Bản Dịch Việt Ngữ: Lê-vi

Lê-vi
1
- Đức Giê-hô-va gọi Môi-se và phán cùng ông từ Lều Hội Kiến: 2. “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên và bảo họ rằng: Khi có một người trong các ngươi dâng lễ vật lên Đức Giê-hô-va, ngươi phải mang lễ vật từ bầy súc vật, bầy bò, hay bầy chiên.
- Nếu lễ vật của người đó là tế lễ thiêu từ bầy gia súc, người đó phải dâng một con đực không khiếm khuyết. Người đó phải dâng nó tại cửa Lều Hội Kiến với lòng tự nguyện trước mặt Đức Giê-hô-va. 4. Người phải đặt tay trên đầu con vật làm tế lễ thiêu và nó sẽ được chấp nhận như một sinh tế chuộc tội thay cho người đó. 5. Người đó phải giết con bò tơ trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi các tư tế, con trai của A-rôn, sẽ lấy huyết, rồi rảy huyết quanh bàn thờ gần cửa Lều Hội Kiến. 6. Người đó sẽ lột da con vật làm tế lễ thiêu và sả thịt ra từng miếng. 7. Các tư tế, là con trai của A-rôn, sẽ nhóm lửa trên bàn thờ, chất củi trên lửa. 8. Các tư tế, là con trai của A-rôn, sẽ đặt những phần của đầu và mỡ trên củi đang cháy trên bàn thờ. 9. Nhưng người phải rửa phần nội tạng và giò bằng nước. Vị tư tế sẽ thiêu tất cả trên bàn thờ. Đó là tế lễ thiêu, là một lễ vật dùng lửa có hương thơm dâng lên cho Đức Giê-hô-va.
- Nếu lễ vật của người từ bầy súc vật là chiên hay dê, người đó phải dâng một con đực không khiếm khuyết. 11. Người đó phải giết nó tại phía bắc của bàn thờ trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi các tư tế, con trai của A-rôn, sẽ rảy huyết quanh bàn thờ. 12. Người đó phải sả thịt ra từng miếng. Vị tư tế sắp chúng, với đầu và mỡ, lên củi đang cháy trên bàn thờ. 13. Nhưng người phải rửa phần nội tạng và giò bằng nước. Vị tư tế sẽ mang tất cả đến thiêu trên bàn thờ. Đó là tế lễ thiêu, một lễ vật dùng lửa có hương thơm dâng lên cho Đức Giê-hô-va.
- Nếu lễ vật của người đó dâng lên Đức Giê-hô-va là một tế lễ thiêu bằng chim, người đó phải mang chim gáy hoặc bồ câu tơ làm lễ vật. 15. Vị tư tế sẽ đem nó đến bàn thờ, vặn đứt đầu, rồi thiêu nó trên bàn thờ, huyết chảy ra cạnh bàn thờ. 16. Vị tư tế sẽ gỡ cái diều và nhổ lông ném vào chỗ đổ tro bên cạnh bàn thờ, về phía đông. 17. Người xé nó tại nơi cánh nhưng không đứt hẳn. Vị tư tế đem thiêu nó trên bàn thờ nơi củi đang cháy. Đó là tế lễ thiêu, một lễ vật dùng lửa có hương thơm dâng lên cho Đức Giê-hô-va.”
2
- “Khi có người muốn dâng một tế lễ chay lên cho Đức Giê-hô-va thì lễ vật đó phải làm bằng bột mịn. Người đó phải chế dầu vào bột và rắc nhũ hương trên bột, 2. rồi đem đến cho các tư tế, là các con trai của A-rôn. Tư tế sẽ lấy một nắm bột mịn có dầu và nhũ hương, rồi thiêu trên bàn thờ, để làm một lễ vật tượng trưng dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va. 3. Phần còn lại của tế lễ chay sẽ thuộc về A-rôn và các con trai của ông. Đó là phần rất thánh lấy từ các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
- Khi các ngươi dâng tế lễ chay bằng bánh nướng trong lò, thì bánh đó phải làm bằng bột mịn, không có men, nhồi với dầu, hoặc làm thành bánh tráng không có men, rồi thoa dầu. 5. Nếu các ngươi dùng bánh nướng trên vỉ để làm tế lễ chay, thì bánh đó phải làm bằng bột mịn, không có men, nhồi với dầu. 6. Ngươi hãy bẻ nó ra từng mảnh, rồi rót dầu lên. Đó là tế lễ chay. 7. Nếu lễ vật dâng làm của lễ chay là bánh làm trong chảo, bánh đó phải làm bằng bột mịn trộn dầu. 8. Ngươi hãy đem tế lễ chay đã được chuẩn bị như vậy dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Khi lễ vật được trình cho tư tế, ông sẽ đem nó đến bàn thờ. 9. Tư tế sẽ lấy một phần tượng trưng từ của lễ chay, rồi thiêu nó trên bàn thờ. Ðó là một tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va. 10. Phần còn lại của tế lễ chay sẽ thuộc về A-rôn và các con trai của ông. Đó là phần rất thánh lấy từ các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
- Ngươi không được dâng lên cho Đức Giê-hô-va một của lễ chay có men, bởi vì ngươi không được thiêu men hay mật trong bất cứ của lễ nào dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va. 12. Ngươi có thể dâng chúng cho Đức Giê-hô-va như những lễ vật đầu mùa, nhưng không được đốt trên bàn thờ như tế lễ có hương thơm.
- Ngươi phải nêm muối vào tất cả các tế lễ chay. Tế lễ chay dâng lên không bao giờ được thiếu muối giao ước của Đức Chúa Trời. Các ngươi phải dâng muối chung với tất cả các lễ vật.
- Nếu ngươi dâng tế lễ chay cho Đức Giê-hô-va bằng hoa quả đầu mùa, ngươi phải đem gié lúa rang trên lửa, tán nhỏ, rồi dâng nó để làm lễ vật đầu mùa. 15. Ngươi hãy rưới dầu vào và rắc nhũ hương lên. Đó là tế lễ chay. 16. Tư tế sẽ lấy một phần tượng trưng, gồm bột đã được nghiền có dầu và nhũ hương, đem thiêu để làm của lễ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va.”
3
- “Về tế lễ bình an, nếu một người dâng lễ vật từ bầy bò, người đó phải dâng một con vật không khiếm khuyết – bất luận là đực hay cái – cho Đức Giê-hô-va. 2. Người đó sẽ đặt tay trên đầu con vật hiến tế, rồi giết nó trước cửa Lều Hội Kiến. Các con trai của A-rôn, tức các tư tế, sẽ rảy huyết nó chung quanh bàn thờ. 3. Những lễ vật từ của lễ thù ân mà người đó sẽ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va là mỡ bọc nội tạng và mỡ trong nội tạng, 4. hai quả thận với mỡ bên trên của chúng và ở bên hông, cùng với mỡ phía trên của lá gan mà người đó phải gỡ ra với hai quả thận. 5. Các con trai của A-rôn sẽ thiêu nó trên bàn thờ. Tế lễ thiêu được chất trên củi đang cháy để làm của lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va.
- Về tế lễ bình an, nếu một người dâng lễ vật từ bầy chiên hoặc dê, người đó phải dâng một con vật không khiếm khuyết – bất luận là đực hay cái – cho Đức Giê-hô-va.
- Nếu người đó muốn dâng một con chiên con làm của lễ, người đó hãy dâng nó trước mặt Đức Giê-hô-va. 8. Người đó sẽ đặt tay của mình trên đầu con vật hiến tế, giết nó trước cửa Lều Hội Kiến, rồi các con trai của A-rôn sẽ rảy huyết nó chung quanh bàn thờ. 9. Những lễ vật từ của lễ thù ân mà người đó sẽ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va là mỡ, nguyên cái đuôi chặt gần cuối xương sống, mỡ bọc nội tạng và tất cả mỡ trong nội tạng, 11. hai quả thận với mỡ bên trên của chúng và ở bên hông, cùng với mỡ phía trên của lá gan mà người đó phải gỡ ra với hai quả thận. 12. Các tư tế sẽ thiêu nó trên bàn thờ như là thực phẩm dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va.
- Nếu lễ vật là một con dê, người đó hãy dâng nó trước mặt Đức Giê-hô-va. 14. Người đó sẽ đặt tay của mình trên đầu con vật hiến tế, giết nó trước cửa Lều Hội Kiến, rồi các con trai của A-rôn sẽ rảy huyết nó chung quanh bàn thờ. 15. Những lễ vật từ của lễ thù ân mà người đó sẽ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va là mỡ bọc nội tạng và tất cả mỡ trong nội tạng, 15. hai quả thận với mỡ bên trên của chúng và ở bên hông, cùng với mỡ phía trên của lá gan mà người đó phải gỡ ra với hai quả thận. 16. Các tư tế sẽ thiêu nó trên bàn thờ như là thực phẩm dùng lửa dâng lên có hương thơm. Tất cả mỡ thuộc về Đức Giê-hô-va.”
4
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 2. “Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nếu một người vô ý vi phạm bất cứ điều răn nào mà Đức Giê-hô-va đã truyền không được phép làm – và người ấy đã làm một trong những điều đó.
- Nếu tư tế, là người được xức dầu, phạm tội gây cho dân chúng mắc tội – Người đó, vì tội mà mình đã phạm, phải dâng cho Đức Giê-hô-va một con bò tơ đực không khiếm khuyết để làm sinh tế chuộc tội. 4. Người đó sẽ dẫn con bò đực đến cửa Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, đặt tay trên đầu của nó, rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va. 5. Một tư tế được xức dầu sẽ lấy một ít huyết của con bò, mang vào trong Lều Hội Kiến. 6. Tư tế sẽ nhúng ngón tay của mình vào trong huyết, rồi rảy huyết bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, tại phía trước bức màn của Nơi Thánh. 7. Tư tế sẽ bôi một ít huyết trên các sừng của bàn thờ dâng hương trước mặt Đức Giê-hô-va trong Lều Hội Kiến. Phần huyết còn lại của con bò, ông sẽ đem đổ nơi chân của bàn thờ dâng tế lễ thiêu, tại trước cửa Lều Hội Kiến. 8. Ông sẽ lấy tất cả mỡ của con bò dùng làm của lễ chuộc tội. Ðó là mỡ bọc nội tạng và tất cả mỡ dính vào nội tạng, 9. hai quả thận với mỡ bên trên của chúng và ở bên hông, cùng với mỡ phía trên của lá gan mà người đó phải gỡ ra với hai quả thận, 10. giống như đã được lấy ra từ con bò làm vật hiến tế cho tế lễ bình an, rồi tư tế sẽ thiêu chúng trên bàn thờ dùng để dâng tế lễ thiêu. 11. Tuy nhiên da của con bò, tất cả thịt của nó, đầu, những cái chân, nội tạng, cùng phân của nó, 12. người đó sẽ mang cả con bò ra khỏi doanh trại, đến một nơi tinh sạch, là nơi đổ tro, rồi dùng củi mà thiêu nó. Nó sẽ được thiêu tại nơi tro được đổ ra.
- Nếu toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên vô tình phạm tội, là điều mà cả hội chúng không nhận thấy, và đã vi phạm một trong những điều răn mà Đức Giê-hô-va cấm không được làm, khiến họ mang tội. 14. Nhưng khi họ đã biết được tội mà mình đã phạm, hội chúng phải dâng một con bò đực tơ để làm tế lễ chuộc tội, và dẫn nó đến trước Lều Hội Kiến. 15. Các trưởng lão của hội chúng phải đặt tay trên đầu của con bò đực trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi giết con bò đực trước mặt Đức Giê-hô-va. 16. Tư tế được xức dầu sẽ đem một ít huyết của con bò đực đem vào Lều Hội Kiến. 17. Tư tế sẽ nhúng ngón tay của mình vào trong huyết, rồi rảy huyết bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, tại phía trước bức màn của Nơi Thánh. 18. Tư tế sẽ bôi một ít huyết trên các sừng của bàn thờ dâng hương trước mặt Đức Giê-hô-va trong Lều Hội Kiến. Phần huyết còn lại của con bò, ông sẽ đem đổ nơi chân của bàn thờ dâng tế lễ thiêu, tại trước cửa Lều Hội Kiến. 19. Ông sẽ lấy tất cả mỡ của nó, rồi thiêu trên bàn thờ. 20. Ông sẽ dâng con bò đó như cách đã dâng con bò làm của lễ chuộc tội. Tư tế sẽ làm như vậy để chuộc tội cho hội chúng, và họ sẽ được tha. 21. Ông sẽ mang con bò ra ngoài doanh trại, thiêu nó như cách đã thiêu con bò thứ nhất. Ðó là của lễ chuộc tội cho hội chúng.
- Khi một lãnh đạo phạm tội, vi phạm một trong những điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người đó, là điều không nên làm, và vô tình mắc tội. 23. Sau khi người đó biết mình đã phạm tội, người đó phải đem một con dê con đực không khiếm khuyết để làm sinh tế. 24. Người đó sẽ đặt tay trên đầu của con dê đực, rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu để làm tế lễ chuộc tội. 25. Tư tế sẽ lấy một ít huyết của con sinh tế chuộc tội, dùng ngón tay xức vào các sừng của bàn thờ dâng tế lễ thiêu; rồi đổ huyết còn lại nơi chân của bàn thờ dâng tế lễ thiêu. 26. Ông cũng thiêu tất cả mỡ trên bàn thờ như trong tế lễ bình an. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho người đó, và tội của người đó sẽ được tha.
- Nếu một thường dân vô tình phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va, làm điều không được phép làm, nên đã phạm tội. 28. Khi người đó ý thức được tội lỗi mà mình đã phạm, thì người đó phải đem đến một con dê con, là dê cái, không khiếm khuyết, để làm tế lễ chuộc tội cho tội mà mình đã phạm. 29. Người đó sẽ đặt tay trên đầu của con sinh tế chuộc tội, rồi giết con sinh tế chuộc tội tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu. 30. Tư tế sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc tội, dùng ngón tay xức vào các sừng của bàn thờ dâng tế lễ thiêu; rồi đổ huyết còn lại nơi chân của bàn thờ dâng tế lễ thiêu. 31. Ông sẽ lấy tất cả mỡ của nó như đã làm trong tế lễ bình an, rồi đem thiêu trên bàn thờ để làm cho một tế lễ có hương thơm cho Đức Giê-hô-va. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho người đó, và tội của người đó sẽ được tha.
- Nếu một người đem một con chiên con đến làm của lễ chuộc tội, thì phải là một con chiên cái không khiếm khuyết. 33. Người đó sẽ đặt tay trên đầu của con sinh tế chuộc tội, rồi con giết sinh tế chuộc tội tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu. 34. Tư tế sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc tội, dùng ngón tay xức vào các sừng của bàn thờ dâng tế lễ thiêu; rồi đổ huyết còn lại nơi chân của bàn thờ dâng tế lễ thiêu. 35. Ông sẽ lấy tất cả mỡ của chiên con, như đã làm trong tế lễ bình an, rồi tư tế đem thiêu trên bàn thờ để làm cho một tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho tội lỗi mà người đó đã phạm, và tội của người đó sẽ được tha.”
5
- “Một người mắc tội: Nếu một người sau khi nghe tuyên thệ để làm chứng về điều mình thấy hay biết, nhưng người đó không nói, thì người đó sẽ mang tội. 2. Hay là, nếu một người đụng đến bất cứ vật gì ô uế, bất kể đó là xác một dã thú thuộc loài không tinh sạch, hoặc xác một gia súc thuộc loài không tinh sạch, hoặc xác một con vật bò sát thuộc loài không tinh sạch, nếu người đó đã vô ý đụng đến, thì người đó đã bị ô uế, và mắc tội. 3. Hay là, nếu một người chạm đến vật gì không tinh sạch của loài người, bất kể bị ô uế cách nào, và dù người đó vô tình, nhưng khi người đó nhận biết, người đó mắc tội. 4. Hay là, nếu một người thiếu suy nghĩ thốt lên một lời thề trên môi của mình, dù xấu hay tốt, bất cứ việc gì mà người đó đã thề, dù vô ý thức, khi người đó nhận biết, thì người đó sẽ mắc tội về một trong các điều đó.
- Khi ai mắc tội về một trong những điều trên, người đó phải xưng nhận tội mà mình đã phạm. 6. Người đó sẽ đem đến cho Đức Giê-hô-va một tế lễ chuộc tội cho tội lỗi mà mình đã phạm, bằng một con chiên con cái hoặc một con dê con cái bắt từ trong bầy, để chuộc tội lỗi mà mình đã phạm. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho người đó.
- Tuy nhiên, nếu người đó không thể đem một con chiên con hay một con dê con, thì vì tội mà mình đã phạm, người đó sẽ đem đến cho Đức Giê-hô-va hai con chim gáy hoặc hai bồ câu con – một con dùng làm của lễ chuộc tội và một con dùng làm của lễ thiêu. 8. Người đó sẽ đem chúng đến cho tư tế. Ông sẽ dâng con vật làm lễ chuộc tội trước – vặn đầu con vật nhưng không để cho đứt ra khỏi cổ. 9. Ông sẽ rảy một ít huyết của sinh tế chuộc tội trên một cạnh của bàn thờ, phần huyết còn lại ông sẽ cho nó chảy ra nơi chân của bàn thờ. Ðó là tế lễ chuộc tội. 10. Ông sẽ dâng con thứ hai làm tế lễ thiêu đúng theo nghi thức. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho người đó về tội mà người đó đã phạm, và tội của người đó sẽ được tha.
- Nếu người đó không thể đem đến hai con chim gáy hoặc hai bồ câu con, người đó sẽ mang lễ vật cho tội của mình là một phần mười ê-pha bột mịn để làm tế lễ chuộc tội – nhưng không được rưới dầu hoặc rắc nhũ hương lên trên bởi vì đây là tế lễ chuộc tội. 12. Người đó sẽ mang bột đến cho tư tế. Tư tế sẽ lấy một nắm tượng trưng, rồi thiêu nó trên bàn thờ, theo cách dâng tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Ðó là một tế lễ chuộc tội. 13. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho người đó về một trong những tội mà người đó đã phạm, và tội của người đó sẽ được tha. Phần còn lại sẽ thuộc về tư tế, giống như của lễ chay.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 15. “Khi có một người không trung tín, vô tình phạm lỗi vì đã không dâng lên cho Đức Giê-hô-va những vật thuộc về Ngài, người đó phải vì lỗi mà mình đã phạm dâng lên cho Đức Giê-hô-va một con chiên đực không khiếm khuyết bắt từ trong bầy, đánh giá bằng siếc-lơ bạc theo siếc-lơ của Nơi Thánh. Đó là một tế lễ chuộc lỗi. 16. Người đó phải bồi thường lại vật thánh và cộng thêm một phần năm giá trị của vật thánh mà mình đã phạm, rồi giao vật đó cho tư tế. Tư tế sẽ dùng con chiên đực làm tế lễ chuộc lỗi để chuộc tội cho người đó, và tội của người đó sẽ được tha.
