Bản Dịch Việt Ngữ: Xuất Hành

Xuất Hành
1
- Đây là tên của những con trai của Y-sơ-ra-ên đã đến Ai Cập cùng với Gia-cốp. Mỗi người đã đến với gia đình của mình: 2. Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, 3. Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, và Bên-gia-min; 4. Đan và Nép-ta-li, Gát và A-se. 5. Tất cả số người xuất phát từ gia tộc của Gia-cốp là bảy mươi người – bởi vì Giô-sép đã ở tại Ai Cập.
- Giô-sép, các anh em của ông và những người cùng thế hệ đã qua đời. 7. Con cháu của Y-sơ-ra-ên được kết quả, phát triển rất nhiều và gia tăng bội phần. Họ trở nên vô cùng cường thạnh và lan tràn khắp cả xứ.
- Lúc này, có một vua mới lên ngôi trị vì Ai Cập – không biết Giô-sép. 9. Vua nói với dân chúng của mình rằng: Hãy nhìn xem! Dân Y-sơ-ra-ên đông và mạnh hơn chúng ta. 10. Hãy đến! Chúng ta phải đối xử với họ cách khôn khéo, đừng để họ gia tăng. Khi chiến tranh xảy ra, họ hiệp với kẻ thù của chúng ta đánh lại chúng ta, rồi rời khỏi xứ.
- Vì vậy, chúng đặt các đốc công trên họ, cuối cùng họ bị hành hạ với những công việc nặng nề. Họ đã xây thành Phi-thom và Ram-se để làm kho cho Pha-ra-ôn. 12. Nhưng càng bị hành hạ chừng nào, họ càng gia tăng và lan ra chừng nấy. Họ đau khổ vì các con trai của Y-sơ-ra-ên 13. phải phục dịch. Người Ai Cập bắt dân Y-sơ-ra-ên làm việc nhọc nhằn. 14. Chúng làm cho cuộc đời của họ bị cay đắng trong cảnh nô lệ, phải làm lụng nặng nhọc trong việc nhồi đất, làm gạch, và trong mọi việc đồng áng. Trong tất cả những lao dịch của họ, chúng bắt họ lao dịch thật nhọc nhằn.
- Vua của Ai Cập truyền cho các nữ hộ sinh của người Hê-bơ-rơ, một người tên Siếp-ra và một người tên Phu-a, 16. rằng: Khi các ngươi giúp các phụ nữ Hê-bơ-rơ sinh và thấy trên bàn là con trai thì phải giết nó, nhưng nếu là con gái thì nó sẽ sống.
- Tuy nhiên các nữ hộ sinh kính sợ Đức Chúa Trời, không làm theo lệnh của vua của Ai Cập, vẫn để cho các bé trai sống.
- Vua của Ai Cập đã gọi các nữ hộ sinh đến rồi nói với họ: “Tại sao các ngươi làm như vậy và để cho những bé trai sống?”
- Các nữ hộ sinh nói với Pha-ra-ôn: “Bởi vì không giống như phụ nữ Ai Cập, phụ nữ Hê-bơ-rơ rất khỏe mạnh. Trước khi chúng tôi đến với họ, con của họ đã được sanh ra rồi.”
- Đức Chúa Trời ban ơn cho các nữ hộ sinh. Dân Y-sơ-ra-ên gia tăng và họ trở nên rất hùng mạnh. 21. Vì các nữ hộ sinh có lòng kính sợ Đức Chúa Trời nên Ngài làm cho nhà của họ được thịnh vượng.
- Pha-ra-ôn truyền lệnh cho toàn dân của mình: “Hãy ném tất cả con trai sơ sinh xuống sông, và mọi con gái thì các ngươi phải cứu sống.”
2
- Có một người thuộc gia tộc Lê-vi đã đến kết hôn với một cô gái thuộc gia tộc Lê-vi. 2. Nàng mang thai rồi sinh một con trai. Khi thấy nó dễ thương, nàng đã giấu nó trong ba tháng. 3. Khi không thể giấu nó lâu hơn nữa, nàng đã lấy một cái thúng bằng cói, trét nhựa chai và nhựa thông, đặt đứa bé vào đó, rồi để giữa những đám sậy bên bờ sông Nin. 4. Chị của đứa bé đứng xa xa để biết phải làm gì cho nó.
- Con gái của Pha-ra-ôn xuống tắm tại sông Nin. Cô và các nữ tỳ của cô đi dọc theo bờ sông Nin. Cô thấy có một cái thúng ở giữa những đám sậy, nên đã sai một nữ tỳ của cô đến lấy nó. 6. Khi mở ra, cô thấy có một đứa bé. Nhìn thấy thằng bé khóc, cô động lòng thương và nói: “Ðây là một trong những đứa con của người Hê-bơ-rơ.”
- Chị của đứa bé đã nói với con gái của Pha-ra-ôn: “Tôi có nên đi tìm một người vú trong số những người phụ nữ Hê-bơ-rơ để nuôi đứa trẻ cho bà hay không?” 8. Con gái của Pha-ra-ôn đáp: “Hãy đi mau.” Cô gái đã đi và gọi mẹ của đứa bé. 9. Con gái của Pha-ra-ôn nói với bà: “Hãy nhận đứa trẻ nầy và nuôi nó cho ta. Ta sẽ trả tiền công cho ngươi.” Vì vậy, người phụ nữ đã nhận đứa trẻ và nuôi dưỡng nó.
- Khi đứa trẻ đã lớn, bà đem nó vào cho con gái của Pha-ra-ôn, và nó trở thành con trai của nàng. Nàng đặt tên của nó là Môi-se, và nói: “Bởi vì ta đã đem nó ra khỏi nước.”
- Thời gian trôi qua, khi Môi-se đã trưởng thành, ông đã đến với các anh em của mình và nhìn thấy những gánh nặng của họ. Ông thấy một người Ai Cập đánh đập một người Hê-bơ-rơ, là anh em của ông. 12. Ông đã nhìn bên nầy, bên kia, khi thấy rằng không có ai, ông đã giết người Ai Cập, rồi giấu dưới cát.
- Lần thứ hai, khi đi ra, ông thấy hai người Hê-bơ-rơ đang đánh nhau, ông nói với người có lỗi rằng: “Tại sao anh đánh đồng bào của mình?” 14. Người đó đã trả lời: “Ai đã lập ông làm thẩm phán và làm người cai trị trên chúng tôi? Có phải ông định giết tôi như đã giết người Ai Cập?” Môi-se hoảng sợ và nghĩ rằng: Chắc chắn việc nầy đã được biết rồi.
- Khi Pha-ra-ôn nghe việc nầy, ông đã truy tìm để giết Môi-se, nhưng Môi-se đã chạy trốn khỏi mặt của Pha-ra-ôn, và đến cư ngụ tại xứ Ma-đi-an. Ông đã ngồi bên cạnh một giếng nước.
- Tư tế Ma-đi-an có bảy cô con gái. Họ đã đến múc nước, đổ đầy máng cho bầy gia súc của cha mình. 17. Những người chăn chiên đã đến xua đuổi họ, nhưng Môi-se đứng lên giúp họ, và cho bầy gia súc uống nước. 18. Họ đã trở về với Rê-u-ên, cha của họ, ông hỏi: “Tại sao hôm nay các con trở về sớm như vậy?” 19. Họ đáp: “Có một người Ai Cập đã giải cứu chúng con khỏi tay của bọn chăn chiên. Chàng còn múc nước cho chúng con và cho bầy gia súc uống nữa.” 20. Ông nói với các con gái của mình: “Người đó ở đâu? Tại sao các con lại bỏ một người như vậy? Hãy mời người ấy đến dùng thức ăn.”
- Môi-se đã bằng lòng sống với người nầy, và ông đã gả Sê-phô-ra, con gái của mình, cho Môi-se. 22. Nàng sinh một con trai, và ông đã đặt tên cho nó là Ghẹt-sôn bởi vì ông nói rằng: “Tôi là một ngoại kiều, ngụ trên đất khách.”
- Nhiều năm đã trôi qua, vua của Ai Cập đã băng hà. Dân Y-sơ-ra-ên than thở vì ách nô lệ, và tiếng khóc than của họ đã thấu đến Đức Chúa Trời. 24. Ðức Chúa Trời đã nghe tiếng than van của họ, và Ðức Chúa Trời đã nhớ lại giao ước của Ngài với Áp-ra-ham, với Y-sác, và với Gia-cốp. 25. Đức Chúa Trời đoái xem dân Y-sơ-ra-ên và quan tâm đến họ.
3
- Môi-se đang chăn bầy cho Giê-trô, nhạc phụ của mình, là một tư tế của dân Ma-đi-an. Ông đã dẫn bầy chiên qua phía bên kia của hoang mạc, đến Hô-rếp, là núi của Đức Chúa Trời. 2. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đã hiện ra với ông trong ngọn lửa giữa một bụi gai. Ông nhìn thấy bụi gai cháy bừng lửa, nhưng kìa nó không hề tàn. 3. Môi-se nói: “Ta phải quay lại xem cảnh tượng kỳ lạ nầy, tại sao bụi gai không bị thiêu rụi.”
- Đức Giê-hô-va thấy ông quay lại để xem, từ giữa bụi gai Đức Chúa Trời gọi ông: “Môi-se, Môi-se!” Ông thưa: “Có con đây!” 5. Ngài phán: “Đừng đến gần nơi nầy! Hãy cởi dép khỏi chân của con, bởi vì nơi con đang đứng là đất thánh.” 6. Ngài lại phán: “Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ con: Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.” Môi-se che mặt của mình vì sợ nhìn thấy Đức Chúa Trời.
- Đức Giê-hô-va phán: “Thật vậy, Ta đã thấy sự áp bức dân Ta tại Ai Cập, Ta đã nghe tiếng họ kêu than vì những kẻ áp bức họ, và Ta thấu hiểu nỗi đau của họ. 8. Vì vậy Ta đã ngự xuống để giải cứu họ ra khỏi tay của người Ai Cập, để đem họ từ xứ đó đến một xứ tốt đẹp rộng rãi – một xứ đượm sữa và mật – là đất của các dân Ca-na-an, Hê-tít, A-mô-rít, Phê-rê-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít. 9. Giờ đây, tiếng kêu van của dân Y-sơ-ra-ên đã thấu đến Ta, và Ta đã thấy sự áp bức mà dân Ai Cập đã đàn áp họ. 10. Vì vậy bây giờ, hãy đến, Ta sẽ sai con đến Pha-ra-ôn, để con đem dân của Ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi Ai Cập.”
- Nhưng Môi-se thưa với Đức Chúa Trời: “Con là ai mà dám đến với Pha-ra-ôn và đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập?”
- Nhưng Ngài phán: “Ta sẽ ở với con. Đây là dấu hiệu để con biết rằng Ta đã sai con đi: Khi con đã đem dân chúng ra khỏi Ai Cập, các ngươi sẽ thờ phượng Đức Chúa Trời trên núi nầy.”
- Môi-se thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu con đi đến với dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ: Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã sai tôi đến với anh em; rồi họ hỏi con: Tên của Ngài là gì? thì con sẽ nói với họ như thế nào?”
- Đức Chúa Trời phán với Môi-se: “TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU”. Ngài phán: “Con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên như thế nầy: ĐẤNG TỰ HỮU đã sai tôi đến với anh em.”
- Đức Chúa Trời lại phán với Môi-se: “Con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên thế nầy: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã sai tôi đến với anh em: Đây là danh đời đời của Ta, phải được ghi nhớ bởi mọi thế hệ. 16. Hãy đi triệu tập các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên lại, và nói với họ rằng: Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của tổ phụ quý vị, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của Gia-cốp, đã hiện ra với tôi và phán: Ta đã thật sự quan tâm đến các ngươi và thấy những điều đã làm cho các ngươi tại Ai Cập. 17. Ta đã phán rằng Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi cảnh khổ đau tại Ai Cập, để đến xứ của dân Ca-na-an, Hê-tít, A-mô-rít, Phê-rê-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít – là xứ đượm sữa và mật. 18. Họ sẽ nghe lời con. Con và các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên hãy đến yết kiến vua của Ai Cập, và nói rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, đã hiện ra với chúng tôi. Bây giờ, xin cho chúng tôi được đi ba ngày đường vào hoang mạc để dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi. 19. Nhưng Ta biết chắc rằng vua của Ai Cập sẽ không bao giờ cho các ngươi đi, trừ khi có một bàn tay quyền năng can thiệp. 20. Vì vậy, Ta sẽ đưa tay ra đánh Ai Cập. Ta sẽ thể hiện đủ thứ những phép lạ của Ta giữa nơi đó, cuối cùng nó sẽ để cho các ngươi ra đi. 21. Ta sẽ làm cho dân nầy được ơn trong mắt của người Ai Cập, để khi các ngươi ra đi, các ngươi sẽ không ra đi tay không. 22. Mỗi phụ nữ sẽ hỏi xin người lân cận của mình và những phụ nữ sống chung nhà với mình những vật dụng bằng bạc, những vật dụng bằng vàng, và những trang phục. Các ngươi hãy mặc trên các con trai và các con gái các ngươi. Các ngươi sẽ tước đoạt dân Ai Cập như vậy.”
4
- Môi-se đã trả lời và nói: “Nếu họ không tin con, hay không chịu nghe lời của con. Họ có thể nói: Đức Giê-hô-va đâu có hiện ra với ông.”
- Đức Giê-hô-va hỏi ông: “Trong tay của con có vật gì?” Ông trả lời: “Một cây gậy.” 3. Ngài phán: “Hãy quăng nó xuống đất.” Ông quăng nó xuống đất, thì nó trở thành một con rắn. Môi-se đã chạy tránh khỏi nó. 4. Đức Giê-hô-va nói với Môi-se: “Hãy đưa tay của con ra và nắm lấy đuôi của nó.” Ông đưa tay ra nắm lấy nó, thì nó trở thành cây gậy trong tay của ông.
- Việc nầy sẽ khiến họ tin rằng Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ họ – là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp – đã hiện ra với con.
- Đức Giê-hô-va lại phán với ông: “Hãy đặt tay của con vào trong ngực của con.” Ông đặt tay của ông vào trong ngực của ông, và khi lấy tay ra, kìa, tay của ông bị phung cùi trắng như tuyết. 7. Ngài phán: “Hãy đặt tay của con trở lại vào trong ngực của con.” Ông đặt tay vào trong ngực trở lại, và khi lấy tay ra khỏi ngực, kìa, thịt đã được phục hồi.
- Như vậy: “Nếu họ không tin con mà cũng không nghe sứ điệp qua dấu lạ thứ nhất, thì họ sẽ tin sứ điệp từ dấu lạ thứ hai. 9. Nhưng nếu họ không tin cả hai dấu lạ nầy, và cũng không lắng nghe lời của con, thì hãy lấy nước dưới sông Nin đổ trên đất khô. Nước mà con đã lấy từ sông Nin sẽ biến thành huyết trên mặt đất.”
- Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Chúa ôi! Con không phải là một người nói chuyện lưu loát. Từ lúc Ngài phán với đầy tớ của Ngài, từ hôm qua, và từ trước đó nữa, con là người có lưỡi chậm chạp và nói ngập ngừng.”
- Đức Giê-hô-va đã phán với ông: “Ai đã tạo nên miệng của loài người? Ai đã làm cho câm, cho điếc, cho mù, hay thấy được? Không phải bởi Ta là Đức Giê-hô-va hay sao? 12. Vì vậy, bây giờ hãy đi. Ta sẽ ở với miệng của con và dạy cho con những lời phải nói.”
- Nhưng ông nói: “Chúa ôi! Xin Ngài hãy sai … Con cầu xin Ngài dùng tay của người mà Ngài sẽ sai.”
- Đức Giê-hô-va nổi giận cùng Môi-se. Ngài phán: “Không phải A-rôn, người Lê-vi, là anh của con hay sao? Ta biết nó nói giỏi. Kìa, nó đang đến để gặp con. Khi nó thấy con, lòng của nó sẽ vui mừng. 15. Con hãy nói với nó, và đặt lời lẽ vào trong miệng của nó. Chính Ta sẽ ở với miệng của con cũng như với miệng của nó. Ta sẽ dạy các con những gì phải thực hiện. 16. Nó sẽ nói với dân chúng thay cho con. Nó sẽ như là cái miệng của con; còn con sẽ như là Ðức Chúa Trời của nó. 17. Con hãy cầm cây gậy nầy trong tay – đó là vật mà con sẽ dùng để thực hiện những dấu lạ.”
- Vì vậy, Môi-se đã trở về với Giê-trô, nhạc phụ của mình, rồi nói với ông: “Xin cho con trở về với anh em của con tại Ai Cập, để xem họ còn sống hay không.” Giê-trô nói với Môi-se: “Con hãy đi bình an.”
- Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se tại Ma-đi-an rằng: “Hãy trở về Ai Cập bởi vì tất cả những người tìm hại mạng sống của con đã chết.”
- Môi-se đã dẫn vợ và các con trai của mình, đặt họ trên một con lừa, rồi lên đường trở về xứ Ai Cập. Môi-se cầm cây gậy của Đức Chúa Trời trong tay của mình.
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Khi trở về Ai Cập, hãy thi thố tất cả những việc kỳ diệu mà Ta đã giao vào trong tay của con. Con hãy thực hiện trước mặt Pha-ra-ôn. Nhưng Ta sẽ khiến lòng của nó cứng cỏi, nó sẽ không cho dân chúng ra đi. 22. Nhưng con hãy nói với Pha-ra-ôn, Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Y-sơ-ra-ên là con của Ta, là con đầu lòng của Ta, 23. vì vậy Ta phán với ngươi rằng: Hãy để cho con của Ta đi, để nó phụng sự Ta. Nếu ngươi từ chối không chịu cho nó đi, thật vậy, Ta sẽ giết con của ngươi, là con trưởng nam của ngươi.”
- Thời gian trôi qua, dọc đường, tại nơi cắm trại, Đức Giê-hô-va hiện ra với Môi-se, và tìm cách giết ông. 25. Sê-phô-ra đã lấy một con dao bằng đá, cắt quy đầu dương bì của con mình, quăng nó vào chân của ông, rồi nói: “Thật vậy đối với tôi, ông là một chàng rễ đẫm máu.” 26. Sau đó, Ngài đã để cho ông được yên. Bà đã nói “chàng rễ đẫm máu” vì việc cắt bì.
- Đức Giê-hô-va đã phán với A-rôn: “Hãy đến gặp Môi-se tại hoang mạc.” Vì vậy ông đã đi, rồi gặp người tại núi của Đức Chúa Trời, và đã hôn người. 28. Môi-se thuật lại cho A-rôn mọi lời của Đức Giê-hô-va, là Đấng đã sai ông, và tất cả những dấu lạ mà Ngài đã truyền cho ông.
- Môi-se và A-rôn đã đi triệu tập tất cả các trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên. 30. A-rôn đã thuật lại tất cả những lời mà Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se, và làm những dấu lạ trước sự chứng kiến của dân chúng. 31. Họ đã tin. Khi họ nghe rằng Đức Giê-hô-va đã thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên và đoái xem cảnh khổ đau của họ, thì họ cúi đầu thờ lạy.
5
- Sau đó, Môi-se và A-rôn đã đến nói với Pha-ra-ôn: “Đây là điều mà Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên, đã phán: ‘Hãy cho dân của Ta đi, để họ thờ phượng Ta tại hoang mạc.'”
- Pha-ra-ôn nói: “Giê-hô-va là ai mà ta phải vâng lời để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi? Ta không biết Giê-hô-va, và ta sẽ không cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi.”
- Họ thưa: “Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã hiện ra với chúng tôi. Xin hãy cho chúng tôi đi ba ngày vào hoang mạc để dâng sinh tế cho Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của chúng tôi. Nếu không Ngài sẽ đổ dịch bệnh và gươm đao trên chúng ta.”
- Nhưng vua của Ai Cập đã nói với họ: “Môi-se và A-rôn! Tại sao các ngươi làm cho dân chúng xao lãng công việc của họ? Hãy trở về làm việc đi!” 5. Pha-ra-ôn nói: “Hãy xem này, có quá nhiều người ở trong xứ mà các ngươi muốn cho họ nghỉ ngơi công việc của họ.”
- Ngày hôm đó, Pha-ra-ôn ra lệnh cho các đốc công của dân chúng và các viên chức rằng: 7. “Các ngươi sẽ không phát rơm cho dân chúng để làm gạch như trước nữa. Hãy để cho họ tự đi kiếm rơm. 8. Số lượng gạch mà họ đã làm trước đây thì các ngươi vẫn áp dụng như vậy cho họ. Các ngươi không giảm nó xuống, bởi vì họ làm biếng cho nên họ đã đòi: Hãy cho chúng tôi đi để dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời của chúng tôi. 9. Hãy giao thêm công việc cho họ, để họ chăm chú hoàn thành việc đó, và không chú ý đến những lời dối trá.”
- Vì vậy các đốc công và các viên chức đã nói với dân chúng rằng: “Pha-ra-ôn đã nói như thế nầy: Ta sẽ không cung cấp rơm cho các ngươi nữa. 11. Các ngươi hãy đi và tự kiếm rơm cho mình, tại nơi nào có thể kiếm được, nhưng công việc của các ngươi thì không giảm.”
- Vì vậy dân chúng đã đi tản mác khắp xứ Ai Cập để kiếm rạ làm rơm. 13. Các đốc công ép họ: “Hãy hoàn thành công việc theo quy định mỗi ngày như lúc có rơm.” Các viên chức của dân Y-sơ-ra-ên đã bị các đốc công, là những người mà Pha-ra-ôn đặt để trên họ, đánh đập. Họ bị hạch sách: “Tại sao các ngươi không hoàn tất số gạch đã được giao phó cho ngày hôm qua và cho ngày hôm nay, giống như trước?”
- Các viên chức người Y-sơ-ra-ên đã đến kêu van với Pha-ra-ôn: “Tại sao ngài đối xử với các đầy tớ của ngài như vậy? 16. Họ bảo chúng tôi làm gạch, nhưng các đầy tớ của ngài không được cung cấp rơm. Thật ra, các đầy tớ của ngài bị đánh đập là do lỗi từ những người của ngài.”
- Nhưng ông nói: “Đồ lười biếng! Các ngươi là những kẻ lười biếng, cho nên các ngươi đã nói như thế nầy: Chúng ta hãy đi dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va! 18. Vì vậy, bây giờ hãy đi làm việc đi. Các ngươi sẽ không được phát rơm, nhưng các ngươi vẫn phải nộp đủ số gạch quy định.”
- Các viên chức người Y-sơ-ra-ên thấy họ lâm vào cảnh khó khăn khi được bảo rằng các ngươi không được giảm số gạch theo quy định mỗi ngày. 20. Khi rời khỏi Pha-ra-ôn, họ đã gặp Môi-se và A-rôn đang đứng đợi họ tại đó. 21. Họ đã nói với các ông: “Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và xử các ông, bởi vì các ông đã làm cho chúng tôi trở thành mùi hôi hám trước mắt của Pha-ra-ôn và triều thần của ông ấy. Các ông đã trao gươm vào tay của họ để họ giết chúng tôi.”
- Môi-se trở về, thưa với Đức Giê-hô-va: “Lạy Chúa! Tại sao Ngài đem hoạn nạn này đến cho dân chúng? Tại sao Ngài lại sai con đến đây? 23. Kể từ khi con nhân danh Ngài đến nói chuyện với Pha-ra-ôn, ông ấy đã làm chuyện tàn ác với dân nầy, nhưng Ngài thì không làm gì cả để giải cứu dân của Ngài.”
6
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Bây giờ con sẽ thấy những gì Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn. Bằng bàn tay quyền năng của Ta, hắn sẽ để cho họ ra đi; bằng bàn tay quyền năng của Ta, hắn sẽ đuổi họ ra khỏi xứ.”
- Đức Chúa Trời lại phán cùng Môi-se: “Ta là Đức Giê-hô-va. 3. Ta đã xuất hiện với Áp-ra-ham, với Y-sác, và với Gia-cốp, như là Đức Chúa Trời Toàn Năng, nhưng Ta chưa hề tỏ cho họ biết Ta là Giê-hô-va. 4. Ta cũng đã lập giao ước với họ để ban đất Ca-na-an cho họ, là đất mà họ đã cư ngụ như những ngoại kiều. 5. Ta đã nghe những lời kêu van của dân Y-sơ-ra-ên đang bị làm nô lệ tại Ai Cập, và Ta đã nhớ lại giao ước của Ta. 6. Vì vậy, hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên: Ta là Đức Giê-hô-va. Ta sẽ giải cứu các con khỏi những lao khổ mà người Ai Cập đặt để trên các con. Ta sẽ giải thoát các con khỏi ách nô lệ. Ta sẽ giang tay ra cứu chuộc các con và đoán phạt chúng bằng những đại họa. 7. Ta sẽ nhận các con làm dân của Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của các con. Các con sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, là Đấng đã giải cứu các con khỏi những lao khổ của người Ai Cập. 8. Ta sẽ đem các con vào xứ mà Ta đã thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp. Ta sẽ ban xứ đó cho các con làm sản nghiệp. Ta là Đức Giê-hô-va.”
- Môi-se đã thuật lại những điều nầy với dân Y-sơ-ra-ên, tuy nhiên họ không nghe Môi-se, bởi vì tinh thần họ bị suy sụp và vì ách nô lệ thật tàn ác.
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng: 11. “Hãy đi nói với Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập. Hãy cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ của hắn.” 12. Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Xin hãy xem, dân Y-sơ-ra-ên đã không chịu nghe con, làm sao Pha-ra-ôn chịu nghe con? Môi của con chưa được cắt bì.”
- Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn, truyền cho họ mạng lệnh liên hệ đến dân Y-sơ-ra-ên và Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, để đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập.
- Ðây là những trưởng tộc trong dòng họ của họ: Các con trai của Ru-bên – con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên – là: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn và Cạt-mi. Đó là những gia tộc thuộc về Ru-bên. 15. Các con trai của Si-mê-ôn là: Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha, và Sau-lơ, là con của một phụ nữ Ca-na-an. Đó là những gia tộc thuộc về Si-mê-ôn. 16. Lê-vi hưởng thọ một trăm ba mươi bảy tuổi. Đây là tên các con trai của Lê-vi, theo phổ hệ của họ, là: Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri. 17. Các con trai của Ghẹt-sôn là Líp-ni và Si-mê-i, theo gia tộc của họ. 18. Kê-hát hưởng thọ một trăm ba mươi ba tuổi. Các con trai của Kê-hát là: Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên. 19. Các con trai của Mê-ra-ri là: Mách-li và Mu-si. Đó là gia tộc nhà Lê-vi, theo phổ hệ của họ. 20. Am-ram cưới Giô-kê-bết, em gái của cha mình, làm vợ. Bà sinh cho ông A-rôn và Môi-se. Am-ram hưởng thọ một trăm ba mươi bảy tuổi. 21. Các con trai của Dít-sê-ha là: Cô-ra, Nê-phết và Xiếc-ri. 22. Các con trai của U-xi-ên là: Mi-sa-ên, Ên-sa-phan và Sít-ri. 23. A-rôn cưới Ê-li-sê-ba, con gái của A-mi-na-đáp, em gái của Na-ha-sôn, làm vợ. Bà sinh cho ông: Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma. 24. Các con trai của Cô-ra là: Át-si, Ên-ca-na và A-bi-a-sáp. Đó là những gia tộc thuộc về Cô-ra. 25. Ê-lê-a-sa, con trai của A-rôn, cưới một trong các con gái của Phu-ti-ên, làm vợ. Bà sinh Phi-nê-a cho ông. Đây là các trưởng tộc thuộc về Lê-vi, theo gia tộc của họ.
