Bản Dịch Việt Ngữ: Sáng Thế

Sáng Thế
1
- Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất. 2. Đất chưa định hình và trống không, bóng tối phủ trên mặt vực. Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.
- Đức Chúa Trời phán: “Phải có ánh sáng” – thì có ánh sáng. 4. Đức Chúa Trời thấy ánh sáng là tốt. Đức Chúa Trời đã phân rẽ ánh sáng với bóng tối. 5. Đức Chúa Trời đã gọi ánh sáng là ngày và bóng tối là đêm. Như vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ nhất.
- Đức Chúa Trời phán: “Phải có khoảng không ở giữa nước, để nó phân cách nước với nước.” 7. Đức Chúa Trời đã tạo khoảng không để phân cách nước ở dưới khoảng không với nước ở trên khoảng không – thì có như vậy. 8. Đức Chúa Trời đã gọi khoảng không là bầu trời. Như vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ hai.
- Đức Chúa Trời phán: “Nước ở dưới bầu trời phải tụ lại một nơi và đất khô phải xuất hiện” – thì có như vậy. 10. Đức Chúa Trời gọi chỗ khô là đất, và nơi nước tụ lại là biển. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt. 11. Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh cây cỏ. Thảo mộc phải kết hạt. Cây trái phải ra trái tùy theo loại với hạt ở bên trong, khắp nơi trên đất” – thì có như vậy. 12. Và rồi đất đã sinh cây cỏ: Thảo mộc kết hạt tùy theo loại, cây ra trái với hạt bên trong tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt. 13. Như vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ ba.
- Đức Chúa Trời phán: “Phải có những tinh tú trên không trung trong bầu trời để phân biệt ngày và đêm, để chúng làm những dấu hiệu chỉ định cho các mùa, các ngày và các năm. 15. Hãy để các tinh tú trên không trung trong bầu trời soi sáng trên đất” – thì có như vậy. 16. Đức Chúa Trời đã làm nên hai tinh tú lớn: Tinh tú lớn hơn trị vì ban ngày, và tinh tú nhỏ hơn trị vì ban đêm. Ngài cũng tạo dựng các ngôi sao. 17. Đức Chúa Trời đặt chúng trên không trung trong bầu trời để soi sáng trái đất, 18. để cai quản ngày và đêm, để phân cách ánh sáng và bóng tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt. 19. Như vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ tư.
- Đức Chúa Trời phán: “Nước phải đầy dẫy những sinh vật, phải có những loài chim bay trên mặt đất và trong không trung của bầu trời.” 21. Vì vậy Đức Chúa Trời đã tạo các thủy sinh vật rất lớn, và mọi sinh vật chuyển động nhung nhúc trong nước tùy theo loại; cùng mọi loài chim có cánh tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt. 22. Đức Chúa Trời ban phước cho chúng và phán: “Hãy sinh sản, hãy gia tăng, và làm cho đầy dẫy các dòng nước trong biển; còn các loài chim hãy gia tăng thật nhiều trên đất.” 23. Như vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ năm.
- Đức Chúa Trời phán: “Đất phải phát sinh các sinh vật tùy theo loại: Súc vật, loài bò sát, và thú rừng tùy theo loại” – thì có như vậy. 25. Đức Chúa Trời đã tạo nên các loài thú rừng tùy theo loại, gia súc tùy theo loại, và mọi loài bò sát trên đất tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt.
- Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh của Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để họ quản trị cá biển, chim trời, gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất.” 27. Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài. Ngài dựng nên họ theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Ngài dựng nên người nam và người nữ. 28. Đức Chúa Trời ban phước cho họ và phán: “Hãy sinh sản, gia tăng, và đầy dẫy trên đất. Hãy chinh phục nó: Hãy quản trị cá biển, chim trời, và mọi sinh vật di động trên đất.”
- Đức Chúa Trời phán: “Nầy, Ta ban mọi thảo mộc có kết hạt ở trên đất và mọi loài cây trái có hạt; và đó sẽ là thức ăn cho các ngươi. 30. Còn về những thú vật ở trên đất, chim trời, mọi loài bò sát trên đất, và bất cứ loài nào có sự sống, Ta ban mọi cây cỏ xanh để làm thức ăn” – thì có như vậy. 31. Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài đã tạo dựng rất tốt. Như vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ sáu.
2
- Như vậy, trời, đất, và muôn vật đã được tạo dựng xong. 2. Ðến ngày thứ bảy Ðức Chúa Trời đã hoàn tất những công việc Ngài làm, và Ngài nghỉ mọi công việc Ngài đã làm vào ngày thứ bảy. 3. Ðức Chúa Trời ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa nó – Vì vào ngày hôm đó Đức Chúa Trời nghỉ ngơi, Ngài đã hoàn tất mọi công việc sáng tạo.
- Đây là nguồn gốc của việc trời đất được tạo dựng. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất, 5. chưa có cây cối ngoài đồng và cũng chưa có rau cỏ nào mọc lên ngoài đồng ở trên đất, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chưa ban mưa xuống trên đất, và cũng chưa có người khai khẩn đất. 6. Nhưng hơi nước đã từ dưới đất bốc lên, tưới khắp cả mặt đất. 7. Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã nắn lên một người từ bụi đất, hà sinh khí vào lỗ mũi và người đã trở nên một sinh vật có linh hồn.
- Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã lập một khu vườn tại Ê-đen tại hướng đông, rồi Ngài đặt người mà Ngài đã tạo dựng vào đó. 9. Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm cho đất mọc lên tất cả những loại cây đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có cây sự sống, cùng cây biết điều thiện và điều ác.
- Có một dòng sông từ Ê-đen chảy ra để tưới vườn, rồi từ đó chia làm bốn nhánh. 11. Tên của nhánh thứ nhất là Bi-sôn, nó chảy quanh cả xứ Ha-vi-la, tại đó có vàng. 12. Vàng của xứ đó rất tốt. Tại đó còn có nhũ hương và ngọc mã não. 13. Tên của nhánh sông thứ hai là Ghi-hôn, nó chảy quanh cả xứ Cút. 14. Tên của nhánh sông thứ ba là Ti-gơ-rít, nó chảy dọc theo phía đông của A-sy-ri. Sông thứ tư là Ơ-phơ-rát.
- Sau đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem con người, đặt trong vườn Ê-đen để chăm sóc và gìn giữ vườn. 16. Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền lệnh cho người rằng: Ngươi được tự do ăn mọi cây trong vườn, 17. nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn nó, ngươi chắc chắn sẽ chết.
- Sau đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã nói: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ tạo nên một người giúp đỡ thích hợp cho nó.” 19. Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã lấy đất nắn nên mọi loài thú đồng và chim trời, rồi đem đến cho A-đam để ông đặt tên cho chúng – bất kỳ A-đam gọi mỗi sinh vật là gì, thì nó sẽ trở thành tên của sinh vật đó. 20. Như vậy, A-đam đã đặt tên cho tất cả các loài gia súc, chim trời và thú rừng; tuy nhiên A-đam đã không tìm được một người giúp đỡ thích hợp cho mình.
- Vì vậy, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đã khiến A-đam ngủ mê, và ông đã ngủ mê. Ngài đã lấy một trong những xương sườn của ông, rồi lấp thịt thế vào nơi đó. 22. Từ xương sườn đã lấy nơi A-đam, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dựng nên một người nữ, rồi Ngài đem nàng đến với A-đam. 23. A-đam nói: “Người nầy có xương từ xương của tôi, thịt từ thịt của tôi, người nầy sẽ được gọi là người nữ, bởi vì người nầy từ người nam mà ra.”
- Vì vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ của mình, rồi kết hiệp với vợ của mình, và họ sẽ trở nên một thịt. 25. A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng nhưng không xấu hổ.
3
- Con rắn quỷ quyệt hơn tất cả những loài thú ngoài đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dựng nên. Nó nói với người nữ: “Có phải là Đức Chúa Trời đã phán: Các ngươi không được phép ăn tất cả những cây ở trong vườn hay không?”
- Người nữ nói với con rắn: “Chúng tôi có thể ăn trái của những cây ở trong vườn, 3. nhưng về trái của cây ở giữa vườn, Đức Chúa Trời đã phán: Các ngươi không được ăn và cũng đừng đụng đến. Nếu không, các ngươi sẽ chết.”
- Con rắn nói với người nữ: “Các ngươi chắc chắn sẽ không chết. 5. Bởi vì Đức Chúa Trời biết rằng khi nào các ngươi ăn trái cây đó thì mắt của các ngươi sẽ mở ra, và các ngươi sẽ giống như Đức Chúa Trời biết điều thiện và điều ác.”
- Người nữ thấy rằng cây đó ăn ngon, đẹp mắt, và là một cây quý giá vì làm cho khôn ngoan, cho nên nàng đã hái trái của nó và ăn, rồi trao cho chồng đang ở đó, và ông đã ăn.
- Sau đó, mắt của hai người mở ra, họ biết rằng họ trần truồng. Họ đã kết lá cây vả làm những vật để che thân thể của mình.
- Khi họ nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi trong vườn vào lúc có một làn gió nhẹ, A-đam và vợ đã ẩn mình giữa những cây trong vườn để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
- Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã gọi A-đam. Ngài hỏi: “Ngươi ở đâu?”
- Ông đáp: “Con có nghe tiếng của Ngài ở trong vườn, nhưng con sợ, bởi vì con bị trần truồng cho nên con đã trốn.”
- Ngài hỏi: “Ai đã bảo cho ngươi biết ngươi bị trần truồng? Ngươi có ăn vật từ cây mà Ta đã truyền cho ngươi không được ăn hay không?”
- A-đam thưa: “Người nữ mà Chúa đã ban cho con, nàng đã cho con trái cây đó, và con đã ăn.”
- Giê-hô-va Đức Chúa Trời hỏi người nữ: “Ngươi đã làm gì?” Người nữ thưa: “Con rắn đã lừa gạt con, và con đã ăn rồi.”
- Vì vậy Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán cùng con rắn: “Bởi vì ngươi đã làm điều đó, cho nên ngươi bị nguyền rủa hơn mọi loài vật và mọi loài thú đồng. Ngươi sẽ bò bằng bụng và ngươi sẽ ăn bụi đất trọn cả đời của ngươi. 15. Ta sẽ đặt sự thù nghịch giữa ngươi và người nữ, giữa dòng dõi ngươi và dòng dõi người nữ. Đấng đó sẽ giày đạp đầu ngươi, và ngươi sẽ cắn gót chân của Người.”
- Ngài phán với người nữ: “Ta sẽ gia tăng nhiều nhọc nhằn khi ngươi mang thai, và thêm sự đau đớn lúc ngươi sinh con. Dục vọng của ngươi sẽ hướng về chồng của ngươi, và người sẽ cai trị ngươi.”
- Ngài phán với A-đam: “Bởi vì ngươi đã nghe theo lời vợ, ăn vật từ cây mà Ta đã phán truyền cho ngươi không được ăn nó, cho nên đất đai sẽ vì ngươi mà bị nguyền rủa. Ngươi phải khổ nhọc suốt đời mới có ăn. 18. Đất sẽ sinh gai góc và những cây tật lê; và ngươi sẽ ăn rau cỏ của đồng ruộng. 19. Mặt của ngươi phải đổ mồ hôi mới có thức ăn cho đến khi nào ngươi trở về cùng đất, bởi vì ngươi từ đó mà ra. Ngươi là cát bụi cho nên ngươi sẽ trở về cùng cát bụi.”
- A-đam đã gọi tên của vợ của mình là Ê-va, bởi vì bà là mẹ của tất cả người đang sống.
- Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm những chiếc áo dài bằng da cho A-đam và vợ của ông, rồi mặc cho họ.
- Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán: “Nầy, loài người đã trở nên như Chúng Ta, biết điều thiện và điều ác. Bây giờ đừng để loài người đưa tay hái trái cây sự sống để ăn, rồi sống mãi mãi.” 23. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đưa loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày xới đất nơi con người được đem đến. 24. Ngài đã đuổi loài người ra, rồi Ngài đặt tại phía đông của vườn Ê-đen những chê-ru-bim với một thanh gươm sáng chói xoay vòng vòng để canh giữ con đường đi đến cây sự sống.
4
- A-đam biết Ê-va, vợ của mình. Nàng thụ thai và sinh Ca-in, rồi nói: “Nhờ Đức Giê-hô-va nên tôi đã sinh được một người.” 2. Nàng lại sinh A-bên, là đứa em trai. A-bên chăn chiên, còn Ca-in thì canh tác ruộng đất.
- Thời gian trôi qua, Ca-in đem hoa lợi của ruộng đất dâng lên cho Đức Giê-hô-va. 4. A-bên mang con vật đầu lòng, cùng với mỡ. Đức Giê-hô-va đoái đến A-bên và lễ vật của ông, 5. nhưng Ngài không đoái đến Ca-in và lễ vật của ông. Ca-in rất giận và sa sầm nét mặt.
- Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã hỏi Ca-in: “Tại sao ngươi giận? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt? 7. Nếu ngươi làm đúng thì ngươi sẽ được chấp nhận có phải không? Còn nếu ngươi không làm đúng, thì tội lỗi nằm trước cửa, nó thèm ngươi lắm, nhưng ngươi phải quản trị nó.”
- Ca-in đã nói chuyện với A-bên, là em của mình. Chuyện xảy ra khi hai người đang ở ngoài đồng, Ca-in đã trỗi dậy đánh A-bên, là em của mình, rồi giết chàng. 9. Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in: “A-bên, em ngươi, ở đâu?” Ông nói: “Tôi không biết! Tôi là người giữ em của tôi hay sao?”
- Ngài phán: “Ngươi đã làm gì? Tiếng của máu của em ngươi từ dưới đất đã kêu thấu đến Ta. 11. Bây giờ, vì đất đã mở miệng ra nhận lấy máu của em ngươi, đã từ tay của ngươi làm đổ ra, cho nên ngươi sẽ bị rủa sả. 12. Khi ngươi canh tác, đất sẽ không sinh hoa lợi dồi dào của nó cho ngươi nữa. Ngươi sẽ chạy trốn rồi lang thang khắp đất.”
- Ca-in thưa với Đức Giê-hô-va: “Hình phạt của tôi nặng quá, làm sao tôi chịu nỗi! 14. Thật vậy, ngày nay Ngài đuổi tôi ra khỏi đất nầy. Tôi sẽ phải trốn khỏi mặt Ngài. Tôi sẽ chạy trốn và lang thang khắp đất; và rồi nếu ai gặp tôi, người ấy sẽ giết tôi.”
- Đức Giê-hô-va phán: “Không đâu! Nếu ai giết Ca-in, người đó sẽ bị báo trả gấp bảy lần.” Đức Giê-hô-va đã đánh dấu trên Ca-in, không để cho ai gặp Ca-in thì giết ông.
- Ca-in đã rời khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va, rồi định cư tại xứ Nốt, về phía đông của Ê-đen.
- Ca-in biết vợ của mình, nàng thụ thai, rồi sinh Hê-nóc. Ông đã xây một cái thành, rồi đặt theo tên con trai của mình, là Hê-nóc.
- Y-rát được sinh ra từ Hê-nóc; Y-rát sinh Mê-hu-da-ên; Mê-hu-da-ên sinh Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sinh Lê-méc. 19. Lê-méc lđã ấy cho mình hai người vợ: Một người tên là A-đa, một người tên là Si-la. 20. A-đa sinh Gia-banh – ông là tổ phụ của những người sống trong lều trại và chăn nuôi súc vật. 21. Em trai của ông tên là Giu-banh – ông là tổ phụ của những người chơi đàn và thổi sáo. 22. Còn Si-la thì sinh Tu-banh Ca-in – là người làm các dụng cụ bằng đồng và sắt. Em gái của Tu-banh Ca-in là Na-a-ma.
- Lê-méc nói với những người vợ của mình: “Hỡi A-đa và Si-la! Hãy nghe tiếng của ta. Nầy, những người vợ của Lê-méc! Hãy lắng tai nghe lời nói của ta. Ta đã giết một người bởi vì đã gây thương tích cho ta, thậm chí một người còn trẻ nhưng đã làm cho ta bị thương. 24. Nếu Ca-in được báo thù bảy lần, La-méc sẽ được báo thù bảy mươi bảy lần.”
- A-đam lại biết vợ của mình; bà sinh cho ông một con trai rồi đặt tên là Sết, vì bà nói Ðức Chúa Trời đã cho tôi một dòng giống khác, để thay thế cho A-bên, là người đã bị Ca-in giết. 26. Sết cũng sinh cho mình một con trai, rồi đặt tên là Ê-nót. Từ đó, người ta bắt đầu cầu khẩn danh của Đức Giê-hô-va.
5
- Đây là sách ghi dòng dõi của A-đam. Khi Đức Chúa Trời dựng nên loài người, Ngài đã dựng nên loài người giống như Đức Chúa Trời. 2. Ngài đã dựng nên người nam và người nữ. Ngài đã ban phước cho họ, và trong ngày Ngài dựng nên họ, Ngài đã gọi họ là loài người.
- Khi A-đam sống được một trăm ba mươi tuổi, ông sinh một con trai giống như ông, theo hình dạng của ông. Ông đặt tên là Sết. 4. Sau khi sinh Sết, A-đam sống thêm tám trăm năm, sinh các con trai và các con gái. 5. Như vậy, A-đam sống trọn cả đời là chín trăm ba chục năm, rồi ông chết.
- Sết sống được một trăm lẻ năm tuổi thì sinh Ê-nót. 7. Sau khi sinh Ê-nót, Sết sống thêm tám trăm lẻ bảy năm, sinh các con trai và các con gái. 8. Như vậy, trọn cả đời của Sết là chín trăm mười hai năm, rồi ông chết.
- Ê-nót sống được chín mươi tuổi thì sinh Kê-nan. 10. Sau khi sinh Kê-nan, Ê-nót sống thêm được tám trăm mười lăm năm, sinh các con trai và các con gái. 11. Như vậy, trọn cả đời của Ê-nót là chín trăm lẻ năm năm, rồi ông chết.
- Kê-nan sống được bảy mươi tuổi thì sinh Ma-ha-la-le. 13. Sau khi sinh Ma-ha-la-le, Kê-nan sống thêm được tám trăm bốn mươi năm, sinh các con trai và các con gái. 14. Như vậy, trọn cả đời của Kê-nan là chín trăm mười năm, rồi ông chết.
- Ma-ha-la-le sống được sáu mươi lăm tuổi thì sinh Giê-rệt. 16. Sau khi sinh Giê-rệt, Ma-ha-la-le sống thêm được tám trăm ba mươi năm, sinh các con trai và các con gái. 17. Như vậy, trọn cả đời của Ma-ha-la-le là tám trăm chín mươi lăm năm, rồi ông chết.
- Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi thì sinh Hê-nóc. 19. Sau khi sinh Hê-nóc, Giê-rệt sống thêm được tám trăm năm, sinh các con trai và các con gái. 20. Như vậy, trọn cả đời của Giê-rệt là chín trăm sáu mươi hai năm, rồi ông chết.
- Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi thì sinh Mê-tu-sê-la. 22. Sau khi sinh Mê-tu-sê-la, Hê-nóc đã đi với Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sinh các con trai và các con gái. 23. Như vậy, trọn cả đời của Hê-nóc là ba trăm sáu mươi lăm năm. 24. Hê-nóc cùng đi với Đức Chúa Trời, rồi biến mất, vì Đức Chúa Trời đã đón tiếp ông.
- Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi thì sinh Lê-méc. 26. Sau khi sinh Lê-méc, Mê-tu-sê-la sống thêm được bảy trăm tám mươi hai năm, sinh các con trai và các con gái. 27. Như vậy, trọn cả đời của Mê-tu-sê-la là chín trăm sáu mươi chín năm, rồi ông chết.
- Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi thì sinh một con trai. 29. Ông đặt tên là Nô-ê và nói rằng: Đứa con này sẽ an ủi chúng ta về công việc lao nhọc từ những bàn tay của chúng ta bởi vì đất đai đã bị Đức Giê-hô-va nguyền rủa. 30. Sau khi sinh Nô-ê, Lê-méc sống thêm được năm trăm chín mươi lăm năm, sinh các con trai và các con gái. 31. Như vậy, trọn cả đời của Lê-méc bảy trăm bảy mươi bảy năm, rồi ông chết.
- Khi Nô-ê sống được năm trăm tuổi thì sinh Sem, Cham và Gia-phết.
6
- Thời gian trôi qua, khi loài người bắt đầu gia tăng trên mặt đất, họ sinh ra nhiều con gái. 2. Các con trai của Đức Chúa Trời thấy các con gái của loài người xinh đẹp. Họ chọn những cô nào, thì họ lấy tất cả những cô đó làm vợ.
- Đức Giê-hô-va phán: “Thần Linh của Ta sẽ không ở mãi trong loài người. Thật vậy, loài người chỉ là xác thịt nên đời người sẽ là một trăm hai mươi năm.”
- Vào thời đó và cũng về sau nữa, trên trái đất có những người khổng lồ, bởi vì khi các con trai của Ðức Chúa Trời đến với các con gái của loài người thì họ sinh ra con cái – đó là những anh hùng thời xưa và những con người nổi danh.
- Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người lan tràn trên mặt đất. Mọi người lúc nào cũng toan tính trong lòng những ý tưởng xấu xa. 6. Đức Giê-hô-va lấy làm tiếc vì đã dựng nên loài người trên đất, và Ngài buồn trong lòng. 7. Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ xóa sạch loài người mà Ta đã tạo dựng khỏi mặt đất, từ loài người cho đến loài súc vật, loài bò sát, loài chim trời. Ta rất tiếc vì đã dựng nên chúng.”
- Tuy nhiên, Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. 9. Đây là dòng dõi của Nô-ê. Trong thế hệ của mình, Nô-ê là một người công chính và không có gì đáng trách; ông đã đi với Đức Chúa Trời. 10. Nô-ê sinh được ba con trai là Sem, Cham, và Gia-phết.
- Trái đất đã bị băng hoại trước mặt Ðức Chúa Trời. Trái đất đầy dẫy bạo lực. 12. Ðức Chúa Trời nhìn xuống trái đất, thật vậy, nó đã bị băng hoại. Mọi loài xác thịt trên đất đều băng hoại trong đường lối của mình.
- Đức Chúa Trời phán với Nô-ê: “Trước mặt Ta, sự cuối cùng của mọi loài xác thịt đã đến, bởi vì do chúng mà trái đất đã đầy dẫy sự bạo ngược. Nầy, Ta sẽ hủy diệt chúng khỏi trái đất. 14. Ngươi hãy làm cho mình một chiếc tàu bằng gỗ gô-phe, trong tàu có nhiều phòng, có mái che. Hãy trét nhựa cả bên trong lẫn bên ngoài. 15. Đây là cách ngươi phải làm như thế nào: Con tàu dài ba trăm cu-bít, rộng năm mươi cu-bít, cao ba mươi cu-bít. 16. Ngươi hãy thiết kế một cửa sổ cho tàu, nó phải được đặt cách một cu-bít tính từ phía trên, và một cửa ở bên hông tàu. Ngươi phải thiết kế tàu có ba khoang: Tầng dưới, tầng thứ hai, và tầng thứ ba. 17. Hãy xem, Ta sẽ đem nước lụt đến trên đất, để hủy diệt tất cả những loài xác thịt ở trong đó. Mọi vật có hơi thở ở dưới trời và ở trên mặt đất sẽ chết.”
- “Tuy nhiên Ta sẽ lập một giao ước với ngươi. Ngươi sẽ vào tàu. Ngươi, các con trai của ngươi, vợ của ngươi, và vợ của các con trai của ngươi, sẽ cùng vào với ngươi. 19. Ngươi sẽ đem vào tàu mọi loài sinh vật, mỗi loài một cặp, có đực có cái, để chúng cùng sống còn với ngươi. 20. Những con chim tùy theo loại, các súc vật tùy theo loại, mỗi loài bò sát trên đất tùy theo loại, mỗi loài hai con sẽ đến với ngươi để được bảo tồn mạng sống. 21. Ngươi cũng hãy đem theo với ngươi mọi thứ có thể ăn được, để làm thực phẩm. Các ngươi phải thu thập cho chính mình. Những thứ đó sẽ được dùng làm lương thực cho ngươi và cho chúng.”
- Nô-ê đã làm theo tất cả những điều mà Ðức Chúa Trời đã truyền cho ông phải làm.
7
- Đức Giê-hô-va phán với Nô-ê: “Ngươi và cả gia đình của ngươi hãy vào trong tàu, bởi vì trong thế hệ nầy Ta thấy ngươi là người công chính ở trước mặt Ta. 2. Mỗi loài thú tinh sạch, hãy mang theo bảy cặp, mỗi cặp một đực một cái; còn thú không tinh sạch thì mang theo một cặp, một đực một cái. 3. Những loài chim trời cũng vậy, mỗi loài bảy cặp, có trống có mái, để bảo tồn sự sống cho dòng giống của chúng trên khắp mặt đất. 4. Vì bảy ngày nữa, Ta sẽ cho mưa xuống đất trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, và Ta sẽ xóa sạch khỏi trái đất mọi sinh vật mà Ta đã dựng nên.”
- Nô-ê đã làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông.
- Nô-ê đã được sáu trăm tuổi khi nước lụt tràn trên mặt đất. 7. Nô-ê, các con trai của ông, vợ của ông, vợ của các con trai của ông, đã cùng với ông vào trong tàu để tránh nước lụt. 8. Các loài vật tinh sạch, loài vật không tinh sạch, loài chim, và mọi loài bò sát trên đất, 9. đã đến với Nô-ê để vào trong tàu, từng cặp, từng đôi, có đực có cái, như Ðức Chúa Trời đã truyền cho Nô-ê. 10. Bảy ngày sau, nước lụt tràn trên đất.
- Đúng vào ngày mười bảy, tháng Hai, năm thứ sáu trăm của đời Nô-ê, tất cả những nguồn nước của những vực thẳm rất lớn đã nổ tung, các cửa sổ trên trời mở ra, 12. mưa đã đổ xuống trên đất bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. 13. Chính ngày hôm đó, Nô-ê, Sem, Cham, và Gia-phết – là các con trai của Nô-ê – vợ của Nô-ê, và ba người vợ của các con trai của ông, đã cùng nhau vào trong tàu. 14. Họ và mọi thú rừng tùy theo loại, mọi gia súc tùy theo loại, bò sát trên đất tùy theo loại, mọi loài chim tùy theo loại, tức là đủ mọi loài có cánh. 15. Chúng đã đến với Nô-ê để vào trong tàu theo từng cặp, tức là mọi loài xác thịt có sinh khí. 16. Sau khi tất cả mọi loài xác thịt, có đực có cái, đã vào trong tàu theo như Ðức Chúa Trời đã truyền cho Nô-ê, Đức Giê-hô-va đã đóng cửa tàu lại.
- Nước lụt đã dâng lên trên đất trong bốn mươi ngày. Nước đã nâng chiếc tàu lên khỏi mặt đất. 18. Nước dâng cao, tiếp tục tăng rất nhiều trên trái đất, và làm trôi chiếc tàu trên mặt nước. 19. Nước càng dâng cao hơn – dâng rất cao trên trái đất, tất cả những ngọn đồi ở dưới bầu trời đều bị ngập. 20. Các ngọn núi đều bị bao phủ và nước cao hơn năm mươi cu-bít. 21. Tất cả những loài xác thịt sống động trên mặt đất đều chết: chim chóc, gia súc, thú rừng, loài bò sát trên đất, cùng tất cả loài người. 22. Tất cả những loài có sinh khí trong lỗ mũi sống trên đất đều bị chết. 23. Ngài đã hủy diệt mọi sinh vật trên mặt đất, từ loài người, loài thú, loài bò sát, cho đến loài chim. Chúng đã bị hủy diệt khỏi đất, chỉ còn lại Nô-ê và những ai ở với ông trong tàu.
- Nước cứ dâng cao trên đất một trăm năm mươi ngày.
8
- Đức Chúa Trời đã nhớ lại Nô-ê cùng mọi sinh vật và tất cả những súc vật đang sống với ông ở trong tàu. Đức Chúa Trời tạo nên một cơn gió thổi ngang qua mặt đất, để làm nước hạ xuống. 2. Các nguồn nước từ vực sâu cùng các cửa sổ trên trời được đóng lại, mưa từ trời cũng ngưng. 3. Nước rút, rồi từ từ giảm xuống khỏi mặt đất. Cuối ngày thứ một trăm năm mươi thì nước đã hạ xuống. 4. Ngày mười bảy tháng Bảy, chiếc tàu tấp trên núi A-ra-rát. 5. Nước cứ rút dần cho đến tháng Mười. Ngày mồng một tháng Mười, các đỉnh núi lộ ra.
- Thời gian trôi qua, đến cuối ngày thứ bốn mươi, Nô-ê mở cửa sổ trên tàu mà ông đã làm. 7. Ông thả một con quạ ra, nó bay đi rồi trở lại, cho đến khi nước đã cạn khô trên đất. 8. Ông cũng thả một bồ câu để xem thử nước đã rút khỏi mặt đất hay chưa. 9. Tuy nhiên bồ câu không tìm được chỗ nào đáp chân để nghỉ, cho nên nó đã quay trở về với ông ở trên tàu, bởi vì nước vẫn còn khắp cả mặt đất. Ông đã đưa tay ra đón nó, rồi đem nó vào trong tàu với mình. 10. Ông đợi thêm bảy ngày nữa, rồi lại thả bồ câu ra khỏi tàu. 11. Đến chiều, bồ câu trở về, mỏ ngậm một lá ô-liu mới ngắt. Nô-ê biết rằng nước đã rút khỏi mặt đất. 12. Ông đợi thêm bảy ngày nữa, rồi thả bồ câu ra, nhưng bồ câu không quay trở lại với ông nữa.
- Một thời gian sau, ngày mồng một, tháng Giêng, vào năm thứ sáu trăm lẻ một, nước đã rút cạn khỏi mặt đất. Nô-ê giở mui tàu quan sát, thật vậy, mặt đất đã khô. 14. Đến ngày hai mươi bảy tháng Hai, đất đã hoàn toàn khô ráo.
- Đức Chúa Trời phán cùng Nô-ê rằng: 16. Ngươi, vợ của ngươi, các con trai của ngươi, và vợ của các con trai của ngươi, hãy cùng nhau ra khỏi tàu. 17. Hãy đem ra ngoài cùng với ngươi tất cả các sinh vật đang sống với ngươi, tức là mọi loài xác thịt – chim, thú vật, những loài bò sát trên đất – để chúng sinh sôi nẩy nở và gia tăng trên đất.
- Vì vậy, Nô-ê cùng với các con trai của ông, vợ của ông, và vợ của các con trai của ông, đã ra khỏi tàu. 19. Mọi loài thú vật, mọi loài bò sát trên đất, mọi loài chim, cùng mọi động vật ở trên đất – tùy theo loại – đều ra khỏi tàu.
- Nô-ê đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va. Ông bắt một số súc vật thanh sạch, một số chim thanh sạch, để dâng làm tế lễ thiêu trên bàn thờ.
- Đức Giê-hô-va vui hưởng mùi thơm và nói trong lòng rằng: “Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất vì loài người nữa. Bởi vì từ lúc còn trẻ, tấm lòng của loài người đã suy nghĩ về việc ác, tuy nhiên Ta sẽ không bao giờ tiêu diệt mọi sinh vật như Ta đã làm. 22. Khi nào quả đất còn thì mùa gieo và mùa gặt, mùa lạnh và mùa nóng, mùa hạ và mùa đông, ngày và đêm sẽ không chấm dứt.”
9
- Đức Chúa Trời ban phước cho Nô-ê cùng với các con trai của ông. Ngài phán với họ rằng: “Hãy sinh sản, gia tăng, và làm cho đầy dẫy đất. 2. Tất cả các loài thú ở trên đất, loài chim trên trời, động vật trên đất, và mọi loài cá biển, sẽ được trao vào tay của các ngươi. Chúng sẽ khiếp sợ và kinh hãi các ngươi. 3. Mọi động vật sống sẽ được dùng làm thực phẩm cho các ngươi, cũng như thực vật xanh tươi mà Ta đã ban cho các ngươi. 4. Tuy nhiên các ngươi không được ăn thịt vẫn còn có sự sống của nó, tức là có huyết. 5. Chắc chắn Ta sẽ đòi lại huyết từ sinh mạng của các ngươi – Ta sẽ đòi lại từ tay của mọi loài thú vật và từ tay của loài người. Ta sẽ đòi lại nơi tay mỗi người mạng sống của người đồng loại.”
- “Ai làm đổ huyết người, sẽ bị người ta làm đổ huyết lại – bởi vì Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài. 7. Về phần các ngươi, hãy sinh sản và gia tăng – Hãy gia tăng và lan tràn khắp đất.”
- Đức Chúa Trời phán với Nô-ê, và các con trai đang ở với ông, rằng: 9. “Nầy, Ta lập giao ước với các ngươi và dòng dõi sau nầy của các ngươi, 10. và với tất cả sinh vật đang sống với các ngươi: Mọi loài chim, mọi loài gia súc, mọi loài thú vật đang sống trên đất với các ngươi – tức là những sinh vật đã ra khỏi tàu. 11. Ta lập giao ước của Ta với các ngươi: Ta sẽ không bao giờ tiêu diệt mọi loài xác thịt bằng nước lụt nữa – sẽ không bao giờ có một trận lụt để hủy diệt trái đất nữa.”
- Ðức Chúa Trời phán: “Ðây là dấu hiệu để chỉ về giao ước mà Ta đã lập giữa Ta với các ngươi, cùng với mọi sinh vật đang sống với các ngươi, cho đến các thế hệ mãi mãi về sau. 13. Ta đã đặt cầu vồng của Ta ở trong mây, và nó sẽ là biểu tượng về giao ước của Ta với trái đất. 14. Nó sẽ xuất hiện khi Ta đem mây giăng trên đất, và cầu vồng sẽ được nhìn thấy ở trong mây. 15. Ta sẽ nhớ lại giao ước giữa Ta với các ngươi và tất cả sinh vật thuộc mọi loài xác thịt: Nước lụt sẽ không bao giờ hủy diệt mọi loài xác thịt nữa. 16. Cầu vồng sẽ hiện diện ở trong mây, Ta sẽ trông thấy nó, và sẽ nhớ lại giao ước đời đời giữa Ðức Chúa Trời và tất cả sinh vật thuộc mọi loài xác thịt đang sống trên đất.” 17. Ðức Chúa Trời phán với Nô-ê: “Ðây là dấu hiệu của giao ước mà Ta đã lập giữa Ta và mọi loài xác thịt đang hiện diện trên đất.”
- Các con trai của Nô-ê đã ra khỏi tàu là Sem, Cham, và Gia-phết. Cham là cha của Ca-na-an. 19. Đó là ba con trai của Nô-ê, và từ họ mà loài người đã lan tràn ra khắp mặt đất.
- Nô-ê là người khai khẩn đất và bắt đầu trồng một vườn nho. 21. Ông uống rượu, và say, rồi nằm không có gì che đậy trong lều của mình. 22. Cham, là cha Ca-na-an, thấy sự trần truồng của cha, thì ra ngoài thuật lại cho hai anh em của mình. 23. Nhưng Sem và Gia-phết đã lấy áo choàng, vắt trên vai của hai người, rồi đi thụt lùi, đến che đậy sự trần truồng của cha ho. Mặt của họ nhìn về hướng khác cho nên họ không nhìn thấy sự trần truồng của cha mình. 24. Nô-ê tỉnh rượu, biết được việc người con trai thứ của mình đã làm cho mình, 25. ông đã nói: “Ca-na-an đáng bị nguyền rủa! Nó sẽ làm đầy tớ cho những đầy tớ của anh em nó.”
- Rồi ông nói: “Tôn ngợi Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Sem. Ca-na-an phải làm nô lệ cho nó. 27. Nguyện xin Đức Chúa Trời cho Gia-phết được phát triển. Nó sẽ sống trong trại của Sem, và Ca-na-an sẽ làm nô lệ cho nó.”
- Sau trận lụt, Nô-ê còn sống được ba trăm năm mươi năm. 29. Như vậy, trọn cả đời của Nô-ê là chín trăm năm mươi năm, rồi ông chết.
10
- Đây là dòng dõi của các con trai của Nô-ê – Sem, Cham và Gia-phết – và của những người đã từ họ sinh ra sau trận lụt.
- Các con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra. 3. Các con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ri-phát, và Tô-ga-ma. 4. Các con trai của Gia-van là Ê-li-sa và Ta-rê-si, Kít-tim và Rô-đa-nim. 5. Từ những người nầy đã phân tán thành những dân tộc sống quanh vùng duyên hải, mỗi dân tộc có lãnh thổ riêng, tùy theo ngôn ngữ và gia tộc, tạo thành những quốc gia của họ.
- Các con trai của Cham là Cút, Mít-ra-im, Phút và Ca-na-an. 7. Các con trai của Cút là Sê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma và Sáp-tê-ca. Các con trai của Ra-ê-ma là Sê-ba và Đê-đan. 8. Cút sanh Nim-rốt, ông là người đầu tiên trở thành một người dũng mãnh ở trên đất. 9. Ông là một thợ săn dũng mãnh trước mặt Đức Giê-hô-va; vì vậy mới có câu: Giống như Nim-rốt, một thợ săn dũng mãnh trước mặt Đức Giê-hô-va. 10. Khởi đầu vương quốc của ông có Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne trong đất Si-nê-a. 11. Từ vùng đất đó, ông đã tiến về A-sy-ri, rồi xây dựng các thành phố Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách, 12. và Rê-sen – nằm ở giữa Ni-ni-ve và Ca-lách – đó là một thành phố lớn. 13. Mích-ra-im sanh Lu-đim, A-na-mim, Lê-ha-bim, Náp-tu-him, 14. Bát-ru-sim, Cách-lu-him – dân Phi-li-tin xuất phát từ đây – và Cáp-tô-rim.
- Ca-na-an sinh con đầu lòng là Si-đôn, rồi đến Hếch, 16. họ Giê-bu-sít, họ A-mô-rít, họ Ghi-rê-ga-sít, 17. họ Hê-vít, họ A-rê-kít, họ Si-nít, 18. họ A-va-đít, họ Xê-ma-rít, họ Ha-ma-tít, và sau đó các chi tộc của Ca-na-an đã bị phân tán. 19. Lãnh thổ của Ca-na-an kéo dài từ Si-đôn; về hướng Ghê-ra thì đến tận Ga-xa, còn về hướng Sô-đôm thì có Gô-mô-rơ, Át-ma, Sê-bô-im, và đến tận Lê-sa. 20. Đó là những con cháu của Cham, được phân bố theo gia tộc, ngôn ngữ, đất đai, và quốc gia của họ.
- Sem – là tổ phụ của họ Hê-be và là anh cả của Gia-phết – cũng có sanh những con trai. 22. Các con trai của Sem là Ê-lam, A-su-rơ, A-bác-sát, Lút và A-ram. 23. Các con trai của A-ram là U-xơ, Hu-lơ, Ghê-te và Mách. 24. A-bác-sát sanh Sê-lách; Sê-lách sanh Hê-be. 25. Hê-be sinh được hai con trai: Tên của một người là Bê-léc, bởi vì trong đời của người đó, đất đã bị chia ra. Tên của người em trai là Giốc-tan. 26. Giốc-tan sanh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết, Giê-rách, 27. Ha-đô-ram, U-xa, Điếc-la, 28. Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba, 29. Ô-phia, Ha-vi-la và Giô-báp. Tất cả những người đó là con trai của Giốc-tan. 30. Nơi định cư của họ kéo dài từ Mê-sa đến Sê-pha, thuộc vùng đồi núi ở phương đông. 31. Đó là những con cháu của Sem, được phân bố theo gia tộc, ngôn ngữ, đất đai và quốc gia của họ.
- Trên đây là dòng dõi của các con trai của Nô-ê, căn cứ theo những dòng dõi của họ, trong các quốc gia của họ. Từ những người nầy, các quốc gia đã được phân bố khắp trên đất sau trận lụt.
11
- Lúc đó cả thế giới chỉ có một ngôn ngữ và cùng một thứ tiếng.
- Thời gian trôi qua, người ta tiến về hướng đông, họ gặp một bình nguyên tại xứ Si-nê-a, rồi định cư tại đó. 3. Họ nói: “Chúng ta hãy đến với nhau, làm gạch, rồi nung lửa.” Họ đã dùng gạch thế cho đá, và nhựa chai thay cho hồ. 4. Họ nói: “Hãy đến! Chúng ta hãy xây cho chúng ta một thành phố và một ngọn tháp cao đến tận trời. Hãy tạo danh tiếng cho mình, nếu không chúng ta sẽ bị tản lạc khắp mặt đất.”
- Đức Giê-hô-va đã ngự xuống để xem thành phố và ngọn tháp mà con cái loài người đang xây dựng. 6. Đức Giê-hô-va phán: “Nầy! Chúng cùng một dân tộc, cùng một ngôn ngữ. Lúc nầy chỉ là khởi đầu mà chúng đã làm như thế nầy, thì không có gì để giữ cho chúng khỏi thực hiện điều mà chúng đã dự định. 7. Hãy đến! Chúng Ta hãy xuống, làm rối loạn ngôn ngữ của chúng, để người này không thể hiểu lời nói của người khác.”
- Đức Giê-hô-va đã phân tán loài người từ nơi đó ra khắp cả mặt đất – họ ngưng xây cất thành phố. 9. Vì vậy, nơi đó đã được gọi là Ba-bên, bởi vì tại đó Đức Giê-hô-va đã làm lộn xộn tiếng nói của mọi người trên đất, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp cả mặt đất.
- Đây là dòng dõi của Sem. Sem được một trăm tuổi, sinh A-bác-sát hai năm sau trận lụt. 11. Sau khi sinh A-bác-sát, Sem còn sống được năm trăm năm, sinh các con trai và các con gái.
- A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sinh Sê-lách. 13. Sau khi sinh Sê-lách, A-bác-sát còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh các con trai và các con gái.
- Sê-lách được ba mươi tuổi, sinh Hê-be. 15. Sau khi sinh Hê-be, Sê-lách còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh các con trai và các con gái.
- Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sinh Bê-léc. 17. Sau khi sinh Bê-léc, Hê-be còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sinh các con trai và các con gái.
- Pê-léc được ba mươi tuổi, sinh Rê-hu. 19. Sau khi sinh Rê-hu, Bê-léc còn sống được hai trăm lẻ chín năm, sinh các con trai và các con gái.
- Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sinh Sê-rúc. 21. Sau khi sinh Sê-rúc, Rê-hu còn sống được hai trăm lẻ bảy năm, sinh các con trai và các con gái.
- Sê-rúc được ba mươi tuổi, sinh Na-cô. 23. Sau khi sinh Na-cô, Sê-rúc còn sống được hai trăm năm, sinh các con trai và các con gái.
- Na-cô được hai mươi chín tuổi, sinh Tha-rê. 25. Sau khi sinh Tha-rê, Na-cô còn sống được một trăm mười chín năm, sinh các con trai và các con gái.
- Tha-rê được bảy mươi tuổi, sinh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.
- Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sinh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran. Ha-ran sinh Lót. 28. Ha-ran qua đời trước Tha-rê, cha của ông, ngay tại nơi đã sinh ra ông, tại U-rơ, thuộc xứ của người Canh-đê.
- Áp-ram và Na-cô cưới vợ cho họ. Vợ của Áp-ram tên là Sa-rai, và vợ của Na-cô tên là Minh-ca, bà là con gái của Ha-ran – ông là cha của Minh-ca và Dích-ba.
- Sa-rai bị hiếm muộn, không có con.
- Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai của mình, Lót, con trai của Ha-ran, là cháu nội của mình, và Sa-rai, vợ của Áp-ram, là con dâu của mình, họ cùng nhau ra khỏi U-rơ, là xứ của người Canh-đê, để đến xứ Ca-na-an. Họ đã đến Cha-ran rồi ở tại đó. 32. Tha-rê hưởng thọ được hai trăm lẻ năm tuổi. Tha-rê đã chết tại Cha-ran.
12
- Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram: “Hãy rời khỏi xứ sở của ngươi, khỏi bà con thân tộc của ngươi, khỏi nhà cha của ngươi, để đi đến một xứ sở mà Ta sẽ chỉ cho. 2. Ta sẽ làm cho ngươi trở nên một dân lớn, sẽ ban phước cho ngươi, làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. 3. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa ngươi. Mọi dân tộc trên đất sẽ nhờ ngươi mà được phước.”
- Vì vậy, Áp-ram đã đi theo như lời mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông. Lót đã đi với Áp-ram. Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời khỏi Cha-ran. 5. Áp-ram đã dẫn Sa-rai – vợ của ông, và Lót – con trai của em ông – họ đã gom góp tất cả những vật họ sở hữu và những người mà họ có được tại Cha-ran, để đi đến xứ Ca-na-an; và rồi họ đã đến xứ Ca-na-an.
- Áp-ram đã đi xuyên qua cả xứ, đến tận một nơi tại Si-chem, là nơi có cây sồi của Mô-rê. Lúc đó dân Ca-na-an đang sống trong xứ.
- Đức Giê-hô-va đã hiện ra cùng Áp-ram và phán: “Ta sẽ ban cho dòng dõi của ngươi xứ nầy.” Tại đó, Áp-ram đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, là Đấng đã hiện ra với ông.
- Từ đó, ông đã di chuyển đến vùng đồi núi thuộc phía đông của Bê-tên, và ông đã đóng trại tại một nơi có Bê-tên ở phía tây và A-hi ở phía đông. Tại đó ông đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va và cầu khẩn danh của Đức Giê-hô-va. 9. Và rồi, Áp-ram đã tiếp tục hành trình để đi về phương nam.
- Lúc đó có một nạn đói ở trong xứ – Áp-ram đã đi xuống Ai Cập để kiều ngụ tại đó, bởi vì nạn đói trong xứ quá trầm trọng. Sau đó, khi gần đến Ai Cập, ông đã nói với Sa-rai, vợ của mình: “Xem nầy, anh biết em là một phụ nữ xinh đẹp. 12. Vì vậy khi người Ai Cập thấy em, họ sẽ nói: Đó là vợ của hắn, và rồi họ sẽ giết anh, nhưng để cho em được sống. 13. Vì vậy, xin em hãy nói em là em gái của anh, để vì em mà anh có thể được tốt đẹp, và nhờ em mà anh được sống.”
- Khi Áp-ram vào Ai Cập, người Ai Cập thấy người phụ nữ nầy rất xinh đẹp. 15. Các quan chức của Pha-ra-ôn đã nhìn thấy nàng, và họ đã ca tụng nàng với Pha-ra-ôn, và nàng bị đem vào cung của Pha-ra-ôn. 16. Nhờ nàng, vua đã hậu đãi Áp-ram, và ông đã được nhiều chiên, bò, lừa đực, tôi trai, tớ gái, lừa cái, và lạc đà.
- Tuy nhiên vì cớ Sa-rai, vợ của Áp-ram, Đức Giê-hô-va đã giáng những tai họa lớn trên Pha-ra-ôn và nhà của ông. 18. Pha-ra-ôn đã gọi Áp-ram rồi nói: “Nhà ngươi đã làm gì cho ta vậy? Tại sao ngươi không nói với ta rằng nàng là vợ của ngươi? 19. Tại sao ngươi đã nói rằng nàng là em gái của tôi, khiến ta đã bắt nàng để làm vợ của ta? Bây giờ vợ của ngươi đây, hãy nhận lại, rồi đi đi.” 20. Pha-ra-ôn đã truyền lệnh cho những người của mình đưa Áp-ram, vợ của ông, cùng với tất cả tài sản của ông, ra đi.
.
13
- Từ Ai Cập, Áp-ram, với vợ của ông, và tất cả những gì ông có, cùng với Lót, đã đi lên Nê-ghép. 2. Áp-ram rất giàu về gia súc, bạc và vàng. 3. Từ phương nam, ông đã đi dần dần về Bê-tên, đến nơi mà ông đã đóng trại lần trước ở giữa Bê-tên và A-hi, 4. là nơi trước đó ông đã lập một bàn thờ và Áp-ram đã cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va tại đó.
- Lót – người cùng đi với Áp-ram – cũng có nhiều chiên, bò, và lều trại. 6. Vùng đất đó không đủ chỗ cho họ ở chung với nhau, bởi vì tài sản của họ quá nhiều đến nỗi không thể ở chung với nhau. 7. Có sự tranh chấp giữa những người chăn súc vật của Áp-ram và những người chăn súc vật của Lót. Lúc đó dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít đang còn ở trong xứ.
- Vì vậy, Áp-ram đã nói với Lót: “Không nên có sự tranh chấp giữa bác và cháu, giữa những người chăn súc vật của bác và của cháu, bởi vì chúng ta là bà con với nhau. 9. Không phải cả xứ đều ở trước mặt cháu hay sao? Xin hãy rời khỏi bác. Nếu cháu chọn bên trái, bác sẽ sang bên phải; nếu cháu chọn bên phải, bác sẽ sang bên trái.”
- Lót ngước mắt lên, thấy cả vùng đồng bằng của sông Giô-đanh, chỗ nào cũng có nước. – Trước khi Đức Giê-hô-va hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ, vùng đó hướng về phía Xoa giống như vườn của Đức Giê-hô-va, như đất của Ai Cập. 11. Lót đã chọn cho mình toàn bộ đồng bằng của sông Giô-đanh, và Lót đã đi về phía đông. Vì vậy, họ đã phân rẽ nhau. 12. Áp-ram đã ở tại xứ Ca-na-an, còn Lót đã ở trong các thành thuộc vùng đồng bằng, rồi dời trại của mình đến tận Sô-đôm. 13. Lúc đó dân Sô-đôm là những người rất gian ác và phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va.
- Sau khi Lót lìa khỏi ông, Đức Giê-hô-va đã phán cùng Áp-ram: “Hãy ngước mắt lên, rồi từ chỗ của ngươi, hãy nhìn về hướng bắc, hướng nam, hướng đông, và hướng tây, 15. bởi vì tất cả vùng đất mà ngươi thấy, Ta sẽ ban cho ngươi và cho dòng dõi của ngươi đời đời. 16. Ta sẽ làm cho dòng dõi của ngươi đông như bụi trên đất; bởi vì nếu ai có thể đếm được bụi trên đất thì mới đếm được dòng dõi của ngươi. 17. Hãy đứng lên, đi dọc ngang khắp xứ, bởi vì Ta ban nó cho ngươi.”
- Áp-ram đã dời trại đến ở gần vùng những cây sồi của Mam-rê tại Hếp-rôn. Ông đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại đó.
14
- Thời gian trôi qua, vào thời Am-ra-phên làm vua của Si-nê-a, A-ri-óc làm vua của Ê-la-sa, Kết-rô-lao-me làm vua của Ê-lam, và Ti-đanh làm vua của Gô-im, 2. họ đã gây chiến với Bê-ra vua của Sô-đôm, Bi-rê-sa – vua của Gô-mô-rơ, Si-nê-áp – vua của Át-ma, Sê-mê-bê – vua của Xê-bô-im, và vua của Bê-la, tức là Xoa. 3. Tất cả những vị nầy đã tập hợp với nhau tại thung lũng Si-điêm, tức là Biển Muối. 4. Họ đã thần phục Vua Kết-rô-lao-me mười hai năm, nhưng đến năm thứ mười ba thì họ nổi loạn.