- Khi một người phạm một trong những điều răn của Đức Giê-hô-va, và làm điều không được phép làm, dù vô tình, người đó sẽ mắc tội và phải chịu hình phạt. 18. Người đó sẽ đem đến cho tư tế một con chiên đực không khiếm khuyết bắt từ trong bầy theo giá đã ấn định cho tế lễ chuộc lỗi. Tư tế sẽ làm lễ chuộc lỗi cho người đó về lầm lỗi mà người đó đã vô ý phạm, và người đó sẽ được tha. 19. Đó là tế lễ chuộc lỗi bởi vì người đó đã có lỗi với Đức Giê-hô-va.”
6
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Khi một người vi phạm và phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, bởi vì đã dối trá người lân cận của mình về vật được ký thác, hoặc vật để bảo đảm, hoặc trộm cắp, hoặc bóc lột người lân cận của mình, 3. hoặc tìm được vật thất lạc nhưng lại nói dối về chuyện đó, hoặc thề dối về một điều mà một người có thể làm, thì người đó đã phạm tội. 4. Bởi vì người đó đã vi phạm và phạm tội như vậy, người đó phải trả lại vật mà người đó đã trộm cắp, hoặc vật đã bóc lột, hoặc vật ký thác đã giao cho mình, hoặc vật bị mất mà mình tìm được, 5. hoặc những gì người đó phải thề – nhưng đã thề dối. Người đó phải trả lại đầy đủ giá trị, cộng thêm một phần năm, rồi đưa cho sở hữu chủ trong ngày người đó dâng tế lễ chuộc lỗi. 6. Người đó phải đem đến cho tư tế một con chiên đực không khiếm khuyết, bắt từ trong bầy, theo giá đã ấn định, để dâng lên cho Đức Giê-hô-va làm sinh tế chuộc lỗi. 7. Tư tế sẽ làm lễ chuộc lỗi cho người đó trước mặt Đức Giê-hô-va, và người đó sẽ được tha thứ một trong những điều mà người đó đã vi phạm.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 9. “Hãy truyền cho A-rôn và các con trai của người: Ðây là luật lệ về tế lễ thiêu. Tế lễ thiêu phải ở trên lửa, trên bàn thờ, suốt đêm cho đến sáng, và lửa trên bàn thờ phải cháy luôn. Sinh tế của tế lễ thiêu phải ở tại tâm của bàn thờ suốt đêm cho đến sáng, và lửa của bàn thờ phải luôn luôn cháy. 10. Tư tế sẽ mặc trang phục bằng vải gai và quần đùi bằng vải gai, rồi xúc tro mà lửa đã thiêu tế lễ thiêu, đem đổ bên cạnh bàn thờ. 11. Sau đó ông thay trang phục đó ra, và mặc trang phục khác vào, rồi đem tro đến một chỗ tinh sạch ở bên ngoài doanh trại. 12. Lửa trên bàn thờ phải cháy luôn, không được tắt. Mỗi buổi sáng, tư tế sẽ đốt thêm củi trên đó, sắp tế lễ thiêu lên trên, và sẽ thiêu trên đó mỡ của các tế lễ bình an. 13. Lửa phải cháy luôn trên bàn thờ, không bao giờ tắt.
- Ðây là luật lệ về tế lễ chay: Các con trai của A-rôn sẽ dâng tế lễ đó trên bàn thờ, trước mặt Đức Giê-hô-va. 15. Họ sẽ lấy một nắm bột mịn có dầu và tất cả nhũ hương trong của lễ chay, đem thiêu nó trên bàn thờ, thành một mùi thơm dâng lên cho Đức Giê-hô-va. 16. A-rôn và các con trai ông sẽ ăn phần còn lại. Bánh không men phải được ăn tại nơi thánh. Họ sẽ ăn nó trong sân của Lều Hội Kiến. 17. Không được làm bánh với men. Ta đã ban cho họ một phần từ các tế lễ dùng lửa dâng lên cho Ta. Đó là phần rất thánh từ tế lễ chuộc tội và tế lễ chuộc lỗi. 18. Tất cả những người nam thuộc dòng dõi A-rôn có thể được ăn phần đó. Đó là một quy luật đời đời cho dòng dõi của các ngươi về các tế lễ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Người nào chạm đến chúng phải là người đã được thánh hóa.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 20. “Đây là tế lễ mà A-rôn và các con trai ông sẽ dâng lên cho Đức Giê-hô-va từ ngày người đó được xức dầu: Một phần mười ê-pha bột mịn để làm tế lễ chay, một nửa dâng vào buổi sáng, một nửa dâng vào chiều tối. 21. Lễ vật phải được trộn với dầu và nướng trên vỉ. Ngươi hãy đem nó vào, rồi dâng những miếng bánh của tế lễ chay thành hương thơm cho Đức Giê-hô-va. 22. Trong vòng các con cháu của ông, người nào được xức dầu kế vị ông, người đó mới được dâng tế lễ này. Ðây là một quy luật đời đời. Lễ vật sẽ được thiêu hoàn toàn cho Đức Giê-hô-va.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 24. “Hãy truyền cho A-rôn và các con trai của người rằng: Ðây là luật lệ về tế lễ chuộc tội. Sinh tế cho lễ chuộc tội phải được giết trước mặt Đức Giê-hô-va, ở phía bắc của bàn thờ, tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu. Đó là một sinh tế rất thánh. 26. Tư tế dâng sinh tế chuộc tội sẽ ăn nó. Nó phải được ăn tại nơi thánh. Ông sẽ ăn nó trong sân của Lều Hội Kiến. 27. Người nào chạm đến thịt sinh tế sẽ được thánh hóa. Nếu huyết của sinh tế văng lên một cái áo, ngươi phải giặt áo đó trong một nơi thánh. 28. Nồi đất đã nấu thịt sinh tế, sẽ bị đập bể; nhưng nếu nó được nấu bằng nồi đồng thì phải cạo nồi và rửa trong nước. 29. Tất cả những người nam trong các tư tế sẽ được ăn sinh tế. Ðó là vật cực thánh. 30. Nhưng sinh tế chuộc tội nào mà huyết của nó được đem vào Lều Hội Kiến để chuộc tội trong nơi thánh, thì không được ăn, nhưng hãy thiêu nó trong lửa.”
7
- “Đây là luật về tế lễ chuộc lỗi – là một tế lễ rất thánh: 2. Hãy giết sinh tế chuộc lỗi tại nơi giết sinh tế để dâng tế lễ thiêu, rồi rưới huyết của nó chung quanh bàn thờ. 3. Hãy dâng tất cả mỡ, từ mỡ đuôi cho đến mỡ bọc nội tạng, 4. hai quả thận với mỡ bên trên của chúng và ở bên hông, cùng với mỡ phía trên của lá gan được gỡ ra cùng với hai quả thận. 5. Vị tư tế sẽ thiêu chúng trên bàn thờ để làm một tế lễ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Đó là tế lễ chuộc lỗi. 6. Tất cả những người nam trong các tư tế sẽ được phép ăn. Hãy ăn tại một nơi thánh, bởi vì đó là một vật rất thánh. 7. Tế lễ chuộc lỗi cũng giống tế lễ chuộc tội – cả hai đều có cùng một luật – sinh tế sẽ thuộc về vị tư tế dâng nó làm tế lễ chuộc tội. 8. Tư tế nào dâng tế lễ thiêu cho ai thì bộ da của sinh tế dâng làm tế lễ thiêu sẽ thuộc về tư tế đó. 9. Mọi tế lễ chay nướng trong lò cùng với tất cả lễ vật chiên trong chảo, hay nướng trên vỉ, sẽ thuộc về vị tư tế dâng tế lễ đó. 10. Tất cả tế lễ chay có trộn dầu, hay để khô, sẽ thuộc về các con trai của A-rôn và sẽ được chia đều cho họ.
- Đây là luật lệ về tế lễ bình an mà một người hãy dâng cho Đức Giê-hô-va. 12. Nếu người đó dâng tế lễ để cảm tạ thì người đó hãy dâng cùng với lễ vật cảm tạ những bánh không men trộn dầu, bánh tráng không men phết dầu, và bánh làm bằng loại bột mịn trộn với dầu. 13. Bên cạnh sinh tế dâng cho tế lễ bình an để cảm tạ, người đó hãy dâng những bánh có men. 14. Người đó phải dâng mỗi một thứ để làm lễ vật dâng lên cho Đức Giê-hô-va, và nó sẽ thuộc về vị tư tế đã rảy huyết của sinh tế trong tế lễ bình an.
- Thịt của sinh tế trong tế lễ bình an để cảm tạ phải được ăn trong ngày được dâng, không nên để gì sót lại đến sáng hôm sau. 16. Tuy nhiên nếu đó là vật hiến tế cho sự khấn nguyện hay lạc ý, vật hiến tế sẽ được ăn trong ngày được dâng, và phần còn lại có thể ăn vào ngày hôm sau. 17. Thịt của vật hiến tế còn lại đến ngày thứ ba phải được đem thiêu trong lửa. 18. Nếu ai ăn thịt tế lễ bình an trong ngày thứ ba thì tế lễ mà người đó đã dâng sẽ không được nhậm và không được kể là đã dâng. Đó là một vật bất khiết – Ai ăn thịt đó sẽ mang tội.
- Nếu thịt đó chạm đến vật gì ô uế thì đừng ăn, nhưng phải thiêu trong lửa. Còn thịt khác thì mọi người tinh sạch đều có thể ăn. 20. Người nào đang ở trong tình trạng ô uế mà ăn thịt tế lễ bình an dâng lên cho Đức Giê-hô-va thì người đó sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng. 21. Người nào chạm đến bất cứ vật gì không tinh sạch, dù là của loài người hoặc của loài vật, hoặc bất cứ vật gì đáng ghê tởm, mà người đó ăn thịt tế lễ bình an dâng cho Đức Giê-hô-va thì người đó sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 23. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi không được ăn mỡ của bò, chiên, hay của dê. 24. Mỡ của thú vật bị chết hay bị thú dữ xé, có thể dùng cho bất cứ việc gì nhưng các ngươi không được ăn. 25. Người nào ăn mỡ của con vật được dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng. 26. Hơn nữa các ngươi không được ăn huyết tại bất cứ nơi nào trong nơi ngươi cư trú, dù là huyết của loài chim hay là của loài thú. 27. Người nào ăn huyết sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 29. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Người nào dâng tế lễ bình an lên cho Đức Giê-hô-va thì hãy mang sinh tế về tế lễ bình an đến cho Đức Giê-hô-va. 30. Chính tay người đó sẽ mang những lễ vật để dâng trên lửa cho Đức Giê-hô-va, tức là mỡ và cái ngực. Cái ngực sẽ được dâng lên để làm tế lễ cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va. 31. Tư tế sẽ thiêu mỡ trên bàn thờ, nhưng cái ngực sẽ thuộc về A-rôn và các con trai của người. 32. Các ngươi phải trao cái đùi phải của con vật hiến tế cầu an cho tư tế. 33. Người nào trong các con trai của A-rôn dâng huyết và mỡ sinh tế của tế lễ bình an sẽ được nhận phần cái đùi phải đó. 34. Ta đã nhận cái ngực từ tế lễ cung hiến và cái đùi mà dân Y-sơ-ra-ên đã dâng trong tế lễ bình an, nhưng Ta ban chúng cho Tư Tế A-rôn và các con trai của người. Ðó là một luật lệ vĩnh viễn trong dân Y-sơ-ra-ên.”
- Đó là phần thuộc về A-rôn và các con trai của người được trích từ những lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va kể từ khi Môi-se đã trình diện họ để làm tư tế cho Đức Giê-hô-va. 36. Đức Giê-hô-va đã truyền ban điều này cho họ vào ngày họ được xức dầu. Đây là một luật lệ đời đời cho dân Y-sơ-ra-ên trải qua mọi thế hệ.
- Đó là luật lệ về tế lễ thiêu, tế lễ chay, tế lễ chuộc tội, tế lễ chuộc lỗi, tế lễ phong chức, và tế lễ bình an, 38. mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se trên núi Si-nai trong ngày Ngài truyền cho dân Y-sơ-ra-ên về việc dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va tại hoang mạc Si-nai.
8
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 2. “Hãy đem A-rôn và các con trai của ông đến, cùng với các lễ phục, dầu xức, con bò làm tế lễ chuộc tội, hai con chiên đực, và giỏ bánh không men. 3. Hãy triệu tập toàn thể hội chúng tại trước cửa Lều Hội Kiến.”
- Môi-se đã làm theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông. Hội chúng tập hợp tại cửa Lều Hội Kiến. 5. Môi-se nói với hội chúng rằng: “Đây là điều Đức Giê-hô-va truyền phải làm.”
- Môi-se đem A-rôn và các con trai của ông đến, rồi lấy nước tẩy rửa cho họ. 7. Ông mặc áo lễ dài cho A-rôn, thắt đai lưng cho ông ấy, mặc áo choàng cho ông ấy, gắn ê-phót cho ông ấy, thắt đai của ê-phót cho ông ấy, rồi nịt nó vào ông ấy. 8. Ông mặc bảng đeo ngực cho ông ấy, rồi gắn U-rim và Thu-mim vào bảng đeo ngực. 9. Ông đội khăn vấn đầu trên đầu của ông ấy, rồi gắn thẻ vàng vào phía trước của khăn vấn đầu để làm một chiếc mão thánh – theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Sau đó, Môi-se đã lấy dầu xức để xức cho đền tạm cùng tất cả những vật ở trong đó để biệt riêng chúng ra thánh. 11. Ông cũng rảy một ít dầu bảy lần trên bàn thờ, xức dầu cho bàn thờ, cùng tất cả những vật dụng của bàn thờ, bồn, và chân bồn để biệt riêng chúng ra thánh. 12. Ông cũng rót dầu trên đầu của A-rôn để xức dầu cho ông ấy, rồi biệt riêng ông ấy ra thánh. 13. Môi-se đã đem các con trai của A-rôn đến, mặc áo lễ dài cho họ, thắt đai lưng cho họ, đội mũ lên đầu của họ, theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Sau đó, ông đem con bò đực làm của lễ chuộc tội đến. A-rôn và các con trai của ông đặt tay trên đầu con bò làm của lễ chuộc tội. 15. Môi-se đã giết nó, rồi dùng ngón tay lấy huyết bôi lên những cái sừng ở chung quanh của bàn thờ để thanh tẩy bàn thờ, rồi đổ máu còn lại dưới chân của bàn thờ để biệt riêng bàn thờ ra thánh, để được dùng làm lễ chuộc tội. 16. Ông lấy tất cả mỡ bọc nội tạng, mỡ dính với lá gan, hai trái thận và mỡ bọc hai trái thận, Môi-se đem thiêu chúng trên bàn thờ. 17. Nhưng thịt, da, và phân của con bò thì ông đem thiêu bên ngoài doanh trại, như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Môi-se đem con chiên đực dùng làm tế lễ thiêu đến. A-rôn và các con trai của ông đặt tay trên đầu của nó. 19. Môi-se giết nó rồi rảy huyết chung quanh bàn thờ. 20. Ông sả con chiên ra từng miếng, rồi Môi-se đem thiêu cái đầu, những miếng đó, và mỡ. 21. Môi-se đã rửa nội tạng và những cái chân trong nước rồi thiêu cả con chiên đực trên bàn thờ. Đó là tế lễ thiêu có mùi thơm dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va, như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Rồi ông đem con chiên đực thứ nhì đến, tức là con chiên đực dùng cho lễ phong chức. A-rôn và các con trai của ông đặt tay trên đầu con chiên đó. 23. Môi-se đã giết nó rồi lấy huyết bôi lên vành tai phải của A-rôn, trên ngón cái của bàn tay phải, và trên ngón cái của bàn chân phải. 24. Môi-se đem các con trai của A-rôn đến, rồi bôi huyết trên vành tai phải của họ, trên ngón cái của bàn tay phải, và trên ngón cái của bàn chân phải của họ. Môi-se rảy huyết còn lại chung quanh bàn thờ. 25. Ông đã lấy mỡ, từ mỡ của đuôi, tất cả mỡ bọc nội tạng, mỡ dính với lá gan, hai trái thận và mỡ bọc hai trái thận, và cái đùi phải. 26. Từ rổ bánh không men để trước mặt Đức Giê-hô-va, ông lấy ra một cái bánh không men, một cái bánh tẩm dầu, và một cái bánh tráng, rồi đặt chúng bên trên mỡ và cái đùi phải. 27. Ông đặt tất cả những vật đó vào trong tay của A-rôn và tay các con trai của ông để họ dâng lên làm tế lễ cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va. 28. Sau đó, Môi-se lấy những vật đó từ tay của họ rồi đem thiêu trên bàn thờ để làm tế lễ thiêu. Đó là tế lễ phong chức dùng lửa dâng lên có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va. 29. Môi-se cũng lấy cái ngực của con chiên đực dâng trong lễ tấn phong, dâng lên làm tế lễ cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va. Đó là phần của Môi-se như Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông.
- Sau đó, Môi-se lấy một ít dầu xức, và một ít huyết trên bàn thờ rảy trên A-rôn, trên lễ phục của ông, trên các con trai của ông đang có với ông, và trên lễ phục họ. Môi-se đã biệt riêng ra thánh A-rôn, lễ phục của ông, các con trai ông, và lễ phục của những con trai đang có với ông.
- Môi-se nói với A-rôn và các con trai của ông: “Hãy nấu thịt tại cửa Lều Hội Kiến, và hãy ăn tại đó, với bánh trong giỏ được dùng trong lễ tấn phong, như ta đã dặn rằng: A-rôn và các con trai của người sẽ ăn tế lễ đó. 32. Thịt và bánh còn lại phải thiêu trong lửa. 33. Trong bảy ngày, các ngươi không được ra khỏi cửa Lều Hội Kiến, cho đến khi kết thúc thời gian của lễ tấn phong, vì Ngài sẽ thánh hóa các ngươi trong bảy ngày. 34. Đức Giê-hô-va đã truyền phải làm như đã thực hiện ngày hôm nay để chuộc tội cho các ngươi. 35. Vì vậy các ngươi phải ở tại cửa Lều Hội Kiến bảy ngày đêm. Hãy tuân giữ mạng lệnh của Đức Giê-hô-va để các ngươi khỏi chết, bởi vì đó chính là điều mà ta đã được truyền bảo.”