- Chính A-rôn và Môi-se là những người mà Đức Giê-hô-va đã phán: “Hãy đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập theo đội ngũ của họ.” 27. Những người đã nói với Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, để đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, chính là Môi-se và A-rôn nầy.
- Thời gian trôi qua, một ngày kia Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se tại xứ Ai Cập. 29. Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se rằng: “Ta là Đức Giê-hô-va. Hãy nói với Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, tất cả những gì Ta đã phán với con.” 30. Nhưng Môi-se thưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va: “Con là người có môi chưa được cắt bì. Làm thế nào Pha-ra-ôn chịu nghe theo lời của con?”
7
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy xem, Ta đã lập con như là Đức Chúa Trời của Pha-ra-ôn, còn A-rôn, anh của con, sẽ làm kẻ tiên tri của con. 2. Con hãy thuật lại tất cả những gì Ta đã truyền cho con, còn A-rôn, anh của con, sẽ nói với Pha-ra-ôn để hắn cho dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi nước của hắn. 3. Nhưng Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, và sẽ thực hiện nhiều dấu kỳ và phép lạ của Ta trong xứ Ai Cập. 4. Bởi vì Pha-ra-ôn sẽ không nghe con, cho nên Ta sẽ giáng tay của Ta trên Ai Cập với những cơn đoán phạt nặng nề, để đem đạo quân của Ta, dân của Ta, là dòng dõi Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ Ai Cập. 5. Khi Ta giang tay của Ta chống lại Ai Cập để đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa họ, thì người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”
- Môi-se và A-rôn đã làm như vậy. Họ đã làm theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho họ. 7. Môi-se đã được tám mươi tuổi và A-rôn được tám mươi ba tuổi, khi họ yết kiến Pha-ra-ôn.
- Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se và A-rôn rằng: 9. “Khi Pha-ra-ôn bảo các con: Chính các ngươi hãy tỏ cho ta một phép lạ, thì con hãy nói với A-rôn rằng: Hãy cầm cây gậy của anh, rồi ném nó xuống trước mặt Pha-ra-ôn, thì nó sẽ biến thành một con rắn.”
- Vì vậy Môi-se và A-rôn đã đến với Pha-ra-ôn, và làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền. A-rôn ném cây gậy của mình trước mặt Pha-ra-ôn và trước mặt các triều thần của ông, cây gậy đã biến thành một con rắn. 11. Pha-ra-ôn đã triệu tập các nhà thông thái và những thuật sĩ – các phù thủy của Ai Cập đã dùng ma thuật của họ cũng làm như vậy. 12. Mỗi người đều quăng cây gậy của mình xuống, chúng biến thành những con rắn; tuy nhiên cây gậy của A-rôn đã nuốt tất cả những cây gậy của họ. 13. Lòng của Pha-ra-ôn trở nên cứng cỏi, không lắng nghe họ – y như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.
- Sau đó Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se: “Lòng của Pha-ra-ôn đã cứng cõi, từ chối không để cho dân chúng ra đi. 15. Hãy đến gặp Pha-ra-ôn vào buổi sáng, lúc hắn đi ra bờ sông. Con hãy đứng chờ để gặp hắn bên bờ sông Nin. Con hãy cầm trong tay cây gậy đã biến thành con rắn. 16. Con hãy nói với hắn rằng: Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, đã sai tôi đến để nói với ngài rằng: Hãy để cho dân của Ta đi để chúng thờ phượng Ta trong đồng hoang, nhưng cho đến bây giờ ngươi vẫn không chịu nghe. 17. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã phán: Bởi việc nầy ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va. Tôi sẽ đập cây gậy trong tay tôi trong nước sông Nin, và chúng sẽ biến thành máu. 18. Cá dưới sông Nin sẽ chết; sông Nin sẽ hôi thối; và người Ai Cập sẽ kinh tởm mà uống nước sông Nin.”
- Sau đó, Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se: “Hãy nói với A-rôn: Hãy cầm cây gậy của anh, giang tay của anh trên các dòng nước của Ai Cập, trên những suối, trên những sông, trên những ao, và trên tất cả các hồ, để chúng sẽ biến thành máu – và rồi nước trong cả xứ Ai Cập sẽ biến thành máu, ngay cả nước trong các thùng gỗ hay trong các vại đá cũng như vậy.”
- Môi-se và A-rôn đã làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền. Ông đã giơ gậy lên đập xuống nước sông Nin, trước mặt Pha-ra-ôn và trước mặt những người phục vụ ông. Tất cả nước sông Nin đều biến thành máu. 21. Cá dưới sông Nin chết; sông Nin bị hôi thối; và người Ai Cập không thể uống nước sông Nin – bởi vì nước trong cả xứ Ai Cập đều biến thành máu. 22. Các phù thủy Ai Cập cũng dùng các pháp thuật của họ làm được như vậy; do đó lòng của Pha-ra-ôn cứng cỏi hơn; ông không chịu nghe lời họ như Đức Giê-hô-va đã phán. 23. Pha-ra-ôn trở về cung điện, không chút bận tâm về điều đó.
- Vì vậy, dân Ai Cập đã đào lỗ dọc theo sông Nin để tìm nước uống, bởi vì họ không thể uống nước sông Nin. 25. Bảy ngày đã trôi qua sau khi Đức Giê-hô-va giáng tai họa trên sông Nin.
8
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Hãy đi đến Pha-ra-ôn rồi nói với hắn rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy để cho dân của Ta đi để họ phục vụ Ta. 2. Nếu ngươi từ chối không chịu cho đi, nầy, Ta sẽ giáng ếch nhái trên khắp bờ cõi của ngươi. 3. Sông sẽ đầy ếch nhái, và rồi chúng sẽ vào trong nhà của ngươi, vào trong phòng ngủ của ngươi, lên trên giường của ngươi, vào trong nhà các quần thần của ngươi, và trong nhà dân chúng của ngươi, vào trong các lò nướng, vào trong các chậu nhồi bột của các ngươi. 4. Ếch nhái sẽ bò lên ngươi, lên dân chúng của ngươi, và tất cả quần thần của ngươi.”
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy nói với A-rôn, anh của con: Hãy giang cây gậy trong tay của ngươi trên các dòng suối, trên các con sông, trên các ao hồ, khiến cho ếch nhái tràn lên xứ Ai Cập.”
- A-rôn đã đưa tay của mình ra trên những chỗ có nước tại Ai Cập. Ếch nhái đã tràn lên, bao phủ khắp cả xứ Ai Cập. 7. Các thuật sĩ cũng dùng những pháp thuật của họ đem ếch nhái tràn khắp xứ Ai Cập.
- Pha-ra-ôn đã gọi Môi-se và A-rôn đến rồi nói: “Hãy cầu xin Đức Giê-hô-va để Ngài khiến ếch nhái lìa khỏi ta và dân của ta, thì ta sẽ để cho dân của các ngươi ra đi, để họ dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va.” 9. Môi-se nói với Pha-ra-ôn rằng: “Xin hãy cho tôi biết khi nào tôi sẽ được vinh dự cầu thay cho bệ hạ, cho quần thần, và cho dân chúng của bệ hạ, để ếch nhái bị tiêu diệt khỏi bệ hạ và nhà của bệ hạ, và chúng chỉ còn lại dưới sông Nin mà thôi.” 10. Ông nói: “Ngày mai.” Môi-se nói: “Việc nầy sẽ xảy ra y như lời bệ hạ đã nói, để bệ hạ biết rằng không có ai giống như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi. 11. Ếch nhái sẽ rời khỏi bệ hạ, khỏi những đền đài của bệ hạ, khỏi quần thần của bệ hạ, và khỏi dân chúng của bệ hạ. Chúng sẽ chỉ còn tại sông Nin mà thôi.”
- Sau đó Môi-se và A-rôn đã rời khỏi Pha-ra-ôn, Môi-se đã cầu xin Đức Giê-hô-va về nạn ếch nhái mà Ngài đã đem đến để trừng phạt Pha-ra-ôn. 13. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã làm theo lời Môi-se cầu xin. Ếch nhái chết trong nhà, trong cung, ngoài đồng. 14. Chúng bị gom lại thành nhiều đống, và hôi thối khắp cả xứ. 15. Nhưng khi Pha-ra-ôn thấy ông đã được thoát nạn, thì ông lại cứng lòng – không chịu nghe lời của họ – đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy nói với A-rôn rằng: Hãy giơ cây gậy của anh ra, rồi đập trên đất bụi, để chúng biến thành muỗi khắp xứ Ai Cập.”
- Và họ đã làm như vậy. A-rôn đã giang cây gậy trong tay của mình, rồi đập xuống bụi đất. Bụi đất trở thành muỗi bám lên người và thú vật. Tất cả bụi trong xứ đã biến thành muỗi trong cả nước Ai Cập. 18. Các thuật sĩ đã dùng ma thuật để hóa muỗi, nhưng họ không thể làm được. Vì vậy muỗi cứ bám trên người và thú vật. 19. Các thuật sĩ tâu với Pha-ra-ôn: “Đây là ngón tay của Đức Chúa Trời.” Nhưng lòng Pha-ra-ôn đã cứng cõi, không chịu nghe lời của họ, đúng như lời của Đức Giê-hô-va phán.
- Sau đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy dậy thật sớm và đứng chờ Pha-ra-ôn lúc hắn đi ra dạo bên sông, rồi nói với hắn: Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy cho dân của Ta đi để chúng phụng sự Ta. 21. Nếu ngươi không để cho dân của Ta đi, Ta sẽ sai ruồi đến trên ngươi, trên quần thần của ngươi, và trên dân chúng của ngươi. Chúng sẽ vào trong các cung điện của ngươi. Nhà của dân Ai Cập sẽ đầy ruồi, và chúng cũng phủ trên mặt đất. 22. Nhưng trong lúc đó, Ta sẽ biệt riêng vùng Gô-sen, là nơi dân Ta đang ở. Tại nơi đó sẽ không có ruồi, để ngươi có thể biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va tại xứ nầy. 23 Ta tạo sự khác biệt giữa dân của Ta và dân của ngươi. Ngày mai dấu lạ nầy sẽ xảy ra.”
- Và rồi, Đức Giê-hô-va đã làm như vậy. Những đàn ruồi dày đặc đã kéo vào cung điện của Pha-ra-ôn, và nhà của các quần thần. Đất đai đã bị tàn phá vì ruồi khắp cả xứ Ai Cập.
- Sau đó, Pha-ra-ôn đã gọi Môi-se và A-rôn, rồi nói: “Hãy đi dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời của các ngươi trong xứ nầy.” 26. Nhưng Môi-se nói rằng: “Làm như vậy thì không tốt, bởi vì người Ai Cập ghê tởm những sinh tế mà chúng tôi dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Nếu chúng tôi dâng những sinh tế ghê tởm trong mắt của người Ai Cập, liệu họ không ném đá chúng tôi hay sao? 27. Chúng tôi sẽ đi vào trong hoang mạc ba ngày đường để dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi như Ngài đã truyền cho chúng tôi.” 28. Pha-ra-ôn nói: “Ta sẽ để các ngươi đi dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi trong hoang mạc, nhưng không được đi quá xa. Hãy đi cầu nguyện cho ta.” 29. Môi-se đáp: “Vâng, tôi sẽ rời khỏi bệ hạ và cầu nguyện với Đức Giê-hô-va. Ngày mai ruồi sẽ rời khỏi bệ hạ, khỏi quần thần của ngài, và dân chúng của ngài. Nhưng xin Pha-ra-ôn đừng lừa gạt mà không cho dân chúng đi dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va.”
- Môi-se đã rời khỏi Pha-ra-ôn, và cầu xin với Đức Giê-hô-va. 31. Đức Giê-hô-va đã làm theo lời của Môi-se, Ngài cất ruồi khỏi Pha-ra-ôn, khỏi quần thần của ông, và dân chúng của ông – không còn lại một con nào. 32. Nhưng lần nầy, Pha-ra-ôn cũng cứng lòng, không cho dân chúng ra đi.
9
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy đi gặp Pha-ra-ôn rồi nói với hắn rằng: Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, phán như vầy: Hãy để cho dân của Ta ra đi để họ phục vụ Ta. 2. Bởi vì nếu ngươi từ chối không cho họ đi, và cầm giữ họ lại. 3. Nầy, tay của Đức Giê-hô-va sẽ giáng một nạn dịch rất tàn khốc trên những gia súc của ngươi ở ngoài đồng: Trên ngựa, lừa, lạc đà, bò, và chiên. 4. Đức Giê-hô-va sẽ phân biệt giữa gia súc của dân Y-sơ-ra-ên và gia súc của dân Ai Cập: Không một con nào thuộc về dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị chết. 5. Đức Giê-hô-va đã ấn định thời hạn và phán rằng: Ngày mai, Đức Giê-hô-va sẽ thực hiện điều đó trong xứ nầy.”
- Ngày hôm sau, Đức Giê-hô-va đã làm như vậy. Tất cả các gia súc của dân Ai Cập bị chết, nhưng không một con nào trong các gia súc của dân Y-sơ-ra-ên bị chết. 7. Pha-ra-ôn đã sai người đi kiểm chứng. Thật vậy, không có một con nào của dân Y-sơ-ra-ên bị chết. Tuy nhiên lòng của Pha-ra-ôn đã trở nên cứng cỏi, và ông không cho dân chúng ra đi.
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn: “Hãy hốt tro trong lò, đầy bàn tay của các con; và rồi Môi-se sẽ tung nó vào khoảng không trước sự chứng kiến của Pha-ra-ôn. 9. Nó sẽ trở thành bụi trong cả xứ Ai Cập, và nó sẽ tạo thành ung nhọt, nung mủ trên người và thú vật trong cả xứ Ai Cập.”
- Họ đã lấy tro trong lò, đứng trước mặt Pha-ra-ôn, Môi-se tung nó vào khoảng không, và nó đã tạo thành ung nhọt, nung mủ trên người và thú vật. 11. Các thuật sĩ không thể đứng trước mặt Môi-se, bởi vì ung nhọt nổi trên các thuật sĩ và tất cả người Ai Cập. 12. Tuy nhiên Đức Giê-hô-va đã làm cho lòng của Pha-ra-ôn cứng cỏi; ông không lắng nghe lời của họ, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se.
- Sau đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy dậy sớm, đứng chầu Pha-ra-ôn, và hãy nói với hắn rằng: Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của người Hê-bơ-rơ, phán như vầy: Hãy để cho dân của Ta ra đi để họ phục vụ Ta. 14. Bởi vì lần nầy Ta sẽ giáng những tai họa xuống trên ngươi, trên quần thần của ngươi, và trên dân của ngươi, để ngươi biết rằng trên cả thế gian không có ai như Ta. 15. Bởi vì nếu ngay bây giờ, Ta giang tay của Ta ra, đánh ngươi và dân của ngươi bằng dịch bệnh, thì các ngươi sẽ bị biến mất khỏi mặt đất. 16. Nhưng đây là lý do tại sao Ta để cho ngươi sống: Đó là để quyền năng của Ta được bày tỏ cho ngươi, để danh của Ta được công bố khắp đất – 17. Dù cho ngươi vẫn tự cao, chống lại dân của Ta, và không để cho họ ra đi. 18. Ngày mai, vào giờ nầy, Ta sẽ khiến mưa đá thật lớn đổ xuống – Đây là điều chưa từng thấy tại Ai Cập, kể từ lúc lập quốc cho đến bây giờ. 19. Vì vậy, hãy thông báo để đem súc vật và những gì thuộc về ngươi ở ngoài đồng vào. Người nào hay súc vật nào còn ở ngoài đồng, không vào trong nhà, sẽ bị chết khi mưa đá trút xuống.”
- Những người kính sợ lời của Đức Giê-hô-va trong số các triều thần của Pha-ra-ôn đã vội vàng đem các tôi tớ và súc vật của họ vào nhà. 21. Tuy nhiên những kẻ xem thường lời của Đức Giê-hô-va vẫn để những tôi tớ và súc vật của họ ở ngoài đồng.
- Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se: “Hãy đưa tay của ngươi lên trời, để mưa đá giáng xuống khắp mọi nơi tại Ai Cập – trên người ta, trên thú vật, và trên mọi cây cối ngoài đồng trong khắp cả xứ tại Ai Cập.”
- Vì vậy Môi-se đã giơ gậy của ông lên trời, Đức Giê-hô-va gởi sấm sét, mưa đá, và tia chớp đến trên đất, rồi Đức Giê-hô-va giáng mưa đá xuống trên xứ Ai Cập. 24. Có mưa đá và chớp nhoáng quyện vào nhau. Mưa đá rất lớn đến nỗi kể từ khi lập quốc của nước Ai Cập cho đến bây giờ chưa hề có như vậy. 25. Mưa đá tàn phá tất cả những gì ở ngoài đồng trong cả xứ Ai Cập – từ loài người cho đến loài thú, và tất cả những hoa màu ngoài đồng. Mưa đá đã tàn phá mọi cây cối ở ngoài đồng. 26. Chỉ có xứ Gô-sen, nơi dân Y-sơ-ra-ên cư ngụ, thì không có mưa đá.
- Sau đó, Pha-ra-ôn đã triệu tập Môi-se và A-rôn, rồi nói: “Lần nầy ta đã phạm tội. Đức Giê-hô-va là công chính. Ta và dân của ta là những kẻ gian ác. 28. Hãy khẩn cầu Đức Giê-hô-va bởi vì đã đủ. Hãy xin Ngài ngừng sấm sét và mưa đá thì ta sẽ để cho các ngươi ra đi, và các ngươi không cần phải ở lại đây nữa.”
- Môi-se trả lời ông: “Ngay khi ra khỏi thành, tôi sẽ giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va. Sấm sét sẽ ngừng, sẽ không còn mưa đá nữa, để bệ hạ biết rằng trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va. 30. Nhưng tôi biết rằng bệ hạ và quần thần của bệ hạ chưa kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời.”
- Lúc nầy cây đay và lúa mạch bị tàn phá, bởi vì lúa mạch đã trổ bông và cây lanh đã có nụ. 32. Nhưng lúa mì và tiểu mạch không bị thiệt hại, bởi vì chúng mọc muộn hơn.
- Khi Môi-se rời khỏi Pha-ra-ôn, đi ra ngoài thành, giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va, thì sấm sét và mưa đá ngưng lại, mưa cũng không còn đổ xuống trên đất nữa. 34. Nhưng khi Pha-ra-ôn thấy mưa đã ngưng, mưa đá và sấm sét không còn nữa, thì ông lại phạm tội – Lòng của ông và của những quần thần của ông cứng trở lại. 35. Lòng của Pha-ra-ôn chai cứng, không để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se.
10
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy đi đến với Pha-ra-ôn, bởi vì ta đã làm cho lòng của hắn và lòng quần thần của hắn cứng cỏi, để Ta có thể bày tỏ những dấu lạ nầy của Ta trước mặt hắn, 2. để rồi con có thể thuật lại cho con và cho cháu của mình về những việc Ta đã làm tại Ai Cập, cùng các dấu lạ mà Ta đã thực hiện ở giữa họ, để các con biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.”
- Vì vậy, Môi-se và A-rôn đã đến với Pha-ra-ôn và nói với ông: “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của người Hê-bơ-rơ, phán như vầy: Ngươi từ chối không chịu hạ mình trước mặt Ta bao lâu nữa? Hãy để cho dân của Ta đi để họ phục vụ Ta. 4. Bởi vì nếu ngươi từ chối không cho dân của Ta ra đi, hãy xem, ngày mai Ta sẽ đem châu chấu vào trong lãnh thổ của ngươi. 5. Chúng sẽ bao phủ mặt đất, đến nỗi không ai có thể thấy mặt đất được. Chúng sẽ ăn những gì còn sót lại – tức là những gì mưa đá còn chừa lại cho các ngươi. Chúng sẽ cắn phá mọi cây cối mọc lên cho ngươi ở ngoài đồng. 6. Chúng sẽ tràn ngập các cung điện của ngươi, tất cả dinh thự của các quần thần của ngươi, và nhà của toàn dân Ai Cập. Ðó là điều mà tổ phụ ngươi, hay tổ phụ của tổ phụ ngươi chưa hề thấy kể từ khi họ hiện diện trên đất cho đến ngày nay.” Rồi ông đã quay ra, và lìa khỏi Pha-ra-ôn.
- Sau đó, các quần thần của Pha-ra-ôn đã tâu với ông: “Người nầy cứ là một cái bẫy của chúng ta cho đến bao giờ? Hãy cho những người đó ra đi, để họ phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ! Bệ hạ không biết rằng Ai Cập đang bị tàn hại hay sao?”
- Môi-se và A-rôn đã được gọi quay trở lại để gặp Pha-ra-ôn. Ông đã nói với họ: “Hãy đi phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Nhưng ai là người sẽ đi?” 9. Môi-se trả lời: “Chúng tôi sẽ đi cả già lẫn trẻ, cả con trai lẫn con gái của chúng tôi. Chúng tôi sẽ đi với cả bầy chiên và bầy bò của chúng tôi, bởi vì chúng tôi phải tổ chức một đại lễ cho Đức Giê-hô-va.” 10. Ông nói với họ: “Nguyện Đức Giê-hô-va cứ ở với các ngươi để xem khi nào thì ta mới cho các ngươi ra đi với những con cái của các ngươi. Hãy xem, âm mưu độc ác đã lộ ra trước mặt. 11. Không thể nào như vậy! Bây giờ, những người đàn ông của các ngươi hãy đi, rồi phụng sự Đức Giê-hô-va, bởi vì đó là điều mà các ngươi đã yêu cầu.” Và rồi, họ đã bị đuổi ra khỏi sự hiện diện của Pha-ra-ôn.
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đưa tay của con ra trên đất Ai Cập, để châu chấu kéo đến trên đất Ai Cập, và chúng sẽ cắn nuốt tất cả thực vật, là những thứ còn còn lại sau trận mưa đá.”
- Vì vậy Môi-se đã đưa cây gậy của ông ra trên đất Ai Cập. Đức Giê-hô-va đã mang một trận gió đông thổi trên xứ suốt ngày và suốt đêm. Ðến sáng, trận gió đông mang châu chấu đến. 14. Châu chấu kéo đến bao phủ cả đất Ai Cập, rồi ở lại trên cả xứ Ai Cập, rất là nhiều – đến nỗi trước đó chưa hề có nhiều châu chấu như vậy, và sau nầy cũng không bao giờ có như vậy. 15. Chúng bao phủ cả mặt đất, khiến cả xứ đen kịt. Chúng ăn tất cả những thực vật ở trong xứ và những hoa quả của những cây mà mưa đá còn chừa lại, đến nỗi không còn một cây hoặc cỏ nào còn xanh ở ngoài đồng trong cả đất Ai Cập.
- Pha-ra-ôn đã vội vã gọi Môi-se và A-rôn đến, rồi nói: “Ta đã phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi và với các ngươi nữa. 17. Vì vậy bây giờ xin tha tội cho ta. Chỉ một lần nầy! Hãy cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, để Ngài cất khỏi ta tất cả sự chết chóc nầy.”
- Vì vậy, Môi-se đã lui ra khỏi Pha-ra-ôn và cầu xin Đức Giê-hô-va. 19. Đức Giê-hô-va đã chuyển một luồng gió tây rất mạnh đến cuốn châu chấu, rồi đùa chúng xuống Biển Đỏ. Không một con châu chấu nào còn lại trong cả xứ Ai Cập. 20. Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va đã làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng; ông không để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi.
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy đưa tay của con lên trời để bóng tối bao trùm xứ Ai Cập: Tối tăm đến nỗi có thể cảm nhận được. 22. Vì vậy Môi-se đã giơ tay của ông lên trời: Có sự tối tăm dày đặc trên cả xứ Ai Cập trong ba ngày.” 23. Người ta không thể thấy nhau được. Trong ba ngày đó, người ta không thể rời khỏi chỗ của mình – nhưng nơi ở của toàn dân Y-sơ-ra-ên thì có ánh sáng.
- Pha-ra-ôn đã gọi Môi-se và nói: “Hãy đi phục vụ Đức Giê-hô-va. Con cái các ngươi cũng đi với các ngươi, chỉ để bầy chiên và bầy bò ở lại.” 25. Nhưng Môi-se đã trả lời: “Bệ hạ hãy cho chúng tôi có những sinh tế để làm tế lễ thiêu dâng lên cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi. 26. Những đàn súc vật của chúng tôi phải đi với chúng tôi, không một móng nào sẽ bị bỏ lại; bởi vì chúng tôi phải chọn một số trong chúng để dùng trong sự phụng sự Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của chúng tôi. Chúng tôi chưa biết phải phụng sự Đức Giê-hô-va như thế nào, cho đến khi chúng tôi đến nơi đó.”
- Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va đã làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng; ông không để họ ra đi. 28. Pha-ra-ôn đã nói với Môi-se: “Hãy lui ra khỏi ta! Hãy coi chừng chính ngươi! Ngươi sẽ không bao giờ nhìn thấy ta nữa, bởi vì ngày nào ngươi thấy mặt ta thì ngươi sẽ chết!” 29. Môi-se trả lời: “Bệ hạ nói rất đúng! Tôi sẽ không bao giờ thấy mặt của bệ hạ nữa.”
11
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Ta sẽ giáng trên Pha-ra-ôn và Ai Cập một tai vạ nữa. Sau đó, hắn sẽ để cho các con ra đi. Khi hắn để cho các con ra đi, hắn chắc chắn sẽ đuổi sạch tất cả các con. 2. Hãy nói với dân chúng rằng mỗi người nam hãy hỏi xin người láng giềng của mình và mỗi người nữ hãy hỏi xin người láng giềng của mình những vật bằng bạc và những vật bằng vàng.”
- Đức Giê-hô-va ban cho họ được ơn trong mắt của người Ai Cập. Hơn nữa, trong mắt các quần thần của Pha-ra-ôn và trong mắt của dân chúng, Môi-se rất được kính trọng tại xứ Ai Cập.
- Môi-se nói: “Đức Giê-hô-va phán: Khoảng nửa đêm, Ta sẽ đi khắp Ai Cập. 5. Tất cả con đầu lòng trong đất Ai Cập sẽ chết, từ con đầu lòng của Pha-ra-ôn đang ngồi trên ngôi, cho đến con đầu lòng của một nữ nô lệ đang ngồi sau cối xay, cho đến tất cả con đầu lòng của các súc vật. 6. Sẽ có tiếng khóc than rất lớn trong toàn xứ Ai Cập – từ trước đến giờ chưa hề có, và trong tương lai cũng sẽ không hề có như vậy. 7. Tuy nhiên, giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên sẽ không có gì dời đổi, dù là của người hay là của thú vật, thậm chí cả tiếng chó sủa, để các ngươi biết rằng Đức Giê-hô-va phân biệt giữa người Y-sơ-ra-ên và người Ai Cập. 8. Tất cả quần thần nầy của ngài sẽ hạ mình xuống, và sấp mình xuống trước mặt tôi, rồi nói với tôi: Xin ông và tất cả dân chúng theo ông hãy ra đi. Sau đó tôi sẽ ra đi.” Ông nổi giận rời khỏi Pha-ra-ôn.