- Vào năm thứ mười bốn, Kết-rô-lao-me và các vua theo ông đã tấn công dân Rê-pha-im tại Ách-tê-rót Ca-na-im, dân Xu-xin tại Ham, dân Ê-mim tại đồng bằng Ki-ri-a-ta-im, 6. và dân Hô-rít trong vùng núi Sê-i-rơ, cho đến tận Ên Pa-ran, giáp ranh với hoang mạc. 7. Sau đó họ quay về Ên Mích-pát, tức Ca-đe, triệt hạ cả xứ của dân A-ma-léc, và của dân A-mô-rít đang ở tại Hát-sát-sôn Tha-ma.
- Các vua của Sô-đôm, vua của Gô-mô-rơ, vua của Át-ma, vua của Xê-bô-im, và vua của Bê-la, tức là Xoa, đã cùng nhau dàn trận tại thung lũng Si-điêm 9. để chống lại Vua Kết-rô-lao-me của Ê-lam, Vua Ti-đanh của Gô-im, Vua Am-ra-phên của Si-nê-a, và Vua A-ri-óc của Ê-la-sa: Năm vua chống lại bốn vua.
- Lúc đó, thung lũng Si-điêm có những hố đầy nhựa chai, vua của Sô-đôm và vua của Gô-mô-rơ chạy trốn, đã rơi xuống đó – số còn lại chạy trốn vào trong núi. 11. Họ đã chiếm hết tài sản và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ rồi bỏ đi. 12. Họ cũng bắt Lót – là con trai của em trai của Áp-ram – cùng với những tài sản của ông đem đi, bởi vì ông đã ở tại Sô-đôm.
- Có một người thoát được đã đến báo cho Áp-ram, người Hê-bơ-rơ, đang sống gần những cây sồi của Mam-rê, người A-mô-rít, là anh em của Ếch-côn và anh em của A-ne. Những người nầy đã lập giao ước với Áp-ram. 14. Khi Áp-ram nghe tin cháu của mình bị bắt, ông đã trang bị cho những gia nhân đã được huấn luyện, là những người đã sinh ra trong nhà của ông, rồi rượt theo họ cho đến tận Đan. 15. Ông phân chia lực lượng để đánh họ. Ông và những gia nhân của ông đã tấn công họ vào ban đêm, rồi truy đuổi họ cho đến Hô-ba, nằm ở phía bắc của Đa-mách. 16. Áp-ram đã đoạt lại tất cả tài sản, cũng đem Lót, cháu của mình, trở về cùng với tài sản của ông, cũng như những phụ nữ và dân chúng.
- Sau khi đã đánh bại Kết-rô-lao-me cùng với những vị vua theo ông, lúc Áp-ram trở về, vua của Sô-đôm đã ra tiếp đón ông tại thung lũng Sa-ve, tức là thung lũng của các vua. 18. Mên-chi-xê-đéc, vua của Sa-lem, cũng đã đem bánh và rượu đến, bởi vì ông là tư tế của Đức Chúa Trời Chí Cao. 19. Vua đã chúc phước và nói: “Nguyện Đức Chúa Trời Chí Cao, là Đấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram. 20. Tôn ngợi Đức Chúa Trời Chí Cao đã trao kẻ thù vào tay của ngươi.” Áp-ram đã dâng cho vua một phần mười của mọi thứ.
- Vua của Sô-đôm đã nói với Áp-ram: “Xin cho tôi lại những con người, còn tài sản thì xin ông giữ lấy.” 22. Tuy nhiên Áp-ram đã nói với vua của Sô-đôm: “Tôi đã giơ tay lên hứa với Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí Cao, là Đấng sáng tạo trời và đất, 23. rằng tôi sẽ không lấy bất cứ vật gì thuộc về vua, dù chỉ là một sợi chỉ hay là một dây giày, kẻo vua sẽ nói rằng: Ta đã làm cho Áp-ram giàu có. 24. Ngoại trừ những gì các thanh niên đã ăn. Tuy nhiên, những người đã cùng đi với tôi là A-ne, Ếch-côn, và Mam-rê, họ có thể nhận phần của họ.”
15
- Sau những việc này, lời của Đức Giê-hô-va đã đến với Áp-ram trong một khải tượng: “Áp-ram, đừng sợ! Ta là thuẫn khiên của ngươi. Phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.”
- Nhưng Áp-ram thưa: “Lạy Chúa, là Đức Giê-hô-va! Ngài sẽ ban cho con điều gì? Bởi vì con không có con cái cho nên Ê-li-ê-se, người Đa-mách, sẽ là người thừa kế gia sản của con.” 3. Áp-ram nói: “Hãy nhìn xem! Ngài không ban cho con con cái, cho nên con trai của một người trong nhà của con sẽ kế nghiệp con.”
- Tuy nhiên lời của Đức Giê-hô-va đã phán với ông: “Người nầy không phải là người thừa kế của ngươi đâu, nhưng một người, xuất phát từ thân thể của ngươi, sẽ là người thừa kế của ngươi.” 5. Ngài đã dẫn ông ra ngoài, rồi phán: “Bây giờ ngươi hãy nhìn lên trời. Hãy đếm những vì sao nếu ngươi có thể đếm chúng.” Ngài phán: “Dòng dõi của ngươi cũng sẽ như vậy.” 6. Ông đã tin Đức Giê-hô-va, và Ngài kể ông là công chính.
- Sau đó, Ngài phán với ông: “Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng đã đem ngươi ra khỏi U-rơ thuộc Canh-đê, để ban cho ngươi xứ nầy làm sản nghiệp.” 8. Ông thưa: “Lạy Chúa, là Đức Giê-hô-va! Nhờ vào điều gì mà con biết rằng mình sẽ sở hữu nó?” 9. Ngài phán với ông: “Hãy mang đến cho Ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con cu đất, và một con bồ câu con.” 10. Ông đã mang tất cả những con vật đó đến cho Ngài. Ông xẻ chúng làm đôi tại ngay chính giữa, rồi đặt từng mảnh đối diện với nhau, nhưng không xẻ đôi những con chim. 11. Các chim săn mồi sà xuống trên những xác đó, nhưng Áp-ram đã đuổi chúng đi.
- Khi mặt trời đã lặn, có một cơn buồn ngủ giáng xuống trên Áp-ram; và rồi bóng tối bao la cùng sự khủng khiếp giáng trên ông. 13. Ngài phán với Áp-ram: “Hãy biết rõ rằng dòng dõi của ngươi sẽ là những kiều dân trong một xứ không phải là của chúng. Chúng phục dịch cho họ, và họ sẽ hà hiếp chúng trong bốn trăm năm. 14. Nhưng Ta sẽ đoán phạt dân tộc mà chúng phục dịch, chúng sẽ ra khỏi đó với rất nhiều của cải. 15. Về phần ngươi, và ngươi sẽ về với các tổ phụ của ngươi cách bình yên, và ngươi sẽ được chôn cất tốt đẹp lúc tuổi già. 16. Ðến thế hệ thứ tư, chúng sẽ trở về đây, bởi vì tội ác của dân A-mô-rít tại đây chưa đầy trọn.”
- Thời gian trôi qua, khi mặt trời đã lặn và trời đã tối, có một lò lửa bốc khói xuất hiện; một ngọn đuốc cháy rực đã đi ngang qua giữa những mảnh đó.
- Ngày hôm đó, Đức Giê-hô-va đã lập một giao ước với Áp-ram rằng: “Ta ban cho dòng dõi ngươi đất nầy, từ sông của Ai Cập cho đến sông Cả, tức là sông Ơ-phơ-rát, 19. là xứ của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít, 20. Hê-tít, Phê-rê-sít, Rê-pha-im, 21. A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-rê-ga-sít và Giê-bu-sít.”
16
- Sa-rai, vợ của Áp-ram, vẫn chưa sinh con cho ông. Bà có một đầy tớ gái người Ai Cập, tên là A-ga. 2. Sa-rai nói cùng Áp-ram rằng: “Xem nầy, Đức Giê-hô-va đã giữ tôi không có con. Xin hãy đến cùng đầy tớ gái của tôi, có lẽ tôi sẽ nhờ nó mà có con.” Áp-ram đã nghe theo lời của Sa-rai.
- Sau khi Áp-ram trú ngụ mười năm tại xứ Ca-na-an, Sa-rai, vợ của Áp-ram, đã đem A-ga, là đầy tớ gái người Ai Cập của bà, trao cho Áp-ram chồng của bà, để nàng làm vợ của ông. 4. Ông đã đến với A-ga, rồi nàng mang thai. Khi nàng thấy mình đã có thai, nàng xem thường bà chủ mình.
- Sa-rai đã nói với Áp-ram: “Sự sỉ nhục của tôi là do ông. Tôi đã trao đầy tớ gái của tôi vào vòng tay của ông. Khi nó thấy nó có thai, tôi bị nó xem thường. Cầu xin Đức Giê-hô-va phân xử giữa tôi và ông.” 6. Áp-ram nói với Sa-rai: “Kìa, đầy tớ của bà ở trong tay của bà. Hãy làm cho nó điều gì bà thấy là tốt đẹp.” Sa-rai đã hành hạ A-ga khiến nàng phải trốn khỏi bà.
- Thiên Sứ của Đức Giê-hô-va gặp nàng bên một suối nước trong hoang mạc, trên đường đi về Su-rơ, 8. đã hỏi: “A-ga, tớ gái của Sa-rai! Ngươi đã từ đâu đến và sẽ đi đâu?” Nàng đáp: “Tôi đang trốn khỏi Sa-rai, bà chủ của tôi.” 9. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói với nàng: “Hãy trở về với bà chủ của ngươi, và hãy thuận phục dưới tay của bà.”
- Thiên Sứ của Đức Giê-hô-va đã nói với nàng: “Ta sẽ làm cho dòng dõi của ngươi trở nên đông đúc, đông đến nỗi không thể đếm hết.”
- Thiên Sứ của Đức Giê-hô-va đã nói với nàng: “Ngươi đang mang thai và ngươi sẽ sinh một con trai. Ngươi hãy đặt tên cho nó là Ích-ma-ên, bởi vì Đức Giê-hô-va đã lắng nghe nỗi sầu khổ của ngươi. 12. Nó sẽ giống như một con lừa hoang. Tay của nó sẽ chống lại mọi người, và tay của mọi người sẽ chống lại nó. Nó sẽ sống đối nghịch với tất cả các anh em của nó.”
- Nàng đã gọi danh của Đức Giê-hô-va – Đấng đã phán với nàng – Ngài là Đức Chúa Trời Đoái Xem; bởi vì nàng nói: “Không phải tại chính nơi nầy mà tôi đã nhìn thấy phía sau của Đấng đã đoái xem tôi hay sao?” 14. Vì vậy, người ta đã gọi dòng suối đó là La-chai Roi, nằm ở giữa Ca-đe và Bê-re.
- A-ga đã sinh cho Áp-ram một con trai, và Áp-ram đã đặt tên cho con trai mà A-ga đã sinh cho mình là Ích-ma-ên. 16. Áp-ram được tám mươi sáu tuổi khi Ha-ga sinh Ích-ma-ên cho Áp-ram.
17
- Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, Đức Giê-hô-va đã hiện đến cùng Áp-ram, rồi phán với ông: “Ta là Đức Chúa Trời Toàn Năng. Hãy bước đi trước mặt Ta và hãy sống cách trọn vẹn. 2. Ta sẽ lập giao ước giữa Ta với ngươi, và sẽ làm cho ngươi gia tăng thật đông đúc.”
- Áp-ram đã quỳ sấp mặt xuống. Đức Chúa Trời phán với ông: 4. “Về phần Ta, ngươi hãy xem! Giao ước của Ta với ngươi đó là ngươi sẽ trở thành tổ phụ của nhiều dân tộc. 5. Tên của ngươi sẽ không còn gọi là Áp-ram nữa, nhưng tên của ngươi sẽ là Áp-ra-ham, bởi vì Ta đã lập ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc. 6. Ta sẽ làm cho ngươi kết quả thật nhiều. Ta sẽ làm cho nhiều dân tộc và nhiều vị vua sẽ phát xuất từ ngươi. 7. Ta sẽ thiết lập giao ước của Ta, giữa Ta với ngươi, cùng với những hậu tự sau này của ngươi trong nhiều thế hệ, bởi vì đó là một giao ước đời đời để Ta làm Đức Chúa Trời của ngươi và những hậu tự sau này của ngươi. 8. Ta sẽ ban cho ngươi và những hậu tự sau này của ngươi xứ sở hiện nay ngươi đang sống như một kiều dân, tức toàn cõi Ca-na-an, để làm sản nghiệp đời đời; và Ta cũng sẽ làm Ðức Chúa Trời của chúng.”
- Đức Chúa Trời phán cùng Áp-ra-ham: “Về phần ngươi, tức là ngươi và những hậu tự sau này của ngươi trải qua nhiều thế hệ, ngươi phải giữ giao ước của Ta. 10. Ðây là giao ước của Ta mà các ngươi phải giữ, tức giao ước giữa Ta với ngươi và với những hậu tự sau này của ngươi: Mỗi người nam giữa vòng các ngươi phải được cắt bì. 11. Các ngươi sẽ được cắt bỏ phần da bọc quy đầu, và đó sẽ là dấu hiệu của giao ước giữa Ta với các ngươi. 12. Trải qua mọi thế hệ, mọi bé trai trong vòng các ngươi khi được tám ngày phải chịu cắt bì, đó là bé trai được sinh ra trong nhà của ngươi, hay được mua về bằng tiền, từ một người ngoại quốc không thuộc về dòng dõi của ngươi. 13. Người nam sinh ra trong nhà của ngươi, hay người nam được mua bằng tiền của ngươi, đều phải được cắt bì. Giao ước của Ta trên da thịt của các ngươi sẽ là một giao ước đời đời. 14. Người nam nào không chịu cắt bì, tức là không cắt da quy đầu, thì người đó sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng bởi vì người đó đã phá vỡ giao ước của Ta.”
- Ðức Chúa Trời phán cùng Áp-ra-ham: “Còn về phần Sa-rai, vợ của ngươi, ngươi sẽ không gọi tên của nàng là Sa-rai nữa, nhưng tên của nàng sẽ là Sa-ra. 16. Ta sẽ ban phước cho nàng. Ta sẽ ban cho ngươi một con trai từ nàng. Ta sẽ ban phước cho nàng. Nàng sẽ trở thành tổ mẫu của nhiều dân tộc, và các vua của các dân tộc sẽ từ nàng mà ra.”
- Áp-ram quỳ sấp mặt xuống, cười, và nói trong lòng: “Một bé trai sẽ được sinh ra từ một người đã trăm tuổi hay sao? Sa-ra đã chín mươi tuổi mà sẽ sinh đẻ hay sao?” 18. Áp-ra-ham thưa với Đức Chúa Trời: “Ước gì Ích-ma-ên có thể sống trước mặt Ngài!”
- Ðức Chúa Trời phán: “Đúng vậy! Sa-ra, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi hãy đặt tên cho nó là Y-sác. Ta sẽ thiết lập giao ước của Ta với nó, tức là một giao ước đời đời với những hậu tự sau này của nó. 20. Về phần Ích-ma-ên, Ta có nghe ngươi. Nầy, Ta sẽ ban phước cho nó, nó sẽ kết quả, nó sẽ gia tăng thật nhiều. Nó sẽ sinh ra mười hai lãnh tụ, và Ta sẽ làm cho nó thành một dân lớn. 21. Nhưng Ta sẽ lập giao ước của Ta với Y-sác, là người mà Sa-ra sẽ sinh cho ngươi vào khoảng thời gian nầy năm sau.”
- Sau khi đã phán xong với ông, Ðức Chúa Trời đã rời khỏi Áp-ra-ham rồi ngự lên.
- Áp-ra-ham đã đem Ích-ma-ên, con trai của ông, tất cả những người nam đã sinh ra trong nhà của ông, và tất cả những người nam mà ông đã bỏ tiền mua về – tức là tất cả nam giới trong nhà của Áp-ra-ham – để làm cắt bì, và cắt bỏ phần da bọc quy đầu của họ ngay trong ngày hôm ấy, y như Ðức Chúa Trời đã truyền cho ông. 24. Áp-ra-ham được chín mươi chín tuổi khi ông được cắt bì để cắt bỏ phần da bọc quy đầu của mình. 25. Ích-ma-ên, con trai của ông, được mười ba tuổi khi cậu bé được cắt bì để cắt bỏ phần da bọc quy đầu của nó. 26. Trong cùng chính một ngày hôm đó, Áp-ra-ham và Ích-ma-ên, con trai của ông, đã được cắt bì. 27. Tất cả những người nam trong nhà của ông, những người đã sinh ra tại trong nhà và những người được mua về bằng tiền từ con cái của người ngoại bang, đều cùng chịu cắt bì với ông.
18
- Đức Giê-hô-va đã hiện ra với ông gần đám sồi của Mam-rê vào lúc ông đang ngồi tại cửa trại trong một ngày nóng bức.
- Ông ngước mắt lên nhìn, thì thấy có ba người đang đứng gần đó. Vừa thấy họ, từ cửa lều ông đã chạy đến để gặp họ. Ông đã sấp mình xuống đất, 3. rồi nói: “Thưa Chúa! Nếu tôi được ơn trước mặt Ngài, xin đừng lìa khỏi tôi tớ của Ngài. 4. Xin hãy cho tôi mang một ít nước để rửa chân cho quý Ngài, và rồi xin quý Ngài hãy nghỉ ngơi dưới tàng cây. 5. Bởi vì quý Ngài đã chiếu cố đến thăm tôi tớ của quý Ngài, xin cho phép tôi mang một ít bánh để quý Ngài lót dạ, rồi sau đó hãy đi.” Họ nói: “Vâng! Hãy làm như những gì ngươi đã nói.”
- Áp-ra-ham vội vàng vào trong trại, nói với Sa-ra: “Hãy mau mau lấy ba đấu bột mịn, đem nhồi, rồi làm bánh.” 7. Sau đó, Áp-ra-ham chạy đến bầy gia súc, bắt một con bê đực, thịt mềm và ngon, giao cho một đầy tớ trẻ, dặn phải chuẩn bị thật nhanh. 8. Sau đó, ông mang bơ, sữa, và thịt bê đã nấu, dọn ra trước mặt các vị đó – rồi ông đứng bên cạnh họ ở dưới bóng cây trong lúc họ ăn.
- Họ hỏi ông: Sa-ra, vợ của ngươi, ở đâu? Ông trả lời: “Kìa, nàng đang ở trong trại.” 10. Ngài nói: “Chắc chắn Ta sẽ trở lại đây với ngươi. Nầy, theo thời hạn của cuộc sống, Sa-ra, vợ của ngươi, sẽ có một con trai.” Từ cửa trại phía sau người đó, Sa-ra đang lắng nghe.
- Lúc đó Áp-ra-ham và Sa-ra đều đã già, tuổi đã cao. Sa-ra đã qua khỏi giai đoạn mà phụ nữ có thể sinh sản. 12. Vì vậy, Sa-ra đã cười thầm, rồi nói với chính mình: “Mình đã qua tuổi già, mà mình lại có được niềm vui đó hay sao? Ông chủ của mình cũng đã già rồi.”
- Đức Giê-hô-va đã nói với Áp-ra-ham: “Tại sao Sa-ra cười về việc nầy, và nói: Có thật là tôi đã già như thế nầy, mà vẫn sinh con được hay sao? 14. Có gì quá khó cho Đức Giê-hô-va hay không? Theo kỳ định Ta sẽ trở lại với ngươi. Theo thời hạn của cuộc sống, Sa-ra sẽ có một con trai.”
- Vì sợ nên Sa-ra đã chối rằng: “Tôi đâu có cười.” Ngài phán: “Không! Ngươi đã cười.”
- Sau đó, các vị ấy đã đứng dậy, rời khỏi đó, rồi hướng về Sô-đôm. Áp-ra-ham đi theo để tiễn họ. 17. Đức Giê-hô-va phán: “Ta có nên giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm hay không? 18. Áp-ra-ham chắc hẳn sẽ trở nên một dân lớn và hùng cường. Tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ nhờ người mà được phước. 19. Bởi vì Ta biết rằng người sẽ truyền dạy cho con cái của người và những người trong gia đình của người sau nầy để họ gìn giữ đường lối của Đức Giê-hô-va, tức là làm những gì đúng và công chính, để Đức Giê-hô-va thực hiện cho Áp-ra-ham điều Ngài đã hứa với người.”
- Đức Giê-hô-va phán: “Bởi vì tiếng kêu than về Sô-đôm và Gô-mô-rơ thật quá lớn, tội lỗi của chúng rất nghiêm trọng. 21. Bây giờ Ta ngự xuống để xem chúng có làm như tiếng kêu than đã thấu đến Ta hay không. Có hay không thì Ta sẽ biết.”
- Các vị ấy quay khỏi nơi đó, đi về phía Sô-đôm, tuy nhiên Áp-ra-ham vẫn đứng trước mặt Đức Giê-hô-va. 23. Áp-ra-ham đã đến gần, rồi thưa: “Không lẽ Ngài sẽ tiêu diệt người công chính cùng với người gian ác? 24. Giả sử có năm mươi người công chính ở trong thành, không lẽ Ngài sẽ hủy diệt nơi đó, mà không chừa lại bởi vì năm mươi người ngay lành đang ở trong đó hay sao? 25. Điều đó thật xa lạ với cách mà Ngài cư xử trong việc nầy – đó là tiêu diệt người công chính chung với kẻ gian ác. Không lẽ người công chính cũng bị đối xử giống như kẻ gian ác? Điều đó thật xa lạ với Ngài. Không lẽ Đấng Phán Xét cả trái đất lại không làm điều đúng hay sao?” 26. Đức Giê-hô-va phán: “Nếu Ta tìm được tại Sô-đôm năm mươi người công chính ở trong thành, bởi vì những người ấy Ta sẽ chừa lại tất cả nơi đó.”
- Áp-ra-ham đáp lời và nói: “Xin hãy xem! Dù con chỉ là tro bụi, con cũng mạo muội thưa với Chúa: 28. Giả như trong số năm mươi người công chính, nếu thiếu năm người, không lẽ Ngài tiêu diệt cả thành chỉ vì thiếu mất năm người?” Ngài đáp: “Ta sẽ không tiêu diệt, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người tại đó.”
- Ông lại nói và thưa với Ngài: “Giả sử chỉ có bốn mươi người thì sao?” Ngài phán: “Ta sẽ không hủy diệt vì cớ bốn mươi người.”
- Rồi ông nói: “Chúa ôi! Xin Ngài đừng giận. Con thưa rằng giả sử chỉ tìm được ba mươi người thì sao?” Ngài phán: “Ta sẽ không tiêu diệt thành nếu Ta tìm được ba mươi người tại đó.”
- Ông nói: “Xin hãy xem! Con mạo muội thưa với Chúa: Giả sử ở đó chỉ có hai mươi người thì sao?” Ngài phán: “Ta sẽ không tiêu diệt thành vì có hai mươi người.”
- Ông nói: “Chúa ôi! Xin Ngài đừng giận. Con xin thưa chỉ một lần nữa. Giả sử chỉ tìm được mười người tại đó thì sao?” Ngài phán: “Ta sẽ không tiêu diệt vì cớ mười người.”
- Sau khi nói chuyện với Áp-ra-ham xong, Đức Giê-hô-va ra đi; còn Áp-ra-ham thì trở về chỗ của mình.
19
- Hai thiên sứ đã đến Sô-đôm vào lúc chiều tối. Lúc đó Lót đang ngồi tại cổng thành Sô-đôm. Khi Lót nhìn thấy, ông đã đứng dậy đón tiếp họ, và rồi ông đã sấp mặt xuống đất. 2. Ông nói: “Bây giờ, xin các chúa của tôi hãy vào trong nhà đầy tớ của quý vị để rửa chân, và qua đêm. Sau đó quý vị có thể dậy sớm rồi đi đường của mình.” Họ đáp: “Không! Chúng tôi sẽ nghỉ đêm ở bên ngoài.” 3. Nhưng ông hết sức nài nỉ, cho nên họ đã quay lại với ông, rồi vào trong nhà của ông. Ông đã đãi tiệc cho họ. Ông đã nướng bánh không men, và họ đã ăn.
- Trước khi họ nằm nghỉ, những người nam trong thành – bọn đàn ông ở Sô-đôm – từ trẻ cho đến già thuộc mọi khu phố, đã bao quanh căn nhà. 5. Họ gọi Lót, rồi nói với ông: “Những người đàn ông, đã đến nhà của ông tối nay, đang ở đâu? Hãy đem họ ra đây cho chúng tôi, để chúng tôi biết họ.”
- Lót đi xuyên qua hiên cửa để gặp họ, nhưng ông đã đóng cửa ngay phía sau của mình. 7. Ông nói: “Các anh em của tôi! Xin đừng làm những việc gian ác nầy. 8. Xem nầy, tôi có hai đứa con gái, chưa hề biết đàn ông. Xin hãy để tôi đem chúng ra cho các anh em. Các anh em có thể đến với chúng, nếu điều đó đẹp mắt các anh em. Nhưng đừng làm bất cứ điều gì với những người nầy, bởi vì họ đã đến tá túc dưới bóng mái nhà của tôi.”
- Họ đã gào lên: “Hãy tránh ra!” Họ nói: “Kẻ tạm trú này đã đến đây, rồi tiếp tục hành xử như một quan tòa. Chúng ta sẽ xử ngươi còn tệ hơn với bọn chúng nữa.” Họ chèn ép Lót thật mạnh, rồi xông vào, để phá cửa. 10. Tuy nhiên những vị khách đã đưa tay kéo Lót vào nhà, rồi đóng cửa lại. 11. Những vị khách đó đã đánh phạt bọn đàn ông ở trước cửa nhà, cả nhỏ lẫn lớn, bị mù, đến nỗi họ không thể tìm được cửa.
- Những vị khách đó đã nói với Lót: “Ngươi còn có ai khác ở đây: con rể, các con trai, các con gái, hay là bất cứ người nào thuộc về ngươi ở trong thành hay không? Hãy đem họ ra khỏi nơi nầy. 13. Vì chúng ta sẽ hủy diệt nơi nầy, bởi vì những tiếng kêu than về nó đã gia tăng quá nhiều trước mặt Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va đã sai chúng ta hủy diệt nó.”
- Vì vậy, Lót đã đi ra, nói với các con rể sắp cưới những con gái của mình: “Hãy đứng dậy! Hãy ra khỏi nơi nầy, bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ hủy diệt thành.” Tuy nhiên các con rể tưởng ông nói đùa.
- Khi bình minh ló dạng, các thiên sứ đã thúc giục Lót: “Hãy thức dậy, đem vợ của ngươi và hai con gái của ngươi đang ở đây đi đi! Đừng để các ngươi sẽ bị tiêu diệt cùng với sự đoán phạt của thành phố.” 16. Bởi vì lòng thương xót của Đức Giê-hô-va, cho nên trong khi ông còn đang chần chờ, những vị nầy đã nắm tay của ông, tay vợ của ông, và tay hai con gái của ông, kéo họ ra ngoài và đặt họ bên ngoài thành phố.
- Sau đó, khi họ đã được những vị đó đem ra bên ngoài, một vị đã nói: “Hãy chạy trốn để cứu mạng. Ðừng nhìn lại phía sau, cũng đừng dừng lại tại tất cả những nơi nào trong đồng bằng, nhưng hãy chạy trốn lên núi, đừng để các ngươi bị hủy diệt.”
- Nhưng Lót đã thưa với họ: “Các chúa của tôi! Không đâu. 19. Thật vậy, tôi tớ của ngài đã được ơn trước mặt ngài; ngài đã gia tăng sự thương xót của ngài; và ngài đã bày tỏ qua việc cứu mạng sống của tôi, nhưng tôi không thể nào chạy trốn kịp lên núi. Xin đừng để tai họa đuổi kịp tôi, và rồi tôi sẽ bị chết. 20. Kìa, gần đây có một thành có thể chạy đến tại đó. Nó rất nhỏ. Xin hãy cho tôi được chạy đến đó để tôi được cứu mạng. Không phải là nó rất nhỏ hay sao?”
- Vị đó đã nói với ông: “Xem nầy! Ta cũng thực hiện cho ngươi điều nầy. Ta sẽ không hủy diệt thành mà ngươi đã nói. 22. Hãy vội vàng chạy đến đó trú ẩn, bởi vì ta sẽ không thể làm điều gì cho đến khi ngươi vào trong thành đó. Vì vậy tên của thành đó đã được gọi là Xoa.”
- Khi mặt trời mọc lên khỏi mặt đất, thì Lót đã vào đến thành Xoa. 24. Sau đó, Đức Giê-hô-va đã tuôn mưa lưu huỳnh và lửa của Đức Giê-hô-va từ trời đã giáng xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ. 25. Ngài hủy diệt những thành phố nầy, luôn cả vùng đồng bằng, với tất cả cư dân trong những thành phố, và mọi thứ cây cỏ mọc trên mặt đất. 26. Nhưng vợ của Lót đã nhìn lại phía sau cho nên bà bị biến thành một tượng muối.
- Sáng hôm sau, Áp-ra-ham dậy sớm, rồi đến nơi mà trước đó ông đã đứng cùng Đức Giê-hô-va. 28. Ông nhìn về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ, và về hướng của cả vùng đồng bằng trong xứ, ông thấy khói từ dưới đất bốc lên như khói của một lò lửa lớn. 29. Lúc Ðức Chúa Trời hủy diệt các thành trong vùng đồng bằng, Ðức Chúa Trời đã nhớ đến Áp-ra-ham, nên Ngài đã đem Lót ra khỏi ngay giữa tai họa, vào lúc Ngài hủy diệt các thành phố nơi Lót cư ngụ.
- Bởi vì Lót sợ sống tại Xoa, cho nên Lót đã rời khỏi Xoa, đến cư ngụ trong núi. Hai con gái của ông theo ông. Lót sống trong một cái hang – ông cùng với hai con gái của ông. 31. Cô gái đầu lòng đã bảo cô em: Cha của chúng ta đã già. Trong vùng lại không còn người nam nào đến kết duyên với chúng ta theo phong tục của cả xứ. 32. Hãy đến! Chúng ta hãy phục rượu cho cha của chúng ta, rồi chúng ta hãy nằm với người, để lưu truyền dòng giống của cha chúng ta.
- Vì vậy, đêm hôm đó họ đã phục rượu cho cha của họ, rồi cô gái đầu lòng đến nằm với cha của nàng, nhưng ông không biết lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy. 34. Rồi đến hôm sau, cô gái đầu lòng nói với cô em: Nầy, đêm qua chị đã nằm với cha. Tối nay chúng ta cũng hãy phục rượu cho cha, rồi em sẽ đến nằm với cha để chúng ta có thể duy trì dòng giống cho cha của chúng ta. 35. Đêm đó, họ cũng phục rượu cho cha của họ, cô em đã trỗi dậy, đến nằm với ông, nhưng ông không biết lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy.
- Như vậy, hai con gái của Lót đã có thai bởi cha của họ. 37. Cô gái đầu lòng đã sinh một con trai, cô đặt tên của nó là Mô-áp. Đó là tổ phụ của dân Mô-áp ngày nay. 38. Cô em cũng sinh một con trai, cô đặt tên của nó là Bên Am-mi. Đó là tổ phụ của dân Am-môn ngày nay.
20
- Áp-ra-ham đã từ nơi đó đi đến phương nam, rồi cư ngụ ở giữa Ca-đe và Su-rơ. Trong khi trú tại Ghê-ra, 2. Áp-ra-ham đã nói về Sa-ra, vợ của mình rằng: “Nàng là em gái của tôi”, cho nên A-bi-mê-léc, vua của Ghê-ra, đã bắt Sa-ra.
- Ðức Chúa Trời đã đến với A-bi-mê-léc trong một chiêm bao vào ban đêm. Ngài phán với ông: Nầy, ngươi phải chết vì cớ người phụ nữ mà ngươi đã bắt về, bởi vì nàng đã cưới chồng và nàng thuộc về một người khác.
- A-bi-mê-léc chưa gần gũi với nàng, ông nói: “Lạy Chúa! Lẽ nào Ngài tiêu diệt một dân tộc công chính? 5. Không phải ông ấy đã nói với con rằng: ‘Nàng là em gái của tôi.’ Chính nàng cũng nói: ‘Đó là anh của tôi.’ Con làm điều này với tấm lòng ngay thẳng và bàn tay thanh sạch.”
- Ðức Chúa Trời đã phán với ông trong chiêm bao: “Phải! Ta biết ngươi đã làm điều đó với tấm lòng ngay thẳng của ngươi, vì vậy Ta đã ngăn trở ngươi, để ngươi không phạm tội cùng Ta. Ta đã không cho ngươi đụng đến nàng. 7. Bây giờ hãy trả lại lại vợ cho người ấy. Bởi vì người ấy là một tiên tri, người ấy sẽ cầu nguyện cho ngươi, để ngươi được sống. Nhưng nếu ngươi không trả lại, thì hãy biết rõ rằng chắc chắn ngươi sẽ chết – Ngươi cùng tất cả những người thuộc về ngươi.”
- Sáng hôm sau, A-bi-mê-léc dậy sớm, triệu tập tất cả quần thần, rồi thuật lại cho họ nghe mọi việc – Ai nấy đều khiếp sợ. 9. A-bi-mê-léc đã gọi Áp-ra-ham vào, rồi nói với ông: “Ngươi đã làm gì cho chúng ta? Ta có làm điều gì tổn thương ngươi, mà ngươi đã khiến cho ta cùng vương quốc của ta phạm một trọng tội. Ngươi đã làm cho ta những điều ngươi không nên làm.” 10. A-bi-mê-léc hỏi Áp-ra-ham: “Ngươi đã suy nghĩ điều gì khiến ngươi làm điều nầy?”
- Áp-ra-ham trả lời: “Tôi nghĩ rằng ở xứ nầy chắc không có ai kính sợ Ðức Chúa Trời. Người ta có thể giết tôi vì vợ của tôi. 12. Thật ra, nàng là em gái của tôi – Nàng là con gái của cha tôi, nhưng không phải là con gái của mẹ tôi. Tôi đã cưới nàng làm vợ. 13. Trong thời gian khi Đức Chúa Trời khiến tôi lưu lạc khỏi nhà cha của tôi, tôi có nói với nàng: Đây là nghĩa cử mà nàng có thể làm cho ta. Bất cứ nơi nào chúng ta đi đến, nàng hãy giới thiệu ta là anh của nàng.”
- A-bi-mê-léc đã lấy chiên, bò, tôi trai, và tớ gái ban cho Áp-ra-ham, rồi trả Sa-ra, vợ của ông, lại cho ông. 15. A-bi-mê-léc nói: “Ðất nước của ta ở trước mặt ngươi. Ngươi thích nơi nào, hãy ở tại nơi đó.” 16. Ông đã nói với Sa-ra: “Nầy, ta đã ban cho anh của nàng một ngàn miếng bạc. Đó là vật bồi thường danh dự cho nàng, là bằng chứng minh oan cho nàng trước mặt tất cả những kẻ ở với nàng, và trước mặt mọi người.”
- Áp-ra-ham đã cầu nguyện cùng Ðức Chúa Trời. Ðức Chúa Trời đã chữa lành cho A-bi-mê-léc, vợ của ông, và các hầu thiếp của ông, để họ có thể sinh con. 18. Bởi vì Đức Giê-hô-va đã buộc dạ của mọi người nữ trong nhà của A-bi-mê-léc, vì chuyện của Sa-ra, vợ của Áp-ra-ham.
21
- Đức Giê-hô-va đã đoái đến Sa-ra như lời Ngài đã phán, và Đức Giê-hô-va đã thực hiện cho Sa-ra như lời Ngài đã hứa. 2. Sa-ra đã mang thai rồi sinh cho Áp-ra-ham một con trai trong lúc ông đã già theo thời hạn mà Ðức Chúa Trời đã phán với ông. 3. Áp-ra-ham đã đặt tên cho đứa con trai đã được sinh cho mình, tức là đứa con mà Sa-ra đã sinh cho ông, là Y-sác. 4. Áp-ra-ham đã làm phép cắt bì cho Y-sác, con trai của ông khi đứa trẻ được tám ngày, như Ðức Chúa Trời đã truyền cho ông. 5. Áp-ra-ham được một trăm tuổi khi Y-sác được sinh ra cho ông.
- Sa-ra đã nói: “Đức Chúa Trời đã mang nụ cười đến cho tôi. Tất cả những ai nghe đến, sẽ cùng cười vui với tôi.” 7. Bà nói: “Có ai dám nói với Áp-ra-ham rằng Sa-ra sẽ cho con bú? Vậy mà tôi đã sinh cho ông một con trai, trong lúc ông đã già.” 8. Ðứa trẻ lớn lên, rồi dứt sữa. Áp-ra-ham đã làm một bữa tiệc lớn vào ngày Y-sác dứt sữa.
- Sa-ra thấy con trai của Ha-ga, người Ai Cập, là đứa con mà nàng đã sinh cho Áp-ra-ham, đùa cợt; 10. bà đã nói với Áp-ra-ham: “Hãy đuổi người đàn bà nô lệ nầy và đứa con của nó, bởi vì đứa con của người đàn bà nô lệ nầy sẽ không được hưởng gia tài chung với Y-sác, con trai của tôi.”
- Áp-ra-ham rất buồn về việc nầy, thổ lộ trong ánh mắt, bởi vì đó là con trai của mình. 12. Tuy nhiên Đức Chúa Trời đã phán cùng Áp-ra-ham: “Mắt của ngươi đừng buồn vì thằng bé, hay vì người nữ nô lệ của ngươi. Hãy lắng nghe lời của Sa-ra về tất cả những gì nàng đã nói với ngươi; bởi vì qua Y-sác sẽ có một dòng dõi mang tên của ngươi. 13. Dầu vậy, Ta cũng sẽ làm cho con trai của người nữ nô lệ nầy trở thành một dân tộc, bởi vì nó cũng là dòng dõi của ngươi.”
- Vì vậy, sáng hôm sau Áp-ra-ham thức dậy sớm, lấy bánh và một bầu da nước, ông trao cho Ha-ga, và đặt chúng trên vai của bà, rồi tiễn bà và cậu bé ra đi. Bà đã đi, rồi lang thang trong vùng hoang mạc tại Bê-e Sê-ba.
- Khi nước trong bầu đã hết, bà để cậu bé dưới một bụi cây, 16. rồi bà đi, và ngồi ở phía đối diện cách xa khoảng một tầm tên bắn. Bà nói: “Xin đừng để tôi thấy con tôi chết. Bà ngồi đối diện nó và bật tiếng khóc.”
- Ðức Chúa Trời nghe tiếng của cậu bé. Thiên Sứ của Ðức Chúa Trời từ trời đã gọi Ha-ga và nói với bà: “Ha-ga, chuyện gì thế? Ðừng sợ, bởi vì Ðức Chúa Trời đã nghe tiếng của thằng bé. Nó ở đâu? 18. Hãy đứng dậy và đỡ thằng bé lên, rồi ôm nó vào trong tay của ngươi, bởi vì Ta sẽ làm cho nó thành một dân lớn.”