- A-rôn và các con trai của ông đã làm tất cả những điều mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
9
- Sau đó đến ngày thứ tám, Môi-se triệu tập A-rôn và các con trai của ông, cùng với các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên. 2. Ông nói với A-rôn: “Hãy bắt một con bò đực tơ để làm tế lễ chuộc tội, một con chiên đực để làm tế lễ thiêu – không con nào bị khiếm khuyết – rồi hãy dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va. 3. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Hãy mang một con dê con đến để làm tế lễ chuộc tội; một con bò con và một con chiên con – cả hai được một tuổi và không bị khiếm khuyết – để làm tế lễ thiêu; 4. một con bò đực và một con chiên đực để làm tế lễ bình an, để dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va, cùng với một tế lễ chay có pha dầu, bởi vì hôm nay Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra với các ngươi.”
- Họ đã đem những gì Môi-se truyền đến trước Lều Hội Kiến. Cả hội chúng đã đến gần rồi đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
- Môi-se nói: “Đây là điều Đức Giê-hô-va truyền cho các ngươi phải làm để vinh quang của Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra với các ngươi.”
- Sau đó Môi-se nói với A-rôn: “Hãy đi đến bàn thờ để dâng tế lễ chuộc tội và tế lễ thiêu, để chuộc tội cho chính anh và cho dân chúng. Sau đó hãy dâng tế lễ cho dân chúng để chuộc tội cho họ – như Đức Giê-hô-va đã truyền.”
- Vì vậy, A-rôn đã đến gần bàn thờ, và giết con bò đực tơ để làm tế lễ chuộc tội cho chính mình. 9. Các con trai của A-rôn đã đem huyết đến cho ông. Ông nhúng ngón tay vào huyết, bôi lên các sừng của bàn thờ, rồi đổ huyết dưới chân của bàn thờ. 10. Ông thiêu mỡ, những trái thận, và lớp mỡ bọc lá gan trên bàn thờ để làm tế lễ thiêu như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 11. Còn thịt và da thì ông dùng lửa thiêu ở bên ngoài doanh trại.
- A-rôn giết con vật dùng làm tế lễ thiêu. Các con trai của A-rôn đem huyết đến cho ông, để ông rảy chung quanh bàn thờ. 13. Họ đem những miếng thịt của tế lễ thiêu cùng với cái đầu, rồi ông đốt tất cả trên bàn thờ. 14. Ông rửa nội tạng và những cái chân, rồi đốt chúng cùng với tế lễ thiêu trên bàn thờ.
- Sau đó tế lễ của dân chúng được đem đến. Ông bắt con dê được dùng để làm tế lễ chuộc tội cho dân chúng, giết nó, rồi dâng lên để làm tế lễ chuộc tội giống như con trước. 16. Ông cũng dâng tế lễ thiêu theo quy định. 17. Ông dâng tế lễ chay. Ông lấy một nắm, rồi đem đốt trên bàn thờ, bên cạnh tế lễ thiêu buổi sáng.
- Ông giết con bò và con chiên đực, là những sinh tế dùng cho tế lễ bình an của dân chúng. Các con trai của A-rôn đem huyết đến cho ông, và ông rảy nó chung quanh bàn thờ. 19. Mỡ của con bò đực và con chiên đực, gồm mỡ đuôi, mỡ bọc nội tạng, bọc những trái thận, bọc lá gan, 20 họ đặt chúng trên mỡ của cái ngực, rồi thiêu chúng trên bàn thờ. 21. Nhưng những cái ngực và đùi bên phải thì A-rôn dâng lên làm tế lễ cung hiến mặt Đức Giê-hô-va – như Môi-se đã truyền.
- A-rôn giơ tay trên dân chúng và chúc phước cho họ. Sau khi dâng tế lễ chuộc tội, tế lễ thiêu và tế lễ bình an, thì ông bước xuống. 23. Môi-se và A-rôn vào Lều Hội Kiến, rồi đi ra chúc phước cho dân chúng. Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra trước tất cả dân chúng. 24. Một ngọn lửa phát ra từ trước mặt Đức Giê-hô-va thiêu hủy tế lễ thiêu và mỡ trên bàn thờ. Khi dân chúng thấy vậy, họ reo mừng rồi sấp mặt xuống.
10
- Các con trai của A-rôn là Na-đáp và A-bi-hu, mỗi người lấy lư hương của mình, bỏ lửa và hương liệu vào, rồi dâng trước mặt Đức Giê-hô-va một thứ lửa lạ mà Ngài không truyền cho họ. 2. Một ngọn lửa từ Đức Giê-hô-va đã phát ra thiêu hủy họ. Họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.
- Môi-se nói cùng A-rôn: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Người nào đến gần Ta, phải tôn kính Ta là Đấng Thánh. Ta sẽ được tôn vinh trước mặt tất cả dân chúng.”
A-rôn đã yên lặng.
- Môi-se gọi Mi-sa-ên và Ên-sa-phan, là những con trai của U-xi-ên, chú của A-rôn, và bảo họ: “Hãy đến gần, khiêng xác những người thân của các ngươi ra khỏi nơi thánh rồi đem ra ngoài doanh trại.”
- Họ đã đến gần, khiêng xác vẫn còn trong áo lễ ra ngoài doanh trại, như Môi-se đã truyền.
- Môi-se nói với A-rôn, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, là các con trai của ông: “Đừng mở đầu trần cũng đừng xé áo, để các ngươi khỏi phải chết, và cơn thịnh nộ không giáng xuống trên cả dân chúng. Nhưng hãy để thân nhân của các ngươi và cả nhà Y-sơ-ra-ên khóc thương những người bị Đức Giê-hô-va thiêu đốt. 7. Các ngươi đừng ra khỏi cửa Lều Hội Kiến, nếu không các ngươi sẽ chết, bởi vì các ngươi đã được Đức Giê-hô-va xức dầu.”
Họ đã làm theo lời của Môi-se.
- Đức Giê-hô-va phán với A-rôn rằng: 9. “Ngươi và các con trai của ngươi không được uống rượu nho hay rượu khi vào Lều Hội Kiến, nếu không các ngươi phải chết. Đó là một mệnh lệnh đời đời cho mọi thế hệ. 10. Các ngươi phải phân biệt giữa thánh khiết và bất khiết, giữa ô uế và tinh sạch. 11. Các ngươi phải dạy cho dân Y-sơ-ra-ên tất cả những mạng lệnh mà Đức Giê-hô-va đã truyền qua Môi-se.”
- Môi-se nói với A-rôn, và với Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, là các con trai của ông: “Hãy lấy phần tế lễ chay còn lại sau khi đã dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va, là vật không có men, rồi ăn gần bàn thờ bởi vì đó là phần rất thánh. 13. Các ngươi hãy ăn nó trong một nơi thánh, bởi vì đó là phần của ngươi và của các con trai ngươi được trích từ những lễ vật dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Tôi đã được truyền như vậy. 14. Nhưng cái ngực của tế lễ cung hiến và cái đùi của tế lễ dâng lên, thì ngươi, các con trai của ngươi, và các con gái của ngươi có thể ăn tại một nơi thanh sạch, bởi vì đó là phần đã được quy định cho ngươi và cho các con của ngươi được trích từ tế lễ bình an của dân Y-sơ-ra-ên. 15. Họ sẽ đem đến cái đùi của tế lễ dâng lên và cái ngực của tế lễ cung hiến, cùng với những mỡ của tế lễ thiêu bằng lửa dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va. Đó là phần thuộc về ngươi và các con của ngươi, theo quy định vĩnh viễn mà Đức Giê-hô-va đã truyền.”
- Môi-se hỏi kỹ về con dê dùng làm tế lễ chuộc tội, thì thấy nó đã bị thiêu. Ông nổi giận với Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, các con trai còn lại của A-rôn, và nói: 17. “Tại sao các ngươi không ăn thịt sinh tế chuộc tội trong một nơi thánh? Đó là một phần rất thánh mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi, để gánh lấy tội của hội chúng, rồi làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va. 18. Bởi vì huyết của sinh tế không được đem vào nơi thánh, cho nên các ngươi phải ăn sinh tế đó trong nơi thánh, như ta đã dặn.”
- A-rôn nói với Môi-se: “Hãy xem! Hôm nay chúng đã dâng tế lễ chuộc tội và tế lễ thiêu trước mặt Đức Giê-hô-va; và rồi những việc này đã xảy đến cho tôi. Nếu tôi ăn tế lễ chuộc tội hôm nay, điều đó có đẹp lòng Đức Giê-hô-va hay không?”
- Khi Môi-se nghe những lời nầy, ông hài lòng.
11
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn. Ngài truyền cho họ: 2. “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Trong các loài vật, đây là những sinh vật các ngươi có thể ăn: 3. Loài vật nào có móng rẽ ra, bàn chân chia hai, và nhai lại, thì các ngươi có thể ăn. 4. Tuy nhiên trong những loài vật nhai lại hay có móng rẽ ra, các ngươi không được ăn những loài vật sau đây: Lạc đà – mặc dù nó nhai lại nhưng không có móng rẽ ra, nó là loài không thanh sạch cho các ngươi. 5. Loài chồn sống trên đá – mặc dù nó nhai lại nhưng không có móng rẽ ra. Nó là loài không thanh sạch cho các ngươi. 6. Con thỏ rừng – mặc dù nó nhai lại nhưng không có móng rẽ ra. Nó là loài không thanh sạch cho các ngươi. 7. Con heo – mặc dù nó có móng rẽ ra, và bàn chân chia hai, nhưng nó không nhai lại. Nó là loài không tinh sạch cho các ngươi. 8. Các ngươi không được ăn thịt và cũng không được đụng đến xác của chúng. Chúng không tinh sạch cho các ngươi.
- Đây là tất cả những loài ở dưới nước các ngươi có thể ăn: Tất cả những loài có vây và có vảy ở dưới nước – bất kể dưới sông hay dưới biển – các ngươi có thể ăn. 10. Nhưng loài nào không có vây, không có vảy – sống dưới biển, dưới sông, tất cả những loài chuyển động trong nước, hay những sinh vật sống trong nước – chúng là vật đáng ghê tởm. 11. Các ngươi phải ghê tởm chúng, không được ăn thịt của chúng, và hãy kinh tởm xác chết của chúng. 12. Tất cả những loài nào sống dưới nước mà không có vây, không có vảy, đều ghê tởm cho các ngươi.
- Trong những loài chim, đây là những loài các ngươi phải ghê tởm, các ngươi không được ăn. Những loài ghê tởm là đại bàng, diều hâu, kên kên, 14. chim ó diều, các loại chim ưng, 15. tất cả những loài quạ, 16. đà điểu, chim cú, hải âu, các loại diều hâu, 17. cú vọ, cồng cộc, cú mèo, 18. cú trắng, bồ nông, ó biển, 19. cò, các loại diệc, chim rẽ quạt, và dơi.
- Tất cả những loài côn trùng có cánh và đi bằng bốn chân đều ghê tởm cho các ngươi. 21. Tuy nhiên có loài côn trùng có cánh và đi bốn chân mà các ngươi có thể ăn, đó là những loài mà chân có khớp để nhảy trên đất. 22. Những loài các ngươi có thể ăn là các loài châu chấu, các loài dế trũi, các loài dế, các loài cào cào. 23. Tất cả những côn trùng có cánh và có bốn chân khác là ghê tởm cho các ngươi.
- Sau đây là những loài làm cho các ngươi bị không tinh sạch. Ai đụng đến xác của chúng sẽ bị ô uế cho đến tối. 25. Ai lượm xác của chúng, phải giặt y phục của mình, và sẽ bị ô uế cho đến tối. 26. Bất kỳ loài vật nào có móng rẽ nhưng chân không chẻ hai hay không nhai lại đều là loài vật không tinh sạch cho các ngươi. Ai đụng đến những loài vật này sẽ bị ô uế. 27. Trong tất cả các loài vật, loài nào đi bốn chân và có vuốt là loài không tinh sạch cho các ngươi. Ai đụng đến xác của chúng sẽ bị ô uế cho đến tối. 28. Ai lượm xác của chúng, phải giặt y phục của mình, và sẽ bị ô uế cho đến tối. Đó là những loài vật không tinh sạch cho các ngươi.
- Trong các loài vật bò trên mặt đất, đây là những loài không tinh sạch cho các ngươi: Chuột nhũi, chuột nhắt, tất cả các loại rắn mối, 30. cắc ké, kỳ đà, thằn lằn, kỳ nhông, cắc kè. 31. Trong tất cả những loài bò trên mặt đất, đó là những loài không tinh sạch cho các ngươi. Ai đụng đến xác của chúng sẽ bị ô uế cho đến tối. 32. Bất cứ vật gì bị xác chết chúng rơi vào, đều trở thành ô uế, bất kể vật dụng đó làm bằng gỗ, bằng vải, bằng da, hay là bao bị, tức bất cứ vật dụng nào mà người ta dùng cho việc gì. Vật đó phải được ngâm trong nước, và phải bị ô uế cho đến tối, rồi mới được sạch. 33. Nếu xác chết đó rơi nhằm một bình đất, những gì chứa trong bình đều bị ô uế, và phải bị đập bỏ. 34. Thức ăn nào bị nước trong bình này đổ nhằm, sẽ bị ô uế. Bất cứ thức uống gì chứa trong bình cũng bị ô uế. 35. Bất cứ vật gì bị xác những con vật này rơi nhằm sẽ bị ô uế – dù đó là bếp hay nồi cũng phải đập bể. Bởi vì chúng không tinh sạch, cho nên các ngươi phải xem chúng là không tinh sạch. 36. Tuy nhiên, dòng suối hay hồ chứa nhiều nước vẫn được kể là tinh sạch, mặc dù bất cứ vật gì đụng đến xác chết đó phải bị ô uế. 37. Nếu xác chết rơi trên hạt giống sẽ được gieo trồng, hạt giống vẫn được tinh sạch. 38. Nhưng nếu hạt giống đã được tưới nước, và xác chết rơi nhằm, các ngươi phải xem nó là ô uế.
- Nếu một con vật được dùng làm thức ăn, bị chết, ai đụng đến xác của nó sẽ bị ô uế cho đến tối. 40. Ai ăn xác đó, phải giặt y phục của mình, và sẽ bị ô uế cho đến tối. Ai khiêng xác đó, cũng phải giặt y phục của mình, và bị ô uế cho đến tối.
- Tất cả những loài bò sát trên mặt đất là những vật ghê tởm, đừng ăn. 42. Những con nào bò bằng bụng, những con nào bò bằng bốn chân, hoặc những con nào bò bằng nhiều chân, tức mọi loài bò sát trên mặt đất, các ngươi đừng ăn chúng, bởi vì chúng là những vật đáng ghê tởm. 43. Các ngươi đừng làm cho mình bị ghê tởm bởi những loài bò sát trên mặt đất. Các ngươi đừng làm cho mình bị ô uế vì chúng, bởi vì chúng có thể làm cho các ngươi bị ô uế. 44. Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, hãy biệt riêng các ngươi ra thánh và trở nên thánh, bởi vì Ta là thánh. Đừng để các ngươi bị ô uế bởi bất cứ loài bò sát nào trên mặt đất. 45. Vì Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập để làm Đức Chúa Trời của các ngươi: Các ngươi hãy trở nên thánh vì Ta là thánh.
- Đây là luật về các loài vật, loài chim, những sinh vật di chuyển trong nước, cùng tất cả những loài bò sát trên đất, 47. để phân biệt giữa loài không tinh sạch với loài tinh sạch, giữa loài ăn được với những loài không ăn được.”
12
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 2. “Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi một phụ nữ mang thai và sinh con trai, nàng sẽ bị ô uế trong bảy ngày như thời gian nàng bị ô uế trong thời kỳ kinh nguyệt của nàng. 3. Đến ngày thứ tám lễ cắt bì cho đứa trẻ phải được thực hiện. 4. Nàng sẽ tiếp tục để huyết được thanh tẩy trong ba mươi ba ngày. Nàng không được đụng đến vật thánh hay đi vào nơi thánh, cho đến khi thời kỳ thanh tẩy được hoàn tất. 5. Nếu nàng sinh con gái, nàng sẽ bị ô uế trong hai tuần như thời gian nàng bị ô uế trong thời kỳ kinh nguyệt của nàng, và nàng sẽ tiếp tục để huyết được thanh tẩy trong sáu mươi sáu ngày.
- Khi kỳ thanh tẩy đã hoàn tất, dù sinh con trai hay con gái, nàng phải đem đến cho tư tế tại cửa Lều Hội Kiến một con chiên con một tuổi để làm tế lễ thiêu, và một bồ câu hoặc một chim gáy để làm tế lễ chuộc tội. 7. Ông sẽ dâng sinh tế trước mặt Đức Giê-hô-va để làm lễ thanh tẩy cho nàng, và nàng sẽ được thanh sạch sau khi mất huyết. Đây là luật cho phụ nữ sinh con trai hay con gái. 8. Nếu nàng không đủ khả năng dâng một chiên con, nàng có thể mang đến hai con chim gáy hoặc hai con bồ câu con: Một con sẽ được dâng làm của lễ thiêu, và con kia sẽ được dâng làm của lễ chuộc tội. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho nàng, và nàng sẽ được sạch.”
13
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2. “Khi một người bị sưng, bị nổi mụt nhọt, hoặc có đốm trắng trên da thịt của mình, rồi nó trở thành vết phung trên da của người đó, thì người đó phải được đưa đến Tư Tế A-rôn, hoặc một trong các con trai của tư tế. 3. Tư tế sẽ khám chỗ da bị thương. Nếu lông ở chỗ bị thương đã chuyển thành màu trắng và chỗ bị thương lõm sâu hơn da, thì đó là một vết phung. Khi khám xong, tư tế sẽ tuyên bố rằng người đó không tinh sạch. 4. Nhưng nếu đốm trắng trên da của người đó không lõm sâu hơn da và nếu lông không chuyển sang màu trắng, thì tư tế phải cách ly người đó trong bảy ngày. 5. Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám người đó. Nếu thấy vết thương không thay đổi, không lan ra trên da, thì tư tế phải cách ly người đó thêm bảy ngày nữa. 6. Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám người đó. Nếu vết thương nhạt đi, không lan ra trên da, thì tư tế sẽ tuyên bố người đó là thanh sạch. Đó chỉ là một mụt nhọt. Người đó phải giặt y phục và được thanh sạch.
- Nhưng nếu sau khi người đó đã được tư tế khám nghiệm để tuyên bố là tinh sạch, nhưng ung nhọt tái phát và lan ra trên da, người đó phải gặp tư tế lần thứ hai. 8. Tư tế sẽ khám nghiệm, và nếu ung nhọt thật sự đã lan ra trên da, tư tế phải tuyên bố rằng người đó bị ô uế. Đó là bịnh phung.