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Pha-ra-ôn đã không chịu nghe con, để các phép lạ của Ta được gia tăng trong xứ Ai Cập.” 10. Bởi vì Môi-se và A-rôn đã làm tất cả những phép lạ nầy trước mặt Pha-ra-ôn, nhưng Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, không chịu để cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ của ông.
12
- Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se và A-rôn trong xứ Ai Cập rằng: 2. “Tháng nầy sẽ là tháng đầu tiên của những tháng trong năm. Nó sẽ là tháng Giêng của các con. 3. Hãy nói cho toàn thể hội chúng của Y-sơ-ra-ên rằng vào ngày mười của tháng nầy, mỗi gia đình sẽ bắt một con chiên cho mình, mỗi nhà một con chiên. 4. Nếu gia đình nào quá ít, ăn không hết một con chiên, thì hãy cùng với người hàng xóm gần với mình, và tùy theo sức ăn của mỗi người, mà tính số chiên. 5. Con chiên phải là chiên đực, một tuổi, và toàn vẹn. Các con có thể chọn từ bầy chiên hay bầy dê của các con. 6. Các con phải giữ nó cho đến ngày mười bốn của tháng nầy, rồi toàn thể hội chúng của Y-sơ-ra-ên sẽ giết con vật đó vào lúc hoàng hôn. 7. Họ sẽ lấy huyết bôi trên thanh ngang và hai trụ cửa của căn nhà mà họ ăn thịt con chiên đó. 8. Họ sẽ ăn thịt được nướng trên lửa trong đêm đó. Họ sẽ ăn với bánh không men và rau đắng. 9. Đừng ăn thịt sống hoặc được luộc trong nước, nhưng phải nướng trên lửa, luôn cả đầu, chân, và nội tạng. 10. Các con đừng chừa lại gì cho đến sáng. Vật gì còn lại cho đến sáng, hãy thiêu nó trong lửa. 11. Các con hãy ăn như thế nầy: Lưng nai nịt, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn hối hả. Đó là lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va. 12. Bởi vì đêm đó Ta sẽ đi xuyên suốt khắp cả xứ Ai Cập. Ta sẽ giết tất cả con đầu lòng trong xứ Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú. Ta sẽ đoán phạt tất cả các thần linh của Ai Cập. Ta là Đức Giê-hô-va. 13. Huyết sẽ là dấu hiệu nơi các con đang ở trong nhà đó. Khi Ta thấy huyết, Ta sẽ vượt qua khỏi các con, và tai họa mà Ta đánh phạt để hủy diệt xứ Ai Cập sẽ không xảy đến cho các con.”
- “Đây là ngày mà các con phải kỷ niệm, và các con phải tổ chức lễ này cho Đức Giê-hô-va; trải qua mọi thế hệ, và các con phải giữ lễ nầy bởi một quy định đời đời. 15. Các con sẽ ăn bánh không men trong bảy ngày. Ngày thứ nhất các con phải cất bỏ men ra khỏi nhà của mình – bởi vì từ ngày thứ nhất cho đến ngày thứ bảy, ai ăn bánh có men thì người đó sẽ bị khai trừ khỏi dân Y-sơ-ra-ên. 16. Ngày thứ nhất sẽ có một cuộc nhóm họp thánh, và ngày thứ bảy cũng có một cuộc nhóm họp thánh. Các con không được làm việc gì, ngoại trừ việc chuẩn bị thức ăn là việc duy nhất có thể làm. 17. Các con hãy tổ chức Lễ Bánh Không Men, bởi vì vào chính ngày này, Ta sẽ đem tất cả các con ra khỏi Ai Cập. Các con sẽ giữ ngày lễ nầy qua mọi thế hệ như là một quy định đời đời. 18. Từ buổi chiều ngày mười bốn tháng Giêng, các con sẽ ăn bánh không men cho đến chiều ngày hai mươi mốt của tháng đó. 19. Trong bảy ngày, trong nhà của các con sẽ không có men. Ai ăn món gì có men sẽ bị khai trừ khỏi cộng đồng của dân Y-sơ-ra-ên, bất kể người đó là ngoại kiều hay là dân bản xứ. 20. Các con sẽ không được ăn vật gì có men. Các con hãy ăn bánh không men trong chỗ ở của các con.”
- Môi-se đã triệu tập tất cả trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, rồi nói với họ: “Các ngươi hãy bắt cho gia đình của mình một con chiên, rồi giết nó để làm Lễ Vượt Qua. 22. Hãy lấy một bó bài hương, nhúng vào huyết ở trong chậu, bôi lên thanh ngang và hai trụ cửa bằng huyết ở trong chậu. Không ai trong các ngươi được ra khỏi nhà của mình cho đến sáng. 23. Bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ đi qua để sát hại trong xứ Ai Cập, khi Ngài thấy huyết trên thanh ngang và hai trụ cửa, Ngài sẽ vượt qua cửa và không cho đấng hủy diệt vào nhà của các ngươi để sát hại các ngươi. 24. Các ngươi hãy giữ lễ nầy như là một quy định đời đời cho các ngươi và cho con cháu của các ngươi. 25. Khi các ngươi vào đất mà Đức Giê-hô-va sẽ ban cho các ngươi như Ngài đã hứa, các ngươi hãy giữ lễ nầy. 26. Khi con cháu của các ngươi hỏi: Lễ nầy có ý nghĩa gì? 27. Các ngươi hãy trả lời: Đó là Lễ Vượt Qua. Đức Giê-hô-va đã vượt qua những ngôi nhà của dân Y-sơ-ra-ên khi Ngài sát hại người Ai Cập, và Ngài đã giải cứu những gia đình của chúng ta. Dân chúng đã cúi đầu và thờ phượng.”
- Dân Y-sơ-ra-ên đã đi và làm theo điều mà họ phải làm như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se và A-rôn.
- Sau đó, lúc nửa đêm, Đức Giê-hô-va đã sát hại tất cả các con đầu lòng trong xứ Ai Cập, từ con đầu lòng của Pha-ra-ôn đang ngồi trên ngôi, cho đến con đầu lòng của những người đã bị bắt giam trong ngục, và tất cả con đầu lòng của súc vật. 30. Giữa đêm khuya, Pha-ra-ôn, tất cả các quần thần của ông, và toàn dân Ai Cập đều thức dậy. Có tiếng kêu khóc thảm thiết tại Ai Cập, bởi vì không có nhà nào là không có người chết. 31. Ông đã triệu tập Môi-se và A-rôn ngay trong đêm, rồi nói: “Các ngươi và cả dân Y-sơ-ra-ên hãy trỗi dậy, rồi ra khỏi dân của ta. Hãy đi phục vụ Đức Giê-hô-va như các ngươi đã nói. 32. Cũng hãy dẫn theo bầy chiên và bầy bò như lời các ngươi đã nói, và cũng hãy cầu phước cho ta nữa.”
- Người Ai Cập đã hối thúc dân chúng nhanh chóng ra khỏi xứ, bởi vì họ nói: “Chúng tôi sẽ chết hết!” 34. Vì vậy dân chúng đã đem theo bột nhồi chưa lên men và gói luôn cả những thùng nhồi bột trong vải, rồi vác lên vai.
- Dân Y-sơ-ra-ên cũng đã làm theo lời Môi-se đã dặn. Họ đã xin người Ai Cập những vật dụng bằng bạc, những vật dụng bằng vàng, và quần áo. 36. Đức Giê-hô-va đã làm cho dân chúng được ơn dưới mắt của người Ai Cập, cho nên họ đã vui lòng cho dân Y-sơ-ra-ên những gì họ xin. Dân Y-sơ-ra-ên đã tước đoạt của người Ai Cập là như vậy.
- Dân Y-sơ-ra-ên đã đi từ Ram-se đến Su-cốt. Có khoảng sáu trăm ngàn người đàn ông đi bộ, không tính trẻ em. 38. Cũng có một số đông những người tạp chủng cùng đi với họ, cùng với bầy chiên, bầy bò, và rất nhiều gia súc. 39. Họ đã nướng bột mà họ đã mang từ Ai Cập thành những bánh không men, bởi vì bột chưa kịp dậy men khi họ bị đuổi ra khỏi Ai Cập – bởi vì họ không thể chờ đợi được, và cũng vì họ cũng không kịp chuẩn bị những lương thực khác cho họ.
- Thời gian dân Y-sơ-ra-ên đã cư ngụ tại Ai Cập là bốn trăm ba mươi năm. 41. Cuối bốn trăm ba mươi năm, đúng vào ngày hôm đó, tất cả dân của Đức Giê-hô-va đã rời khỏi đất Ai Cập. 42. Ðó là đêm trọng đại mà Đức Giê-hô-va đã đem họ ra khỏi đất Ai Cập. Ðây là đêm mà toàn dân Y-sơ-ra-ên phải long trọng tưởng niệm Đức Giê-hô-va trong mọi thế hệ.
- Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se và A-rôn: “Đây là luật về Lễ Vượt Qua: Không một người ngoại bang nào được ăn lễ đó. 44. Tuy nhiên nô lệ nào được mua bằng tiền, và đã được cắt bì, thì người đó có thể ăn. 45. Du khách và người làm thuê sẽ không được ăn. 46. Hãy ăn ở trong nhà, không được đem ra khỏi nhà, và cũng không được làm gãy một cái xương nào. 47. Toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ đó. 48. Nếu một người ngoại quốc sống ở giữa các con muốn giữ Lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va, thì tất cả những người nam phải được cắt bì; rồi người đó mới được đến gần để dự. Người đó sẽ được xem như là một người bản xứ. Tuy nhiên, không có một người nam nào chưa chịu cắt bì, được phép ăn lễ đó. 49. Cùng một luật này được áp dụng cho người bản xứ và người ngoại quốc sống ở giữa các ngươi.”
- Tất cả dân Y-sơ-ra-ên đã làm theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se và A-rôn những gì họ phải làm. 51. Chính trong ngày đó, Đức Giê-hô-va đã đem tất cả dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.
13
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy biệt riêng ra thánh cho Ta tất cả con đầu lòng. Tất cả con đầu lòng của người ta hay của súc vật trong Y-sơ-ra-ên đều thuộc về Ta.”
- Môi-se nói với dân chúng rằng: “Hãy ghi nhớ ngày nầy, bởi vì đây là ngày mà Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng để đem các ngươi ra khỏi Ai Cập, tức là khỏi nhà nô lệ. Đừng ăn bánh có men. 4. Hôm nay, các ngươi ra đi vào tháng Giêng. 5. Và rồi Đức Giê-hô-va sẽ đưa các ngươi vào xứ của người Ca-na-an, người Hê-tít, người A-mô-rít, người Hê-vít, và người Giê-bu-sít, là một xứ đượm sữa và mật, mà Ngài đã hứa ban cho tổ phụ của các ngươi. Các ngươi hãy giữ lễ nầy trong tháng nầy. 6. Các ngươi hãy ăn bánh không men bảy ngày, và đến ngày thứ bảy hãy giữ lễ cho Đức Giê-hô-va. 7. Phải ăn bánh không men trong bảy ngày. Bánh có men không được thấy giữa các ngươi, và men cũng không được thấy giữa nơi ở của các ngươi. 8.Trong ngày đó hãy giải nghĩa cho con cháu của mình rằng: Bởi vì Đức Giê-hô-va đã làm điều nầy cho ta, để đem ta ra khỏi Ai Cập. 9. Điều đó sẽ là một dấu hiệu trên tay của ngươi, một sự nhắc nhở ở giữa hai mắt của ngươi, để cho luật pháp của Đức Giê-hô-va có thể ở nơi miệng của ngươi; bởi vì Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng để đem ngươi ra khỏi Ai Cập. 10. Vì vậy, các ngươi phải giữ mạng lệnh này đúng lúc từ năm này qua năm khác.”
- “Và rồi khi Đức Giê-hô-va đưa ngươi vào xứ Ca-na-an như Ngài đã hứa cùng ngươi và tổ phụ của ngươi, rồi ban xứ đó cho ngươi, 12. hãy biệt riêng ra cho Đức Giê-hô-va tất cả các con đầu lòng. Tất cả các con đực đầu lòng trong bầy súc vật của ngươi sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va. 13. Tuy nhiên với con lừa đầu lòng, ngươi phải dùng chiên con hay là dê con để chuộc lại – nếu không, ngươi phải bẻ gãy cổ của nó. Ngươi cũng phải chuộc mọi trưởng nam trong số những con trai của mình. 14. Và rồi, có lúc con trai của ngươi sẽ hỏi: Điều nầy có ý nghĩa gì? thì ngươi hãy nói với nó rằng: Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng để đem cha ra khỏi nhà nô-lệ tại Ai Cập. 15. Khi Pha-ra-ôn cứng lòng không chịu để chúng ta ra đi, Ngài đã giết hết các con đầu lòng trong xứ Ai Cập, từ con trưởng nam của người ta cho đến con đầu lòng của súc vật. Vì vậy cha phải dâng tất cả con đực đầu lòng cho Đức Giê-hô-va để làm sinh tế, nhưng tất cả con đầu lòng trong các con trai của cha, thì cha sẽ chuộc lại. 16. Đó sẽ là một dấu hiệu trên tay của các ngươi, và biểu tượng trên trán giữa hai mắt của các ngươi – bởi vì Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem chúng ta ra khỏi Ai Cập.”
- Khi Pha-ra-ôn để cho dân ra đi, Ðức Chúa Trời không dẫn họ đi ngang qua xứ của người Phi-li-tin, dù đó là đường gần hơn, bởi vì Ðức Chúa Trời phán: “Không nên để cho dân chúng thấy chiến tranh, vì họ có thể đổi ý, rồi trở lại Ai Cập.” 18. Vì vậy Ðức Chúa Trời đã dẫn họ đi vòng theo đường vào đồng hoang, về hướng Biển Đỏ. Dân Y-sơ-ra-ên đã đi theo đội ngũ để rời khỏi Ai Cập.
- Môi-se đã đem theo hài cốt của Giô-sép cùng với mình, bởi vì Giô-sép đã bắt dân Y-sơ-ra-ên thề long trọng khi ông nói: “Chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ thăm viếng các ngươi. Hãy đem hài cốt của ta rời khỏi nơi nầy với các ngươi.” 20. Vì vậy họ đã rời khỏi Su-cốt đến đóng trại tại Ê-tam giáp ranh với hoang mạc.
- Đức Giê-hô-va đã đi trước họ, ban ngày bằng một trụ mây để dẫn đường, ban đêm bằng một trụ lửa để soi sáng – để họ đi cả ngày lẫn đêm. 22. Ngài không cất trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm khỏi phía trước dân chúng.
14
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên quay lại đóng trại trước Phi Ha-hi-rốt, ở giữa Mít-đôn và biển, đối diện với Ba-anh Sê-phôn. Các ngươi hãy đóng trại tại phía trước của nơi đó, bên cạnh bờ biển. 3. Bởi vì Pha-ra-ôn nghĩ rằng: Dân Y-sơ-ra-ên không rành địa hình cho nên họ bị nhốt trong hoang mạc. 4.Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, hắn sẽ đuổi theo họ, để Ta sẽ được tôn vinh trên Pha-ra-ôn cùng cả quân đội của hắn; và rồi người Ai Cập sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.”
Họ đã làm như vậy.
- Khi vua Ai Cập được báo rằng dân chúng đã thoát đi, Pha-ra-ôn và các quần thần của ông đã đổi ý về việc dân chúng, họ nói: “Chúng ta đã thả cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi, không còn phục vụ chúng ta nữa. Chúng ta đã làm gì vậy?” 6. Do đó ông đã truyền lịnh chuẩn bị xe và dẫn quân cùng đi với mình. 7. Ông dẫn sáu trăm xe tuyển chọn, cùng tất cả các xe chiến mã khác trong xứ Ai Cập, và những sĩ quan chỉ huy chúng.
- Đức Giê-hô-va đã làm cho Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, cứng lòng đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên, trong khi dân nầy cứ mạnh dạn ra đi. 9. Người Ai Cập đã đuổi theo họ với tất cả ngựa, các xe chiến mã của Pha-ra-ôn, kỵ binh, cùng quân đội của ông – và đã đuổi kịp họ đang đóng trại trên bờ biển, gần Phi Ha-hi-rốt, ở phía trước của Ba-anh Sê-phôn.
- Khi Pha-ra-ôn đến gần, dân Y-sơ-ra-ên ngước mắt lên, nhìn thấy dân Ai Cập đang đuổi theo họ. Dân Y-sơ-ra-ên khiếp sợ, rồi kêu van cùng Đức Giê-hô-va. 11. Họ nói với Môi-se: “Tại Ai Cập không có đủ mồ để chôn hay sao mà ông lại đem chúng tôi vào trong hoang mạc nầy để chết? Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập để làm gì? 12. Không phải chúng tôi đã nói với ông tại Ai Cập rằng cứ để chúng tôi phục dịch dân Ai Cập hay sao? Bởi vì thà phục dịch họ còn hơn là phải chết trong hoang mạc!”
- Nhưng Môi-se nói với dân chúng: “Đừng khiếp sợ! Hãy đứng yên và nhìn xem sự giải cứu của Đức Giê-hô-va mà Ngài sẽ thực hiện vì các ngươi hôm nay. Những người Ai Cập mà các ngươi nhìn thấy hôm nay, các ngươi sẽ không bao giờ nhìn thấy họ trở lại nữa. 14. Đức Giê-hô-va sẽ chiến đấu vì các ngươi, còn các ngươi cứ giữ sự bình an.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Tại sao con kêu cầu Ta? Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên tiến về phía trước. 16. Về phần con, hãy đưa cây gậy của con lên, giang tay của con trên biển và nó sẽ rẽ ra. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ đi qua giữa biển như đi trên đất khô. 17. Thật vậy Ta sẽ làm cho người Ai Cập cứng lòng, họ sẽ rượt theo dân chúng. Ta sẽ được tôn vinh vì Pha-ra-ôn, vì những xe chiến mã, vì kỵ binh, và vì cả quân đội của hắn. 18. Người Ai Cập sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Pha-ra-ôn, những xe chiến mã, và kỵ binh của hắn làm Ta rạng danh.”
- Thiên sứ của Đức Chúa Trời, là Đấng đi trước trại quân của dân Y-sơ-ra-ên, đã di chuyển và đi phía sau của họ. Trụ mây cũng di chuyển từ phía trước của họ ra phía sau của họ. 20. Trụ mây án ngữ giữa trại quân của Ai Cập và trại quân của Y-sơ-ra-ên. Đám mây khiến bóng tối ở bên nầy, tuy nhiên bên kia thì ánh sáng tỏa rạng thâu đêm. Vì vậy, suốt đêm bên nầy không thể đến gần bên kia.
- Môi-se giơ tay của ông trên biển. Đức Giê-hô-va khiến một trận gió đông rất mạnh thổi trên biển suốt cả đêm. Nước đã rẽ ra và biển trở thành đất khô. 22. Dân Y-sơ-ra-ên đã đi giữa biển như trên đất khô, và nước tạo thành bức tường bên phải và bên trái của họ. 23. Người Ai Cập đã đuổi theo. Tất cả ngựa, những xe chiến mã, và kỵ binh của Pha-ra-ôn đã đi theo họ vào giữa biển. 24. Ðến canh sáng, Đức Giê-hô-va từ trong trụ mây và trụ lửa nhìn xuống quân đội Ai Cập, Ngài làm cho quân đội Ai Cập bị rối loạn. 25. Ngài đã tháo bánh xe của những xe chiến mã, làm chúng di chuyển cách khó khăn. Người Ai Cập nói với nhau: Chúng ta hãy chạy trốn khỏi dân Y-sơ-ra-ên. – Bởi vì Đức Giê-hô-va đã chiến đấu với người Ai Cập thay cho họ.
- Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se: “Hãy đưa cây gậy của con trên biển để nước quay trở lại phủ trên quân Ai Cập, trên những xe chiến mã, và kỵ binh của chúng.”
- Môi-se đã đưa tay của ông trên biển. Đến sáng thì biển phủ đầy độ sâu của nó. Trong lúc người Ai Cập tìm cách tẩu thoát khỏi đó, Đức Giê-hô-va đã lắc mạnh khiến người Ai Cập rơi vào giữa biển. 28. Nước đã quay trở lại, phủ lấp trên những xe chiến mã, những kỵ binh, và cả đạo quân của Pha-ra-ôn đã kéo để rượt đuổi họ, vào lòng biển. Không một người nào của họ còn sống sót. 29. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã đi giữa biển như trên đất khô, và nước đã tạo thành bức tường bên phải và bên trái của họ.
- Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay của người Ai Cập. Dân Y-sơ-ra-ên đã nhìn thấy xác chết của người Ai Cập trên bãi biển. 31. Vì dân Y-sơ-ra-ên đã chứng kiến việc lớn lao mà Đức Giê-hô-va đã làm cho dân Ai Cập, cho nên họ đã kính sợ Đức Giê-hô-va, đã tin cậy Đức Giê-hô-va và Môi-se, là đầy tớ của Ngài.
15
- Sau đó, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên đã hát bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va. Họ hát rằng:
“Tôi sẽ ca ngợi Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã đắc thắng khải hoàn. Ngài đã ném ngựa và người cưỡi ngựa xuống biển.
- Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là bài ca của tôi: Ngài là Đấng cứu rỗi tôi – Ngài là Đức Chúa Trời của tôi. Tôi sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi. Tôi tôn cao Ngài.
- Đức Giê-hô-va là một tướng lãnh. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va.
- Ngài đã ném xuống biển những xe chiến mã và quân đội của Pha-ra-ôn, và nhận chìm các sĩ quan tuyển chọn của hắn trong Biển Đỏ.
- Những dòng nước sâu đã vùi lấp chúng; chúng đã chìm xuống đáy biển như một hòn đá.
- Đức Giê-hô-va ôi! Tay phải của Ngài đã bày tỏ quyền năng vinh quang. Đức Giê-hô-va ôi! Tay phải của Ngài đã nghiền nát quân thù.
- Ngài đã đánh đổ những kẻ chống nghịch Ngài bằng sự cao cả và oai nghi của Ngài. Cơn giận của Ngài đã phát ra và tiêu diệt chúng như rơm rạ.
- Hơi thở từ lỗ mũi của Ngài khiến nước dồn lại, các dòng nước dựng đứng thành một đống, rồi đông cứng lại trong lòng biển sâu.
- Kẻ thù đã nói: Ta sẽ đuổi theo, ta sẽ bắt kịp, ta sẽ chia chiến lợi phẩm, ta sẽ thỏa nguyện, ta sẽ rút gươm, cánh tay của ta sẽ tiêu diệt chúng.
- Nhưng Ngài đã nổi gió lên, biển đã phủ lấp chúng, chúng chìm xuống như một cục chì trong những dòng nước cuồn cuộn.
- Đức Giê-hô-va ôi! Trong vòng các thần, có ai giống như Ngài? Có ai so được với Ngài: Oai nghi, thánh khiết, đáng kính, đáng tôn, và làm những việc diệu kỳ?
- Ngài đưa cánh tay phải của Ngài ra, đất liền nuốt trọn chúng.
- Ngài đã dẫn đoàn dân mà Ngài đã cứu chuộc bằng tình thương của Ngài; Ngài đã đưa họ về nơi ngự thánh của Ngài bằng quyền năng của Ngài.
- Các dân tộc nghe đến, đều khiếp sợ; nỗi sầu thảm đã chụp lấy dân Phi-li-tin.
- Các lãnh tụ của Ê-đôm bối rối; các dũng sĩ của Mô-áp run rẩy; tất cả cư dân Ca-na-an đều khiếp nhược.
- Nỗi khiếp sợ và kinh hoàng đã giáng trên chúng. Đức Giê-hô-va ôi! Do quyền năng của cánh tay Ngài, chúng đã bất động giống như đá cho đến khi đoàn dân của Ngài đã vượt qua – cho đến khi nào những người mà Ngài mua chuộc đã vượt qua.
- Đức Giê-hô-va ôi! Ngài sẽ đem họ đi, rồi trồng họ trên ngọn núi trong sản nghiệp của Ngài – tại nơi mà Ngài đã lập làm chỗ cư ngụ của Ngài, là chỗ mà Ngài đã thiết lập Nơi Thánh bằng cánh tay của Ngài.
- Đức Giê-hô-va sẽ trị vì đời đời mãi mãi.
- Khi ngựa, các xe chiến mã, và kỵ binh của Pha-ra-ôn xuống biển, thì Đức Giê-hô-va đã đem nước biển phủ lấp chúng, tuy nhiên dân Y-sơ-ra-ên đã đi giữa lòng biển trên đất khô.”
- Nữ tiên tri Mi-ri-am, chị của A-rôn, cầm trống lắc trong tay, đã bước ra; và rồi tất cả phụ nữ cầm trống lắc đã đi theo bà và nhảy múa. 21. Mi-ri-am đáp lại rằng: “Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va bởi vì Ngài đã đắc thắng khải hoàn. Ngài đã ném ngựa và người cưỡi ngựa xuống biển.”
- Sau đó, Môi-se đã đem dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Biển Đỏ, đi vào hoang mạc Su-rơ. Họ đã đi ba ngày trong hoang mạc nhưng không tìm thấy nước. 23. Khi họ đến Ma-ra, họ không thể uống nước tại Ma-ra được, bởi vì nước tại đó đắng. Vì vậy nơi đó đã có tên là Ma-ra. 24. Dân chúng phàn nàn với Môi-se: “Chúng tôi lấy gì để uống?” 25. Ông đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va. Ngài đã chỉ cho ông một khúc cây, ông đã ném nó xuống nước thì nước trở nên ngọt ngào.
Đức Giê-hô-va đã lập luật lệ và quy tắc cho dân chúng tại đó, và Ngài đã thử họ tại đó. 26. Ngài phán: “Nếu các ngươi cẩn thận nghe theo tiếng của Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi, và làm đúng trong cách nhìn của Ngài; nếu các ngươi lắng nghe và gìn giữ tất cả những mạng lệnh và quy luật của Ta, thì Ta sẽ không đem đến cho các ngươi bất cứ bệnh tật nào mà Ta đã giáng trên người Ai Cập, bởi vì Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng chữa lành các ngươi.”
- Sau đó, họ đã đến Ê-lim – là nơi có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là. Dân chúng đã đóng trại tại đó, bên cạnh các suối nước.
16
- Sau đó toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đã rời khỏi Ê-lim đến sa mạc Sin, nằm ở giữa Ê-lim và Si-nai, vào ngày mười lăm của tháng thứ hai kể từ khi họ rời khỏi Ai Cập. 2. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã oán trách Môi-se và A-rôn trong hoang mạc. 3. Dân Y-sơ-ra-ên đã nói với họ rằng: “Ước gì chúng tôi chết bởi tay của Đức Giê-hô-va trong xứ Ai Cập, vào lúc chúng tôi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê. Các ông đã đem chúng tôi vào trong hoang mạc nầy, để cả đoàn dân phải chết đói như thế nầy.”
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy xem! Ta sẽ ban mưa bánh từ trời xuống cho các ngươi. Mỗi ngày dân chúng hãy đi ra nhặt đủ khẩu phần cho mỗi ngày. Ta sẽ thử xem họ có đi theo luật lệ của Ta hay không. 5. Vào ngày thứ sáu, họ sẽ chuẩn bị và sẽ đem về sẽ gấp đôi những gì họ nhặt hằng ngày.”
- Môi-se và A-rôn đã nói với tất cả dân Y-sơ-ra-ên: “Chiều nay, anh em sẽ nhận biết rằng chính Đức Giê-hô-va đã đem anh em ra khỏi Ai Cập; 7. và sáng mai, anh em sẽ thấy sự vinh quang của Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã nghe lời của anh em đã oán trách Đức Giê-hô-va. Còn chúng tôi chẳng là gì để anh em phải oán trách.”
- Môi-se nói: “Buổi chiều Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho anh em ăn, và buổi sáng sẽ ban bánh sẽ dư dật, bởi vì Đức Giê-hô-va đã nghe lời anh em oán trách Ngài. Còn chúng tôi là cái gì? Không phải anh em đã oán trách chúng tôi, nhưng đã oán trách Đức Giê-hô-va.”
- Môi-se đã nói với A-rôn: “Hãy nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Hãy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã nghe lời oán trách của anh em.’” 10. Trong lúc A-rôn đang nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, họ nhìn về phía hoang mạc, thấy hào quang của Đức Giê-hô-va xuất hiện trong đám mây.
- Đức Giê-hô-va nói với Môi-se rằng: 12. “Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Hãy nói với họ rằng: Các ngươi sẽ được ăn thịt vào lúc hoàng hôn; đến sáng mai các ngươi sẽ có bánh ăn no nê. Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của các ngươi.”
- Chiều xuống, chim cút kéo đến bao phủ doanh trại. Sáng hôm sau, có một lớp sương bào phủ rồi đọng lại trên cả doanh trại. 14. Khi lớp sương đó tan đi, trên bề mặt của hoang mạc xuất hiện một vật nho nhỏ, tròn mịn như hạt sương đọng lại trên mặt đất.
- Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy vậy, họ hỏi nhau: “Vật gì vậy?” Bởi vì họ không biết vật đó là gì. Môi-se đã nói với họ: “Đó là bánh mà Đức Giê-hô-va ban cho anh em để làm thức ăn.”
- Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền: “Mỗi người, hãy nhặt một ô-me cho nhu cầu của mình. Hãy nhặt cho từng người tùy theo số người trong trại của mình.” 17. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm như vậy. Kẻ nhặt nhiều hơn, người nhặt ít hơn. 18. Khi họ đong bằng ô-me, ai nhặt nhiều cũng không dư, ai nhặt ít cũng không thiếu – Mỗi người tùy theo nhu cầu của từng người mà họ lấy.
- Môi-se nói: “Đừng có ai để dành đến sáng mai.” 20. Tuy nhiên họ không nghe lời của Môi-se. Một vài người đã để lại đến sáng mai thì nó sinh ra sâu và hôi thối. Môi-se nổi giận với họ. 21. Sáng nào cũng vậy, mỗi người đã nhặt theo khẩu phần của mình. Khi mặt trời nắng nóng, thì vật đó tan chảy.
- Vào ngày thứ sáu, họ nhặt gấp đôi số bánh, mỗi người hai ô-me. Tất cả những người lãnh đạo của hội chúng đã đến và trình với Môi-se. 23. Ông nói với họ: “Đây là lời Đức Giê-hô-va đã phán: Ngày mai là ngày Sa-bát, là ngày thánh dành cho Đức Giê-hô-va, đó là ngày nghỉ. Hãy nướng món gì anh em muốn nướng, hãy nấu món gì anh em muốn nấu, và rồi tất cả những gì còn lại hãy để dành cho đến sáng mai.” 24. Vì vậy họ để dành cho đến sáng mai như lời Môi-se đã truyền. Vật đó không có mùi hôi thối và cũng chẳng sinh sâu bọ ở trong đó. 25. Môi-se nói: “Hãy ăn thức ăn đó ngày hôm nay, bởi vì hôm nay là ngày Sa-bát dành cho Đức Giê-hô-va. Anh em sẽ chẳng tìm thấy vật đó ngoài đồng ngày hôm nay. 26. Anh em hãy nhặt trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, sẽ không có gì cả.”
- Tuy nhiên, vào ngày thứ bảy cũng có một vài người trong dân chúng đi ra để nhặt, nhưng họ chẳng tìm được gì. 28. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Các ngươi còn từ chối, không vâng theo điều răn và mệnh lệnh của Ta cho đến bao giờ? 29. Hãy suy nghĩ đi. Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi ngày Sa-bát, vì vậy trong ngày thứ sáu Ngài đã ban cho các ngươi lương thực đủ cho cả hai ngày. Mỗi người hãy ở tại nơi của mình. Không ai rời khỏi nơi của mình trong ngày thứ bảy.” 30. Vì vậy dân chúng đã nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy.
- Nhà của Y-sơ-ra-ên đã đặt tên cho vật đó là ma-na. Nó giống như một hạt ngò, màu trắng, vị như bánh tráng có mật ong.
- Môi-se nói: “Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền: Hãy đổ đầy một ô-me, rồi giữ lại cho các thế hệ, để chúng thấy bánh mà Ta đã nuôi các ngươi trong hoang mạc lúc Ta đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai Cập.” 33. Môi-se nói với A-rôn: “Hãy lấy một cái bình, đổ đầy trong đó một ô-me ma-na, rồi đặt trước mặt Đức Giê-hô-va để lưu giữ cho các thế hệ.” 34. A-rôn đã đặt vật đó trước Bảng Chứng Ước để được lưu giữ như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Dân Y-sơ-ra-ên đã ăn ma-na trong bốn mươi năm cho đến khi họ vào vùng đất định cư. Họ đã ăn ma-na cho đến khi họ đến biên giới của xứ Ca-na-an.
- Một ô-me là một phần mười của một ê-pha.
17
- Theo lệnh của Đức Giê-hô-va, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã nhổ trại. Từ hoang mạc Sin, họ đã đến đóng trại tại Rê-phi-đim, nhưng không có nước cho dân chúng uống. 2. Vì vậy, dân chúng đã gây chuyện với Môi-se, họ nói: “Hãy cho chúng tôi nước uống.” Môi-se nói với họ: “Tại sao các anh em gây chuyện với tôi? Tại sao các anh em thử Đức Giê-hô-va?” 3. Nhưng tại đó dân chúng bị khát nước, và rồi dân chúng đã oán trách Môi-se: “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập, rồi để cho chúng tôi, con cái, và súc vật của chúng tôi phải chết khát như thế nầy?” 4. Môi-se đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va rằng: “Con phải làm gì với dân nầy? Thiếu điều họ ném đá con!”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy đi trước dân chúng. Hãy dẫn theo một số trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, và cầm trong tay cây gậy mà con đã đập sông trên sông Nin, rồi đi. 6. Nầy, Ta sẽ đứng trước mặt con tại đó – trên vầng đá tại Hô-rếp. Con hãy đập vào vầng đá, nước từ vầng đá sẽ chảy ra, để cho dân chúng có thể uống.” Môi-se đã làm như vậy trước mặt các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên. 7. Ông đã đặt tên của nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, bởi vì dân Y-sơ-ra-ên đã gây chuyện và đã thử Đức Giê-hô-va, khi họ nói: “Đức Giê-hô-va có ở giữa chúng ta hay không?”
- Dân A-ma-léc đã đến tấn công dân Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim. 9. Môi-se nói với Giô-suê: Hãy chọn một số người trong chúng ta, rồi đi ra chiến đấu chống lại dân A-ma-léc. Ngày mai ta sẽ đứng trên đỉnh đồi với cây gậy của Ðức Chúa Trời ở trong tay của ta. 10. Giô-suê đã làm như lời Môi-se đã nói với ông để tranh chiến với người A-ma-léc; còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ thì đi lên đỉnh đồi. 11. Khi Môi-se đưa tay của ông lên thì dân Y-sơ-ra-ên thắng thế, nhưng khi nào ông hạ tay của ông xuống thì dân A-ma-léc lại thắng thế. 12. Khi tay của Môi-se đã mỏi, họ đã lấy một hòn đá đặt bên dưới để cho ông ngồi lên trên; rồi A-rôn và Hu-rơ đỡ tay của ông – một người bên nầy và một người bên kia. Tay của ông được giữ vững như vậy cho đến khi mặt trời lặn. 13. Giô-sua đã đánh bại A-ma-léc và dân của ông bằng gươm.
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy chép điều nầy vào một cuốn sách để ghi nhớ, và hãy nói cho Giô-suê biết rằng Ta sẽ xóa sạch ký ức về A-ma-léc trong thiên hạ.” 15. Môi-se đã lập một bàn thờ và đặt tên: “Đức Giê-hô-va là ngọn cờ của tôi.” 16. Ông nói: “Bởi vì tay của họ đã đưa lên chống lại ngôi của Đức Giê-hô-va, cho nên Đức Giê-hô-va sẽ chinh chiến với A-ma-léc từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.”
18
- Giê-trô, tư tế của người Ma-đi-an, là nhạc phụ của Môi-se, nghe tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm cho Môi-se, cho Y-sơ-ra-ên là dân của Ngài, và Ngài đã dẫn Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập như thế nào. 2. Giê-trô, nhạc phụ của Môi-se, đã dẫn Sê-phô-ra, vợ của Môi-se, mà ông đã gởi trở lại 3. cùng với hai con trai của nàng, một đứa tên là Ghẹt-sôn, vì Môi-se đã nói rằng: “Tôi là một kiều dân trong một xứ sở xa lạ;” 4. và một đứa tên là Ê-li-ê-se, vì ông nói: “Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi là sự cứu giúp của tôi. Ngài đã giải cứu tôi khỏi gươm của Pha-ra-ôn.”
- Giê-trô, nhạc phụ của Môi-se, cùng với hai con trai và vợ của Môi-se đã đến với ông trong hoang mạc, tại nơi ông đóng trại gần núi của Đức Chúa Trời. 6. Ông cụ đã nhắn với Môi-se rằng: “Ta, Giê-trô, nhạc phụ của con, đang đi đến gặp con, cùng với vợ và hai con trai của con.” 7. Môi-se đã đi ra đón nhạc phụ của mình. Ông sấp mình xuống trước mặt ông cụ, rồi ôm hôn ông cụ. Hai người đã hỏi thăm nhau, rồi họ vào trong lều.
- Môi-se đã thuật lại cho nhạc phụ của mình nghe mọi điều Đức Giê-hô-va đã làm cho Pha-ra-ôn và cho dân Ai Cập vì cớ dân Y-sơ-ra-ên, cùng với tất cả những khó khăn đã xảy ra cho họ trong chuyến hành trình, và Đức Giê-hô-va đã giải cứu họ như thế nào. 9. Giê-trô vui mừng về tất cả những ơn lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên khi Ngài giải cứu họ khỏi tay của người Ai Cập. 10. Giê-trô nói: “Chúc tụng Đức Giê-hô-va, là Đấng đã giải cứu các ngươi khỏi tay của người Ai Cập, khỏi tay của Pha-ra-ôn, Ngài là Đấng giải cứu dân chúng dưới tay của người Ai Cập. 11. Bây giờ ta biết rằng Đức Giê-hô-va vĩ đại hơn tất cả các thần, bởi vì khi người Ai Cập cư xử ngạo mạn thì Ngài trổi cao hơn họ.” 12. Giê-trô, nhạc phụ của Môi-se, đã dâng tế lễ thiêu và các sinh tế lên cho Đức Chúa Trời. A-rôn và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đến ăn bánh với nhạc phụ của Môi-se, trước mặt Đức Chúa Trời.
- Ngày hôm sau Môi-se ngồi xét xử dân chúng. Dân chúng đứng quanh Môi-se từ sáng sớm cho đến chiều tối. 14. Khi nhạc phụ của Môi-se thấy tất cả những gì ông đã làm cho dân chúng, ông cụ nói: “Con đang làm gì cho dân chúng vậy? Tại sao con ngồi đó xét xử một mình, trong khi mọi người phải đứng chờ con từ sáng sớm cho đến chiều tối như vậy?” 15. Môi-se nói với nhạc phụ của mình: “Bởi vì dân chúng đến với con để tìm cầu ý kiến của Ðức Chúa Trời. 16. Mỗi khi họ có vấn đề, họ đến với con để phân xử giữa người nầy với người khác, rồi con cho họ biết những mệnh lệnh và luật pháp của Đức Chúa Trời.”
- Nhạc phụ của Môi-se nói với ông: “Cách mà con đang làm đó không tốt. 18. Chắc chắn cả con và dân chúng đến với con sẽ kiệt sức, bởi vì công việc nầy quá nặng nề cho con, và con không thể giải quyết một mình. 19. Bây giờ, hãy lắng nghe ta, ta sẽ khuyên con. Cầu xin Đức Giê-hô-va ở với con! Con sẽ là người đại diện cho dân chúng trước mặt Đức Chúa Trời, và trình dâng mọi vấn đề của họ cho Đức Chúa Trời. 20. Hãy dạy họ các mệnh lệnh và luật pháp, hãy chỉ cho họ biết con đường họ phải đi ở trong đó, và công việc họ phải làm. 21. Thêm vào đó, con hãy chọn trong dân chúng những người có khả năng, kính sợ Đức Chúa Trời, những người chân thật, ghét lợi bất chính, hãy lập họ đứng đầu để làm những lãnh đạo của ngàn người, lãnh đạo của trăm người, lãnh đạo của năm mươi người, lãnh đạo của mười người. 22. Hãy để họ thường xuyên xét xử dân chúng. Khi nào có việc quan trọng, họ sẽ đem đến cho con; còn những việc nhỏ, hãy để cho họ phân xử. Như vậy công việc của con sẽ nhẹ đi, bởi vì họ sẽ chia sẻ gánh nặng cho con. 23. Nếu con làm việc nầy, như Đức Chúa Trời đã truyền cho con, thì con sẽ chịu đựng nổi, và tất cả dân chúng sẽ an lòng trở về nhà của họ.”
- Môi-se đã nghe theo lời nhạc phụ của mình và làm theo tất cả những gì ông nói. 25. Môi-se đã chọn những người có khả năng từ trong dân Y-sơ-ra-ên rồi lập họ lên làm đầu trên dân chúng, làm lãnh đạo của ngàn người, lãnh đạo của trăm người, lãnh đạo năm mươi người, lãnh đạo của mười người. 26. Họ thường xuyên xét xử dân chúng. Những vấn đề khó khăn thì họ đem đến cho Môi-se, còn những việc nhỏ thì họ phân xử.
27 Sau đó Môi-se tiễn nhạc phụ của mình, rồi ông cụ lên đường trở về xứ của ông.
19
- Sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập được ba tháng, đúng vào ngày một của tháng đó, họ đến hoang mạc Si-nai. 2. Họ đã rời khỏi Rê-phi-đim để đến hoang mạc Si-nai, rồi đóng trại trong hoang mạc. Dân Y-sơ-ra-ên đã đóng trại tại đó ngay trước ngọn núi.
- Từ trên núi, Đức Giê-hô-va đã gọi Môi-se. Ông đã lên đó để đến với Đức Chúa Trời. Ngài phán: “Ngươi hãy nói với nhà Gia-cốp và bảo dân Y-sơ-ra-ên như thế nầy: 4. Các ngươi đã thấy điều Ta làm cho dân Ai Cập. Ta đã nâng các ngươi trên cánh phượng hoàng để đem các ngươi đến với Ta. 5. Vì vậy bây giờ nếu các ngươi vâng theo tiếng của Ta và tuân giữ giao ước của Ta thì các ngươi sẽ thuộc riêng về Ta và sẽ trổi cao hơn mọi dân tộc, bởi vì cả thế gian đều thuộc về Ta. 6. Đối với Ta, các ngươi sẽ là một vương quốc của những thầy tế lễ và là một dân tộc thánh. Ðó là những lời mà ngươi hãy nói lại với dân Y-sơ-ra-ên.”
- Vì vậy Môi-se đã về, triệu tập các trưởng lão trong dân chúng, rồi thuật lại cho họ mọi lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho mình. 8. Tất cả dân chúng đã trả lời rằng: “Chúng tôi sẽ làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán.” Môi-se mang lời của dân chúng đến với Đức Giê-hô-va. 9. Ngài phán: “Nầy, Ta sẽ đến với ngươi trong một đám mây dày đặc để khi Ta phán cùng ngươi thì dân chúng có thể nghe và tin tưởng ngươi trọn đời. Môi-se đã trình lời của dân chúng với Đức Giê-hô-va.”
- Đức Giê-hô-va nói với Môi-se: “Hãy đến với dân chúng, bảo họ làm cho mình thánh sạch trong ngày hôm nay và ngày mai, và hãy giặt y phục của mình. 11. Đến ngày thứ ba, họ phải sẵn sàng bởi vì vào ngày thứ ba Đức Giê-hô-va sẽ giáng lâm trước mắt toàn thể dân chúng tại núi Si-nai. 12. Ngươi hãy thiết lập ranh giới chung quanh núi và dân chúng, rồi dặn: Hãy cẩn thận, đừng lên núi và cũng đừng chạm đến chân núi. Ai chạm đến núi sẽ bị xử tử. 13. Không ai được dùng tay chạm vào kẻ đó, kẻ đó phải bị ném đá hoặc bị bắn – bất kể là thú vật hay người ta đều sẽ không được để cho sống. Khi nào có tiếng kèn dài, thì họ có thể lên núi.”
- Vì vậy Môi-se đã từ trên núi đi xuống với dân chúng để thánh hóa dân chúng. Họ đã giặt y phục của họ. 15. Ông cũng nói với dân chúng: “Hãy sẵn sàng cho đến ngày thứ ba. Đừng gần gũi giao hợp với phụ nữ.”
- Sau đó vào sáng ngày thứ ba, có sấm chớp và một đám mây dày đặc ở trên núi, và có một tiếng kèn rất lớn. Tất cả dân chúng đang ở trong trại đều run sợ. 17. Môi-se đã dẫn dân chúng ra khỏi trại để gặp Đức Chúa Trời – họ đã đứng nơi chân núi.
- Lúc nầy núi Si-nai phủ đầy khói, bởi vì Đức Giê-hô-va đã giáng lâm trong lửa. Khói từ đó bốc lên như khói của một lò lửa hực, cả núi rung chuyển dữ dội. 19. Tiếng kèn càng lúc càng lớn hơn. Môi-se nói, và Đức Chúa Trời đáp lại trong tiếng sấm rền. 20. Đức Giê-hô-va đã giáng lâm trên núi Si-nai, tại trên đỉnh núi. Đức Giê-hô-va đã gọi Môi-se lên đỉnh núi và Môi-se đã đi lên.
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đi xuống, cảnh cáo dân chúng đừng cố vượt giới hạn để nhìn Đức Giê-hô-va, nếu không nhiều người trong họ phải chết. 22. Các tư tế, là những người đến gần Đức Giê-hô-va, phải giữ chính mình cho thánh sạch – đừng để Đức Giê-hô-va nổi giận chống lại họ.” 23. Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va: Dân chúng không thể lên núi Si-nai đâu bởi vì Ngài đã cảnh cáo chúng con rằng: “Hãy phân định ranh giới chung quanh núi, và biệt riêng núi ra thánh.” 24. Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy đi xuống, rồi ngươi và A-rôn hãy lên cùng với ngươi; nhưng các thầy tư tế và dân chúng thì đừng vượt giới hạn để đến gần Đức Giê-hô-va – đừng để Ngài nổi giận chống lại họ.”
- Môi-se đã đi xuống với dân chúng và căn dặn họ.
20
- Đức Chúa Trời đã phán tất cả những lời nầy, rằng: 2. “Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của ngươi, là Ðấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ai Cập, là nhà nô lệ.
- Trước mặt Ta, ngươi không được có những thần khác.
- Ngươi không được làm cho mình một hình tượng giống như một vật nào ở trên trời, hay ở dưới đất, hoặc ở trong nước, hay ở dưới mặt đất. 5. Ngươi không được sấp mình xuống trước chúng, hay phục vụ chúng, bởi vì Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của ngươi, là Ðức Chúa Trời ghen tương. Những người nào ghét Ta thì sự trừng phạt do tội lỗi của tổ phụ sẽ giáng trên con cháu cho đến đời thứ ba và thứ tư; 6. nhưng Ta sẽ ban ơn đến ngàn đời cho những người nào yêu mến Ta và vâng giữ những điều răn của Ta.
- Ngươi không được dùng danh của Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của ngươi, một cách bất kính, bởi vì Giê-hô-va sẽ không xem việc kẻ nào dùng danh Ngài một cách bất kính là vô tội.
- Hãy nhớ ngày Sa-bát để biệt riêng ngày đó ra thánh. 9. Ngươi hãy lao động và làm tất cả những công việc của mình trong sáu ngày, 10. nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát thuộc về Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của ngươi. Trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, súc vật, hay ngoại kiều trong cổng của ngươi đều không được làm công việc gì hết. 11. Bởi vì trong sáu ngày, Đức Giê-hô-va đã tạo dựng trời, đất, biển, và tất cả những vật trong những nơi đó, nhưng ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và đã thánh hóa nó.
- Hãy hiếu kính cha mẹ của ngươi, để những ngày trên đất mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi đã ban cho ngươi, sẽ được gia tăng.
- Ngươi không được giết người.
- Ngươi không được ngoại tình.
- Ngươi không được trộm cắp.
- Ngươi không được làm chứng dối để hại người lân cận của mình.
- Ngươi không được tham nhà của người lân cận ngươi, hoặc tham muốn vợ của người lân cận ngươi, hoặc tôi trai, tớ gái, bò, lừa, hay bất cứ vật gì thuộc về người lân cận của ngươi.”
- Tất cả dân chúng chứng kiến cảnh sấm nổ, chớp sáng lòa, kèn trỗi vang, và ngọn núi nghi ngút khói, thì họ khiếp sợ và đứng xa ra. 19. Họ nói với Môi-se: “Xin ông hãy nói với chúng tôi, thì chúng tôi sẽ nghe. Xin đừng để Đức Chúa Trời phán với chúng tôi, kẻo chúng tôi sẽ chết.” 20. Môi-se nói với dân chúng: “Đừng sợ! Bởi vì Đức Chúa Trời đã đến để thử các ngươi, để sự kính sợ Ngài ở với các ngươi để cho các ngươi không phạm tội.” 21. Vì vậy dân chúng đứng từ xa, còn Môi-se thì đến gần đám mây dày đặc, nơi Đức Chúa Trời đang ngự.
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Ngươi hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên như thế nầy: Chính các ngươi đã thấy Ta từ trời nói với các ngươi. 23. Đối với Ta, các ngươi không được đúc những tượng thần bằng bạc hay bằng vàng. Các ngươi cũng không được làm như vậy cho chính mình. 24. Các ngươi hãy lập cho Ta một bàn thờ bằng đất và dâng trên đó những tế lễ thiêu, những tế lễ bình an, chiên hoặc bò của mình. Bất cứ nơi nào cầu khẩn danh Ta, thì Ta sẽ đến cùng các ngươi và ban phước cho các ngươi. 25. Nếu các ngươi thiết lập cho Ta một bàn thờ bằng đá thì các ngươi không được xây dựng bằng đá đẽo, bởi vì khi các ngươi dùng dụng cụ, các ngươi sẽ làm cho bàn thờ bị ô uế. 26. Các ngươi không được đi lên bàn thờ của Ta bằng những bậc thang, để sự lõa lồ của ngươi sẽ không bị lộ ra.”
21
- “Ðây là những luật lệ mà ngươi sẽ thiết lập cho họ:
- Nếu có ai mua một người Hê-bơ-rơ làm nô lệ, người đó sẽ phục vụ sáu năm, nhưng đến năm thứ bảy người đó sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền gì cả. 3. Nếu người đó đến lúc còn độc thân, người đó sẽ ra đi cách độc thân. Nếu người đó có vợ, người đó sẽ ra đi cùng với vợ của mình. 4. Nếu chủ cưới vợ cho người đó, nàng sinh con trai hoặc con gái cho người đó, thì vợ và các con thuộc về chủ, người đó sẽ ra đi một mình. 5. Nhưng nếu người nô lệ nói: ‘Tôi thương chủ của tôi, vợ và các con của tôi; tôi không muốn ra đi tự do,’ 6. thì người chủ sẽ đem người đó đến với các thẩm phán. Chủ sẽ dẫn người nô lệ đến một cái cửa hay trụ cửa, rồi dùng dùi xỏ tai người đó, và người đó sẽ làm nô lệ cho chủ vĩnh viễn.
- Nếu một người bán con gái của mình làm nữ nô lệ, người con gái đó sẽ không được ra đi như những nam nô lệ. 8. Nếu nàng không làm hài lòng theo mắt của chủ, là người đã lấy nàng làm hầu thiếp, thì chủ phải để cho nàng được chuộc ra, chứ không có quyền bán nàng cho người ngoại quốc bởi vì chủ đã đối xử cách bất công với nàng. 9. Còn nếu chủ muốn để dành nàng cho con trai của mình thì phải cư xử với nàng theo phong tục dành cho những người con gái. 10. Nếu chủ cưới một người phụ nữ khác làm vợ, chủ không được quyền cắt giảm phần lương thực, quần áo, và quyền làm vợ của nàng. 11. Nếu người chủ không thực hiện ba điều nầy, nàng được tự do ra đi mà không phải trả tiền.
- Người nào đánh chết một người, người đó sẽ bị tử hình. 13. Tuy nhiên, nếu người đó không cố sát nhưng Đức Chúa Trời đã trao kẻ bị giết vào tay của người đó, thì Ta sẽ định cho ngươi một chỗ để người đó chạy đến ẩn náu. 14. Nhưng nếu người nào chủ ý tấn công và cố ý giết người lân cận của mình, thì hãy lôi nó ra khỏi bàn thờ của Ta mà giết đi.
- Người nào đánh cha hay mẹ của mình, người đó sẽ bị tử hình.
- Người nào bắt cóc một người, bất kể người bị bắt cóc đã bị bán hay còn bị giam giữ, kẻ bắt cóc sẽ bị xử tử.
- Người nào nguyền rủa cha hay mẹ của mình, người đó sẽ bị xử tử.
- Khi hai người cãi nhau, nếu một người đánh người kia bằng cục đá hay bằng nắm tay, khiến người kia dù không thiệt mạng nhưng phải nằm liệt giường, 19. rồi sau đó có thể đứng dậy, và chống gậy đi ra ngoài, thì kẻ đánh người sẽ được tha, và người đó chỉ phải đền bù thiệt hại về thời gian và chăm sóc cho đến khi hoàn toàn bình phục.
- Khi một người đánh một nô lệ nam hay nữ của mình bằng gậy, khiến người đó bị chết dưới tay của mình, người chủ phải bị trừng phạt. 21. Nhưng nếu người nô lệ còn sống một hai ngày thì người chủ không bị trừng phạt, bởi vì người nô lệ đó vốn là tài sản của chủ.
- Nếu nhiều người đang đánh nhau, khiến một phụ nữ đang có thai bị thương, làm cho phụ nữ này sinh thiếu tháng, nhưng sau đó không bị thương tích gì trầm trọng, thì người có lỗi phải bồi thường theo mức mà người chồng của phụ nữ ấy đòi hỏi và được thẩm phán chấp thuận. 23. Nhưng nếu có thương tích xảy ra thì mạng đền mạng, 24. mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, 25. phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, bầm giập đền bầm giập.
- Nếu một người đánh vào mắt của người nô lệ nam hay mắt của người nô lệ nữ của mình, làm cho nó bị hư hỏng, thì vì con mắt người chủ phải cho người nô lệ được tự do. 27. Nếu một người đánh gãy răng người nô lệ nam hay người nô lệ nữ của mình, thì vì cái răng người chủ phải cho người nô lệ được tự do.
- Khi có một con bò húc chết một người đàn ông hay một người đàn bà thì con bò phải bị ném đá chết; người ta không được ăn thịt nó; và người chủ của con bò sẽ không phải chịu trách nhiệm. 29. Tuy nhiên nếu con bò đã có tật hay húc người trong quá khứ, và chủ bò đã biết nhưng vẫn không canh giữ, để nó húc chết một người đàn ông hay một người đàn bà thì con bò phải bị ném đá, và chủ bò sẽ bị tử hình. 30. Tuy nhiên, nếu có giá chuộc mạng được ấn định cho người đó thì người đó phải trả theo giá đã ấn định để chuộc lại mạng sống của mình. 31. Nếu con bò húc phải một người con trai hay con gái thì chủ bò cũng sẽ bị xử theo luật nầy. 32. Nếu bò húc chết một nam nô lệ hay một nữ nô lệ, chủ bò phải trả cho chủ của người nô lệ ba mươi siếc-lơ bạc, và con bò phải bị ném đá chết.
- Nếu có người mở một cái hầm hay đào một cái hầm mà không đậy nó lại, để rồi có một bò hay một con lừa té xuống đó, 34. thì người chủ của cái hầm phải đền bù thiệt hại tương đương với giá của con vật cho chủ của con vật bị chết, nhưng con vật chết sẽ thuộc về người bồi thường. 35. Nếu bò của người nầy húc chết bò của người kia thì họ sẽ bán con bò còn sống rồi chia đôi số tiền, và họ cũng phân chia con vật bị chết. 36. Nhưng nếu trong quá khứ việc con bò có tật húc nhau đã được biết mà người chủ không canh giữ, thì người chủ đó phải lấy bò bồi thường cho bò, và con bò bị chết sẽ thuộc về người đó.”
22
- “Ai bắt trộm một con bò hay một con chiên rồi giết hoặc bán đi, thì phải đền năm con bò cho mỗi con bò, và bốn con chiên cho mỗi con chiên.
- Nếu kẻ trộm bị bắt quả tang đang lúc cạy cửa và bị đánh chết, thì huyết của hắn không được dùng để buộc tội; 3. nhưng nếu sự việc xảy ra sau khi mặt trời đã mọc thì huyết của hắn sẽ được dùng để buộc tội. Kẻ trộm phải bồi thường; nếu kẻ trộm không có gì để bồi thường thì sẽ bị bán vì tội trộm cắp. 4. Nếu tìm thấy trong tay kẻ trộm bò, lừa, hay chiên còn sống, thì kẻ trộm phải bồi thường gấp đôi.
- Nếu ai gây hư hại cho ruộng hay vườn nho, hoặc thả súc vật mình vào cắn phá ruộng của người khác, thì người đó phải lấy hoa lợi tốt nhất của ruộng hay là vườn nho của mình mà bồi thường.
- Nếu lửa bùng phát và bắt sang bụi gai rồi thiêu hủy lúa đã gặt hay chưa gặt ngoài đồng, thì kẻ gây hỏa hoạn phải bồi thường.
- Khi ai giao tiền bạc hay đồ vật cho người lân cận của mình giữ, rồi bị mất trộm trong nhà của người đó; nếu tên trộm bị bắt thì nó phải đền gấp đôi. 8. Còn nếu tên trộm không bị bắt thì chủ nhà sẽ bị đem đến trước mặt các thẩm phán để xác định là người đó có lấy tài vật của người lân cận mình hay không.
- Trong mọi việc tranh tụng liên quan đến bò, lừa, chiên, y phục hay bất cứ vật gì bị mất, mà có người nói: ‘Vật nầy là của tôi’ thì cả hai phải đến trước mặt các thẩm phán. Người nào bị thẩm phán kết tội thì phải bồi thường gấp đôi cho người lân cận của mình.”
- Nếu người nào giao lừa, bò, chiên, hoặc súc vật nào khác cho người lân cận mình giữ, rồi nó bị chết, bị thương, hay bị lùa đi mất mà không ai nhìn thấy, 11. thì hai bên phải thề với Đức Giê-hô-va để xác định rằng người giữ súc vật không nhúng tay vào tài sản của người lân cận mình. Người chủ phải chấp nhận, và người kia không phải bồi thường gì hết. 12. Nhưng nếu vật đó bị mất trộm từ người giữ, thì người đó phải bồi thường cho chủ của vật đó. 13. Nếu con vật bị thú dữ cắn xé, người đó sẽ đem vật bị cắn xé ra làm bằng chứng là nó bị cắn xé; người đó không phải bồi thường gì cả.
- Nếu ai mượn từ người lân cận của mình một con vật, rồi nó bị thương hay bị chết trong lúc người chủ không có mặt, thì người mượn phải bồi thường. 15. Nhưng nếu người chủ có mặt tại đó thì không phải bồi thường. Nếu con vật đã cho thuê thì giá thuê sẽ thay thế cho tiền bồi thường.
- Nếu một người dụ dỗ một trinh nữ chưa đính hôn rồi nằm với nàng, thì kẻ đó phải nộp sính lễ và cưới nàng làm vợ. 17. Nếu cha của nàng cương quyết không gả cho kẻ đó, thì kẻ đó phải nộp một số tiền tương đương với sính lễ dành cho các trinh nữ.
- Ngươi không được cho phép các phù thủy sống sót.
- Người nào nằm với một con vật, người đó sẽ bị xử tử.
- Người nào dâng sinh tế cho bất kỳ một thần nào khác không phải là Đức Giê-hô-va, người đó sẽ bị tận diệt.
- Ngươi không được ngược đãi ngoại kiều, bởi vì các ngươi từng là ngoại kiều tại xứ Ai Cập.
- Các ngươi không được ức hiếp bất kỳ một góa phụ hoặc một cô nhi nào. 23. Nếu các ngươi ức hiếp họ, họ sẽ kêu cứu đến Ta, và Ta chắc chắn sẽ nghe tiếng kêu cứu của họ, 24. rồi cơn giận của Ta sẽ bừng lên, Ta sẽ cho gươm giết các ngươi: Vợ của các ngươi sẽ trở nên góa bụa, và con cái của các ngươi sẽ là những kẻ không có cha.
- Nếu ngươi cho ai trong dân của Ta, là những người nghèo ở giữa các ngươi, mượn tiền, đừng đối xử với họ như là một người cho vay tiền, đừng bắt họ phải trả tiền lời. 26. Nếu ngươi giữ y phục của người lân cận mình làm vật thế chấp, thì phải trả lại cho người đó trước khi mặt trời lặn; 27. bởi vì đây là y phục duy nhất của người đó để che thân. Người đó lấy gì mà ngủ? Nếu người đó kêu van với Ta thì Ta sẽ lắng nghe, bởi vì Ta là Đấng nhân từ.
- Ngươi không được xúc phạm Đức Chúa Trời cũng không được nguyền rủa một người lãnh đạo của dân tộc mình.
- Ngươi đừng chậm trễ dâng hoa lợi đầu mùa và rượu nho mà ngươi thâu hoạch. Ngươi hãy dâng cho Ta con trai đầu lòng của ngươi. 30. Ngươi hãy làm như vậy với bò và chiên của ngươi. Nó sẽ ở với mẹ của nó trong bảy ngày, và ngày thứ tám ngươi sẽ dâng nó cho Ta.
- Các ngươi phải là một dân tộc thánh cho Ta. Các ngươi đừng ăn thịt con vật bị xé xác ngoài đồng; ngươi hãy quăng nó cho chó.”
23
- “Đừng loan tin thất thiệt. Đừng làm chứng dối tiếp tay cho kẻ gian ác. 2. Đừng hùa theo đám đông để làm ác. Khi ngươi làm nhân chứng trong một vụ kiện, đừng hùa theo số đông để bẻ cong công lý. 3. Ngươi cũng đừng thiên vị người nghèo trong một vụ kiện.
- Khi ngươi gặp bò hay lừa của kẻ thù ngươi đi lạc, hãy dẫn nó về cho chủ của nó. 5. Khi ngươi thấy con lừa của kẻ ghét ngươi bị ngã quỵ vì gánh nặng, đừng làm ngơ, nhưng phải giúp người ấy đỡ nó dậy.
- Đừng làm sai lệch công lý của người nghèo trong vụ kiện. 7. Hãy tránh xa những lời cáo gian. Đừng giết người vô tội và ngay lành, bởi vì Ta không dung thứ người có tội.
- Đừng nhận hối lộ, vì của hối lộ làm mù mắt người sáng suốt và bẻ cong lời của người công bình.
- Đừng áp bức ngoại kiều. Chính các ngươi hiểu rõ tâm trạng của ngoại kiều bởi vì các ngươi từng là những ngoại kiều tại xứ Ai Cập.
- Ngươi sẽ gieo giống trên đất và thu hoạch hoa lợi trong sáu năm, 11. nhưng trong năm thứ bảy hãy để cho đất nghỉ và đừng canh tác. Hãy để cho những người nghèo khổ trong dân chúng được hưởng – những gì họ chừa lại thì thú vật ngoài đồng sẽ ăn. Ngươi hãy làm như vậy với vườn nho và vườn ô-liu của ngươi.
- Ngươi hãy làm công việc của mình trong sáu ngày, đến ngày thứ bảy ngươi sẽ nghỉ để cho bò và lừa của ngươi được nghỉ, và để cho con trai của nữ nô lệ và người ngoại kiều được phục sức.
- Hãy cẩn thận làm theo mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi: Đừng nhắc đến tên các thần khác và cũng đừng để ai nghe điều đó từ miệng của ngươi.
- Mỗi năm ba lần các ngươi phải giữ lễ cho Ta: 15. Ngươi hãy giữ Lễ Bánh Không Men – trong bảy ngày ngươi hãy ăn bánh không men như Ta đã truyền cho các ngươi – theo thời gian đã được ấn định trong tháng A-bíp, bởi vì trong tháng đó ngươi đã ra khỏi Ai Cập, không ai đến ra mắt Ta mà đi tay không; 16. và Lễ Mùa Gặt những hoa lợi đầu mùa từ công sức lao động mà ngươi đã gieo trong đất của mình; cùng Lễ Thu Hoạch vào cuối năm, là lúc ngươi thu hoạch kết quả lao động của ngươi ở ngoài đồng. 17. Mỗi năm ba lần tất cả những người nam phải trình diện trước Chúa, là Đức Giê-hô-va.
- Đừng dâng huyết cho sinh tế của Ta với bánh có men, cũng đừng giữ mỡ thuộc về sinh tế của Ta cho đến sáng.
- Hãy đem những hoa lợi đầu mùa tốt nhất từ ruộng đất của ngươi vào nhà của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của ngươi. Đừng nấu dê con trong sữa mẹ của nó.
- Nầy, Ta sai một thiên sứ đi trước ngươi để gìn giữ ngươi dọc đường, và đem ngươi vào nơi mà Ta đã chuẩn bị. 21. Hãy nhận biết và vâng theo tiếng của Người. Ðừng chọc giận Người bởi vì Người sẽ không tha thứ sự vi phạm của ngươi – vì danh Ta ngự trong Người. 22. Nhưng nếu ngươi cẩn thận nghe theo tiếng của Người và làm theo mọi điều Ta truyền, thì Ta sẽ trở thành kẻ thù của những kẻ thù ngươi, và là đối thủ của những đối thủ ngươi. 23. Bởi vì thiên sứ của Ta sẽ đi trước các ngươi và đem các ngươi vào xứ của dân A-mô-rít, Hê-tít, Phê-rê-sít, Ca-na-an, Hê-vít và Giê-bu-sít, và rồi Ta sẽ tiêu diệt chúng. 24. Ngươi không được sấp mình trước các thần của chúng, không phục vụ chúng, cũng không làm theo những công việc của chúng; nhưng ngươi phải phá hủy hoàn toàn các thần đó và đập vụn những trụ thờ của họ.
- Các ngươi hãy phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Ngài sẽ ban phước cho thức ăn của các ngươi và nước uống của các ngươi. Ta sẽ đem bệnh tật cách xa khỏi giữa các ngươi. 26. Không một người nào sẽ bị hư thai hoặc hiếm muộn trong xứ của ngươi. Ta sẽ cho ngươi hưởng trọn tuổi thọ của mình.
- Ta sẽ sai sự kinh hoàng đi trước ngươi, Ta sẽ gây sự rối loạn giữa tất cả dân tộc mà ngươi đến, và Ta sẽ làm cho tất cả kẻ thù của ngươi quay lưng bỏ chạy. 28. Ta sẽ sai ong vò vẽ đến trước các ngươi để đuổi các dân Hê-vít, Ca-na-an và Hê-tít khỏi trước mặt các ngươi. 29. Ta sẽ không đuổi chúng đi hết trong một năm, đừng để đất sẽ trở nên hoang vu, và thú dữ sẽ sinh ra nhiều. 30. Ta sẽ đuổi chúng từ từ khỏi trước mặt ngươi, cho đến khi ngươi gia tăng, rồi ngươi chiếm hữu xứ. 31. Ta ấn định biên giới của ngươi từ Biển Đỏ cho đến biển của người Phi-li-tin, từ hoang mạc cho đến sông Ơ-phơ-rát, bởi vì Ta sẽ phó các cư dân trong xứ vào tay của ngươi, và ngươi sẽ đuổi chúng đi trước mặt mình. 32. Đừng kết ước với chúng hay với các thần của chúng. 33. Chúng sẽ không được ở lại trong đất của ngươi, đừng để chúng làm cho ngươi phạm tội chống lại Ta, bởi vì nếu ngươi phục vụ các thần của chúng, chắc chắn điều đó sẽ là một cạm bẫy cho các ngươi.”
24
- Ngài phán với Môi-se: “Ngươi, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu, và bảy mươi trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên hãy đến cùng Đức Giê-hô-va. Các ngươi hãy sấp mình xuống từ đằng xa. 2. Chỉ có một mình Môi-se được đến gần Đức Giê-hô-va. Những người khác không được đến gần, còn dân chúng không một ai được đi theo ông.”
- Môi-se đã đến thuật lại cho dân chúng tất cả những lời phán của Đức Giê-hô-va cùng tất cả những luật lệ. Tất cả dân chúng đồng thanh trả lời rằng: “Chúng tôi sẽ thực hiện tất cả những điều mà Đức Giê-hô-va đã phán.” 4. Môi-se đã ghi lại tất cả những lời của Đức Giê-hô-va.
Sáng hôm sau, ông dậy sớm, ông thiết lập một bàn thờ tại chân núi, với mười hai cây trụ tiêu biểu cho mười hai chi tộc Y-sơ-ra-ên. 5. Ông cử một số thanh niên Y-sơ-ra-ên để họ dâng những tế lễ thiêu và dâng những con bò làm tế lễ bình an cho Đức Giê-hô-va. 6. Môi-se lấy một nửa huyết đựng trong các chậu, còn nửa kia thì rảy trên bàn thờ. 7. Ông cầm sách giao ước, rồi đọc cho dân chúng nghe. Họ nói: “Chúng tôi sẽ làm theo và tuân giữ mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán.” 8. Môi-se lấy huyết rảy trên dân chúng rồi nói: “Đây là huyết của giao ước mà Đức Giê-hô-va đã lập với các ngươi căn cứ trên tất cả những lời nầy.”
- Sau đó, Môi-se và A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu, cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đi lên; 10. họ nhìn Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Dưới chân Ngài có một vật gì giống như cái bệ bằng bích ngọc, trong suốt như bầu trời. 11. Nhưng Ngài không đưa tay hành hại những nhà lãnh đạo của dân Y-sơ-ra-ên. Họ đã nhìn thấy Đức Chúa Trời, rồi họ ăn và uống.
- Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy lên núi để gặp Ta và chờ đợi tại đó. Ta sẽ ban cho ngươi những bảng đá có luật pháp và điều răn mà Ta đã viết để dạy dân chúng.” 13. Vì vậy, Môi-se cùng với Giô-suê, người phụ tá của mình, đã trỗi dậy. Môi-se đi lên núi của Đức Chúa Trời. 14. Ông đã nói với các trưởng lão: “Hãy đợi chúng tôi tại đây cho đến khi chúng tôi trở lại với quý vị. Có A-rôn và Hu-rơ ở với quý vị. Ai có vấn đề gì, hãy đến với họ.”
- Khi Môi-se lên núi, mây che phủ núi. 16. Vinh quang của Đức Giê-hô-va ngự trên núi Si-nai. Trong sáu ngày mây bao phủ núi, sang ngày thứ bảy Ngài gọi Môi-se từ giữa đám mây. 17. Vinh quang của Đức Giê-hô-va tỏa ra như một đám lửa đang bừng cháy trên đỉnh núi trước mắt dân Y-sơ-ra-ên. 18. Môi-se đã bước vào giữa đám mây rồi đi lên núi. Môi-se đã ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm.
25
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên dâng lễ vật cho Ta. Ngươi hãy nhận lễ vật dâng cho Ta từ người nào thành tâm dâng hiến. 3. Ðây là những lễ vật ngươi sẽ nhận từ nơi họ: Vàng, bạc, đồng, 4 chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ, vải gai mịn, lông dê, 5. da chiên đực nhuộm đỏ, da hảo hạng, gỗ si-tim; 6. dầu thắp đèn, các hương liệu để làm dầu xức và hương thơm; 7. bạch ngọc, các loại bửu ngọc để gắn vào ê-phót và bảng đeo ngực. 8. Hãy làm cho Ta một Nơi Thánh để Ta ngự ở giữa họ. 9. Ta sẽ chỉ cho ngươi kiểu mẫu của Ðền Tạm và kiểu mẫu của những vật dụng để ngươi làm theo tất cả những thứ đó.”
- “Họ sẽ làm một cái rương bằng gỗ si-tim, dài hai cu-bít rưỡi, rộng một cu-bít rưỡi, cao một cu-bít rưỡi. 11. Ngươi sẽ bọc nó bằng vàng ròng. Ngươi sẽ bọc nó bằng vàng cả bên trong lẫn bên ngoài, và làm một đường viền chung quanh bằng vàng. 12. Ngươi hãy đúc bốn khoen bằng vàng, rồi gắn vào bốn chân của rương, hai khoen bên nầy và hai khoen bên kia. 13. Ngươi hãy làm những đòn khiêng bằng gỗ si-tim, rồi bọc chúng bằng vàng. 14. Ngươi hãy xỏ những đòn khiêng vào các khoen gắn bên hông của rương, rồi dùng chúng để khiêng rương. 15. Những đòn khiêng sẽ được để luôn trong những khoen của rương, và chúng sẽ không được rút ra khỏi đó. 16. Ngươi hãy đặt vào rương Bảng Giao Ước mà Ta sẽ ban cho ngươi.”
- “Ngươi hãy làm một Ngôi Thi Ân bằng vàng ròng, dài hai cu-bít rưỡi, rộng một cu-bít rưỡi. 18. Ngươi hãy làm hai chê-rúp bằng vàng dát mỏng đặt trên hai đầu của Ngôi Thi Ân. 19. Hãy làm một chê-rúp ở đầu nầy và một chê-rúp ở đầu kia. Ngươi hãy làm Ngôi Thi Ân dính liền với hai chê-rúp ở hai đầu của ngôi. 20. Các chê-rúp sẽ dang cánh ra ở phía trên và dùng cánh của mình để che phủ Ngôi Thi Ân. Họ sẽ đối diện nhau nhưng mặt của hai chê-rúp sẽ hướng về Ngôi Thi Ân. 21. Ngươi hãy đặt Ngôi Thi Ân ở trên rương, và ngươi sẽ đặt vào trong rương Bảng Giao Ước mà Ta sẽ ban cho ngươi. 22. Ta sẽ gặp ngươi tại đó. Từ trên Ngôi Thi Ân, giữa hai chê-rúp, trên Rương Giao Ước, Ta sẽ truyền cho ngươi mạng lịnh về mọi việc cho dân Y-sơ-ra-ên.”
- “Ngươi hãy làm một cái bàn bằng gỗ si-tim, dài hai cu-bít, rộng một cu-bít, cao một cu-bít rưỡi. 24. Ngươi hãy bọc nó bằng vàng ròng, và làm đường viền bằng vàng chung quanh nó. 25. Ngươi hãy làm cho nó một cái khung, rộng khoảng một bàn tay. Ngươi hãy làm một đường viền bằng vàng chung quanh khung. 26. Ngươi hãy làm cho nó bốn khoen bằng vàng, rồi gắn những khoen đó vào bốn góc tại bốn chân của nó. 27. Các khoen sẽ gắn gần với khung để giữ những đòn dùng để khiêng cái bàn. 28. Ngươi hãy làm những đòn khiêng bằng gỗ si-tim, rồi bọc chúng bằng vàng, và chúng được dùng để khiêng bàn. 29. Ngươi hãy làm những đĩa, khay, lọ, và bình để rót. Hãy làm chúng bằng vàng ròng. 30. Trên bàn ngươi phải luôn luôn đặt bánh ở trước mặt Ta.”
- “Ngươi hãy làm một cây đèn bằng vàng ròng – cây đèn được dát vàng. Đế, thân, đài, nụ, và cánh hoa của đèn là một khối. 32. Có sáu nhánh tỏa ra hai bên, ba nhánh bên nầy của cây đèn và ba nhánh bên kia của cây đèn. 33. Trên một nhánh sẽ có ba đài hoa giống hình hoa hạnh nhân, với nụ hoa và cánh hoa; và trên nhánh bên kia cũng sẽ có ba đài hoa giống hình hoa hạnh nhân, với nụ hoa và cánh hoa – như vậy có sáu nhánh tỏa ra từ cây đèn. 34. Ngay trên cây đèn cũng có bốn đài hoa hình hạnh nhân với nụ hoa và cánh hoa. 35. Dưới hai nhánh giống nhau có một nụ hoa; dưới hai nhánh giống nhau có một nụ hoa; dưới hai nhánh giống nhau có một nụ hoa – có sáu nhánh tỏa ra từ cây đèn. 36. Những nụ hoa và các nhánh kết thành một khối – tất cả được dát vàng ròng. 37. Ngươi hãy làm bảy ngọn đèn. Những ngọn đèn được gắn lên để tỏa ánh sáng về phía trước. 38. Kéo cắt tim đèn và đĩa đựng tàn đèn cũng được làm bằng vàng ròng. 39. Một ta-lâng vàng ròng sẽ được dùng để làm chân đèn và những phụ tùng của nó. 40. Ngươi hãy lưu ý và làm theo kiểu mẫu mà Ta đã chỉ cho ngươi ở trên núi.”
26
- “Ngươi hãy làm Đền Tạm bằng mười tấm màn bằng gải vai mịn, dệt bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ, có thêu hình các chê-rúp được thiết kế thật mỹ thuật. 2. Chiều dài của mỗi tấm màn sẽ là hai mươi tám cu-bít; chiều rộng của mỗi tấm màn sẽ là bốn cu-bít. Tất cả các màn sẽ có cùng một kích thước. 3. Năm tấm màn nầy sẽ kết lại với nhau, và năm tấm màn kia sẽ kết lại với nhau. 4. Ngươi hãy thắt những vòng bằng chỉ xanh dương trên phía ngoài cùng của bộ màn thứ nhất; và cũng làm như vậy trên phía ngoài cùng của bộ màn thứ hai. 5. Ngươi hãy thắt năm mươi cái vòng trên bộ màn thứ nhất, và năm mươi cái vòng trên phía ngoài cùng bộ màn thứ hai; các vòng phải đối diện nhau. 6. Ngươi hãy làm năm mươi cái móc bằng vàng, rồi dùng những cái móc đó kết hai bộ màn lại với nhau để Đền Tạm trở thành một.
- Ngươi hãy làm những tấm màn bằng lông dê để che trên Ðền Tạm – Ngươi hãy làm mười một tấm màn. 8. Chiều dài của mỗi tấm màn sẽ là ba mươi cu-bít; chiều rộng của mỗi tấm màn sẽ là bốn cu-bít. Mười một tấm màn sẽ có cùng một kích thước. 9. Ngươi hãy kết năm tấm màn lại với nhau. Ngươi hãy kết sáu tấm màn kia lại với nhau, và tấm thứ sáu ngươi hãy gấp đôi lại ở phía trước lều. 10. Ngươi hãy thắt năm mươi cái vòng trên phía ngoài cùng của bộ màn thứ nhất, và năm mươi cái vòng trên phía ngoài cùng bộ màn thứ hai. 11. Ngươi hãy làm năm mươi cái móc bằng đồng, rồi dùng những cái móc đó móc vào những cái vòng để cái trại kết với nhau thành một. 12. Phần còn dư lại của những tấm màn làm lều, phân nửa phần còn lại sẽ được treo phía sau của Ðền Tạm; 13. còn một cu-bít dư phía bên nầy và một cu-bít dư phía bên kia của những tấm màn làm lều, sẽ được treo rủ xuống bên hông của Ðền Tạm, một cái ở bên nầy và một cái ở bên kia. 14. Ngươi hãy làm một tấm bạt bằng da chiên nhuộm đỏ để che lều, rồi phủ bên trên đó một tấm che bằng da hảo hạng.
- Ngươi hãy làm những tấm ván bằng gỗ si-tim để dựng lên làm vách cho Ðền Tạm. 16. Chiều dài của mỗi tấm ván là mười cu-bít, và chiều rộng của mỗi tấm ván là một cu-bít rưỡi. 17. Mỗi tấm ván sẽ có hai cái mộng để gắn tấm ván nầy với tấm ván kia. Ngươi sẽ làm như vậy cho tất cả các tấm ván của Ðền Tạm. 18. Về các tấm ván của Ðền Tạm, ngươi hãy dựng hai mươi tấm về hướng Nê-ghép, tức là hướng nam. 19. Ngươi hãy làm bốn mươi lỗ mộng bằng bạc; tấm ván nầy có hai lỗ mộng khớp với hai cái mộng, tấm ván kia có hai lỗ mộng khớp với hai cái mộng. 20. Phía thứ hai của Ðền Tạm, ở hướng bắc, cũng có hai mươi tấm ván, 21. bốn mươi lỗ mộng bằng bạc, tấm ván nầy có hai lỗ mộng, và tấm ván kia có hai lỗ mộng. 22. Ngươi hãy làm sáu tấm ván cho phía sau của Đền Tạm về phía tây; 23. và làm hai tấm ván cho những góc ở phía sau của Đền Tạm. 24. Chúng sẽ ghép lại với nhau ở phía dưới, và chúng cũng kết lại với nhau ở phía trên bằng một cái khoen – Như vậy sẽ có hai tấm tại cả hai góc. 25. Vì vậy sẽ có tám tấm ván với những lỗ mộng bằng bạc, mười sáu lỗ mộng bằng bạc, hai lỗ mộng trong tấm ván nầy, và hai lỗ mộng trong tấm ván kia.
- Ngươi hãy làm những xà ngang bằng gỗ si-tim; năm cái cho những tấm ván thuộc phía bên nầy của Ðền Tạm, 27. năm xà ngang cho những tấm ván ở phía thứ hai của Ðền Tạm, và năm xà ngang cho những tấm ván ở hướng tây, tại phía sau của Đền Tạm. 28. Xà ngang ở chính giữa chạy dài từ đầu này đến đầu kia, xuyên qua những tấm ván. 29. Ngươi hãy dát vàng những tấm ván, và làm các khoen bằng vàng để giữ những xà ngang, và dát vàng những xà ngang. 30. Ngươi hãy dựng Ðền Tạm theo cách mà Ta đã chỉ cho ngươi ở trên núi.
- Ngươi hãy làm một bức màn bằng gải vai mịn, dệt bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ, có thêu hình các chê-rúp được thiết kế thật mỹ thuật. 32. Hãy treo bức màn trên bốn trụ bằng gỗ si-tim bọc vàng, có những móc bằng vàng, được dựng trên bốn lỗ trụ bằng bạc. 33. Ngươi sẽ treo bức màn vào các móc. Ngươi hãy đem Rương Giao Ước vào phía sau của bức màn. Bức màn sẽ phân cách giữa Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh cho các ngươi. 34. Ngươi hãy đặt Ngôi Thi Ân trên Rương Giao Ước trong Nơi Chí Thánh. 35. Ngươi hãy đặt cái bàn ở bên ngoài bức màn và cây đèn ở phía nam của Ðền Tạm – và đối ngang cái bàn – còn cái bàn thì ngươi hãy đặt tại phía bắc.
- Ngươi hãy làm một màn che cho cửa vào Đền Tạm bằng gải vai mịn, được thêu bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ. 37. Ngươi hãy làm năm cây trụ bằng gỗ si-tim, bọc vàng, để treo màn che. Những cái móc sẽ được làm bằng vàng. Ngươi hãy đúc năm lỗ trụ bằng đồng.”
27
- “Ngươi hãy làm một bàn thờ bằng gỗ si-tim, dài năm cu-bít, rộng năm cu-bít – bàn thờ hình vuông và cao ba cu-bít. 2. Ngươi hãy làm bốn cái sừng tại các góc của bàn thờ. Những cái sừng sẽ dính liền thành một khối với bàn thờ, rồi ngươi sẽ bọc bàn thờ bằng đồng. 3. Ngươi hãy làm những cái thùng đựng tro, những cái xẻng, những cái chậu, những cái chĩa, và những cái khay. Ngươi hãy làm tất cả những dụng cụ đó bằng đồng. 4. Ngươi hãy làm một cái rá bằng lưới đồng. Ngươi hãy làm bốn chiếc khoen bằng đồng ở bốn góc lưới. 5. Hãy để rá đó dưới thành của bàn thờ, khoảng nửa chiều cao của bàn thờ. 6. Ngươi hãy làm những đòn khiêng cho bàn thờ. Những đòn khiêng được làm bằng gỗ si-tim và chúng được bọc đồng. 7. Những đòn khiêng sẽ được xỏ vào những cái khoen, như vậy những đòn khiêng sẽ ở hai bên bàn thờ khi nó được khiêng đi. 8. Ngươi hãy làm bàn thờ rỗng ở bên trong và có những vách ván. Hãy để cho họ làm bàn thờ như đã được trình bày cho ngươi ở trên núi.
- Ngươi hãy làm rào che cho Ðền Tạm. Về phía nam, hãy giăng một tấm màn dệt bằng sợi gai mịn dài một trăm cu-bít về hướng đó, 10. với hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng, còn những móc của trụ và khoen thì bằng bạc. 11. Về phía bắc thì cũng vậy, hãy giăng một tấm màn dài một trăm cu-bít, với hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng, còn những móc của trụ và khoen thì bằng bạc. 12. Về phía tây, theo chiều rộng của sân, hãy giăng một tấm màn dài năm mươi cu-bít, với mười cây trụ và mười lỗ trụ. 13. Chiều rộng của sân đền về phía đông, hướng về mặt trời mọc, sẽ là năm mươi cu-bít. 14. Ở một bên có một tấm màn dài mười lăm cu-bít, với ba cây trụ và ba lỗ trụ. 15. Bên thứ hai có một tấm màn dài mười lăm cu-bít, với ba cây trụ và ba lỗ trụ. 16. Cổng của sân đền được làm bằng một tấm màn dài hai mươi cu-bít, bằng gải vai mịn, được thêu bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ, treo trên bốn cây trụ, dựng trên bốn lỗ trụ.
- Tất cả những trụ chung quanh sân đều có khoen bằng bạc và móc bằng bạc, còn lỗ trụ thì bằng đồng. 18. Chiều dài của sân là một trăm cu-bít, chiều rộng của sân là năm mươi cu-bít, và chiều cao là năm cu-bít được che bằng những tấm màn dệt bằng sợi gai mịn, và có những lỗ trụ bằng đồng. 19. Tất cả những vật dụng trong Ðền Tạm, tất cả những cọc dùng tại đó, và những cọc trong sân, đều làm bằng đồng.”
28
- “Ngươi hãy chọn A-rôn, anh của ngươi, và các con trai của người từ trong dân Y-sơ-ra-ên để làm những tư tế phục vụ Ta. Đó là A-rôn, và các con trai của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-xa, và Y-tha-ma. 2. Ngươi hãy thiết kế những trang phục thánh, thật đẹp và trang trọng, cho A-rôn, anh của ngươi. 3. Ngươi hãy truyền cho tất cả những người thiện nghệ, là những người đã được Ta ban cho ân tứ khôn ngoan, may trang phục cho A-rôn, để người được tấn phong thành một tư tế phục vụ Ta.
- Ðây là những trang phục mà họ sẽ làm: Một bảng đeo ngực, một ê-phót, một áo choàng, một áo lễ, một khăn vấn đầu, và một đai lưng. Họ hãy thiết kế những trang phục đó cho A-rôn, anh của ngươi, và các con trai của người, để làm những tư tế phục vụ Ta. 6. Vì vậy, họ sẽ nhận vàng, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải mịn.
- Họ hãy làm một cái ê-phót thật tinh xảo bằng vàng, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải mịn. 7. Hai cầu vai sẽ gắn vào hai lề của nó, và chúng sẽ kết thành một. 8. Ðai cột vào nó cũng được làm thật tinh xảo như vậy, và cùng vật liệu là vàng, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải mịn. 9. Ngươi hãy lấy hai viên bạch ngọc rồi khắc trên đó tên các con trai của Y-sơ-ra-ên, 10. sáu tên trên viên ngọc nầy, sáu tên còn lại trên viên ngọc kia, theo thứ tự sinh ra của họ. 11. Hãy khắc tên các con trai của Y-sơ-ra-ên trên hai viên ngọc theo cách của thợ khắc con dấu. Ngươi hãy đặt chúng vào những khuôn được khảm bằng vàng. 12. Ngươi hãy gắn hai viên ngọc đó trên hai cầu vai của ê-phót. Những viên ngọc lưu niệm các con trai của Y-sơ-ra-ên. A-rôn sẽ mang tên của họ trên hai vai của mình để tưởng nhớ họ trước mặt Đức Giê-hô-va.
- Ngươi hãy làm những cái khuông bằng vàng, 14. và hai dây chuyền bằng vàng ròng, ngươi hãy xoắn chúng như một sợi dây, rồi gắn những dây chuyền vào những cái khuông.
- Ngươi hãy làm một bảng đeo ngực về sự phán xét, được dệt thật tinh xảo như cách ngươi đã làm ê-phót. Ngươi hãy làm nó bằng vàng, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải mịn. 16. Nó có hình vuông, gồm hai lớp, dài một gang tay, rộng một gang tay. 17. Ngươi hãy gắn những viên ngọc trên đó thành bốn hàng ngọc: Hàng thứ nhất là mã não, hồng bích, và lục bửu; 18. hàng thứ nhì là phỉ túy, lam bửu và kim cương; 19. hàng thứ ba là hồng bửu, bạch mã não, và tử tinh; 20. hàng thứ tư là hoàng bích, hồng mã não, và bích ngọc. Chúng sẽ được đặt vào trong những khuôn bằng vàng. 21. Trên những viên ngọc có tên mười hai con trai của Y-sơ-ra-ên, tên của họ sẽ được khắc trên mỗi viên ngọc. Tên của mỗi người sẽ được khắc như cách khắc con dấu và theo tên của mười hai chi tộc.
- Ngươi hãy làm những dây chuyền bằng vàng ròng xoắn lại như một sợi dây cho bảng đeo ngực. 23. Ngươi hãy làm hai cái khoen bằng vàng và đính hai cái khoen đó vào hai viền của bảng đeo ngực. 24. Ngươi hãy gắn hai đầu của dây chuyền bằng vàng đó vào hai cái khoen ở hai viền của bảng đeo ngực, 25. còn hai đầu kia của hai dây chuyền vàng, ngươi hãy gắn vào hai cái khuông ở trên hai cầu vai, và ở phía trước của ê-phót. 26. Ngươi cũng hãy làm hai cái khoen bằng vàng, rồi gắn vào hai mép bên viền trong của bảng đeo ngực, sát với ê-phót. 27. Ngươi hãy làm hai cái khoen vàng khác, rồi gắn vào trên hai cầu vai ở bên dưới của ê-phót tại phía trước của nó ngay chỗ giáp mối, bên trên cái đai của ê-phót. 28. Những cái khoen của bảng đeo ngực được buộc vào những cái khoen của ê-phót bằng một sợi dây màu xanh dương ngay phía trên cái đai của ê-phót, để bảng đeo ngực không bị lỏng khỏi ê-phót.
- A-rôn sẽ mang bảng đeo ngực về sự phán xét, có tên các con trai của Y-sơ-ra-ên trên ngực của mình khi người vào Nơi Thánh, để họ thường xuyên được nhớ đến trước mặt Đức Giê-hô-va. 30. Ngươi hãy đặt U-rim và Thu-mim bên trong của bảng đeo ngực về sự phán xét, để chúng sẽ ở trên ngực A-rôn khi người đến trước mặt Đức Giê-hô-va.
- Ngươi hãy may chiếc áo dài của ê-phót toàn màu xanh dương. 32. Giữa áo có một cổ để tròng đầu vào. Cổ sẽ được viền lại chung quanh – giống như cổ của áo khoát – để không bị rách. 33. Trên lai áo hãy thắt những trái lựu màu xanh dương, tím, và đỏ. Xen kẻ với chúng là những chuông bằng vàng gắn vòng theo lai áo. 34. Cứ một chuông bằng vàng có một trái lựu, một chuông bằng vàng có một trái lựu vòng quanh hết cả lai áo. 35. A-rôn sẽ mặc nó mỗi khi hành lễ, để âm thanh của nó sẽ được nghe mỗi khi ông vào Nơi Thánh trước mặt Đức Giê-hô-va hay vào lúc ông đi ra, để ông khỏi chết.
- Ngươi hãy làm một thẻ bằng vàng ròng, rồi khắc trên đó như cách khắc con dấu dòng chữ: THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA. 37. Ngươi hãy buộc thẻ đó trên khăn vấn đầu bằng một sợi dây làm bằng chỉ xanh dương. Nó sẽ ở phía trước của khăn vấn đầu. 38. Nó sẽ ở trên trán của A-rôn, và A-rôn sẽ mang tội lỗi liên quan đến của lễ thánh, tức tất cả của lễ mà dân Y-sơ-ra-ên đã biệt riêng ra thánh để dâng. Thẻ đó phải luôn luôn ở trên trán của A-rôn, để chúng được chấp nhận trước mặt Đức Giê-hô-va.
- Ngươi hãy dệt một áo lễ dài bằng vải mịn. Ngươi hãy làm một khăn vấn đầu bằng vải mịn. Ngươi hãy thêu để làm một cái đai lưng.
- Về các con trai A-rôn, ngươi hãy may những áo lễ dài, những đai lưng, và những khăn vấn đầu thật đẹp và trang trọng cho họ. 41. Hãy mặc những thứ đó cho A-rôn, anh của ngươi, cùng các con trai của người. Ngươi hãy xức dầu cho họ, phong chức cho họ, và cung hiến họ để họ thi hành chức vụ tư tế cho Ta.
- Ngươi hãy may những quần bằng vải cho họ, để che sự lõa lồ của họ. Những quần đó sẽ dài từ thắt lưng cho đến đùi. 43. A-rôn và các con trai người phải mặc quần này khi vào Lều Hội Kiến hay khi đến gần bàn thờ để phục vụ trong Nơi Thánh, để họ khỏi mang tội và chết. Đây là một luật lệ vĩnh viễn áp dụng cho A-rôn và cho dòng dõi của người.”
29
- “Ðây là điều mà ngươi sẽ làm để biệt riêng họ ra, để họ phục vụ Ta như là những tư tế. Hãy bắt một con bò tơ và hai con chiên đực toàn vẹn. 2. Ngươi hãy dùng bột mì mịn để làm bánh không men, bánh không men có trộn dầu, và bánh tráng không men thoa dầu. 3. Ngươi hãy đặt chúng vào trong một cái rổ, rồi mang chúng đến trong cái rổ, cùng với con bò và hai con chiên đực.
- Ngươi hãy đem A-rôn và các con trai của người đến cửa Lều Hội Kiến, rồi dùng nước tẩy rửa họ. 5. Ngươi hãy mặc các trang phục cho A-rôn – đó là áo lễ dài, áo choàng gắn ê-phót, ê-phót, bảng đeo ngực, và rồi hãy lấy đai của ê-phót đã được đan cách mỹ thuật để thắt cho người. 6. Ngươi hãy đội khăn vấn đầu trên đầu của người, rồi đặt thẻ thánh trên khăn vấn đầu. 7. Hãy lấy dầu xức, đổ trên đầu của người, và xức dầu cho người. 8. Sau đó ngươi hãy đem các con trai của người đến, rồi mặc áo lễ cho họ. 9. Ngươi hãy lấy đai lưng thắt cho A-rôn và các con trai của người, rồi lấy khăn vấn đầu đội cho họ, và chức tư tế sẽ thuộc về họ vĩnh viễn.
Sau đó, ngươi sẽ phong chức cho A-rôn và các con trai của người. 10. Ngươi hãy dẫn con bò đến trước Lều Hội Kiến. A-rôn và các con trai của người sẽ đặt tay trên đầu của con bò. 11. Ngươi hãy giết con bò trước mặt Đức Giê-hô-va, tại cửa Lều Hội Kiến. 12. Ngươi hãy lấy huyết của con bò, dùng ngón tay bôi lên các sừng của bàn thờ, rồi đổ phần máu còn lại dưới chân của bàn thờ. 13. Ngươi sẽ lấy tất cả mỡ bọc nội tạng, mỡ dính với lá gan, hai trái thận và mỡ bọc hai trái thận, đem thiêu chúng trên bàn thờ. 14. Nhưng thịt, da, và phân của con bò thì hãy thiêu ở bên ngoài trại quân. Đó là một tế lễ chuộc tội.
- Và rồi ngươi hãy đem đến một con chiên đực, A-rôn và các con trai của người sẽ đặt tay trên đầu của con chiên đực. 6. Ngươi hãy giết con chiên đực rồi lấy huyết rảy chung quanh bàn thờ. 17. Ngươi sẽ chặt con chiên đực ra từng mảnh, rửa sạch nội tạng và những cái chân, rồi sắp những mảnh đó với đầu của nó. 18. Ngươi hãy thiêu toàn bộ con chiên đực trên bàn thờ. Đó là một tế lễ thiêu có hương thơm dâng lên Đức Giê-hô-va – tức là một tế lễ bằng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.
- Ngươi hãy bắt con chiên đực thứ hai. A-rôn và các con trai của người sẽ đặt tay của họ trên đầu của con chiên đực. 20. Ngươi sẽ giết con chiên đực, rồi lấy một ít huyết bôi vào trái tai phải của A-rôn, trái tai phải các con trai của người, ngón cái tay phải của họ, và ngón cái chân phải của họ, rồi rảy huyết chung quanh bàn thờ. 21. Ngươi hãy lấy một ít huyết trên bàn thờ và một ít dầu xức rảy trên A-rôn và trên lễ phục của người, trên các con trai của người, và trên những lễ phục của họ. Như vậy người và lễ phục của người, cùng các con trai của người và lễ phục của họ, sẽ được thánh hóa.
- Ngươi hãy lấy mỡ của con chiên đực, mỡ dính trong đuôi, mỡ bọc nội tạng, mỡ dính với lá gan, hai trái thận với mỡ bọc chúng, và cái đùi phải – vì đó là con chiên đực được dùng trong lễ tấn phong – 23. một ổ bánh mì, một cái bánh có dầu, và một cái bánh tráng trong rổ đựng bánh không men để trước mặt Đức Giê-hô-va. 24. Ngươi hãy đặt tất cả những món đó trên tay của A-rôn và trên tay các con trai của ông. Hãy dâng lên làm một lễ vật cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va. 25. Hãy lấy những vật đó từ tay của họ, rồi thiêu chúng trên bàn thờ để làm một tế lễ thiêu có hương thơm dâng lên Đức Giê-hô-va – tức là một tế lễ bằng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.
- Ngươi hãy lấy phần ngực của con chiên đực dùng cho lễ tấn phong A-rôn, dâng nó lên làm lễ vật cung hiến trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng phần đó sẽ thuộc về ngươi. 27. Ngươi hãy biệt riêng phần ngực của lễ vật cung hiến, và cái đùi của con chiên đực dùng cho lễ tấn phong đã được nâng lên làm lễ vật dâng lên. Các phần đó sẽ thuộc về A-rôn và các con trai của người. 28. Những lễ vật từ dân Y-sơ-ra-ên dâng sẽ thuộc về A-rôn và các con trai người theo luật đời đời, bởi vì đây là phần lấy từ sinh tế trong tế lễ bình an mà dân Y-sơ-ra-ên đã dâng lên cho Đức Giê-hô-va.
- Những trang phục thánh của A-rôn sẽ được truyền lại cho các con trai của ông, để họ mặc khi họ được xức dầu và được tấn phong. 30. Người nào trong các con trai của ông được thay thế để làm tư tế sẽ mặc trang phục đó trong bảy ngày khi đến Lều Hội Kiến để phục vụ trong Nơi Thánh.
- Ngươi hãy luộc thịt con chiên đực đã dâng trong lễ tấn phong tại Nơi Thánh. 32. A-rôn và các con trai người sẽ ăn thịt chiên đực đó với bánh ở trong giỏ tại cửa Lều Hội Kiến. 33. Họ sẽ ăn những vật nầy, tức là các lễ vật chuộc tội, bởi vì họ đã được tấn phong và biệt riêng ra thánh; nhưng người ngoài thì không được ăn bởi vì chúng là những vật thánh. 34. Nếu thịt hoặc bánh cho tế lễ tấn phong còn dư lại cho đến sáng hôm sau, ngươi hãy thiêu chúng trong lửa, không được ăn, bởi vì chúng là những vật thánh.
- Ðó là những điều ngươi phải làm cho A-rôn và các con trai của người, như Ta đã truyền cho ngươi. Ngươi hãy làm lễ tấn phong cho họ trong bảy ngày. 36. Mỗi ngày ngươi hãy dâng một con bò tơ đực để làm tế lễ chuộc tội. Ngươi phải thanh tẩy bàn thờ khi dâng tế lễ chuộc tội cho nó. Hãy xức dầu và thánh hóa bàn thờ. 37. Trong bảy ngày, ngươi hãy làm lễ chuộc tội và thanh tẩy bàn thờ. Như vậy bàn thờ sẽ trở nên rất thánh, bất cứ vật gì chạm đến bàn thờ đều sẽ trở nên thánh.
- Ðây là những gì ngươi sẽ dâng trên bàn thờ thường xuyên mỗi ngày: Hai con chiên một tuổi. 39. Ngươi hãy dâng một con vào buổi sáng và một con vào lúc chiều tối. 40. Với con chiên thứ nhất, ngươi hãy dâng một phần mười ê-pha bột mì mịn, nhồi với một phần tư hin dầu đã được ép, cùng với lễ quán là một phần tư hin rượu nho. 41. Về con chiên thứ nhì mà ngươi dâng vào lúc chiều tối, ngươi hãy dâng một tế lễ chay và một lễ quán giống như tế lễ buổi sáng. Đó là một tế lễ dùng lửa với hương thơm dâng lên cho Đức Giê-hô-va.
- Tế lễ thiêu phải được dâng thường xuyên suốt mọi thế hệ, tại trước cửa vào Lều Hội Kiến trước mặt Đức Giê-hô-va. Ta sẽ gặp các ngươi tại đó và nói chuyện với ngươi tại đó. 43. Ta sẽ gặp dân Y-sơ-ra-ên tại đó, và vinh quang của Ta sẽ làm cho nơi đó trở nên thánh. 44. Ta sẽ thánh hóa Lều Hội Kiến và bàn thờ, cũng như thánh hóa A-rôn và các con trai của người, để họ thi hành chức vụ tư tế cho Ta. 45. Ta sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên và làm Đức Chúa Trời của họ. 46. Họ sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, là Đấng đã đem họ ra khỏi xứ Ai Cập, để Ta ngự ở giữa họ. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ.”
30
- “Ngươi hãy làm một bàn thờ để xông hương. Ngươi hãy làm nó bằng gỗ si-tim. 2. Bàn thờ hình vuông, dài một cu-bít, rộng một cu-bít, và cao hai cu-bít. Các sừng được gắn liền với bàn thờ thành một khối. 3. Ngươi hãy dùng vàng ròng bọc trên mặt, tất cả các phía, và các sừng của nó. Ngươi hãy làm một đường viền chung quanh bằng vàng. 4. Ngươi hãy làm hai cái khoen bằng vàng gắn bên dưới đường viền – hai cái bên nầy và hai các bên kia – để người ta xỏ các đòn khiêng vào khiêng nó. 5. Ngươi hãy làm các đòn khiêng bằng gỗ si-tim bọc vàng.
- Ngươi hãy để bàn thờ phía trước bức màn che Rương Giao Ước, tức là trước Ngôi Thi Ân trên Giao Ước, là nơi Ta sẽ gặp ngươi. 7. A-rôn sẽ dâng hương thơm trên đó. Mỗi buổi sáng khi ông chăm sóc các cây đèn, ông sẽ dâng hương. 8. Khi A-rôn thắp đèn vào lúc chiều tối, ông cũng sẽ dâng hương. Việc dâng hương thường xuyên trước mặt Đức Giê-hô-va sẽ được thực hiện từ thế hệ này sang thế hệ khác. 9. Ngươi không được dâng bất cứ loại hương khác lạ nào trên đó, và cũng không được dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay, hay là lễ quán trên đó. 10. Mỗi năm một lần A-rôn sẽ làm lễ chuộc tội trên các sừng của bàn thờ bằng huyết của sinh tế chuộc tội. Ông phải làm lễ chuộc tội mỗi năm một lần suốt mọi thế hệ. Đây là một vật rất thánh cho Đức Giê-hô-va.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 12. “Khi ngươi thống kê để tính số người Y-sơ-ra-ên, mỗi người phải nộp tiền chuộc mạng sống của mình cho Đức Giê-hô-va để không có dịch bệnh gì ở giữa họ trong lúc kiểm tra dân số. 13. Mỗi người được kiểm tra phải nộp số tiền nửa siếc-lơ, theo siếc-lơ của Nơi Thánh – một siếc-lơ nặng hai mươi ghê ra – Nửa siếc-lơ là tiền dâng cho Đức Giê-hô-va. 14. Bất cứ ai được thống kê, từ hai mươi tuổi trở lên, đều dâng hiến cho Đức Giê-hô-va. 15. Người giàu sẽ không đóng nhiều hơn, và người nghèo sẽ không đóng ít hơn nửa siếc-lơ. Khi các ngươi dâng lễ vật nầy lên Đức Giê-hô-va, các ngươi đã chuộc mạng cho chính mình. 16. Ngươi hãy thu tiền chuộc mạng sống của dân Y-sơ-ra-ên, rồi dùng nó cho công việc của Lều Hội Kiến. Đây là một nhắc nhở cho dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va là họ đã chuộc mạng cho chính mình.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 18. “Ngươi hãy làm một cái bồn bằng đồng, có đế bằng đồng để dùng vào việc tẩy rửa. Ngươi hãy để bồn đó ở giữa Lều Hội Kiến và bàn thờ, rồi ngươi sẽ đổ nước vào trong đó. 19. A-rôn và các con trai của người sẽ dùng nước để rửa tay và chân. 20. Khi họ vào Lều Hội Kiến, hay khi đến gần bàn thờ để hành lễ như dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, họ sẽ lấy nước đó tẩy rửa để khỏi bị chết. 21. Họ phải rửa tay chân, nếu không họ sẽ phải chết. Đó là một luật đời đời cho người và dòng dõi của người qua mọi thế hệ.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 23. “Ngươi hãy lấy những hương liệu tốt nhất: mộc dược nước – năm trăm, hương nhục quế bằng nửa số đó – hai trăm rưỡi; và hương xương bồ – hai trăm rưỡi; 24. quế bì – năm trăm, theo siếc-lơ Nơi Thánh, và một hin dầu ô-li-ve. 25. Ngươi hãy dùng những hương liệu đó, pha chế theo nghệ thuật hòa hương, thành một thứ dầu thánh. Đó là dầu xức thánh. 26. Ngươi hãy dùng dầu đó xức dầu cho Lều Hội Kiến, Rương Giao Ước, 27. cái bàn và các dụng cụ, cây đèn và các dụng cụ, bàn thờ xông hương, 28. bàn thờ dâng tế lễ thiêu và các dụng cụ, cái chậu và đế của chậu. 29. Ngươi hãy biệt riêng chúng ra thánh, hầu chúng trở thành những vật chí thánh; bất cứ vật gì chạm đến đều trở nên thánh. 30. Ngươi hãy xức dầu cho A-rôn và các con trai của người, rồi biệt riêng họ ra thánh, để họ làm những tư tế phục vụ Ta. 31. Ngươi hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Ðây sẽ là dầu thánh của Ta, dùng để xức dầu trải qua các đời. 32. Không được đổ dầu nầy trên xác thịt loài người và cũng không được pha chế một thứ dầu nào khác theo công thức nầy. Đây là vật thánh, và nó sẽ thánh đối với các ngươi. 33. Ai pha chế một thứ dầu giống như vậy hoặc đem dầu đó xức cho người ngoài, sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Ngươi hãy lấy những hương liệu gồm tô hợp hương, loa yểm hương, phong tử hương, và nhũ hương – mỗi thứ với cân lượng bằng nhau. 35. Hãy dùng nghệ thuật hòa hương, pha chế chúng thành một thứ hương mặn mà, thuần khiết và thánh khiết. 36. Ngươi hãy lấy một ít tán thành bột, rồi lấy một ít đặt phía trước Rương Giao Ước trong Lều Hội Kiến, là nơi Ta sẽ gặp ngươi. Nó sẽ là vật chí thánh cho các ngươi. 37. Các ngươi không được phép dùng công thức đó để chế biến một thứ hương tương tự để dùng cho mình. Đối với các ngươi, đó là một vật thánh thuộc về Đức Giê-hô-va. 38. Kẻ nào pha chế giống như vậy để ngửi, sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.”
31
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Nầy, Ta đã gọi đích danh Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, thuộc chi tộc Giu-đa. 3. Ta đã ban cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời, sự khôn ngoan, sự hiểu biết, và kiến thức về mọi ngành nghề. 4. để thiết kế những vật dụng bằng vàng, bạc và đồng; 5. cắt và khảm ngọc, chạm gỗ, để có thể làm việc trong mọi nghành nghề. 6. Nầy, cùng với người, Ta đã chọn Ô-hô-li-áp con trai A-hi-sa-mạc trong chi tộc Ðan. Ta cũng đặt để sự khôn ngoan trong lòng những người có tài năng để họ thực hiện tất cả những gì Ta đã truyền cho ngươi là: 7. Lều Hội Kiến, Rương Giao Ước, Ngôi Thi Ân trên rương, và những vật dụng trong Lều, 8. cái bàn và những dụng cụ, cây đèn bằng vàng ròng và những dụng cụ, bàn thờ xông hương, 9. bàn thờ dâng tế lễ thiêu và những dụng cụ, cái bồn và đế của bồn. 10. Những lễ phục, trang phục thánh cho Tư Tế A-rôn, và những lễ phục cho các con trai của người để họ thi hành chức vụ tư tế, 11. cùng dầu xức và hương thơm cho Nơi Thánh. Những người đó sẽ làm theo tất cả những gì Ta đã truyền cho ngươi.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 13. “Ngươi hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Thật vậy, các ngươi hãy giữ ngày sa-bát của Ta bởi vì đây là một dấu hiệu giữa Ta và các ngươi qua mọi thế hệ, để các ngươi biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng thánh hóa các ngươi. 14. Các ngươi hãy giữ ngày Sa-bát, bởi vì đó là ngày thánh cho các ngươi. Kẻ nào xúc phạm đến ngày đó phải bị xử tử. Kẻ nào làm bất cứ việc gì trong ngày đó sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng. 15. Ngươi hãy làm việc trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, tức là ngày nghỉ và thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm bất cứ công việc gì trong ngày Sa-bát phải bị xử tử. 16. Vì vậy dân Y-sơ-ra-ên phải giữ ngày Sa-bát trải qua mọi thế hệ bởi vì đây là một giao ước vĩnh viễn. 17. Đó là một dấu hiệu đời đời giữa Ta và dân Y-sơ-ra-ên, bởi vì Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời và đất trong sáu ngày, sang ngày thứ bảy Ngài ngưng công việc và nghỉ ngơi.”
- Sau khi phán với Môi-se tại núi Si-nai, Ngài ban cho ông hai Bảng Chứng Ước, là những bảng bằng đá, được viết bởi ngón tay của Đức Chúa Trời.
32
- Khi dân chúng thấy Môi-se từ trên núi chậm xuống, họ đã họp nhau, đến với A-rôn, rồi nói với ông: “Xin ông hãy đứng dậy làm cho chúng tôi những vị thần để đi trước chúng tôi, bởi vì Môi-se, là người đã đem chúng tôi ra khỏi xứ Ai Cập, chúng tôi không biết ông ấy như thế nào.” 2. A-rôn nói với họ: “Hãy tháo những vòng vàng đeo tai ở trên tai của vợ, của các con trai và con gái của các ông, rồi đem đến cho tôi.” 3. Vì vậy, tất cả dân chúng đều tháo vòng vàng đeo tai ở trên tai của mình, rồi đem đến cho A-rôn. 4. Ông nhận vàng từ tay của họ, thiết kế, làm khuôn, rồi đúc thành một con bò con. Họ nói: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi đất Ai Cập.” 5. Khi A-rôn thấy vậy, ông đã dựng một bàn thờ trước tượng, rồi A-rôn công bố rằng: “Ngày mai sẽ có một lễ hội cho Đức Giê-hô-va.”
- Sáng hôm sau dân chúng dậy sớm, dâng những tế lễ thiêu, rồi gần gũi thân ái. Họ ngồi xuống ăn, uống, rồi đứng dậy hoan lạc.
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Ngươi hãy đi xuống, bởi vì dân tộc của ngươi mà ngươi đã đem ra khỏi xứ Ai Cập, đã bại hoại rồi. 8. Chúng vội vàng rời bỏ đường lối mà Ta đã truyền. Chúng đã làm cho mình một tượng bò con, thờ lạy nó, dâng tế lễ cho nó, rồi nói: Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi đất Ai Cập.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Ta đã thấy rõ dân này. Thật vậy, chúng là một dân cứng cổ. 10. Bây giờ hãy để mặc Ta, cơn thịnh nộ của Ta sẽ bừng lên nghịch cùng chúng và tiêu diệt chúng. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân tộc vĩ đại.”
- Nhưng Môi-se nài xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình rằng: “Đức Giê-hô-va ôi! Tại sao cơn thịnh nộ của Ngài lại bừng lên chống lại dân của Ngài, là dân mà Ngài đã dùng quyền uy lớn lao và cánh tay mạnh mẽ đem ra khỏi đất Ai Cập? 12. Vì sao lại để cho người Ai Cập nói: Ngài đem họ ra để hại họ, để giết họ trong núi, rồi tiêu diệt họ khỏi mặt đất? Cầu xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ của Ngài. Xin Ngài đổi ý và đừng làm hại dân của Ngài. 13. Xin nhớ lại Áp-ra-ham, Y-sác và Y-sơ-ra-ên, là những đầy tớ của Ngài – là những người mà Ngài đã lấy chính mình ra và đã thề với họ rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi của các ngươi đông như sao trên trời. Ta sẽ ban cho dòng dõi của các ngươi tất cả vùng đất nầy như Ta đã phán, và chúng sẽ thừa hưởng cơ nghiệp đó đời đời.”
- Đức Giê-hô-va đã từ bỏ hình phạt mà Ngài đã định giáng xuống trên dân của Ngài.
- Môi-se quay lại, từ trên núi đi xuống với hai Bảng Giao Ước trong tay. Những Bảng Giao Ước đã được viết trên cả hai mặt – chúng được viết trên mặt nầy và trên mặt kia. 16. Những bảng đó là tác phẩm của Ðức Chúa Trời. Chữ viết là chữ của Ðức Chúa Trời được khắc trên những bảng đó.
- Khi Giô-suê nghe tiếng dân chúng reo hò, ông nói với Môi-se: Có tiếng giao tranh trong doanh trại. Nhưng ông đã nói: “Đó không phải là tiếng reo thắng trận. Đó không phải là tiếng rên rĩ thất trận. Nhưng ta nghe tiếng hoan ca.”
- Khi đến gần doanh trại, ông thấy tượng con bò con và dân chúng đang nhảy múa, cơn giận của Môi-se bừng lên, ông liệng những tấm bảng khỏi tay của mình, rồi đập vỡ chúng tại chân núi. 20. Ông đã lấy tượng bò con mà họ đã làm, thiêu trong lửa, nghiền nó thành bột, rải nó trên mặt nước, rồi bắt dân Y-sơ-ra-ên uống nước.
- Môi-se nói với A-rôn: “Dân nầy đã làm gì với anh mà anh đã mang họ vào một tội lỗi trầm trọng như vậy?” 22. A-rôn đáp: “Xin chúa của tôi đừng nổi giận. Ngài biết dân nầy có khuynh hướng làm điều xấu xa.” 23. Họ đã nói với tôi: “Hãy làm cho chúng tôi những vị thần để đi trước chúng tôi, bởi vì Môi-se nầy, là người đã đem chúng tôi ra khỏi xứ Ai Cập, chúng tôi không biết ông ấy như thế nào. 24. Tôi đã nói với họ: Ai có vàng, hãy tháo ra. Họ đưa vàng cho tôi, tôi ném vào lửa, rồi thành ra con bò con nầy.”
- Khi Môi-se thấy dân chúng buông tuồng, bởi vì A-rôn đã để cho họ buông tuồng, và trở thành sự đàm tiếu giữa những kẻ thù, 26. Môi-se đã đến đứng nơi cổng của doanh trại, rồi hỏi: “Ai theo Đức Giê-hô-va, hãy đến với ta!” Tất cả những người Lê-vi đã họp lại chung quanh ông. 27. Ông đã nói với họ: “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Mỗi người trong các ngươi hãy đeo gươm bên hông của mình, đi vào, đi ra, từ cửa nầy đến cửa khác, trong khắp cả doanh trại. Mỗi người hãy giết anh em của mình, bạn hữu của mình, và láng giềng của mình.” 28. Người Lê-vi đã vâng theo lệnh của Môi-se. Trong ngày đó có độ ba ngàn người bị hạ sát. 29. Môi-se nói: “Hôm nay các ngươi đã cung hiến chính mình cho Đức Giê-hô-va – bởi vì mỗi người đã chống lại con trai của mình và anh em của mình – cho nên hôm nay Ngài ban phước cho các ngươi.”
- Đến ngày kế tiếp, Môi-se nói với dân chúng: “Các ngươi đã phạm một trọng tội. Bây giờ ta sẽ lên gặp Đức Giê-hô-va, có lẽ ta sẽ chuộc được tội cho các ngươi.”
- Môi-se trở lại cùng Đức Giê-hô-va, và thưa với Ngài rằng: “Ôi! Dân nầy đã phạm một trọng tội. Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng. 32. Bây giờ, nếu có thể được, xin Ngài tha tội cho họ! Nếu không, xin Ngài xóa tên con khỏi sách mà Ngài đã viết.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Kẻ nào phạm tội chống lại Ta, Ta sẽ xóa người đó khỏi sách của Ta. 34. Bây giờ, ngươi hãy đi. Hãy dẫn dân chúng đến nơi mà Ta đã bảo ngươi. Nầy, thiên sứ của Ta sẽ đi trước ngươi. Khi nào đến ngày Ta trừng phạt, Ta sẽ trừng phạt chúng vì tội của chúng.”
- Đức Giê-hô-va đã giáng dịch bệnh trên dân chúng về việc mà họ đã làm với con bò con mà A-rôn đã tạo ra.
33
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Hãy rời khỏi nơi nầy! Ngươi và dân chúng – là những người mà Ta đã đem ra khỏi xứ Ai Cập – hãy từ đây đi lên xứ mà Ta đã thề với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp rằng: Ta sẽ ban cho dòng dõi của các ngươi xứ nầy. 2. Ta sẽ sai một thiên sứ đi trước các ngươi. Ta sẽ đuổi dân Ca-na-an, dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít ra khỏi. 3. Hãy đi lên xứ đượm sữa và mật. Nhưng Ta sẽ không đi với các ngươi bởi vì các ngươi là một dân cứng cổ; nếu không, Ta có thể tiêu diệt các ngươi dọc đường.”
- Khi dân chúng nghe những lời đáng buồn nầy, họ đã than khóc – không một ai đeo đồ trang sức. 5. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se: “Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên: Các ngươi là một dân cứng cổ, nếu Ta cùng đi lên với các ngươi, chỉ trong một thời gian ngắn Ta có thể tiêu diệt các ngươi. Bây giờ, hãy tháo hết những đồ trang sức; và rồi Ta biết Ta sẽ làm gì cho các ngươi.” 6. Do đó từ núi Hô-rếp trở đi, dân Y-sơ-ra-ên đã lột bỏ những đồ trang sức.
- Môi-se đã nhổ Lều rồi đem cắm nó ở bên ngoài doanh trại – cách xa khỏi doanh trại – rồi gọi đó là Lều Hội Kiến. Sau này, ai muốn cầu khẩn Đức Giê-hô-va thì đi ra bên ngoài trại quân để đến Lều Hội Kiến. 8. Mỗi khi Môi-se đi ra để đến Lều thì tất cả dân chúng đều đứng dậy – mỗi người đứng tại cửa trại của mình, nhìn theo Môi-se cho đến khi ông đã vào trong Lều. 9. Khi Môi-se đã vào trong Lều, trụ mây hạ xuống, đứng tại cửa Lều, rồi Ngài nói chuyện với Môi-se. 10. Khi dân chúng thấy trụ mây đứng ở cửa Lều, mọi người đều đứng dậy, rồi mỗi người phủ phục tại cửa trại của mình. 11. Đức Giê-hô-va đã nói chuyện với Môi-se mặt đối mặt như một người nói chuyện với bạn của mình. Sau đó ông trở về doanh trại, nhưng người phụ tá của ông là Giô-suê, con của Nun, là một thanh niên, thì không rời khỏi Lều.
- Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Xem nầy, Ngài đã phán với con rằng: Hãy dẫn dân nầy lên nhưng Ngài lại không cho con biết Ngài sẽ sai ai đi với con, dù Ngài có phán: Ta biết đích danh con, và con đã được ơn trước mặt Ta. 13. Vì vậy bây giờ, nếu con được ơn trước mặt Ngài, xin hãy bày tỏ cho con biết đường lối của Ngài, để con có thể biết Ngài và được ơn trước mặt Ngài. Xin hãy đoái xem dân tộc nầy là dân của Ngài! 14. Ngài phán: Chính Ta sẽ đi với ngươi, và Ta sẽ cho ngươi được an nghỉ. 15. Ông thưa với Ngài: Nếu chính Ngài không đi với chúng con, xin Ngài đừng đem chúng con lên khỏi nơi đây. 16. Điều gì làm cho người ta biết được là con và dân của Ngài được ơn trước mặt Ngài? Không phải là Ngài đi cùng với chúng con hay sao? Chỉ như vậy, chúng con, tức là con và dân của Ngài, mới khác biệt với mọi dân tộc khác trên mặt đất.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Ta sẽ làm mọi điều ngươi cầu xin, bởi vì ngươi đã được ơn trước mặt Ta, và Ta biết đích danh ngươi.” 18. Ông đã thưa: “Xin cho con được nhìn xem vinh quang của Ngài.” 19. Ngài phán: “Ta sẽ thể hiện sự toàn hảo của Ta trước mặt ngươi. Ta sẽ công bố danh Giê-hô-va trước mặt ngươi. Ta sẽ làm ơn cho ai Ta muốn làm ơn và thương xót ai Ta muốn thương xót.” 20. Nhưng Ngài phán: “Ngươi không thể thấy mặt Ta, bởi vì không một người nào thấy mặt Ta mà còn sống.” 21. Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, có một chỗ gần bên Ta. Ngươi hãy đứng trên tảng đá. 22. Khi vinh quang của Ta đi ngang qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, Ta sẽ lấy tay của Ta che ngươi lại, cho đến khi Ta qua khỏi. 23. Ta sẽ rút tay của Ta lại, và ngươi sẽ nhìn thấy phía sau của Ta, nhưng mặt của Ta thì ngươi sẽ không thể nhìn thấy.”
34
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy cắt hai bảng đá như hai bảng trước. Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời trên hai bảng mà ngươi đã đập vỡ. 2. Sáng mai hãy chuẩn bị sẵn sàng. Sáng mai ngươi hãy lên núi Si-nai và trình diện với Ta tại trên đỉnh núi. 3. Không ai được lên núi với ngươi, cũng không ai được thấy ở bất cứ nơi nào trên núi; ngay cả chiên, bò cũng không được ăn cỏ phía trước của núi.” 4. Vì vậy Môi-se đã cắt hai bảng đá giống như lần trước. Sáng hôm sau, ông đã dậy sớm lên núi Si-nai, trong tay của ông có hai bảng đá như Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông.
- Đức Giê-hô-va đã ngự xuống trong đám mây, đứng cùng với ông tại đó, và xưng danh của Ngài là Giê-hô-va. 6. Đức Giê-hô-va đi qua trước mặt ông và công bố: “Giê-hô-va! Giê-hô-va! Là Đức Chúa Trời thương xót và đầy ơn, chậm giận, chan chứa tình thương và chân thật, 7. Ngài giữ lòng bác ái đến ngàn đời, tha thứ sự gian ác, phản nghịch và tội lỗi. Ngài không kể người có tội là vô tội, nhưng vì tội của tổ phụ trừng phạt con cháu đến ba, bốn đời.”
- Môi-se vội vàng cúi đầu và sấp mình xuống đất và thờ phượng. 9. Sau đó ông thưa: “Chúa ôi! Nếu bây giờ con được ơn trước mặt Ngài. Chúa ôi! Con cầu xin Chúa đi với chúng con. Dầu cho chúng con là một dân cứng cổ, cầu xin Ngài tha thứ những sai phạm và những tội lỗi của chúng con. Xin Ngài nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài.”
- Ngài phán: “Nầy, Ta lập một giao ước trước mặt tất cả dân chúng của ngươi. Ta sẽ làm những việc lạ lùng chưa hề được thực hiện trên đất hay cho bất cứ một dân tộc nào. Tất cả các dân tộc chung quanh ngươi sẽ thấy công việc của Đức Giê-hô-va, bởi vì đó là một việc tuyệt vời mà Ta sẽ làm cho ngươi. 11. Hãy cẩn thận làm theo mọi điều Ta truyền cho ngươi ngày nay. Ta sẽ đuổi dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít khỏi trước mặt ngươi. 12. Ngươi hãy cẩn thận đừng lập một giao ước nào với các dân tộc trong xứ mà ngươi sẽ đến, nếu không nó sẽ thành một cạm bẫy ở giữa ngươi. 13. Nhưng ngươi hãy phá hủy những bàn thờ của chúng, đập nát những trụ thờ bằng đá của chúng, và triệt hạ những thần tượng. 14. Đừng thờ lạy một thần nào khác bởi vì Đức Giê-hô-va, danh của Ngài là Đấng kỵ tà; Ngài thật là một Đức Chúa Trời kỵ tà. 15. Đừng kết ước với các cư dân bản xứ, bởi vì khi họ hành dâm cùng các tà thần, cúng tế lễ vật cho các thần đó, mời mọc các ngươi, rồi các ngươi sẽ ăn đồ cúng. 16. Đừng cưới con gái của họ cho con trai của các ngươi – Con gái của họ hành dâm với các tà thần rồi quyến dụ con trai của các ngươi cũng hành dâm với những tà thần của họ.”
- “Đừng đúc cho mình thần tượng.”
- “Ngươi hãy giữ lễ Bánh Không Men. Ngươi sẽ ăn bánh không men bảy ngày như Ta đã truyền cho ngươi theo thời điểm đã được ấn định trong tháng A-bíp, bởi vì trong tháng A-bíp ngươi đã ra khỏi Ai Cập.”
- “Tất cả các con đầu lòng đều thuộc về Ta. Tất cả các con đực dù là bò hay chiên trong bầy súc vật của các ngươi. 20. Nhưng con đầu lòng của lừa, ngươi hãy chuộc lại bằng một con chiên; nếu ngươi không chuộc nó lại, ngươi phải bẻ gãy cổ của nó. Tất cả các ngươi sẽ chuộc lại con đầu lòng của mình. Không một ai đến với Ta bằng tay không.”
- “Ngươi hãy làm việc trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy ngươi sẽ nghỉ – ngay cả trong mùa cày cấy hay mùa gặt hái ngươi cũng phải nghỉ.”
- “Ngươi hãy giữ lễ Các Tuần sau khi gặt lúa mì đầu mùa, và lễ Thu Hoạch vào cuối năm.”
- “Mỗi năm ba lần, tất cả những người nam đều phải trình diện trước mặt Chúa, là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 24. Bởi vì Ta sẽ xua đuổi các dân tộc trước mặt ngươi và mở rộng bờ cõi của ngươi, và không một ai dám xâm phạm đất đai của ngươi khi ngươi đi lên ra mắt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của ngươi mỗi năm ba lần.”
- “Ngươi không được dâng huyết chung với men. Những tế lễ dâng trong lễ Vượt Qua sẽ không được để lại đến sáng hôm sau.”
- “Ngươi hãy đem những hoa quả đầu mùa của ruộng vườn ngươi đến nhà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của ngươi.”
“Ngươi không được nấu thịt dê con trong sữa của mẹ nó.”
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy chép lại những lời nầy, bởi vì dựa trên những lời nầy mà Ta lập giao ước với ngươi và với Y-sơ-ra-ên.” 28. Ông đã ở tại đó với Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước. Ngài đã viết trên hai bảng đá những lời của giao ước, tức là Mười Điều Răn.
- Sau đó Môi-se đã từ núi Si-nai đi xuống với hai Bảng Chứng Ước trên tay. Khi từ núi đi xuống, Môi-se không biết rằng da mặt của ông sáng rực lúc ông hầu chuyện cùng Đức Giê-hô-va. 30. Khi A-rôn cũng như tất cả dân Y-sơ-ra-ên nhìn Môi-se, họ thấy da mặt của ông sáng rực thì sợ hãi và không dám lại gần. 31. Môi-se đã gọi họ. A-rôn cùng với tất cả các lãnh đạo của hội chúng đã quay lại, và Môi-se đã nói chuyện với họ. 32. Sau đó, tất cả dân Y-sơ-ra-ên đã đến gần. Ông truyền cho họ những mạng lệnh mà Đức Giê-hô-va đã phán với ông trên núi Si-nai. 33. Sau khi Môi-se nói với họ xong, ông đã lấy một tấm lúp che mặt của mình lại. 34. Nhưng mỗi khi Môi-se đến trước mặt Đức Giê-hô-va để hầu chuyện với Ngài thì ông giở lúp ra cho đến khi nào đi ra bên ngoài để thuật lại với dân Y-sơ-ra-ên những gì mà ông được truyền dặn. 35. Khi nào dân Y-sơ-ra-ên thấy gương mặt của Môi-se chiếu sáng, tức là da mặt của Môi-se sáng rực lên, ông phải lấy lúp che mặt của mình, cho đến khi ông đến hầu chuyện cùng Đức Giê-hô-va.
35
- Môi-se tập hợp toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên lại và nói: “Đây là những việc Đức Giê-hô-va truyền phải làm: 2. Hãy làm việc trong sáu ngày, nhưng đến ngày thứ bảy các ngươi sẽ có một ngày Sa-bát được nghỉ ngơi hoàn toàn. Đó sẽ là một ngày thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm việc gì trong ngày đó sẽ bị xử tử. 3. Trong ngày Sa-bát các ngươi không được nhóm lửa trong mọi nơi ngươi ở.”
- Môi-se nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Đây là lời Đức Giê-hô-va đã truyền: 5. “Hãy lấy trong những gì các ngươi có để dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Ai vui lòng hãy dâng cho Đức Giê-hô-va vàng, bạc, và đồng; 6. chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ, vải gai mịn, lông dê, 7. da chiên nhuộm đỏ, da hảo hạng; gỗ si-tim; 8. dầu để thắp, các hương liệu để pha chế dầu xức và hương thơm; 9. bạch ngọc và các thứ ngọc để gắn trên ê-phót và bảng đeo ngực.”
- “Tất cả những người có đầu óc thông sáng giữa vòng các ngươi hãy đến để làm mọi việc Đức Giê-hô-va đã truyền: 11. Đền Tạm cùng với trại, mái che, móc, ván, thanh ngang, trụ và lỗ trụ; 12. Rương, những đòn khiêng, Ngôi Thi Ân, bức màn che, 13. cái bàn cùng với những đòn khiêng, những dụng cụ, Bánh Hằng Hiến, 14. cây đèn và những dụng cụ, đèn và dầu thắp đèn; 15. bàn thờ xông hương và những đòn khiêng; dầu xức, hương thơm, và bức màn che cửa Đền Tạm; 16. bàn thờ dâng tế lễ thiêu và rá đồng; đòn khiêng và những dụng cụ của bàn thờ; bồn rửa và chân bồn; 17. những tấm màn che sân, trụ, lỗ trụ, và tấm màn che nơi cổng của sân; 18. các cọc của Đền Tạm, các cọc và dây ngoài sân, 19. các bộ lễ phục để hành lễ trong Nơi Thánh, tức những trang phục thánh cho Tư Tế A-rôn và các lễ phục cho các con trai của ông để thi hành chức vụ tư tế.”
- Sau đó, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã rời khỏi sự hiện diện của Môi-se. 21. Người được thúc giục trong lòng và người có tâm linh được cảm động đã quay trở lại. Họ đã đem lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va cho công việc của Lều Hội Kiến, cho những nghi lễ, và các trang phục thánh. 22. Họ đã kéo đến, cả nam lẫn nữ, tất cả là những người có lòng nhiệt thành. Họ đem trâm, bông tai, nhẫn, kiềng, các thứ trang sức bằng vàng, dâng những lễ vật bằng vàng lên cho Đức Giê-hô-va. 23. Ai có chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ, vải gai mịn, lông dê, da chiên nhuộm đỏ, hay da hảo hạng đều đem đến. 24. Ai có thể dâng hiến bạc hay đồng, thì đã mang đến để dâng cho Đức Giê-hô-va. Ai có gỗ si-tim dùng được vào việc gì đều đem đến. 25. Tất cả những phụ nữ có tâm trí thông minh và khéo tay về kéo sợi, họ đã đem đến những thứ mà tự mình đã kéo như chỉ xanh, tím, đỏ, và vải gai mịn. 26. Còn những phụ nữ được thúc giục và có năng khiếu thì kéo chỉ lông dê. 27. Các nhà lãnh đạo đem bích ngọc và các thứ ngọc khác để để gắn ê-phót và bảng đeo ngực. 28. Họ cũng đem dầu thắp đèn, các hương liệu để làm dầu xức và hương thơm. 29. Tất cả dân Y-sơ-ra-ên, cả nam lẫn nữ, ai được thúc giục muốn dâng bất cứ vật gì cho những công việc mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se, đều đã tự nguyện dâng lên cho Đức Giê-hô-va.
- Môi-se nói với con dân Y-sơ-ra-ên: “Nầy, Đức Giê-hô-va đã gọi đích danh Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, thuộc bộ tộc Giu-đa. 31. Ngài đã ban cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời, cùng với sự khôn ngoan, thông minh, và kiến thức trong mọi lãnh vực, 32. để thiết kế cách nghệ thuật và chế tạo các vật bằng vàng, bạc, và đồng, 33. cắt ngọc để khảm vào khuôn, khắc gỗ, và thực hiện mọi công việc với kỹ năng. 34. Ngài cũng ban cho ông khả năng để dạy, và cũng ban Ô-hô-li-áp, con của A-hi-sa-mạc, thuộc bộ tộc Đan nữa. 35. Ngài cho họ đầy dẫy sự khôn ngoan để làm tất cả các công việc chạm trổ, thiết kế, làm thảm, thêu, và dệt vải mịn từ chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ. Họ là người thiết kế và thực hiện những công trình mỹ thuật.”
36
- Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp, và những nghệ nhân mà Đức Giê-hô-va đã đặt sự khôn ngoan và sự thông sáng ở trong họ, sẽ làm tất cả những vật dụng liên quan đến việc thờ phượng trong Đền Thánh, theo tất cả những gì mà Đức Giê-hô-va đã truyền.
- Môi-se đã triệu tập Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp, và mọi nghệ nhân có sự thông sáng ở trong tâm – tức là những người mà Đức Giê-hô-va đã đặt sự khôn ngoan ở trong tâm của họ – cùng mọi người có tinh thần tự nguyện, đến để thực hiện công việc. 3. Họ nhận từ tay Môi-se những lễ vật mà dân Y-sơ-ra-ên đã đem đến dâng, để họ làm những vật dụng phục vụ cho việc thờ phượng trong Đền Thánh. Mỗi buổi sáng, dân chúng cứ tiếp tục đem lễ vật đến. 4. Tất cả các nghệ nhân, là những người thực hiện những công việc cho Đền Thánh đã đến. Người nầy đến người khác, họ làm công việc của mình. 5. Họ nói với Môi-se: “Dân chúng dâng hiến nhiều hơn số cần thiết để thực hiện những công việc mà Đức Giê-hô-va truyền phải làm.” 6. Vì vậy Môi-se đã ra lệnh công bố trong khắp doanh trại rằng: “Xin mọi người, nam cũng như nữ, đừng dâng thêm vật gì cho công việc xây dựng Đền Thánh nữa.” Dân chúng bị ngăn trở dâng hiến. 7. Bởi vì họ đã có đủ vật liệu để làm tất cả những công việc, và thật ra có dư nữa.
- Tất cả những người có đầu óc sáng tạo trong số người tham gia công tác thiết lập Đền Tạm đã làm mười tấm màn bằng vải mịn dệt bằng chỉ xanh dương, tím và đỏ, rồi ông thiết kế những chê-rúp thật mỹ thuật. 9. Chiều dài của mỗi tấm màn là hai mươi tám cu-bít; chiều rộng của mỗi tấm màn là bốn cu-bít. Tất cả các màn có cùng một kích thước. 10. Năm tấm màn nầy được kết lại với nhau, và năm tấm màn kia được kết lại với nhau. 11. Ông đã thắt những vòng bằng chỉ xanh dương trên phía ngoài cùng của bộ màn thứ nhất; và cũng làm như vậy trên phía ngoài cùng của bộ màn thứ hai. 12. Ông thắt năm mươi cái vòng trên bộ màn thứ nhất, và năm mươi cái vòng trên phía ngoài cùng bộ màn thứ hai – những cái vòng nầy đối diện nhau từng cái một. 13. Ông làm năm mươi cái móc bằng vàng, rồi dùng những cái móc đó kết hai bộ màn lại với nhau để Đền Tạm trở thành một.
- Ông đã làm những tấm màn bằng lông dê để che trên Ðền Tạm. Ông đã làm mười một tấm màn. 15. Chiều dài của mỗi tấm màn là ba mươi cu-bít; chiều rộng của mỗi tấm màn là bốn cu-bít. Mười một tấm màn có cùng một kích thước. 16. Ông đã kết năm tấm màn lại với nhau, và kết sáu tấm màn kia lại với nhau. 17. Ông đã thắt năm mươi cái vòng trên phía ngoài cùng của bộ màn thứ nhất, và năm mươi cái vòng trên phía ngoài cùng bộ màn thứ hai. 18. Ông đã làm năm mươi cái móc bằng đồng, rồi dùng những cái móc đó móc vào những cái vòng để cái trại được kết với nhau thành một.
- Ông đã làm một tấm bạt bằng da chiên nhuộm đỏ để che lều, rồi phủ bên trên đó một tấm che bằng da hảo hạng.
- Ông đã làm những tấm ván bằng gỗ si-tim để dựng lên làm vách cho Ðền Tạm. 21. Chiều dài của mỗi tấm ván là mười cu-bít, và chiều rộng của mỗi tấm ván là một cu-bít rưỡi. 22. Mỗi tấm ván có hai cái mộng để gắn tấm ván nầy với tấm ván kia. Ông đã làm như vậy cho tất cả các tấm ván của Ðền Tạm. 23. Về các tấm ván của Ðền Tạm, ông dựng hai mươi tấm về hướng Nê-ghép, tức là hướng nam. 24. Ông đã làm bốn mươi lỗ mộng bằng bạc; tấm ván nầy có hai lỗ mộng khớp với hai cái mộng, tấm ván kia có hai lỗ mộng khớp với hai cái mộng. 25. Phía thứ hai của Ðền Tạm, ở hướng bắc, cũng có hai mươi tấm ván, 26. bốn mươi lỗ mộng bằng bạc, tấm ván nầy có hai lỗ mộng, và tấm ván kia có hai lỗ mộng. 27. Ông đã làm sáu tấm ván cho phía sau của Đền Tạm về phía tây; 28. và làm hai tấm ván cho những góc ở phía sau của Đền Tạm. 29. Chúng ghép lại với nhau ở phía dưới, và chúng cũng kết lại với nhau ở phía trên bằng một cái khoen – Ông đã làm hai tấm tại cả hai góc. 30. Như vậy có tám tấm ván với những lỗ mộng bằng bạc, mười sáu lỗ mộng bằng bạc, hai lỗ mộng trong tấm ván nầy, và hai lỗ mộng trong tấm ván kia.
- Ông đã làm những xà ngang bằng gỗ si-tim; năm cái cho những tấm ván thuộc phía bên nầy của Ðền Tạm, 32. năm xà ngang cho những tấm ván ở phía thứ hai của Ðền Tạm, và năm xà ngang cho những tấm ván ở hướng tây, tại phía sau của Đền Tạm. 33. Xà ngang ở chính giữa chạy dài từ đầu này đến đầu kia, xuyên qua những tấm ván. 34. Ông dát vàng những tấm ván, và làm các khoen bằng vàng để giữ những xà ngang, và dát vàng những xà ngang.
- Ông đã làm một bức màn bằng gải vai mịn, dệt bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ, có thêu hình các chê-rúp được thiết kế thật mỹ thuật. 36. Ông đã làm bốn cây trụ bằng gỗ si-tim bọc vàng, có những móc bằng vàng, được dựng trên bốn lỗ trụ bằng bạc.
- Ông đã làm một màn che cho cửa vào Đền Tạm bằng gải vai mịn, được thêu bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ, 38. cùng năm cây trụ bằng gỗ si-tim, bọc vàng, để treo màn che. Ông bọc những đầu trụ và những chỗ nối bằng vàng, nhưng năm lỗ trụ thì bằng đồng.
37
- Bết-sa-lê-ên đã làm một cái rương bằng gỗ si-tim, dài hai cu-bít rưỡi, rộng một cu-bít rưỡi, cao một cu-bít rưỡi. 2. Ông đã bọc nó bằng vàng ròng, cả bên trong lẫn bên ngoài, rồi làm một đường viền chung quanh bằng vàng. 3. Ông đã đúc bốn khoen bằng vàng, rồi gắn vào bốn chân của rương, hai khoen bên nầy và hai khoen bên kia. 4. Ông đã làm những đòn khiêng bằng gỗ si-tim, rồi bọc chúng bằng vàng. 5. Ông đặt những đòn khiêng vào các khoen gắn bên hông của rương để khiêng rương.
- Ông đã làm một Ngôi Thi Ân bằng vàng ròng, dài hai cu-bít rưỡi, rộng một cu-bít rưỡi. 7. Ông đã làm hai chê-rúp bằng vàng dát mỏng đặt trên hai đầu của Ngôi Thi Ân, 8. một chê-rúp ở đầu nầy và một chê-rúp ở đầu kia. Ông đã làm Ngôi Thi Ân dính liền với hai chê-rúp ở hai đầu của ngôi. 9. Các chê-rúp dang cánh ra ở phía trên và dùng cánh của mình để che phủ Ngôi Thi Ân. Họ sẽ đối diện nhau nhưng mặt của hai chê-rúp sẽ hướng về Ngôi Thi Ân.
- Ông đã làm một cái bàn bằng gỗ si-tim, dài hai cu-bít, rộng một cu-bít, cao một cu-bít rưỡi. 11. Ông đã bọc nó bằng vàng ròng, và làm một đường viền bằng vàng chung quanh nó. 12. Ông đã làm cho nó một cái khung, rộng khoảng một bàn tay. Ông đã làm một đường viền bằng vàng chung quanh khung. 13. Ông đã làm cho nó bốn khoen bằng vàng, rồi gắn những khoen đó vào bốn góc tại bốn chân của nó. 14. Các khoen sẽ gắn gần với khung để giữ những đòn dùng để khiêng cái bàn. 15. Ông đã làm những đòn khiêng bằng gỗ si-tim, rồi bọc chúng bằng vàng, và chúng được dùng để khiêng bàn. 16. Ông đã làm những vật dụng để trên bàn như đĩa, khay, lọ, và bình để rót, bằng vàng ròng.
- Ông đã làm một cây đèn bằng vàng ròng – chân đèn được dát vàng. Đế, thân, đài, nụ, và cánh hoa của đèn là một khối. 18. Có sáu nhánh tỏa ra hai bên, ba nhánh bên nầy của chân đèn và ba nhánh bên kia của cây đèn. 19. Trên một nhánh sẽ có ba đài hoa giống hình hoa hạnh nhân, với nụ hoa và cánh hoa; và trên nhánh bên kia cũng sẽ có ba đài hoa giống hình hoa hạnh nhân, với nụ hoa và cánh hoa – như vậy có sáu nhánh tỏa ra từ cây đèn. 20. Ngay trên cây đèn cũng có bốn đài hoa hình hạnh nhân với nụ hoa và cánh hoa. 21. Dưới hai nhánh giống nhau có một nụ hoa; dưới hai nhánh giống nhau có một nụ hoa; dưới hai nhánh giống nhau có một nụ hoa – có sáu nhánh tỏa ra từ cây đèn. 22. Những nụ hoa và các nhánh kết thành một khối – tất cả được dát vàng ròng. 23. Ông đã làm bảy ngọn đèn, kéo cắt tim đèn, và đĩa đựng tàn đèn được làm bằng vàng ròng. 24. Ông đã làm chân đèn và những phụ tùng của nó bằng một ta-lâng vàng ròng.
- Ông đã làm một bàn thờ để xông hương bằng gỗ si-tim. Bàn thờ hình vuông, dài một cu-bít, rộng một cu-bít, và cao hai cu-bít. Các sừng được gắn liền với bàn thờ thành một khối. 26. Ông đã dùng vàng ròng bọc trên mặt, tất cả các phía, và những sừng của nó. Ông đã làm một đường viền chung quanh bằng vàng. 27. Ông đã làm hai cái khoen bằng vàng gắn bên dưới đường viền – hai cái bên nầy và hai các bên kia – để người ta xỏ các đòn khiêng vào khiêng nó. 28. Ông đã làm các đòn khiêng bằng gỗ si-tim bọc vàng. 29. Ông đã chế tạo dầu xức thánh và hương thơm thuần khiết, theo nghệ thuật hòa hương.
38
- Ông đã làm một bàn thờ bằng gỗ si-tim, dài năm cu-bít, rộng năm cu-bít, bàn thờ hình vuông và cao ba cu-bít. 2. Ông đã làm những cái sừng tại bốn góc của bàn thờ. Những cái sừng sẽ dính liền thành một khối với bàn thờ, rồi ngươi sẽ bọc bàn thờ bằng đồng. 3. Ông đã làm những cái thùng đựng tro, những cái xẻng, những cái chậu, những cái chĩa, và những cái khay. Ông đã làm tất cả những dụng cụ đó bằng đồng. 4. Ông đã làm một cái rá có lưới bằng đồng, đặt dưới thành bàn thờ, khoảng phân nửa chiều cao của bàn thờ. 5. Ông đã làm bốn chiếc khoen ở bốn góc rá đồng để xỏ đòn khiêng. 6. Ông đã làm những đòn khiêng cho bàn thờ bằng gỗ si-tim và chúng được bọc đồng. 7. Ông xỏ những đòn khiêng vào những cái khoen ở hai bên bàn thờ để khiêng nó. Ông đã làm bàn thờ rỗng ở bên trong và có những vách ván.
- Ông dùng những tấm gương soi của các phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến để làm một cái bồn rửa bằng đồng có chân bồn bằng đồng.
- Ông đã làm rào che. Về phía nam của sân, có giăng một tấm màn dệt bằng vải gai mịn dài một trăm cu-bít, 10. với hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng, còn những móc của trụ và khoen thì bằng bạc. 11. Về phía bắc, giăng một tấm màn dài một trăm cu-bít, với hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng, còn những móc của trụ và khoen thì bằng bạc. 12. Về phía tây, giăng một tấm màn dài năm mươi cu-bít, với mười cây trụ và mười lỗ trụ. 13. Phía đông, hướng về mặt trời mọc, dài năm mươi cu-bít. 14. Ở một bên có một tấm màn dài mười lăm cu-bít, với ba cây trụ và ba lỗ trụ. 15. Phía thứ hai của cổng sân, có một tấm màn dài mười lăm cu-bít, với ba cây trụ và ba lỗ trụ.
- Tất cả những màn treo quanh sân đều làm bằng vải gai mịn. 17. Các lỗ trụ bằng đồng nhưng móc trụ và thanh ngang thì làm bằng bạc. Các đầu trụ đều được bọc bạc. Như vậy tất cả các trụ treo màn của sân đền đều được nối lại với nhau bằng những thanh ngang làm bằng bạc.
- Tấm màn chắn ở cổng vào sân đền được dệt rất mỹ thuật bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ, và vải dệt bằng sợi gai mịn, dài hai mươi cu-bít, cao năm cu-bít, theo chiều cao của các tấm màn treo chung quanh sân. 19. Bốn cây trụ và bốn lỗ trụ bằng đồng, móc trụ bằng bạc, đầu trụ bọc bạc, và những thanh ngang bằng bạc. 20. Tất cả những cọc để căng Ðền Tạm và những tấm màn quanh sân đều làm bằng đồng.
- Ðây là bảng kết toán công trình xây dựng Ðền Tạm, tức Ðền Tạm Giao Ước, được những người Lê-vi thực hiện, dưới sự chỉ huy của Y-tha-ma, con trai Tư Tế A-rôn, theo lệnh của Môi-se. 22. Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ, thuộc chi tộc Giu-đa, đã làm tất cả những gì Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se, 23. cùng với ông có Ô-hô-li-áp, con trai của A-hi-sa-mạc, thuộc chi tộc Đan, là thợ chạm, người thiết kế, thợ thêu vải gai mịn với chỉ xanh, chỉ tím, và chỉ đỏ thắm.
- Tổng số vàng đã sử dụng để thực hiện tất cả công trình xây dựng nơi thánh, tức số vàng được cung hiến, là hai mươi chín ta-lâng, bảy trăm ba chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh. 25. Số bạc do hội chúng đóng góp được một trăm ta-lâng, một ngàn bảy trăm bảy mươi lăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh. 26. Tất cả những người được thống kê, từ hai mươi tuổi sắp lên có sáu trăm lẻ ba ngàn năm trăm năm chục người, mỗi người nộp nửa siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh. 27. Một trăm ta-lâng bạc được dùng để đúc các lỗ trụ của Đền Thánh và các lỗ trụ màn. Một trăm ta-lâng bạc cho một trăm lỗ trụ, tức một ta-lâng cho mỗi lỗ trụ. 28. Một ngàn bảy trăm bảy mươi lăm siếc-lơ còn lại được ông dùng làm các móc cột, bọc các đầu cột, và làm các thanh ngang.
- Số đồng được cung hiến là bảy chục ta-lâng, hai ngàn bốn trăm siếc-lơ. 30. Ông dùng số đồng đó làm lỗ trụ của cửa Lều Hội Kiến, bàn thờ bằng đồng, rá đồng và các dụng cụ của bàn thờ, 31. các lỗ trụ chung quanh sân đền, các lỗ trụ cho cổng vào sân đền, tất cả các cọc để căng Ðền Tạm, và các cọc chung quanh sân.
39
- Họ dùng chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ thắm may một bộ lễ phục thật trang trọng để dùng khi hành lễ trong Nơi Thánh. Họ may những lễ phục thánh cho A-rôn như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Họ làm một cái ê-phót thật tinh xảo bằng vàng, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải mịn. 3. Họ lấy vàng lá, dát mỏng, cắt thành sợi, rồi thêu với chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ thắm trên vải mịn, và thiết kế thật mỹ thuật. 4. Họ làm hai cầu vai cho ê-phót, chúng được gắn vào nhau ở hai bên lề. 5. Ðai cột ê-phót cũng được làm cùng một cách và cùng những vật liệu bằng vàng sợi, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải mịn – như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Họ nhận những viên bạch ngọc vào khuông vàng, rồi khắc tên các con trai của Y-sơ-ra-ên trên ngọc như cách khắc con dấu. 7. Ông gắn chúng trên những cầu vai của ê-phót để làm những viên ngọc tưởng nhớ các con trai của Y-sơ-ra-ên, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Ông cũng làm bảng đeo ngực rất mỹ thuật giống như cách làm ê-phót, dùng vàng, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải mịn. 9. Bảng đeo ngực hình vuông, gồm hai lớp, dài một gang tay, rộng một gang tay, khi được gấp đôi lại. 10. Họ gắn bốn hàng ngọc trên đó. Hàng thứ nhất là mã não, hồng bích, và lục bửu; 11. hàng thứ nhì là phỉ túy, lam bửu và kim cương; 12. hàng thứ ba là hồng bửu, bạch mã não, và tử tinh; 13. hàng thứ tư là hoàng bích, hồng mã não, và bích ngọc. Chúng sẽ được đặt vào trong những khuôn bằng vàng. 14. Trên những viên ngọc có tên của mười hai con trai của Y-sơ-ra-ên, tên của họ sẽ được khắc trên mỗi viên ngọc như cách khắc con dấu, theo từng tên của mười hai chi tộc.
- Họ đã làm những dây chuyền bằng vàng ròng cho bảng đeo ngực, chúng xoắn lại như một sợi dây. 16. Họ làm hai cái khuông bằng vàng và hai cái khoen bằng vàng, rối đính hai cái khoen đó vào hai viền của bảng đeo ngực. 17. Họ gắn hai đầu của dây chuyền bằng vàng đó vào hai cái khoen ở hai viền của bảng đeo ngực, 18. còn hai đầu kia của hai dây chuyền vàng, họ gắn vào hai cái khuông ở trên hai cầu vai, và ở phía trước của ê-phót. 19. Họ làm hai cái khoen bằng vàng, rồi gắn vào hai mép bên viền trong của bảng đeo ngực, sát với ê-phót. 20. Họ làm hai cái khoen vàng khác, rồi gắn vào trên hai cầu vai ở bên dưới của ê-phót, ở phía trước của nó ngay chỗ giáp mối, bên trên cái đai của ê-phót. 21. Họ cột những cái khoen của bảng đeo ngực vào những cái khoen của ê-phót bằng một sợi dây màu xanh dương, ngay phía trên cái đai của ê-phót, để bảng đeo ngực không bị lỏng khỏi ê-phót, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Ông đã may chiếc áo dài của ê-phót bằng sợi màu xanh dương. 23. Giữa áo có một cổ để tròng đầu vào. Cổ sẽ được viền lại chung quanh – giống như cổ của áo khoát – để không bị rách. 24. Trên lai áo, họ làm những trái lựu màu xanh dương, tím, và đỏ. 25. Họ làm những cái chuông bằng vàng ròng gắn xen kẽ giữa những trái lựu, vòng theo lai áo. 26. Cứ một chuông bằng vàng có một trái lựu, một chuông bằng vàng có một trái lựu, vòng quanh hết cả lai áo, để hành lễ, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Họ đã may cho A-rôn và các con trai ông những áo lễ dài, dệt bằng vải mịn thật sắc sảo, 28. cùng với khăn vấn đầu bằng vải mịn, những cái mão tinh xảo bằng vải mịn, những quần ngắn bằng gai, 29. và một đai lưng bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, được thêu cách mỹ thuật trên vải mịn, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Họ đã làm một thẻ bằng vàng ròng cho chiếc mão thánh, rồi khắc trên đó như cách khắc con dấu, với dòng chữ: THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA, 31. rồi họ buộc thẻ đó trên khăn vấn đầu bằng một sợi dây bằng chỉ xanh dương, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
- Như vậy, tất cả công việc của Đền Tạm, tức là Lều Hội Kiến, đã được hoàn tất. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm mọi việc đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 33. Họ đem Đền Tạm đến cho Môi-se: Lều và các dụng cụ của lều, móc, ván, thanh ngang, trụ và lỗ trụ; 34. tấm bạt bằng da chiên đực nhuộm đỏ, tấm bạt bằng da hảo hạng, và bức màn che Nơi Chí Thánh; 35. Rương Giao Ước, những đòn khiêng, Ngôi Thi Ân, 36. cái bàn với những vật dụng của bàn, và Bánh Hằng Hiến; 37. cây đèn bằng vàng ròng với những ngọn đèn, những ngọn đèn đã được sắp đặt theo thứ tự, các vật dụng của chân đèn và dầu thắp, 38. bàn thờ bằng vàng, dầu xức, hương thơm, tấm màn cho cửa lều; 39. bàn thờ bằng đồng với rá đồng, đòn khiêng, các vật dụng của bàn thờ, bồn và chân bồn; 40. các tấm màn che quanh sân, trụ, lỗ trụ, màn cho cổng sân, dây, cọc, và tất cả những dụng cụ cho việc tế lễ của Đền Tạm và Lều Hội Kiến; 41. những lễ phục cho việc phụng vụ trong Nơi Thánh, bộ lễ phục thánh cho tư tế A-rôn, và những lễ phục cho các con trai của người để thi hành chức vụ tế lễ. 42. Dân Y-sơ-ra-ên đã hoàn tất mọi việc đúng như những gì Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 43. Môi-se xem xét tất cả những công việc mà họ đã làm. Họ đã hoàn tất đúng như lời Đức Giê-hô-va truyền. Môi-se chúc phước cho họ.
40
- Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. “Ngày mồng một tháng giêng, ngươi hãy dựng Ðền Tạm, tức là Lều Hội Kiến. 3. Ngươi hãy đặt Rương Giao Ước vào đó, rồi dùng bức màn ngăn lại. 4. Ngươi hãy đem cái bàn vào, rồi sắp đặt cho đúng thứ tự. Ngươi hãy đem cây đèn vào, rồi gắn những ngọn đèn lên trên. 5. Ngươi hãy đặt bàn thờ dâng hương bằng vàng trước Rương Giao Ước và giăng bức màn che cửa Đền Tạm. 6. Ngươi hãy đặt bàn thờ dâng tế lễ thiêu tại phía trước cửa vào Ðền Tạm, tức là Lều Hội Kiến. 7. Ngươi hãy đặt cái bồn ở khoảng giữa Lều Hội Kiến và bàn thờ, rồi đổ nước vào đó. 8. Ngươi hãy dựng màn quanh sân, và giăng bức màn che cửa vào sân. 9. Ngươi hãy lấy dầu xức để xức cho Ðền Tạm và tất cả những vật ở trong đó. Ngươi hãy biệt riêng Đền cùng với mọi dụng cụ trong đó, thì Đền sẽ được thánh hóa. 10. Ngươi hãy xức dầu cho bàn thờ dâng tế lễ thiêu và các dụng cụ của bàn thờ rồi biệt riêng bàn thờ ra, thì bàn thờ sẽ trở nên rất thánh. 11. Ngươi hãy xức dầu cho cái bồn và đế của bồn, rồi biệt riêng nó ra. 12. Ngươi hãy đem A-rôn và các con trai của người đến cửa Lều Hội Kiến, rồi lấy nước thanh tẩy họ. 13. Ngươi hãy mặc những lễ phục thánh cho A-rôn, xức dầu cho người, rồi biệt riêng người ra để thi hành chức vụ tế lễ cho Ta. 14. Ngươi cũng hãy đem các con trai của người đến, rồi mặc áo lễ dài cho họ. 15. Ngươi hãy xức dầu cho họ như ngươi đã xức dầu cho cha của họ, để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta. Việc xức dầu sẽ thừa nhận họ làm chức tế lễ đời đời qua mọi thế hệ.”
- Vì vậy Môi-se đã làm mọi việc theo như Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông phải làm. 17. Ngày mồng một tháng giêng năm thứ hai, Đền Tạm đã được dựng lên. 18. Môi-se đã dựng Đền Tạm. Ông đặt các lỗ trụ, đóng ván, đặt thanh ngang, và dựng trụ. 19. Ông căng lều phủ trên Đền Tạm, rồi trải tấm bạt lên trên, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 20. Ông đặt những Bảng Giao Ước vào trong Rương, xỏ các đòn khiêng vào Rương, rồi đậy Ngôi Thi Ân trên Rương. 21. Ông đem Rương vào trong Ðền Tạm, treo bức màn lên để phân cách Rương Giao Ước, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 22. Ông đặt cái bàn trong Lều Hội Kiến, về phía bắc của Đền Tạm, bên ngoài bức màn. 23. Ông sắp đặt bánh trên đó trước mặt Đức Giê-hô-va, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 24. Ông đặt cây đèn trong Lều Hội Kiến, đối diện với cái bàn, ở phía nam của Đền Tạm. 25. Ông đã đặt những ngọn đèn lên trước mặt Đức Giê-hô-va, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 26. Ông đã đặt bàn thờ bằng vàng trong Lều Hội Kiến tại phía trước của bức màn. 27. Ông đã xông hương trên đó đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 28. Ông đã treo màn nơi cửa Đền Tạm. 29. Ông đã đặt bàn thờ dâng tế lễ thiêu tại cửa Đền Tạm, tức là Lều Hội Kiến, để dâng trên đó tế lễ thiêu và tế lễ chay, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 30. Ông đặt bồn rửa ở khoảng giữa của Lều Hội Kiến và bàn thờ, rồi đổ nước vào để thanh tẩy. 31. Môi-se, A-rôn, và các con trai của A-rôn rửa tay, rửa chân từ nơi đó. 32. Mỗi khi vào Lều Hội Kiến hay đến gần bàn thờ, họ đều tẩy rửa đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 33. Ông đã dựng màn che quanh sân Ðền Tạm và bàn thờ, giăng bức màn che cửa sân. Như vậy, Môi-se đã hoàn tất mọi công việc.
- Mây bao phủ Lều Hội Kiến, và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm. 35. Môi-se không thể vào Lều Hội Kiến, bởi vì mây phủ trên đó và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm. 36. Trong suốt cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên, khi nào mây cất lên khỏi Đền Tạm thì họ nhổ trại. 37. Tuy nhiên nếu mây không cất lên, thì họ không ra đi cho đến ngày mây được cất lên. 38. Trong suốt cuộc hành trình của họ, mây của Đức Giê-hô-va ngự trên Đền Tạm vào ban ngày, và có lửa ở trên đó vào ban đêm, trước mặt cả nhà Y-sơ-ra-ên.
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl