Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Bản Dịch Việt Ngữ: Dân Số

Bản Dịch Việt Ngữ: Dân Số

Dân Số

1

  1. Ngày mồng một, tháng hai, năm thứ hai, sau khi họ ra khỏi đất Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se trong Lều Hội Kiến trong hoang mạc Si-nai rằng:
  2. “Hãy thống kê toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên theo từng gia đình và dòng họ, liệt kê danh sách từng đầu người nam 3. từ hai mươi tuổi trở lên, tức là tất cả những người có thể ra trận. Ngươi và A-rôn sẽ đếm họ theo từng đơn vị. 4. Mỗi chi tộc sẽ có một người giúp các ngươi; người ấy phải là trưởng tộc.
  3. Đây là danh sách những người sẽ cùng đứng với các con: Chi tộc Ru-bên: Ê-lít-su, con trai của Sê-đêu; 6. chi tộc Si-mê-ôn: Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai; 7. chi tộc Giu-đa: Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp; 8. chi tộc Y-sa-ca: Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a; 9. chi tộc Sa-bu-lôn: Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn. 10. Con cháu Giô-sép: Chi tộc Ép-ra-im: Ê-li-sa-ma, con trai của A-mi-hút; chi tộc Ma-na-se: Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su. 11. Chi tộc Bên-gia-min A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni; 12. chi tộc Đan: A-hi-ê-xe, con trai của A-mi-sa-đai; 13. chi tộc A-se: Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran; 14. chi tộc Gát: Ê-li-a-sáp, con trai của Đê-u-ên; 15. chi tộc Nép-ta-li: A-hi-ra con trai của Ê-nan.”
  4. Đó là những người được chọn từ hội chúng, là những lãnh đạo các chi tộc của tổ phụ họ, là những thủ lĩnh của các đơn vị trong Y-sơ-ra-ên.
  5. Môi-se và A-rôn tiếp nhận những người đã được nêu danh, 18. và họ triệu tập toàn thể hội chúng lại vào ngày mồng một tháng hai. Họ khai phổ hệ từng người trong gia đình theo dòng họ của tổ phụ, lập danh sách từng đầu người từ hai mươi tuổi trở lên. 19. như Đức Giê-hô-va đã truyền. Môi-se đã thống kê họ tại hoang mạc Si-nai như vậy.
  6. Con cháu Ru-bên là trưởng nam của Y-sơ-ra-ên. Căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 21. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Ru-bên là bốn mươi sáu ngàn năm trăm người.
  7. Con cháu Si-mê-ôn, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 23. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Si-mê-ôn là năm mươi chín nghìn ba trăm người.
  8. Con cháu Gát, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 25. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Gát là bốn mươi lăm nghìn sáu trăm năm mươi người.
  9. Con cháu Giu-đa, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 27. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Giu-đa là bảy mươi bốn nghìn sáu trăm người.
  10. Con cháu của Y-sa-ca, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 29. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Y-sa-ca là năm mươi bốn nghìn bốn trăm người.
  11. Con cháu của Sa-bu-lôn, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 31. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Sa-bu-lôn là năm mươi bảy nghìn bốn trăm người.
  12. Các con trai Giô-sép:

Con cháu Ép-ra-im, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 33. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Ép-ra-im là bốn mươi nghìn năm trăm người.

  1. Con cháu Ma-na-se, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 35. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Ma-na-se là ba mươi hai nghìn hai trăm người.
  2. Con cháu Bên-gia-min, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 37. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Bên-gia-min là ba mươi lăm nghìn bốn trăm người.
  3. Con cháu Đan, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 39. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Đan là sáu mươi hai nghìn bảy trăm người.
  4. Con cháu A-se, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 41. những người đã được thống kê thuộc chi tộc A-se là bốn mươi mốt nghìn năm trăm người.
  5. Con cháu Nép-ta-li, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên – tức mọi người có thể ra trận – 43. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Nép-ta-li là năm mươi ba nghìn bốn trăm người.
  6. Ðó là những con số thống kê những người được Môi-se, và A-rôn, và mười hai lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, mỗi người đại diện cho chi tộc của mình, đã thống kê. 45. Như vậy, toàn dân Y-sơ-ra-ên đã được thống kê tùy theo dòng họ, từ hai mươi tuổi trở lên – tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên có thể ra trận được – 46. Tổng số người được thống kê là sáu trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi.
  7. Nhưng người Lê-vi theo chi tộc của tổ phụ mình không được thống kê chung với những chi tộc khác, 48. vì Đức Giê-hô-va có phán với Môi-se rằng: 49. Chỉ có chi tộc Lê-vi là không được thống kê hay cộng chung với dân Y-sơ-ra-ên, 50. nhưng ngươi hãy chỉ định người Lê-vi trông coi Đền Chứng Ước, tất cả những vật dụng và mọi vật thuộc về Đền Tạm. Họ sẽ vận chuyển Đền và tất cả vật dụng trong đó; và họ sẽ trông coi và đóng trại chung quanh Đền. 51. Khi Đền di chuyển, người Lê-vi sẽ tháo gỡ, và khi cần dựng, người Lê-vi sẽ dựng Đền lên. Những người lạ đến gần sẽ bị xử tử.
  8. Dân Y-sơ-ra-ên phải đóng trại, mỗi người ở trong trại riêng của mình, và mỗi người theo tiêu chuẩn của đội quân của họ. 53. Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh Đền Chứng Ước để cơn thịnh nộ không giáng trên hội chúng Y-sơ-ra-ên. Người Lê-vi sẽ nhận trách nhiệm bảo vệ Đền Chứng Ước.
  9. Dân Y-sơ-ra-ên đã thực hiện mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se; và họ đã thực hiện như vậy.

 

2

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2. “Dân Y-sơ-ra-ên sẽ đóng trại theo đơn vị của mình, dưới ngọn cờ của chi tộc mình. Họ phải đóng trại tại một khoảng cách xa khỏi Lều Hội Kiến.”
  2. Những người đóng trại tại phía đông, hướng về mặt trời mọc, là các đơn vị theo ngọn cờ của chi tộc Giu-đa. Người lãnh đạo của chi tộc Giu-đa là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp. 4. Quân số của người là 74.600. 5. Những người đóng trại kế đó là: Chi tộc Y-sa-ca. Người lãnh đạo chi tộc Y-sa-ca là Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a. 6. Quân số của người là 54.400. 7. Chi tộc Sa-bu-lôn. Người lãnh đạo của chi tộc Sa-bu-lôn là Ê-li-áp con trai Hê-lôn. 8. Quân số của người theo các đội quân là 57.400. 9. Tổng quân số lãnh đạo bởi Giu-đa là 186.400. Họ sẽ đi tiên phong.
  3. Hướng nam sẽ là các lực lượng của những đơn vị dưới ngọn cờ của chi tộc Ru-bên. Người lãnh đạo của chi tộc Ru-bên là Ê-li-su, con trai của Sê-đêu. 11. Quân số của người là 46.500. 12. Những người đóng trại kế đó là: Chi tộc Si-mê-ôn. Người lãnh đạo của chi tộc Si-mê-ôn là Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai. 13. Quân số của người là 59.300. 14. Chi tộc Gát. Người lãnh đạo của chi tộc Gát là Ê-li-a-sáp con trai của Rê-u-ên. 15. Quân số của người là 45.650. 16. Tổng quân số lãnh đạo bởi Ru-bên theo các đội quân là 151,450. Họ sẽ đi thứ hai.
  4. Lều Hội Kiến cùng với trại quân của người Lê-vi sẽ đi giữa những trại quân khác. Họ sẽ ra đi theo thứ tự như họ đã đóng trại – mỗi người theo từng đơn vị dưới ngọn cờ của mình.
  5. Hướng tây sẽ là các lực lượng của những đơn vị dưới ngọn cờ của chi tộc Ép-ra-im. Người lãnh đạo của chi tộc Ép-ra-im là Ê-li-sa-ma, con trai của A-mi-hút. 19. Quân số của người là 40.500. 20. Những người đóng trại kế đó là: Chi tộc Ma-na-se. Người lãnh đạo của chi tộc Ma-na-se là Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su. 21. Quân số của người là 32.200. 22. Chi tộc Bên-gia-min. Người lãnh đạo của chi tộc Bên-gia-min là A-bi-đan con trai của Ghi-đeo-ni. 23. Quân số của người là 35.400. 24. Tổng quân số lãnh đạo bởi Ép-ra-im theo các đội quân là 108.100. Họ sẽ đi thứ ba.
  6. Hướng bắc sẽ là các lực lượng của những đơn vị dưới ngọn cờ của chi tộc Đan. Người lãnh đạo của chi tộc Đan là A-hi-ê-xe, con trai của A-mi-sa-đai. 26. Quân số của người là 62.700. 27. Những người đóng trại kế đó là: Chi tộc A-se. Người lãnh đạo của chi tộc A-se là Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran. 28. Quân số của người là 41.500. 29. Chi tộc Nép-ta-li. Người lãnh đạo của chi tộc Nép-ta-li là A-hi-ra con trai của Ê-nan. 30. Quân số của người là 53.400. 31. Tổng quân số lãnh đạo bởi Đan theo các đội quân là 157.600. Họ sẽ đi cuối cùng.
  7. Đó là những người Y-sơ-ra-ên được kiểm kê theo từng chi tộc. Tổng số quân sĩ theo các đội quân là 603.550. 33. Tuy nhiên, người Lê-vi không được kiểm kê với những người Y-sơ-ra-ên khác theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 34. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. Họ đã đóng trại theo từng đơn vị của mình, và ra đi theo từng gia tộc và gia đình của mình.

 

3

  1. Đây là gia phổ của A-rôn và Môi-se vào lúc Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se trên núi Si-nai. 2. Ðây là tên các con trai của A-rôn: Na-đáp là con đầu lòng, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma. 3. Ðó là tên các con trai của A-rôn, tức là những tư tế đã được xức dầu. Họ là những người có năng lực để thi hành chức vụ tư tế. 4. Tuy nhiên, Na-đáp và A-bi-hu đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va khi hai người dâng một thứ lửa lạ lên cho Đức Giê-hô-va trong hoang mạc Si-nai. Họ không có con, cho nên chỉ có Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma làm chức tư tế dưới sự giám sát của A-rôn là cha của họ.
  2. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 6. “Hãy đem chi tộc Lê-vi đến gần để họ túc trực trước mặt Tư Tế A-rôn và phụ giúp ông. 7. Họ sẽ thực hiện những nhu cầu của ông và nhu cầu cho toàn thể hội chúng trước Lều Hội Kiến, tức là phục vụ những công việc của Ðền Tạm. 8. Họ phải chăm sóc tất cả những vật dụng trong Lều Hội Kiến, thi hành những công việc trong Đền Tạm theo nhu cầu của dân Y-sơ-ra-ên. 9. Hãy giao người Lê-vi cho A-rôn và các con trai của ông. Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên, họ là những người được giao phó hoàn toàn cho ông. 10. Ngươi hãy lập A-rôn và dòng dõi của ông để họ thi hành chức vụ tư tế, tuy nhiên bất cứ người nào khác đến gần sẽ bị xử tử.”
  3. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 12. “Nầy, Ta đã chọn người Lê-vi ở giữa dân Y-sơ-ra-ên để thay thế cho các con trai đầu lòng của Y-sơ-ra-ên. Vì vậy người Lê-vi thuộc về Ta, 13. bởi vì tất cả các con đầu lòng đều thuộc về Ta. Khi Ta đánh hạ tất cả các con đầu lòng tại Ai Cập, Ta đã biệt riêng cho Ta tất cả các con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên, cả người lẫn thú vật. Họ phải thuộc về Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.”
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se trong hoang mạc Si-nai rằng: 15. “Hãy thống kê người Lê-vi theo các gia tộc và các chi tộc của họ. Ngươi hãy thống kê mọi người nam từ một tháng trở lên.”
  5. Vì vậy, Môi-se đã thống kê họ đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền. 17. Đây là tên các con trai của Lê-vi: Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri. 18. Đây là tên các con trai của Ghẹt-sôn theo chi tộc của họ là Líp-ni và Si-mê-i. 19. Các con trai của Kê-hát theo chi tộc của họ là Am-ram, Dít-sa, Hếp-rôn và U-xi-ên. 20. Các con trai của Mê-ra-ri theo chi tộc của họ là Mách-li và Mu-si. Đó là những chi tộc của Lê-vi và các gia tộc của họ.
  6. Dòng họ Ghẹt-sôn có chi tộc Líp-ni và chi tộc Si-mê-i. Ðó là các chi tộc thuộc về dòng họ Ghẹt-sôn. 22. Số người nam từ một tháng trở lên là 7.500 người. 23. Dòng họ Ghẹt-sôn đóng trại phía sau của Ðền Tạm, thuộc về phía tây. 24. Lãnh đạo của gia tộc Ghẹt-sôn là Ê-li-a-sáp, con của La-ên. 25. Trách nhiệm của dòng họ Ghẹt-sôn tại Lều Hội Kiến gồm có: Đền Tạm, lều với các tấm phủ, tấm màn chắn cửa của Lều Hội Kiến, 26. các tấm màn che chung quanh sân, và tấm màn chắn cổng vào sân – tức những tấm màn che chung quanh Ðền Tạm và bàn thờ, cùng các dây thừng để căng những vật đó.
  7. Dòng họ Kê-hát có chi tộc Am-ram, chi tộc Dít-sa, chi tộc Hếp-rôn, và chi tộc U-xi-ên. Ðó là các chi tộc thuộc về gia tộc Kê-hát. 28. Số người nam từ một tháng trở lên là 8.600 người. Họ chịu trách nhiệm trong Nơi Thánh. 29. Các chi tộc thuộc dòng họ Kê-hát đóng trại tại phía nam của Ðền Tạm. 30. Lãnh đạo của gia tộc Kê-hát là Ê-li-sa-phan, con trai của U-xi-ên. 31. Trách nhiệm của họ gồm có: Hòm Giao Ước, cái bàn, cây đèn, các bàn thờ, những vật dụng trong Nơi Thánh để dùng trong các nghi lễ, tấm màn, và những công việc liên hệ với tất cả những vật đó. 32. Ê-lê-a-sa con trai Tư Tế A-rôn chỉ huy các lãnh đạo của người Lê-vi, và giám sát những người phục vụ Nơi Thánh.
  8. Dòng họ Mê-ra-ri có chi tộc Mách-li và chi tộc Mu-si. Ðó là các chi tộc thuộc dòng họ Mê-ra-ri. 34. Số người nam từ một tháng trở lên là 6.200 người. 35. Lãnh đạo các chi tộc của gia tộc Mê-ra-ri là Xu-ri-ên, con trai của A-bi-hai. Họ đóng trại về phía bắc của Đền Tạm. 36. Dòng họ Mê-ra-ri được bổ nhiệm coi sóc các khung của Đền Tạm, các cây xà ngang, các cây trụ, đế trụ, cùng tất cả những vật dụng, và những công việc liên hệ đến những vật đó, 37. kể cả những trụ ở chung quanh sân, đế trụ, cọc, và các dây thừng.
  9. Những người đóng trại trước Đền Tạm về phía đông, trước Lều Hội Kiến về hướng mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai ông. Họ có trách nhiệm phục vụ trong Nơi Thánh theo nhu cầu của dân Y-sơ-ra-ên. Những người ngoài đến gần đó sẽ bị xử tử. 39. Tổng số người Lê-vi được kiểm kê theo lệnh Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se và A-rôn theo từng gia tộc, tất cả các con trai từ một tháng trở lên là 22.000 người.
  10. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy thống kê tất cả các con trai đầu lòng của Y-sơ-ra-ên từ một tháng trở lên, rồi lập danh sách của họ. 41. Ta là Đức Giê-hô-va. Ngươi hãy thu nhận cho Ta người Lê-vi thay cho tất cả các con đầu lòng của người Y-sơ-ra-ên, và các gia súc của người Lê-vi thay cho tất cả các con đầu lòng trong gia súc của người Y-sơ-ra-ên.”
  11. Vì vậy, Môi-se đã thống kê tất cả con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên như Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông. 43. Tổng số các con trai đầu lòng từ một tháng trở lên, liệt kê theo từng tên, là 22.273 người.
  12. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 45. “Hãy chọn những người Lê-vi thay thế cho tất cả con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên và súc vật của người Lê-vi thay thế cho súc vật của dân chúng. Người Lê-vi sẽ thuộc về Ta. Ta là Đức Giê-hô-va. 46. Để chuộc lại 273 con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, vượt hơn số người Lê-vi, 47. ngươi hãy nhận năm siếc-lơ bạc cho mỗi người. Ngươi hãy nhận theo siếc-lơ Nơi Thánh – một siếc-lơ là hai chục ghê-ra. 48. Ngươi hãy giao số tiền chuộc những con trưởng nam trội hơn đó cho A-rôn và các con trai của người.”
  13. Vì vậy Môi-se đã thu tiền chuộc lại những con trưởng nam vượt hơn số người Lê-vi. 50. Số tiền mà ông thu từ những con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên là một ngàn ba trăm sáu mươi lăm siếc-lơ theo siếc-lơ Nơi Thánh. 51. Môi-se đã trao số tiền chuộc cho A-rôn và các con trai ông theo lời của Đức Giê-hô-va – đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.

 

4

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2. “Hãy thống kê những người Kê-hát trong vòng các con cháu của Lê-vi theo gia đình và gia tộc của họ. 3. Tất cả những người từ ba mươi tuổi cho đến năm mươi tuổi sẽ tham gia phục vụ để làm những công việc trong Lều Hội Kiến. 4. Công việc của người Kê-hát trong Lều Hội Kiến liên quan đến những vật chí thánh.
  2. Khi nào trại quân dời đi, A-rôn và các con trai của người sẽ đến gỡ bức màn, rồi dùng nó phủ lên trên Rương Giao Ước. 6. Họ sẽ phủ trên đó một tấm da hảo hạng, và trải lên một tấm vải xanh dương, rồi xỏ những đòn khiêng vào. 7. Về bàn dâng bánh, họ sẽ phủ một tấm vải xanh dương lên trên, rồi đặt trên đó đĩa, khay, tô, bình để rót, và bánh phải luôn luôn có trên đó. 8. Họ sẽ trải bên trên những vật đó một tấm vải bằng chỉ điều, phủ bên trên cũng bằng một tấm da hảo hạng, rồi xỏ những đòn khiêng vào. 9. Họ sẽ lấy một tấm vải xanh dương bọc cây đèn, cùng với những ngọn đèn, những kéo cắt tim đèn, những cái khay, và tất cả những bình dầu, tức là những vật dụng được dùng với nó. 10. Họ sẽ đặt nó với những vật dụng của nó trong một tấm da hảo hạng, rồi đặt lên một cái đòn để khiêng. 11. Họ sẽ trải một tấm vải xanh dương trên bàn thờ bằng vàng, phủ trên đó bằng một tấm da hảo hạng, rồi xỏ những đòn khiêng vào. 12. Họ sẽ lấy tất cả những vật dụng được dùng trong Nơi Thánh, đặt chúng vào trong tấm vải xanh dương, bọc chúng bằng một tấm da hảo hạng, rồi đặt lên một cái đòn để khiêng. 13. Họ sẽ lấy tro ra khỏi bàn thờ, trải trên đó một tấm vải tím, 14. rồi đặt lên đó tất cả các vật dụng của nó được dùng tại đó, như lư hương, nĩa, xẻng, chậu và tất cả những vật dụng của bàn thờ, phủ trên đó bằng một tấm da hảo hạng, rồi xỏ những đòn khiêng vào. 15. Sau khi A-rôn và các con trai người hoàn tất công việc bọc lại nơi thánh và tất cả vật dụng của nơi thánh, lúc trại quân sẵn sàng ra đi, thì con cháu Kê-hát phải đến để khiêng. Tuy nhiên họ không được đụng vào những vật thánh, nếu không họ phải chết. Đó là những vật dụng trong Lều Hội Kiến mà con cháu Kê-hát phải khiêng đi.
  3. Ê-lê-a-sa, con trai Tư tế A-rôn, có nhiệm vụ trông coi việc cung cấp dầu cho đèn, hương thơm, tế lễ chay dâng thường xuyên, dầu cho lễ xức dầu, và coi sóc toàn thể Ðền Tạm cùng mọi vật trong đó, tức là Nơi Thánh và các vật dụng trong đó.”
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 18. “Đừng để gia tộc Kê-hát bị tiêu diệt khỏi những con cháu của Lê-vi. 19. Ðây là điều các ngươi phải làm cho họ, để họ được sống và không phải chết khi họ đến gần những vật chí thánh. A-rôn và các con trai của người sẽ vào để chỉ định cho mỗi người công việc và trách nhiệm của mình. 20. Tuy nhiên họ không được vào đó để nhìn các vật thánh trong khi đang được gói lại, nếu không họ phải chết.”
  5. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 22. “Hãy thống kê các con cháu của Ghẹt-sôn theo gia đình và gia tộc của họ. 23. Tất cả những người từ ba mươi tuổi cho đến năm mươi tuổi sẽ tham gia phục vụ để làm những công việc trong Lều Hội Kiến. 24. Ðây là công việc của người Ghẹt-sôn trong việc phục vụ và trong việc khuân vác. 25. Họ sẽ khiêng những tấm màn của Đền Tạm và Lều Hội Kiến, nóc lều, tấm da hảo hạng phủ nóc lều, tấm màn che cửa Lều Hội Kiến, 26. những tấm màn bao quanh sân, tấm màn che ở cửa vào sân, những bức màn bao quanh Ðền Tạm và bao quanh bàn thờ, dây thừng, và tất cả dụng cụ liên quan đến chức năng của chúng, và tất cả những vật dụng đã được làm ra cho mục đích của chúng. 27. A-rôn và các con trai của người sẽ chỉ định tất cả những công việc cho con cháu Ghẹt-sôn: tất cả việc phục vụ và tất cả việc khuân vác. Các ngươi phải giao trách nhiệm cho họ trong tất cả việc khuân vác. 28. Ðó là công tác của những gia tộc thuộc con cháu Ghẹt-sôn tại Lều Hội Kiến. Nhiệm vụ của họ được đặt dưới quyền chỉ huy của Y-tha-ma, con trai của Tư tế A-rôn.
  6. Ngươi hãy thống kê con cháu của Mê-ra-ri theo gia đình và gia tộc của họ. 30. Ngươi hãy thống kê những người từ ba mươi tuổi cho đến năm mươi tuổi để tham dự phục vụ làm những công việc trong Lều Hội Kiến. 31. Đây là những công việc của họ trong Lều Hội Kiến: Họ phải khiêng những tấm ván của Đền Tạm, các xà ngang, trụ, đế trụ, 32. những trụ chung quanh sân, đế trụ, cọc, dây thừng, cùng tất cả vật dụng và các vật liên quan. Các ngươi phải chỉ định đích danh những vật gì họ phải mang đi. 33. Ðó là công tác của những gia tộc thuộc con cháu Mê-ra-ri tại Lều Hội Kiến. Nhiệm vụ của họ được đặt dưới quyền chỉ huy của Y-tha-ma, con trai của Tư tế A-rôn.”
  7. Vì vậy Môi-se, A-rôn, và những người lãnh đạo đã thống kê con cháu của Kê-hát theo từng gia đình trong gia tộc của họ. 35. Mỗi người từ ba mươi tuổi cho đến năm mươi tuổi có thể vào phục vụ cho công việc tại Lều Hội Kiến. 36. Số người được thống kê theo gia tộc của họ là 2.750. 37. Đây là số liệu thống kê tất cả những người Kê-hát theo các gia tộc có thể phục vụ tại Lều Hội Kiến, tức là những người mà Môi-se và A-rôn đã thống kê theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  8. Con cháu của Ghẹt-sôn đã được thống kê theo gia đình và gia tộc của họ. 39. Mỗi người từ ba mươi tuổi cho đến năm mươi tuổi có thể vào phục vụ cho công việc tại Lều Hội Kiến. 40. Số người được thống kê theo các gia đình và gia tộc của họ là 2.630. 41. Đây là số liệu thống kê tất cả những gia đình thuộc dòng dõi Ghẹt-sôn có thể phục vụ tại Lều Hội Kiến, tức là những người mà Môi-se và A-rôn đã thống kê theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền.
  9. Con cháu của Mê-ra-ri đã được thống kê theo gia đình và gia tộc của họ. 43. Mỗi người từ ba mươi tuổi cho đến năm mươi tuổi có thể vào phục vụ cho công việc tại Lều Hội Kiến. 44. Số người được thống kê theo các gia đình là 3.200. 45. Đây là số liệu thống kê tất cả những gia đình thuộc dòng dõi Mê-ra-ri, tức là những người mà Môi-se và A-rôn đã thống kê theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  10. Tất cả những người Lê-vi đã được thống kê, tức là những người mà Môi-se, A-rôn, và những lãnh đạo của dân Y-sơ-ra-ên đã thống kê theo từng gia đình và gia tộc của họ. 47. Mỗi người từ ba mươi tuổi cho đến năm mươi tuổi có thể vào phục vụ cho những công việc hay để khuân vác tại Lều Hội Kiến. 48. Những người đã được thống kê là 8.580. 49. Theo lịnh Đức Giê-hô-va đã truyền, họ đã được thống kê bởi tay của Môi-se. Mỗi người được trao trách nhiệm để phục vụ hay để khuân vác. Họ đã được thống kê theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.

 

5

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải đuổi ra khỏi doanh trại những người bị bịnh phung, những người bị bệnh bài tiết do nhiễm trùng, và những người bị ô uế do đụng đến xác chết. 3. Các ngươi phải đuổi họ ra khỏi doanh trại, bất kể đó là nam hay nữ. Các ngươi không thể để cho họ làm ô uế doanh trại, là nơi Ta đang ngự ở giữa.”
  2. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm như vậy. Họ đuổi những người đó ra ngoài doanh trại. Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se thế nào thì dân Y-sơ-ra-ên đã làm như vậy.
  3. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 6. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: Khi một người nam hay nữ phạm một tội gì đối với người khác, tức là đã phạm tội với Đức Giê-hô-va – người đó đã mắc tội. 7. Người đó phải xưng nhận tội mà mình đã phạm, và phải bồi thường đầy đủ sự thiệt hại do mình gây ra, rồi cộng thêm một phần năm cho người bị thiệt hại. 8. Tuy nhiên, nếu nạn nhân không còn thân nhân để nhận bồi thường sự sai trái, số bồi thường sai trái sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va và được trao cho tư tế, cùng với một con chiên đực để làm tế lễ chuộc tội cho người đó. 9. Tất cả những tế lễ thánh mà dân Y-sơ-ra-ên đem đến cho tư tế đều sẽ thuộc về người. 10. Vì vậy những vật thánh mà mỗi người dâng hiến sẽ thuộc về tư tế. Vật gì mỗi người tặng cho tư tế sẽ thuộc về người.”
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 12. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên, và nói với họ rằng: Nếu vợ của một người nào đã tẻ tách rồi phạm tội với chồng. 13. Nếu có một người nam đã ăn nằm với nàng mà chồng không biết – tức là người đàn bà đó đã làm chuyện nhơ bẩn cách lén lút, không có chứng cớ chống lại nàng và nàng không bị bắt quả tang, 14. nếu người chồng nổi ghen vì vợ của mình đã làm chuyện nhơ bẩn, hoặc người đó nổi ghen với vợ của mình dù nàng không làm chuyện nhơ bẩn, 15. thì người đó phải đem vợ của mình đến tư tế. Người đó hãy mang tế lễ theo quy định cho nàng là một phần mười ê-pha bột lúa mạch. Người đó không được đổ dầu vào hay rắc nhũ hương lên trên, bởi vì đó là tế lễ chay dâng về việc ghen tuông, là một của lễ để ghi nhớ: Ghi nhớ tội lỗi.
  5. Tư tế sẽ mang nàng lại gần rồi đặt nàng trước mặt Đức Giê-hô-va. 17. Tư tế sẽ đổ nước thánh vào một cái bình bằng đất. Tư tế sẽ lấy một ít bụi từ sàn của Đền Tạm bỏ vào trong nước. 18. Tư tế sẽ để người phụ nữ đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, gỡ vật che đầu của nàng, rồi đặt trong tay nàng tế lễ chay để ghi nhớ – đó là tế lễ chay về việc ghen tuông. Trong tay của tư tế sẽ có nước đắng mang lại sự nguyền rủa. 19. Tư tế sẽ bắt nàng thề và nói rằng: Nếu không có người đàn ông nào đã ăn nằm với nàng, nếu nàng không tẻ tách làm chuyện nhơ bẩn khi ở dưới quyền của chồng, thì nước đắng sẽ không mang lại sự nguyền rủa. 20. Nhưng nếu nàng đã tẻ tách khi ở dưới quyền của chồng, nếu nàng đã làm chuyện nhơ bẩn, có một người đàn ông nào khác, không phải là chồng, đã giao cấu với nàng. 21. Tư tế sẽ bắt người phụ nữ thề độc, và nói với nàng: Nguyện Đức Giê-hô-va làm cho ngươi trở thành cớ cho người ta nguyền rủa và thề độc giữa dân tộc của ngươi. Nguyện Đức Giê-hô-va làm cho tử cung của ngươi teo lại và bụng ngươi phình ra. 22. Nguyện nước nguyền rủa nầy vào trong nôi tạng của ngươi sẽ làm cho tử cung của người sẽ teo lại và bụng ngươi phình ra. Người phụ nữ sẽ nói: A-men! A-men!
  6. Tư tế sẽ viết những lời nguyền rủa này vào trong một cuốn sách, rồi rửa nó trong nước đắng. 24. Ông bắt người phụ nữ uống nước đắng mang lại sự nguyền rủa. Nước đắng mang lại sự nguyền rủa sẽ vào bên trong nàng. 25. Tư tế sẽ lấy tế lễ chay dâng về sự ghen tuông khỏi tay nàng, rồi nâng cao lên để dâng cho Đức Giê-hô-va, rồi mang nó đến bàn thờ. 26. Tư tế sẽ lấy một nắm bột để làm tế lễ ghi nhớ, đốt nó trên bàn thờ, rồi sau đó bảo người phụ nữ uống nước đắng. 27. Sau khi tư tế đã bắt nàng uống nước đó, và rồi, nếu nàng đã làm chuyện ô nhơ và đã bất trung với chồng, thì nước đắng mang lại sự nguyền rủa đó sẽ vào bên trong nàng, làm bụng nàng sẽ phình ra, tử cung nàng sẽ teo lại. Nàng sẽ thành cớ nguyền rủa ở giữa dân tộc của nàng. 28. Nhưng nếu người phụ nữ không làm chuyện nhơ bẩn và vẫn tinh sạch, thì nàng sẽ không bị tổn hại và có thể sinh con.
  7. Đây là luật về sự ghen tuông khi một người phụ nữ đã có chồng, mà tẻ tách làm chuyện ô nhơ cho mình, 30. hoặc khi một người chồng nổi ghen với vợ của mình, người đó phải đem người phụ nữ đến trước mặt Đức Giê-hô-va, và tư tế sẽ thực hiện tất cả luật lệ nầy đối với nàng. 31. Người đàn ông sẽ không phạm tội gì, nhưng người phụ nữ gánh chịu tội lỗi của mình.”

 

6

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên và bảo họ rằng: Khi một người nam hay nữ hứa nguyện biệt riêng mình ra thánh để làm người Na-xi-rê cho Đức Giê-hô-va, 3. người đó phải kiêng cử rượu và thức uống làm cho say. Người đó không được uống giấm hoặc vật chi say do men rượu chế ra. Người đó cũng không được uống bất cứ thứ nước nho nào, và cũng không được ăn trái nho, bất kể là nho tươi hay nho khô. 4. Trong suốt thời gian biệt mình riêng ra thánh, người đó không được ăn uống bất cứ món nào từ cây nho, kể cả hạt nho và vỏ trái nho.
  2. Trong suốt thời gian hứa nguyện biệt riêng ra thánh, không có dao cạo nào được đụng đến đầu của người đó. Người đó sẽ biệt ra thánh và để tóc mọc dài trên đầu cho đến khi hoàn tất thời kỳ biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va.
  3. Trong suốt thời gian biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, người đó không được đến gần xác chết. 7. Người đó không được vì cha hay mẹ, hoặc vì anh em hay chị em đã chết mà làm cho mình bị ô uế, bởi vì dấu hiệu biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời vẫn còn ở trên đầu của người đó. 8. Trong suốt thời gian hứa nguyện, người đó là thánh cho Đức Giê-hô-va.
  4. Tuy nhiên, nếu có ai chết thình lình gần bên người đó, và làm cho cái đầu đã biệt riêng ra thánh của người đó trở nên ô uế, người đó phải cạo đầu của mình trong ngày thanh tẩy, tức là cạo đầu của mình vào ngày thứ bảy. 10. Ðến ngày thứ tám, người đó sẽ đem hai con chim đất hoặc hai con bồ câu con đến cho tư tế tại cửa Lều Hội Kiến. 11. Tư tế sẽ dâng một con làm tế lễ chuộc tội và một con làm tế lễ thiêu để chuộc tội cho người đó, bởi vì người đó mang tội do ở gần xác chết. Trong ngày hôm đó, người đó sẽ biệt riêng đầu của mình ra thánh. 12. Người đó sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Giê-hô-va trong suốt thời gian biệt mình riêng ra thánh. Người đó sẽ đem một con chiên con đực một tuổi để làm tế lễ chuộc sự mắc lỗi. Những ngày biệt riêng ra thánh trước đó kể như đã mất, bởi vì đã bị ô uế.
  5. Đây là luật về người Na-xi-rê khi những ngày biệt riêng ra thánh đã mãn. Người đó sẽ được đem đến tại cửa Lều Hội Kiến. 14. Người đó sẽ dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va, gồm một con chiên đực một tuổi không khiếm khuyết để làm tế lễ thiêu, một con chiên cái một tuổi không tì vết để làm tế lễ chuộc tội, một con chiên đực không khiếm khuyết làm tế lễ bình an, 15. một giỏ bánh không men, một ít bánh làm bằng bột mịn trộn dầu, một ít bánh tráng không men phết dầu, cùng với của lễ chay và của lễ quán. 16. Tư tế sẽ đem những lễ vật nầy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi dâng tế lễ chuộc tội và tế lễ thiêu. 17. Người sẽ dâng con chiên đực cho Đức Giê-hô-va để làm tế lễ bình an, cùng với giỏ bánh không men. Tư tế sẽ dâng tế lễ chay và tế lễ quán. 18. Người Na-xi-rê sẽ cạo đầu đã biệt riêng ra thánh của mình tại cửa Lều Hội Kiến, rồi lấy tóc từ đầu đã biệt riêng ra thánh của mình thiêu trong lửa đang cháy phía dưới tế lễ bình an. 19. Tư tế sẽ lấy một cái đùi trước của con chiên đực đã được luộc, một cái bánh không men trong rổ, một cái bánh tráng không men, rồi đặt vào tay của người Na-xi-rê sau khi người đó đã cạo đầu của mình. 20. Tư tế sẽ dâng chúng lên để làm tế lễ cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va. Ðó là vật thánh thuộc về tư tế, gồm cái ức đã được làm lễ dâng lên và cái đùi đã được dâng. Sau đó người Na-xi-rê sẽ được phép uống rượu.
  6. Đây là luật về người Na-xi-rê, là người đã hứa nguyện biệt riêng ra thánh, dâng hiến cho Đức Giê-hô-va bên cạnh những thứ khác mà tay người đó có khả năng chu cấp. Người đó phải tuân theo luật biệt riêng ra thánh mà người đó đã hứa nguyện.”
  7. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 23. “Hãy nói cho A-rôn và các con trai của người: Các ngươi phải chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên như thế nầy: 24. Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và gìn giữ ngươi! 25. Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi và làm ơn cho ngươi! 26. Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái thương ngươi và ban bình an cho ngươi! 27. Họ sẽ đặt danh của Ta trên dân Y-sơ-ra-ên và Ta sẽ ban phước cho họ.”

 

7

  1. Thời gian trôi qua, khi Môi-se đã hoàn tất công việc xây dựng Ðền Tạm, ông đã xức dầu cho Ðền Tạm, biệt riêng Ðền Tạm và tất cả những trang bị trong đó ra thánh. Ông cũng xức dầu và biệt ra thánh bàn thờ và tất cả những vật dụng của bàn thờ. 2. Các lãnh đạo của dân Y-sơ-ra-ên, tức là những tộc trưởng, là những người lãnh đạo của các chi tộc, và là những người đã phụ giúp trong việc thống kê dân số, đã đến. 3. Họ đem những lễ vật của họ đến trước mặt Đức Giê-hô-va, gồm có sáu cỗ xe có mái che và mười hai con bò đực. Hai lãnh đạo dâng một cỗ xe và mỗi người dâng một con bò đực. Họ trình những lễ vật đó tại trước Đền Tạm.
  2. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 5. “Hãy nhận những lễ vật của họ để sử dụng cho những công việc của Lều Hội Kiến. Hãy trao chúng cho người Lê-vi tùy theo nhu cầu công tác của mỗi người.”
  3. Vì vậy Môi-se đã tiếp nhận những cỗ xe và những con bò đực, rồi trao chúng lại cho người Lê-vi. 7. Ông trao cho con cháu Ghẹt-sôn hai cỗ xe và bốn bò đực để dùng trong công tác của họ. 8. Ông trao cho con cháu Mê-ra-ri bốn cỗ xe và tám bò đực để dùng trong công tác của họ, và đặt dưới quyền chỉ huy của Y-tha-ma, con trai của Tư Tế A-rôn. 9. Nhưng ông không trao cho con cháu Kê-hát gì hết, bởi vì họ chịu trách nhiệm những vật thánh, là những thứ họ phải khiêng trên vai của mình.
  4. Các lãnh đạo cũng dâng những lễ vật cho sự cung hiến bàn thờ trong ngày bàn thờ được xức dầu. Các lãnh đạo đã mang những lễ vật của mình đến dâng trước bàn thờ.
  5. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Mỗi ngày một lãnh đạo, mỗi ngày một lãnh đạo, họ sẽ đem những lễ vật đến dâng cho việc cung hiến bàn thờ.”
  6. Người dâng lễ vật trong ngày thứ nhất là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp, thuộc chi tộc Giu-đa. 13. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 14. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 15. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 16. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 17. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Na-ha-sôn, con trai A-mi-na-đáp.
  7. Ngày thứ hai, Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a, lãnh đạo của Y-sa-ca, đến dâng lễ vật. 19. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 20. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 21. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 22. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 23. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a.
  8. Ngày thứ ba, Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn, lãnh đạo của Sa-bu-lôn. 25. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 26. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 27. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 28. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 29. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn.
  9. Ngày thứ tư, Ê-lít-su, con trai Sê-đêu, lãnh đạo của Ru-bên. 31. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 32. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 33. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 34. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 35. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Ê-lít-su, con trai Sê-đêu.
  10. Ngày thứ năm, Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đa, lãnh đạo của Si-mê-ôn. 37. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 38. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 39. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 40. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 41. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đa.
  11. Ngày thứ sáu, Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên, lãnh đạo của Gát. 43. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 44. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 45. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 46. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 47. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên.
  12. Ngày thứ bảy, Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, lãnh đạo của Ép-ra-im. 49. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 50. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 51. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 52. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 53. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút.
  13. Ngày thứ tám, Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, lãnh đạo của Ma-na-se. 55. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 56. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 57. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 58. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 59. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su.
  14. Ngày thứ chín, A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni, lãnh đạo của Bên-gia-min. 61. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 62. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 63. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 64. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 65. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni.
  15. Ngày thứ mười, A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai, lãnh đạo của Đan. 67. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 68. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 69. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 70. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 71. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai.
  16. Ngày thứ mười một, Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran, lãnh đạo của A-se. 73. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 74. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 75. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 76. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 77. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran.
  17. Ngày thứ mười hai, A-hi-ra, con trai Ê-nan, lãnh đạo của Nép-ta-li. 79. Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đầy bột mịn nhồi dầu dùng làm tế lễ chay; 80. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm; 81. một con bò đực tơ; một con chiên đực; một con chiên đực một tuổi để dùng làm tế lễ thiêu; 82. một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội; 83. hai con bò đực; năm con chiên đực; năm con dê đực; và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là những lễ vật của A-hi-ra, con trai Ê-nan.
  18. Ðó là những lễ vật của các lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên đã dâng cho việc cung hiến bàn thờ khi bàn thờ được xức dầu: Mười hai dĩa bạc, mười hai chậu bạc, mười hai chén vàng. 85. Mỗi cái dĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, và mỗi cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ. Tổng cộng số bạc là hai ngàn bốn trăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh. 86. Mười hai cái chén vàng đựng đầy thuốc thơm, mỗi cái mười siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh. Tổng cộng số vàng của chén nặng được một trăm hai mươi siếc-lơ.
  19. Tổng số bò đực dùng làm tế lễ thiêu là mười hai con với mười hai con chiên đực, mười hai con chiên con một tuổi, cùng với tế lễ chay, và mười hai con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội. 88. Tổng số bò đực dùng làm tế lễ bình an là hai mươi bốn con với sáu mươi con chiên đực, sáu mươi con dê đực, và sáu mươi con chiên con một tuổi. Đó là lễ vật dâng về việc cung hiến bàn thờ sau khi bàn thờ được xức dầu.
  20. Khi Môi-se vào Lều Hội Kiến để hầu chuyện với Ngài, ông nghe một giọng nói với ông từ trên Ngôi Thi Ân, ở trên Rương Giao Ước, giữa hai chê-ru-bim. Ngài đã phán với ông như vậy.

 

8

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy nói với A-rôn và dặn người rằng: Khi người sắp đặt những ngọn đèn, hãy để cho bảy ngọn đèn tỏa sáng về phía trước cây đèn.”
  2. A-rôn đã làm đúng như vậy. Ông sắp đặt bảy ngọn đèn để chúng tỏa sáng về phía trước cây đèn theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 4. Cây đèn đã được làm bằng vàng dát mỏng từ đế đèn cho đến các hoa đèn. Người ta đã làm cây đèn đúng theo kiểu mẫu mà Đức Giê-hô-va đã hướng dẫn cho Môi-se.
  3. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 6. “Hãy đem người Lê-vi ra khỏi dân Y-sơ-ra-ên rồi thanh tẩy họ. 7. Ngươi hãy thanh tẩy cho họ như thế nầy: Ngươi hãy rảy nước tẩy uế trên họ, rồi bảo họ cạo hết lông trên thân thể của họ, và giặt y phục của họ, để làm cho họ được thanh sạch. 8. Hãy đem đến một con bò đực tơ, cùng bột mịn tẩm dầu để làm tế lễ chay, và một con bò tơ đực thứ nhì để làm tế lễ chuộc tội. 9. Ngươi hãy đưa người Lê-vi đến trước Lều Hội Kiến, rồi họp cả hội chúng Y-sơ-ra-ên lại. 10. Ngươi hãy đưa người Lê-vi đến trước mặt Đức Giê-hô-va, và dân Y-sơ-ra-ên sẽ đặt tay trên người Lê-vi. 11. A-rôn sẽ dâng người Lê-vi lên trước mặt Đức Giê-hô-va như một tế lễ cung hiến từ dân Y-sơ-ra-ên để người Lê-vi có thể phục vụ Đức Giê-hô-va. 12. Người Lê-vi sẽ đặt tay trên đầu những con bò đực tơ. Ngươi phải dâng một con làm tế lễ chuộc tội, và một con làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va để chuộc tội cho người Lê-vi. 13. Ngươi hãy bảo người Lê-vi đứng trước mặt A-rôn và các con trai của người, rồi dâng họ như một tế lễ cung hiến cho Đức Giê-hô-va.
  4. Ngươi hãy biệt riêng người Lê-vi ra khỏi dân Y-sơ-ra-ên. Người Lê-vi sẽ thuộc về Ta. 15. Và sau đó, tức là sau khi ngươi đã thanh tẩy họ, dâng và cung hiến họ, người Lê-vi sẽ được phép vào trong Lều Hội Kiến để phục vụ. 16. Bởi vì từ giữa dân Y-sơ-ra-ên, họ đã được dâng trọn cho Ta. Ta nhận lấy họ cho chính mình để họ thay thế tất cả những con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên. 17. Bởi vì tất cả con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên đều thuộc về Ta – cả người lẫn súc vật – bởi vì trong ngày Ta đánh hạ tất cả con đầu lòng tại Ai Cập, Ta đã biệt riêng chúng cho Ta. 18. Ta đã lấy người Lê-vi để thay thế cho tất cả con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên. 19. Từ trong dân Y-sơ-ra-ên, Ta ban người Lê-vi làm quà cho A-rôn và các con trai của người, để họ thay cho dân Y-sơ-ra-ên phục vụ trong Lều Hội Kiến, cử hành lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên để không có tai họa nào xảy ra cho dân Y-sơ-ra-ên khi dân Y-sơ-ra-ên đến gần nơi thánh.”
  5. Môi-se, A-rôn và toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đã làm cho người Lê-vi tất cả những gì mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se liên hệ đến người Lê-vi. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm cho họ như vậy. 21. Người Lê-vi đã thanh tẩy chính mình, giặt y phục của họ, A-rôn đã dâng họ như một tế lễ cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va. A-rôn đã cử hành lễ chuộc tội cho họ để thanh tẩy họ. 22. Sau đó, người Lê-vi đã vào để làm những công việc của họ trong Lều Hội Kiến trước mặt A-rôn và các con trai của ông. Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se điều gì về người Lê-vi, người ta đã làm cho họ đúng như vậy.
  6. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 24. “Đây là những quy định về người Lê-vi: Mỗi người nam từ hai mươi lăm tuổi trở lên phải đến để tham gia phục vụ công việc trong Lều Hội Kiến. 25. Khi được năm mươi tuổi, họ sẽ ngừng lao động. Họ sẽ không làm việc nữa. 26. Họ có thể điều hành những anh em của mình trong Lều Hội Kiến để hoàn tất những nhu cầu, nhưng không làm việc nữa. Ngươi hãy trao trách nhiệm cho người Lê-vi để họ làm như vậy.”

 

9

  1. Vào tháng Giêng năm thứ hai sau khi ra khỏi Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se trong hoang mạc Si-nai rằng: 2. “Dân Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt Qua theo thời gian đã được chỉ định. 3. Vào lúc hoàng hôn của ngày mười bốn tháng nầy, các ngươi hãy giữ lễ đó như đã chỉ định. Các ngươi phải tuân giữ tất cả quy định và luật lệ của lễ đó.”
  2. Vì vậy, Môi-se đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt Qua. 5. Họ đã giữ lễ Vượt Qua vào lúc hoàng hôn của ngày mười bốn tháng Giêng tại hoang mạc Si-nai y như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm như vậy.
  3. Có một số người bị ô uế vì xác của người chết cho nên họ không thể giữ lễ Vượt Qua trong ngày hôm đó. Họ đã đến gặp Môi-se và A-rôn vào ngày hôm đó. 7. Họ nói với Môi-se rằng: “Chúng tôi bị ô uế vì xác của người chết. Vì sao giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên chúng tôi bị ngăn trở để dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va theo thời gian quy định?” 8. Môi-se nới với họ: “Hãy đứng yên để ta có thể nghe Đức Giê-hô-va phán về việc của các ngươi.”
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 10. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: Nếu có ai, hay người nào thuộc thế hệ theo sau của các ngươi, bị ô uế bởi xác chết hoặc vì bận đi xa, người đó vẫn có thể giữ lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va. 11. Họ sẽ giữ vào lúc hoàng hôn của ngày mười bốn tháng Hai. Họ sẽ ăn bánh không men và rau đắng. 12. Họ sẽ tuân giữ mọi luật lệ về Lễ Vượt Qua, không được để lại gì cho đến sáng hôm sau, và cũng không được làm gãy một cái xương nào. 13. Nhưng người nào tinh sạch và không đi xa mà không giữ lễ Vượt Qua, người đó sẽ bị khai trừ khỏi dân tộc của mình, bởi vì người đó không dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va trong thời gian quy định. Người đó sẽ mang tội của mình. 14. Nếu một kiều dân ở giữa các ngươi muốn giữ Lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va, người đó phải tuân theo quy định và luật lệ của lễ Vượt Qua. Các ngươi chỉ có một luật chung cho cả kiều dân và người bản xứ.”
  5. Vào ngày Ðền Tạm được dựng lên, mây đã bao phủ Đền Tạm tức là Lều Chứng Ước. Từ tối cho đến sáng, nó giống như lửa bên trên Đền Tạm. 16. Ban ngày, mây luôn luôn bao phủ và ban đêm thì nó giống như lửa. 17. Lúc nào mây cất lên khỏi Lều, thì sau đó dân Y-sơ-ra-ên sẽ ra đi. Nơi nào đám mây dừng lại, thì dân Y-sơ-ra-ên sẽ đóng trại của họ tại đó. 18. Dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va và đóng trại theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Bao lâu đám mây còn ngự trên Đền Tạm, thì dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng trại. 19. Thậm chí khi mây ngự trên Đền Tạm nhiều ngày, dân Y-sơ-ra-ên tuân giữ theo mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va không ra đi. 20. Có khi mây chỉ phủ trên Ðền Tạm vài ngày, theo lệnh của Đức Giê-hô-va, họ đóng trại; và rồi theo lệnh của Đức Giê-hô-va, họ ra đi. 21. Đôi khi mây chỉ ngự từ tối cho đến sáng, đến sáng, mây cất lên thì họ ra đi. Bất kể ngày hay đêm, khi đám mây cất lên thì họ ra đi. 22. Bất kể là hai ngày, một tháng, hay một năm, khi nào đám mây còn ngự trên Ðền Tạm, thì dân Y-sơ-ra-ên đóng trại và ở lại, mà không ra đi; nhưng khi đám mây cất lên, thì họ ra đi. 23. Họ đóng trại theo lệnh của Đức Giê-hô-va, và họ ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Họ tuân giữ lệnh của Đức Giê-hô-va đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.

 

10

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Ngươi hãy làm hai cây kèn bằng bạc dát mỏng. Ngươi sẽ dùng chúng để triệu tập hội chúng và hướng dẫn dân chúng di chuyển doanh trại. 3. Lúc cả hai được thổi lên thì toàn thể hội chúng sẽ tập họp trước mặt ngươi tại cửa Lều Hội Kiến. 4. Nhưng khi một cái thổi lên thì chỉ những lãnh đạo, tức là những người làm đầu mỗi chi tộc, sẽ tập họp lại với ngươi. 5. Khi các ngươi nghe tiếng kèn giục giã, các trại ở phía đông sẽ di chuyển. 6. Khi các ngươi nghe tiếng kèn giục giã lần thứ nhì, các trại ở phía nam sẽ di chuyển. Dân chúng sẽ di chuyển khi nghe tiếng kèn giục giã. 7. Lúc triệu tập dân chúng, các ngươi cũng nghe kèn thổi, nhưng không thổi giục giã. 8. Các con trai của A-rôn, tức là các tư tế, sẽ chịu trách nhiệm thổi kèn. Ðây là một quy luật vĩnh viễn trải qua mọi thế hệ. 9. Khi trong xứ có chiến tranh, các ngươi ra trận chống lại quân thù đang tấn công các ngươi, hãy thổi kèn vang dội. Các ngươi sẽ được Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi nhớ đến, và các ngươi sẽ được giải cứu khỏi quân thù. 10. Trong những ngày các ngươi vui mừng, vào những ngày lễ trọng thể, và vào những ngày đầu tháng, các ngươi hãy thổi kèn khi dâng tế lễ thiêu và khi dâng tế lễ bình an; tiếng kèn sẽ là sự nhắc nhở cho các ngươi rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.”
  2. Ngày hai mươi, tháng Hai, năm thứ hai, đám mây đã cất lên khỏi Ðền Tạm có Rương Chứng Ước. 12. Dân Y-sơ-ra-ên nhổ trại rời khỏi hoang mạc Si-nai, sau đó đám mây dừng lại tại hoang mạc Pha-ran. 13. Đây là lần thứ nhất dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo lệnh Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se.
  3. Cờ của trại quân Giu-đa đi trước, theo sau là những đoàn quân của Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp, chỉ huy quân đội của họ; 15. Na-tha-na-ên, con trai Xu-a, chỉ huy quân đội của chi tộc Y-sa-ca; 16. Ê-li-áp, con trai Hê-lôn, chỉ huy quân đội của chi tộc Sa-bu-lôn.
  4. Đền Tạm được hạ xuống. Con cháu của Ghẹt-sôn và con cháu của Mê-ra-ri khiêng Đền Tạm ra đi.
  5. Cờ của trại quân Ru-bên ra đi, theo sau là những đoàn quân của Ê-lít-su, con trai Sê-đêu, chỉ huy quân đội của họ; 19. Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai, chỉ huy quân đội của chi tộc Si-mê-ôn; 20. Ê-li-sáp, con trai Đê-u-ên, chỉ huy quân đội của chi tộc Gát.
  6. Người Kê-hát khiêng những vật thánh tại Đền Tạm ra đi, là những vật đã được chuẩn bị trước khi họ đến.
  7. Cờ của trại quân Ép-ra-im ra đi, theo sau là những đoàn quân của Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, chỉ huy quân đội của họ; 23. Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, chỉ huy quân đội của chi tộc Ma-na-se; 24. A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni, chỉ huy quân đội của chi tộc Bên-gia-min.
  8. Cờ của trại quân Đan đi tập hậu, theo sau là những đoàn quân của A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai, chỉ huy quân đội của họ; 26. Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran, chỉ huy quân đội của chi tộc A-se; 27. A-hi-ra, con trai Ê-nan, chỉ huy quân đội của chi tộc Nép-ta-li.
  9. Đó là trình tự mà dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo những đoàn quân của mình.
  10. Môi-se nói với Hô-báp, người Ma-đi-an, con trai Rê-u-ên, cha vợ của Môi-se: “Chúng tôi đang đi đến xứ mà Đức Giê-hô-va đã phán: Ta sẽ ban xứ đó cho các ngươi. Hãy đi với chúng tôi! Chúng tôi sẽ đối đãi tử tế với anh bởi vì Đức Giê-hô-va đã hứa ban phước cho dân Y-sơ-ra-ên. 30. Người trả lời: Tôi không đi đâu, nhưng tôi sẽ trở về với xứ sở của tôi và bà con của tôi. 31. Môi-se nói: Xin đừng bỏ chúng tôi, bởi vì anh biết nơi nào chúng tôi có thể đóng trại trong hoang mạc. Anh sẽ là con mắt của chúng tôi. 32. Nếu anh đi cùng chúng tôi, bất cứ ân phước nào Đức Giê-hô-va ban cho chúng tôi, chúng tôi sẽ chia sẻ với anh.”
  11. Vì vậy họ rời khỏi núi của Đức Giê-hô-va, cuộc hành trình kéo dài ba ngày. Rương Giao Ước của Đức Giê-hô-va đi trước họ trong cuộc hành trình kéo dài ba ngày để tìm cho họ một nơi an nghỉ. 34. Ban ngày khi dân Y-sơ-ra-ên dời trại quân đi thì đám mây của Đức Giê-hô-va ở trên họ.
  12. Khi Rương Giao Ước di chuyển, Môi-se nói rằng: “Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy trỗi dậy. Xin làm cho những kẻ thù của Ngài bị tan tác và những kẻ nào ghét Ngài phải trốn chạy khỏi mặt Ngài. 36. Khi Rương Giao Ước dừng lại thì Môi-se nói rằng: Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy trở lại với hằng chục ngàn ngàn dân Y-sơ-ra-ên!”

 

11

  1. Lúc đó, việc dân chúng phàn nàn về khó khăn đến tai của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va đã nghe và Ngài nổi giận. Lửa của Đức Giê-hô-va đã bùng cháy ở giữa dân chúng và thiêu hủy vòng đai của doanh trại. 2. Dân chúng kêu cầu Môi-se. Môi-se đã cầu xin Đức Giê-hô-va và lửa đã ngừng cháy. 3. Nơi đó đã được gọi là là Tha-bê-ra, bởi vì lửa của Đức Giê-hô-va đã bùng cháy ở giữa dân chúng.
  2. Bọn dân tạp ở giữa họ thèm muốn thức ăn, và dân Y-sơ-ra-ên lại than khóc rằng: “Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt? 5. Chúng tôi nhớ cá mà chúng tôi ăn không phải trả tiền tại Ai Cập, cùng với dưa leo, dưa hấu, củ kiệu, hành và tỏi. 6. Bây giờ, toàn thân chúng tôi khô kiệt. Mắt của chúng tôi không thấy gì hết, chỉ thấy ma-na mà thôi.”
  3. Ma-na giống như hạt ngò, màu hổ phách. 8. Dân chúng đi ra, nhặt về, rồi nghiền bằng cối xay hay giã bằng cối, rồi nấu trong nồi hoặc làm bánh. Hương vị của nó giống như bánh có trộn dầu. 9. Khi sương xuống trên trại quân vào ban đêm, ma-na cũng xuống theo.
  4. Môi-se nghe dân chúng trong khắp các gia đình, mỗi người than van tại cửa lều của mình, khiến cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi bừng lên, làm cho Môi-se rất buồn. 11. Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Tại sao Ngài làm khổ cho đầy tớ của Ngài? Tại sao con không được ơn trước mặt Ngài? Tại sao Ngài lại chất gánh nặng của cả dân tộc nầy trên con? 12. Con đâu có mang thai tất cả dân nầy? Con đâu có sinh họ ra mà Ngài bảo con: Hãy bồng ẵm dân nầy trong lòng ngươi như một người vú bồng đứa trẻ còn bú, cho đến khi họ vào trong xứ mà Ngài đã thề hứa ban cho tổ phụ của họ? 13. Con tìm đâu ra thịt cho cả đoàn dân này? Bởi vì họ đã khóc lóc với con rằng: Hãy cho chúng tôi ăn thịt. 14. Con không thể một mình gánh vác hết dân nầy, bởi vì họ quá nặng nề cho con. 15. Nếu Ngài đối đãi với con như vậy, và nếu con được ơn trước mặt Ngài, xin hãy giết con tại đây để con không thấy cảnh tệ hại của con.”
  5. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy triệu tập bảy mươi trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên lại, tức những người mà ngươi biết là những bậc trưởng thượng của dân chúng và là những lãnh đạo của dân. Hãy đưa họ đến Lều Hội Kiến. Họ sẽ đứng với ngươi tại đó. 17. Ta sẽ ngự xuống nói chuyện với ngươi tại đó. Ta sẽ đặt Thần Linh trên ngươi và cũng trên họ nữa, để họ sẽ mang gánh nặng của dân chúng với ngươi để ngươi không phải mang lấy gánh nặng đó một mình.
  6. Ngươi cũng hãy truyền cho dân chúng rằng: Các ngươi hãy biệt riêng mình ra thánh. Ngày mai các ngươi sẽ ăn thịt, bởi vì các ngươi đã khóc than và Đức Giê-hô-va đã nghe rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt, bởi vì chúng tôi đã từng được sung sướng tại Ai Cập. Vì vậy, Đức Giê-hô-va sẽ ban cho các ngươi thịt để ăn. 19. Các ngươi sẽ không ăn thịt trong một ngày, hai ngày, năm ngày, mười ngày, hay hai mươi ngày, 20. nhưng cả một tháng, cho đến khi nó tràn ra lỗ mũi của các ngươi và các ngươi sẽ chán ngán nó, bởi vì các ngươi đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va là Đấng đang ngự ở giữa các ngươi, để khóc than trước mặt Ngài rằng: Tại sao chúng tôi phải rời khỏi Ai Cập?”
  7. Môi-se thưa: “Con đang ở giữa một đoàn dân có sáu trăm ngàn đàn ông đang đứng đây mà Ngài bảo rằng: Ta sẽ ban thịt cho họ để ăn cả một tháng. 22. Những bầy chiên và bầy bò ở đâu để làm thịt cho họ ăn? Tất cả cá dưới biển nếu gom chúng lại, cũng không biết có đủ cho họ ăn hay không?”
  8. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Tay của Đức Giê-hô-va bị ngắn hay sao? Ngươi hãy xem điều Ta phán với ngươi có trở thành sự thật hay không!”
  9. Vì vậy, Môi-se đã đi đến nói với dân chúng những lời của Đức Giê-hô-va. Ông đã triệu tập bảy mươi trưởng lão của dân chúng, rồi để họ đứng chung quanh Lều. 25. Đức Giê-hô-va đã ngự xuống trong đám mây, phán với ông, đặt Thần Linh ở trên ông, và cũng đặt trên bảy mươi trưởng lão. Khi Thần Linh ngự trên bảy mươi trưởng lão thì họ nói tiên tri, mặc dù sau đó họ không bao giờ nói tiên tri nữa.
  10. Nhưng có hai người ở trong doanh trại, một người tên là Ên-đát và một người tên là Mê-đát, Thần Linh đã ngự trên hai người nầy. Họ được liệt kê trong danh sách nhưng đã không đến Lều, vì vậy họ đã nói tiên tri trong doanh trại. 27. Một thanh niên đã chạy đến báo cho Môi-se rằng: “Ên-đát và Mê-đát đang nói tiên tri trong doanh trại.” 28. Giô-suê, con trai của Nun, là một phụ tá trẻ của Môi-se, nói: “Thưa Môi-se, chúa của tôi, xin ngăn cấm họ!” 29. Môi-se trả lời cho người: “Ngươi ganh tị cho ta hay sao? Ôi! Ước gì tất cả dân của Đức Giê-hô-va là những tiên tri, và Đức Giê-hô-va ban Thần Linh của Ngài trên họ!”
  11. Và rồi, Môi-se cùng các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên trở về doanh trại.
  12. Đức Giê-hô-va khiến một trận gió nổi lên mang chim cút từ biển rồi đặt chúng gần doanh trại, phía bên nầy trải dài một ngày đường và phía bên kia trải chừng một ngày đường chung quanh cả doanh trại và cao hơn mặt đất chừng hai cu-bít. 32. Dân sự đã trỗi dậy lượm chim cút cả ngày hôm đó, cả đêm hôm đó, cùng cả ngày hôm sau. Người lượm ít nhất cũng được mười ô-me. Họ căng chim cút ra phơi khắp cả doanh trại. 33. Trong khi thịt vẫn còn nơi răng, chưa kịp nhai, thì cơn giận của Đức Giê-hô-va đã nổi bừng lên cùng dân chúng. Đức Giê-hô-va đã trừng phạt dân chúng bằng một tai họa nặng nề. 34. Nơi đó đã được gọi là Kíp-rốt Ha-tha-va, bởi vì người ta đã chôn những người tham muốn tại đó.
  13. Dân chúng đã đi chuyển từ Kíp-rốt Ha-tha-va đến Hát-sê-rốt, rồi đóng trại tại Hát-sê-rốt.

 

12

  1. Mi-ri-am nói xấu với A-rôn về Môi-se, vì phụ nữ người Cút mà ông đã cưới – bởi vì ông đã cưới một phụ nữ người Cút làm vợ. 2. Và rồi họ nói: “Phải chăng Đức Giê-hô-va chỉ phán qua Môi-se? Không phải Ngài cũng phán qua chúng ta nữa hay sao? Đức Giê-hô-va đã nghe điều đó.”
  2. Môi-se là một người rất khiêm nhường. Ông khiêm nhường hơn tất cả mọi người trên mặt đất.
  3. Đức Giê-hô-va thình lình phán cùng Môi-se, A-rôn và Mi-ri-am: “Cả ba hãy đến Lều Hội Kiến.” Cả ba đã đến đó. 5. Đức Giê-hô-va ngự xuống trong trụ mây đứng tại cửa Lều Hội Kiến. Ngài gọi A-rôn và Mi-ri-am. Hai người tiến về phía trước. 6. Ngài phán: “Hãy lắng nghe lời của Ta. Khi có một tiên tri ở giữa các ngươi thì Ta, là Đức Giê-hô-va, sẽ bày tỏ chính mình Ta cho người đó trong khải tượng và phán với người đó trong chiêm bao. 7. Nhưng với đầy tớ của Ta là Môi-se, thì không phải như vậy. Trong cả nhà của Ta, người thật trung tín. 8. Ta nói chuyện với người miệng đối miệng, rõ ràng không có lời bí ẩn. Người nhìn thấy hình dạng của Đức Giê-hô-va. Vì vậy tại sao các ngươi không kính sợ mà lại nói xấu đầy tớ của Ta là Môi-se?”
  4. Cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên cùng họ, rồi Ngài ngự đi. 10. Khi đám mây cất lên khỏi Lều thì Mi-ri-am bị phung trắng như tuyết. A-rôn quay lại nhìn Mi-ri-am thì thấy bà đã mắc bệnh phung. 11. A-rôn nói với Môi-se: “Ôi chúa của tôi! Xin đừng đặt để tội này trên chúng tôi, bởi vì chúng tôi đã dại dột nên đã phạm tội này. 12. Xin đừng để nàng giống như một người chết, thịt đã bị thiêu hủy hết một nửa khi vừa lọt khỏi lòng mẹ.”
  5. Môi-se đã kêu cầu Đức Giê-hô-va: “Đức Chúa Trời ôi! Con cầu xin Ngài hãy chữa lành cho nàng!”
  6. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Nếu cha nàng phỉ nhổ vào mặt nàng, không phải nàng phải chịu xấu hổ trong bảy ngày hay sao? Nàng phải bị giữ ngoài doanh trại trong bảy ngày, sau đó nàng sẽ được tiếp nhận trở lại.”
  7. Vì vậy, Mi-ri-am bị giữ bên ngoài doanh trại trong bảy ngày. Dân chúng không khởi hành cho đến khi nàng được đem vào trở lại.
  8. Sau đó, dân chúng đã di chuyển khỏi Hát-sê-rốt, rồi đến đóng trại tại hoang mạc Pha-ran.

 

13

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy sai người đi trinh sát xứ Ca-na-an mà Ta sẽ ban cho dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi chi tộc hãy gởi một người, tức là một trong những lãnh đạo của họ.”
  2. Vì vậy, từ hoang mạc Pha-ran, Môi-se đã sai họ ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Tất cả đều là những người lãnh đạo của dân Y-sơ-ra-ên. 4. Đây là tên của họ: Chi tộc Ru-bên: Sam-mua, con trai Xa-cu. 5. Chi tộc Si-mê-ôn: Sa-phát, con trai của Hô-ri. 6. Chi tộc Giu-đa: Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê. 7. Chi tộc Y-sa-ca: Di-ganh, con trai của Giô-sép. 8. Chi tộc Ép-ra-im: Hô-sê con trai của Nun. 9. Chi tộc Bên-gia-min: Phan-thi, con trai của Ra-phu. 10. Chi tộc Sa-bu-lôn: Gát-đi-ên, con trai của Sô-đi. 11. Chi tộc Giô-sép, tức chi tộc Ma-na-se: Ga-đi, con trai của Su-si. 12. Chi tộc Đan: A-mi-ên, con trai của Ghê-ma-li. 13. Chi tộc A-se: Sê-thu, con trai của Mi-ca-ên. 14. Chi tộc Nép-ta-li: Nách-bi, con trai của Vấp-si. 15. Chi tộc Gát: Gu-ên, con trai của Ma-ki. 16. Đó là tên của những người mà Môi-se sai đi trinh sát xứ. Môi-se đã đặt tên cho Hô-sê, con trai của Nun, là Giô-suê.
  3. Khi Môi-se sai họ trinh sát xứ Ca-na-an, ông dặn họ: “Các ngươi hãy đến Nê-ghép rồi đi lên vùng núi. 18. Hãy xem đất đai như thế nào, dân chúng sống tại đó mạnh hay yếu, nhiều hay ít, 19. xứ đang ở là tốt hay xấu, những thành phố, những doanh trại, những đồn lũy ở chỗ nào, 20. đất đai màu mỡ hay cằn cỗi, có cây cối hay không. Hãy can đảm, và mang về một ít trái cây của xứ.” – Lúc đó là mùa nho đang chín đợt nhất.
  4. Vì vậy, họ đã đi lên để trinh sát xứ từ hoang mạc Xin cho đến Rê-hốp gần lối vào Ha-mát. 22. Họ đã đi xuyên qua Nê-ghép, đến Hếp-rôn, là nơi sinh sống của A-hi-man, Sê-sai, và Thanh-mai, thuộc dòng dõi của A-nác. Hếp-rôn đã được xây trước Xô-an của Ai Cập bảy năm. 23. Họ đã đến thung lũng Ếch-côn, tại đó họ đã cắt một cành có vỏn vẹn một chùm nho mà phải hai người dùng đòn mới khiêng nổi. Họ cũng mang về những trái lựu và trái vả. 24. Địa điểm đó được gọi là thung lũng Ếch-côn, bởi vì dân Y-sơ-ra-ên đã cắt chùm nho tại đó.
  5. Sau khi trinh sát xứ bốn mươi ngày, họ đã quay về. 26. Họ đến gặp Môi-se, A-rôn, và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên tại Ca-đe, thuộc hoang mạc Pha-ran. Họ tường thuật lại cho những người nầy và tất cả hội chúng. Họ cũng cho xem trái cây của xứ. 27. Họ thuật lại rằng: Chúng tôi đã đến xứ mà quý vị đã sai chúng tôi đi. Đó thật sự là nơi đượm sữa và mật. Đây là trái cây của xứ. 28. Tuy nhiên, dân sống trong xứ rất mạnh, các thành phố có đồn lũy. Ngoài ra, chúng tôi cũng thấy có con cháu của A-nác tại đó. 29. Người A-ma-léc ở trong xứ Nê-ghép. Người Hê-tít, Giê-bu-sít, và A-mô-rít ở trên vùng đồi núi. Người Ca-na-an sống gần biển và dọc theo sông Giô-đanh.
  6. Ca-lép làm cho dân chúng trước mặt Môi-se yên lặng, ông nói: “Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ ngay lập tức, bởi vì chúng ta có thừa sức để đắc thắng.” 31. Tuy nhiên những người đã cùng đi với ông nói: “Chúng ta không thể nào đi lên đánh nổi dân đó bởi vì họ mạnh hơn chúng ta.” 32. Những người nầy đã báo cáo sai lạc cho dân Y-sơ-ra-ên về xứ mà họ đã do thám rằng: “Vùng đất mà chúng tôi đã do thám là một vùng đất ăn nuốt cư dân của nó. Tất cả những người chúng tôi đã thấy tại đó đều là những người cao lớn. 33. Chúng tôi đã thấy những người khổng lồ – con cháu của A-nác thuộc dòng dõi của những người khổng lồ – Chúng tôi đã thấy mình như những con cào cào, và họ thấy chúng tôi cũng như vậy.”

 

14

  1. Tất cả hội chúng đã cất tiếng kêu than. Dân chúng đã khóc trong đêm đó. 2. Tất cả dân Y-sơ-ra-ên đã phàn nàn với Môi-se và A-rôn. Toàn thể hội chúng đã nói với hai ông: “Chẳng thà chúng tôi bị chết tại Ai Cập hoặc bị chết trong đồng hoang nầy. 3. Tại sao Đức Giê-hô-va lại dẫn chúng tôi vào đất nầy để chúng tôi bị ngã gục bởi gươm, để vợ và các con của chúng tôi bị cướp bắt? Chúng ta hãy quay trở lại Ai Cập, không phải là tốt hơn hay sao?” 4. Rồi họ bàn với nhau: “Chúng ta hãy lập một người lãnh đạo, rồi quay trở lại Ai Cập.”
  2. Môi-se và A-rôn đã sấp mình xuống trước mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên. 6. Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê – những người đã đi trinh sát xứ – đã xé y phục của mình. 7. Họ nói với tất cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: “Đất mà chúng tôi đã đi qua và trinh sát là một vùng đất cực kỳ tốt. 8. Nếu Đức Giê-hô-va hài lòng với chúng ta, Ngài sẽ đem chúng ta vào đất nầy và Ngài sẽ ban vùng đất đượm sữa và mật đó cho chúng ta. 9. Chỉ cần quý vị đừng nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va và cũng đừng sợ hãi dân của xứ đó, bởi vì họ sẽ làm thức ăn cho chúng ta. Sự che chở của họ đã lìa khỏi họ, nhưng Đức Giê-hô-va ở cùng chúng ta. Đừng sợ hãi họ.”
  3. Tất cả hội chúng đã bàn nhau để ném đá những người nầy, nhưng vinh quang của Đức Giê-hô-va đã hiện ra trong Lều Hội Kiến trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. 11. Đức Giê-hô-va nói cùng Môi-se rằng: “Dân nầy xem thường Ta cho đến bao lâu nữa? Họ không chịu tin Ta cho đến chừng nào, mặc dù Ta đã làm bao nhiêu phép lạ ở giữa họ? 12. Ta sẽ giáng dịch bệnh trên họ, cất bỏ ơn hưởng cơ nghiệp của họ, rồi Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn hơn, và hùng mạnh hơn họ.”
  4. Nhưng Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: “Dân Ai Cập sẽ nghe về việc nầy bởi vì Ngài đã dùng quyền năng đem dân nầy ra khỏi họ. 14. Họ sẽ thuật lại cho cư dân của xứ họ biết điều nầy. Đức Giê-hô-va ôi! Họ đã nghe rằng Ngài đang ở với dân tộc nầy, và chính Ngài, là Đức Giê-hô-va, đã được nhìn thấy mặt đối mặt. Đám mây của Ngài đang ngự trên dân chúng. Ngài đã đi trước dân chúng ban ngày trong một trụ mây và ban đêm trong một trụ lửa. 15. Nếu Ngài giết hết dân nầy như giết một người thì các dân tộc đã nghe nói về Ngài sẽ nói rằng: 16. Đức Giê-hô-va không thể dẫn dân nầy vào đất mà Ngài đã thề với họ, cho nên Ngài đã giết họ trong hoang mạc. 17. Vì vậy, bây giờ con cầu xin quyền năng của Đức Giê-hô-va được thể hiện một cách lớn lao như lời Ngài đã phán rằng: 18. Đức Giê-hô-va chậm nóng giận, đầy dẫy tình thương, tha thứ tội lỗi và sự phản nghịch, nhưng Ngài không kể kẻ có tội là vô tội, và phạt con cháu ba bốn đời vì tội của tổ phụ. 19. Cầu xin Ngài tha thứ tội lỗi của dân nầy theo tình thương lớn lao của Ngài, như Ngài đã từng tha thứ cho dân nầy từ khi họ rời Ai Cập cho đến nay.”
  5. Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ tha thứ như ngươi đã cầu xin. 21. Nhưng quả thật như Ta hằng sống và vinh quang của Ta tràn ngập đất, 22. tất cả những người đã thấy vinh quang của Ta cùng những phép lạ mà Ta đã làm tại Ai Cập và trong hoang mạc nhưng đã thử Ta mười lần và không vâng lời Ta, 23. thì không một ai trong số họ sẽ thấy xứ mà Ta đã thề hứa ban cho tổ phụ của họ. Không một người nào khinh thường Ta sẽ thấy được xứ đó. 24. Tuy nhiên Ca-lép, đầy tớ của Ta, là người có một tinh thần khác, đã theo Ta hết lòng, cho nên Ta sẽ đem người vào trong xứ mà người đã đến đó, và rồi dòng dõi của người sẽ hưởng nơi đó làm sản nghiệp. 25. Bây giờ, dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở trong các thung lũng, còn các ngươi ngày mai hãy nhổ trại quay trở lại hoang mạc theo đường đến Biển Đỏ.”
  6. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 27. “Đám người gian ác nầy cứ lằm bằm chống lại Ta cho đến khi nào? Ta đã nghe những lời phàn nàn của dân Y-sơ-ra-ên chống lại Ta. 28. Hãy nói với họ rằng Đức Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống, Ta sẽ làm cho các ngươi như những lời Ta đã nghe các ngươi nói: 29. Xác của các ngươi sẽ ngã xuống trong hoang mạc này. Tất cả các ngươi trong số những người đã được thống kê từ hai mươi tuổi trở lên, tức là những người đã phàn nàn chống lại Ta, 30. các ngươi sẽ không có cách nào để vào trong xứ mà Ta dự định nâng bàn tay của Ta để dưa các ngươi vào cư ngụ tại đó – ngoại trừ Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, và Giô-suê, con trai của Nun. 31. Tuy nhiên, các con nhỏ của các ngươi, là những đứa mà các ngươi bảo rằng chúng sẽ bị cướp bắt, thì Ta sẽ đem chúng vào đó, và chúng sẽ biết xứ mà các ngươi đã xem thường. 32. Còn về phần các ngươi, xác của các ngươi sẽ ngã xuống trong hoang mạc nầy. 33. Con cháu của các ngươi sẽ phải lang thang chăn bầy trong hoang mạc bốn mươi năm, phải gánh chịu sự nhọc nhằn do sự bất trung của các ngươi, cho đến khi xác của các ngươi bị thiêu hủy trong hoang mạc. 34. Căn cứ theo số ngày mà các ngươi đã đi trinh sát xứ, tức là bốn mươi ngày, các ngươi sẽ mang hình phạt vì tội lỗi của mình một năm cho một ngày, tức là bốn mươi năm, và rồi các ngươi sẽ thấu hiểu sự chối bỏ Ta. 35. Ta là Giê-hô-va đã phán thì chắc chắn Ta sẽ thi hành tất cả những điều đó cho hội chúng gian ác nầy, là những kẻ đã liên kết với nhau để chống lại Ta. Họ sẽ chết trong hoang mạc và họ sẽ bị tiêu diệt tại đó.”
  7. Về phần những người mà Môi-se đã sai đi trinh sát xứ rồi trở về dùng báo cáo sai trật xui cho hội chúng lằm bằm chống lại ông, 37. họ đã bị chết. Những kẻ đã báo cáo sai trật về xứ đã bị giáng tai họa chết trước mặt Đức Giê-hô-va. 38. Trong những người đi trinh sát xứ chỉ có Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, vẫn còn sống.
  8. Môi-se thuật lại những lời nầy cho tất cả dân Y-sơ-ra-ên. Dân chúng đã khóc lóc thật thảm thiết.
  9. Sáng hôm sau, họ dậy sớm tiến lên đỉnh núi, rồi nói: “Chúng tôi đã phạm tội. Bây giờ chúng tôi sẽ đi lên nơi mà Đức Giê-hô-va đã hứa.” 41. Môi-se nói: “Tại sao các ngươi trái lệnh của Đức Giê-hô-va trong việc nầy? Việc đó sẽ không thành công đâu. 42. Đừng đi lên nơi đó bởi vì Đức Giê-hô-va không còn ở giữa các ngươi. Đừng để cho các ngươi bị đánh bại bởi những kẻ thù của các ngươi. 43. Vì dân A-ma-léc và dân Ca-na-an đang ở trước mặt các ngươi. Các ngươi sẽ bị ngã gục dưới lưỡi gươm, bởi vì các ngươi đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va sẽ không ở cùng các ngươi nữa.”
  10. Tuy nhiên, họ cứ ngoan cố cứ lên đỉnh núi mặc dù Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va cũng như Môi-se không rời khỏi doanh trại. 45. Dân A-ma-léc và dân Ca-na-an sống trên vùng núi đã tràn xuống tấn công họ, rồi truy đuổi họ cho đến tận Họt-ma.

 

15

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ rằng: Khi các ngươi vào ở trong xứ mà Ta ban cho các ngươi, 3. hãy dâng tế lễ bằng lửa cho Đức Giê-hô-va – tức là tế lễ thiêu, sinh tế hoàn nguyện, tế lễ lạc ý, hay tế lễ cho những dịp lễ – hãy dâng gia súc từ bầy bò hay bầy chiên của các ngươi làm một tế lễ có hương thơm cho Đức Giê-hô-va. 4. Người nào đem dâng tế lễ, hãy dâng cho Đức Giê-hô-va một tế lễ chay là một phần mười ê-pha bột mì mịn trộn với một phần tư hin dầu. 5. Cứ mỗi con chiên dùng làm tế lễ thiêu hay làm sinh tế, hãy chuẩn bị một phần tư hin rượu để làm lễ quán. 6. Nếu là một con chiên đực, hãy chuẩn bị tế lễ chay là hai phần mười ê-pha bột mịn trộn với một phần ba hin dầu, 7. cùng một phần ba hin rượu để làm lễ quán. Các ngươi hãy dâng tế lễ có hương thơm cho Đức Giê-hô-va. 8. Khi dâng một con bò tơ làm tế lễ thiêu, hoặc sinh tế hoàn nguyện, hay tế lễ bình an cho Đức Giê-hô-va, 9. hãy dâng cùng với con bò tơ một tế lễ chay bằng ba phần mười ê-pha bột mịn trộn với nửa hin dầu, 10. cùng với nửa hin rượu để làm lễ quán. Đó là một tế lễ dâng bằng lửa có hương thơm cho Đức Giê-hô-va.
  2. Hãy làm như vậy mỗi khi dâng một con bò đực, hay một con chiên đực, và cho mỗi một con chiên con đực, hay mỗi một con dê con. 12. Các ngươi hãy chuẩn bị tùy theo số lượng để các ngươi làm như vậy cho mỗi con tùy theo số lượng. 13. Mỗi người được sinh ra trong xứ đều phải làm như vậy khi dùng lửa dâng một tế lễ có hương thơm cho Đức Giê-hô-va.
  3. Nếu một người ngoại kiều đang sống ở giữa các ngươi, hay là một người đã ở với các ngươi qua nhiều thế hệ, muốn dâng tế lễ bằng lửa có hương thơm cho Đức Giê-hô-va thì người đó hãy làm như các ngươi đã làm. 15. Chỉ có một luật chung cho cả hội chúng: cho các ngươi và cho ngoại kiều sống giữa vòng các ngươi. Đó là một quy định đời đời trải qua các thế hệ. Đối với Đức Giê-hô-va, các ngươi và ngoại kiều đều như nhau. 16. Cùng một luật pháp và cùng một quy định được áp dụng cho các ngươi và cho ngoại kiều sống giữa các ngươi.”
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 18. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ rằng: Khi các ngươi vào trong xứ mà Ta sẽ đem các ngươi vào đó, 19. khi các ngươi ăn thực phẩm tại xứ đó, hãy dâng một phần lễ vật cho Đức Giê-hô-va. 20. Các ngươi hãy dâng một cái bánh làm từ bột nhồi lần đầu tiên để làm một của lễ cung hiến. Các ngươi hãy dâng nó lên như là lễ vật cung hiến cho sân đạp lúa. 21. Trải qua các thế hệ, các ngươi hãy dâng lễ vật từ đống bột nhồi đầu tiên cho Đức Giê-hô-va.
  5. Nếu các ngươi vô ý phạm tội không giữ tất cả những điều răn mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se, 23. tức là mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền qua tay của Môi-se cho các ngươi – từ lúc Đức Giê-hô-va đã truyền cho đến nhiều thế hệ.
  6. Trường hợp nếu hội chúng vô ý phạm tội mà không hay biết, thì cả hội chúng hãy dâng một tế lễ thiêu bằng một con bò đực tơ để làm tế lễ có hương thơm cho Đức Giê-hô-va, cùng với tế lễ chay và lễ quán như luật đã định, và một con dê đực tơ để làm tế lễ chuộc tội. 25. Tư tế sẽ cử hành tế lễ chuộc tội cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, và họ sẽ được tha thứ bởi vì họ đã phạm tội không cố ý. Họ sẽ đem một tế lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Vì phạm tội không cố ý, họ sẽ dâng một tế lễ để chuộc tội của mình trước mặt Đức Giê-hô-va. 26. Như vậy cả hội chúng Y-sơ-ra-ên và ngoại kiều sống ở giữa họ sẽ được tha tội – bởi vì toàn dân đã phạm tội không cố ý.
  7. Nếu một cá nhân vô ý phạm tội thì người đó phải dâng một con dê cái một tuổi để làm tế lễ chuộc tội. 28. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho người đã vô ý phạm tội trước mặt Đức Giê-hô-va để chuộc tội cho lầm lỗi vì đã vô ý phạm, để người đó được tha thứ. 29. Chỉ có một luật lệ về việc phạm tội không cố ý cho cả dân Y-sơ-ra-ên và ngoại kiều đang sống ở giữa họ.
  8. Nhưng người nào cố ý phạm tội, bất kể là dân bản xứ hay là ngoại kiều, cố tình xúc phạm đến Đức Giê-hô-va, thì người đó sẽ bị khai trừ khỏi dân của Ngài. 31. Bởi vì người đó đã khinh thường lời của Đức Giê-hô-va và vi phạm điều răn của Ngài cho nên sẽ bị khai trừ, và tội lỗi của người đó sẽ đổ lại trên chính người đó.”
  9. Khi dân Y-sơ-ra-ên đang ở trong hoang mạc, người ta bắt gặp một người lượm củi trong ngày Sa-bát. 33. Họ đem người đã lượm củi đến với Môi-se, A-rôn, và cả hội chúng. 34. Họ đã giam giữ người đó, bởi vì không biết phải làm gì với người đó. 35. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: Kẻ đó phải bị xử tử. Cả hội chúng hãy ném đá nó bên ngoài doanh trại. 36. Cả hội chúng đã đem người ra ngoài doanh trại, họ ném đá người đó, và người đó đã chết đúng như lệnh Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  10. Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se: 38. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ rằng: Suốt nhiều thế hệ, hãy làm một cái tua nơi các chéo áo của mình. Trên mỗi cái tua, hãy kết một sợi dây màu xanh dương. 39. Các ngươi hãy mang cái tua để khi nhìn thấy nó, các ngươi nhớ lại tất cả điều răn của Đức Giê-hô-va mà làm theo những điều đó, không làm theo tư dục của lòng và mắt của mình, là những điều làm cho các ngươi sa vào sự tà dâm. 40. Như vậy các ngươi hãy ghi nhớ và làm theo tất cả những điều răn của Ta, và hãy trở nên thánh cho Ðức Chúa Trời của các ngươi. 41. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi, là Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập để làm Ðức Chúa Trời của các ngươi. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi.”

 

16

  1. Cô-rê: con trai của Dít-sê-ha, con trai của Kê-hát, thuộc dòng dõi Lê-vi, cùng với Đa-than và A-bi-ram: con trai của Ê-li-áp, và Ôn: con trai của Phê-lết, thuộc dòng dõi Ru-bên, hiệp với nhau. 2. Họ đứng lên chống lại Môi-se, với hai trăm năm mươi lãnh đạo của dân Y-sơ-ra-ên, tức là những người đại diện cho hội chúng, là những người có danh tiếng. 3. Họ họp với nhau để chống lại Môi-se và A-rôn. Họ nói: “Các ông đã giành cho mình quá nhiều. Bởi vì cả hội chúng là thánh, mỗi một người là như vậy, và Đức Giê-hô-va đang ngự ở giữa họ, tại sao các ông lại tự nhấc mình cao hơn hội chúng của Đức Giê-hô-va?”
  2. Khi nghe điều nầy, Môi-se sấp mặt của mình xuống đất. 5. Ông nói với Cô-rê và những người theo hắn rằng: “Sáng mai Đức Giê-hô-va sẽ cho biết ai thuộc về Ngài và ai là thánh. Ai được phép đến gần Ngài thì Ngài sẽ cho đến gần Ngài. Người nào Ngài chọn, Ngài sẽ cho đến gần Ngài. 6. Cô-rê và tất cả những người trong nhóm của ông, hãy làm điều nầy: Hãy lấy lư hương của các ông. 7. Ngày mai, trước mặt Đức Giê-hô-va, hãy bỏ lửa vào, rồi bỏ hương vào. Người nào mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn, người đó là người thánh. Hỡi con cháu của Lê-vi, các ông thật quá lắm.”
  3. Môi-se nói với Cô-rê: “Hỡi con cháu của Lê-vi! Hãy nghe nầy: 9. Đối với các ông, việc Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã biệt riêng các ông ra khỏi hội chúng Y-sơ-ra-ên, đem các ông đến gần Ngài để làm công việc trong Đền Tạm của Đức Giê-hô-va và phục vụ trước mặt hội chúng, đó chỉ là chuyện nhỏ hay sao? 10. Còn ông, Ngài đã cho ông cùng với tất cả anh em người Lê-vi của ông được đến gần Ngài, các ông còn muốn kiếm chức vụ tư tế nữa hay sao? 11. Như vậy, ông và cả đồng bọn của ông đã hiệp nhau chống lại Đức Giê-hô-va, chứ A-rôn là ai mà các ông lằm bằm chống lại ông ấy?”
  4. Môi-se sai gọi Đa-than và A-bi-ram, con trai Ê-li-áp, nhưng họ nói: “Chúng tôi không đến! 13. Ông đã đem chúng tôi ra khỏi xứ đượm sữa và mật để chết trong hoang mạc – đó không phải là chuyện nhỏ – và rồi ông còn muốn tể trị trên chúng tôi nữa hay sao? 14. Hơn nữa, ông không dẫn chúng tôi vào một xứ đượm sữa và mật, và cũng không cho chúng tôi đồng ruộng hay là vườn nho để làm sản nghiệp. Ông tính khoét mắt của những người nầy hay sao? Chúng tôi không đến đâu!”
  5. Môi-se rất giận. Ông thưa với Đức Giê-hô-va: “Xin Ngài đừng hướng về tế lễ của họ. Con không bắt một con lừa nào của họ và cũng không làm hại một ai trong bọn họ.”
  6. Môi-se nói với Cô-rê: “Ngày mai, ông cùng những người theo ông, A-rôn cũng vậy, tất cả hãy ra mắt Đức Giê-hô-va. 17. Mỗi người hãy mang lư hương của mình, bỏ hương vào trong đó, rồi mỗi người hãy mang lư hương của mình đến trước mặt Đức Giê-hô-va – hai trăm năm mươi lư hương” – Ông và A-rôn phải có lư hương của mình.
  7. Vì vậy mỗi người đều lấy lư hương của mình, để lửa vào trong đó, bỏ hương vào trong đó, rồi đứng trước cửa Lều Hội Kiến cùng với Môi-se và A-rôn. 19. Cô-rê đã nhóm họp cả hội chúng tại cửa Lều Hội Kiến để chống lại họ.

Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cho tất cả hội chúng. 20. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 21. “Các ngươi hãy tách khỏi hội chúng nầy. Ta sẽ thiêu rụi chúng trong giây lát.” 22. Họ sấp mặt xuống và nói: “Lạy Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời ban sinh khí cho mọi loài xác thịt. Lẽ nào chỉ vì một người phạm tội mà Ngài nổi giận cùng cả hội chúng hay sao?”

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 24. “Hãy truyền cho hội chúng và nói rằng: Hãy dang ra khỏi chỗ ở của Cô-rê, Đa-than, và A-bi-ram.”
  2. Môi-se đứng dậy, đến cùng Đa-than và A-bi-ram. Các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đi theo ông. 26. Ông nói với hội chúng: “Hãy tránh ra khỏi trại của những kẻ nầy. Họ là những kẻ gian ác. Đừng đụng đến những gì của họ. Đừng để các ngươi cùng bị tiêu diệt với tất cả tội lỗi của họ.” 27. Vì vậy, dân chúng đã tránh xa khỏi chỗ ở của Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram.

Đa-than và A-bi-ram đi ra, đứng tại cửa trại của họ, cùng với vợ, con, và cháu của họ.

  1. Môi-se nói: “Bởi điều nầy, các ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va đã sai ta làm tất cả những điều nầy chứ không phải tự ý của ta. 29. Nếu những người nầy chết giống như mọi người khác, hoặc nếu họ đồng chịu số phận chung như mọi người, thì Đức Giê-hô-va không sai ta. 30. Nhưng nếu Đức Giê-hô-va làm một việc mới lạ – như đất hả miệng ra nuốt họ cùng mọi vật thuộc về họ – và nếu tất cả bọn họ còn đang sống mà xuống âm phủ, thì các ngươi sẽ biết rằng những người nầy đã xem thường Đức Giê-hô-va.”
  2. Vừa khi ông nói xong những lời đó, đất bên dưới họ nứt ra. 32. Ðất mở miệng nuốt họ cùng với gia đình của họ – tức là tất cả những người thuộc về Cô-rê – và tất cả đồ vật của họ. 33. Tất cả những người đó còn đang sống đã đi xuống âm phủ, cùng với mọi vật thuộc về họ. Đất đã lấp họ và họ đã bị tiêu diệt khỏi hội chúng. 34. Khi nghe tiếng thét của họ, tất cả những người Y-sơ-ra-ên đứng chung quanh họ đã bỏ chạy, và nói rằng: “Đừng để đất nuốt chúng ta.”
  3. Và rồi một ngọn lửa từ Đức Giê-hô-va phát ra, thiêu rụi hai trăm năm mươi người đã dâng hương.
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 37. “Hãy truyền cho Ê-lê-a-sa, con trai của Tư tế A-rôn, nhặt các lư hương khỏi nơi đang cháy, rồi rải lửa thật xa, bởi vì chúng đã được thánh hóa. 38. Còn những lư hương của những người vì phạm tội mà phải mất mạng, thì hãy dát thành những tấm mỏng để bọc bàn thờ, bởi vì những lư hương đó đã được dâng trước mặt Đức Giê-hô-va và đã được thánh hóa. Chúng sẽ làm một dấu hiệu cho dân Y-sơ-ra-ên. 39. Vì vậy, Tư tế Ê-lê-a-xa đã lấy các lư hương bằng đồng, mà những người bị chết cháy đã dâng, để làm thành những tấm đồng dát mỏng để bọc bàn thờ, 40. để làm vật nhắc nhở cho dân Y-sơ-ra-ên rằng không một người xa lạ nào, ngoại trừ dòng dõi của A-rôn, được phép đến gần để xông hương trước mặt Đức Giê-hô-va. Nếu không, người đó sẽ đồng số phận với Cô-rê và những người theo hắn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.”
  5. Ngày hôm sau, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã lằm bằm chống lại Môi-se và A-rôn. Họ nói rằng: “Các ông đã giết dân của Đức Giê-hô-va!” 42. Sau đó, khi hội chúng họp nhau để chống lại Môi-se và A-rôn, họ nhìn về phía Lều Hội Kiến thì thình lình đám mây bao phủ Lều và vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra. 43. Môi-se và A-rôn đến đứng trước mặt của Lều Hội Kiến. 44. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 45. “Hãy tránh ra khỏi giữa hội chúng này. Ta sẽ tiêu diệt chúng ngay lập tức. Họ sấp mặt xuống đất.”
  6. Môi-se bảo A-rôn: “Anh hãy cầm lư hương, lấy lửa ở bàn thờ bỏ vào, bỏ hương vào, rồi mang nó thật nhanh đến giữa hội chúng để làm tế lễ chuộc tội cho họ” – Bởi vì cơn thạnh nộ từ Đức Giê-hô-va đã phát ra, và trận dịch đã bắt đầu. 47. A-rôn đã làm theo điều Môi-se truyền, chạy vào giữa hội chúng. Trận dịch đã bắt đầu giữa vòng hội chúng. Ông đã dâng hương và làm lễ chuộc tội cho dân chúng. 48. Ông đứng giữa người chết và người sống. Tai họa đã ngừng lại. 49. Bên cạnh những người đã chết vì Cô-rê, 14.700 người đã chết trong trận dịch đó. 50. Khi tai họa ngưng, A-rôn trở lại với Môi-se tại Lều Hội Kiến.

 

17

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên và các tộc trưởng của các gia tộc, để lấy cây gậy của tộc trưởng của mỗi gia tộc có khắc tên của mỗi người trên cây gậy của mình. Tất cả là mười hai cây gậy. 3. Cũng hãy viết tên của A-rôn vào cây gậy của chi tộc Lê-vi, bởi vì mỗi chi tộc sẽ có một cây gậy. 4. Ngươi hãy đem những gậy này đặt trong Lều Hội Kiến trước Rương Giao Ước, là nơi Ta gặp ngươi. 5. Người nào được Ta chọn thì cây gậy của người đó sẽ trổ hoa. Chính Ta sẽ làm suy giảm những phàn nàn của dân Y-sơ-ra-ên, tức là những điều mà họ đã dựa vào đó để chống lại ngươi.”
  2. Vì vậy, Môi-se đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên nộp cho ông cây gậy của của mỗi lãnh đạo: Mỗi lãnh đạo một cây gậy, tức là mười hai cây gậy, theo số chi tộc. Cây gậy của A-rôn cũng gộp chung với những cây gậy đó. 7. Môi-se đặt những gậy đó trước mặt Đức Giê-hô-va trong Lều Hội Kiến.
  3. Và rồi ngày hôm sau, Môi-se vào trong Lều Hội Kiến thì thấy cây gậy của A-rôn thuộc nhà Lê-vi đã đâm chồi, trổ nụ, nở hoa, và ra trái hạnh nhân. 9. Môi-se đem tất cả những cây gậy đã được đặt trước mặt Đức Giê-hô-va cho dân Y-sơ-ra-ên xem. Họ nhìn thấy, và rồi mỗi người lấy lại cây gậy của mình.
  4. Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se: “Hãy đem cây gậy của A-rôn đặt lại trước Rương Giao Ước, nó được giữ lại để làm một biểu tượng cảnh cáo về sự nổi loạn. Ngươi hãy dẹp những lời cằn nhằn chống lại Ta đừng để họ phải chết.”
  5. Môi-se làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông, và ông đã làm đúng như vậy. 12. Dân Y-sơ-ra-ên nói với Môi-se: “Chúng tôi sẽ chết, chúng tôi bị hủy diệt, tất cả chúng tôi bị hủy diệt! 13. Ai đến gần Lều Hội Kiến của Đức Giê-hô-va sẽ chết. Không lẽ chúng tôi sẽ chết hết sao?”

 

18

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn: “Ngươi, các con của ngươi, và những người trong gia tộc của ngươi sẽ chịu trách nhiệm về những vi phạm trong nơi thánh; riêng ngươi và các con của ngươi sẽ chịu trách nhiệm về những vi phạm trong chức vụ tư tế. 2. Hãy đem các anh em của ngươi thuộc chi tộc Lê-vi, tức là những người trong chi tộc của cha ngươi, để họ cộng tác với ngươi và giúp đỡ ngươi; còn ngươi và các con của ngươi phải lo phục vụ trước Lều Chứng Ước. 3. Họ sẽ thực hiện những nhu cầu của ngươi và tất cả những nhu cầu của Đền Tạm, nhưng họ không được đến gần những vật dụng của Nơi Thánh hay đến gần bàn thờ. Đừng để họ cũng như các ngươi phải chết. 4. Họ sẽ cộng tác với ngươi để thực hiện những nhu cầu của Lều Hội Kiến. Không một người ngoài nào được đến gần các ngươi. 5. Các ngươi hãy thực hiện những trách nhiệm thuộc về Nơi Thánh và những trách nhiệm thuộc về bàn thờ để cơn thịnh nộ không giáng trên dân Y-sơ-ra-ên nữa. 6. Nầy, chính Ta đã lấy những anh em của các ngươi là những người Lê-vi ra khỏi dân Y-sơ-ra-ên, rồi ban cho các ngươi. Họ đã được dâng cho Đức Giê-hô-va để làm công việc nơi Lều Hội Kiến. 7. Vì vậy, ngươi và các con của ngươi hãy thực hiện chức vụ tư tế của các ngươi về mọi việc liên quan đến bàn thờ, và các ngươi sẽ phục vụ tại nơi ngự ở bên trong bức màn. Chức vụ tư tế của các ngươi mà Ta đã ban là một đặc ân. Người ngoài nào đến gần sẽ bị xử tử.”
  2. Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn: “Nầy, Ta trao cho ngươi chịu trách nhiệm trên những lễ vật đã được dâng cho Ta, tức là tất cả những tế lễ thánh mà dân Y-sơ-ra-ên đã dâng. Ta ban một phần cho ngươi – và rồi cho con cái của ngươi như là một luật lệ vĩnh viễn. 9. Ðây là phần thuộc về ngươi: Những tế lễ cực thánh được trích ra từ mỗi tế lễ đã dâng bằng lửa, mỗi tế lễ chay, mỗi tế lễ chuộc tội, mỗi tế lễ chuộc lỗi. Những vật rất thánh được dâng cho Ta sẽ thuộc về ngươi và các con của ngươi. 10. Ngươi phải ăn chúng trong nơi cực thánh; mọi người nam đều được ăn; chúng sẽ là những vật thánh đối với ngươi. 11. Và điều nầy cũng thuộc về ngươi: Những lễ vật lạc hiến và tất cả những lễ vật tiến dâng của dân Y-sơ-ra-ên. Ta ban chúng cho ngươi, cho các con trai và các con gái của ngươi. Đó là một quy định vĩnh viễn. Tất cả những người tinh sạch trong nhà của ngươi sẽ được ăn những lễ vật đó. 12. Ta ban cho ngươi tất cả dầu tốt nhất, tất cả rượu ngon nhất, ngũ cốc, và những sản vật đầu mùa mà họ dâng cho Đức Giê-hô-va. 13. Tất cả những hoa quả đầu mùa trong đất của họ, mà họ đem đến cho Đức Giê-hô-va, sẽ thuộc về ngươi. Người nào tinh sạch trong nhà của ngươi sẽ được ăn. 14. Tất cả vật gì mà dân Y-sơ-ra-ên hiến dâng sẽ thuộc về ngươi. 15. Tất cả những con đầu lòng của mọi loài xác thịt mà họ đã dâng cho Đức Giê-hô-va, dù là của loài người hay là của súc vật, sẽ thuộc về ngươi. Nhưng ngươi phải chuộc lại con đầu lòng của loài người, và ngươi phải chuộc lại con đầu lòng của những thú vật không thanh sạch. 16. Về giá chuộc lại, ngươi phải chuộc lại những con từ một tháng trở lên, và định giá là năm siếc-lơ bạc theo siếc-lơ của nơi thánh, tức là hai mươi ghê ra. 17. Nhưng ngươi không được chuộc lại con bò đầu lòng, con chiên đầu lòng, hay con dê đầu lòng. Chúng sẽ là những vật thánh. Ngươi sẽ rảy huyết của chúng trên bàn thờ, và thiêu mỡ của chúng thành hương thơm cho Đức Giê-hô-va. 18. Thịt của chúng sẽ thuộc về ngươi. Cái ngực đã được tiến dâng và cái đùi bên phải sẽ thuộc về ngươi. 19. Tất cả những lễ vật mà dân Y-sơ-ra-ên dâng lên cho Đức Giê-hô-va là thánh. Ta ban cho ngươi, cho các con trai và các con gái của ngươi như một luật lệ vĩnh viễn. Ðó là một giao ước bằng muối có hiệu lực vĩnh viễn trước mặt Đức Giê-hô-va dành cho ngươi và dòng dõi của ngươi.”
  3. Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn: “Ngươi sẽ không có cơ nghiệp ở trong xứ và cũng không có phần ở giữa họ, nhưng Ta là phần của ngươi và là cơ nghiệp của ngươi ở giữa dân Y-sơ-ra-ên. 21. Về phần con cháu Lê-vi, Ta đã ban cho họ sản nghiệp là tất cả phần mười của dân Y-sơ-ra-ên để trả công cho họ thực hiện những công việc tại Lều Hội Kiến. 22. Từ nay về sau, dân Y-sơ-ra-ên sẽ không được đến gần Lều Hội Kiến, nếu không họ sẽ mắc tội và phải chết. 23. Nhưng người Lê-vi sẽ làm công việc tại Lều Hội Kiến và sẽ chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình. Họ sẽ không có phần cơ nghiệp ở giữa dân Y-sơ-ra-ên. Đó là một luật vĩnh viễn trải qua các thế hệ. 24. Bởi vì Ta đã ban cho người Lê-vi phần mười mà dân Y-sơ-ra-ên đã dâng lên cho Đức Giê-hô-va làm cơ nghiệp, vì vậy Ta đã phán với họ rằng họ sẽ không có cơ nghiệp ở giữa dân Y-sơ-ra-ên.”
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 26. “Ngươi hãy nói với người Lê-vi rằng: Khi anh em nhận của một phần mười nơi dân Y-sơ-ra-ên để làm sản nghiệp, anh em phải biệt riêng ra một phần để dâng lên Đức Giê-hô-va, tức một phần mười của một phần mười. 27. Tế lễ mà anh em dâng sẽ được kể như lúa mì nơi sân đập lúa và như rượu nho sản xuất từ hầm ép rượu. 28. Vì vậy anh em hãy dâng cho Đức Giê-hô-va một phần mười của mình từ những gì mà anh em đã nhận nơi dân Y-sơ-ra-ên, và anh em hãy trao chúng cho Tư tế A-rôn. 29. Trong tất cả lễ vật anh em nhận được, anh em hãy lựa ra phần tốt nhất, biệt riêng ra thánh, mà dâng lên cho Đức Giê-hô-va. 30. Ngươi hãy nói với họ: Sau khi anh em đã biệt riêng ra thánh phần tốt nhất, thì phần còn lại sẽ thuộc về anh em, tức là người Lê-vi, giống như hoa lợi nhận được từ sân đập lúa, hoặc hoa lợi nhận được từ bồn ép nho. 31. Anh em có thể ăn những hoa lợi đó nơi nào cũng được, anh em và gia đình của anh em, bởi vì đó là thù lao cho anh em đã phục vụ tại Lều Hội Kiến. 32. Sau khi anh em đã trích dâng phần tốt nhất, anh em sẽ không lo bị mắc tội nữa. Vì vậy đừng phạm đến những lễ vật thánh của dân Y-sơ-ra-ên, nếu không anh em sẽ chết.”

 

19

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2. “Đây là quy định về luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền. Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên, hãy truyền cho họ mang đến con một con bò cái màu đỏ không khiếm khuyết, tức là con bò không có một khuyết tật nào và chưa hề mang ách. 3. Các ngươi hãy trao nó cho Tư tế Ê-lê-a-sa. Người sẽ dẫn nó ra bên ngoài doanh trại, rồi nó sẽ bị giết trước mặt người. 4. Tư tế Ê-lê-a-sa sẽ dùng ngón tay lấy huyết của nó, rảy bảy lần hướng về phía trước của Lều Hội Kiến. 5. Con bò cái sẽ bị thiêu trước mắt người: Da, thịt, huyết và phân của nó sẽ bị thiêu. 6. Tư tế sẽ lấy củi bá hương, một cành bài hương, và một sợi chỉ điều quăng vào trong lửa đang thiêu con bò cái. 7. Sau đó tư tế sẽ giặt sạch y phục của mình và tắm thân thể của mình trong nước rồi mới được vào doanh trại – Tư tế sẽ bị ô uế cho đến chiều tối. 8. Người thiêu con bò cái cũng phải giặt sạch y phục của mình, tắm thân thể của mình trong nước, và sẽ bị ô uế cho đến chiều tối. 9. Một người tinh sạch sẽ hốt tro của con bò cái và chứa vào một nơi tinh sạch bên ngoài doanh trại. Tro sẽ được giữ để làm nước tẩy uế để thanh tẩy cho tội lỗi của hội chúng Y-sơ-ra-ên. 10. Người đã hốt tro của con bò cái phải giặt sạch y phục của mình và bị ô uế cho đến chiều tối. Ðây là một quy luật vĩnh viễn cho dân Y-sơ-ra-ên và cho những kiều dân cư ngụ ở giữa họ.
  2. Ai đụng đến xác chết của bất cứ người nào sẽ bị ô uế bảy ngày. 12. Người đó phải dùng nước tẩy uế cho mình vào ngày thứ ba, và đến ngày thứ bảy người đó sẽ được tinh sạch; nhưng nếu người đó không dùng nước tẩy uế cho mình vào ngày thứ ba, thì đến ngày thứ bảy người đó sẽ không được tinh sạch. 11. Ai đụng đến xác chết của một người đã chết, mà không thanh tẩy chính mình, người đó làm ô uế Đền Tạm của Đức Giê-hô-va, và sẽ bị khai trừ khỏi Y-sơ-ra-ên; bởi vì nước thanh tẩy không được rảy trên sự ô uế của người đó, cho nên sự ô uế vẫn còn trên người đó.
  3. Ðây là một quy luật: Khi có một người qua đời trong lều thì tất cả những người vào trong lều và tất cả những người đang ở trong lều đều sẽ bị ô uế bảy ngày. 15. Bình nào mở ra, không có nắp gắn chặt, thì bị ô uế. 16. Ai chạm vào người bị giết bằng gươm, bị chết tự nhiên, hoặc chạm vào hài cốt của một người, hoặc chạm vào huyệt mả ở ngoài đồng, người đó phải bị ô uế bảy ngày. 17. Ðể thanh tẩy cho người bị ô uế, người ta phải lấy một ít tro của con bò cái đã bị thiêu làm của lễ thanh tẩy bỏ vào một cái vò, rồi đổ nước sống vào. 18. Một người đang tinh sạch sẽ lấy một nhánh bài hương, nhúng vào trong vò nước đó, rồi đem rảy trên lều, trên mọi vật trong lều, trên những người ở trong đó, trên những ai đã đụng phải hài cốt, hoặc xác người bị giết, hoặc xác người chết, hoặc huyệt mả. 19. Người tinh sạch phải rảy nước trên người ô uế vào ngày thứ ba và vào ngày thứ bảy. Đến ngày thứ bảy, người đó phải giặt y phục của mình, tắm trong nước thì sẽ được sạch vào tối hôm đó.
  4. Người nào không tinh sạch mà không thanh tẩy chính mình, người đó sẽ bị khai trừ khỏi hội chúng, bởi vì đang làm ô uế Đền Tạm của Đức Giê-hô-va. Nước thanh tẩy chưa được rảy trên người đó, cho nên người đó vẫn còn bị ô uế. 21. Ðây là một quy luật vĩnh viễn cho họ. Người nào rảy nước thanh tẩy phải giặt y phục của mình. Ai đụng đến nước thanh tẩy sẽ bị ô uế cho đến chiều tối. 22. Bất kỳ vật gì bị người ô uế đụng vào, đều bị ô uế; và ai đụng vào vật đó cũng bị ô uế cho đến chiều tối.”

 

20

  1. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đến hoang mạc Xin vào tháng Giêng. Dân chúng dừng lại tại Ca-đe. Mi-ri-am qua đời và được chôn tại đó.
  2. Bởi vì không có nước cho hội chúng, cho nên họ đã họp lại để chống Môi-se và A-rôn. 3. Dân chúng cãi với Môi-se và nói rằng: “Anh em chúng tôi đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va, phải chi chúng tôi cũng chết cho rồi. 4. Tại sao các ông đem hội chúng của Đức Giê-hô-va vào trong hoang mạc nầy, để chúng tôi và súc vật của chúng tôi phải chết ở đây? 5. Tại sao các ông đem chúng tôi ra khỏi Ai-cập rồi dẫn chúng tôi đến nơi khủng khiếp nầy. Đây không phải là nơi để gieo mạ, trồng vả, nho, lựu, và cũng không có nước uống.”
  3. Môi-se và A-rôn rời khỏi hội chúng, đến trước cửa Lều Hội Kiến, rồi sấp mặt xuống. Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra với họ. 7. Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng: 8. “Hãy lấy cây gậy của ngươi, rồi ngươi và A-rôn, anh của ngươi hãy triệu tập hội chúng lại. Trước mắt họ, các ngươi hãy truyền lịnh cho vầng đá, nó sẽ tuôn nước ra. Ngươi sẽ làm cho vầng đá tuôn nước ra cho họ, để hội chúng và súc vật của họ uống.”
  4. Môi-se đã lấy cây gậy từ trước mặt Đức Giê-hô-va như Ngài đã phán. 10. Môi-se và A-rôn triệu tập hội chúng đến trước vầng đá, rồi ông nói với họ: “Hỡi những kẻ nổi loạn, hãy nghe! Chúng ta có thể khiến nước từ tảng đá nầy tuôn ra cho các ngươi được không? 11. Môi-se giơ tay lên, dùng cây gậy đập vào vầng đá hai lần. Nước từ vầng đá tuôn ra lai láng, hội chúng và súc vật của họ đã uống.”
  5. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn: “Bởi vì các ngươi không tin Ta để tôn thánh Ta trước mắt dân Y-sơ-ra-ên, cho nên các ngươi sẽ không dẫn hội chúng nầy vào xứ mà Ta sẽ ban cho họ.”
  6. Nước tại đó được gọi là Mê-ri-ba, bởi vì dân Y-sơ-ra-ên đã tranh cãi với Đức Giê-hô-va, và Ngài đã được tôn thánh trước mặt họ.
  7. Từ Ca-đe, Môi-se sai sứ giả đến gặp vua Ê-đôm và nói rằng: “Ngài biết những khốn khổ đã xảy đến cho Y-sơ-ra-ên, là em của Ngài. 15. Tổ tiên của chúng tôi đã xuống Ai Cập và ở tại đó rất lâu. Người Ai Cập đã ngược đãi chúng tôi. 16. Chúng tôi đã kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài đã nghe tiếng của chúng tôi và sai thiên sứ dẫn chúng tôi ra khỏi Ai Cập. Giờ đây, chúng tôi hiện đang ở tại Ca-đe, một thành giáp với biên giới của ngài. 17. Xin cho phép chúng tôi đi qua xứ của ngài. Chúng tôi sẽ không đi ngang qua đồng ruộng hay vườn nho, chúng tôi cũng sẽ không uống nước trong các giếng. Chúng tôi sẽ đi dọc theo con đường của vua, không xây qua bên phải hay bên trái, cho đến khi qua khỏi địa phận của ngài.”
  8. Nhưng Ê-đôm đã trả lời ông: “Ngươi không được đi ngang qua xứ của ta; nếu không, ta sẽ cầm gươm ra đánh hạ ngươi.” 19. Dân Y-sơ-ra-ên nói với ông: “Chúng tôi đi theo trục lộ chính. Nếu chúng tôi và bầy súc vật của chúng tôi có uống nước của vua thì chúng tôi sẽ trả tiền. Xin cho chúng tôi đi bộ ngang qua đó thôi chứ không làm điều gì khác.” 20. Nhưng người nói: “Các ngươi sẽ không được đi qua. Rồi Ê-đôm kéo một đạo quân hùng hậu ra ngăn chặn họ.”
  9. Vì Ê-đôm từ chối không cho Y-sơ-ra-ên đi qua đất của mình, cho nên Y-sơ-ra-ên đã tránh khỏi nơi đó. 22. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã đi từ Ca-đe đến núi Hô-rơ.
  10. Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se và A-rôn tại núi Hô-rơ, gần biên giới của Ê-đôm, rằng: 24. “A-rôn sẽ về với tổ tiên của mình. Người sẽ không được vào xứ mà Ta đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên, bởi vì các ngươi đã chống lại lời của Ta về nước uống tại Mê-ri-ba. 25. Hãy đem A-rôn và Ê-lê-a-sa, con trai của người, lên núi Hô-rơ. 26. Hãy cởi bộ lễ phục của A-rôn, rồi mặc vào cho Ê-lê-a-xa, con trai của người. A-rôn sẽ qua đời tại đó.”
  11. Vì vậy, Môi-se đã làm đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền. Họ cùng nhau lên núi Hô-rơ trước sự chứng kiến của toàn thể hội chúng. 28. Môi-se cởi bộ lễ phục của A-rôn, rồi mặc chúng cho Ê-lê-a-xa, con trai của người. A-rôn qua đời tại đó, trên đỉnh núi; và rồi Môi-se và Ê-lê-a-sa từ trên núi đi xuống. 29. Khi toàn thể hội chúng thấy Y-sơ-ra-ên thấy A-rôn đã qua đời, cả nhà Y-sơ-ra-ên đã khóc thương A-rôn trong ba mươi ngày.

 

21

  1. Khi A-rát, vua của dân Ca-na-an tại Miền Nam, nghe dân Y-sơ-ra-ên đang đến theo con đường tới A-tha-rim, vua đã đánh dân Y-sơ-ra-ên, và rồi bắt một số người làm tù binh.
  2. Dân Y-sơ-ra-ên đã hứa nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu Ngài phó dân nầy vào tay của chúng con, chúng con sẽ tận diệt các thành của chúng.” 3. Đức Giê-hô-va lắng nghe lời của dân Y-sơ-ra-ên, trao dân Ca-na-an cho họ. Họ đã tận diệt chúng cùng các thành của chúng. Tên của nơi đó được gọi là Họt-ma.
  3. Từ núi Hô-rơ, dân Y-sơ-ra-ên đã ra đi theo đường đến Biển Đỏ vòng qua xứ Ê-đôm; dọc đường dân chúng ngã lòng. 5. Dân chúng thốt lên lời chống đối Đức Chúa Trời và Môi-se. Họ nói: “Tại sao các ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập để chết trong hoang mạc nầy? Bởi vì không có thức ăn cũng không có nước, và chúng tôi đã chán ngấy thức ăn kinh tởm nầy.”
  4. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã sai rắn lửa đến trong dân chúng, cắn dân chúng, và rồi nhiều người trong dân Y-sơ-ra-ên đã chết. 7. Dân chúng đến với Môi-se, rồi nói: “Chúng tôi đã phạm tội, bởi vì chúng tôi đã thốt lên lời chống đối Đức Giê-hô-va và ông. Xin hãy cầu xin Đức Giê-hô-va để Ngài khiến rắn lìa xa khỏi chúng tôi.”

Vì vậy Môi-se đã cầu nguyện cho dân chúng. 8. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Ngươi hãy làm một con rắn lửa, rồi treo nó trên một cây sào. Người nào bị rắn cắn nhìn lên nó sẽ được sống. 9. Vì vậy, Môi-se đã làm một con rắn bằng đồng rồi treo trên một cây sào. Người nào đã bị rắn cắn, nhìn vào con rắn bằng đồng, thì được sống.”

  1. Dân Y-sơ-ra-ên ra đi, đến đóng trại tại Ô-bốt. 11. Từ Ô-bốt, họ ra đi, đến đóng trại tại Y-giê A-ba-rim, trong hoang mạc tại phía đông của Mô-áp, về hướng mặt trời mọc. 12. Từ đó, họ ra đi, đến đóng trại tại thung lũng Xê-rết. 13. Từ đó họ ra đi, đến đóng trại tại phía bên kia của Ạt-nôn, trong hoang mạc trải dài đến địa phận của dân A-mô-rít. Ạt-nôn là biên giới của Mô-áp, nằm giữa Mô-áp và dân A-mô-rít. 14. Vì vậy, trong sách Chiến Trận Của Đức Giê-hô-va có chép: “Va-hép tại Su-pha, cùng với những dòng suối tại Ạt-nôn, 15. là những dòng suối đổ xuống, vươn đến tận khu định cư A-rơ, ôm choàng lấy ranh giới của Mô-áp.”
  2. Từ đó, họ đến Bê-e là nơi Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se: Hãy tập họp dân chúng lại, rồi Ta sẽ ban nước cho họ. 17. Dân Y-sơ-ra-ên đã hát bài nầy: “Hỡi giếng, hãy tuôn nước lên! Hãy hát về nó, 18. là cái giếng mà các lãnh đạo đã đào, và những bậc cao trọng trong dân đã khai quật, bằng những quyền trượng và gậy của họ.”

Từ đồng hoang đến Mát-ta-na, 19. từ Ma-tha-na đến Na-ha-li-ên, từ Na-ha-li-ên đến Ba-mốt, 20. từ Ba-mốt đến thung lũng của xứ Mô-áp, rồi đến đỉnh Phích-ga, hướng mặt về phía hoang mạc.

  1. Dân Y-sơ-ra-ên đã sai những sứ giả đến Si-hôn, vua của dân A-mô-rít, nói rằng: 22. “Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ của ngài. Chúng tôi sẽ không băng ngang qua những đồng ruộng, hay các vườn nho, và cũng không uống nước giếng. Chúng tôi chỉ đi theo con đường của nhà vua cho đến khi qua khỏi lãnh thổ của ngài.”
  2. Nhưng Si-hôn đã không cho phép dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua lãnh thổ của mình. Si-hôn đã tập hợp tất cả dân chúng của ông rồi tiến ra đánh Y-sơ-ra-ên tại hoang mạc. Ông đã đến Gia-hát để giao tranh với dân Y-sơ-ra-ên. 24. Dân Y-sơ-ra-ên đã dùng gươm đánh bại ông, rồi chiếm lấy xứ sở của ông từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc, cho đến tận biên giới của dân Am-môn – bởi vì biên giới của dân Am-môn rất kiên cố.
  3. Dân Y-sơ-ra-ên đã chiếm tất cả các thành, rồi dân Y-sơ-ra-ên cư ngụ trong tất cả các thành của người A-mô-rít, luôn cả Hết-bôn cùng với những làng mạc chung quanh nó. 26. Hết-bôn là thành của Si-hôn, vua của dân A-mô-rít, là vua đã từng giao chiến với vị vua trước kia của Mô-áp, rồi chiếm lấy tất cả đất đai của vua đó cho đến Ạt-nôn. 27. Vì vậy, các thi nhân đã nói: “Hãy đến Hết-bôn! Hãy xây dựng và sửa lại thành của Si-hôn. 28. Bởi vì từ Hết-bôn, lửa đã phát ra, một ngọn lửa từ thành của Si-hôn đã thiêu hủy A-rơ của Mô-áp, cùng với những lãnh đạo cao trọng của Ạt-nôn. 29. Hỡi Mô-áp! Khốn nạn cho ngươi. Hỡi dân Kê-móc! Ngươi đã bị tiêu diệt. Ngươi đã nộp các con trai của mình làm kẻ lưu đày, và con gái của mình bị bắt bởi Si-hôn, vua của dân A-mô-rít. 30. Nhưng chúng ta đã bắn hạ chúng từ Hết-bôn cho đến Ði-bôn. Chúng ta đã làm hoang tàn cho đến Nô-phách và đến tận Mê-đê-ba.”
  4. Vì vậy, dân Y-sơ-ra-ên đã cư ngụ trong đất của dân A-mô-rít. 32. Môi-se sai người đi do thám Gia-ê-xe. Họ đã chiếm các làng mạc và đuổi dân A-mô-rít khỏi đó.
  5. Sau đó, họ đi lên theo hướng Ba-san. Óc, vua của Ba-san, cùng tất cả dân chúng của ông, đã tiến đến Ết-rê-i để tranh chiến với họ. 34. Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se: “Đừng sợ nó vì Ta đã phó nó, tất cả dân chúng của nó, và đất đai của nó vào tay ngươi. Hãy làm cho nó như ngươi đã làm cho Si-hôn, vua của dân A-mô-rít tại Hết-bôn.”

35 Vậy, họ đã đánh bại ông, các con trai của ông, và toàn thể dân chúng của ông cho đến khi không còn ai sống sót. Rồi họ chiếm lấy xứ của ông.

 

22

  1. Dân Y-sơ-ra-ên đã đến đóng trại trong bình nguyên của Mô-áp, phía bên kia của sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.
  2. Ba-lác, con trai của Xếp-bô, thấy mọi điều Y-sơ-ra-ên đã làm cho dân A-mô-rít. 3. Dân Mô-áp sợ dân Y-sơ-ra-ên bởi vì họ quá đông. Người Mô-áp khiếp sợ dân Y-sơ-ra-ên. 4. Mô-áp đã nói với các trưởng lão của Ma-đi-an: Đoàn dân đông nầy đang liếm sạch các dân chung quanh chúng ta như bò liếm sạch cỏ trong đồng.

Lúc nầy, Ba-lác, con trai của Xếp-bô, đang làm vua của Mô-áp. 5. Ông sai sứ giả đến Ba-la-am, con trai của Bê-ô tại Phê-thô-rơ, gần bên một con sông trong xứ của dân tộc mình, rồi nói: “Nầy, có một dân đã ra khỏi Ai Cập, họ phủ khắp mặt đất, và hiện đang ở đối diện với tôi. 6. Bây giờ, hãy đến nguyền rủa dân nầy cho tôi, bởi vì họ mạnh hơn tôi, để may ra tôi có thể đánh bại họ và đuổi họ ra khỏi xứ, bởi vì tôi biết rằng người nào được ông chúc phước sẽ được ban phước, còn kẻ nào bị ông nguyền rủa sẽ bị nguyền rủa.”

  1. Vì vậy các trưởng lão của Mô-áp và các trưởng lão của Ma-đi-an đã lên đường, trong tay họ mang theo chi phí để cúng lễ. Họ đã gặp Ba-la-am và nói lại những lời của Ba-lác. 8. Ông nói với họ: “Hãy ở lại đây đêm nay. Tôi sẽ trả lời cho quý vị theo những gì Đức Giê-hô-va đã phán với tôi.” Vì vậy, các quan chức của Mô-áp đã ở lại với Ba-la-am.
  2. Ðức Chúa Trời đến với Ba-la-am, Ngài hỏi: “Những kẻ đang ở với ngươi là ai?” 10. Ba-la-am thưa cùng Ðức Chúa Trời: “Ba-lác, con trai của Xếp-bô, vua của Mô-áp, đã sai người đến với tôi nói rằng: 11. Nầy, có một dân đã ra khỏi Ai Cập, họ phủ khắp cả mặt đất. Hãy đến nguyền rủa họ cho tôi, để may ra tôi có thể đánh bại và xua đuổi họ.” 12. Ðức Chúa Trời phán với Ba-la-am: “Ngươi sẽ không được đi với những người nầy. Ngươi cũng không được nguyền rủa dân tộc đó, bởi vì họ đã được ban phước.”
  3. Sáng hôm sau, Ba-la-am thức dậy, ông nói với các quan chức của Ba-lác: “Các ông hãy trở về xứ của mình, bởi vì Đức Giê-hô-va không cho tôi đi với các ông.” 14. Các quan chức của Mô-áp đã đứng dậy, trở về cùng Ba-lác, rồi nói: “Ba-la-am đã khước từ đi với chúng tôi.”
  4. Ba-lác đã cử những quan chức khác, đông hơn và cao trọng hơn. 16. Họ đến với Ba-la-am, nói với ông như vầy: “Ba-lác, con trai của Xếp-bô, nói như sau: Xin đừng để điều gì ngăn trở ông đến với tôi. 17. Thật vậy, tôi rất tôn trọng ông. Ông nói điều gì, tôi sẽ làm như vậy. Xin hãy đến nguyền rủa dân tộc nầy cho tôi.”
  5. Ba-la-am đã trả lời với những bầy tôi của Ba-lác rằng: “Dù Ba-lác có cho tôi một tòa nhà đầy vàng bạc của ông, tôi cũng không thể vượt qua mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi, để làm một việc gì dù nhỏ hay lớn. 19. Vì vậy, xin các ông hãy vui lòng ở lại đây đêm nay, để tôi có thể biết thêm điều gì Đức Giê-hô-va sẽ phán với tôi.”
  6. Đêm hôm đó, Đức Chúa Trời đến với Ba-la-am, Ngài phán: “Nếu những người nầy mời ngươi đi gặp hắn, hãy đứng dậy đi với họ; nhưng ngươi chỉ được làm điều gì Ta truyền cho ngươi.”
  7. Sáng hôm sau, Ba-la-am thức dậy thắng yên lừa, rồi đi với các quan chức Mô-áp. 22. Tuy nhiên việc ông đi đã làm cho Đức Chúa Trời nổi giận. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường ngăn cản ông. Ông đang cưỡi lừa, và có hai người đầy tớ cùng đi. 23. Con lừa thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường, tay cầm kiếm tuốt trần, con lừa tránh qua một bên, rồi đi tẻ xuống ruộng. Ba-la-am đã đánh con lừa, bắt nó trở lại trên đường.
  8. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến đứng trên một con đường hẹp ở giữa những vườn nho, có vách tường ở bên nầy và vách tường ở bên kia. 25. Khi con lừa thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, nó nép sát vào vách tường, ép chân của Ba-la-am vào vách tường, cho nên ông đánh nó.
  9. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đi xa hơn và đứng tại một chỗ rất hẹp, không thể xoay qua bên phải hay bên trái. 27. Khi con lừa thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, nó nằm quỵ xuống dưới Ba-la-am. Ba-la-am nổi giận, lấy cậy gậy của ông đánh con lừa.
  10. Đức Giê-hô-va mở miệng con lừa, nó nói với Ba-la-am: “Tôi đã làm gì cho ông mà ông đã đánh tôi ba lần?” 29. Ba-la-am nói với con lừa: “Bởi vì mầy diễu cợt ta. Nếu có gươm trong tay thì ta đã giết mầy.” 30. Con lừa nói với Ba-la-am: “Không phải tôi là con lừa của ông, mà từ trước đến nay ông vẫn cỡi hay sao? Có bao giờ tôi hành động như vậy với ông hay không?” Ông nói: “Không.”
  11. Đức Giê-hô-va mở mắt cho Ba-la-am. Ông thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường, tay cầm thanh gươm trần. Ông cúi rạp mình, sấp mặt xuống đất. 32. Thiên sứ của Giê-hô-va nói với ông: “Tại sao ngươi đánh con lừa của ngươi ba lần? Ta đi ra để ngăn cản ngươi, bởi vì đường lối của ngươi là bại hoại trước mặt Ta. 33. Con lừa đã thấy Ta và đã tránh Ta ba lần. Nếu nó không tránh Ta, chắc chắn Ta đã giết ngươi rồi, và để cho nó sống.”
  12. Ba-la-am đã thưa với Thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: “Tôi đã phạm tội. Tôi không biết rằng Ngài đã đứng trên đường để cản tôi. Nếu Ngài không bằng lòng, tôi xin quay trở về.” 35. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói với Ba-la-am: “Hãy đi với những người nầy, nhưng ngươi chỉ nói những gì Ta bảo ngươi nói.” Vì vậy, Ba-la-am tiếp tục lên đường với các quan chức của Ba-lác.
  13. Khi Ba-lác nghe tin Ba-la-am đang đến, ông đã ra tận một thành của Mô-áp, tại biên giới của lãnh thổ ở Ạt-nôn, tức là biên giới của xứ, để nghênh tiếp người. 37. Ba-lác hỏi Ba-la-am: “Tôi đã khẩn khoản mời, tại sao ông đã không đến với tôi? Tôi không có đủ khả năng làm ông được vinh dự hay sao?” 38. Ba-la-am trả lời Ba-lác: “Hãy xem! Tôi đã đến với ngài, nhưng tôi đâu có quyền nói bất cứ điều gì. Tôi phải nói lời nào Đức Chúa Trời đã đặt trong miệng tôi.”
  14. Ba-la-am cùng đi với Ba-lác, họ đến Ki-ri-át Hút-sốt. 40. Ba-lác giết bò và chiên, sai người đem biếu Ba-la-am và các quan chức Mô-áp đang ở với ông. 41. Ngày hôm sau, Ba-lác đến đón Ba-la-am rồi đưa ông lên Ba-mốt Ba-anh. Tại đó ông có thể trông thấy một phần của dân Y-sơ-ra-ên.

 

23

  1. Ba-la-am nói cùng Ba-lác rằng: “Hãy xây tại đây cho tôi bảy bàn thờ, và chuẩn bị cho tôi tại đây bảy con bò đực và con bảy chiên đực.” 2. Ba-lác đã làm đúng như Ba-la-am nói. Ba-lác và Ba-la-am dâng một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.
  2. Ba-la-am nói với Ba-lác: “Xin vua hãy đứng gần tế lễ thiêu của vua, còn tôi sẽ đi. Có thể Đức Giê-hô-va sẽ đến gặp tôi, rồi tôi sẽ thuật lại cho vua điều gì Ngài bày tỏ cho tôi.” Sau đó ông đã đi đến một nơi cao vắng vẻ.
  3. Đức Chúa Trời gặp Ba-la-am. Ông thưa với Ngài: “Con đã lập bảy bàn thờ, và con đã dâng một con bò và một con chiên trên mỗi bàn thờ.” 5. Đức Giê-hô-va đặt lời trong miệng của Ba-la-am, rồi Ngài phán: “Hãy trở về với Ba-lác, và đây là điều ngươi sẽ nói.”
  4. Vì vậy, ông đã trở về với vua. Vua vẫn đứng gần tế lễ thiêu của mình, cùng với các quan chức của Mô-áp. 7. Ông cất tiếng công bố sứ điệp của mình: “Ba-lác, vua của Mô-áp, đã sai mời tôi từ A-ram, từ vùng đồi núi đông phương, rồi nói: Hãy đến nguyền rủa Gia-cốp cho ta! Hãy đến phỉ báng Y-sơ-ra-ên! 8. Làm thế nào tôi có thể nguyền rủa người mà Ðức Chúa Trời không nguyền rủa? Làm thế nào tôi có thể phỉ báng người mà Ðức Chúa Trời không phỉ báng? 9. Từ trên đỉnh các vầng đá, tôi đã nhìn thấy người. Từ trên những ngọn đồi, tôi đã quan sát người. Hãy xem một dân sống biệt lập! Họ không hề cho rằng họ thuộc về các dân tộc. 10. Ai có thể đếm được bụi của Gia-cốp? Ai có thể tính được một phần tư của Y-sơ-ra-ên? Xin cho tôi được chết như cái chết của người công chính. Xin cho tôi được kết thúc giống như họ.”
  5. Ba-lác nói với Ba-la-am: “Ông đã làm gì cho tôi vậy? Tôi mời ông để ông nguyền rủa những kẻ thù của tôi, nhưng xem nầy, ông lại chúc phước cho chúng.”
  6. Ông đã trả lời: “Không phải tôi phải thận trọng để nói điều mà Đức Giê-hô-va đã đặt trong miệng tôi hay sao?”
  7. Sau đó Ba-lác nói với ông: “Xin hãy đi với tôi đến một nơi khác để ông có thể từ đó nhìn thấy chúng. Ông sẽ chỉ thấy được một phần ở phía ngoài của chúng, chứ không thể nhìn thấy hết chúng được. Tại đó, xin ông hãy nguyền rủa chúng cho tôi.”
  8. Vua đã đem ông đến cánh đồng của Xô-phim, lên đỉnh Phích-ga, dựng tại đó bảy bàn thờ, rồi dâng trên mỗi bàn thờ một con bò đực và một con chiên đực. 15. Ông nói với Ba-lác: “Xin vua đứng đây gần bên tế lễ thiêu của vua, còn tôi sẽ đi gặp Đức Giê-hô-va ở đằng kia.”
  9. Sau đó, Đức Giê-hô-va đã gặp Ba-la-am, đặt lời trong miệng của ông, rồi phán: “Hãy trở về với Ba-lác, và đây là điều ngươi sẽ nói.”
  10. Vì vậy, ông đã trở về với vua. Vua vẫn đứng gần tế lễ thiêu của mình, cùng với các quan chức của Mô-áp. Ba-lác hỏi ông: Đức Giê-hô-va đã phán điều gì?
  11. Ông cất tiếng công bố sứ điệp của mình rằng: “Ba-lác, hãy đứng dậy và nghe! Hỡi con trai Xếp-bô, hãy lắng nghe! 19. Đức Chúa Trời không phải là người, cho nên Ngài không nói dối. Ngài cũng không phải là con của loài người, để Ngài phải ăn năn. Điều Ngài đã phán, Ngài không thi hành sao? Lời Ngài đã hứa, Ngài không thực hiện sao? 20. Nầy, tôi đã nhận lệnh phải chúc phước. Khi Ngài đã ban phước, tôi không thể đảo ngược được. 21. Ngài không nhìn thấy tội lỗi nơi Gia-cốp, cũng không nhìn thấy sự bất hạnh nơi Y-sơ-ra-ên. Ðức Chúa Trời của người, đang ở với người. Tiếng chúc tụng Đức Vua vang dậy ở giữa họ. 22. Ðức Chúa Trời đã đem họ ra khỏi Ai Cập. Người có sức mạnh như bò rừng. 23. Không ai có thể dùng phù phép chống lại Gia-cốp, cũng không ai có thể dùng tà thuật chống lại Y-sơ-ra-ên. Nhưng đến kỳ đã định, người ta sẽ nói về Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên rằng: Hãy xem những gì Ðức Chúa Trời đã làm! 24. Kìa, một dân tộc đang trỗi dậy như một sư tử cái, tự vươn mình đứng lên như một sư tử đực. Nó sẽ không nằm xuống khi chưa ăn hết con mồi và uống xong máu của con vật bị giết.”
  12. Ba-lác nói với Ba-la-am: “Được rồi! Đừng nguyền rủa chúng, nhưng cũng đừng chúc phước cho chúng.” 26. Ba-la-am trả lời Ba-lác rằng: “Không phải tôi đã nói với vua rằng tôi phải làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va phán hay sao?”
  13. Ba-lác nói với Ba-la-am: “Xin hãy đến! Tôi sẽ đưa ông đến một nơi khác, may ra chỗ đó đẹp mắt Ðức Chúa Trời để Ngài cho phép ông nguyền rủa chúng cho tôi.” 28. Ba-lác dẫn Ba-la-am lên đỉnh núi Phê-ô, nơi có thể nhìn thấy hoang mạc.
  14. Ba-la-am nói cùng Ba-lác rằng: “Hãy xây tại đây cho tôi bảy bàn thờ, và chuẩn bị cho tôi tại đây bảy con bò đực và con bảy chiên đực.” 30. Ba-lác đã làm đúng như Ba-la-am nói, rồi dâng một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.

 

24

  1. Khi Ba-la-am thấy rằng việc chúc phước cho Y-sơ-ra-ên là điều đẹp mắt Đức Giê-hô-va, ông không đi tìm sự hướng dẫn tâm linh như những lần trước, nhưng hướng mặt về phía hoang mạc. 2. Ba-la-am ngước mắt lên và thấy Y-sơ-ra-ên đóng trại theo từng chi tộc. Thần của Đức Chúa Trời đến trên ông. 3. Ông cất tiếng công bố sứ điệp của mình:

“Lời công bố của Ba-la-am con trai của Bê-ô. Lời công bố của một người có mắt được mở ra. 4. Lời công bố của một người nghe lời của Đức Chúa Trời, là người thấy khải tượng của Đấng Toàn Năng thì phủ phục xuống và mở mắt ra:

  1. Hỡi Gia-cốp! Các lều trại của ngươi. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Những nơi cư ngụ của ngươi thật tốt đẹp biết dường nào: 6. Chúng giống như những thung lũng trải dài, như những khu vườn bên cạnh dòng sông, như những cây trầm hương mà Đức Giê-hô-va đã trồng, như những cây hương nam bên cạnh những dòng nước. 7. Nước từ trong thùng của người sẽ tuôn ra; hạt giống của người sẽ được tưới nước; vua của người sẽ cao hơn A-gát; vương quốc của người sẽ được tôn cao. 8. Ðức Chúa Trời đã đem người ra khỏi Ai Cập. Người có sức mạnh như bò rừng. Người sẽ nuốt các dân thù nghịch của mình, sẽ bẻ gãy những xương của chúng, và xuyên thấu chúng bằng những mũi tên. 9. Người phục xuống như sư tử đực, nằm xuống như sư tử cái. Ai dám trêu chọc người? Phước cho người nào chúc phước ngươi. Nguyền rủa cho người nào nguyền rủa ngươi.”
  2. Ba-lác nổi giận với Ba-la-am, ông đập mạnh tay của mình vào nhau, rồi Ba-lác nói với Ba-la-am: “Tôi gọi ông đến đây để nguyền rủa những quân thù của tôi, nhưng nầy, ông đã chúc phước thật sung mãn cho chúng đến ba lần. 11. Vì vậy, bây giờ ông hãy chạy về xứ của ông đi. Tôi đã nói rằng tôi sẽ trọng đãi ông bằng thật nhiều của cải, nhưng nầy, Đức Giê-hô-va đã giữ ông khỏi vinh dự đó.”
  3. Ba-la-am đã nói với Ba-lác: “Không phải tôi đã nói với các sứ giả mà vua đã sai đến với tôi rằng: 13. Nếu Ba-lác có cho tôi một tòa nhà đầy bạc và vàng, tôi cũng không thể vượt hơn những gì trong lời của Đức Giê-hô-va để thực hiện điều tốt hay xấu nào theo ý riêng của tôi, hay sao? Đức Giê-hô-va phán thế nào, tôi sẽ nói y như vậy. 14. Bây giờ, tôi sẽ trở về với dân tộc của tôi. Nhưng hãy đến, tôi sẽ báo cho vua biết điều mà dân nầy sẽ làm cho dân tộc của vua trong những thời gian về sau.”
  4. Ông cất tiếng công bố sứ điệp của mình: “Lời công bố của Ba-la-am, con trai của Bê-ô. Lời công bố của một người có mắt được mở ra. 16. Lời công bố của một người lắng nghe lời của Đức Chúa Trời để biết được ý tưởng của Đấng Chí Cao, là người thấy khải tượng của Đấng Toàn Năng thì phủ phục xuống và mở mắt ra: 17. Tôi thấy Ngài, nhưng không phải bây giờ. Tôi chiêm ngưỡng Ngài, nhưng không gần gũi. Một ngôi sao sẽ xuất hiện từ Gia-cốp, một vương trượng sẽ trỗi lên từ Y-sơ-ra-ên, Ngài sẽ đập vỡ góc cạnh của Mô-áp và hủy diệt tất cả dòng dõi của Sết. 18. Ê-đôm sẽ bị chiếm hữu; Sê-i-rơ, kẻ thù của nó, sẽ bị chiếm hữu; Y-sơ-ra-ên sẽ được cường thịnh. 19. Một Ðấng ra từ Gia-cốp sẽ trị vì, và Ngài sẽ tiêu diệt những kẻ còn sót lại của thành.”
  5. Ông nhìn về hướng A-ma-léc, rồi cất tiếng công bố sứ điệp của mình: “A-ma-léc đứng đầu trong các nước, nhưng cuối cùng sẽ bị tàn hại.”
  6. Ông nhìn về hướng Kê-nít, rồi cất tiếng công bố sứ điệp của mình: “Nơi cư trú của ngươi thật bền vững, và tổ của ngươi được đặt trong đá; 22. nhưng Ca-in sẽ bị lửa thiêu đốt khi A-sy-ri bắt ngươi lưu đày.”
  7. Ông cất tiếng công bố sứ điệp của mình: “Ôi! Khi Đức Chúa Trời thực hiện những điều này, thì còn ai sống sót? 24. Những con tàu sẽ đến từ bờ biển Kít-tim, chúng sẽ làm khốn khổ A-sy-ri, làm khốn khổ Hê-be, và rồi chính chúng cũng sẽ bị tàn hại.”
  8. Sau đó, Ba-la-am đứng dậy đi về xứ của mình, và Ba-lác cũng đi theo đường của mình.

 

25

  1. Dân Y-sơ-ra-ên ở tại Si-tim, và rồi dân chúng bắt đầu thông dâm cùng những phụ nữ Mô-áp. 2. Họ mời dân chúng ăn những vật cúng tế các thần của họ. Dân chúng ăn, rồi quì lạy trước các thần của họ. 3. Y-sơ-ra-ên đã kết hiệp với Ba-anh-Phê-ô. Cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng Y-sơ-ra-ên. 4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Hãy bắt tất cả các lãnh đạo của dân chúng, rồi treo họ giữa mặt trời ban ngày trước mặt Đức Giê-hô-va, để cơn giận của Đức Giê-hô-va có thể xây khỏi Y-sơ-ra-ên.”
  2. Môi-se truyền cho các thẩm phán của Y-sơ-ra-ên: “Mỗi người trong các ngươi phải giết những kẻ thuộc về mình đã kết hiệp với Ba-anh-Phê-ô.”
  3. Lúc đó, có một người Y-sơ-ra-ên đã đến và giới thiệu với những anh em của mình một người phụ nữ Ma-đi-an, trước sự chứng kiến của Môi-se và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, trong khi họ đang than khóc tại cửa Lều Hội Kiến. 7. Khi Phi-nê-a, con trai của Ê-lê-a-sa, cháu của Tư Tế A-rôn, thấy việc nầy, ông đứng dậy khỏi hội chúng, tay cầm một cây giáo. 8. Ông đã đi theo người Y-sơ-ra-ên đó vào trong trại, rồi đâm xuyên thấu cả hai người – người đàn ông Y-sơ-ra-ên và người phụ nữ – nơi bụng của người phụ nữ. Tai họa trong dân Y-sơ-ra-ên liền dừng lại. 9. Những người chết vì tai họa nầy là hai mươi bốn ngàn người.
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Phi-nê-a, con trai của Ê-lê-a-sa, cháu của Tư Tế A-rôn, đã xoay chuyển cơn giận của Ta đối với dân Y-sơ-ra-ên. Người đã nổi nóng với họ vì sự nóng giận của Ta, cho nên Ta đã không tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên trong cơn nóng giận của Ta. 12. Vì vậy, hãy nói với người: Ta thiết lập một giao ước bình an với người. 13. Người và dòng dõi theo sau người sẽ nhận một giao ước về chức vụ tư tế đời đời, bởi vì người đã nhiệt thành vì Đức Chúa Trời của mình, và đã chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên.”
  5. Tên của người Y-sơ-ra-ên bị giết chung với phụ nữ Ma-đi-an là Xim-ri, con trai của Sa-lu, đứng đầu một gia tộc thuộc dòng dõi Si-mê-ôn. 15. Tên của người phụ nữ Ma-đi-an bị giết là Cốt-bi, con của Xu-rơ, ông là trưởng một chi tộc trong gia đình của tổ phụ người Ma-đi-an.
  6. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 17. “Hãy khuấy rối người Ma-đi-an và tấn công họ; 18. bởi vì họ đã khuấy rối các ngươi bằng mưu chước để cám dỗ các ngươi trong vụ Phê-ô, và trong vụ Cốt-bi, con gái của một thủ lĩnh Ma-đi-an, là chị em của chúng, là kẻ đã bị giết trong ngày xảy ra tai họa vì chuyện Phê-ô.”

 

26

  1. Sau khi tai họa đã qua, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se, và Ê-lê-a-sa, con trai của Tư Tế A-rôn, rằng: 2. “Hãy thực hiện một cuộc thống kê toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, những người từ hai mươi tuổi trở lên, theo từng gia tộc của họ, là tất cả những người có thể ra trận.”
  2. Vì vậy Môi-se và Tư tế Ê-lê-a-sa đã nói với dân Y-sơ-ra-ên trong vùng bình nguyên Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô, rằng: 4. “Hãy kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.”

Đây là những người Y-sơ-ra-ên đã ra khỏi xứ Ai Cập:

  1. Ru-bên, là con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên. Con cháu của Ru-bên gồm có: Hê-nóc sinh ra gia tộc Hê-nóc; Pha-lu sinh ra gia tộc Pha-lu; 6. Hết-rôn sinh ra gia tộc Hết-rôn; Cạt-mi sinh ra gia tộc Cạt-mi. 7. Đó là những gia tộc thuộc về Ru-bên. Tổng số là 43.730 người. 8. Con trai của Pha-lu là Ê-li-áp. 9. Các con trai của Ê-li-áp là Nê-mu-ên, Đa-than và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram nầy là những người đại diện của hội chúng đã chống lại Môi-se và A-rôn, là đồng bọn của Cô-rê. Họ đã chống lại Đức Giê-hô-va. 10. Ðất đã mở miệng ta nuốt chửng họ cùng với Cô-rê. Khi đám người đó chết, lửa đã thiêu sống 250 người theo họ để cảnh cáo. 11. Tuy nhiên, các con của Cô-rê không chết.
  2. Con cháu của Si-mê-ôn tùy theo gia tộc của họ gồm có: Nê-mu-ên sinh ra gia tộc Nê-mu-ên; Gia-min sinh ra gia tộc Gia-min; Gia-kin sinh ra gia tộc Gia-kin; 13. Xê-rách sinh ra gia tộc Xê-rách; Sau-lơ sinh ra gia tộc Sau-lơ. 14. Đó là những gia tộc thuộc về Si-mê-ôn. Tổng số là 22.200 người.
  3. Con cháu của Gát tùy theo gia tộc của họ gồm có: Xê-phôn sinh ra gia tộc Xê-phôn; Ha-ghi sinh ra gia tộc Ha-ghi; Su-ni sinh ra gia tộc Su-ni; 16. Óc-ni sinh ra gia tộc Óc-ni; Ê-ri sinh ra gia tộc Ê-ri; 17. A-rốt sinh ra gia tộc A-rốt; A-rê-li sinh ra gia tộc A-rê-li. 18. Đó là những gia tộc thuộc về Gát. Tổng số là 40.500 người.
  4. Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ và Ô-nan nhưng họ đã qua đời tại Ca-na-an. 20. Con cháu của Giu-đa tùy theo gia tộc của họ gồm có: Sê-la sinh ra gia tộc Sê-la; Phê-rết sinh ra gia tộc Phê-rết; Xê-rách sinh ra gia tộc Xê-rách. 21. Con cháu của Phê-rết gồm có: Hết-rôn sinh ra gia tộc Hết-rôn; Ha-mun sinh ra gia tộc Ha-mun. 22. Đó là những gia tộc thuộc về Giu-đa. Tổng số là 76.500 người.
  5. Con cháu của Y-sa-ca tùy theo gia tộc của họ gồm có: Thô-la sinh ra gia tộc Thô-la; Phu-va sinh ra gia tộc Phu-va; 24. Gia-súp sinh ra gia tộc Gia-súp; Sim-rôn sinh ra gia tộc Sim-rôn. 25. Đó là những gia tộc thuộc về Y-sa-ca. Tổng số là 64.300 người.
  6. Con cháu của Sa-bu-lôn tùy theo gia tộc của họ gồm có: Từ Sê-rết sinh ra gia tộc Sê-rết; từ Ê-lôn sinh ra gia tộc Ê-lôn; từ Gia-lê-ên sinh ra gia tộc Gia-lê-ên. 27. Đó là những gia tộc thuộc về Sa-bu-lôn. Tổng số là 60.500 người.
  7. Con cháu của Giô-sép tùy theo từng gia tộc của họ gồm có Ma-na-se và Ép-ra-im.
  8. Con cháu của Ma-na-se gồm có: Ma-ki sinh ra gia tộc Ma-ki; Ma-ki sinh Ga-la-át và Ga-la-át sinh ra gia tộc Ga-la-át. 30. Đây là con cháu của Ga-la-át: Giê-xe sinh ra gia tộc Giê-xe; Hê-léc sinh ra gia tộc Hê-léc; 31. Ách-ri-ên sinh ra gia tộc Ách-ri-ên; Si-chem sinh ra gia tộc Si-chem; 32. Sê-mi-đa sinh ra gia tộc Sê-mi-đa; từ Hê-phe sinh ra gia tộc Hê-phe. 33. Xê-lô-phát, con trai Hê-phe không có con trai nhưng có con gái. Tên các con gái của Xê-lô-phát là Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa. 34. Đó là những gia tộc thuộc về Ma-na-se. Tổng số là 52.700 người.
  9. Đây là con cháu Ép-ra-im tùy theo gia tộc của họ: Su-thê-lách sinh ra gia tộc Su-thê-lách; Bê-ke sinh ra gia tộc Bê-ke; Tha-han sinh ra gia tộc Tha-han. 36. Đây là con cháu của Su-thê-lách: Ê-ran sinh ra gia tộc Ê-ran. 37. Đó là những gia tộc thuộc về con cháu Ép-ra-im. Tổng số là 32.500 người.

Đó là dòng dõi của Giô-sép tùy theo gia tộc của họ.

  1. Con cháu của Bên-gia-min tùy theo gia tộc của họ gồm có: Bê-la sinh ra gia tộc Bê-la; Ách-bên sinh ra gia tộc Ách-bên; A-hi-ram sinh ra gia tộc A-hi-ram; 39. Sê-phu-pham sinh ra gia tộc Sê-phu-pham; Hu-pham sinh ra gia tộc Hu-pham. 40. Con cháu Bê-la là A-rết và Na-a-man. A-rết sinh ra gia tộc A-rết; Na-a-man sinh ra gia tộc Na-a-man. 41. Đó là con cháu của Bên-gia-min tùy theo gia tộc của họ. Tổng số là 45.600 người.
  2. Đây là con cháu của Đan tùy theo gia tộc của họ: Su-cham sinh ra gia tộc Su-cham. Đó là gia tộc của Đan. 43. Tất cả gia tộc Su-cham được kiểm tra là 64.400 người.
  3. Con cháu của A-se tùy theo gia tộc của họ gồm có: Dim-na sinh ra gia tộc Dim-na; Dích-vi sinh ra gia tộc Dích-vi; Bê-ri-a sinh ra gia tộc Bê-ri-a. 45. Về con cháu Bê-ri-a: Hê-be sinh ra gia tộc Hê-be; Manh-ki-ên sinh ra gia tộc Manh-ki-ên. 46. Tên của con gái A-se là Sê-rách. 47. Đó là các gia tộc của con cháu A-se. Tổng số là 53.400 người.
  4. Con cháu của Nép-ta-li tùy theo gia tộc của họ gồm có: Giát-sê-ên sinh ra gia tộc Giát-sê-ên; Gu-ni sinh ra gia tộc Gu-ni; 49. Giê-xe sinh ra gia tộc Giê-xe, Si-lem sinh ra gia tộc Si-lem. 50. Đó là những gia tộc thuộc về Nép-ta-li. Tổng số là 45.400 người.
  5. Tổng số người Y-sơ-ra-ên được thống kê là 601.730 người.
  6. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 53. Tùy theo số người trên danh sách, hãy chia đất cho họ làm sản nghiệp. 54. Chi tộc nào đông dân sẽ được chia cho phần đất lớn hơn. Chi tộc nào ít dân sẽ được chia cho phần đất nhỏ hơn. Mỗi chi tộc sẽ được chia một phần đất tương xứng với số người đã thống kê. 55. Nhưng đất đai sẽ được phân chia bằng cách bốc thăm, họ sẽ nhận sản nghiệp theo tên tổ phụ chi tộc của họ. 56. Tùy theo kết quả bốc thăm, sản nghiệp sẽ được chia cho các chi tộc đông người hoặc ít người.
  7. Ðây là thống kê của người Lê-vi tùy theo gia tộc của họ: Ghẹt-sôn sinh ra gia tộc Ghẹt-sôn; Kê-hát sinh ra gia tộc Kê-hát; Mê-ra-ri sinh ra gia tộc Mê-ra-ri. 58. Đây cũng là những gia tộc của Lê-vi: Gia tộc Líp-ni, gia tộc Hếp-rôn, gia tộc Mách-li, gia tộc Mu-si, gia tộc Cô-rê. Kê-hát sinh Am-ram. 59. Vợ của Am-ram tên là Giô-kê-bết, con gái của Lê-vi, sinh ở Ai Cập. Nàng sinh cho Am-ram: A-rôn, Môi-se và chị của hai người là Mi-ri-am. 60. A-rôn sinh Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma. 61. Nhưng Na-đáp và A-bi-hu đã chết khi họ dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va. 62. Tất cả những người nam từ một tháng trở lên được kiểm tra là 23.000 người. Họ không ghi danh chung với dân Y-sơ-ra-ên, bởi vì họ không được chia phần sản nghiệp ở giữa dân Y-sơ-ra-ên.
  8. Đó là những người mà Môi-se và Tư Tế Ê-lê-a-sa đã thống kê, tức là những người thuộc dân Y-sơ-ra-ên đã được thống kê tại bình nguyên Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô. 64. Trong số những người nầy, không có ai được liệt kê khi Môi-se và Tư Tế A-rôn thống kê dân Y-sơ-ra-ên tại hoang mạc Si-nai. 65. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán về họ rằng: “Họ chắc chắn phải chết trong hoang mạc.” Vì vậy, không một người nào trong số của họ còn lại, ngoại trừ Ca-lép – con trai của Giê-phu-nê, và Giô-suê – con trai của Nun.

27

  1. Các con gái của Xê-lô-phát, con trai của Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, thuộc về các gia tộc Ma-na-se là dòng dõi của Giô-sép, đã đến. Tên của những cô gái nầy là Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa. 2. Họ đã đứng trước mặt Môi-se, trước mặt Tư Tế Ê-lê-a-sa, trước mặt các vị lãnh đạo và toàn thể hội chúng tại cửa Lều Hội Kiến, rồi nói: 3. “Cha của chúng tôi đã qua đời trong hoang mạc. Ông không thuộc vào số những người đã toa rập với nhau để chống lại Đức Giê-hô-va trong nhóm của Cô-rê, nhưng ông đã qua đời vì tội riêng của mình, và ông không có con trai. 4. Tại sao tên của cha chúng tôi bị loại bỏ gia tộc của ông chỉ vì ông không có con trai? Hãy cho chúng tôi phần đất làm sản nghiệp ở giữa các anh em của cha chúng tôi.”
  2. Môi-se đã đem trường hợp của họ đến trước mặt Đức Giê-hô-va.
  3. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 7. “Các con gái của Xê-lô-phát nói rất đúng. Ngươi phải cho họ hưởng một phần sản nghiệp ở giữa những anh em của cha họ, và hãy trao phần sản nghiệp của cha họ cho họ. 8. Và rồi ngươi hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nếu người nào chết mà không có con trai, các ngươi phải trao phần sản nghiệp của người đó cho con gái của người đó. 9. Nếu người đó không có con gái, các ngươi hãy trao phần sản nghiệp của người đó cho những anh em của người đó. 11. Nếu cha của người đó không có anh em, các ngươi hãy trao phần sản nghiệp đó cho người bà con nào gần nhất trong gia đình của người đó, và người ấy sẽ được hưởng phần sản nghiệp đó.”

Ðiều nầy sẽ thành một quy luật để phân xử trong dân Y-sơ-ra-ên, như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy lên trên núi A-ba-rim nầy và ngắm nhìn xứ mà Ta đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên. 13. Khi ngươi đã thấy nó rồi, ngươi sẽ quy về với tổ tiên của ngươi như A-rôn, anh của ngươi, 14 bởi vì ngươi đã chống lại mạng lệnh để tôn thánh Ta trước mắt dân chúng khi ban nước cho họ vào lúc hội chúng gây sự với Ta tại hoang mạc Xin. Việc nước uống nầy xảy ra tại Mê-ri-ba ở Ca-đe trong hoang mạc Xin.”
  2. Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: 16. “Nguyện Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của linh hồn mọi loài xác thịt! Xin Ngài hãy lập một người trên hội chúng, 17. một người sẽ đi ra, đi vào trước mặt họ, một người sẽ dẫn họ ra đi và đem họ trở về, để hội chúng của Đức Giê-hô-va sẽ không phải như chiên không có người chăn.”
  3. Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy dẫn theo với ngươi: Giô-suê, con trai của Nun, là người có Thần Linh ngự vào, và hãy đặt tay của ngươi trên người. 19. Hãy đem người ra mắt Tư tế Ê-lê-a-sa cùng toàn thể hội chúng, rồi ủy thác trách nhiệm cho người trước mắt họ. 20. Ngươi hãy trao cho người quyền hành của ngươi, để toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên có thể vâng phục. 21. Người sẽ đứng trước mặt Tư tế Ê-lê-a-sa, để ông dùng U-rim để cầu hỏi thánh ý cho người trước mặt Đức Giê-hô-va. Theo mệnh lệnh của người, họ sẽ đi ra; theo mệnh lệnh của người họ sẽ đi vào – người và tất cả dân Y-sơ-ra-ên đang ở với người, tức là toàn thể hội chúng.”
  4. Môi-se đã làm đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông. Ông dẫn Giô-suê đến trước mặt Tư tế Ê-lê-a-sa và trước mặt cả hội chúng. 23. Ông đặt tay trên Giô-suê và ủy thác trách nhiệm cho người, như Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông.

 

28

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ rằng: Các ngươi phải cẩn thận dâng cho Ta đúng kỳ định những tế lễ và thực phẩm là tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Ta. 3. Ngươi hãy truyền cho họ: Ðây là tế lễ mà các ngươi sẽ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va: Thường xuyên mỗi ngày các ngươi phải dâng hai con chiên đực một tuổi không khiếm khuyết để làm tế lễ thiêu. 4. Một con sẽ dâng vào buổi sáng, và con thứ nhì các ngươi sẽ dâng vào chiều tối, 5. cùng với một phần mười ê-pha bột lọc để làm tế lễ chay được nhồi với một phần tư hin dầu ô-li-ve tinh khiết. 6. Ðó là tế lễ thiêu dâng lên thường xuyên đã được thiết lập tại núi Si-nai. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va. 7. Tế lễ quán sẽ là một phần tư hin rượu cho mỗi một chiên con. Ngươi phải dâng tế lễ quán bằng rượu cho Đức Giê-hô-va trong nơi thánh. 8. Ngươi phải dâng chiên con thứ hai vào chiều tối, cùng với tế lễ chay và tế lễ quán giống như vào buổi sáng. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va.
  2. Mỗi ngày Sa-bát, các ngươi sẽ dâng hai con chiên đực một tuổi, không khiếm khuyết, hai phần mười ê-pha bột lọc nhồi dầu để làm tế lễ chay, cùng với tế lễ quán. 10. Đây là tế lễ thiêu dâng vào ngày Sa-bát, bên cạnh tế lễ thiêu và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  3. Vào mỗi ngày đầu tháng các ngươi sẽ dâng một tế lễ thiêu lên cho Đức Giê-hô-va, gồm hai con bò đực, một con chiên đực, và bảy con chiên đực một tuổi không khiếm khuyết, 12. ba phần mười ê-pha bột lọc nhồi dầu để làm tế lễ chay cho mỗi con bò đực; hai phần mười ê-pha bột lọc nhồi dầu để làm tế lễ chay cho con chiên đực; 13. một phần mười ê-pha bột lọc nhồi dầu để làm tế lễ chay cho mỗi chiên con. Đó là một tế lễ thiêu, tức một tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va. 14. Tế lễ quán bằng rượu nho sẽ là phân nửa hin cho mỗi con bò đực, một phần ba hin cho con chiên đực, và một phần tư hin cho mỗi chiên con. Ðó là tế lễ thiêu dâng lên mỗi tháng, và cho tất cả tháng trong năm. 15. Bên cạnh tế lễ thiêu được dâng thường xuyên cùng với tế lễ quán, hãy dâng cho Đức Giê-hô-va một con dê đực để làm tế lễ chuộc tội.
  4. Lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va là vào ngày mười bốn của tháng thứ nhất. 17. Ngày mười lăm của tháng đó sẽ là ngày lễ, các ngươi phải ăn bánh không men trong bảy ngày. 18. Vào ngày thứ nhất, các ngươi sẽ có một cuộc hội họp thánh. Các ngươi không được làm một công việc thường lệ nào cả. 19. Các ngươi sẽ dùng lửa dâng một tế lễ thiêu lên cho Đức Giê-hô-va, gồm hai con bò đực, một con chiên đực, và bảy con chiên đực một tuổi, các ngươi phải xem kỹ là không có khiếm khuyết. 20. Về tế lễ chay, các ngươi sẽ dâng bột lọc nhồi dầu: ba phần mười ê-pha cho mỗi con bò đực, hai phần mười ê-pha cho con chiên đực, 21. và một phần mười ê-pha cho mỗi một chiên con trong bảy con chiên con, 22. cùng với một con dê đực, là sinh tế chuộc tội, để làm lễ chuộc tội cho các ngươi. 23. Ngoài những tế lễ thiêu dâng vào buổi sáng, tức là tế lễ thiêu dâng hằng ngày, các ngươi hãy dâng những tế lễ nầy. 24. Các ngươi hãy dâng những tế lễ như vậy mỗi ngày trong suốt bảy ngày. Đó là những thực phẩm được dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va. Các ngươi sẽ dâng những tế lễ đó bên cạnh tế lễ thiêu và tế lễ quán được dâng thường xuyên. 25. Ngày thứ bảy, các ngươi sẽ có một cuộc hội họp thánh. Các ngươi không được làm một công việc thường lệ nào cả.
  5. Vào ngày hoa quả đầu mùa, khi các ngươi dâng tế lễ chay cho Đức Giê-hô-va vào dịp lễ Các Tuần Lễ, các ngươi sẽ có một cuộc hội họp thánh. Các ngươi không được làm một công việc thường lệ nào cả. 27. Các ngươi hãy dâng một tế lễ thiêu có hương thơm cho Đức Giê-hô-va, gồm hai con bò đực tơ, một con chiên đực, và bảy chiên con đực một tuổi. 28. Tế lễ chay là bột lọc nhồi dầu: ba phần mười ê-pha cho mỗi con bò đực, hai phần mười ê-pha cho con chiên đực, 29. và một phần mười ê-pha cho mỗi một chiên con trong bảy con chiên con, 30. cùng với một con dê đực để làm lễ chuộc tội cho các ngươi. 31. Ngoài những tế lễ thiêu và tế lễ chay được dâng thường xuyên, các ngươi hãy dâng những tế lễ nầy bằng những con vật không khiếm khuyết cùng với lễ quán cho chúng.”

 

29

  1. “Vào ngày một của tháng bảy, các ngươi sẽ có một cuộc hội họp thánh. Các ngươi không được làm một công việc thường lệ nào cả. Ðó là ngày các ngươi sẽ thổi kèn vang lừng. 2. Các ngươi hãy dâng một tế lễ thiêu có hương thơm cho Đức Giê-hô-va, gồm một con bò đực, một con chiên đực, và bảy con chiên đực một tuổi, không khiếm khuyết. 3. Tế lễ chay là bột lọc nhồi dầu: ba phần mười ê-pha cho con bò đực, hai phần mười ê-pha cho con chiên đực, 4. và một phần mười ê-pha cho mỗi một chiên con trong bảy con chiên con, 5. cùng với một con dê đực, là sinh tế chuộc tội, để làm lễ chuộc tội cho các ngươi. 6. Bên cạnh tế lễ thiêu và tế lễ chay các ngươi dâng vào ngày đầu tháng, cùng tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán các ngươi dâng thường lệ theo như quy luật đã định của chúng, hãy dùng lửa dâng một tế lễ có hương thơm cho Đức Giê-hô-va.
  2. Vào ngày mười của tháng bảy, các ngươi sẽ có một cuộc hội họp thánh. Các ngươi hãy kiêng cữ chính mình và không được làm một công việc thường lệ nào cả. 8. Các ngươi hãy dâng một tế lễ thiêu có hương thơm cho Đức Giê-hô-va, gồm một con bò đực, một con chiên đực, và bảy con chiên đực một tuổi. Hãy đảm bảo chắc chắn rằng chúng không bị khiếm khuyết. 9. Tế lễ chay là bột lọc nhồi dầu: ba phần mười ê-pha cho con bò đực, hai phần mười ê-pha cho con chiên đực, 10. và một phần mười ê-pha cho mỗi một chiên con trong bảy con chiên con, 11. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ chuộc tội, tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  3. Vào ngày mười lăm của tháng bảy, các ngươi sẽ có một cuộc hội họp thánh. Các ngươi không được làm một công việc thường lệ nào cả, nhưng hãy giữ lễ trong bảy ngày cho Đức Giê-hô-va. 13. Các ngươi hãy dâng một tế lễ thiêu được dâng bằng lửa có hương thơm cho Đức Giê-hô-va gồm mười ba con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn con chiên đực một tuổi không bị khiếm khuyết. 14. Tế lễ chay là bột lọc nhồi dầu: ba phần mười ê-pha cho mỗi một con bò đực trong mười ba con bò đực, hai phần mười ê-pha cho mỗi con chiên đực trong hai con chiên đực, 15. và một phần mười ê-pha cho mỗi một chiên con trong mười bốn con chiên con, 16. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  4. Vào ngày thứ hai, các ngươi hãy dâng mười hai con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn con chiên đực một tuổi không bị khiếm khuyết; 18. với tế lễ chay, tế lễ quán cho những con bò đực, những con chiên đực và những con chiên con theo số lượng đã được quy định; 19. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  5. Vào ngày thứ ba, các ngươi hãy dâng mười một con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn con chiên đực một tuổi không bị khiếm khuyết; 21. với tế lễ chay, tế lễ quán cho những con bò đực, những con chiên đực và những con chiên con theo số lượng đã được quy định; 22. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  6. Vào ngày thứ tư, các ngươi hãy dâng mười con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn con chiên đực một tuổi không bị khiếm khuyết; 24. với tế lễ chay, tế lễ quán cho những con bò đực, những con chiên đực và những con chiên con theo số lượng đã được quy định; 25. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  7. Vào ngày thứ năm, các ngươi hãy dâng chín con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn con chiên đực một tuổi không bị khiếm khuyết; 27. với tế lễ chay, tế lễ quán cho những con bò đực, những con chiên đực và những con chiên con theo số lượng đã được quy định; 28. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  8. Vào ngày thứ sáu, các ngươi hãy dâng tám con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn con chiên đực một tuổi không bị khiếm khuyết; 30. với tế lễ chay, tế lễ quán cho những con bò đực, những con chiên đực và những con chiên con theo số lượng đã được quy định; 31. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  9. Vào ngày thứ bảy, các ngươi hãy dâng bảy con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn con chiên đực một tuổi không bị khiếm khuyết; 33. với tế lễ chay, tế lễ quán cho những con bò đực, những con chiên đực và những con chiên con theo số lượng đã được quy định; 34. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  10. Vào ngày thứ tám, các ngươi sẽ có một cuộc hội họp thánh. Các ngươi không được làm một công việc thường lệ nào cả. 36. Các ngươi hãy dâng một tế lễ thiêu bằng lửa có hương thơm cho Đức Giê-hô-va gồm một con bò đực, một con chiên đực, bảy con chiên đực một tuổi không bị khiếm khuyết; 37. với tế lễ chay, tế lễ quán cho con bò đực, con chiên đực và những con chiên con theo số lượng đã được quy định; 38. cùng với một con dê đực để làm sinh tế chuộc tội; bên cạnh tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ quán được dâng thường xuyên.
  11. Đó là những lễ vật mà các ngươi phải dâng cho Đức Giê-hô-va vào những ngày lễ được chỉ định; bên cạnh những tế lễ hứa nguyện, những tế lễ tự nguyện, những tế lễ thiêu, những tế lễ chay, những tế lễ quán, và những tế lễ bình an.”
  12. Môi-se đã nói cho dân Y-sơ-ra-ên mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.

 

30

  1. Môi-se nói với các lãnh đạo của những chi tộc Y-sơ-ra-ên: “Đây là điều mà Đức Giê-hô-va đã truyền:
  2. Nếu một người khấn hứa với Đức Giê-hô-va điều gì, hoặc thề nguyện buộc chính mình vào điều gì, người đó không được phá bỏ lời của mình, nhưng phải thực hiện tất cả những gì miệng của mình đã nói.
  3. Nếu một thiếu nữ lúc còn trong tuổi thanh xuân, khi còn ở trong nhà cha của nàng, khấn hứa điều gì với Đức Giê-hô-va, hoặc cam kết buộc mình vào điều gì, 4. nếu cha nàng nghe được sự khấn hứa hoặc cam kết mà nàng đã buộc mình vào, nhưng cha nàng vẫn yên lặng với nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa đều có hiệu lực. Bất cứ sự ràng buộc nào nàng đã cam kết đều có hiệu lực. 5. Nhưng nếu vào ngày cha nàng nghe được, ông không cho phép nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa hoặc cam kết buộc nàng vào đó, đều trở thành vô hiệu lực. Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng bởi vì cha nàng không cho phép nàng.
  4. Nhưng nếu nàng đã lấy chồng, nàng khấn hứa, hay môi của nàng vội vàng thốt ra điều gì để tự ràng buộc chính nàng vào đó, 7. nếu vào ngày chồng nàng nghe được, ông nghe mà không nói gì với nàng, thì những gì nàng đã khấn hứa sẽ có hiệu lực và những cam kết mà nàng đã buộc mình vào đều có hiệu lực. 8. Nhưng nếu vào ngày chồng của nàng nghe được, ông không cho phép nàng, thì ông đã vô hiệu hóa lời khấn hứa mà nàng đã hứa cùng với những lời mà môi của nàng đã thốt ra cách vội vàng khiến nàng bị ràng buộc vào đó. Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng.
  5. Về phần phụ nữ góa phụ hoặc đã ly dị, bất cứ điều gì nàng cam kết để ràng buộc chính mình vào đó, lời hứa đó sẽ hiệu lực.
  6. Nếu một phụ nữ trong khi đang sống trong nhà của chồng, khấn hứa hoặc cam kết ràng buộc chính mình vào một lời thệ nguyện, 11. nếu chồng của nàng nghe mà không nói gì với nàng, cũng không phản đối nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa sẽ có hiệu lực và tất cả những cam kết mà nàng đã buộc mình vào đó, đều có hiệu lực. 12. Nhưng nếu vào ngày chồng của nàng nghe được, ông vô hiệu hóa chúng, thì bất cứ điều gì mà môi của nàng đã thốt ra trước đó, dù đó là lời khấn hứa hoặc cam kết của nàng, thì sẽ vô hiệu lực. Chồng của nàng đã vô hiệu hóa nên Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng.
  7. Chồng của nàng có quyền xác nhận, và chồng của nàng cũng có quyền hủy bỏ, mọi khấn hứa và mọi cam kết mà nàng ràng buộc chính nàng vào đó. 14. Nếu chồng của nàng không nói gì với nàng từ ngày nầy cho đến ngày khác, nghĩa là chồng của nàng đã xác nhận mọi lời khấn hứa hay tất cả những cam kết, đang ràng buộc nàng. Chồng của nàng đã xác nhận chúng, bởi vì anh ta đã không nói gì với nàng vào ngày anh nghe về điều đó. 15. Nếu người chồng đã nghe, nhưng về sau mới hủy bỏ chúng, thì người chồng phải gánh chịu trách nhiệm về tội lỗi của nàng.”
  8. Đó là những quy định mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se liên hệ đến người chồng và vợ của mình, người cha và con gái của mình lúc nàng còn thanh xuân đang ở trong nhà cha của mình.

 

31

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy vì dân Y-sơ-ra-ên báo thù người Ma-đi-an, sau đó ngươi sẽ được về với tổ tiên.”
  2. Vì vậy, Môi-se đã truyền cho dân chúng rằng: Các ngươi hãy trang bị vũ khí để ra trận. Hãy tiến đánh dân Ma-đi-an, thực hiện sự báo trả của Đức Giê-hô-va dành cho Ma-đi-an. 4. Các ngươi hãy gởi một ngàn người từ mỗi chi tộc của Y-sơ-ra-ên để ra trận. 5. Vì vậy từ những phân bộ, họ đã chọn một ngàn người cho mỗi chi tộc. Mười hai ngàn người đã được trang bị vũ khí để ra trận.”
  3. Môi-se sai họ ra trận – một ngàn người từ mỗi chi tộc. Ông cũng sai Phi-nê-a, con trai của Tư tế Ê-lê-a-sa, cùng ra trận với họ. Người mang theo một số thánh vật và cầm những kèn báo hiệu ở trong tay. 7. Họ giao tranh với dân Ma-đi-an theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. Họ giết tất cả những người nam. 8. Trong số những người bị giết có các vua của Ma-đi-an là Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ và Rê-ba – là năm vua của Ma-đi-an. Họ cũng dùng gươm giết Ba-la-am, con trai của Bê-ô. 9. Dân Y-sơ-ra-ên đã bắt những phụ nữ Ma-đi-an và trẻ em làm tù binh. Họ thu tất cả những bầy bò, tất cả những bầy chiên, và tất cả của cải làm chiến lợi phẩm. 10. Họ dùng lửa đốt tất cả các thành có người ở và những doanh trại của chúng. 11. Họ thu thập của cải cùng chiến lợi phẩm, cả người lẫn súc vật. 12. Họ đem những tù binh, những gì thu được, và những chiến lợi phẩm đến trước Môi-se, Tư tế Ê-lê-a-sa, và hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đóng trại tại bình nguyên Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô.
  4. Môi-se, Tư tế Ê-lê-a-sa, và tất cả các nhà lãnh đạo của hội chúng đã ra bên ngoài doanh trại để gặp họ. 14. Môi-se nổi giận với các sĩ quan chỉ huy quân đội, tức là những sĩ quan chỉ huy hàng ngàn quân và những sĩ quan chỉ huy hàng trăm quân, là những người vừa từ chiến trường trở về. 15. Môi-se nói với họ: Tại sao các ngươi để cho tất cả những phụ nữ còn sống? 16. Những kẻ nầy đã theo mưu của Ba-la-am, khiến cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội cùng Đức Giê-hô-va trong vụ Phê-ô, khiến hội chúng của Đức Giê-hô-va bị dịch bệnh. 17. Vì vậy bây giờ, hãy giết tất cả con trai trong số trẻ em, và tất cả những phụ nữ nào đã ăn nằm với người nam. 18. Nhưng tất cả những thiếu nữ chưa hề ăn nằm với một người nam nào, các ngươi hãy giữ lại cho các ngươi. 19. Các ngươi hãy ở bên ngoài doanh trại trong bảy ngày. Người nào – bất kể các ngươi hay là những tù binh – đã giết người, hoặc đụng đến xác chết, thì người đó phải tự thanh tẩy mình vào ngày thứ ba và vào ngày thứ bảy. 20. Hãy thanh tẩy tất cả quần áo, mọi thứ bằng da, mọi thứ bằng lông dê, và mọi vật bằng gỗ.
  5. Tư tế Ê-lê-a-sa đã nói với những người đã đi đánh trận rằng: “Đây là quy định trong luật mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se: 22. Vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, và chì, 23. tức là vật gì có thể chịu được lửa, thì các ngươi phải đưa ngang qua lửa để nó được thanh tẩy, rồi dùng nước để rửa sạch những gì còn dơ bẩn thì nó sẽ được tinh sạch. Bất cứ vật gì không thể chịu được lửa thì các ngươi hãy rửa bằng nước. 24. Các ngươi phải giặt sạch quần áo của mình vào ngày thứ bảy để được sạch sẽ, sau đó các ngươi có thể vào trong doanh trại.”
  6. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 26. “Ngươi, Tư tế Ê-lê-a-sa, và các tộc trưởng của hội chúng, hãy kiểm kê tổng số chiến lợi phẩm đã thu được – cả người lẫn súc vật. 27. Hãy chia chiến lợi phẩm cho các chiến sĩ đã ra trận và cho toàn thể hội chúng. 28. Lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va trong phần thuộc về những chiến sĩ đã ra trận là một sinh mạng trong năm trăm, bất kể là người, bò, lừa, hay chiên. 29. Hãy trích từ phân nửa của họ rồi trao cho Tư Tế Ê-lê-a-sa, như là một lễ vật dâng lên cho Đức Giê-hô-va. 30. Từ phân nửa của dân Y-sơ-ra-ên, ngươi sẽ lấy ra một phần năm mươi, từ số người, bò, lừa, chiên, từ tất cả súc vật, rồi trao cho người Lê-vi, là những người chịu trách nhiệm coi sóc Ðền Tạm của Đức Giê-hô-va.”
  7. Môi-se và Tư tế Ê-lê-a-sa đã làm đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 32. Chiến lợi phẩm mà các chiến sĩ đã thu được là 675.000 con chiên, 33. 72.000 con bò, 34. 61.000 con lừa, 35. và 32.000 người, là những thiếu nữ chưa hề ăn nằm với người nam nào.
  8. Số lượng, trong phân nửa thuộc phần của những người ra trận, là 337.500 con chiên, 37. họ dâng cho Đức Giê-hô-va 675 con chiên; 38. 36.000 con bò, dâng cho Đức Giê-hô-va 72 con; 39 30.500 con lừa, dâng cho Đức Giê-hô-va 61 con; 40. 16.000 người, dâng cho Đức Giê-hô-va 32 người. 41. Môi-se đã trao phần lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va cho Tư Tế Ê-lê-a-sa, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  9. Môi-se đã tách phân nửa thuộc về phần của dân Y-sơ-ra-ên khỏi phần của những người đánh trận. 43. Phân nửa của hội chúng gồm có 337.500 con chiên, 44. 36.000 con bò, 45. 30.500 con lừa, 46. và 16.000 người. 47. Môi-se đã trích ra từ phân nửa thuộc về dân Y-sơ-ra-ên một phần năm mươi số người và súc vật, rồi trao chúng cho người Lê-vi, là những người có trách nhiệm coi sóc Đền Tạm của Đức Giê-hô-va, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
  10. Các sĩ quan chỉ huy hàng ngàn quân và các sĩ quan chỉ huy hàng trăm quân đã đến gần Môi-se, 49 họ thưa với Môi-se: “Các tôi tớ của ông đã kiểm kê những chiến sĩ dưới quyền chỉ huy của chúng tôi và không có người nào trong chúng tôi bị thất lạc. 50. Vì vậy chúng tôi xin mang đến một lễ vật để dâng cho Đức Giê-hô-va – tức là những gì mà mỗi chúng tôi đã tìm được, gồm những đồ trang sức bằng vàng, vòng đeo cổ tay, vòng đeo cánh tay, nhẫn con dấu, khoen tai, và kiềng – để làm lễ chuộc tội cho chúng tôi trước mặt Đức Giê-hô-va.”
  11. Môi-se và Tư tế Ê-lê-a-sa đã tiếp nhận từ họ số vàng của những đồ trang sức. 52. Tổng số vàng do các sĩ quan hàng ngàn quân và các sĩ quan hàng trăm quân đem dâng cho Đức Giê-hô-va là 16.750 siếc-lơ. 53. Mỗi chiến sĩ ra trận đều thu chiến lợi phẩm cho riêng mình. 54. Môi-se và Tư tế Ê-lê-a-sa đã nhận vàng từ các sĩ quan chỉ huy hàng ngàn quân và hàng trăm quân rồi đem vào Lều Hội Kiến, như là một kỷ vật cho dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va.

 

32

  1. Con cháu của Ru-bên và con cháu của Gát có rất nhiều bầy súc vật. Khi họ thấy xứ Gia-ê-xe và xứ Ga-la-át là khu vực thích hợp cho việc chăn nuôi súc vật, 2. con cháu của Gát và con cháu của Ru-bên đã đến thưa với Môi-se, Tư Tế Ê-lê-a-sa, và các lãnh đạo của hội chúng rằng: 3. A-ta-rốt, Đi-bôn, Gia-ê-xe, Nim-ra, Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, Sê-bam, Nê-bô, và Bê-ôn, 4. xứ sở mà Đức Giê-hô-va đã chinh phục trước mặt hội chúng Y-sơ-ra-ên, là đất thích hợp cho việc chăn nuôi súc vật. Các đầy tớ của ông có nhiều súc vật. 5. Vì vậy, họ nói: Nếu chúng tôi được ơn trước mặt ông, xin hãy ban những vùng đất đó cho các tôi tớ của ông làm sản nghiệp. Xin đừng đem chúng tôi qua bên kia sông Giô-đanh.
  2. Môi-se nói với con cháu của Gát và con cháu của Ru-bên: “Anh em của các ngươi sẽ ra trận, còn các ngươi ở lại đây hay sao? 7. Tại sao các ngươi làm nản lòng dân Y-sơ-ra-ên trong việc đi vào xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho họ? 8. Đây là điều mà tổ phụ của các ngươi đã làm khi ta sai họ đến Ca-đe Ba-nê-a để nhìn thấy xứ. 9. Bởi vì khi họ đến thung lũng Ếch-côn, nhìn thấy xứ, họ đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên nản lòng, không muốn đi vào xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho họ. 10. Trong ngày đó, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên, và Ngài đã thề rằng: 11. Không một người nào đã đi ra khỏi Ai Cập, từ hai mươi tuổi trở lên, sẽ nhìn thấy xứ mà Ta đã hứa ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, bởi vì họ không hết lòng theo Ta, 12. ngoại trừ Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, người Kê-nít; và Giô-suê, con trai của Nun, bởi vì họ đã hết lòng theo Đức Giê-hô-va. 13. Vì vậy, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên cùng dân Y-sơ-ra-ên, Ngài khiến họ phải đi lang thang trong hoang mạc bốn mươi năm cho đến khi cả thế hệ làm điều ác trong mắt của Đức Giê-hô-va bị tiêu diệt. 14. Và giờ đây, các ngươi được gây dựng lên đứng vào chỗ của tổ phụ mình, là những con người tội lỗi, mà vẫn còn làm gia tăng cơn giận của Đức Giê-hô-va đối với Y-sơ-ra-ên nữa hay sao? 15. Bởi vì nếu các ngươi lìa bỏ Ngài, một lần nữa Ngài sẽ lìa bỏ dân nầy trong hoang mạc, và các ngươi sẽ tiêu diệt tất cả đoàn dân nầy.”
  3. Họ đến gần ông và thưa rằng: “Chúng tôi sẽ xây chuồng súc vật và các thành cho con cái của chúng tôi, 17. nhưng chúng tôi sẽ trang bị vũ khí, sẵn sàng đi trước dân Y-sơ-ra-ên cho đến khi đem họ vào những nơi chốn của họ. Con cái của chúng tôi sẽ ở lại trong những thành kiên cố bởi vì dân bản xứ. 18. Chúng tôi sẽ không quay trở về nhà của chúng tôi cho đến khi mọi người dân Y-sơ-ra-ên nhận sản nghiệp của họ. 19. Chúng tôi sẽ không nhận sản nghiệp với dân Y-sơ-ra-ên ở bên kia sông Giô-đanh hay là xa hơn nữa, bởi vì chúng tôi đã nhận sản nghiệp của mình tại bên nầy, ở phía đông của sông Giô-đanh.”
  4. Môi-se nói với họ: “Nếu các ngươi làm điều đó, nếu các ngươi trang bị vũ khí chinh chiến trước mặt Đức Giê-hô-va, 21. và nếu tất cả những người trang bị vũ khí của các ngươi đều vượt qua sông Giô-đanh trước mặt Đức Giê-hô-va, cho đến khi Ngài đuổi hết quân thù ra khỏi trước mặt Ngài. 22. Khi nào cả xứ đã bị khuất phục trước mặt Đức Giê-hô-va, sau đó các ngươi sẽ trở về, và sẽ không có lỗi với Đức Giê-hô-va và với Y-sơ-ra-ên. Khi đó, đất nầy sẽ là sản nghiệp của các ngươi trước mặt Đức Giê-hô-va. 23. Nhưng nếu các ngươi không làm như vậy, hãy biết rằng các ngươi đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, và chắc chắn rằng tội lỗi của các ngươi sẽ tìm các ngươi. 24. Hãy xây thành cho con cái và hãy dựng chuồng cho bầy súc vật như lời các ngươi đã nói.”
  5. Con cháu của Gát và con cháu của Ru-bên đã thưa với Môi-se: “Các đầy tớ của ông sẽ thực hiện như chúa của chúng tôi đã truyền. 26. Những con trẻ của chúng tôi, vợ của chúng tôi, những đàn súc vật chúng tôi, và tất cả bầy gia súc của chúng tôi sẽ ở lại trong các thành của Ga-la-át, 27. còn tất cả những đầy tớ của ông, là những người được trang bị vũ khí để ra trận, sẽ vượt qua sông để chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va, như chúa của chúng tôi nói.”
  6. Môi-se truyền lệnh liên quan đến họ cho Tư tế Ê-lê-a-sa, cho Giô-suê con trai của Nun, và cho các lãnh đạo những chi tộc của Y-sơ-ra-ên. 29. Môi-se nói với họ: “Nếu con cháu của Gát và con cháu của Ru-bên, mỗi người được trang bị vũ khí đều vượt qua sông để chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va cho đến khi xứ sở bị khuất phục trước mặt các ngươi, các ngươi hãy ban cho họ xứ Ga-la-át để làm sản nghiệp. 30. Nhưng nếu họ không vượt qua để chiến đấu cùng các ngươi, thì họ sẽ nhận sản nghiệp ở giữa các ngươi tại xứ Ca-na-an. 31. Con cháu của Gát và con cháu của Ru-bên trả lời: Chúng tôi sẽ làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán cho các đầy tớ của ông. 32. Chúng tôi sẽ vượt qua sông để chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va trong xứ Ca-na-an, nhưng phần sản nghiệp mà chúng tôi sở hữu sẽ nằm về phía bên nầy của sông Giô-đanh.”
  7. Vì vậy, Môi-se đã ban cho con cháu của Gát, con cháu của Ru-bên và phân nửa chi tộc của Ma-na-se – là con cháu của Giô-sép, vương quốc của Si-hôn – vua của dân A-mô-rít, và vương quốc của Óc – vua của Ba-san, đất đai, cùng với các thành trong ranh giới của chúng, và các thành ở chung quanh. 34. Con cháu của Gát xây cất Đi-bôn, A-ta-rốt, A-rô-e, 35. Ạt-rốt Sô-phan, Gia-ê-xe, Giô-bê-ha, 36. Bết Nim-ra và Bết Ha-ran – là những thành kiên cố, cùng với những chuồng cho những bầy súc vật. 37. Con cháu của Ru-bên xây cất Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, Ki-ri-a-ta-im, 38. Nê-bô, Ba-anh Mê-ôn – tên của các thành nầy đã thay đổi – và Síp-ma. Họ đã đặt tên cho những thành mà họ xây cất. 39. Con cháu của Ma-ki, là con trai của Ma-na-se, đã đến Ga-la-át, chiếm nó, rồi đuổi người A-mô-rít ra khỏi đó. 40. Vì vậy Môi-se đã ban Ga-la-át cho Ma-ki, con trai của Ma-na-se, rồi ông định cư tại đó. 41. Giai-rơ, con trai của Ma-na-se, đến chiếm những làng nhỏ, rồi gọi chúng là những ngôi làng của Giai-rơ. 42. Nô-bách đến chiếm Kê-nát và các làng của nó, rồi gọi nó là Nô-bách, theo tên của ông.

 

33

  1. Đây là những hành trình của dân Y-sơ-ra-ên. Họ đã ra khỏi đất Ai Cập theo đội ngũ của mình, dưới sự lãnh đạo của Môi-se và A-rôn. 2. Môi-se đã ghi lại những điểm khởi hành trong các hành trình của họ theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Đây là những chặng đường của họ – dựa theo những điểm khởi hành:
  2. Họ đã rời khỏi Ram-se trong tháng thứ nhất – vào ngày mười lăm của tháng thứ nhất – tức là ngày hôm sau của Lễ Vượt Qua. Dân Y-sơ-ra-ên đã ra đi cách hiên ngang trước mắt của người Ai Cập, 4. còn người Ai Cập thì lo chôn cất những kẻ đã bị Đức Giê-hô-va giết giữa vòng của họ, tức là các con đầu lòng của họ. Đức Giê-hô-va đã thi hành sự đoán phạt trên các thần linh của họ.
  3. Dân Y-sơ-ra-ên đã di chuyển từ Ram-se đến đóng trại tại Su-cốt. 6. Họ đã di chuyển từ Su-cốt đến đóng trại tại Ê-tam, là nơi giáp ranh với hoang mạc. 7. Họ đã di chuyển từ Ê-tam, hướng về Phi Ha-hi-rốt, ở phía đông của Ba-anh Sê-phôn, rồi đóng trại đối diện với Mít-đôn. 8. Họ đã di chuyển Phi Ha-hi-rốt, đi qua giữa biển để vào hoang mạc. Họ đã đi ba ngày đường trong hoang mạc Ê-tam, rồi đóng trại tại Ma-ra. 9. Họ đã di chuyển từ Ma-ra đến Ê-lim. Tại Ê-lim có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là, họ đóng trại tại đó. 10. Họ đã di chuyển từ Ê-lim đến đóng trại bên bờ Biển Đỏ. 11. Họ đã di chuyển từ Biển Đỏ đến đóng trại trong hoang mạc Sin. 12. Họ đã di chuyển từ hoang mạc Sin đến đóng trại tại Đáp-ca. 13. Họ đã di chuyển từ Đáp-ca đến đóng trại tại A-lúc. 14. Họ đã di chuyển từ A-lúc đến đóng tại Rê-phi-đim, là nơi không có nước cho dân chúng uống. 15. Họ đã di chuyển từ Rê-phi-đim đến đóng trại trong hoang mạc Si-nai. 16. Họ đã di chuyển từ hoang mạc Si-nai đến đóng trại tại Kíp-rốt Ha-tha-va.
  4. Họ đã di chuyển từ Kíp-rốt Ha-tha-va đến đóng trại tại Hát-sê-rốt. 18. Họ đã di chuyển từ Hát-sê-rốt đến đóng trại tại Rít-ma. 19. Họ đã di chuyển từ Rít-ma đến đóng trại tại Ri-môn Phê-rết. 20. Họ đã di chuyển từ Ri-môn Phê-rết đến đóng trại tại Líp-na. 21. Họ đã di chuyển từ Líp-na đến đóng trại tại Ri-sa. 22. Họ đã di chuyển từ Ri-sa đến đóng trại tại Kê-hê-la-tha. 23. Họ đã di chuyển từ Kê-hê-la-tha đến đóng trại tại núi Sê-phe. 24. Họ đã di chuyển từ núi Sê-phe đến đóng trại tại Ha-ra-đa. 25. Họ đã di chuyển từ Ha-ra-đa đến đóng trại tại Mác-hê-lốt. 26. Họ đã di chuyển từ Mác-hê-lốt đến đóng trại tại Ta-hát. 27. Họ đã di chuyển từ Ta-hát đến đóng trại tại Ta-rách. 28. Họ đã di chuyển từ Ta-rách đến đóng trại tại Mít-ga. 29. Họ đã di chuyển từ Mít-ga đến đóng trại tại Hách-mô-na. 30. Họ đã di chuyển từ Hách-mô-na đến đóng trại tại Mô-sê-rốt. 31. Họ đã di chuyển từ Mô-sê-rốt đến đóng trại tại Bê-nê Gia-a-can. 32. Họ đã di chuyển từ Bê-nê Gia-a-can đến đóng trại tại Hô Ghi-gát. 33. Họ đã di chuyển từ Hô Ghi-gát đến đóng trại tại Dốt-ba-tha. 34. Họ đã di chuyển từ Dốt-ba-tha đến đóng trại tại Áp-rô-na. 35. Họ đã di chuyển từ Áp-rô-na đến đóng trại tại Ê-xi-ôn Ghê-be. 36. Họ đã di chuyển từ Ê-xi-ôn Ghê-be đến đóng trại tại hoang mạc Xin, tức là Ca-đe. 37. Họ đã di chuyển từ Ca-đe đến đóng trại tại núi Hô-rơ, gần biên giới của Ê-đôm.
  5. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se trong bình nguyên Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô, rằng: 51. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên, và nói với họ rằng: Khi các ngươi vượt qua sông Giô-đanh để vào xứ Ca-na-an, 52. hãy đuổi tất cả những dân cư trong xứ khỏi mặt các ngươi. Hãy hủy diệt những tượng chạm, hủy diệt những tượng đúc, và hủy phá tất cả những nơi cao của họ. 53. Hãy chiếm lấy xứ và hãy định cư tại đó, bởi vì Ta đã ban xứ đó để các ngươi chiếm hữu. 54. Hãy bắt thăm để chia đất cho các gia tộc: Gia tộc đông sẽ được hưởng phần lớn, gia tộc nhỏ sẽ được hưởng phần nhỏ. Lá thăm rơi vào ai, phần sản nghiệp sẽ thuộc về người đó. Các ngươi hãy dựa theo tên chi tộc của tổ phụ mình mà phân chia sản nghiệp.
  6. Nhưng nếu các ngươi không đuổi những dân trong xứ đi khỏi trước mặt mình, thì những kẻ các ngươi chừa lại sẽ trở thành những cái dằm trong mắt của các ngươi, những cái gai đâm vào hông của các ngươi; chúng sẽ khuấy rối các ngươi trong xứ mà các ngươi định cư. 56. Lúc đó, Ta sẽ làm cho các ngươi điều mà Ta đã làm cho họ.”

 

34

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: Khi các ngươi vào trong xứ Ca-na-an, là xứ mà các ngươi sẽ nhận làm sản nghiệp, xứ Ca-na-an sẽ có những ranh giới như sau:
  2. Ranh giới phía nam của các ngươi sẽ từ hoang mạc Xin chạy dọc theo biên thùy nước Ê-đôm, ranh giới phía nam của các ngươi sẽ trải dài từ cuối của Biển Muối đi về hướng đông; 4. ranh giới của các ngươi sẽ chạy vòng về phía nam, lên Ạc-ráp-bim, tiếp tục đến Xin, đi tiếp về phía nam đến Ca-đe Ba-nê-a, đến Hát-sa Át-đa, rồi đi tiếp đến Át-môn. 5. Từ Át-môn, biên giới sẽ quay qua nguồn nước của Ai Cập, rồi dừng lại ở biển.
  3. Ranh giới phía tây của các ngươi sẽ là Biển Lớn. Đây là ranh giới phía tây của các ngươi.
  4. Ranh giới phía bắc của các ngươi được đánh dấu từ Biển Lớn cho đến núi Hô-rơ. 8. Các ngươi hãy đánh dấu ranh giới từ núi Hô-rơ cho đến lối vào của Ha-mát, theo hướng đến biên giới của Xê-đát, 9. đi tiếp đến biên giới của Xíp-rôn, rồi kết thúc tại Hát-sa Ê-nan. Đó là ranh giới của các ngươi về phía bắc.
  5. Các ngươi hãy đánh dấu ranh giới ở phía đông từ Hát-sa Ê-nan đến Sê-pham, 11. ranh giới sẽ chạy từ Sê-pham xuống Ríp-la, về hướng đông của A-in, rồi chạy xuống nữa cho đến bờ biển Ki-nê-rết về hướng đông; 12. ranh giới sẽ tiếp tục chạy dọc xuống Giô-đanh, rồi chấm dứt tại Biển Muối.

Ðó sẽ là xứ sở của các ngươi với những ranh giới chung quanh của nó.”

  1. Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: “Đây là vùng đất mà các ngươi sẽ bắt thăm để nhận làm sản nghiệp, là vùng đất mà Đức Giê-hô-va đã truyền để ban cho chín chi tộc rưỡi; 14. bởi vì chi tộc của con cháu Ru-bên theo các gia tộc của họ, chi tộc của con cháu Gát theo các gia tộc của họ, cùng với phân nửa chi tộc Ma-na-se, đã nhận rồi. 15. Hai chi tộc rưỡi đã nhận phần sản nghiệp của họ tại bên nầy của sông Giô-đanh, về phía đông của Giê-ri-cô, bên hướng mặt trời mọc.”
  2. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 17. “Ðây là tên của những người sẽ chia xứ cho các ngươi làm sản nghiệp: Tư Tế Ê-lê-a-sa và Giô-suê, con trai của Nun, 18. cùng với mỗi chi tộc một lãnh đạo. Lãnh đạo của mỗi chi tộc sẽ nhận phần đất được chia làm sản nghiệp. 19. Ðây là tên của những người nầy. Chi tộc Giu-đa: Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê. 20. Chi tộc Si-mê-ôn: Sê-mu-ên, con trai của Am-mi-hút. 21. Chi tộc Bên-gia-min: Ê-li-đát con trai của Kít-lon. 22. Chi tộc Đan: Lãnh đạo Bu-ki, con trai của Giốc-li. 23. Trong các con cháu của Giô-sép: Chi tộc Ma-na-se: Lãnh đạo Ha-ni-ên, con trai của Ê-phát, 24. và Chi tộc Ép-ra-im: Lãnh đạo Kê-mu-ên, con trai của Síp-tan. 25. Chi tộc Sa-bu-lôn: Lãnh đạo Ê-lít-sa-phan, con trai của Phác-nát. 26. Chi tộc Y-sa-ca: Lãnh đạo Pha-ti-ên, con trai của A-xan. 27. Chi tộc A-se: Lãnh đạo A-hi-hút, con trai của Sê-lô-mi. 28. Chi tộc Nép-ta-li: Lãnh đạo Phê-đa-ên, con trai của A-mi-hút. 29. Đó là những người mà Đức Giê-hô-va đã truyền để chia đất cho dân Y-sơ-ra-ên tại xứ Ca-na-an.”

 

35

  1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se tại bình nguyên Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô, rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải lấy từ sản nghiệp mà họ sở hữu một số thành có thể cư ngụ và những vùng đất chung quanh những thành đó để nhường cho người Lê-vi. 3. Họ sẽ cư trú trong thành, còn đất chung quanh những thành sẽ được dùng cho các bầy bò, bầy chiên, và gia súc của họ.
  2. Đất chung quanh các thành mà các ngươi nhường cho người Lê-vi sẽ là một ngàn cu-bít kể từ vách thành hướng ra ngoài. 5. Các ngươi hãy đo thêm bên ngoài thành về hướng đông hai ngàn cu-bít, về hướng nam hai ngàn cu-bít, về hướng tây hai ngàn cu-bít, và về hướng bắc hai ngàn cu-bít, với thành ở chính giữa. Đây là vùng đất sẽ thuộc về những thành của họ.
  3. Trong số những thành mà các ngươi nhường cho người Lê-vi sẽ có sáu thành trú ẩn, tức là nơi mà một người ngộ sát có thể chạy đến đó trú ẩn. Ngoài những thành đó, các ngươi hãy nhường cho họ bốn mươi hai thành nữa. 7. Tổng số thành mà các ngươi sẽ nhường cho người Lê-vi là bốn mươi tám thành, cùng với đất đai chung quanh những thành đó. 8. Về số thành mà các ngươi sẽ nhường từ sản nghiệp của dân Y-sơ-ra-ên, chi tộc nào lớn sẽ nhường nhiều hơn, chi tộc nào nhỏ sẽ nhường ít hơn. Mỗi chi tộc tùy theo số sản nghiệp mình được hưởng sẽ nhường một vài thành cho người Lê-vi.”
  4. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 10. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: Khi các ngươi đã vượt qua sông Giô-đanh để vào xứ Ca-na-an, 11. các ngươi hãy chọn một số thành để làm thành trú ẩn cho những ngươi vô tình gây chết người có thể chạy đến trú ẩn tại đó. 12. Đó sẽ là những thành phố trú ẩn cho các ngươi khỏi người báo thù, để người đã gây thiệt mạng sẽ không bị giết chết trước khi người đó được đem ra xét xử trước hội chúng. 13. Trong những thành các ngươi nhường lại, sẽ có sáu thành ẩn náu dành cho các ngươi. 14. Ba thành ở bên nầy của Giô-đanh và ba thành trong xứ Ca-na-an sẽ là những thành trú ẩn. 15. Sáu thành nầy sẽ là nơi ẩn náu cho dân Y-sơ-ra-ên, cho những kiều dân, và cho những lữ khách ở giữa họ, để bất cứ ai vô tình gây thiệt mạng có thể chạy đến đó trú ẩn.
  5. Nếu ai dùng một vật bằng sắt đánh một người khiến người kia chết, thì kẻ đó là kẻ sát nhân; kẻ sát nhân phải bị xử tử. 17. Nếu ai dùng tay cầm đá đánh một người để người đó chết, nếu người kia chết, thì kẻ đó là kẻ sát nhân; kẻ sát nhân phải bị xử tử. 18. Hoặc nếu ai dùng vật gì bằng gỗ đánh một người để người đó chết, nếu người kia chết, thì kẻ đó là kẻ sát nhân; kẻ sát nhân phải bị xử tử. 19. Người đòi nợ máu sẽ giết kẻ sát nhân. Khi gặp kẻ sát nhân thì người đòi nợ máu có quyền giết hắn. 20. Nếu ai vì ganh ghét xô đẩy một người hay cố tình ném vật gì vào một người, khiến người đó ngã chết; 21. hoặc vì thù ghét dùng tay đánh chết một người, kẻ đánh người khác là kẻ sát nhân – phải bị xử tử. Người đòi nợ máu sẽ giết kẻ sát nhân khi gặp hắn.
  6. Nhưng nếu một người bất ngờ xô đẩy người khác không phải vì thù hằn, hoặc ném vật gì trúng người khác nhưng không cố ý hãm hại, 23. hay có ai vì vô ý đã làm rớt tảng đá trên người nào do không nhìn thấy, khiến người đó chết, nhưng không cố ý hãm hại và cũng không phải vì thù hằn, 24. thì hội chúng sẽ phân xử giữa kẻ gây thiệt mạng và người đòi nợ máu theo những điều sau đây: Hội chúng sẽ giải cứu kẻ gây thiệt mạng khỏi tay của người đòi nợ máu, trả người đó trở về thành trú ẩn là nơi người đó đã chạy đến trốn, và rồi người đó phải ở tại đó cho đến khi vị thượng tế, là người đã được xức dầu thánh, qua đời. 26. Tuy nhiên, khi nào kẻ ngộ sát đi ra khỏi giới hạn của thành trú ẩn, là nơi người đó đã chạy đến trú ẩn, 27. nếu người đòi nợ máu bắt gặp người đó trong lúc người đó đang ở bên ngoài ranh giới của thành trú ẩn, người đòi nợ máu giết kẻ ngộ sát thì người đó không mắc tội làm đổ máu, 28. bởi vì kẻ ngộ sát phải ở luôn trong thành trú ẩn cho đến khi vị thượng tế qua đời. Sau khi vị thượng tế qua đời, kẻ ngộ sát được phép trở về sống trong sản nghiệp của mình.
  7. Ðó là những luật lệ để phân xử dành cho các ngươi, suốt mọi thế hệ, tại tất cả những nơi các ngươi sống.
  8. Nếu ai giết người, kẻ giết người sẽ bị xử tử dựa trên lời khai của nhiều nhân chứng. Nhưng nếu chỉ có một nhân chứng thì không đủ để kết án tử hình. 31. Ngoài ra, các ngươi không được phép nhận tiền chuộc mạng cho kẻ sát nhân đã bị kết án tử hình. Kẻ đó phải bị xử tử. 32. Các ngươi cũng không được phép nhận tiền chuộc mạng của người đã chạy đến thành trú ẩn để người đó trở về sống trong sản nghiệp của mình, trước khi vị thượng tế qua đời. 33. Các ngươi đừng làm ô uế đất đai mà các ngươi đang sinh sống, bởi vì huyết đổ ra sẽ làm ô uế đất; và không thể nào chuộc tội cho đất đã thấm huyết bị đổ ra, ngoại trừ huyết của người đã bị đổ ra. 34. Vì vậy, đừng làm ô uế đất đai mà các ngươi sinh sống, là nơi Ta ngự tại đó, bởi vì Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng ngự ở giữa dân Y-sơ-ra-ên.”

 

36

  1. Các trưởng tộc của Ga-la-át, là con trai của Ma-ki, cháu của Ma-na-se, thuộc dòng dõi Giô-sép, đã đến trước Môi-se và các nhà lãnh đạo, là những trưởng tộc của dân Y-sơ-ra-ên. 2. Họ nói: “Đức Giê-hô-va đã truyền cho chúa của tôi chia đất cho dân Y-sơ-ra-ên để làm sản nghiệp. Chúa của tôi đã được Đức Giê-hô-va truyền hãy giao sản nghiệp của anh chúng tôi là Xê-lô-phát cho các con gái anh ấy. 3. Nhưng nếu các cô ấy lập gia đình với người ngoài chi tộc chúng tôi, thì một phần sản nghiệp của tổ tiên chúng tôi sẽ bị lấy đi mà đem nhập vào sản nghiệp của chi tộc của những người chồng của các cô ấy; như vậy sản nghiệp đã được chia cho tổ tiên của chúng tôi sẽ bị lấy đi mất. 4. Đến Năm Hân Hỉ của dân Y-sơ-ra-ên, phần sản nghiệp của họ sẽ được sáp nhập vĩnh viễn vào sản nghiệp của chi tộc chồng của họ. Như vậy, sản nghiệp của tổ tiên chúng tôi sẽ bị mất đi phần sản nghiệp của họ.”
  2. Môi-se đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên lời của Đức Giê-hô-va: “Con cháu của chi tộc thuộc Giô-sép nói đúng. 6. Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền liên quan đến các con gái của Xê-lô-phát: Họ muốn kết hôn với ai tùy ý, nhưng họ chỉ được kết hôn với người trong gia đình thuộc chi tộc của tổ phụ họ, 7 để không một phần sản nghiệp nào của dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị chuyển từ chi tộc nầy sang chi tộc khác, bởi vì mỗi người trong dân Y-sơ-ra-ên sẽ giữ gìn sản nghiệp thuộc về chi tộc của tổ phụ mình. 8. Mỗi người con gái được hưởng một phần sản nghiệp trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên phải kết hôn với một người trong gia đình thuộc gia tộc của chi tộc của tổ phụ mình. Như vậy, mỗi người trong dân Y-sơ-ra-ên sẽ sở hữu phần sản nghiệp của tổ phụ mình. 9. Không một sản nghiệp nào được chuyển từ chi tộc này sang chi tộc khác, bởi vì mỗi chi tộc Y-sơ-ra-ên sẽ giữ gìn sản nghiệp thuộc về chi tộc của tổ phụ mình.”
  3. Các con gái của Xê-lô-phát đã làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 11. Các con gái của Xê-lô-phát là Mách-la, Tiệt-sa, Hốt-la, Minh-ca và Nô-a đều kết hôn cùng các con trai của những anh em của cha họ. 12. Họ lập gia đình với các con cháu trong dòng họ Ma-na-se, con của Giô-sép, nên sản nghiệp của họ vẫn được giữ trong chi tộc của cha ông họ.
  4. Đó là những mệnh lệnh và luật lệ mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên qua Môi-se tại bình nguyên Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.

Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang

Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top