- Khi một người nhiễm bệnh phung, người đó phải được đem đến gặp tư tế. 10. Tư tế sẽ khám nghiệm. Nếu da ở chỗ sưng có màu trắng, lông nơi đó cũng đã biến thành trắng, và đốm thịt bị sưng lên, 11. đó là bệnh phung kinh niên trong da thịt của người đó. Tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch. Tư tế sẽ không cô lập người đó, bởi vì người đó không tinh sạch. 12. Nhưng nếu bệnh phung lan ra khắp trên da, vết phung phủ hết cả da, từ đầu cho đến chân, nơi nào tư tế cũng thấy; 13 tư tế sẽ khám nghiệm. Nếu bệnh phung đã bao phủ khắp cả cơ thể của người đó, tư tế sẽ tuyên bố người đó là sạch. Vì tất cả đã biến thành trắng, người đó được sạch. 14. Nhưng nếu thịt tươi lộ ra trên cơ thể của người đó, người đó không tinh sạch. 15. Tư tế sẽ khám nghiệm chỗ thịt tươi và tuyên bố người đó không tinh sạch. Thịt tươi là không tinh sạch và người đó mắc bệnh phung. 16. Nhưng nếu chỗ thịt tươi đó thay đổi nữa, và trở thành màu trắng, người đó phải đến gặp tư tế. 17. Tư tế sẽ khám nghiệm người đó. Nếu vết thương chuyển sang màu trắng, tư tế phải tuyên bố người đó đã được sạch. Người đó tinh sạch.
- Khi da trên cơ thể có một ung nhọt đã được lành, 19. nhưng ngay chỗ có ung nhọt lại nổi lên một mụt màu trắng hoặc một đốm trắng hồng, phải trình cho tư tế điều đó. 20. Tư tế sẽ khám xét. Nếu chỗ bị thương lõm sâu hơn da và lông ở chỗ bị thương đã chuyển thành màu trắng, thì đó là một vết phung đã phát ra tại chỗ có mụt nhọt. 21. Nhưng nếu tư tế khám nhưng không thấy lông trắng, chỗ đốm không lõm sâu hơn mặt da, nhưng nhạt đi, tư tế sẽ cô lập người đó trong bảy ngày. 22. Sau đó nếu vết đó lan ra trên da, tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch, người đó nhiễm bệnh. 23. Nhưng nếu đốm đó vẫn giữ nguyên một chỗ, không lan ra, thì đó chỉ là vết thẹo của ung nhọt – tư tế phải tuyên bố người đó tinh sạch.
- Nếu cơ thể bị bỏng, và chỗ da thịt bị bỏng trở nên một đốm sáng, trắng hồng, hay trắng, 25. thì tư tế sẽ khám. Nếu lông trong đốm đã chuyển thành màu trắng và lõm sâu hơn mặt da. thì đó là bệnh phung phát ra từ vết bỏng. Tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch, vì đó là chứng phung. 26. Nhưng nếu tư tế khám nghiệm, không thấy lông trắng và đốm không lõm sâu hơn mặt da, nhưng nhạt đi, thì tư tế sẽ cho cách ly người đó trong bảy ngày. 27. Sau bảy ngày, tư tế sẽ khám người đó, và nếu thấy nó lan ra trên da, tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch, vì đã nhiễm bệnh phung. 28. Nhưng nếu đốm đó vẫn ở nguyên một chỗ, không lan ra trên da, nhưng nhạt đi, thì đó là vết thương do bỏng lửa. Tư tế sẽ tuyên bố người đó là tinh sạch, vì đó là sẹo của vết bỏng.
- Khi một người nam hay nữ có vết thương trên đầu hay trên cằm, 30. tư tế sẽ khám vết thương. Nếu nó lõm sâu hơn da và tại đó có lông lưa thưa màu vàng, tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch, bởi vì đó là vết phung trên đầu hay trên cằm. 31. Nếu tư tế khám nghiệm da nơi vết thương, thấy nó không lõm sâu dưới da, cũng không thấy lông đen nào trong đó, tư tế phải cô lập người mắc bệnh ngoài da trong bảy ngày. 32. Vào ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vết thương. Nếu vết thương không lan ra, cũng không có lông màu vàng trong đó, và vết thương cũng không lõm sâu dưới da, 33. người đó phải cạo râu tóc, nhưng không cạo chỗ vết thương, rồi tư tế sẽ cách ly người đó thêm bảy ngày nữa. 34. Vào ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vết thương. Nếu vết thương không lan ra trên da, và nếu không lõm sâu dưới da, tư tế sẽ tuyên bố người đó tinh sạch. Người đó phải giặt y phục của mình, và được sạch. 35. Nhưng nếu sau khi người đó được tuyên bố tinh sạch, vết thương lan ra trên da, 36. tư tế phải khám người đó. Nếu chỗ vết thương đã lan ra trên da, người đó không tinh sạch. Tư tế không cần phải tìm xem lông có biến thành màu vàng. 37. Nhưng nếu vết thương vẫn không thay đổi và có lông đen đã mọc ở đó, thì vết thương đã lành, và người đó đã được thanh sạch. Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người đó thanh sạch.
- Khi một người nam hay nữ có những đốm sáng hay những đốm màu trắng trên da thịt của mình, 39. tư tế phải khám nghiệm. Nếu những đốm trên da người đó có màu trắng nhạt, đó là tàn nhang đã lộ ra trên da – người đó tinh sạch.
- Nếu một người bị rụng tóc trên đầu, người đó sói đầu, nhưng người đó tinh sạch. 41. Nếu một người bị rụng tóc trên trán, người đó sói trán, nhưng người đó tinh sạch. 42. Nhưng nếu chỗ sói đầu hay sói trán có một vết trắng hồng, thì bệnh phung đã phát ra ở chỗ sói đầu hay sói trán. 43. Tư tế sẽ khám chỗ đó. Nếu vết sưng ở chỗ đầu sói hay trán sói đó màu trắng hồng và trông giống như một vết phung trên da thịt, 44. thì người đó là một người phung, không tinh sạch. Tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch vì đã nhiễm bệnh trên đầu.
- Người nào mắc bệnh phung, thì y phục của người đó phải bị xé rách, để đầu trần, che râu, rồi kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’ 46. Trong suốt thời gian nhiễm bệnh người đó mắc bệnh, và người đó không tinh sạch. Khi không được tinh sạch, người đó phải sống một mình. Người đó phải sống bên ngoài doanh trại.
- Nếu y phục có dấu hiệu nhiễm bệnh phung, thì dù là y phục làm bằng len hay y phục bằng vải gai, 48. được dệt hay đan, được làm bằng da, hay bất cứ vật gì bằng da, 49. nếu thấy có vết hơi xanh hay hơi đỏ xuất hiện trên y phục, hoặc trên da – dù trên hàng dệt, hàng đan, hoặc trên bất cứ vật gì bằng da, thì đã bị nhiễm bệnh và phải đem đến trình cho tư tế. 50. Tư tế sẽ khám vật bị nhiễm đó, rồi để riêng vật bị nhiễm đó trong bảy ngày. 51. Ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vật bị nhiễm đó. Nếu vết bệnh đã lan ra trên y phục, bất kể là y phục được được đan hay dệt, trên da, hoặc trên bất cứ vật gì bằng da, bệnh phung đã lan ra, và vật đó đã trở thành vật không tinh sạch. 52. Tư tế phải thiêu bộ y phục, bất kể nó được đan hay dệt, bằng len hay bằng vải, hay bất cứ vật gì bằng da – bởi vì bệnh phung đã lan ra, nó phải bị thiêu trong lửa.
- Nếu tư tế khám nghiệm và thấy bệnh không lan ra trên y phục, dù được đan hay dệt, hay làm bằng da, 54. tư tế sẽ truyền cho họ đem giặt vật nhiễm bệnh, rồi cách ly nó bảy ngày nữa. 55. Sau đó, tư tế sẽ khám vật nhiễm bệnh đã được giặt. Nếu vết bệnh vẫn không đổi màu, dù nó không lan ra, nó là vật không tinh sạch. Các ngươi phải thiêu nó trong lửa, bất kể vết phung đó ở mặt trong hay mặt ngoài.
- Nhưng nếu tư tế khám nghiệm và thấy vết bệnh đã nhạt màu sau khi giặt, người sẽ cắt bỏ chỗ vết bệnh ra khỏi y phục, bất kể y phục được đan hay dệt, hay làm bằng da. 57. Nhưng nếu nó lại xuất hiện trên y phục, bất kể được đan hay dệt, hay được làm bằng da, các ngươi hãy thiêu vật bị nhiễm bệnh trong lửa. 58. Nhưng nếu bộ y phục được đan hay dệt, hay làm bằng da, sau khi đem giặt, vết bệnh biến mất, hãy đem giặt nó thêm một lần nữa, thì sẽ được sạch.
- Đây là luật về bệnh phung cho y phục làm bằng len hay vải, được đan hay dệt, hay bất cứ vật gì bằng da, để tuyên bố vật đó là tinh sạch hay không tinh sạch.”
14
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Đây là luật lệ dành cho người mắc bệnh phung cho ngày người đó được thanh tẩy. Người đó sẽ được đưa đến gặp tư tế. 3. Tư tế sẽ đi ra bên ngoài doanh trại, rồi tư tế sẽ khám nghiệm người đó. Nếu người bị phung thật sự lành bệnh phung, 4. tư tế truyền đem đến cho người được thanh tẩy hai con chim còn sống thuộc loài thanh sạch, một khúc gỗ bá hương, một sợi chỉ điều, và một nhánh cây bài hương. 5. Tư tế ra lệnh giết một con chim trong chậu bằng đất trên dòng nước. 6. Sau đó tư tế đem con chim còn sống cột vào gỗ bá hương bằng sợi chỉ điều, rồi nhúng nhánh bài hương vào huyết con chim đã bị giết trên dòng nước, 7. và rảy huyết bảy lần trên người khỏi bệnh phung, rồi tuyên bố người đó được tinh sạch. Tư tế sẽ thả con chim còn sống ra ngoài đồng trống. 8. Người được thanh tẩy phải giặt y phục của mình, cạo sạch râu tóc, và tắm trong nước, để được tinh sạch. Sau đó, người có thể trở vào doanh trại, nhưng phải ở bên ngoài lều của mình trong bảy ngày. 9. Bảy ngày sau, người đó phải cạo sạch hết tóc, râu, lông mày và tất cả lông trong người, phải giặt y phục của mình, và tắm trong nước để được tinh sạch.
- Đến ngày thứ tám, người đó phải đem đến hai con chiên đực không khiếm khuyết, và một chiên con cái một tuổi không khiếm khuyết, cùng với ba phần mười ê-pha bột mịn pha dầu để làm tế lễ chay, và một lót dầu. 11. Tư tế thi hành nghi thức thanh tẩy sẽ đem người vừa được tinh sạch, cùng với những lễ vật của người đó đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến. 12. Tư tế sẽ bắt một con chiên đực để làm tế lễ chuộc lỗi, và lấy lót dầu để thực hiện nghi thức tế lễ cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va. 13. Ông giết con chiên đó tại nơi ông thường giết sinh tế chuộc tội để làm tế lễ thiêu trong nơi thánh – bởi vì tế lễ chuộc lỗi cũng như tế lễ chuộc tội sẽ thuộc về tư tế – đó là vật rất thánh. 14. Tư tế sẽ lấy một ít huyết của con vật hiến tế cho tế lễ chuộc lỗi bôi vào trái tai phải, ngón cái tay phải, và ngón cái chân phải của người được thanh tẩy. 15. Tư tế sẽ lấy lót dầu, đổ một ít vào lòng bàn tay trái của mình, 16. tư tế sẽ nhúng ngón tay phải vào dầu trong lòng bàn tay trái, rồi rảy bảy lần bằng ngón tay của mình trước mặt Đức Giê-hô-va. 17. Dầu còn lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ bôi vào trái tai phải, ngón cái tay phải, và ngón cái chân phải của người được thanh tẩy, trên huyết của tế lễ chuộc lỗi. 18. Số dầu còn lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ thoa lên đầu của người được thanh tẩy. Sau đó tư tế sẽ cử hành lễ chuộc tội cho người đó trước mặt Đức Giê-hô-va. 19. Tư tế sẽ dâng sinh tế chuộc tội để chuộc tội cho người được thanh tẩy khỏi sự ô uế của mình. Sau đó, ông sẽ giết sinh tế cho tế lễ thiêu. 20. Tư tế sẽ dâng tế lễ thiêu cùng với tế lễ chay trên bàn thờ. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho người đó, và người đó sẽ được thanh sạch.
- Tuy nhiên, nếu người đó nghèo không đủ khả năng dâng những lễ vật trên, thì phải đem một con chiên đực để dùng làm tế lễ chuộc lỗi như là một tế lễ cung hiến để làm tế lễ chuộc tội cho mình, cùng với một phần mười ê-pha bột mịn trộn với dầu để làm tế lễ chay, và một lót dầu, 22. hai con chim gáy hoặc hai con bồ câu theo khả năng của người đó – một con dâng làm tế lễ chuộc tội và một con dâng làm tế lễ thiêu. 23. Vào ngày thứ tám người đó phải mang những lễ vật đó đến trước cửa Lều Hội Kiến, để tư tế cử hành lễ thanh tẩy trước mặt Đức Giê-hô-va. 24. Tư tế sẽ đem con chiên làm tế lễ chuộc lỗi, cùng với lót dầu, thực hiện tế lễ cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va. 25. Tư tế sẽ giết con chiên dâng làm tế lễ chuộc lỗi. Tư tế sẽ lấy một ít huyết của sinh tế chuộc lỗi bôi vào trái tai phải, ngón cái tay phải, và ngón cái chân phải của người được thanh tẩy. 26. Tư tế sẽ rót một ít dầu vào lòng bàn tay trái của mình, 27. tư tế sẽ nhúng ngón tay phải vào dầu trong lòng bàn tay trái, rồi rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va. 28. Dầu còn lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ bôi vào trái tai phải, ngón cái tay phải, và ngón cái chân phải của người được thanh tẩy, trên huyết của tế lễ chuộc lỗi. 29. Số dầu còn lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ thoa lên đầu của người được thanh tẩy để chuộc tội cho người đó trước mặt Đức Giê-hô-va. 30. Tư tế sẽ dâng một con chim gáy, hay một con bồ câu, theo khả năng của người đó: 31. Một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu, cùng với tế lễ chay. Như vậy, thầy tế lễ dâng lễ chuộc tội cho người được thanh tẩy trước mặt Đức Giê-hô-va. 32. Đó là luật lệ cho người mắc bệnh phung, với khả năng giới hạn để làm lễ thanh tẩy.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 34. “Khi các ngươi vào trong xứ Ca-na-an, là xứ mà Ta sẽ ban cho các ngươi làm sản nghiệp, nếu Ta để cho nhà nào trong xứ của các ngươi làm sản nghiệp mắc phải bệnh phung, 35. người chủ căn nhà phải đến trình với tư tế rằng: Dường như căn nhà của tôi mắc phải một chứng bịnh gì đó. 36. Tư tế sẽ truyền cho họ đem mọi vật ra khỏi căn nhà trước khi tư tế vào căn nhà để khám nghiệm chỗ bệnh. Nếu không tất cả những gì còn để lại trong căn nhà có thể bị xem là ô uế. Sau đó, tư tế sẽ vào để khám nghiệm căn nhà. 37. Ông sẽ khám nghiệm chỗ bệnh. Nếu thấy chỗ bệnh xuất hiện trên tường nhà với những đốm màu hơi xanh hoặc hơi đỏ, lõm sâu hơn mặt vách, 38. tư tế sẽ ra khỏi căn nhà bằng cửa nhà, rồi niêm phong căn nhà bảy ngày. 39. Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ trở lại để xem xét. Nếu bệnh đã lan ra trên các vách tường, 40. tư tế sẽ truyền gỡ những viên đá nơi bị nhiễm bệnh, rồi đem chúng ném vào một nơi ô uế bên ngoài thành. 41. Ông sẽ truyền cho cạo thật kỹ bên trong căn nhà. Lớp hồ bị cạo ra đó phải bị đem đổ vào một nơi ô uế bên ngoài thành. 42. Họ phải lấy đá khác thay vào chỗ những viên đá đã bị cạy bỏ, rồi trét hồ cho căn nhà.
- Nếu sau khi đã gỡ bỏ đá, đã cạo sạch tường, và tô hồ lại, nhưng bệnh tái phát trong căn nhà, 44. tư tế sẽ đến khám căn nhà. Nếu thật sự bệnh đã lan ra trong căn nhà, thì căn nhà đã bị nhiễm bệnh phung – nhà đó không tinh sạch. 45. Người ta phải phá căn nhà đó đi. Tất cả đá, gỗ và hồ của căn nhà phải được đem đổ tại một nơi ô uế ở bên ngoài thành. 46. Trong lúc căn nhà bị niêm phong, ai đi vào đó, sẽ bị ô uế cho đến tối. 47. Ai đã ngủ trong căn nhà, phải giặt sạch y phục của mình. Ai đã ăn trong căn nhà, phải giặt sạch y phục của mình.
- Nhưng nếu khi tư tế đến khám nhà, và thấy bệnh không lan ra trong căn nhà sau khi đã được tô hồ, tư tế phải tuyên bố căn nhà ấy tinh sạch, bởi vì bệnh của nhà đó đã được chữa trị.
- Ðể làm lễ thanh tẩy cho căn nhà, ông sẽ dùng hai con chim, một miếng gỗ bá hương, một sợi chỉ điều, và một nhánh cây bài hương. 50. Ông sẽ giết một con chim trong chậu bằng đất trên dòng nước. 51. Ông sẽ đem miếng gỗ bá hương, nhánh bài hương, sợi chỉ điều, và con chim còn sống, nhúng vào huyết của con chim đã bị giết trên dòng nước, rồi rảy huyết bảy lần trên căn nhà. 52. Ông sẽ tẩy sạch căn nhà với huyết của con chim, với dòng nước chảy, con chim sống, gỗ bá hương, nhánh bài hương, và sợi chỉ điều. 53. Tư tế sẽ thả con chim còn sống ra đồng trống bên ngoài thành, ông đã làm lễ chuộc tội cho căn nhà, và nhà sẽ được tinh sạch.
- Trên đây là những luật lệ áp dụng cho bệnh phung và bệnh ngoài da, 55. các thứ phung trên quần áo và nhà cửa, 56. những chỗ sưng, ung nhọt, và những đốm, 57. để xác định khi nào thì tinh sạch, khi nào thì không tinh sạch. Đó là luật lệ về phung.”
15
- Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2. “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên và truyền cho họ: Khi một người nam có sự bài tiết từ thân thể, bệnh bài tiết là ô uế. 3. Đây là những trường hợp bài tiết là ô uế: Khi thân thể của người đó đang bài tiết ra, hay khi thân thể của người đó vừa ngưng bài tiết ra, thì ô uế. 4. Bất cứ giường nào người đó đã nằm và đã bài tiết ra trên đó, đều bị ô uế; và vật gì người đó đã ngồi lên trên đều bị ô uế. 5. Người nào chạm đến giường của người đó, thì phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối. 6. Người nào đã ngồi trên những vật người đó đã ngồi, phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối. 7. Người nào chạm đến thân thể của người bị bài tiết, phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối. 8. Nếu người bị bệnh bài tiết phun vào một người tinh sạch, thì người đó phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối. 9. Bất cứ những yên nào mà người bệnh đã cỡi lên, đều bị ô uế. 10. Ai đụng đến những vật gì người đó đã ngồi lên, sẽ bị ô uế cho đến tối. Người nào khiêng những vật nầy, phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối. 11. Nếu người bệnh chưa rửa tay nhưng đã chạm phải người nào, người đó phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối. 12. Những vật dụng bằng đất bị người bệnh bài tiết đã đụng đến, thì phải đập bể; tất cả những vật dụng bằng gỗ phải được rửa trong nước.
- Khi người bệnh bài tiết được lành, người đó phải tính thêm bảy ngày kể từ ngày ngưng bài tiết. Người đó phải giặt y phục của mình, phải tắm thân thể mình trong dòng nước chảy, rồi mới được sạch. 14. Đến ngày thứ tám, người đó sẽ đem hai con chim gáy hoặc hai con bồ câu, đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến, và trao cho tư tế. 15. Tư tế sẽ dâng một con làm tế lễ chuộc tội, và một con làm tế lễ thiêu. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho người đó trước mặt Đức Giê-hô-va vì bệnh bài tiết.
- Khi một người đàn ông xuất tinh, người đó phải tắm toàn thân trong nước, và sẽ bị ô uế cho đến tối. 17. Bất cứ y phục hay vật bằng da nào dính tinh dịch, phải được giặt trong nước, và bị ô uế cho đến tối. 18. Nếu một người nam nằm với một người nữ, và tinh dịch đã xuất ra, thì họ phải tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối.
- Khi một phụ nữ có kinh nguyệt, sau khi huyết ngưng xuất ra từ thân thể của nàng, nàng sẽ được biệt riêng ra trong bảy ngày. Ai chạm đến nàng sẽ bị ô uế cho đến tối. 20. Bất cứ vật gì nàng nằm lên trong thời gian có kinh nguyệt đều bị ô uế. Bất cứ vật gì nàng ngồi lên đều bị ô uế. 5. Người nào chạm đến giường của nàng, người đó phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối. 22. Người nào chạm đến vật gì nàng đã ngồi lên, người đó phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến tối. 23. Bất kể vật đó là giường hay vật gì mà nàng đã ngồi lên, người nào đụng vào vật đó, người đó sẽ bị ô uế cho đến tối. 24. Nếu người nam nào nằm với nàng, sự ô uế của nàng sẽ vướng trên người nam đó. Người nam đó sẽ bị ô uế trong bảy ngày. Giường nào người nam đó nằm sẽ trở thành ô uế.
- Nếu một phụ nữ nào bị ra huyết nhiều ngày, không phải trong thời kỳ kinh nguyệt, hoặc bị rong huyết kéo dài quá thời kỳ kinh nguyệt, thì nàng sẽ bị ô uế trong suốt thời gian đó cũng như đã bị ô uế trong thời gian có kinh. 26. Bất cứ giường nào nàng nằm trong suốt thời gian bị rong huyết sẽ bị ô uế như giường trong thời kỳ kinh nguyệt; và vật gì nàng ngồi lên sẽ bị ô uế như trong thời kỳ có kinh. 27. Người nào chạm đến những vật đó sẽ bị ô uế, người đó phải giặt y phục của mình, tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối.
- Khi huyết cầm lại, nàng phải tính thêm bảy ngày nữa, rồi sau đó nàng sẽ được sạch. 29. Đến ngày thứ tám, nàng sẽ đem cho mình hai con chim gáy hoặc hai con bồ câu để trao cho tư tế trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến. 30. Tư tế sẽ dâng một con làm tế lễ chuộc tội và một con làm tế lễ thiêu. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội cho nàng trước mặt Đức Giê-hô-va – liên hệ đến sự ô uế vì lưu huyết.
- Các ngươi phải dạy con dân Y-sơ-ra-ên biết giữ mình cách ly trong lúc bị ô uế, để chúng khỏi phải chết trong sự ô uế của mình, khi chúng làm ô uế Ðền Tạm của Ta đang ở giữa chúng.
- Đây là luật về sự ô uế cho người nam bị bệnh bài tiết hay xuất tinh vào lúc ăn nằm, 33. cho phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, cho người bị bệnh bài tiết – bất kể là nam hay nữ – và cho người nam giao hợp với người nữ trong thời kỳ nàng bị ô uế vì kinh nguyệt.”
16
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se sau cái chết của hai con trai A-rôn lúc họ dâng lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va.
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Hãy nói với A-rôn, anh của ngươi: Không phải bất cứ lúc nào cũng có thể vào Nơi Chí Thánh ở bên trong bức màn, tại trước mặt của Ngôi Thi Ân ở trên Rương Giao Ước. Đừng để người phải chết, bởi vì Ta hiện diện trong đám mây ở trên Ngôi Thi Ân.
- Đây là cách A-rôn vào trong Nơi Chí Thánh: Hãy dâng một con bò đực làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đực làm tế lễ thiêu. 4. A-rôn hãy mặc áo dài thánh bằng vải trắng, quần ngắn sát thân thể bằng vải trắng, thắt đai lưng bằng vải trắng và đội một cái mũ cũng bằng vải trắng. Đó là bộ lễ phục thánh mà A-rôn sẽ mặc sau khi đã tắm mình trong nước. 5. Người sẽ nhận từ hội chúng Y-sơ-ra-ên hai con dê đực để dùng làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đực để dùng làm tế lễ thiêu. 6. A-rôn sẽ dâng con bò để làm tế lễ chuộc tội cho chính mình, rồi cử hành lễ chuộc tội cho mình và cho gia đình của mình. 7. Người sẽ đem hai con dê đực để trình chúng trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến. 8. A-rôn sẽ bắt thăm để chọn giữa hai con dê: Một con sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va, và một con sẽ được phóng thích. 9. A-rôn sẽ đem con dê, trúng thăm thuộc về Đức Giê-hô-va, để làm sinh tế chuộc tội. 10. Nhưng con dê, trúng thăm làm con dê được phóng thích, sẽ được dâng sống trước mặt Đức Giê-hô-va – để tội lỗi đổ trên nó, và rồi con dê sẽ được thả vào trong hoang mạc.
- A-rôn sẽ đem con bò đực, dùng làm sinh tế chuộc tội cho chính mình, giết nó để làm lễ chuộc tội cho chính mình và cho gia đình của mình – bởi vì con bò đực là sinh tế chuộc tội của người. 12. Người sẽ lấy lư hương, bên trong có sẵn những than lửa đỏ lấy từ bàn thờ trước mặt Đức Giê-hô-va, và lấy hai nắm bột hương, rồi mang vào bên trong bức màn. 13. Người sẽ bỏ hương vào lửa trước mặt Đức Giê-hô-va. Khói hương sẽ phủ kín Ngôi Thi Ân trên Rương Giao Ước. Đừng để người phải chết. 14. Người phải lấy một ít huyết của con bò đực, dùng ngón tay rảy bảy lần trên mặt của Ngôi Thi Ân về phía đông, và rồi người dùng ngón tay rảy huyết bảy lần trước Ngôi Thi Ân.
- Người sẽ giết con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội cho dân chúng, rồi đem huyết của nó vào bên trong bức màn, rồi dùng huyết đó làm giống như người đã làm với huyết của con bò đực: Rảy huyết trên Ngôi Thi Ân và rảy huyết trước Ngôi Thi Ân. 16. Như vậy, người đã làm lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh do sự bất khiết của dân Y-sơ-ra-ên, và vì sự vi phạm và tội lỗi của họ. Người cũng làm như vậy với phần còn lại của Lều Hội Kiến đang ở với họ, trong sự bất khiết của họ. 17. Không ai được hiện diện trong Lều Hội Kiến lúc người vào Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội cho đến khi người trở ra – để người có thể làm lễ chuộc tội cho chính mình, cho gia đình của mình, và cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên.
- Người sẽ đi ra, đến bàn thờ trước mặt Đức Giê-hô-va, để làm lễ chuộc tội cho bàn thờ. Người lấy một ít huyết của con bò đực và huyết của con dê bôi lên những cái sừng chung quanh bàn thờ. 19. Người sẽ dùng ngón tay rảy một ít huyết bảy lần trên bàn thờ, để thanh tẩy nó, và thánh hóa nó khỏi sự ô uế của dân Y-sơ-ra-ên.
- Sau khi làm xong lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh, cho Lều Hội Kiến, và cho bàn thờ, người sẽ đem con dê đực còn sống đến. 21. A-rôn sẽ đặt cả hai tay của mình trên đầu con dê còn sống; xưng nhận trên nó mọi tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên, tất cả những vi phạm về tất cả tội lỗi của họ, rồi đặt chúng lên đầu của con dê, rồi giao nó cho một người được chỉ định để thả vào hoang mạc. 22. Con dê sẽ mang trên mình tất cả tội lỗi của họ đến một nơi cách biệt, rồi được thả vào trong hoang mạc.
- A-rôn sẽ vào Lều Hội Kiến, cởi bộ lễ phục bằng vải trắng đã mặc khi vào Nơi Chí Thánh, và để chúng tại đó. 24. Người sẽ tắm rửa thân thể của mình bằng nước trong nơi thánh, mặc những trang phục của mình, trở ra để dâng tế lễ thiêu cho mình và tế lễ thiêu cho dân chúng. 25. Người sẽ thiêu mỡ của sinh tế chuộc tội trên bàn thờ. 26. Người đã thả con dê gánh tội phải giặt y phục của mình, tắm thân thể của mình trong nước, rồi mới được trở vào doanh trại. 27. Con bò đực và con dê đực đã dâng làm tế lễ chuộc tội, mà huyết của chúng đã được đem vào Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội, thì chúng phải được đem ra khỏi doanh trại. Bộ da, thịt, và phân của chúng sẽ được thiêu trong lửa. 28. Người đđem thiêu chúng phải giặt y phục của mình, tắm thân thể của mình trong nước, rồi mới được trở vào doanh trại.
- Ðây sẽ là luật lệ vĩnh viễn cho các ngươi: Vào tháng thứ Bảy, ngày thứ mười, bất kể là người bản quốc hay là kiều dân đang cư ngụ ở giữa các ngươi, các ngươi phải kiêng cữ giữ mình, không được làm công việc gì cả. 30. Bởi vì trong ngày đó, lễ chuộc tội sẽ được cử hành để thanh tẩy tất cả những tội lỗi của các ngươi trước mặt Đức Giê-hô-va để các ngươi được thanh sạch. 31. Ðó là một ngày Sa-bát – để các ngươi được hoàn toàn nghỉ ngơi và kiêng cữ giữ mình. Ðây là một luật lệ vĩnh viễn. 32. Tư tế đã được xức dầu và phong chức tư tế thay thế cho cha của mình sẽ mặc lễ phục bằng vải trắng, tức là lễ phục thánh, 33. và sẽ cử hành lễ chuộc tội. Người sẽ làm lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh, cho Lều Hội Kiến, và cho bàn thờ. Người sẽ làm lễ chuộc tội cho các tư tế và cho toàn thể hội chúng. 34. Đây là một quy luật vĩnh viễn cho các ngươi: Lễ chuộc tội phải được thực hiện mỗi năm một lần vì tội của dân Y-sơ-ra-ên. Nó được thực hiện theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.”
17
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy nói với A-rôn và các con trai của người, và cùng toàn dân Y-sơ-ra-ên rằng: Đây là lời Đức Giê-hô-va phán cho họ: 3. Bất cứ một người nào trong nhà Y-sơ-ra-ên giết một con bò, một con chiên con, hoặc một con dê trong doanh trại hay ngoài doanh trại, 4. nhưng không đem đến cửa Lều Hội Kiến để dâng lên cho Đức Giê-hô-va trước Đền Tạm của Ngài, người đó sẽ bị kể là mắc tội làm đổ huyết. Người làm đổ huyết sẽ bị truất khỏi dân chúng. 5. Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên hãy đem dâng những sinh tế mà họ nuôi ngoài đồng đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa trại hội kiến, để tư tế dâng chúng làm tế lễ bình an cho Đức Giê-hô-va. 6. Tư tế sẽ rảy huyết trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến, rồi thiêu mỡ thành mùi thơm dâng lên cho Đức Giê-hô-va. 7. Họ không được dâng tế lễ cho ma quỷ là những thần mà họ thông dâm. Đây là một quy định đời đời cho họ trải qua các thế hệ.
- Ngươi hãy nói với họ: Bất cứ ai trong nhà Y-sơ-ra-ên, hay bất cứ kiều dân nào đang cư ngụ ở giữa họ, dâng một của lễ thiêu hay một con vật hiến tế nào, 9 mà không mang đến cửa Lều Hội Kiến để dâng lên cho Đức Giê-hô-va, người đó sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.
- Người nào thuộc về nhà của Y-sơ-ra-ên, hay một kiều dân ở giữa họ, mà ăn huyết thì Ta sẽ để mặt Ta chống lại kẻ đó, và truất người đó khỏi dân tộc của mình. 11. Bởi vì sinh mạng của xác thịt ở trong huyết, cho nên Ta đã ban cho các ngươi huyết trên bàn thờ để làm lễ chuộc tội cho linh hồn của các ngươi. Bởi vì chỉ có huyết mới chuộc tội được cho linh hồn. 12. Vì vậy, Ta đã phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Không một ai trong các ngươi được ăn huyết, và không một kiều dân nào cư ngụ giữa các ngươi được ăn huyết. 13. Do đó, nếu có một người trong dân Y-sơ-ra-ên, hoặc bất cứ kiều dân nào cư ngụ giữa các ngươi, đi săn một con thú hay một con chim để ăn, người đó hãy để huyết chảy ra rồi lấy đất lấp lại.
- Bởi vì sinh mạng của mọi xác thịt ở trong huyết của nó và huyết gìn giữ sinh mạng, cho nên Ta đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: Các ngươi không được ăn huyết của bất cứ loài sinh vật nào, bởi vì sinh mạng của mọi sinh vật chính là huyết của nó. Ai ăn huyết sẽ bị khai trừ. 15. Ai ăn thịt của một con vật đã bị chết cách tự nhiên hoặc bị thú dữ xé – bất luận là người bản quốc hay là kiều dân – người đó phải giặt y phục của mình, phải tắm trong nước, và bị ô uế cho đến tối, và sau đó mới được tinh sạch. 16. Nếu người đó không giặt, hay không tắm rửa, người đó sẽ mang lấy tội của chính mình.”
18
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 2. “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi phán với họ rằng: 3. Các ngươi đừng làm những gì mà người ta đã làm trong xứ Ai Cập, là nơi các ngươi đã từng sinh sống; cũng đừng làm những gì mà người ta đang làm trong xứ Ca-na-an, là nơi mà Ta sẽ dẫn các ngươi vào. Đừng đi theo những thói tục của họ. 4. Các ngươi phải làm theo những mạng lịnh của Ta, vâng giữ những quy định của Ta, và đi theo những điều đó. Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của các ngươi. 5. Các ngươi phải vâng giữ những quy định của Ta và những mạng lịnh của Ta. Ai làm theo những điều nầy, người đó sẽ nhờ chúng mà được sống. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Không ai trong các ngươi được đến gần thân thể của một bà con gần gũi với mình để phơi bày sự lõa lồ của người đó. Ta là Đức Giê-hô-va. 7. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của cha ngươi, sự lõa lồ của mẹ ngươi. Bà là mẹ của ngươi – Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của bà. 8. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của vợ của cha ngươi. Đó là sự lõa lồ của cha ngươi. 9. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của chị em ngươi, dù là con của cha ngươi, dù là con của mẹ ngươi, được sinh trong gia đình, hay sinh tại nơi khác – Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của họ. 10. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của con gái của con trai ngươi, sự lõa lồ của con gái của con gái ngươi, bởi vì sự lõa lồ của họ là sự lõa lồ của chính ngươi. 11. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của con gái của vợ của cha ngươi. Nàng do cha ngươi sinh ra, là chị em của ngươi. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của nàng. 12. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của em gái của cha ngươi. Nàng là thân nhân của cha ngươi. 13. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của em gái của mẹ ngươi. Nàng là thân nhân của mẹ ngươi. 14. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của em trai của cha ngươi. Ngươi không được đến gần vợ của người, vì đó là thím của ngươi. 15. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của con dâu ngươi. Nàng là vợ của con trai ngươi. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của nàng. 16. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của vợ của anh em ngươi. Đó là sự lõa lồ của anh em ngươi. 17. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của một phụ nữ và của con gái bà, hay con gái của con trai bà, hay con gái của con gái bà, để phơi bày sự lõa lồ của bà. Họ là thân nhân của bà. Đó là một tội lỗi xấu xa. 18. Ngươi không được cưới một phụ nữ và chị em của nàng, khi nàng vẫn còn sống, vì sẽ gây xung đột, và phơi bày sự lõa lồ của nàng.
- Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của một phụ nữ đang lúc nàng ở trong thời kỳ có kinh nguyệt. 20. Đừng giao hợp với vợ của người hàng xóm, để ngươi khỏi bị ô nhơ với nàng.
- Ngươi không được đem con cháu của mình dâng cho Mo-lóc, cũng không được xúc phạm đến danh Đức Chúa Trời của ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Ngươi không được ăn nằm với một người nam như ăn nằm với một người nữ, bởi vì đó là một sự ghê tởm.
- Ngươi không được giao hợp với thú vật, làm cho mình bị ô uế với nó. Phụ nữ cũng không được giao hợp với thú vật, đó là một việc trụy lạc.
- Đừng để cho các ngươi bị ô uế vì một điều nào trong những điều nầy, bởi vì các dân tộc mà Ta đang đuổi đi trước mặt các ngươi đã bị ô uế vì những điều nầy. 25. Bởi vì đất đã bị ô uế, cho nên Ta đã trừng phạt nó vì tội của nó, và đất đã mửa dân cư của nó ra. 26. Vì vậy các ngươi hãy vâng giữ luật lệ của Ta và mạng lịnh của Ta. Bất kể người bản quốc hay kiều dân cư ngụ ở giữa các ngươi, đừng vi phạm điều nào trong những việc ghê tởm nầy. 27. Bởi vì tất cả những người sống trong xứ trước các ngươi đã làm tất cả những việc ghê tởm nầy, vì vậy đất đã bị ô uế. 28. Đừng để đất sẽ mửa các ngươi ra, vì các ngươi làm cho nó trở nên ô uế, giống như nó đã mửa các dân đã sống ở đó trước các ngươi. 29. Người nào vi phạm một trong những điều đáng ghê tởm đó, người ta sẽ trục xuất kẻ vi phạm khỏi dân chúng. 30. Vì vậy, hãy giữ kỹ mạnh lệnh của Ta, đừng vi phạm điều nào trong những việc ghê tởm nầy như các dân trước các ngươi đã vi phạm. Đừng để các ngươi bị ô uế vì những điều đó. Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của các ngươi.”
19
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, và hãy nói với họ rằng: Các ngươi phải thánh, vì Ta – Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi – là thánh.
- Mỗi người trong các ngươi phải tôn kính mẹ của mình và cha của mình. Các ngươi phải giữ ngày Sa-bát của Ta. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.
- Đừng hướng về hình tượng, cũng không được đúc cho mình tượng của tà thần. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.
- Khi các ngươi dâng tế lễ bình an cho Đức Giê-hô-va, hãy dâng cách nào để được chấp nhận. 6. Hãy ăn lễ vật trong ngày đã dâng hay trong ngày hôm sau. Những gì còn thừa qua ngày thứ ba thì phải thiêu trong lửa. 7. Nếu đến ngày thứ ba mà còn ăn, thì đó là một việc gớm ghiếc. Lễ vật sẽ không được chấp nhận. 8. Người nào ăn sẽ mang tội của mình bởi vì đã xúc phạm đến vật thánh của Đức Giê-hô-va. Người đó phải bị trục xuất khỏi dân chúng.
- Khi các ngươi gặt lúa trong đất của mình, thì đừng gặt cho đến những góc cuối của bờ ruộng, cũng đừng gặt những nhánh lúa còn sót. 10. Đừng hái sạch vườn nho hay lượm những trái rơi trong vườn, hãy chừa lại cho những người nghèo và các kiều dân. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.
- Các ngươi không được trộm cắp, không được lừa gạt, không được nói dối lẫn nhau. 12. Đừng lấy danh của Ta mà thề dối, rồi làm xúc phạm đến danh Đức Chúa Trời của các ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Không được bóc lột hay cướp giật người lân cận của mình. Đừng giữ lại cho mình tiền công của người làm thuê cho đến sáng hôm sau.
- Đừng rủa sả người điếc, cũng đừng đặt vật gây vấp cho người mù, nhưng hãy kính sợ Đức Chúa Trời. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Các ngươi không được kết án bất công. Đừng thiên vị người nghèo hay kiêng nể người quyền thế, nhưng phải xét xử công minh để thực hiện công lý cho mọi người liên hệ. 16. Đừng đi phao vu trong dân chúng, cũng đừng đứng lên chống lại mạng sống của người lân cận mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Đừng ghét anh em của mình trong lòng. Hãy quở trách người lân cận để khỏi mắc tội chung với họ. 18. Đừng trả thù. Đừng giữ sự thù hận đối với đồng bào của mình, nhưng hãy yêu thương người lân cận như chính mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Các ngươi phải giữ luật lệ của Ta. Đừng để súc vật khác loài giao phối với nhau. Đừng gieo hai loại hạt giống trên một đám ruộng của các ngươi. Đừng may y phục được trộn bằng hai loại chỉ, và cũng đừng mặc chúng.
- Nếu một người đàn ông ăn nằm với một phụ nữ, mà nàng là một nô lệ đã hứa gả cho một người đàn ông khác nhưng chưa được chuộc ra hoặc chưa được trả tự do, thì họ sẽ bị phạt nhưng không bị tử hình, bởi vì người nữ nô lệ đó chưa được trả tự do. 21. Người đàn ông phải đem một con chiên đực đến trước cửa Lều Hội Kiến để dâng làm tế lễ chuộc lỗi cùng Đức Giê-hô-va. 22. Tư tế sẽ làm lễ chuộc tội, dâng con chiên đực để làm tế lễ chuộc tội cho những tội lỗi mà người đó đã phạm trước mặt Đức Giê-hô-va; và những tội lỗi mà người đó đã phạm sẽ được tha.
- Khi các ngươi vào trong xứ, rồi trồng đủ thứ cây ăn trái, nhưng hãy xem những trái đó chưa được cắt bì. Trong ba năm, trái của chúng chưa được cắt bì, các ngươi đừng ăn. 24. Qua năm thứ tư, tất cả trái cây đó đều biệt riêng ra thánh, và dùng để tôn vinh Đức Giê-hô-va. 25. Đến năm thứ năm, các ngươi được phép ăn những trái cây đó. Mùa màng của các ngươi sẽ gia tăng. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.
- Các ngươi không được ăn vật gì có huyết. Các ngươi đừng bói toán hay dùng ma thuật. 27. Đừng cắt tóc hai bên đầu, cũng đừng hủy diệt râu mép. 28. Đừng cắt thân thể của mình vì người chết, cũng đừng xâm dấu hiệu nào trên ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Đừng làm nhục con gái của ngươi mà bắt nó làm gái mại dâm. Đừng để cả xứ rơi vào sự dâm loạn và cả xứ đầy dẫy sự đồi bại. 30. Các ngươi phải giữ những ngày sa-bát của Ta và tôn kính Đền Thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Đừng cầu hỏi đồng bóng hay phù thủy để khỏi bị họ làm ô uế. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.
- Hãy đứng dậy trước những người tóc bạc, tôn trọng những người cao niên, và hãy kính sợ Đức Chúa Trời của các ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Khi có kiều dân cư ngụ trong xứ của các ngươi, các ngươi đừng ức hiếp họ. 34. Hãy đối xử với một kiều dân đang ở giữa các ngươi như một người đã được sinh ra trong xứ. Ngươi hãy yêu thương người đó như chính bản thân mình, bởi vì các ngươi vốn là những kiều dân trong xứ Ai Cập. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi.
- Các ngươi không được làm điều sai trái trong việc xét xử, đo đạt, cân đong, và đo lường. 36. Các ngươi phải có cây cân đúng, trái cân đúng, ê-pha đúng, và hin đúng. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi, là Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai Cập. 37. Các ngươi phải tuân giữ mọi luật lệ của Ta, cùng mọi mạng lịnh của Ta, và làm theo những điều đó. Ta là Đức Giê-hô-va.”
20
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên: Bất cứ người nào trong dân Y-sơ-ra-ên hay kiều dân nào cư ngụ trong Y-sơ-ra-ên đã đem con cháu mình dâng cho Mô-lóc, thì người đó phải bị xử tử. Dân trong xứ sẽ ném đá người đó. 3. Ta sẽ để mặt Ta chống lại người đó, sẽ khai trừ người đó ra khỏi dân chúng, bởi vì người đó đã dâng con cháu của mình cho Mô-lóc, làm ô uế nơi thánh của Ta và làm ô danh thánh của Ta. 4. Nếu dân trong xứ xoay mắt làm ngơ đối với người đã dâng con cháu của mình cho Mô-lóc, không xử tử người đó, 5. thì Ta sẽ để mặt Ta chống lại người đó, chống lại cả gia tộc của người đó, và sẽ khai trừ người đó khỏi dân chúng, tức là khai trừ những kẻ đã làm điếm với Mô-lóc và những người thuộc về nó.
- Nếu người nào hướng về đồng bóng hay cầu hồn, thông dâm với chúng, thì Ta sẽ để mặt Ta chống lại người đó và sẽ khai trừ người đó ra khỏi dân chúng. 7. Các ngươi hãy biệt riêng ra thánh và nên thánh, bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 8. Các ngươi hãy vâng giữ luật lệ của Ta và làm theo mạng lịnh của Ta. Ta là Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các ngươi.
- Ai nguyền rủa cha của mình hay mẹ của mình sẽ bị xử tử. Ai nguyền rủa cha của mình hay mẹ của mình thì huyết của người đó sẽ đổ lại trên đầu của người đó.
- Nếu một người phạm tội ngoại tình với vợ của người khác, hay có ai phạm tội ngoại tình với vợ của người lân cận mình, thì họ phải bị xử tử – cả gian phu và dâm phụ. 11. Nếu một người đàn ông ăn nằm với vợ của cha mình, phơi bày sự lõa lồ của cha mình, thì cả hai sẽ bị xử tử. Huyết của chúng sẽ đổ lại trên chúng. 12. Nếu một người đàn ông ăn nằm với con dâu của mình, thì cả hai phải bị xử tử. Chúng đã làm một việc đồi trụy, và huyết của chúng sẽ đổ lại trên chúng. 13. Nếu một người nam ăn nằm với một người nam khác như ăn nằm với một người nữ, cả hai đã làm một việc kinh tởm, chúng phải bị xử tử. Huyết của chúng sẽ đổ lại trên chúng. 14. Nếu một người đàn ông đã lấy một phụ nữ và luôn cả mẹ của nàng, thì đó là một việc quái ác. Người đó và những người kia phải bị thiêu sống, để không còn những việc quái ác như vậy ở giữa các ngươi. 15. Nếu một người đàn ông giao hợp với một con thú, người đó phải bị xử tử, và con thú phải bị giết chết. 16. Nếu người đàn bà đến gần để ăn nằm với một con thú, thì phải giết cả người lẫn thú. Chúng phải bị xử tử. Huyết của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
- Nếu một người đàn ông lấy chị em của mình, là con gái của cha mình, hay là con gái của mẹ mình, để thấy sự lõa lồ của nàng, và nàng thấy sự lõa lồ của hắn, thì đó là một việc gian ác. Họ phải bị khai trừ khỏi mắt của dân chúng. Người đó đã phơi bày sự lõa lồ của chị em mình, và người đó sẽ mang tội của chính mình. 18. Nếu một người đàn ông ăn nằm với một người phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt và phơi bày sự lõa lồ của nàng; người đàn ông đã để lộ ra huyết của nàng, và người đàn bà cũng để lộ ra huyết của mình, cả hai sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng. 19. Ngươi không được phơi bày sự lõa lồ của chị em của mẹ ngươi, hay chị em của cha ngươi – làm sỉ nhục thân tộc của ngươi. Họ sẽ mang tội của mình. 20. Nếu một người đàn ông ăn nằm với vợ của chú hoặc bác của mình, người đó đã phơi bày sự lõa lồ của chú hoặc bác của mình. Họ sẽ mang tội của mình, và họ sẽ không có con. 21. Nếu một người đàn ông lấy vợ của anh hay em mình, đó là điều nhơ nhuốc. Người đó đã phơi bày sự lõa lồ của anh hoặc em mình. Họ sẽ không có con.
- Các ngươi hãy vâng giữ mọi luật lệ của Ta và làm theo mọi mạng lịnh của Ta, để xứ mà Ta đem các ngươi vào cư ngụ sẽ không mửa các ngươi ra. 23. Các ngươi không được làm theo những thói tục của các dân tộc mà Ta đang xua đuổi trước các ngươi. Bởi vì chúng đã làm tất cả những điều nầy, nên Ta đã kinh tởm chúng.
- Nhưng Ta nói với các ngươi: Các ngươi sẽ thừa hưởng xứ của chúng. Ta sẽ ban nó cho các ngươi để các ngươi sở hữu. Ðó là một xứ đượm sữa và mật. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi. Ta đã tách biệt các ngươi ra khỏi các dân tộc. 25. Vì vậy, các ngươi phải phân biệt giữa những loài thú tinh sạch và không tinh sạch, loài chim tinh sạch và không tinh sạch. Đừng để làm cho mình bị ô uế vì bất cứ loài thú, loài chim, loài bò sát nào mà Ta đã chỉ ra là không tinh sạch. 26. Các ngươi phải thánh cho Ta, bởi vì Ta, Đức Giê-hô-va là thánh, và Ta đã phân cách các ngươi khỏi các dân tộc để các ngươi thuộc về Ta.
- Ai làm nghề đồng bóng hay thầy pháp, dù là nam hay nữ, phải bị xử tử. Chúng sẽ bị ném đá, và huyết của chúng sẽ đổ lại trên chúng.”
21
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Hãy nói với những tư tế, là các con trai của A-rôn. Hãy nó với họ rằng: Không một ai trong các ngươi được để cho mình bị ô uế vì một người chết trong thân tộc của mình. 2. Ngoại trừ đó là những thân nhân gần gũi như cha mẹ, con trai, con gái, anh em trai, 3. chị em gần gũi với người đó, nhưng chưa có chồng, thì tư tế có thể vì người này mà bị ô uế. 4. Tư tế không thể vì trách nhiệm trưởng tộc mà làm cho mình bị ô uế. 5. Họ không được cạo đầu, tỉa vành râu, hoặc cắt thịt của mình. 6. Họ phải được biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời và không được xúc phạm đến danh Đức Chúa Trời. Bởi vì họ là những người dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, họ dâng bánh cho Đức Chúa Trời, vì vậy họ phải thánh. 7. Họ không được cưới một gái điếm hoặc một người nữ đã thất thân, hay một phụ nữ đã ly dị chồng, bởi vì tư tế là người thánh để phục vụ Ðức Chúa Trời của mình. 8. Các ngươi hãy xem các tư tế là thánh, bởi vì họ dâng bánh cho Đức Chúa Trời của các ngươi. Hãy kể họ là thánh, vì Ta, Đức Giê-hô-va là thánh, và là Đấng thánh hóa các ngươi. 9. Nếu con gái của tư tế làm nhục chính mình bằng cách làm gái điếm, nàng đã làm nhục cha của nàng; nàng phải bị thiêu sống.
- Thượng tế, tức là người có chức vụ cao trọng nhất trong vòng các anh em của mình, là người đã được rót dầu trên đầu và được biệt riêng ra thánh để mặc bộ lễ phục, người đó không được để đầu trần hay xé rách y phục của mình. 11. Người đó không được đến gần xác chết, dù đó là của cha hay mẹ của mình, và cũng không được để bị ô uế. 12. Người đó không được ra khỏi nơi thánh, cũng không được xúc phạm đến nơi thánh của Đức Chúa Trời, bởi vì dầu thánh của Đức Chúa Trời đã được xức trên người. Ta là Đức Giê-hô-va. 13. Người phải kết hôn với một trinh nữ; 14. không được cưới góa phụ, phụ nữ ly dị, phụ nữ lăng loàn, hay gái mại dâm, nhưng phải cưới vợ là một trinh nữ trong dân tộc của mình, 15. để hậu tự của người không bị ô nhục giữa dân tộc của mình, bởi vì Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng thánh hóa người.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 17. “Hãy nói với A-rôn rằng: Trong các con cháu của ngươi thuộc mọi thế hệ, không một ai có khuyết tật được phép đến gần để dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời. 18. Không ai, có một trong những khuyết tật nầy, được phép đến gần: Người mù, què, bị biến dạng, hay bị dị dạng, 19. người bị thương tật gãy chân hay gãy tay, 20. bị gù lưng, lùn, mắt có tật, ghẻ chốc, bị lát, hay tinh hoàn bị giập. 21. Không một ai trong dòng dõi Tư Tế A-rôn bị khuyết tật được đến gần để dâng tế lễ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Vì bị khuyết tật, người đó không được đến gần để dâng bánh lên cho Ðức Chúa Trời của mình. 22. Người có thể ăn bánh đã dâng cho Đức Chúa Trời – vật chí thánh và vật thánh – 23. nhưng vì có khuyết tật, cho nên người không được phép đến gần bức màn hay bàn thờ mà xúc phạm đến nơi thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa họ.”
- Môi-se đã truyền đạt cho A-rôn, các con trai của ông, cùng toàn thể dân Y-sơ-ra-ên.
22
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 2. “Hãy truyền cho A-rôn và các con trai người phải thận trọng với những lễ vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên đem cung hiến cho Ta, để không xúc phạm đến danh thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Hãy bảo họ: Qua mọi thế hệ, bất cứ người nào trong dòng dõi A-rôn đang ở trong tình trạng ô uế mà đến gần các lễ vật thánh do dân Y-sơ-ra-ên cung hiến lên Đức Giê-hô-va, thì người đó sẽ bị khai trừ khỏi sự hiện diện của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Không một người nào trong dòng dõi của A-rôn mắc bệnh phung hay bệnh bài tiết được phép ăn những lễ vật thánh, cho đến khi người đó được thanh sạch. Người nào chạm vào bất cứ vật gì bị ô uế bởi xác chết, hay một người bị xuất tinh, 5. hay người đó chạm đến một loại bò sát khiến người bị ô uế, hay người bị ô uế vì bất cứ lý do gì. 6. Người bị ô uế vì những việc như vậy sẽ bị ô uế cho đến tối và không được phép ăn vật thánh cho đến khi người đó tắm thân thể mình trong nước. 7. Khi mặt trời lặn, người đó được thanh sạch, và sau đó được ăn các lễ vật thánh, vì đó là thức ăn của người. 8. Người đó không được ăn thịt thú vật chết hay bị thú dữ xé để khỏi bị ô uế. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Vì vậy, họ phải giữ mạng lịnh của Ta, đừng để họ mắc tội và phải chết bởi vì đã xúc phạm Ta. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa họ.
- Không một người bên ngoài nào được phép ăn vật thánh – dù là người đang tạm trú trong nhà tư tế hay là những người làm thuê cho tư tế cũng không được phép ăn vật thánh. 11. Tuy nhiên người nào được tư tế dùng tiền mua về, người đó có thể ăn. Ai sinh ra trong nhà tư tế, người đó có thể ăn thực phẩm của mình. 12. Nếu con gái của tư tế lấy chồng là một người dân thường, nàng không được phép ăn vật thánh. 13. Nhưng nếu con gái của tư tế đã góa chồng, hay đã ly dị, mà không con, rồi trở về lại nhà cha của nàng như thời còn thanh xuân, nàng được phép ăn thức ăn của cha nàng. Không một người bên ngoài nào được phép ăn vật thánh. 14. Nếu người nào vô tình ăn vật thánh, người đó phải đền vật thánh cho tư tế, và phải bù thêm một phần năm. 15. Họ không được xúc phạm đến vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên đã dâng cho Đức Giê-hô-va, 16. để mang tội vì đã cho phép mình ăn những vật thánh. Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa họ.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 18. “Hãy truyền cho A-rôn, các con trai của người, và toàn dân Y-sơ-ra-ên. Hãy nói với họ rằng: Nếu một người trong nhà Y-sơ-ra-ên hoặc một kiều dân sống ở giữa họ, hứa dâng hay vì lạc ý, dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, 19. tùy theo ý nguyện, các ngươi hãy dâng một con đực – là bò, chiên, hay dê. 20. Con vật nào bị khiếm khuyết thì các ngươi đừng dâng, bởi vì nó sẽ không được chấp nhận. 21. Người nào dâng một sinh tế trong tế lễ bình an lên cho Đức Giê-hô-va để hoàn tất một lời hứa nguyện hay vì lạc ý, thì hãy đem một con bò hay chiên hoàn hảo, không bị khiếm khuyết thì mới được chấp nhận. 22. Các ngươi đừng dâng cho Đức Giê-hô-va con vật bị mù, què, thương tật, lở loét, ghẻ chốc, hay bị bầm dập; cũng đừng đem chúng đặt trên bàn thờ để làm tế lễ thiêu dâng cho Đức Giê-hô-va. 23. Con bò hay con chiên có chân dài quá hoặc ngắn quá có thể được dâng làm tế lễ lạc ý, nhưng không được chấp nhận để dâng làm tế lễ khấn nguyện. 24. Những con vật nào có dịch hoàn bị giập, nát, rách, hay đã bị thiến, các ngươi không được dâng lên cho Đức Giê-hô-va. 25. Các ngươi đừng nhận một con nào như vậy từ một người ngoại quốc để dâng lên làm lương thực cho Ðức Chúa Trời của các ngươi, bởi vì chúng đã bị thương tật, bị khiếm khuyết; chúng không được chấp nhận để làm lễ vật của các ngươi.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 27. “Khi một con bò, con chiên, hay con dê được sinh ra, nó sẽ ở với mẹ nó bảy ngày. Từ ngày thứ tám trở đi, nó có thể được chấp nhận làm tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. 28. Không được giết cả bò mẹ lẫn bò con, chiên mẹ lẫn chiên con trong cùng một ngày. 29. Khi các ngươi dâng tế lễ tạ ơn lên cho Đức Giê-hô-va, thì phải dâng thế nào để được đoái nhậm. 30. Lễ vật phải ăn nội trong ngày hôm đó. Đừng để lại bất cứ thứ gì cho đến sáng hôm sau. Ta là Đức Giê-hô-va. 31. Các ngươi phải vâng giữ những điều răn của Ta và thực hành chúng. Ta là Đức Giê-hô-va.
- Các ngươi không được xúc phạm đến danh thánh của Ta, vì Ta phải được tôn thánh giữa toàn dân Y-sơ-ra-ên. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các ngươi, 33. là Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập để làm Ðức Chúa Trời của các ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va.”
23
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rồi nói với họ rằng: Đây là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va, tức là những ngày lễ mà các ngươi phải công bố sự nhóm họp thánh.
- Hãy làm việc trong sáu ngày, nhưng thứ bảy là ngày Sa-bát. Đó là ngày nghỉ và là ngày nhóm họp thánh, các ngươi không được làm bất cứ công việc gì. Tại bất cứ nơi nào các ngươi cư ngụ, hãy giữ ngày nghỉ của Đức Giê-hô-va.
- Sau đây là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va, là những kỳ nhóm họp thánh mà các ngươi phải công bố theo thời gian đã được ấn định.
- Lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va bắt đầu vào chập tối ngày mười bốn tháng Giêng. 6. Ngày mười lăm của tháng đó là ngày lễ Bánh Không Men dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Các ngươi phải ăn bánh không men trong bảy ngày. 7. Ngày thứ nhất, các ngươi sẽ có cuộc nhóm họp thánh. Các ngươi không được làm việc lao nhọc trong ngày hôm đó. 8. Trong bảy ngày các ngươi phải dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. Đến ngày thứ bảy là ngày nhóm họp thánh, các ngươi không được làm công việc lao nhọc trong ngày hôm đó.
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 10. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ rằng: Các ngươi vào trong xứ mà Ta ban cho các ngươi, khi gặt hái mùa màng, các ngươi hãy đem một bó lúa đầu mùa đến cho tư tế. Người sẽ dâng bó lúa đó lên trước mặt Đức Giê-hô-va để lễ vật của các ngươi được nhậm. Người sẽ cử hành nghi thức dâng bó lúa lên vào ngày hôm sau của ngày Sa-bát. 12. Trong ngày dâng bó lúa bằng nghi thức dâng lên, các ngươi phải dâng cho Đức Giê-hô-va một chiên con đực một tuổi không khiếm khuyết để làm tế lễ thiêu, 13. và một tế lễ chay bằng hai phần mười ê-pha bột mịn trộn với dầu, dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, cùng với một phần tư hin rượu để làm lễ quán. 14. Các ngươi sẽ không ăn bánh, hoặc gạo rang, hoặc gạo mới cho đến ngày các ngươi đem tế lễ đến dâng cho Ðức Chúa Trời của các ngươi. Ðây là một quy luật vĩnh viễn, trải qua các thế hệ cho các ngươi, tại bất cứ nơi nào các ngươi cư trú.
- Kể từ ngày hôm sau của ngày Sa-bát mà các ngươi mang bó lúa đến để làm tế lễ cung hiến, các ngươi sẽ tính thêm bảy tuần lễ nữa. Đủ bảy tuần lễ 16. cho đến ngày hôm sau của ngày Sa-bát lần thứ bảy, tức là khi các ngươi đã đếm được năm mươi ngày, các ngươi hãy dâng cho Đức Giê-hô-va một tế lễ chay mới. 17. Các ngươi phải đem từ nhà của mình hai ổ bánh để làm tế lễ cung hiến, được làm bằng hai phần mười ê-pha bột mịn có pha men, đã được nướng lên, rồi dâng làm tế lễ đầu mùa cho Đức Giê-hô-va. 18. Cùng với bánh, các ngươi hãy dâng bảy con chiên một tuổi không khiếm khuyết, một con bò con đực, và hai con chiên đực. Chúng sẽ được dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, cùng với tế lễ chay và lễ quán, là tế lễ dùng lửa dâng lên có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va. 19. Các ngươi hãy dâng một con dê đực để làm tế lễ chuộc tội và hai con chiên đực một tuổi để làm tế lễ bình an. 20. Tư tế sẽ dâng chúng, tức là hai con chiên đực, cùng với bánh của lễ vật đầu mùa, làm tế lễ cung hiến cho Đức Giê-hô-va. Chúng là những vật thánh dâng cho Đức Giê-hô-va và thuộc về tư tế. 21. Các ngươi phải công bố cho mọi người biết ngày hôm đó sẽ có một cuộc nhóm họp thánh, cho nên các ngươi sẽ không được làm việc lao nhọc trong ngày hôm đó. Ðây là một quy luật vĩnh viễn cho mọi thế hệ của các ngươi, tại bất cứ nơi nào các ngươi cư ngụ.
- Khi các ngươi gặt mùa màng trong ruộng của mình, đừng gặt cho đến những góc cuối của bờ ruộng, và cũng đừng gặt những nhánh còn sót. Các ngươi phải chừa chúng lại cho người nghèo và kiều dân. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 24. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: Các ngươi hãy nghỉ vào ngày mồng một tháng bảy. Hãy thổi kèn công bố một ngày nhóm họp thánh. 25. Các ngươi không được làm việc lao nhọc trong ngày hôm đó, nhưng hãy dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 27. “Ngoài ra, ngày mười của tháng Bảy là ngày lễ Chuộc Tội. Ðó là ngày nhóm họp thánh cho các ngươi. Các ngươi phải khiêm cung hạ mình và dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. 28. Các ngươi không được làm công việc gì trong ngày hôm đó, vì đó là ngày lễ Chuộc Tội, tức là ngày chuộc tội cho các ngươi trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 29. Ai không khiêm cung hạ mình trong ngày hôm đó sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng. 31. Các ngươi không được làm công việc gì cả. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ, tại bất cứ nơi nào các ngươi cư trú. 32. Đây là một ngày Sa-bát để nghỉ ngơi cho các ngươi. Các ngươi phải khiêm cung hạ mình. Các ngươi phải giữ lễ ngày Sa-bát của mình từ tối mồng chín tháng này cho đến tối hôm sau.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 34. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên: Vào ngày mười lăm của tháng Bảy, hãy giữ lễ Lều Tạm trong bảy ngày cho Đức Giê-hô-va. 35. Ngày thứ nhất là ngày nhóm họp thánh, các ngươi không được làm bất cứ công việc lao nhọc nào. 36. Trong bảy ngày, các ngươi hãy dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. Ngày thứ tám là ngày nhóm họp thánh, các ngươi hãy dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. Đó là ngày nhóm họp quan trọng, các ngươi không được làm bất cứ công việc lao nhọc nào.
- Đó là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va mà các ngươi phải công bố sự nhóm họp thánh, và dâng tế lễ bằng lửa cho Đức Giê-hô-va, tức là tế lễ thiêu, tế lễ chay, tế lễ bình an, tế lễ quán, theo quy định của từng ngày – 38. bên cạnh những ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va, bên cạnh những vật dâng hiến của các ngươi, bên cạnh những hứa nguyện của các ngươi, và bên cạnh những lễ vật tự nguyện của các ngươi mà các ngươi đã dâng lên cho Đức Giê-hô-va.
- Vào ngày mười lăm tháng Bảy, sau khi đã thu hoạch hoa màu của đồng ruộng, các ngươi hãy giữ lễ trong bảy ngày cho Đức Giê-hô-va. Ngày thứ nhất là ngày nghỉ và ngày thứ tám cũng là ngày nghỉ. 40. Vào ngày thứ nhất, các ngươi hãy đem cho mình trái cây tuyển chọn, những nhánh lá chà là, những tàn lá, những cành liễu mọc bên suối, rồi hãy vui vẻ trong bảy ngày trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 41. Mỗi năm các ngươi phải giữ lễ này cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Các ngươi phải giữ lễ vào tháng Bảy. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ của các ngươi. 42. Các ngươi phải ở trong lều bảy ngày. Tất cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ ở trong lều, 43. để con cháu của các ngươi biết rằng toàn dân Y-sơ-ra-ên đã sống trong lều khi Ta đem họ ra khỏi xứ Ai Cập. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.”
- Vì vậy, Môi-se đã công bố những ngày lễ của Đức Giê-hô-va cho dân Y-sơ-ra-ên.
24
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên để họ đem cho ngươi dầu tinh khiết được ép từ trái ô-liu để thắp cho đèn tiếp tục cháy sáng. 3. A-rôn sẽ đặt cây đèn trong Lều Hội Kiến phía bên ngoài bức màn che Rương Giao Ước, để cây đèn đó cháy luôn trước mặt Đức Giê-hô-va từ chiều tối cho đến sáng. Ðó sẽ là một quy định đời đời trải qua các thế hệ. 4. Người sẽ giữ những ngọn đèn trên cây đèn luôn luôn được tinh khiết trước mặt Đức Giê-hô-va.
- Ngươi hãy lấy bột mịn nướng mười hai cái bánh – mỗi cái bánh nặng hai phần mười ê-pha. 6. Ngươi hãy sắp chúng thành hai hàng, mỗi hàng sáu cái, trên chiếc bàn bằng vàng ròng trước mặt Đức Giê-hô-va. 7. Ngươi hãy rắc nhũ hương nguyên chất vào mỗi hàng, để nó lưu lại trên bánh trong lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. 8. Mỗi ngày sa-bát, người phải luôn luôn sắp xếp như vậy trước mặt Đức Giê-hô-va. Đó là một giao ước đời đời cho dân Y-sơ-ra-ên. 9. Nó sẽ thuộc về A-rôn và các con trai của người. Họ phải ăn tại một nơi thánh bởi vì đó là phần rất thánh dành cho người từ những tế lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ của các ngươi.”
- Có một đứa con trai, mẹ là người Y-sơ-ra-ên, cha là người Ai Cập, đã đến giữa dân Y-sơ-ra-ên, rồi đánh nhau với một người Y-sơ-ra-ên trong doanh trại. 11 Con trai của người phụ nữ Y-sơ-ra-ên đã xúc phạm và nguyền rủa danh thánh. Người ta dẫn nó đến Môi-se. Mẹ của nó là Sê-lô-mít, con gái của Điệp-ri, thuộc chi tộc Đan. 12. Người ta giam nó cho đến khi cho đến khi ý muốn của Đức Giê-hô-va được bày tỏ.
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: 14. “Hãy đem kẻ đã nguyền rủa ra ngoài doanh trại. Tất cả những ai đã nghe nó nói, hãy đặt tay trên đầu của nó, rồi tất cả hội chúng hãy ném đá nó. 15. Ngươi hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Kẻ nào nguyền rủa Ðức Chúa Trời, sẽ mang lấy tội của mình. 16. Kẻ nào xúc phạm đến danh của Đức Giê-hô-va, kẻ đó chắc chắn sẽ bị xử tử. Tất cả hội chúng sẽ ném đá hắn. Dù là ngoại kiều hay là người bản xứ, ai xúc phạm đến danh của Đức Giê-hô-va, kẻ đó sẽ bị xử tử.
- Ai giết chết một người, kẻ đó phải bị xử tử. 18. Ai giết chết sinh mạng của một con vật, thì phải bồi thường một con vật bằng một con vật. 19. Nếu ai gây cho người láng giềng của mình bị thương tích, thì người đó phải bị thương tích giống như người đó đã gây ra: 20. xương đền xương, mắt đền mắt, răng đền răng – hễ gây thương tích cho người khác thế nào thì phải chịu thương tích giống như vậy. 21. Ai giết chết một súc vật thì phải bồi thường, nhưng ai giết chết một người thì phải bị xử tử. 22. Chỉ có một luật cho các ngươi, được áp dụng cho cả ngoại kiều lẫn người bản địa, bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.”
- Môi-se đã truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên những điều nầy. Họ đem kẻ xúc phạm ra khỏi doanh trại, rồi ném đá nó. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
25
- Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se tại trên núi Si-nai: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ rằng: Khi các ngươi vào trong xứ mà Ta ban cho các ngươi, hãy để cho đất được nghỉ vào năm Sa-bát cho Đức Giê-hô-va. 3. Trong sáu năm các ngươi sẽ gieo trong đồng ruộng. Trong sáu năm các ngươi sẽ tỉa vườn nho và thu hoạch hoa lợi. 4. Nhưng đến năm thứ bảy là năm Sa-bát, đất sẽ được nghỉ ngơi để giữ Sa-bát cho Đức Giê-hô-va. Các ngươi không được gieo trong đồng ruộng, cũng không được tỉa vườn nho. 5. Các ngươi cũng không được gặt hoa lợi tự mọc lên hay hái trái nho nơi cành nho không được tỉa sửa. Hãy để cho đất nghỉ một năm. 6. Những gì đất sinh sản trong năm Sa-bát sẽ được dùng làm lương thực cho các ngươi, cho tôi trai tớ gái của các ngươi, cho người làm công, và người tạm trú với các ngươi. 7. Tất cả những gì đất sinh ra cũng sẽ được dùng làm thực phẩm cho gia súc của các ngươi và thú hoang ở trong xứ.
- Các ngươi hãy tính cho mình bảy năm Sa-bát, tức là bảy lần của bảy năm. Thời gian của năm Sa-bát thứ bảy là năm bốn mươi chín. 9. Các ngươi hãy thổi kèn tưng bừng vào ngày mười của tháng Bảy, tức ngày lễ Chuộc Tội. Các ngươi hãy thổi kèn vang dội trong khắp cả xứ. 10. Các ngươi hãy biệt riêng ra thánh năm thứ năm mươi, và công bố năm ân xá cho tất cả cư dân trong xứ. Đó là năm Hân Hỉ cho các ngươi, bởi vì mỗi người sẽ được trả lại tài sản của mình, và được trở về với gia đình của mình. 11. Năm thứ năm mươi sẽ là năm Hân Hỉ cho các ngươi. Các ngươi sẽ không gieo và không gặt hoa màu tự mọc lên, hay hái trái nơi cành nho không được tỉa sửa. 12. Bởi vì năm Hân Hỉ là năm thánh cho các ngươi. Các ngươi sẽ ăn những hoa lợi từ đồng hoang.
- Trong năm hân hỉ nầy, mỗi người sẽ nhận lại tài sản của mình. 14. Nếu các ngươi bán vật gì cho ai, hoặc mua vật gì từ tay người khác, thì đừng lợi dụng lẫn nhau. 15. Các ngươi hãy căn cứ vào số năm còn lại cho đến năm Hân Hỉ sau đó để mua từ người lân cận của mình. Người đó sẽ căn cứ vào năm có hoa lợi mà bán cho các ngươi. 16. Nếu số năm còn nhiều, các ngươi phải lên giá. Nếu số năm còn ít, các ngươi giảm giá, căn cứ vào số năm có hoa lợi mà người đó bán cho các ngươi. 17. Các ngươi đừng lường gạt nhau, nhưng phải kính sợ Ðức Chúa Trời, vì Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi.
- Các ngươi phải làm theo mệnh lệnh của Ta, gìn giữ và thực hành luật lệ của Ta, để các ngươi được sống bình an trong xứ, 19. để đất sẽ sinh hoa lợi, các ngươi sẽ được ăn no nê, và sống yên lành tại đó. 20. Nếu các ngươi hỏi: Chúng tôi sẽ lấy gì để ăn trong năm thứ bảy, nếu chúng tôi không gieo và cũng không thu hoạch hoa lợi của mình? 21. Ta sẽ ban phước cho các ngươi trong năm thứ sáu, hoa lợi sinh ra sẽ đủ cho cả ba năm. 22. Các ngươi sẽ gieo trong năm thứ tám, các ngươi sẽ tiếp tục ăn hoa lợi cũ cho đến năm thứ chín. Các ngươi vẫn ăn hoa lợi cũ cho đến khi thu hoạch hoa lợi.
- Các ngươi không được bán vĩnh viễn đất đai của mình, bởi vì đất đai là của Ta, còn các ngươi chỉ là những kiều dân và những kẻ tạm trú. 24. Tất cả những đất đai mà các ngươi sở hữu, các ngươi hãy cho phép đất được chuộc lại.
- Nếu một người đồng hương vì nghèo, phải bán tài sản của mình, thì người bà con gần nhất phải đến để có thể chuộc lại tài sản mà người thân nhân của mình đã bán. 26. Nếu người bán không có bà con nào, nhưng chính người đó về sau có khả năng chuộc lại, 27. thì người đó phải tính số năm từ khi đã bán, rồi trả phần còn lại cho người mua đã mua nó, rồi người đó có thể nhận lại tài sản của mình. 28. Nhưng nếu người đó không có đủ khả năng để tự mình chuộc lại, thì điều gì đã bán sẽ tiếp tục ở lại trong tay người mua cho đến năm Hân Hỉ, tài sản sẽ được trả lại trong năm Hân Hỉ, và người đó sẽ nhận lại tài sản mình.
- Nếu người nào bán nhà trong một thành phố có tường bao quanh, người đó có thể chuộc lại trong vòng một năm kể từ ngày bán. Quyền được chuộc là một năm. 30. Nhưng nếu trong vòng một năm mà không chuộc lại, căn nhà nằm trong thành phố có tường bao quanh sẽ thuộc về người mua và con cháu của người vĩnh viễn. Nó sẽ không được hoàn trả vào năm Hân Hỉ. 31. Tuy nhiên, những căn nhà trong các làng mạc không có tường bao quanh, sẽ được xem như thuộc về đồng ruộng; người ta có thể chuộc lại, và sẽ được hoàn trả vào năm Hân Hỉ. 32. Tuy nhiên, trong các thành phố của người Lê-vi, người Lê-vi có quyền chuộc lại những căn nhà trong các thành phố của họ bất cứ lúc nào. 33. Nếu ai mua nhà của những người Lê-vi trong các thành của họ, thì căn nhà đã bán sẽ được hoàn trả trong năm Hân Hỉ, vì nhà của người Lê-vi trong các thành phố của họ là sản nghiệp của họ giữa dân Y-sơ-ra-ên.
- Nếu ai trong những anh em của các ngươi rơi vào cảnh nghèo túng, các ngươi hãy giúp đỡ người đó như giúp đỡ một ngoại kiều hay một người tạm trú, để người đó có thể tiếp tục sống với các ngươi. 36. Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, đừng tính lãi hay lấy lời, để anh em của các ngươi có thể sống với các ngươi. 37. Ngươi không được cho người đó vay tiền để lấy lãi, cũng không được bán lương thực cho người đó để kiếm lời. 38. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi – Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập để ban cho các ngươi xứ Ca-na-an – là Ðức Chúa Trời của các ngươi.
- Nếu ai trong những anh em của các ngươi vì nghèo khó phải bán chính mình cho các ngươi, các ngươi không được đối xử với người đó như là một nô lệ, 40. nhưng hãy coi người đó như là một người làm mướn hay là một người tạm trú. Người đó sẽ làm việc cho các ngươi cho đến năm Hân Hỉ, 41. rồi người đó và con cái của người đó sẽ rời khỏi các ngươi để trở về với gia đình của riêng mình, và nhận lại sản nghiệp của tổ tiên mình. 42. Bởi vì họ là những tôi tớ của Ta, là những người mà Ta đã đem ra khỏi đất Ai Cập, cho nên không được bán họ như những nô lệ. 43. Các ngươi không được đối xử với họ cách hà khắc, nhưng phải kính sợ Ðức Chúa Trời của các ngươi. 44. Các ngươi có thể sở hữu tôi trai tớ gái từ các dân tộc chung quanh các ngươi. Các ngươi có thể mua tôi trai tớ gái từ họ. 45. Ngoài ra, các ngươi có thể mua những tôi trai tớ gái từ các kiều dân đang sống ở giữa các ngươi, và những người trong gia đình của họ đã được sinh ra trong xứ của các ngươi. Chúng có thể trở thành tài sản của các ngươi. 46. Các ngươi có thể để chúng lại làm di sản cho con cháu của các ngươi, để chúng làm nô lệ suốt đời. Nhưng đối với những anh em của mình là dân Y-sơ-ra-ên, không một ai trong các ngươi được cai trị cách hà khắc với họ.
- Nếu một ngoại kiều hay là một người tạm cư ở giữa các ngươi trở nên giàu có, và nếu một trong những anh em của các ngươi lâm vào cảnh nghèo khổ và phải bán mình cho người ngoại kiều hay người tạm cư đang ở giữa các ngươi, hay cho một thành viên nào trong nhà của ngoại kiều, 48. thì sau khi bị bán mình, người đó có quyền được chuộc lại. Một trong những anh em của người đó có thể chuộc người đó, 49. hoặc chú bác, hay con của chú bác có thể chuộc người đó, hoặc một người thân thích trong gia đình của người đó có thể chuộc người đó, hay người đó có thể tự chuộc chính mình. 50. Người đó sẽ tính với người đã mua mình số năm kể từ khi người đó đã bán mình cho đến năm Hân Hỉ. Giá cả sẽ căn cứ trên số năm của thời gian mà người đó còn phải phục vụ cho chủ như là một người làm thuê. 51. Nếu số năm còn nhiều, người đó phải trả một số tiền chuộc theo tỷ lệ tương xứng với giá người đó đã được mua, 52. nhưng nếu chỉ còn vài năm trước khi đến năm Hân Hỉ, người đó hãy tính với chủ số năm còn lại để trả tiền chuộc cho mình. 53. Chủ phải đối đãi với người đó như là một người đi làm mướn từng năm. Chủ không được khắc nghiệt với người trước mặt ngươi. 54. Nếu người đó không được chuộc bằng những phương cách trên thì người đó và các con của mình cũng sẽ được trả tự do vào năm Hân Hỉ. 55. Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên là đầy tớ của Ta, tức là những người mà Ta đã đem ra khỏi Ai Cập. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.”
26
- “Các ngươi không được làm cho mình những thần tượng; các ngươi cũng không được làm cho mình một hình được chạm trỗ hay một trụ thờ, và cũng không được dựng lên trong xứ một tượng đá để thờ lạy; bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 2. Các ngươi hãy giữ ngày Sa-bát của Ta và tôn kính Nơi Thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va. 3. Nếu các ngươi đi theo những luật lệ của Ta, gìn giữ những điều răn của Ta và làm theo, 4. Ta sẽ ban mưa xuống đúng mùa, đất đai sẽ sinh sản hoa màu, cây cối ngoài đồng sẽ kết quả. 5. Mùa đập lúa chấm dứt thì đến mùa hái nho, mùa hái nho chấm dứt thì đến mùa gieo mạ. Các ngươi sẽ ăn bánh no nê và sống an bình trong xứ của mình. 6. Ta sẽ ban hòa bình trong xứ. Các ngươi sẽ nằm xuống nghỉ ngơi mà không phải lo sợ điều gì. Ta sẽ loại trừ những thú dữ khỏi xứ của các ngươi, và gươm đao sẽ không đi qua xứ của các ngươi. 7. Các ngươi sẽ rượt đuổi quân thù của mình, chúng sẽ ngã gục trước gươm của các ngươi. 8. Năm người trong các ngươi sẽ rượt đuổi một trăm người, một trăm người trong các ngươi sẽ rượt đuổi mười ngàn người. Quân thù của các ngươi sẽ ngã gục trước gươm của các ngươi. 9. Ta sẽ đoái xem các ngươi, làm cho các ngươi được kết quả và gia tăng, và xác lập giao ước của Ta với các ngươi. 10. Khi các ngươi còn ăn hoa lợi cũ đã được lưu trữ, thì phải dọn chỗ cho hoa lợi mới. 11. Ta sẽ thiết lập Đền Tạm của Ta ở giữa các ngươi, và Ta không ghê tởm các ngươi. 12. Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời của các ngươi, và các ngươi sẽ làm dân của Ta. 13. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, là Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, để các ngươi không còn làm nô lệ cho chúng. Ta đã bẻ cái ách trên cổ của các ngươi để các ngươi có thể đứng thẳng bước đi.
- Tuy nhiên nếu các ngươi không vâng lời Ta, không làm theo tất cả những điều răn nầy, 15. nếu các ngươi khước từ những luật lệ của Ta, linh hồn các ngươi chán ghét những mạng lệnh của Ta, không làm theo tất cả những điều răn của Ta, hủy bỏ giao ước của Ta, 16. thì Ta sẽ sai những điều nầy đến cho các ngươi: Ta sẽ giáng sự kinh hoàng trên các ngươi, dịch bệnh và bệnh sốt sẽ làm cho mắt của các ngươi mỏi mòn, lòng của các ngươi sẽ thảm sầu, các ngươi sẽ gieo giống uổng công vì kẻ thù của các ngươi sẽ ăn chúng. 17. Ta sẽ để mặt Ta chống lại các ngươi. Các ngươi sẽ bị quân thù đánh bại; những kẻ ghét các ngươi sẽ cai trị các ngươi; các ngươi sẽ chạy trốn dù không có ai rượt đuổi các ngươi.
- Nếu sau những điều nầy, các ngươi vẫn không vâng lời Ta thì Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi của các ngươi. 19. Ta sẽ bẻ gãy niềm kiêu hãnh của các ngươi, Ta sẽ khiến trời trở thành như sắt, đất trở nên như đồng. 20. Năng lực của các ngươi sẽ tiêu hao vô ích, đất không sinh sản hoa màu, cây cối trong xứ sẽ không ra trái.
- Nếu các ngươi vẫn chống lại Ta và không vâng lời Ta, thì theo tội của các ngươi, Ta sẽ giáng tai họa gấp bảy lần trên các ngươi. 22. Ta sẽ sai thú dữ đến bắt con cái của các ngươi, tiêu diệt gia súc của các ngươi, các ngươi sẽ bị giảm thiểu, đường sá của các ngươi trở nên hoang vắng.
- Nếu sau những việc nầy, các ngươi vẫn không trở lại cùng Ta, vẫn tiếp tục chống lại Ta, 24. thì Ta sẽ chống lại các ngươi. Ta sẽ giáng tai họa gấp bảy lần trên các ngươi theo tội của các ngươi. 25. Ta sẽ đem gươm chống lại các ngươi để báo trả việc các ngươi bội ước. Khi các ngươi rút vào trong các thành, Ta sẽ sai bệnh dịch đến với các ngươi, rồi sẽ giao các ngươi vào tay của quân thù. 26. Lúc Ta cắt nguồn lương thực của các ngươi, mười phụ nữ sẽ nướng bánh chung trong một cái lò, rồi họ sẽ dùng cân để chia bánh – các ngươi sẽ ăn mà không no.
- Nếu sau những việc nầy, các ngươi vẫn không vâng lời Ta, vẫn tiếp tục chống lại Ta, 28. Ta sẽ nổi thịnh nộ chống lại các ngươi, và vì tội của các ngươi, chính Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần. 29. Các ngươi sẽ ăn thịt những con trai của mình. Các ngươi sẽ ăn thịt những con gái của mình. 30. Ta sẽ phá hủy những chỗ tế tự tại những nơi cao của các ngươi, và triệt hạ những bàn thờ dâng hương của các ngươi. Ta sẽ chất thây của các ngươi trên thây những thần tượng của các ngươi. Tâm hồn của Ta sẽ ghê tởm các ngươi. 31. Ta sẽ làm cho các thành phố của các ngươi trở nên hoang vu, những nơi thánh của các ngươi ra điêu tàn, và Ta sẽ không nhận những hương thơm từ các tế lễ của các ngươi nữa. 32. Ta sẽ làm cho xứ sở của các ngươi trở nên hoang vu, đến nỗi những kẻ thù của các ngươi đến cư ngụ tại đó cũng phải ngạc nhiên. 33. Ta sẽ phân tán các ngươi trong các nước, và rút gươm ra để truy đuổi các ngươi. Đất đai của các ngươi sẽ hoang vu, các thành phố của các ngươi sẽ điêu tàn. 34. Tất cả sẽ được nghỉ ngơi nếu chúng còn hoang tàn, để bù lại những năm Sa-bát mà chúng đã không được nghỉ ngơi vào lúc các ngươi vẫn còn cư ngụ tại đó. 36. Ðối với những kẻ còn sót lại ở giữa các ngươi, Ta sẽ làm cho lòng của họ khiếp đảm trong xứ của kẻ thù. Tiếng lá rơi cũng làm cho họ chạy trốn. Họ chạy trốn như chạy trốn khỏi gươm, và sẽ ngã nhào, mặc dù không có ai rượt đuổi. 37. Người nầy vấp ngã trên người kia như chạy trốn khỏi gươm dù chẳng ai đuổi theo họ. Không một ai trong các ngươi có thể đứng lên đối phó với quân thù. 38. Các ngươi sẽ bị diệt mất giữa các dân tộc; và đất của những kẻ thù của các ngươi sẽ ăn nuốt các ngươi. 39. Những người còn sót lại ở giữa các ngươi sẽ chết dần chết mòn vì tội lỗi của mình trong xứ của những kẻ thù của các ngươi. Họ sẽ chết dần chết mòn vì tội lỗi của tổ tiên đang ở với họ.
- Nhưng nếu họ xưng nhận tội lỗi của mình và tội lỗi của tổ phụ mình là họ đã phản nghịch Ta và họ đã chống lại Ta, 41. để Ta phải chống lại họ rồi đưa họ vào xứ sở của những kẻ thù. Nếu tấm lòng không chịu cắt bì của họ biết khiêm cung, chấp nhận sự sửa phạt về tội ác của mình, 42. thì Ta sẽ nhớ lại giao ước của Ta với Gia-cốp, và giao ước của Ta với Y-sác; Ta sẽ nhớ lại giao ước của Ta với Áp-ra-ham, và Ta sẽ nhớ lại xứ nầy.
- Đất đai vì họ đã bị bỏ hoang và được nghỉ Sa-bát trong thời gian hoang vu không có họ. Họ phải chấp nhận hình phạt bởi vì họ đã khinh bỉ mệnh lệnh của Ta và tâm hồn của họ đã chán ghét những luật lệ của Ta. 44. Dầu vậy, trong khi họ ở trong xứ của kẻ thù, Ta đã không từ bỏ họ và cũng không ghê tởm họ đến nỗi phải tận diệt họ rồi hủy bỏ giao ước giữa Ta với họ, bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. 45. Vì lợi ích của họ, Ta sẽ nhớ lại giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ của họ, tức là những người mà Ta đã đem ra khỏi Ai Cập trước mắt các dân để làm Đức Chúa Trời của họ. Ta là Đức Giê-hô-va.”
- Ðó là những điều răn, mạng lệnh, và luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã thiết lập giữa chính mình Ngài với dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-nai bởi tay của Môi-se.
27
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ rằng: Nếu có ai hứa nguyện dâng cho Đức Giê-hô-va một người thì hãy định giá con người như sau: 3. Giá trị của một người nam từ hai mươi tuổi đến sáu mươi tuổi sẽ trị giá năm mươi siếc lơ bạc theo siếc-lơ nơi thánh. 4. Nếu là một người nữ, người đó sẽ trị giá ba mươi siếc-lơ. 5. Nếu từ năm tuổi đến hai mươi tuổi thì trị giá hai mươi siếc-lơ cho một người nam và mười siếc-lơ cho một người nữ. 6. Nếu từ một tháng đến năm tuổi thì trị giá năm siếc-lơ cho một người nam và ba siếc-lơ cho một người nữ. 7. Nếu một người từ sáu mươi tuổi trở lên thì trị giá mười lăm siếc-lơ cho một người nam và mười siếc-lơ cho một người nữ. 8. Nếu người người đó quá nghèo, không thể trả nổi cho giá trị của mình, người đó phải trình diện với tư tế, và tư tế sẽ định giá người đó theo khả năng mà người khấn nguyện có thể trả.
- Nếu có ai mang một con vật để làm tế lễ dâng lên cho Đức Giê-hô-va, thì tất cả những con vật được dâng cho Đức Giê-hô-va sẽ trở thành vật thánh. 10. Người đó không được đổi hay thay thế một con tốt bằng một con xấu, hay một con xấu bằng một con tốt. Nếu người đó đem con vật này thay thế cho con vật khác, thì cả hai con vật đó đều trở nên thánh. 11. Nếu đó là một con vật không tinh sạch, không nên dâng cho Đức Giê-hô-va, thì hãy đem con vật đến cho tư tế. 12. Tư tế sẽ định giá tùy theo nó tốt hay xấu. Tư tế định giá nào thì nó sẽ là như vậy. 13. Nếu người đó muốn chuộc lại thì phải trả thêm một phần năm giá trị của nó.
- Nếu có ai dâng ngôi nhà của mình làm một vật thánh cho Đức Giê-hô-va, tư tế sẽ định giá căn nhà tùy theo nó tốt hay xấu. Tư tế định giá nào thì nó sẽ là như vậy. 15. Nếu người đã dâng muốn chuộc lại căn nhà của mình, thì phải trả thêm một phần năm giá trị của nó, và rồi căn nhà sẽ thuộc về người đó.
- Nếu có ai dâng một cánh đồng thuộc tài sản của mình cho Đức Giê-hô-va, thì hãy định giá tùy theo số hạt giống được gieo: Năm mươi siếc-lơ bạc cho mỗi ô-me lúa mạch. 17. Nếu người đó dâng cánh đồng vào năm Hân Hỉ, trị giá của nó sẽ không thay đổi. 18. Nhưng nếu người đó dâng cánh đồng sau năm Hân Hỉ, tư tế sẽ định giá căn cứ trên số năm còn lại cho đến năm Hân Hỉ mà khấu trừ giá trị. 19. Nếu người đã dâng cánh đồng muốn chuộc nó lại thì phải trả thêm một phần năm giá trị của nó, thì nó sẽ thuộc về người đó. 20. Nhưng nếu người đó không muốn chuộc lại cánh đồng, và nó đã được bán cho người khác, thì sẽ không thể chuộc lại được nữa. 21. Đến năm Hân Hỉ cánh đồng sẽ được trả lại, và cánh đồng sẽ trở thành một vật thánh cho Đức Giê-hô-va, nó sẽ thuộc quyền sở hữu của tư tế.
- Nếu có ai dâng cho Đức Giê-hô-va một cánh đồng mà mình đã mua, chứ không phải là cánh đồng thuộc về tài sản của mình, 23. tư tế sẽ định giá cánh đồng cho đến năm Hân Hỉ – rồi ngay trong ngày định giá đó, nó sẽ trở thành vật thánh dâng cho Đức Giê-hô-va. 24. Đến năm Hân Hỉ, cánh đồng sẽ được trả lại cho người mà người đó đã mua, tức là nguyên chủ đã sở hữu miếng đất. 25. Tất cả việc định giá phải căn cứ vào siếc-lơ của Nơi Thánh: Một siếc-lơ là hai mươi ghê-ra.
- Tuy nhiên, không ai được hiến dâng con đầu lòng của súc vật mình cho Đức Giê-hô-va, bởi vì các con đầu lòng – bất kể là bò hay chiên – đã thuộc về Đức Giê-hô-va. 27. Nhưng nếu con vật thuộc loại không tinh sạch, người đó có thể chuộc lại theo trị giá cộng thêm một phần năm của trị giá đó. Nếu con vật không được chuộc, nó sẽ được bán theo trị giá.
- Nhưng khi một người đã tận hiến tất cả những vật mình có cho Đức Giê-hô-va, dù là người, súc vật hay đất đai thuộc sở hữu của mình, thì vật đó sẽ không được đem bán, và cũng không được chuộc lại, bởi vì bất kỳ vật gì đã được tận hiến đều trở nên rất thánh cho Đức Giê-hô-va. 29. Tất cả những người bị loại khỏi giữa vòng loài người, thì không một ai được chuộc lại, nhưng phải bị xử tử.
- Tất cả một phần mười thổ sản, từ ngũ cốc ngoài đồng đến hoa quả của cây cối, đều thuộc về Đức Giê-hô-va. Đó là vật thánh của Đức Giê-hô-va. 31. Nếu ai muốn chuộc bất kỳ thứ phần mười nào của mình, người đó phải trả thêm một phần năm trị giá của phần mười đó. 32. Còn về một phần mười của bầy bò hay bầy chiên, bất kể con thứ mười nào đi qua dưới cây gậy đều là vật thánh thuộc về Đức Giê-hô-va. 33. Ngài không đòi hỏi xem đó là con vật tốt hay xấu, và cũng không được thay thế. Nếu có ai thay thế một con vật khác, thì con vật đó và con vật được dùng để thay thế, đều trở nên thánh, và không thể được chuộc lại.”
- Đây là những mạng lệnh mà Đức Giê-hô-va đã truyền Môi-se tại trên núi Si-nai cho dân Y-sơ-ra-ên.
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl