một số ở bên nầy và một số ở bên kia. Họ đã giết chúng, không để cho một người nào sống hay trốn thoát. 23. Nhưng họ bắt sống vua của A-hi rồi dẫn ông đến cho Giô-suê.
  6. Sau đó, khi người Y-sơ-ra-ên đã giết hết cư dân của A-hi ngoài chiến trường tại hoang mạc, là nơi chúng rượt đuổi họ, và chúng bị gục ngã dưới lưỡi gươm và bị tiêu diệt, thì toàn dân Y-sơ-ra-ên đã quay lại A-hi dùng lưỡi gươm đánh giết nó. 25. Tất cả người A-hi, cả nam lẫn nữ, bị ngã chết trong ngày hôm đó, tổng cộng là mười hai ngàn người. 26. Giô-suê đã không rút tay của ông lại, là cánh tay mà ông cầm giáo vương ra, cho đến khi họ tiêu diệt tất cả dân cư của A-hi. 27. Dân Y-sơ-ra-ên chỉ lấy những súc vật và của cải trong thành làm chiến lợi phẩm cho mình, theo như Đức Giê-hô-va đã truyền phán cho Giô-suê. 28. Giô-suê đã thiêu hủy A-hi và làm cho nó thành một đống đổ nát điêu tàn vĩnh viễn cho đến ngày nay. 29. Về phần vua của A-hi, ông cho treo trên cây cho đến chiều tối. Khi mặt trời vừa lặn, Giô-suê sai đem xác từ trên cây xuống, rồi liệng nó tại lối vào cổng thành. Người ta đã chất trên đó một đống đá lớn, vẫn còn cho đến ngày nay.
  7. Bấy giờ, Giô-suê lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên trên núi Ê-banh, 31. như Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên, và đã được chép trong sách luật pháp Môi-se, là một bàn thờ bằng đá nguyên khối, chưa bị đục bởi đồ bằng sắt; và trên đó, dân chúng dâng tế lễ thiêu và dâng tế lễ bình an cho Đức Giê-hô-va. 32. Tại đó, ông cũng viết trên các bia đá một bản sao luật pháp của Môi-se. Ông đã viết điều đó ngay trước sự hiện diện của dân Y-sơ-ra-ên. 33. Các tư tế thuộc dòng Lê-vi khiêng Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Toàn thể Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão, các viên chức, các thẩm phán của họ đứng bên nầy và bên kia của Rương, cùng những ngoại kiều và những người đã sinh trong xứ; một nửa của họ đứng trước núi Ghê-ri-xim và một nửa của họ đứng trước núi Ê-banh, y như Môi-se tôi tớ của Đức Giê-hô-va đã truyền trước kia, để chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên. 34. Sau đó, ông đã đọc cho họ nghe tất cả những lời trong luật pháp – những lời chúc phước và những lời nguyền rủa – theo như tất cả những gì đã được chép trong sách luật pháp. 35. Không có một lời nào trong tất cả những điều Môi-se đã truyền dặn mà Giô-suê không đọc trước mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, với phụ nữ, trẻ em, và những ngoại kiều đang sống ở giữa họ.

 

9

  1. Sau đó, tất cả các vua của dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít ở phía bên nầy của sông Giô-đanh, trong miền núi, trong thung lũng, và dọc theo miền duyên hải của Biển Lớn cho đến Li-ban 2. đã họp lại với nhau để chống lại Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên.
  2. Khi dân Ga-ba-ôn nghe những điều mà Giô-suê đã làm cho Giê-ri-cô và A-hi, 4. họ đã thực hiện một mưu kế: Họ lấy những bao đựng đồ thật cũ để đựng lương thực, và những bầu rượu bằng da cũ bị rách được vá lại, máng lên lưng lừa, rồi ra đi. 5. Chân của họ mang dép cũ đã được vá lại, họ mặc quần áo cũ, tất cả lương thực dự phòng của họ đều khô và nát vụn.
  3. Họ đã đến với Giô-suê tại doanh trại ở Ghinh-ganh, rồi nói với ông và dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Chúng tôi từ một xứ ở xa đến. Xin hãy lập giao ước với chúng tôi.” 7. Dân Y-sơ-ra-ên đã nói với dân Hê-vít: “Có thể các ngươi đang sống ở giữa vòng chúng ta. Làm thế nào chúng ta có thể lập giao ước với các ngươi được?” 8. Họ nói với Giô-suê: “Chúng tôi là đầy tớ của ông.” Giô-suê hỏi: “Các ngươi là ai, và từ đâu đến?” 9. Họ đã trả lời: “Vì danh của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông, mà các đầy tớ của ông đã từ một xứ rất xa đến; bởi vì chúng tôi đã nghe nói về Ngài cùng tất cả những việc Ngài đã làm tại Ai Cập, 10. và tất cả những gì Ngài đã làm cho hai vua của A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh, là Si-hôn, vua của Hết-bôn, và Óc, vua của Ba-san, tại Ách-ta-rốt. 11. Vì vậy các trưởng lão của chúng tôi và tất cả dân trong xứ của chúng tôi đã bảo chúng tôi rằng: Các ngươi hãy đem lương thực đi đường, rồi đến gặp họ, và nói rằng: Chúng tôi là đầy tớ của các ông. Bây giờ xin hãy lập giao ước với chúng tôi. 12. Đây là bánh của chúng tôi. Ngày chúng tôi rời khỏi nhà để đến với các ông, chúng tôi mang bánh nầy theo để làm lương thực. Lúc đó chúng còn nóng hổi mà nay đã khô và nát vụn. 13. Những bầu da nầy khi chúng tôi đổ đầy rượu hãy còn mới tinh mà nay đã rách; còn quần áo và giày của chúng tôi thì đã cũ mòn vì đi đường xa.” 14. Người Y-sơ-ra-ên đã nhận lương thực của họ, nhưng không cầu hỏi Đức Giê-hô-va. 15. Giô-suê đã kết ước hòa bình với họ, lập giao ước để cho họ sống. Những người lãnh đạo của hội chúng cũng đã thề với họ.
  4. Tuy nhiên, chỉ ba ngày sau khi lập giao ước với những người đó, họ nghe rằng những người đó là những người láng giềng đang sống gần họ. 17. Dân Y-sơ-ra-ên đã lên đường, và đến các thành phố của những người đó vào ngày thứ ba. Các thành phố của những người đó là Ga-ba-ôn, Kê-phi-ra, Bê-ê-rốt, và Ki-ri-át Giê-a-rim. 18. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên không tấn công họ, bởi vì các lãnh đạo của hội chúng đã nhân danh của Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã thề với họ. Tất cả hội chúng lằm bằm các nhà lãnh đạo.
  5. Các nhà lãnh đạo đã nói với cả hội chúng: “Chúng ta đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên thề với họ; vì vậy, chúng ta không được đụng đến họ. 20. Ðây là điều chúng ta sẽ làm đối với họ: Chúng ta hãy để cho họ sống, không nên để cơn thịnh nộ sẽ giáng xuống trên chúng ta vì sự cam kết mà chúng ta đã thề với họ.” 21. Các vị lãnh đạo nói: “Hãy để cho họ sống, nhưng phải bắt họ chặt củi và gánh nước cho toàn thể hội chúng.” Những lãnh đạo đã nói với dân chúng như vậy.
  6. Sau đó, Giô-suê đã triệu tập những người đó rồi nói với họ rằng: “Tại sao các ngươi lừa gạt chúng ta. Các ngươi nói rằng chúng tôi ở rất xa các ông, mà sự thật là các ngươi ở gần chúng ta? 23. Vì vậy, bây giờ các người phải bị nguyền rủa. Không ai trong các ngươi sẽ được miễn trừ khỏi việc phục dịch là chặt củi và gánh nước cho nhà của Ðức Chúa Trời.”
  7. Họ trả lời Giô-suê và nói rằng: “Bởi vì các đầy tớ của ông đã biết rõ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông, đã truyền cho Môi-se, là đầy tớ của Ngài, rằng: Ngài ban toàn xứ nầy cho các ông, và các ông phải tiêu diệt tất cả những cư dân ở trong xứ trước mặt các ông. Bởi vì chúng tôi quá lo sợ cho mạng sống của mình, cho nên chúng tôi đã làm như vậy trước mặt các ông. 25. Bây giờ chúng tôi ở trong tay của ông, xin hãy làm cho chúng tôi điều nào là tốt và thích hợp cho chúng tôi.”
  8. Ðây là điều mà ông đã thực hiện cho những người đó: Ông đã cứu những người đó khỏi tay của dân Y-sơ-ra-ên, cho nên họ đã không giết những người đó. 27. Giô-suê bắt những người đó phải chặt củi và gánh nước cho hội chúng và cho bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại nơi Ngài chọn kể từ ngày đó cho đến ngày hôm nay.

 

10

  1. Một thời gian sau, A-đô-ni Xê-đéc là vua của Giê-ru-sa-lem nghe tin Giô-suê đã chiếm A-hi rồi tiêu diệt nó, và ông đã làm cho Giê-ri-cô với vua của nó như thế nào thì cũng đã làm như vậy cho A-hi và vua của nó; và rồi dân Ga-ba-ôn đã cầu hòa với dân Y-sơ-ra-ên, rồi chung sống với họ; 2. vì vậy người ta rất kinh hãi, bởi vì Ga-ba-ôn là một thành lớn giống như một đế đô, và vì thành đó lớn hơn A-hi và tất cả dân thành đều là những dũng sĩ. 3. Do đó A-đô-ni Xê-đéc, vua của Giê-ru-sa-lem, đã sai người đến với Hô-ham – vua của Hếp-rôn, với Phi-ram – vua của Giạt-mút, với Gia-phia – vua của La-ki, và với Đê-bia – vua của Éc-lôn, nói rằng: 4. “Hãy lên với tôi và giúp tôi đánh Ga-ba-ôn, bởi vì chúng đã cầu hòa với Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên.” 5. Vì vậy năm vua của A-mô-rít là vua của Giê-ru-sa-lem, vua của Hếp-rôn, vua của Giạt-mút, vua của La-ki, và vua của Éc-lôn đã họp lại với nhau tiến lên. Họ và tất cả quân đội của họ đã đóng trại trước Ga-ba-ôn để đánh thành.
  2. Dân Ga-ba-ôn đã sai người đến với Giô-suê tại doanh trại ở Ghinh-ganh, nói rằng: “Xin đừng rút tay và bỏ rơi đầy tớ của ngài. Xin nhanh chóng đến với chúng tôi, giải cứu chúng tôi và giúp đỡ chúng tôi, bởi vì tất cả các vua của A-mô-rít cư ngự trong núi đã hiệp lại để đánh chúng tôi.” 7. Vì vậy, từ Ghinh-ganh Giô-suê, ông cùng tất cả những chiến binh dũng cảm của ông, đã tiến lên.
  3. Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: “Đừng sợ chúng, bởi vì Ta đã phó chúng vào trong tay của ngươi. Không một kẻ nào sẽ đứng nổi trước mặt ngươi.” 9. Vì vậy, từ Ghinh-ganh Giô-suê đã chuyển quân suốt cả đêm, và đã tấn công chúng một cách bất ngờ. 10. Đức Giê-hô-va khiến chúng bị rối loạn trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. Họ đã giết rất nhiều người của chúng tại Ga-ba-ôn, đã rượt theo chúng trên đường đến Bết Hô-rôn, đã đánh giết chúng cho đến tận A-xê-ca và Ma-kê-đa. 11. Chúng đã chạy trốn trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. Khi chúng chạy xuống dốc Bết Hô-rôn, Đức Giê-hô-va khiến mưa đá rất lớn từ trời rơi xuống trên chúng cho đến tận A-xê-ca, khiến chúng bị chết. Số người chết bởi mưa đá nhiều hơn số người chết vì gươm của dân Y-sơ-ra-ên.
  4. Trong ngày Đức Giê-hô-va trao người A-mô-rít cho dân Y-sơ-ra-ên, Giô-suê đã thưa với Đức Giê-hô-va trước mặt Y-sơ-ra-ên rằng: “Hỡi mặt trời! Hãy đứng yên trên Ga-ba-ôn. Hỡi mặt trăng! Hãy dừng lại trên thung lũng A-gia-lôn.” 13. Vì vậy, mặt trời đã đứng yên và mặt trăng đã dừng lại cho đến khi dân chúng đã báo trả những kẻ thù của họ. Không phải điều nầy đã được chép trong sách Gia-sa hay sao? Mặt trời đã dừng lại giữa bầu trời và đã không vội lặn khoảng một ngày trọn. 14. Trước đó hay sau đó, không có một ngày nào như vậy, là lúc Đức Giê-hô-va đã lắng nghe tiếng của một người, bởi vì Đức Giê-hô-va đã chiến đấu cho dân Y-sơ-ra-ên.
  5. Sau đó, Giô-suê cùng tất cả những người Y-sơ-ra-ên đi với ông đã trở về doanh trại tại Ghinh-ganh.
  6. Năm vua chạy trốn, đã ẩn núp trong một hang đá tại Ma-kê-đa. 17. Giô-suê được báo rằng: “Đã tìm thấy năm vua đang trốn trong một hang đá tại Ma-kê-đa.” 18. Giô-suê nói: “Hãy lăn những tảng đá lớn lấp cửa hang, và hãy cử người canh giữ chúng. 19. Các ngươi đừng dừng lại nhưng hãy đuổi theo quân thù của mình, hãy tấn công chúng từ phía sau, đừng để chúng chạy vào thành của chúng, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã phó chúng vào trong tay của các ngươi.”
  7. Khi Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên hoàn tất, họ đã giết rất nhiều người, chỉ trừ những kẻ đã thoát khỏi họ và rút vào trong những thành kiên cố, 21. thì tất cả dân chúng trở về với Giô-suê cách bình an tại doanh trại ở Ma-kê-đa. Không một ai động lưỡi chống lại dân Y-sơ-ra-ên.
  8. Sau đó Giô-suê ra lệnh: “Hãy mở cửa hang và đem năm vua ở trong hang đến cho ta.” 23. Họ đã làm như vậy, đem năm vua ra khỏi hang, đó là vua của Giê-ru-sa-lem, vua của Hếp-rôn, vua của Giạt-mút, vua của La-ki, và vua của Éc-lôn. 24. Sau đó, khi người ta dẫn năm vua đó đến với Giô-suê, Giô-suê đã gọi tất cả người nam của Y-sơ-ra-ên, rồi bảo các sĩ quan của những chiến sĩ đã ra trận với ông: “Hãy đến gần, đạp chân của các ngươi trên cổ của những vua nầy.” Vì vậy, họ đã đến gần, rồi đạp chân của họ trên cổ của những người đó. 25. Giô-suê nói với họ: “Đừng sợ sệt và cũng đừng kinh hãi! Hãy mạnh dạn và can đảm, bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ làm như vậy cho tất cả những kẻ thù địch mà các ngươi sẽ giao chiến.”
  9. Sau đó, Giô-suê cho đánh hạ các vua đó, giết họ, rồi treo xác họ trên năm cái cây. Họ bị treo trên cây như vậy cho đến chiều tối. 27. Khi mặt trời lặn, Giô-suê truyền lệnh cho người ta đem thây xuống khỏi cây, quăng những thây đó vào trong hang đá là nơi họ đã trốn, rồi lấy những tảng đá lớn chặn cửa hang lại, và vẫn còn cho đến ngày nay.
  10. Trong ngày đó, Giô-suê cũng chiếm Ma-kê-đa, ông đã dùng lưỡi gươm diệt cả thành cùng với vua của thành. Ông đã tiêu diệt thành và mọi người trong đó, không để một ai sống sót. Ông đã làm cho vua của Ma-kê-đa như đã làm cho vua của Giê-ri-cô.
  11. Sau đó, Giô-suê cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên vượt qua Ma-kê-đa đến Líp-na để tấn công Líp-na. 30. Đức Giê-hô-va cũng phó thành đó cùng vua của thành vào trong tay của Y-sơ-ra-ên. Ông đã dùng lưỡi gươm diệt cả thành và mọi người trong đó, không để một ai sống sót. Ông đã làm cho vua của thành nầy như đã làm cho vua của Giê-ri-cô.
  12. Sau đó, Giô-suê cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên vượt qua Líp-na đến La-ki. Họ đóng trại để tấn công thành. 32. Đức Giê-hô-va đã phó La-ki vào tay của Y-sơ-ra-ên. Đến ngày thứ hai, họ chiếm được thành. Ông đã dùng lưỡi gươm diệt cả thành và mọi người trong đó như ông đã làm tại Líp-na. 33. Lúc đó, Hô-ram, vua của Ghê-xe, đã đem quân đến cứu La-ki, nhưng Giô-suê đánh bại vua và quân đội của vua cho đến khi không còn một người nào sống sót.
  13. Sau đó, Giô-suê cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên vượt qua La-ki đến Éc-lôn. Họ đóng trại để tấn công thành. 35. Họ đã chiếm được thành ngay hôm đó rồi dùng lưỡi gươm diệt cả thành và mọi người trong đó. Ngay hôm đó, ông đã tiêu diệt thành và làm cho nó như đã làm cho La-ki.
  14. Sau đó, Giô-suê cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên đi từ Éc-lôn lên Hếp-rôn để tấn công nó. 37. Họ đã chiếm thành rồi dùng lưỡi gươm tiêu diệt vua của thành, mọi người trong thành và những thị trấn phụ cận, không để một ai sống sót. Ông đã tận diệt nơi đó và mọi người tại đó như đã làm tại Éc-lôn.
  15. Giô-suê cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên quay sang Đê-bia để tấn công nó. 39. Ông đã chiếm thành, rồi dùng lưỡi gươm tiêu diệt vua của thành, mọi người trong thành và những thị trấn phụ cận, không để một ai sống sót. Ông đã làm cho Hếp-rôn thể nào, ông cũng làm cho Ðê-bi và vua của nó như vậy, như ông đã làm cho Líp-na và vua của nó.
  16. Như vậy Giô-suê đã đánh chiếm toàn miền núi, miền nam, vùng thung lũng, vùng đồi dốc hoang dã, cùng tất cả những vua tại những nơi đó. Ông không để một ai sống sót, tận diệt mọi vật có hơi thở, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền. 41. Giô-suê đã chinh phục từ Ca-đe Ba-nê-a cho đến Ga-xa, toàn vùng Gô-sen cho đến Ga-ba-ôn. 42. Giô-suê đã bắt các vua nầy và chiếm lấy đất của họ chỉ trong một lần bởi vì Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã chiến đấu cho Y-sơ-ra-ên.
  17. Sau đó, Giô-suê cùng tất cả những người Y-sơ-ra-ên đi với ông đã trở về doanh trại tại Ghinh-ganh.

 

11

  1. Một thời gian sau, khi Gia-bin vua của Hát-so nghe tin nầy, ông đã sai sứ giả đến với Giô-báp, vua của Ma-đôn, đến với vua của Sim-rôn, đến với vua của Ạc-sáp, 2. đến với các vua ở miền núi phía bắc, trong đồng bằng Ki-nê-rết ở phía nam, ở vùng thung lũng, và trên cao nguyên Đô-rơ ở phía tây, 3. đến với dân Ca-na-an ở phía đông và phía tây, dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít và dân Giê-bu-sít trong miền núi, dân Hê-vít dưới núi Hẹt-môn trong vùng Mích-pa. 4. Họ đã kéo ra cùng với toàn thể quân đội của họ rất đông người, đông như cát trên bờ biển, cùng với rất nhiều ngựa và xe chiến mã. 5. Tất cả các vua nầy đã họp lại với nhau, họ đã đến đóng quân chung với nhau gần lưu vực của Mê-rôm để đánh Y-sơ-ra-ên.
  2. Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê: “Đừng sợ chúng nó! Bởi vì ngày mai vào giờ nầy, Ta sẽ trao tất cả chúng nó để bị giết trước mặt Y-sơ-ra-ên. Ngươi sẽ cắt nhượng ngựa của chúng nó và phóng hỏa đốt các xe chiến mã của chúng nó.”
  3. Vì vậy, Giô-suê và toàn thể quân đội ông đã kéo đến, bất ngờ tấn công chúng tại lưu vực của Mê-rôm. Chúng đã gục ngã trước mặt họ. 8. Đức Giê-hô-va đã phó chúng vào tay của Y-sơ-ra-ên. Họ đã giết chúng, truy đuổi chúng cho đến Đại Si-đôn, đến Mít-rê-phốt Ma-im, đến thung lũng Mích-pa về phía đông. Họ đã giết chúng và không để một ai sống sót. 9. Giô-suê đã làm cho chúng đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ông. Ông đã cắt nhượng ngựa và phóng hỏa đốt những xe chiến mã của chúng.
  4. Lúc đó, Giô-suê đã quay lại chiếm Hát-so rồi dùng gươm giết vua của thành nầy. Trước kia, Hát-so là thủ lãnh của tất cả những vương quốc đó. 11. Họ dùng gươm giết mọi người trong thành, tiêu diệt chúng hoàn toàn, không để cho một vật có hơi thở nào còn sống sót; rồi ông phóng hỏa đốt thành. 12. Giô-suê đã chiếm tất cả các thành của những vua đó. Ông đã giết các vua đó bằng lưỡi gươm, tiêu diệt chúng hoàn toàn, như Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền. 13. Tuy nhiên, Y-sơ-ra-ên không đốt một thành nào ở trên những gò cao, trừ ra Hát-so mà Giô-suê đã đốt. 14. Dân Y-sơ-ra-ên đã lấy tất cả những chiến lợi phẩm và súc vật của những thành đó cho mình. Họ đã dùng lưỡi gươm giết mọi người để tận diệt chúng, và không để cho một vật có hơi thở nào còn sống sót. 15. Điều gì mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se, đầy tớ của Ngài, thì Môi-se cũng đã truyền lại cho Giô-suê, và Giô-suê làm đúng như vậy. Ông không bỏ sót một điều nào cả trong tất cả những điều mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  5. Như vậy, Giô-suê đã chiếm lấy toàn cả xứ: Những vùng núi, tất cả miền nam, toàn thể vùng Gô-sen, vùng thung lũng và miền đồng bằng, miền núi của Y-sơ-ra-ên, và vùng thung lũng của nó; 17. từ phía núi Ha-lát chạy lên phía Sê-i-rơ cho đến Ba-anh Gát trong thung lũng Li-ban, dưới chân núi Hẹt-môn. Ông đã bắt tất cả các vua ở những nơi đó, đánh họ, rồi giết họ. 18. Giô-suê đã giao chiến với các vua đó một thời gian khá lâu. 19. Không có một thành nào lập hòa ước với dân Y-sơ-ra-ên, trừ ra người Hê-vít ở Ga-ba-ôn. Họ đã chinh phục tất cả các thành bằng chiến tranh. 20. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã làm cho các vua đó cứng lòng, để họ chống cự lại Y-sơ-ra-ên, để rồi họ bị tiêu diệt hoàn toàn và không được thương xót. Ông đã tiêu diệt họ hoàn toàn đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  6. Khi đó, Giô-suê đã đến diệt người A-na-kim khỏi vùng đồi núi, khỏi Hếp-rôn, khỏi Đê-bia, khỏi A-náp, và khỏi tất cả miền đồi núi của Giu-đa, cũng như tất cả miền đồi núi của Y-sơ-ra-ên. Giô-suê tận diệt chúng luôn với những thành của chúng. 22. Không còn người A-na-kim nào trong đất của dân Y-sơ-ra-ên; nhưng họ còn lại ở Ga-xa, Gát, và Ách-đốt.
  7. Như vậy, Giô-suê đã chiếm cả xứ theo như Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se. Giô-suê đã ban nó làm sản nghiệp cho Y-sơ-ra-ên, được phân chia theo từng chi tộc. Sau đó, xứ được yên ổn không còn chiến tranh.

 

12

  1. Đây là các vua trong xứ đã bị dân Y-sơ-ra-ên đánh bại, đất của họ ở bên kia sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc, đã bị chiếm, từ sông Ạt-nôn đến núi Hẹt-môn và cả vùng đồng bằng ở phía đông: 2. Si-hôn, là vua của dân A-mô-rít, sống tại Hết-bôn, cai trị từ A-rô-e, ở bên kia của sông Ạt-nôn, từ vùng giữa sông, từ phân nửa của Ga-la-át, cho đến sông Gia-bốc, là biên giới của dân Am-môn, 3. từ miền đồng bằng cho đến biển Ki-nê-rết ở phía đông, đến tận biển trong đồng bằng tức là Biển Mặn ở phía đông, đường về Bết Giê-si-mốt; và hướng nam dưới chân núi Phích-ga. 4. Vua của Ba-san là Óc, một người còn sót của dân Rê-pha-im, sống tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i. 5. Vua đã cai trị trên núi Hẹt-môn, trên Sanh-ca, trên Ba-san, cho đến biên giới dân Giê-su-rít và dân Ma-ca-thít, phân nửa của Ga-la-át, cho đến biên giới của Si-hôn, vua của Hết-bôn. 6. Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh bại chúng. Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban đất đó cho người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se làm sản nghiệp.
  2. Đây là các vua trong xứ mà Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh bại ở bờ tây của sông Giô-đanh, từ Ba-anh Gát trong thung lũng Li-ban, cho đến núi Ha-lát chạy lên hướng về Sê-i-rơ. Giô-suê đã ban vùng đất đó cho các chi tộc của Y-sơ-ra-ên để được phân chia làm sản nghiệp, 8. gồm miền núi, vùng thung lũng, vùng đồng bằng, vùng đồi dốc, vùng hoang mạc và miền nam – tức là cả vùng đất của dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít: 9. Vua của Giê-ri-cô, vua của A-hi ở cạnh Bê-tên, 10. vua của Giê-ru-sa-lem, vua của Hếp-rôn, 11. vua của Giạt-mút, vua củaLa-ki, 12. vua của Éc-lôn, vua của Ghê-xe, 13. vua của Đê-bia, vua của Ghê-đe, 14. vua của Họt-ma, vua của A-rát, 15. vua của Líp-na, vua của A-đu-lam, 16. vua của Ma-kê-đa, vua của Bê-tên, 17. vua của Tháp-bu-ách, vua của Hê-phe, 18. vua của A-phéc, vua của Sa-rôn, 19. vua của Ma-đôn, vua của Hát-so, 20. vua của Sim-rôn Mê-rôn, vua của Ạc-sáp, 21. vua của Tha-a-nác, vua của Mê-ghi-đô, 22. vua của Kê-đe, vua của Giốc-nê-am tại Cạt-mên, 23. vua của Đô-rơ ở trên cao nguyên Đô-rơ, vua của Gô-im ở Ghinh-ganh, 24. và vua của Tiệt-sa. Tất cả là ba mươi mốt vua.

 

13

  1. Lúc nầy Giô-suê đã già và tuổi đã cao, Đức Giê-hô-va phán cùng ông: “Ngươi đã già và tuổi đã cao, tuy nhiên xứ vẫn còn nhiều nơi chưa được chiếm hữu. 2. Đây là những vùng đất còn lại: Tất cả lãnh thổ của dân Phi-li-tin và tất cả lãnh thổ của dân Ghê-su-rít, 3. từ Si-cô đối diện với Ai Cập cho đến biên giới của Éc-rôn về phía bắc, được kể là xứ của dân Ca-na-an, thuộc về năm lãnh chúa của Phi-li-tin tại Ga-xa, Ách-đốt, Ách-ca-lôn, Gát, và Éc-rôn; đất của dân A-vim, 4. từ phía nam, tất cả đất của dân Ca-na-an và Mê-a-ra, vốn thuộc về dân Si-đôn, cho đến A-phéc, và đến tận biên giới của dân A-mô-rít; 5. đất của dân Ghi-bê-lít, và cả Li-ban về hướng mặt trời mọc, từ Ba-anh Gát ở chân núi Hẹt-môn cho đến lối vào Ha-mát. 6. Tất cả cư dân thuộc miền đồi núi, từ Li-ban cho đến Mít-rê-phốt Ma-im, luôn cả dân Si-đôn, Ta sẽ đuổi chúng khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. Ngươi chỉ cần phân chia, rồi cho dân Y-sơ-ra-ên bắt thăm để nhận đất làm sản nghiệp, như Ta đã truyền cho ngươi. 7. Vì vậy, bây giờ ngươi hãy chia xứ làm sản nghiệp cho chín chi tộc và phân nửa chi tộc của Ma-na-se.”
  2. Phân nửa chi tộc kia, người Ru-bên, và người Gát đã nhận từ Môi-se phần sản nghiệp của mình ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông, như Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã cấp cho họ 9. từ A-rô-e, trên bờ sông Ạt-nôn, là thành ở giữa lưu vực của sông, cùng cả vùng đồng bằng từ Mê-đê-ba cho đến tận Đi-bôn, 10. tất cả các thành của Si-hôn, vua của dân A-mô-rít, trị vì tại Hết-bôn cho đến tận biên giới của dân Am-môn; 11. Ga-la-át, lãnh thổ của dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít, tất cả núi Hẹt-môn, tất cả Ba-san cho đến Sanh-ca, 12. tất cả vương quốc của Óc ở Ba-san, cai trị tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i, và là người còn sót lại của dân Rê-pha-im, mà Môi-se đã triệt hạ và đuổi đi. 13. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên không đuổi dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít; vì vậy dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít vẫn còn ở giữa dân Y-sơ-ra-ên cho đến ngày nay.
  3. Chỉ có chi tộc Lê-vi thì ông không ban cho sản nghiệp. Những tế lễ dâng bằng lửa cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là sản nghiệp của họ, như Ngài đã phán với ông.
  4. Môi-se đã cấp sản nghiệp cho con cháu của Ru-bên theo gia tộc của họ. 16. Bờ cõi của họ chạy từ A-rô-e trên bờ sông Ạt-nôn, là thành ở giữa lưu vực của sông, cùng tất cả bình nguyên Mê-đê-ba; 17. Hết-bôn và tất cả các thị trấn nằm trong bình nguyên: Đi-bôn, Ba-mốt Ba-anh và Bết-Ba-anh Mê-ôn, 18. Gia-hát, Kê-đê-mốt, Mê-phát, 19. Ki-ri-át-ta-im, Xíp-ma, Xê-rết Sa-ha nằm trên đồi trong thung lũng, 20. Bết Pê-o, các triền núi Pít-ga và Bết Giê-si-mốt, 21. tất cả các thị trấn trong bình nguyên và toàn thể vương quốc của Si-hôn, vua của dân A-mô-rít, đã cai trị tại Hết-bôn, là người mà Môi-se đã đánh bại chung với những lãnh đạo của Ma-đi-an là Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ, và Rê-ba, là các vương hầu của Si-hôn ở trong xứ đó. 22. Dân Y-sơ-ra-ên đã giết Ba-la-am, con trai của Bê-ô, một thuật sĩ, chung với những người bị họ tiêu diệt. 23. Ranh giới của con cháu Ru-bên lấy sông Giô-đanh làm ranh giới. Đó là sản nghiệp của con cháu Ru-bên theo các gia tộc, các thành phố, và các làng mạc của họ.
  5. Môi-se đã cấp cho chi tộc Gát, theo từng gia tộc của con cháu Gát. 25. Lãnh thổ của họ gồm Gia-ê-xe, tất cả các thành của Ga-la-át, phân nửa xứ của con cháu Am-môn, cho đến A-rô-e đối diện với Ráp-ba; 26. từ Hết-bôn cho đến Ra-mát Mít-pê và Bê-tô-nim; từ Ma-ha-na-im cho đến biên giới của Đê-bia. 27. Trong thung lũng có Bết Ha-ram, Bết Nim-ra, Su-cốt, và Xa-phôn, tức là phần còn lại trong vương quốc của Si-hôn, vua của Hết-bôn, sông Giô-đanh và biên cương của nó cho đến bờ biển Ki-nê-rết ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông. 28. Đó là sản nghiệp của con cháu Gát theo các gia tộc, các thành phố, và các làng mạc của họ.
  6. Môi-se đã cấp cho phân nửa chi tộc Ma-na-se, theo từng gia tộc của phân nửa con cháu của Ma-na-se. 30. Lãnh thổ của họ bao gồm Ma-ha-na-im, toàn vùng Ba-san, cả vương quốc của Óc, vua của Ba-san, và tất cả các thị trấn của Giai-rơ thuộc Ba-san, có sáu mươi thành; 31. phân nửa của Ga-la-át; Ách-ta-rốt và Ết-rê-i, là những thành thuộc vương quốc của Óc tại Ba-san, được cấp cho phân nửa con cháu Ma-ki, chít của Ma-na-se, theo từng gia tộc của họ.
  7. Đó là những sản nghiệp mà Môi-se đã phân chia tại vùng bình nguyên Mô-áp, ở bên kia sông Giô-đanh, về phía đông của Giê-ri-cô. 33. Nhưng Môi-se không cấp sản nghiệp nào cho chi tộc Lê-vi, bởi vì Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, chính là phần sản nghiệp của họ, như Ngài đã phán với họ.

 

14

  1. Đây là những sản nghiệp mà dân Y-sơ-ra-ên đã nhận trong xứ Ca-na-an, do Tư tế Ê-lê-a-sa, Giô-suê con trai của Nun, cùng với các trưởng tộc trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên đã phân chia để làm sản nghiệp cho họ. 2. Họ đã bắt thăm để chia sản nghiệp cho chín chi tộc và phân nửa chi tộc như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se; 3. bởi vì Môi-se đã cấp sản nghiệp cho hai chi tộc và phân nửa chi tộc ở bên kia sông Giô-đanh; còn chi tộc Lê-vi thì ông không cấp sản nghiệp nào ở giữa họ cả; 4. còn con cháu của Giô-sép thì có hai chi tộc là Ma-na-se và Ép-ra-im. Vì vậy, họ đã không cấp lãnh thổ nào cho người Lê-vi ở trong xứ, nhưng chỉ cấp cho những thành để ở cùng với đất đai chung quanh những nơi đó cho các bầy súc vật và tài sản của họ. 5. Dân Y-sơ-ra-ên đã phân chia đất đai đúng theo điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  2. Sau đó, các con cháu của Giu-đa đã đến với Giô-suê tại Ghinh-ganh. Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, người Kê-nít, đã nói với ông rằng: “Ông biết lời của Đức Giê-hô-va đã phán về ông và tôi với Môi-se, là người của Đức Chúa Trời, tại Ca-đe Ba-nê-a. 7. Tôi được bốn mươi tuổi khi Môi-se, người của Đức Giê-hô-va, đã sai tôi từ Ca-đe Ba-nê-a đi do thám xứ, và tôi đã tường trình lại cho người những lời xuất phát từ tấm lòng của tôi. 8. Trong khi các anh em đi do thám với tôi đã làm cho lòng của dân chúng tan chảy, thì tôi vẫn hết lòng theo Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của tôi. 9. Trong ngày đó, Môi-se đã thề rằng: Thật vậy, vùng đất mà chân ngươi đạp đến chắc chắn sẽ là sản nghiệp của ngươi và con cháu của ngươi đời đời, bởi vì ngươi đã trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ta. 10. Bây giờ, hãy xem! Đã bốn mươi lăm năm từ lúc Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se điều đó trong lúc Y-sơ-ra-ên còn lưu lạc trong sa mạc. Đức Giê-hô-va đã gìn giữ cho tôi còn sống cho đến bây giờ như lời Ngài đã phán. Bây giờ hãy xem, ngày nay tôi đã được tám mươi lăm tuổi. 11. Dầu vậy, bây giờ tôi vẫn mạnh khỏe như ngày Môi-se đã sai tôi đi. Sức lực của tôi bây giờ vẫn mạnh mẽ như sức lực của tôi lúc đó, và vẫn có thể bước vào hay xông ra chiến trận. 12. Vì vậy, bây giờ xin hãy ban cho tôi vùng núi này mà Đức Giê-hô-va đã phán vào lúc đó, bởi vì ông đã nghe từ lúc đó rằng dân A-na-kim với những thành rộng lớn và kiên cố vẫn còn tại đó. Nếu Đức Giê-hô-va ở cùng tôi, tôi sẽ xua đuổi chúng như Đức Giê-hô-va đã phán.”
  3. Vì vậy, Giô-suê đã chúc phước, rồi ban Hếp-rôn cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, làm sản nghiệp. 14. Do đó, Hếp-rôn đã trở thành sản nghiệp của Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, người Kê-nít, cho đến ngày nay, bởi vì ông đã trọn thành đi theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 15. Tên của Hếp-rôn trước kia được gọi là Ki-ri-át A-ra-ba – một nhân vật vĩ đại trong dân A-na-kim.

Xứ sở được bình yên khỏi chiến tranh.

 

15

  1. Phần đất bốc thăm cho chi tộc thuộc về con cháu của Giu-đa, theo từng gia tộc, trải dài đến biên giới của Ê-đôm về phía nam của hoang mạc Xin, tại nơi xa nhất về phía nam. 2. Ranh giới phía nam của họ bắt đầu từ bờ của Biển Muối, tức là từ vùng vịnh hướng về phương nam, 3. vượt qua phía nam của đèo Ạc-ráp-bim, đi ngang qua Xin, đi lên phía nam cho đến Ca-đe Ba-nê-a, đi ngang qua Hết-rôn, lên Át-đa, rồi vòng qua Cạt-ca, 4. đi xuyên qua Át-môn, vào lưu vực của Ai Cập, rồi kết thúc tại bờ biển. Đó sẽ là ranh giới phía nam của các ngươi. 5. Ranh giới phía đông là Biển Muối, cho đến cửa sông Giô-đanh. Ranh giới phía bắc chạy từ vùng vịnh, từ nơi xa nhất của cửa sông Giô-đanh 6. đi lên Bết Hốt-la, xuyên qua phía bắc của Bết A-ra-ba, rồi đi lên về hướng vầng đá Bô-han, thuộc về dòng dõi của Ru-bên. 7. Ranh giới tiếp tục đi lên Ðê-bia, từ thung lũng A-cô chạy về hướng bắc, hướng về Ghinh-ganh, đối diện đèo A-đu-mim tại phía nam của thung lũng; ranh giới tiếp tục chạy về những dòng suối tại Ên-sê-mết, rồi rời khỏi đó tại Ên Rô-ghên. 8. Từ đó, ranh giới chạy lên gần thung lũng Bên Hi-nôm, dọc theo sườn đồi phía nam của Giê-bu, tức là Giê-ru-sa-lem, rồi chạy lên cho đến đỉnh núi nằm đối diện thung lũng Hi-nôm về hướng tây, ở cuối phía bắc của thung lũng Rê-pha-im. 9. Ranh giới lại chạy từ đỉnh núi đến suối nước Nép-thô-ách, kéo dài về hướng các thành của núi Ép-rôn, rồi chạy xuống gần Ba-la, là Ki-ri-át Giê-a-rim. 10. Ranh giới chạy vòng từ Ba-la qua hướng tây đến núi Sê-i-rơ, rồi bọc theo sườn phía bắc của núi Giê-a-rim, tức là Kê-sa-lôn, chạy xuống đến Bết Sê-mết, rồi xuyên qua Thim-na. 11. Ranh giới chạy theo triền núi phía bắc của Éc-rôn, rồi vòng về Siếc-rôn, chạy qua núi Ba-la, thẳng đến Giáp-nê-ên, rồi dừng lại ở biển. 12. Ranh giới phía tây là bờ Biển Lớn. Đó là bờ cõi của con cháu Giu-đa, theo từng gia tộc của họ.
  2. Theo lệnh của Đức Giê-hô-va truyền cho Giô-suê, ông đã cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, một phần đất giữa vòng người Giu-đa. Đó là thành của A-ra-ba, cha của A-nác, là thành Hếp-rôn. 14. Ca-lép đã đánh đuổi ba con trai của A-nác, là Sê-sai, A-hi-man, và Tha-mai – Họ là những con cháu của A-nác. 15. Từ đó ông đi lên đánh cư dân của Đê-bia. Tên của Đê-bia trước kia là Ki-ri-át Sê-phe. 16. Ca-lép nói: “Ta sẽ gả con gái của ta là Ạc-sa cho người nào đánh và chiếm lấy Ki-ri-át Sê-phe.” 17. Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, một người anh em của Ca-lép, đã chiếm được thành. Ca-lép đã gả con gái của ông là Ạc-sa cho chàng làm vợ. 18. Sau khi về với Ốt-ni-ên, nàng đã thuyết phục chàng xin cha của nàng một vùng đất. Khi nàng xuống lừa, Ca-lép hỏi: “Con muốn điều gì?” 19. Nàng đã trả lời: “Xin cha ban phước cho con. Bởi vì cha đã ban cho con vùng đất ở phương nam, xin cha hãy ban cho con những suối nước.” Ông đã cho nàng những suối nước ở miền trên và những suối nước ở miền dưới.
  3. Đó là sản nghiệp của chi tộc Giu-đa, theo từng gia tộc của họ.
  4. Những thành phía cực nam thuộc về chi tộc của con cháu Giu-đa, về hướng biên giới của Ê-đôm, là Cáp-xê-ên, Ê-đe, Gia-gua, 22. Ki-na, Đi-mô-na, A-đê-a-đa, 23. Kê-đe, Hát-so, Gít-nan, 24. Xíp, Tê-lem, Bê-a-lốt, 25. Hát-so Ha-đa-tha, Kê-ri-giốt Hết-rôn, tức là Hát-so, 26. A-mam, Sê-ma, Mô-la-đa, 27. Hát-sa-ga-đa, Hết-môn, Bết Pha-lết, 28. Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba, Bi-sốt-gia, 29. Ba-la, Y-dim, Ê-xem, 30. Ê-thô-lát, Kê-sinh, Họt-ma, 31. Xiếc-lác, Mát-ma-na, San-sa-na, 32. Lê-ba-ốt, Si-lim, A-in, và Rim-môn: Tất cả là hai mươi chín thành cùng với những làng mạc của chúng.
  5. Trong vùng thung lũng có:

Ết-tha-ôn, Xô-rê-a, Át-na, 34. Xa-nô-ách, Ên Ga-nim, Tháp-bu-ách, Ên-nam, 35. Giạt-mút, A-đu-lam, Sô-cô, A-xê-ca, 36. Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im, Ghê-đê-ra, và Ghê-đê-rô-tha-im: Tất cả là mười bốn thành cùng với những làng mạc của chúng.

  1. Xê-nan, Ha-đa-sa, Mích-đanh Gát, 38. Đi-lan, Mích-pê, Giốc-thê-ên, 39. La-ki, Bốt-cát, Éc-lôn, 40. Cáp-bôn, Lách-ma, Kít-lít, 41. Ghê-đê-rốt, Bết Đa-gôn, Na-a-ma, và Ma-kê-đa: Tất cả là mười sáu thành cùng với những làng mạc của chúng.
  2. Líp-na, Ê-the, A-san, 43. Díp-tách, Át-na, Nết-síp, 44. Kê-i-la, Ạc-xíp, và Ma-rê-sa: Tất cả là chín thành cùng với những làng mạc của chúng.
  3. Éc-rôn với những thị trấn và làng mạc của nó. 46. Tất cả các thành ở gần Ách-đốt cùng với những làng mạc của chúng từ Éc-rôn cho đến biển. 47. Ách-đốt, các thị trấn và những làng mạc của nó. Ga-xa, các thị trấn và những làng mạc của nó cho đến lưu vực của Ai Cập và bờ Biển Lớn.
  4. Trong miền núi có:

Sa-mia, Giạt-thia, Sô-cô, 49. Đa-na, Ki-ri-át Sa-na, tức là Đê-bia, 50. A-náp, Ết-thê-mô, A-nim, 51. Gô-sen, Hô-lôn, Ghi-lô: Tất cả là mười một thành cùng với những làng mạc của chúng.

  1. A-ráp, Ru-ma, Ê-sê-an, 53. Gia-num, Bết Tháp-bu-ách, A-phê-ca, 54. Hum-ta, Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, và Si-ô: Tất cả là chín thành cùng với những làng mạc của chúng.
  2. Ma-ôn, Cạt-mên, Xíp, Giu-ta, 56. Gít-rê-ên, Giốc-đê-am, Xa-nô-ách, 57. Ca-in, Ghi-bê-a, và Thim-na: Tất cả là mười thành cùng với những làng mạc của chúng.
  3. Hanh-hun, Bết Xu-rơ, Ghê-đô, 59. Ma-a-rát, Bết A-nốt, và Ên-thê-côn: Tất cả là sáu thành cùng với những làng mạc của chúng.
  4. Ki-ri-át Ba-anh, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim, và Ráp-ba: Tất cả là hai thành cùng với những làng mạc của chúng.
  5. Trong hoang mạc có Bết A-ra-ba, Mi-đin, Sê-ca-ca, 62. Níp-san, thành phố Muối, và Ên-ghê-đi: Tất cả là sáu thành cùng với những làng mạc của chúng.
  6. Người Giu-đa không đuổi được dân Giê-bu-sít ở tại Giê-ru-sa-lem cho nên dân Giê-bu-sít còn sống chung với người Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay.

 

16

  1. Phần đất bốc thăm cho con cháu của Giô-sép bắt đầu từ sông Giô-đanh, bên cạnh Giê-ri-cô, tại phía đông của những dòng suối ở Giê-ri-cô, chạy lên hoang mạc, và từ Giê-ri-cô xuyên qua vùng đồi núi của Bê-tên, 2. từ Bê-tên, tức là Lu-xơ, vượt qua lãnh thổ của dân A-rê-kít tại A-ta-rốt, 3. xuống phía tây đến lãnh thổ của người Giáp-lê-tít, đến tận lãnh thổ của Bết Hô-rôn Hạ, đến Ghê-xe, rồi kết thúc tại bờ biển.
  2. Các con trai của Giô-sép là Ma-na-se và Ép-ra-im đã nhận lãnh phần sản nghiệp của họ.
  3. Đây là lãnh thổ của con cháu Ép-ra-im theo gia tộc của họ. Ranh giới của sản nghiệp họ bắt đầu từ phía đông của A-ta-rốt Át-đa chạy dài đến miền trên của Bết Hô-rôn. 6. Từ đó ranh giới của họ chạy ra hướng biển. Về hướng bắc, ranh giới của họ bắt đầu từ bờ biển đi dọc theo ranh giới phía bắc của Mít-mê-thát. Về phía đông, ranh giới vòng về Tha-a-nát Si-lô, và chạy về phía đông đến Gia-nô-ách, 7. rồi từ Gia-nô-ách chạy xuống A-ta-rốt, tới Na-ra-tha, đến Giê-ri-cô, rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. 8. Từ Tháp-bu-ách, ranh giới nầy chạy về hướng tây đến suối Ca-na, rồi dừng lại ở biển. Đó là sản nghiệp của chi tộc Ép-ra-im, theo từng gia tộc của họ.
  4. Ngoài những thành và làng mạc đó, người Ép-ra-im cũng có những thành dành riêng cho họ trong sản nghiệp của người Ma-na-se. 10. Tuy nhiên, họ không đuổi dân Ca-na-an tại Ghê-xe cho nên dân Ca-na-an vẫn ở giữa Ép-ra-im cho đến ngày nay – chúng bị buộc phải phục dịch lao động.

 

17

  1. Cũng có phần bắt thăm chia cho chi tộc Ma-na-se, bởi vì ông là con đầu lòng của Giô-sép. Con đầu lòng của Ma-na-se là Ma-ki, cha của Ga-la-át, là một chiến sĩ, cho nên đã được cấp cho vùng đất Ga-la-át và Ba-san. 2. Các con cháu khác của Ma-na-se cũng được bắt thăm chia đất theo từng gia tộc của họ: Con cháu của A-bi-ê-se, con cháu của Hê-léc, con cháu của Át-ri-ên, con cháu của Si-chem, con cháu của Hê-phe, con cháu của Sê-mi-đa. Ma-na-se là con trai của Giô-sép. Những người nầy là con cháu của ông theo từng gia tộc của họ.
  2. Tuy nhiên, Xê-lô-phát, con trai của Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, không có con trai, chỉ có các con gái tên là: Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa. 4. Họ đã đến trước Tư tế Ê-lê-a-sa, Giô-suê con trai của Nun, và trước các vị lãnh đạo mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se ban cho chúng tôi một phần sản nghiệp ở giữa vòng các anh em của chúng tôi.” Vì vậy, ông đã vâng lệnh Đức Giê-hô-va cấp cho họ một phần sản nghiệp như những anh em của cha của họ. 5. Ma-na-se được chia mười phần, không kể đất Ga-la-át và Ba-san ở bên kia sông Giô-đanh, 6. bởi vì các con gái của Ma-na-se có một phần sản nghiệp cùng với các con trai của ông, còn đất Ga-la-át thì được chia cho các con trai khác của Ma-na-se.
  3. Ranh giới của Ma-na-se từ A-se đến Mít-mê-thát đối diện Si-chem, rồi chạy dọc theo ranh giới phía nam của cư dân tại Ên Tháp-bu-ách. 8. Đất Tháp-bu-ách thuộc về Ma-na-se, nhưng thị trấn Tháp-bu-ách tại ranh giới của Ma-na-se thì thuộc về con cháu của Ép-ra-im. 9. Từ đó, ranh giới chạy xuống đến suối Ca-na. Ở phía nam của suối nầy, có những thành thuộc về Ép-ra-im trong số những thành của Ma-na-se. Ranh giới của Ma-na-se ở phía bắc của suối, và rồi dừng lại ở biển. 10. Phía nam thuộc về Ép-ra-im, phía bắc thuộc về Ma-na-se, và biển là ranh giới. Về phía bắc, ranh giới tiếp giáp với A-se, về phía đông tiếp giáp với Y-sa-ca. 11.Trong địa phận Y-sa-ca và A-se, Ma-na-se còn có Bết Sê-an cùng các thị trấn của nó, Gíp-lê-am cùng các thị trấn của nó, cư dân của Đô-rơ cùng các thị trấn của nó, cư dân của Ên-đô-rơ cùng các thị trấn của nó, cư dân của Tha-na-ác cùng các thị trấn của nó, cư dân của Mê-ghi-đô cùng các thị trấn của nó, cùng ba vùng cao. 12. Tuy nhiên, người Ma-na-se chưa xua đuổi cư dân của những thành đó, cho nên người Ca-na-an vẫn sống trong vùng này. 13. Một thời gian sau, khi dân Y-sơ-ra-ên trở nên hùng mạnh, họ bắt dân Ca-na-an làm lao dịch, nhưng không xua đuổi tất cả chúng.
  4. Con cháu của Giô-sép đã nói với Giô-suê rằng: “Đức Giê-hô-va đã ban phước cho chúng tôi. Hiện nay, dân số của chúng tôi rất đông. Tại sao ông chỉ cho chúng tôi một phần đất để làm sản nghiệp?” 15. Giô-suê nói với họ: “Nếu dân của các ngươi đông, và nếu vùng đồi núi của Ép-ra-im quá chật cho các ngươi, các ngươi hãy đi lên rừng, trong xứ của người Phê-rê-sít và người Rê-pha-im, khai khẩn đất cho chính mình.” 16. Con cháu của Giô-sép nói: “Miền núi vẫn không đủ cho chúng tôi; hơn nữa tất cả dân Ca-na-an sống trong thung lũng, là những dân sống tại Bết Sê-an và những thị trấn của của nó và những dân sống trong thung lũng Giê-rê-ên, đều có xe chiến mã bọc sắt.” 17. Giô-suê nói với nhà Giô-sép, tức là Ép-ra-im và Ma-na-se, rằng: “Các ngươi là một dân đông, rất hùng mạnh, các ngươi không phải chỉ có một phần sản nghiệp, 18. nhưng cả vùng đồi núi thuộc về các ngươi. Dù là rừng rậm, các ngươi sẽ khai phá, và sẽ trở thành lãnh thổ của các ngươi. Các ngươi sẽ trục xuất được dân Ca-na-an, dù chúng hùng mạnh và có xe chiến mã.”

 

18

  1. Tất cả hội chúng của dân Y-sơ-ra-ên đã nhóm hiệp tại Si-lô và họ đã dựng Lều Hội Kiến tại đó. Toàn xứ đã bị khuất phục trước mặt của họ.
  2. Nhưng trong dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn bảy chi tộc chưa được phân chia sản nghiệp. 3. Giô-suê nói với dân Y-sơ-ra-ên: Các ngươi còn chần chờ cho đến khi nào mới đi chiếm xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi đã ban cho các ngươi? 4. Giữa vòng các ngươi, mỗi chi tộc hãy chỉ định ba người, rồi ta sẽ sai họ đi. Họ sẽ đứng dậy đi khắp xứ, khảo cứu địa hình, rồi trở về cùng ta. 5. Họ sẽ chia xứ làm bảy phần. Giu-đa sẽ giữ nguyên địa phận của mình ở miền nam. Nhà Giô-sép sẽ giữ nguyên địa phận của mình ở miền bắc. 6. Vì vậy, các ngươi hãy khảo sát xứ, rồi chia làm bảy phần, và đem đến đây cho ta. Ta sẽ bắt thăm cho các ngươi tại đây trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta. 7. Tuy nhiên, người Lê-vi không được lãnh phần đất nào giữa vòng các ngươi bởi vì chức vụ tế lễ cho Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của họ. Gát, Ru-bên, và phân nửa chi tộc Ma-na-se đã nhận sản nghiệp của họ ở phía đông của sông Giô-đanh mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban cho họ.
  3. Những người đó đã đứng dậy ra đi. Giô-suê truyền cho họ đi khảo sát địa hình, và nói: “Hãy đi xuyên suốt cả xứ, khảo sát nó, rồi trở lại với ta. Ta sẽ bắt thăm cho các ngươi tại đây – tại Si-lô – trước mặt Đức Giê-hô-va.” 9. Vì vậy những người đó đã đi xuyên suốt cả xứ, mô tả các thành làm bảy phần trong một cuộn sách, rồi trở về doanh trại với Giô-suê tại Si-lô. 10. Giô-suê đã bắt thăm cho họ tại Si-lô trước mặt Đức Giê-hô-va. Tại đó, Giô-suê đã chia đất cho dân Y-sơ-ra-ên theo phần của họ.
  4. Phần bắt thăm phân chia cho chi tộc của con cháu Bên-gia-min, theo những gia tộc của họ, ra trước. Lãnh thổ bắt thăm của họ nằm giữa lãnh thổ của con cháu Giu-đa và của con cháu Giô-sép. 12. Về phía bắc, ranh giới của họ từ sông Giô-đanh, ranh giới đi dọc theo triền núi phía bắc của Giê-ri-cô, rồi đi lên xuyên qua vùng núi ở hướng tây, và dừng lại tại hoang mạc Bết A-vên. 13. Từ đó ranh giới chạy thẳng về hướng về Lu-xơ đến phía nam của Lu-xơ, tức là Bê-tên, rồi chạy xuống A-ta-rốt A-đa, gần ngọn đồi về phía nam của Bết Hô-rôn Hạ. 14. Ranh giới tiếp tục đi vòng từ phía tây qua phía nam, tức là từ núi đối diện Bết Hô-rôn về phía nam, rồi dừng lại tại Ki-ri-át Ba-anh, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim, là thành của con cháu Giu-đa. Đó là ranh giới phía tây. 15. Ranh giới phía nam bắt đầu từ ngoại thành của Ki-ri-át Giê-a-rim, ranh giới chạy về hướng tây, đến dòng suối thuộc lưu vực của Nép-thô-ách. 16. Ranh giới đi xuống đến chân núi đối diện thung lũng Bên Hi-nôm, đến phía bắc của thung lũng Rê-pha-im, chạy xuống thung lũng Hi-nôm, hướng về phía nam của Giê-bu, rồi xuống đến Ên Rô-ghên. 17. Từ đó nó vòng lên hướng bắc, đến Ên-sê-mết, tiếp tục chạy về Ghê-li-lốt, đối ngang đèo A-đu-mim, chạy xuống vầng đá Bô-han thuộc về con cháu của Ru-bên. 18. Ranh giới chạy ngang qua sườn núi phía bắc của Bết A-ra-ba, rồi xuống đến A-ra-ba. 19. Ranh giới quay sang sườn núi phía bắc của Bết Hốt-la, tiếp giáp vịnh phía bắc của Biển Muối tại cửa sông phía nam của Giô-đanh. Đó là ranh giới về phía nam. 20. Sông Giô-đanh là ranh giới phía đông của họ. Ðó là sản nghiệp của con cháu Bên-gia-min, được phân chia theo những gia tộc của họ, cùng với những ranh giới bao quanh.
  5. Những thành phố của chi tộc thuộc con cháu Bên-gia-min, theo những gia tộc của họ, đó là:

Giê-ri-cô, Bết Hốt-la, Ê-méc-kê-sít, 22. Bết A-ra-ba, Xê-ma-ra-im, Bê-tên, 23. A-vim, Pha-ra, Óp-ra, 24. Kê-pha A-mô-nai, Óp-ni, và Ghê-ba: Tất cả là mười hai thành và những làng mạc của chúng.

  1. Ga-ba-ôn, Ra-ma, Bê-ê-rốt, 26. Mích-pê, Kê-phi-ra, Một-sa, 27. Rê-kem, Giệt-bê-ên, Tha-rê-a-la, 28. Xê-la, Ê-lép, Giê-bu, tức là Giê-ru-sa-lem, Ghi-bê-át, Ki-ri-át. Tất cả là mười bốn thành với những làng mạc của chúng.

Đó là sản nghiệp của con cháu Bên-gia-min theo từng gia tộc của họ.

 

19

  1. Phần bắt thăm thứ nhì thuộc về chi tộc Si-mê-ôn. Sản nghiệp của con cháu của Si-mê-ôn theo các gia tộc của họ ở giữa sản nghiệp của con cháu Giu-đa. 2. Sản nghiệp của họ gồm có Bê-e Sê-ba, Sê-ba, Mô-la-đa, 3. Hát-sa Su-anh, Ba-la, Ê-xem, 4. Ên-thô-lát, Bê-thu, Họt-ma, 5. Xiếc-lác, Bết Ma-ca-bốt, Hát-sa Su-sa, 6. Bết Lê-ba-ốt, và Sê-a-ru-chen: Tất cả là mười ba thành cùng với những làng mạc của chúng. 7. A-in, Rim-môn, Ê-the, và A-san. Tất cả là bốn thành cùng với những làng mạc của chúng, 8. luôn với tất cả các làng xung quanh những thành đó cho đến Ba-lát-bê-e, tức là Ra-ma ở miền nam. Đó là sản nghiệp của chi tộc Si-mê-ôn theo từng gia tộc của họ. 9. Sản nghiệp của con cháu Si-mê-ôn lấy từ phần đất của con cháu Giu-đa bởi vì phần đất của con cháu Giu-đa rất rộng, cho nên con cháu của Si-mê-ôn được sản nghiệp ở giữa phần đất của họ.
  2. Phần bắt thăm thứ ba thuộc về con cháu của Sa-bu-lôn theo các gia tộc của họ. Ranh giới sản nghiệp của họ đến tận Sa-rít, 11. ranh giới đi lên phía tây, về hướng Ma-rê-a-la, gặp Đáp-bê-sết, rồi đến dòng suối đối diện với Giốc-nê-am. 12. Từ Sa-rít, ranh giới vòng qua hướng đông, tức hướng mặt trời mọc, dọc theo ranh giới của Kít-lốt Tha-bô, rồi đi về hướng Đáp-bê-rát, lên đến Gia-phia. 13. Từ đó, nó chạy về phía đông, tức hướng mặt trời mọc, đến Gát Hê-phe và Ết Cát-sin, đến Rim-môn, rồi Nê-a. 14. Sau đó, ranh giới đi vòng lên phía bắc về hướng Ha-na-thôn, rồi dừng lại ở thung lũng Díp-thách Ên. 15. Ngoài ra còn có các thành Cát-tát, Na-ha-la, Sim-rôn, Di-đê-a-la, và Bết-lê-hem. Tất cả là mười hai thành cùng với những làng mạc của chúng. 16. Ðó là sản nghiệp của con cháu Sa-bu-lôn theo các gia tộc, các thành, và các làng mạc của họ.
  3. Phần bắt thăm thứ tư thuộc về Y-sa-ca, dành cho con cháu của Y-sa-ca theo các gia tộc của họ. 18. Ranh giới của họ gồm có Gít-rê-ên, Kê-su-lốt, Su-nem, 19. Ha-pha-ra-im, Si-ôn, A-na-cha-rát, 20. Ra-bít, Ki-si-ôn, Ê-bết, 21. Rê-mết, Ên Ga-nim, Ên Ha-đa, và Bết Phát-sết. 22. Ranh giới chạy đến Tha-bô, Sa-chát-si-ma, và Bết Sê-mết, rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. Tất cả là mười sáu thành cùng với những làng mạc của chúng. 23. Ðó là sản nghiệp của con cháu Y-sa-ca theo các gia tộc, các thành, và các làng mạc của họ.
  4. Phần bắt thăm thứ năm thuộc về chi tộc của con cháu A-se theo các gia tộc của họ. 25. Ranh giới của họ bao gồm: Hên-cát, Ha-li, Bê-ten, Ạc-sáp, 26. A-lam-mê-léc, A-mê-át, và Mi-sê-anh. Phía tây, ranh giới gặp Cạt-mên và khe Líp-nát, 27. rẽ qua hướng mặt trời mọc, đến Bết Đa-gôn, gặp Sa-bu-lôn và thung lũng Díp-thách Ên ở về phía bắc của Bết Ê-méc và Nê-i-ên, rồi chạy qua bên trái của Ca-bun, 28. đến Ếp-rôn, Rê-hốp, Ham-môn, Ca-na cho đến ngoại vi của Si-đôn. 29. Từ đó, ranh giới quay về hướng Ra-ma, đến thành kiên cố Ty-rơ, quay sang Hô-sa, ra đến tận biển tại Ạc-xíp, 30. U-ma, A-phéc, và Rê-hốp. Tất cả là hai mươi hai thành cùng với những làng mạc của chúng. 31. Ðó là sản nghiệp của con cháu A-se theo các gia tộc, các thành, và các làng mạc của họ.
  5. Phần bắt thăm thứ sáu thuộc về con cháu của Nép-ta-li, được dành cho con cháu của Nép-ta-li theo các gia tộc của họ. 33. Ranh giới của họ chạy từ Hê-lép, từ cây đại thụ ở Sa-na-nim đi về hướng A-đa-mi Nê-kép và Giáp-nê-ên cho đến Lạc-cum rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. 34. Sau đó, ranh giới vòng qua hướng tây, đi đến Át-nốt Tha-bô, rồi từ đó chạy đến Hục-cốc, tiếp giáp với ranh giới của Sa-bu-lôn ở phía nam, A-se ở phía tây, và Giu-đa tại sông Giô-đanh về phía mặt trời mọc. 35. Các thành kiên cố là Xi-đim, Xe-rơ, Ha-mát, Ra-cát, Ki-nê-rết, 36. A-đa-ma, Ra-ma, Hát-so, 37. Kê-đe, Ết-rê-i, Ên Hát-so, 38. Gi-rê-ôn, Mít-đa-ên, Hô-rem, Bết A-nát, và Bết Sê-mết. Tất cả là mười chín thành cùng với những làng mạc của chúng. 39. Ðó là sản nghiệp của con cháu Nép-ta-li theo các gia tộc, các thành, và các làng mạc của họ.
  6. Phần bắt thăm thứ bảy thuộc về chi tộc của con cháu Đan theo các gia tộc của họ. 41. Ranh giới của họ gồm Xô-rê-a, Ết-tha-ôn, Yết Sê-mết, 42. Sa-la-bin, A-gia-lôn, Gít-la, 43. Ê-lôn, Thim-na-tha, Éc-rôn, 44. Ên-the-kê, Ghi-bê-thôn, Ba-lát, 45. Giê-hút, Bê-nê Bê-rác, Gát Rim-môn, 46. Mê Giạt-côn, và Ra-côn, cùng với phần đất đối diện Gia-phô. 47. Con cháu của người Đan phải tiến chiếm lãnh thổ của họ. Người Đan đã đi lên đánh Lê-sem, chiếm nó, dùng lưỡi gươm tiêu diệt rồi chiếm nó làm sản nghiệp, và định cư tại đó. Họ đã gọi Lê-sem là Đan theo tên tổ phụ của họ. 48. Ðó là sản nghiệp của chi tộc thuộc con cháu của Đan, theo các gia tộc, các thành, và các làng mạc của họ.
  7. Sau khi đã chia ranh giới của đất để làm sản nghiệp cho các chi tộc xong, người Y-sơ-ra-ên đã tặng cho Giô-suê, con trai của Nun, một sản nghiệp ở giữa họ. 50. Theo lời của Đức Giê-hô-va, dân Y-sơ-ra-ên đã cấp cho ông cái thành mà ông yêu cầu, đó là thành Thim-nát Sê-rách trong vùng núi Ép-ra-im. Ông đã xây dựng thành phố rồi định cư tại đó.
  8. Đó là các sản nghiệp mà Tư tế Ê-lê-a-sa, Giô-suê con trai của Nun, và các trưởng tộc của các chi tộc trong dân Y-sơ-ra-ên đã phân chia sản nghiệp theo cách bắt thăm tại Lều Hội Kiến, ở Si-lô, trước mặt của Đức Giê-hô-va. Như vậy họ đã hoàn tất việc phân chia đất.

 

20

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên như thế nầy: Các ngươi hãy biệt riêng ra cho mình một số thành ẩn náu mà Ta đã truyền cho các ngươi bởi Môi-se. 3. Những người ngộ sát hay vô ý làm cho một người bị chết có thể chạy đến đó ẩn náu. Những thành đó sẽ trở thành những nơi trú ẩn cho các ngươi khỏi những kẻ đòi nợ máu. 4. Khi một người ngộ sát chạy đến một thành trong những thành đó, người đó sẽ đứng tại cổng thành, trình bày hoàn cảnh của mình cho các trưởng lão của thành để họ nghe. Họ sẽ đem người vào trong thành, ban cho người một chỗ, và người sẽ sống ở giữa họ. 5. Nếu kẻ đòi nợ máu đuổi theo người ngộ sát, họ sẽ không nộp người vào tay của hắn, bởi vì người đã không cố ý giết người lân cận của mình và không có thù oán gì trước đó. 6. Người đó phải ở trong thành đó cho đến khi được đem ra xử trước hội chúng. Khi vị thượng tế đương nhiệm lúc đó qua đời, thì lúc đó người ngộ sát có thể trở về nhà của mình và thành của mình, tức thành mà từ đó người đã chạy trốn.”
  2. Họ đã biệt riêng Kê-đe tại Ga-li-lê trên núi Nép-ta-li, Si-chem trên núi Ép-ra-im, và Ki-ri-át A-ra-ba tức là Hếp-rôn trên miền núi của Giu-đa. 8. Vùng bên kia sông Giô-đanh thuộc phía đông của Giê-ri-cô, họ biệt riêng Bết-se trong hoang mạc trong vùng đồng bằng thuộc chi tộc Ru-bên, Ra-mốt tại Ga-la-át thuộc chi tộc Gát, và Gô-lan tại Ba-san thuộc chi tộc Ma-na-se. 9. Đây là những thành phố được biệt riêng ra cho toàn dân Y-sơ-ra-ên và cho ngoại kiều cư trú tại đó, để người nào vô ý làm thiệt mạng ai có thể chạy đến trú ẩn tại đó, mà không bị tay kẻ đòi nợ máu giết chết trước khi được đứng biện minh trước hội chúng.

 

21

  1. Sau đó, các trưởng tộc của người Lê-vi đến gặp Tư tế Ê-lê-a-xa, Giô-suê con trai của Nun, và các trưởng tộc của dân Y-sơ-ra-ên, 2. rồi nói với họ tại Si-lô trong xứ Ca-na-an rằng: “Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se cấp cho chúng tôi những thành để ở cùng với những khu đất công để dùng cho súc vật của chúng tôi.”
  2. Vì vậy, dân Y-sơ-ra-ên đã cấp cho người Lê-vi những thành và những khu đất công sau đây lấy từ sản nghiệp của toàn thể dân chúng theo lệnh của Đức Giê-hô-va. 4. Các gia tộc của Kê-hát bắt thăm được phần của mình. Con cháu của Tư tế A-rôn về dòng Lê-vi bắt thăm được mười ba thành từ các chi tộc Giu-đa, chi tộc Si-mê-ôn, và chi tộc Bên-gia-min. 5. Những gia tộc còn lại của con cháu Kê-hát bắt thăm được mười thành từ các chi tộc Ép-ra-im, chi tộc Ðan, và phân nửa chi tộc Ma-na-se. 6. Con cháu của Ghẹt-sôn theo gia tộc của họ bắt thăm nhận được mười ba thành từ chi tộc Y-sa-ca, chi tộc A-se, chi tộc Nép-ta-li, và phân nửa chi tộc Ma-na-se ở Ba-san. 7. Con cháu của Mê-ra-ri theo gia tộc của họ bắt thăm nhận được mười hai thành từ chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và chi tộc Sa-bu-lôn.
  3. Dân Y-sơ-ra-ên đã bắt thăm cấp cho người Lê-vi những thành nầy cùng với những khu đất công chung quanh, như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 9. Những thành có tên sau đây từ chi tộc Giu-đa và chi tộc Si-mê-ôn đã được cấp cho họ. 10. Con cháu của A-rôn thuộc những gia tộc của Kê-hát, là con trai Lê-vi, được những thành đó bởi vì họ nhận được thăm đầu tiên. 11. Người ta cấp cho họ thành của Ki-ri-át A-ra-ba, là cha của A-nác, là thành Hếp-rôn ở trên miền núi của Giu-đa, cùng với vùng đất công của nó; 12. tuy nhiên những cánh đồng và những ngôi làng chung quanh thành này thì được cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, làm sản nghiệp. 13. Vì vậy, người ta cấp cho dòng dõi của Tư tế A-rôn thành Hếp-rôn, là thành trú ẩn dành cho kẻ ngộ sát, với vùng đất công của nó; Líp-na cùng với vùng đất công của nó; 14. Giạt-thia cùng với vùng đất công của nó; Ê-thê-mô-a cùng với vùng đất công của nó; 15. Hô-lôn cùng với vùng đất công của nó; Đê-bia cùng với vùng đất công của nó; 16. A-in cùng với vùng đất công của nó; Giu-ta cùng với vùng đất công của nó; Bết Sê-mết cùng với vùng đất công của nó. Đó là chín thành từ hai chi tộc nầy. 17. Từ chi tộc Bên-gia-min: Ga-ba-ôn cùng với vùng đất công của nó; Ghê-ba cùng với vùng đất công của nó; 18. A-na-tốt cùng với vùng đất công của nó; Anh-môn cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là bốn thành. 19. Tất cả những thành cấp cho con cháu của A-rôn, là các tư tế, là mười ba thành cùng với những vùng đất công chung quanh chúng.
  4. Các con cháu còn lại của Kê-hát, trong các gia tộc của Kê-hát, thuộc dòng dõi của Lê-vi, được nhận những thành được bắt thăm từ chi tộc Ép-ra-im. 21. Người ta ban cho họ Si-chem cùng với vùng đất công của nó, là thành trú ẩn dành cho kẻ ngộ sát, trên miền núi của Ép-ra-im, Ghê-xe cùng với vùng đất công của nó, 22. Kíp-sa-im cùng với vùng đất công của nó; Bết Hô-rôn cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là bốn thành. 23. Từ chi tộc Đan: Ên-the-kê cùng với vùng đất công của nó; Ghi-bê-thôn cùng với vùng đất công của nó; 24. A-gia-lôn cùng với vùng đất công của nó; Gát-rim-môn cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là bốn thành. 25. Từ phân nửa chi tộc Ma-na-se: Tha-a-nác cùng với vùng đất công của nó; Gát Rim-môn cùng với vùng đất công của nó. 26. Tổng cộng là mười thành cùng với những vùng đất công của chúng, đã được cấp cho những gia tộc còn lại thuộc dòng dõi Kê-hát.
  5. Các con cháu của Ghẹt-sôn, một trong những gia tộc của người Lê-vi, được phân nửa chi tộc Ma-na-se chia cho họ Gô-lan tại Ba-san, là thành trú ẩn dành cho kẻ ngộ sát, cùng với vùng đất công của nó; Bết-ê-ra cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là hai thành. 28. Từ chi tộc Y-sa-ca: Ki-si-ôn cùng với vùng đất công của nó; Đáp-bê-rát cùng với vùng đất công của nó; 29. Giạt-mút cùng với vùng đất công của nó; Ên Ga-nim cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là bốn thành. 30. Từ chi tộc A-se, Mi-sê-anh cùng với vùng đất công của nó; Áp-đôn cùng với vùng đất công của nó; 31. Hên-cát cùng với vùng đất công của nó; Rê-hốp cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là bốn thành. 32. Từ chi tộc Nép-ta-li, Kê-đe ở Ga-li-lê, là thành trú ẩn dành cho kẻ ngộ sát cùng với vùng đất công của nó; Ha-mốt Đô-rơ cùng với vùng đất công của nó; Cạt-than cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là ba thành. 33. Tổng cộng các thành của người Ghẹt-sôn, theo từng gia tộc, là mười ba thành cùng với những vùng đất công của chúng.
  6. Phần còn lại của người Lê-vi, tức là các gia tộc thuộc con cháu của Mê-ra-ri, nhận từ chi tộc Sa-bu-lôn là Giốc-nê-am cùng với vùng đất công của nó; Cạt-ta cùng với vùng đất công của nó; 35. Đim-na cùng với vùng đất công của nó; Na-ha-la cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là bốn thành. 36. Từ chi tộc Ru-bên: Bết-se cùng với vùng đất công của nó; Giát-sa cùng với vùng đất công của nó; 37. Kê-đê-mốt cùng với vùng đất công của nó; Mê-phát cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là bốn thành. 38. Từ chi tộc Gát: Ra-mốt tại Ga-la-át, là thành trú ẩn dành cho kẻ ngộ sát, cùng với vùng đất công của nó; Ma-ha-na-im cùng với vùng đất công của nó; 39. Hết-bôn cùng với vùng đất công của nó; Gia-ê-xe cùng với vùng đất công của nó. Tất cả là bốn thành. 40. Tổng cộng các thành được bắt thăm để cấp cho các gia tộc của Mê-ra-ri, tức là phần còn lại của những gia tộc thuộc về Lê-vi, là mười hai thành.
  7. Tổng cộng các thành của người Lê-vi ở giữa sản nghiệp của dân Y-sơ-ra-ên là bốn mươi tám thành cùng với những vùng đất công chung quanh. 42. Mỗi thành ấy đều có vùng đất công chung quanh nó, và tất cả các thành đều giống như vậy.
  8. Đức Giê-hô-va đã ban cho Y-sơ-ra-ên cả xứ mà Ngài đã thề hứa với tổ phụ của họ. Họ đã chiếm hữu và định cư tại đó. 44. Đức Giê-hô-va đã ban cho chung quanh đều được yên ổn, đúng như Ngài đã thề với tổ phụ họ. Không một kẻ thù nào đứng nổi trước mặt họ. Đức Giê-hô-va đã phó tất cả những kẻ thù vào tay của họ. 45. Trong mọi lời hứa tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, không có một lời nào là vô hiệu. Tất cả đều được ứng nghiệm.

 

22

  1. Sau đó, Giô-suê gọi người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se, 2. rồi nói với họ: “Các ngươi đã giữ tất cả những điều mà Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho các ngươi, và cũng đã vâng lời của ta trong tất cả những điều ta truyền cho các ngươi. 3. Và đến hôm nay, trải qua một thời gian rất dài, các ngươi đã không lìa bỏ các anh em của mình, nhưng vâng giữ mạng lịnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 4. Bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã cho những anh em của các ngươi được nghỉ ngơi như Ngài đã hứa với họ. Vì vậy, bây giờ các ngươi hãy trở về trại của mình trong vùng đất của các ngươi mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban cho các ngươi ở bên kia sông Giô-đanh. 5. Nhưng phải cẩn thận làm theo điều răn và luật pháp mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho các ngươi, tức là yêu mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, đi theo đường lối của Ngài, tuân giữ những điều răn của Ngài, gắn bó với Ngài, và hết lòng hết linh hồn phục vụ Ngài.”
  2. Giô-suê đã chúc phước cho họ rồi cho họ trở về. Tất cả đều trở về trại của mình.
  3. Lúc đó phân nửa của chi tộc Ma-na-se đã được Môi-se cấp sản nghiệp tại Ba-san, còn phân nửa kia được Giô-suê cấp sản nghiệp ở giữa những anh em của họ tại bên nầy của sông Giô-đanh. Giô-suê đã tiễn họ lên đường về trại của họ, và ông đã chúc phước cho họ. 8. Ông nói với họ: “Các ngươi trở về trại của mình với nhiều của cải, nhiều súc vật, vàng, bạc, đồng, sắt, và rất nhiều quần áo. Hãy chia sẻ chiến lợi phẩm lấy được từ kẻ thù cho các anh em của mình.”
  4. Vì vậy, người Ru-bên, người Gát và phân nửa chi tộc Ma-na-se đã rời khỏi dân Y-sơ-ra-ên tại Si-lô trong xứ Ca-na-an, để trở về xứ Ga-la-át là phần đất thuộc sản nghiệp của họ, mà họ đã chiếm hữu theo lời của Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se.
  5. Khi họ đến ranh giới tại sông Giô-đanh vẫn thuộc về xứ Ca-na-an, thì người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se đã lập tại đó một bàn thờ bên bờ sông Giô-đanh – một bàn thờ rất lớn. 11. Khi dân Y-sơ-ra-ên nghe tin: “Kìa, người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se đã lập một bàn thờ ngay trong xứ Ca-na-an gần sông Giô-đanh, đối diện với dân Y-sơ-ra-ên.”
  6. Khi dân Y-sơ-ra-ên nghe như vậy, toàn thể hội chúng của dân Y-sơ-ra-ên đã tập họp tại Si-lô để đi lên đánh họ. 13. Dân Y-sơ-ra-ên đã cử Phi-nê-a, con trai Tư tế Ê-lê-a-sa, đến gặp người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se tại xứ Ga-la-át. 14. Cùng đi với ông có mười vị lãnh đạo, mỗi vị lãnh đạo là tộc trưởng của mỗi chi tộc của Y-sơ-ra-ên. Mỗi người đứng đầu chi tộc của người đó trong những chi tộc của Y-sơ-ra-ên.
  7. Họ đã đến gặp người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se tại xứ Ga-la-át, rồi nói với những người đó rằng: 16. Toàn thể hội chúng của Đức Giê-hô-va hỏi: “Điều gì khiến các ngươi phạm tội chống lại Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên khiến hôm nay các ngươi lìa bỏ Đức Giê-hô-va, rồi xây cho mình một bàn thờ? Hôm nay các ngươi đã phản loạn với Đức Giê-hô-va. 17. Tội lỗi ở Phê-ô chưa đủ hay sao? Cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa rửa sạch và tai họa vẫn xảy ra cho hội chúng của Đức Giê-hô-va, 18. vậy mà ngày nay các ngươi lại từ bỏ Đức Giê-hô-va? Nếu ngày nay các ngươi nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va, thì ngày mai Ngài sẽ nổi giận cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên. 19. Nếu lãnh thổ thuộc quyền sở hữu của các ngươi bị ô uế, thì hãy qua lãnh thổ của Đức Giê-hô-va, là nơi có Đền Tạm của Đức Giê-hô-va, rồi nhận sản nghiệp với chúng tôi, mà ở. Nhưng đừng phản loạn với Đức Giê-hô-va và với chúng tôi, bằng cách xây một bàn thờ riêng cho mình khác với bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta. 20. Không phải A-can, con trai của Xê-rách, đã phạm tội bất trung về vật đáng bị hủy diệt, đã khiến cơn thịnh nộ giáng trên toàn thể hội chúng của Y-sơ-ra-ên hay sao? Không phải chỉ có một mình người đó chết vì tội lỗi của mình.”
  8. Người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se trả lời các lãnh đạo của các chi tộc Y-sơ-ra-ên: 22. “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của các thần! Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của các thần! Ngài biết điều đó và Y-sơ-ra-ên cũng sẽ biết điều đó! Nếu đây là sự nổi loạn hay bất trung với Đức Giê-hô-va thì ngày nay đừng dung thứ chúng tôi! 23. Nếu chúng tôi lập cho chúng tôi một bàn thờ để lìa bỏ Đức Giê-hô-va, hoặc để dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ bình an tại đó, Đức Giê-hô-va sẽ biết điều đó. 24. Chúng tôi lập bàn thờ nầy, vì chúng tôi sợ con cháu của anh em một mai nói với con cháu chúng tôi rằng: ‘Các người đâu có liên hệ gì với Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên? 25. Con cháu của Ru-bên, con cháu của Gát, Đức Giê-hô-va đã đặt sông Giô-đanh làm ranh giới giữa chúng ta với các ngươi. Các ngươi không có phần gì nơi Đức Giê-hô-va!’ Như vậy con cháu của anh em sẽ làm cho con cháu của chúng tôi ngừng kính sợ Đức Giê-hô-va. 26. Vì vậy, chúng tôi có nói rằng: ‘Chúng ta hãy lập một bàn thờ, không phải để dâng tế lễ thiêu hay là dâng sinh tế, 27. nhưng để làm chứng giữa chúng tôi và anh em, và những thế hệ sau chúng tôi rằng chúng tôi có thể dâng tế lễ thiêu của chúng tôi, những sinh tế của chúng tôi, và những tế lễ bình an của chúng tôi để thờ phượng Đức Giê-hô-va tại trước mặt Ngài. Như vậy, về sau con cháu của anh em sẽ không thể nói với con cháu của chúng tôi rằng: ‘Các ngươi không có phần gì nơi Đức Giê-hô-va!’ 28. Chúng tôi cũng nói rằng khi nào họ nói điều đó với chúng tôi, hay nói với những thế hệ sau chúng tôi, thì chúng tôi sẽ trả lời: ‘Hãy xem kiểu mẫu bàn thờ Đức Giê-hô-va mà tổ phụ của chúng tôi đã lập, không phải để dâng tế lễ thiêu hay dâng sinh tế, nhưng để làm chứng giữa chúng tôi và quý vị.’ 29. Ngày nay, chúng tôi không hề có ý nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va hay lìa bỏ Ngài, mà lập một bàn thờ để dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay và sinh tế, ngoại trừ bàn thờ của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta, trước mặt Đền Tạm.”
  9. Khi Tư tế Phi-nê-a và các lãnh đạo của hội chúng, tức là lãnh đạo các chi tộc của Y-sơ-ra-ên đi theo ông, nghe những lời của người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se nói, thì họ hài lòng. 31. Phi-nê-a, con trai của Tư tế Ê-lê-a-sa, nói với người Ru-bên, người Gát, và người Ma-na-se rằng: “Ngày nay chúng tôi nhận biết rằng Đức Giê-hô-va ngự giữa chúng ta, bởi vì các ngươi không phạm tội bất trung với Đức Giê-hô-va, và như vậy các ngươi đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay của Đức Giê-hô-va.”
  10. Sau đó Tư tế Phi-nê-a, con trai của Ê-lê-a-sa, và các lãnh đạo đã rời khỏi người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se tại Ga-la-át, trở về với dân Y-sơ-ra-ên tại xứ Ca-na-an, và thuật lại những lời đó cho họ. 33. Điều đó làm hài lòng dân Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên ca ngợi Ðức Chúa Trời, và không còn bàn đến việc tiến đánh để hủy diệt vùng đất người Ru-bên và người Gát định cư.
  11. Người Ru-bên và người Gát gọi bàn thờ là một Chứng Tích ở giữa chúng ta rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.

 

23

  1. Sau đó, Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên được an nghỉ trong một thời gian dài khỏi tất cả những kẻ thù ở chung quanh; và rồi Giô-suê đã già và tuổi đã cao. 2. Giô-suê triệu tập toàn thể Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão, các lãnh đạo, các thẩm phán, và các viên chức, rồi nói với họ:

“Bây giờ tôi đã già và tuổi đã cao. 3. Các ngươi đã nhìn thấy mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã vì các ngươi làm cho tất cả những dân tộc nầy; bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã chiến đấu cho các ngươi. 4. Kìa, ta đã bắt thăm chia xứ của các dân còn sót lại, cũng như xứ của các dân đã bị ta tiêu diệt từ sông Giô-đanh cho đến Biển Lớn ở phía tây, để làm sản nghiệp cho các chi tộc của các ngươi. 5. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi sẽ xua đuổi chúng trước mặt các ngươi. Ngài sẽ trục xuất chúng trước mặt các ngươi, và các ngươi sẽ chiếm hữu đất của họ, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã hứa cho các ngươi.

  1. Vì vậy, hãy can đảm để giữ và làm theo mọi điều đã chép trong sách luật pháp của Môi-se. Các ngươi đừng lìa khỏi đó để xây qua bên phải hoặc bên trái. 7. Đừng hội nhập với các dân tộc còn lại ở giữa các ngươi, cũng đừng nhắc đến danh các thần của chúng hoặc lấy danh các thần đó mà thề. Đừng phục vụ chúng và cũng đừng quỳ lạy chúng. 8. Nhưng các ngươi phải gắn bó với Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, như các ngươi đã làm cho đến ngày hôm nay. 9. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi các ngươi những dân tộc lớn, hùng mạnh, và cho đến ngày nay không ai có thể đứng nổi trước mặt các ngươi. 10. Một người trong các ngươi sẽ rượt đuổi cả ngàn người, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi là Đấng chiến đấu cho các ngươi, như Ngài đã hứa.
  2. Vì vậy, các ngươi hãy cẩn thận giữ chính mình để kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 12. Nếu các ngươi quay lại gắn bó với những dân tộc còn lại, là những kẻ còn sót lại ở giữa các ngươi; nếu các ngươi kết hôn với chúng, các ngươi nhập với chúng, và chúng nhập vào trong các ngươi, 13. thì các ngươi hãy biết chắc rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi sẽ không tiếp tục đuổi những dân tộc nầy khỏi các ngươi nữa. Nhưng chúng sẽ là cạm bẫy và là mồi cám dỗ của các ngươi, là ngọn roi quất vào hông, là gai trong mắt, cho đến khi nào các ngươi bị tiêu diệt khỏi xứ sở tươi đẹp nầy, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã ban cho các ngươi.
  3. Bây giờ ta sắp sửa đi qua con đường mà cả thế gian phải đi qua. Các ngươi biết rõ từ trong đáy lòng và trong linh hồn của các ngươi rằng tất cả những điều tốt đẹp mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi đã hứa với các ngươi, thì không một điều nào mà Ngài không thực hiện. Tất cả đều được ứng nghiệm cho các ngươi, và không có một điều nào là sai cả.
  4. Vì vậy, nếu tất cả những điều tốt lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi hứa, đã được ứng nghiệm cho các ngươi thế nào, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ đem những điều tệ hại đến trên các ngươi như vậy, cho đến chừng Ngài hủy diệt các ngươi khỏi xứ tốt đẹp nầy, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho các ngươi. 16. Nếu các ngươi vi phạm giao ước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã truyền, các ngươi đi phục vụ những thần khác, quỳ lạy chúng, thì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va sẽ nổi bừng lên cùng các ngươi, và các ngươi sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt khỏi xứ tươi đẹp, mà Ngài đã ban cho các ngươi.”

 

24

  1. Sau đó, Giô-suê đã triệu tập tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên tại Si-chem. Ông đã mời các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, các lãnh đạo, các thẩm phán, và các viên chức; và họ đã trình diện chính họ trước mặt Đức Chúa Trời. 2. Giô-suê nói với toàn thể dân chúng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như thế nầy:

“Thuở xưa, những tổ phụ của các ngươi đã sống tại vùng đất ở phía bên kia của Sông Lớn. Tha-rê, cha của Áp-ra-ham và cha của Na-cô, đã phục vụ những thần khác. 3. Nhưng Ta đã đem Áp-ra-ham, tổ phụ của các ngươi, ra khỏi vùng đất ở phía bên kia của Sông Lớn, dẫn người đi khắp xứ Ca-na-an, ban cho người nhiều hậu tự, rồi ban Y-sác cho người. 4. Ta ban Gia-cốp và Ê-sau cho Y-sác. Ta đã ban núi Sê-i-rơ cho Ê-sau để làm sản nghiệp; nhưng Gia-cốp và con cháu của người đã đi xuống Ai Cập.

  1. Ta đã sai Môi-se và A-rôn, Ta đã thực hiện những điều Ta làm để giáng những tai họa trên Ai Cập, rồi đem các ngươi ra khỏi đó. 6. Ta đã đem tổ phụ của các ngươi ra khỏi Ai Cập. Người Ai Cập đã dùng xe chiến mã và kỵ binh đuổi theo tổ phụ của các ngươi cho đến Biển Đỏ. Các ngươi đã đến biển. 7. Họ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va. Ngài đã cho bóng tối đến ngăn cách giữa các ngươi và người Ai Cập, khiến nước biển ập trên chúng, chôn vùi chúng. Mắt của các ngươi đã nhìn thấy những gì Ta đã làm cho người Ai Cập.

Các ngươi đã sống trong đồng hoang một thời gian dài. 8. Ta đã đem các ngươi đến đất của người A-mô-rít ở phía bên kia của sông Giô-đanh. Chúng đã giao chiến với các ngươi, nhưng Ta đã trao chúng vào tay của các ngươi. Ta đã tiêu diệt chúng trước mặt các ngươi và các ngươi đã chiếm đất của chúng. 9. Ba-lác, con trai của Xếp-bô, vua của Mô-áp, đã trỗi dậy gây chiến với Y-sơ-ra-ên, rồi sai mời Ba-la-am, con trai của Bê-ô, đến rủa sả các ngươi. 10. Tuy nhiên Ta không lắng nghe Ba-la-am, vì vậy hắn phải liên tục chúc phước cho các ngươi. Ta đã giải cứu các ngươi khỏi tay của hắn.

  1. Các ngươi đã vượt qua sông Giô-đanh đến Giê-ri-cô. Dân Giê-ri-cô cũng như dân A-mô-rít, Phê-rê-sít, Ca-na-an, Hê-tít, Ghi-rê-ga-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít đã chống lại các ngươi, nhưng Ta trao chúng vào tay của các ngươi. 12. Ta đã sai ong độc đi trước các ngươi. Chúng đã đuổi hai vua của dân A-mô-rít trước mắt các ngươi, chứ không phải bằng gươm của các ngươi hay cung của các ngươi. 13. Ta đã ban cho các ngươi đất đai mà các ngươi không bỏ sức khai khẩn; các ngươi ở trong những thành mà các ngươi không xây cất; và các ngươi ăn sản vật từ những vườn nho và những vườn ô-liu mà các ngươi không trồng.
  2. Vì vậy bây giờ, hãy kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy phụng sự Ngài một cách thành tâm và trung tín. Hãy dẹp bỏ những thần mà tổ phụ của các ngươi đã phụng sự ở bên kia Sông Lớn cũng như tại Ai Cập. Các ngươi hãy phụng sự Đức Giê-hô-va. 15. Nhưng nếu các ngươi thấy phụng sự Đức Giê-hô-va là không tốt, thì hôm nay các ngươi hãy chọn ai mà các ngươi muốn phụng sự, hoặc các thần mà tổ tiên đã phụng sự bên kia Sông Lớn, hoặc các thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi đang ở, nhưng ta và nhà ta sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va.”
  3. Dân chúng đã trả lời: “Còn lâu chúng tôi mới lìa bỏ Đức Giê-hô-va để phụng sự các thần khác, 17. bởi vì Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của chúng tôi. Ngài đã đem chúng tôi và tổ phụ của chúng tôi ra khỏi Ai Cập, khỏi nhà nô lệ. Ngài đã làm trước mắt chúng tôi những phép lạ lớn lao nầy và bảo vệ chúng tôi trên suốt hành trình mà chúng tôi đã đi qua, và ở giữa các dân tộc mà chúng tôi đã vượt qua. 18. Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi chúng tôi tất cả các dân, kể cả người A-mô-rít đã sống trong xứ. Vì vậy, chúng tôi cũng sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời của chúng tôi.”
  4. Giô-suê nói với dân chúng: “Các ngươi không thể phụng sự Đức Giê-hô-va, bởi vì Đức Chúa Trời là thánh khiết, Ngài là Đức Chúa Trời ghét sự phản bội. Ngài sẽ không tha thứ những vi phạm hay những tội lỗi của các ngươi. 20. Nếu các ngươi lìa bỏ Đức Giê-hô-va và phụng sự những thần xa lạ, thì Ngài sẽ quay lại để giáng họa cho các ngươi và hủy diệt các ngươi sau khi Ngài đã làm những điều tốt đẹp cho các ngươi.
  5. Dân chúng đã nói với Giô-suê: “Không! Chúng tôi sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va. 22. Vì vậy Giô-suê đã nói với dân chúng: “Các ngươi tự làm chứng rằng các ngươi đã chọn Đức Giê-hô-va để phụng sự Ngài.” Họ đáp: “Chúng tôi xác chứng như vậy.” 23. Ông nói: “Như vậy, bây giờ hãy loại bỏ những thần xa lạ đang còn giữa các ngươi. Hãy hướng lòng của các ngươi về Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên!” 24. Dân chúng đã nói với Giô-suê: “Chúng tôi sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng tôi, và vâng theo tiếng của Ngài.” 25. Ngày hôm đó, Giô-suê đã lập một giao ước với dân chúng, và ban những luật lệ và quy định cho họ tại Si-chem. 26. Giô-suê viết những lời nầy vào trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời. Sau đó, ông lấy một vầng đá lớn dựng tại đó, ở dưới cây sồi, gần nơi thánh của Đức Giê-hô-va. 27. Giô-suê nói với tất cả dân chúng: “Kìa, hòn đá nầy sẽ làm chứng cho chúng ta, bởi vì nó nghe mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán với chúng ta. Nó sẽ làm chứng cùng các ngươi, đừng để các ngươi chối bỏ Đức Chúa Trời của các ngươi.” 28. Giô-suê cho dân chúng ra về. Mỗi người trở về sản nghiệp của mình.
  6. Thời gian trôi qua, sau những việc nầy, Giô-suê, con trai của Nun, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã qua đời lúc một trăm mười tuổi. 30. Người ta an táng ông trong trong lãnh thổ thuộc sản nghiệp của ông tại Thim-nát Sê-rách, trên vùng núi của Ép-ra-im, tại phía bắc núi Ga-ách.
  7. Dân Y-sơ-ra-ên đã phụng sự Đức Giê-hô-va trong suốt thời gian Giô-suê còn sống, và suốt thời gian các trưởng lão sống lâu hơn ông. Họ là những người biết rõ mọi việc Đức Giê-hô-va mà Ngài đã làm vì Y-sơ-ra-ên.
  8. Hài cốt của Giô-sép mà dân Y-sơ-ra-ên đã đem theo từ Ai Cập đã được chôn tại Si-chem, trong đồng ruộng mà Gia-cốp đã mua của con cháu Hê-mô, cha Si-chem với giá một trăm miếng bạc, và đất đó trở thành sản nghiệp của con cháu Giô-sép.
  9. Ê-lê-a-sa, con trai của A-rôn, cũng qua đời. Người ta đã chôn ông tại Ghi-bê-át trong phần đất đã cấp cho con trai của ông là Phi-nê-a, thuộc vùng núi Ép-ra-im.

 

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top