- Ðức Chúa Trời mở mắt cho bà để bà thấy một suối nước. Bà đến đó, đổ đầy bình da với nước, rồi cho cậu bé uống.
- Đức Chúa Trời đã ở cùng cậu bé. Nó lớn lên, sống trong hoang mạc, và trở thành một người bắn cung xuất sắc. 21. Chàng trai sống trong hoang mạc Pha-ran. Mẹ của chàng cưới cho chàng một cô vợ từ xứ Ai Cập.
- Thời gian trôi qua, A-bi-mê-léc và Phi-côn, tướng chỉ huy trưởng quân đội của ông, đã đến nói với Áp-ra-ham rằng: “Ðức Chúa Trời ở với ông trong mọi việc ông làm. 23. Vì vậy, bây giờ hãy thề với tôi trước mặt của Ðức Chúa Trời ngay tại đây, rằng ông sẽ không gạt tôi, dòng dõi của tôi, hay những hậu tự của tôi, nhưng ông sẽ đối xử tử tế với tôi và với xứ sở mà ông đang trú ngụ theo sự tử tế mà tôi đã đối xử với ông.” 24. Áp-ra-ham đáp: “Tôi xin thề.”
- Sau đó, Áp-ra-ham đã phàn nàn với A-bi-mê-léc về một giếng nước đã bị các đầy tớ của A-bi-mê-léc chiếm đoạt. 26. A-bi-mê-léc nói: “Tôi không biết ai đã làm việc nầy, và ông cũng không nói cho tôi biết. Tôi chỉ mới nghe việc nầy ngày hôm nay.”
- Áp-ra-ham đã bắt chiên và bò, biếu cho A-bi-mê-léc, và hai người đã lập một giao ước với nhau. 28. Áp-ra-ham đã lấy bảy con chiên tơ ở trong bầy, rồi để riêng ra. 29. A-bi-mê-léc hỏi Áp-ra-ham: “Ông để riêng bảy con chiên tơ đó ra để làm gì vậy?” 30. Áp-ra-ham nói: “Xin ngài nhận lấy bảy con chiên nầy từ tay của tôi, để chúng sẽ làm bằng chứng cho tôi rằng tôi đã đào cái giếng nầy.” 31. Vì vậy, ông đã gọi nơi đó là Bê-e Sê-ba, bởi vì hai người đã thề nguyện với nhau tại đó.
- Họ đã kết ước với nhau tại Bê-e Sê-ba. A-bi-mê-léc và Phi-côn, tướng chỉ huy trưởng quân đội của ông, đã đứng dậy và trở về xứ Phi-li-tin.
- Ông đã trồng một cây me tại Bê-e Sê-ba, và đã cầu khẩn danh của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời Hằng Hữu, tại đó. 34. Áp-ra-ham đã kiều ngụ lâu ngày trong xứ của người Phi-li-tin.
22
- Thời gian trôi qua, sau những việc nầy Ðức Chúa Trời đã thử Áp-ra-ham. Ngài phán với ông: “Áp-ra-ham!” Ông đáp: “Có con đây.” 2. Ngài phán: “Bây giờ, hãy đem con trai của ngươi – đứa con duy nhất của ngươi tức là đứa con mà ngươi yêu quý – là Y-sác, để đi đến xứ Mô-ri-a. Tại đó hãy dâng nó làm tế lễ thiêu tại một trong những ngọn núi mà Ta sẽ chỉ cho ngươi.”
- Áp-ra-ham đã dậy sớm vào buổi sáng, thắng lừa, đem theo hai đầy tớ trẻ cùng với mình, và Y-sác, là con trai của mình; ông cũng chẻ củi để dùng cho tế lễ thiêu, rồi đứng dậy, đi đến nơi mà Đức Chúa Trời đã truyền cho ông. 4. Ðến ngày thứ ba, Áp-ra-ham ngước mắt lên và nhìn thấy nơi đó từ xa. 5. Áp-ra-ham nói với hai đầy tớ trẻ của mình: “Các ngươi hãy ở lại đây với con lừa. Ta và thằng bé sẽ đến nơi đó để thờ phượng, rồi chúng ta sẽ trở lại với các ngươi.” 6. Áp-ra-ham đã lấy củi dùng cho tế lễ thiêu chất trên Y-sác, con trai của mình, ông cầm lửa và dao trong tay, rồi cả hai cùng đi.
- Tuy nhiên, Y-sác đã nói với Áp-ra-ham, cha của mình: “Thưa cha!” Ông đáp: “Con ơi! Cha đây.” Y-sác hỏi: “Lửa đây, củi đây, nhưng chiên con ở đâu để dâng tế lễ thiêu?” 8. Áp-ra-ham trả lời: “Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ chu cấp chiên con cho tế lễ thiêu.” Rồi cả hai cùng đi.
- Sau khi họ đến nơi mà Ðức Chúa Trời đã truyền cho ông, Áp-ra-ham lập một bàn thờ tại đó, rồi sắp củi lên trên. Ông trói Y-sác, con trai của mình, đặt nằm trên bàn thờ, bên trên đống củi, 10. rồi Áp-ra-ham giương tay cầm dao để giết con trai của mình.
- Nhưng từ trời, Thiên Sứ của Đức Giê-hô-va đã gọi ông: “Áp-ra-ham! Áp-ra-ham!” Ông thưa: “Có con đây.” 12. Ngài phán: “Đừng tra tay của ngươi trên thằng bé, cũng không được làm gì đến nó; bởi vì bây giờ Ta biết ngươi kính sợ Ðức Chúa Trời, vì ngươi đã không tiếc với Ta con trai của ngươi, tức là con một của ngươi.”
- Áp-ra-ham ngước mắt lên nhìn, và thấy phía sau có một con chiên đực, sừng của nó vướng vào một bụi cây rậm. Áp-ra-ham đã bắt con chiên đực dâng làm tế lễ thiêu thay cho con trai của mình.
- Áp-ra-ham đã gọi nơi đó là Giê-hô-va Di-rê. Vì vậy, ngày nay người ta vẫn nói: “Trên núi của Đức Giê-hô-va điều đó sẽ được chu cấp.”
- Từ trên trời, Thiên Sứ của Đức Giê-hô-va đã nói với Áp-ra-ham lần thứ hai 16. rằng: “Đức Giê-hô-va phán: Vì ngươi đã làm điều nầy, không tiếc chính con trai duy nhất của ngươi, cho nên Ta lấy chính mình mà thề 17. rằng: Ta sẽ ban phước thật dồi dào cho ngươi. Ta sẽ làm cho dòng dõi của ngươi đông như sao trên trời và nhiều như cát trên bờ biển. Dòng dõi của ngươi sẽ chiếm lấy cổng thành của quân thù. 18. Bởi vì ngươi đã vâng lời Ta, cho nên qua dòng dõi của ngươi tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ được phước.”
- Áp-ra-ham đã trở lại với những đầy tớ của ông. Họ đã đứng dậy và cùng nhau đi về Bê-e Sê-ba. Áp-ra-ham sống tại Bê-e Sê-ba.
- Thời gian trôi qua, sau những việc nầy, Áp-ra-ham được báo cho biết rằng Minh-ca cũng sinh nhiều con cho em trai của ông, là Na-cô. 21. Đứa con đầu là U-xơ, em của ông là Bu-xơ, và Kê-mu-ên – là cha của A-ram – 22. Kê-sết, Ha-xô, Phin-đát, Dít-láp và Bê-tu-ên. 23. – Bê-thu-ên đã sinh Rê-be-ca – Ðó là tám người con mà Minh-ca đã sinh cho Na-hô, em trai của Áp-ra-ham. 24. Người thiếp của ông tên là Rê-u-ma, bà đã sinh Tê-ba, Ga-ham, Ta-hách và Ma-a-ca.
23
- Sa-ra hưởng thọ một trăm hai mươi bảy tuổi. Ðó là tuổi thọ của Sa-ra. 2. Sa-ra qua đời tại Ki-ri-át A-ra-ba, tại Hếp-rôn, trong xứ Ca-na-an. Áp-ra-ham đã đến chịu tang Sa-ra và than khóc bà.
- Sau đó, Áp-ra-ham đã đứng dậy rời khỏi chỗ của người quá cố, rồi đến nói với các con trai của Hếch rằng: 4. “Tôi chỉ là một người tạm trú, một kiều dân, đang ở giữa quý vị. Xin hãy ban cho tôi một nơi ở giữa quý vị để làm nơi an táng chôn cất người đã khuất của tôi.”
- Các con trai của Hếch đã trả lời Áp-ra-ham, họ nói với ông rằng: 6. “Thưa chúa! Xin hãy nghe chúng tôi. Ngài là một bậc quyền quý ở giữa chúng tôi. Hãy chọn những nơi an táng nào tốt nhất của chúng tôi để chôn cất người chết của ngài. Không một ai trong chúng tôi sẽ giữ lại nơi an táng của mình, nhưng sẽ để cho ngài chôn người chết của ngài tại đó.”
- Áp-ra-ham đã đứng dậy, rồi sấp mình trước mặt những người dân địa phương, là các con trai của Hếch, 8. rồi nói với họ rằng: “Nếu quý vị bằng lòng cho tôi được chôn người đã khuất của tôi, xin lắng nghe tôi, và hãy gặp Ép-rôn, con của Xô-ha, 9. xin ông ấy nhường cho tôi hang Mặc-bê-la ở cuối cánh đồng mà ông ấy đang sở hữu đúng theo thời giá, để ông có thể nhường nó cho tôi ngay trước mặt quý vị, để tôi làm nơi an táng.”
- Khi đó Ép-rôn đang ngồi ở giữa các con trai của Hếch. Ép-rôn, người Hê-tít, đã trả lời Áp-ra-ham trước sự hiện diện của các con trai của Hếch, cùng với tất cả những người qua lại tại cổng thành, rằng: 11. “Không đâu, thưa chúa của tôi! Xin hãy nghe tôi. Trước sự hiện diện của các con dân của tôi, tôi xin tặng cho ngài cánh đồng và cái hang ở trong đó, để Ngài an táng người chết của ngài.”
- Áp-ra-ham sấp mình trước mặt những người dân trong xứ. 13. Ông nói với Ép-rôn, trong lúc những người dân trong xứ đang lắng nghe, rằng: “Dầu vậy, nếu đẹp ý quý vị, xin hãy nghe tôi. Tôi sẽ trả tiền cho cánh đồng. Xin hãy nhận nó nơi tôi, và tôi sẽ an táng người chết của tôi tại đó.”
- Ép-rôn trả lời Áp-ra-ham, và nói với ông rằng: 15. “Thưa chúa! Xin hãy nghe tôi. Miếng đất đó đáng giá bốn trăm siếc-lơ bạc, nhưng giữa tôi với ngài thì điều đó đâu có nghĩa lý gì. Xin hãy chôn cất người chết của ngài.”
- Áp-ra-ham lắng nghe Ép-rôn. Áp-ra-ham đã cân bạc cho Ép-rôn theo giá mà ông ấy đã định trong cuộc thương lượng trước sự hiện diện của các con trai của Hếch, đó là bốn trăm siếc-lơ bạc theo cân lượng của các thương gia.
- Vì vậy, chủ quyền của cánh đồng của Ép-rôn tại Mặc-bê-la, đối diện với Mam-rê – nghĩa là cánh đồng, cái hang ở trong đó, những cây cối trong cánh đồng và bên trong những ranh giới ở chung quanh – 18. đã thuộc quyền sở hữu của Áp-ra-ham, trong sự hiện diện của các con trai của Hếch, trước mặt tất cả những người qua lại tại cổng thành.
- Sau việc nầy, Áp-ra-ham đã chôn Sa-ra, vợ của mình, trong cái hang tại cánh đồng Mặc-bê-la, đối diện Mam-rê, tức là Hếp-rôn, thuộc về xứ Ca-na-an. 20. Như vậy, cánh đồng và cái hang ở trong đó đã được các con trai của Hếch chuyển nhượng cho Áp-ra-ham để làm nơi an táng.
24
- Áp-ra-ham đã già, tuổi đã cao. Đức Giê-hô-va ban phước cho ông trong mọi việc.
- Vì vậy Áp-ra-ham đã nói với người đầy tớ thâm niên nhất, là người quản trị tất cả tài sản trong nhà: Hãy đặt tay của ngươi dưới đùi của ta. 3. Ta muốn ngươi thề với Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của trời và cũng là Đức Chúa Trời của đất rằng: “Ngươi sẽ không cưới cho con trai của ta một người vợ trong số các con gái của người Ca-na-an, tức là những người mà ta hiện đang sống ở giữa họ, 4. nhưng ngươi hãy đến quê hương của ta, cưới cho Y-sác, con trai của ta, một người vợ trong vòng gia tộc của ta.”
- Người đầy tớ thưa với ông: “Nếu người thiếu nữ không bằng lòng theo tôi về xứ nầy, tôi có nên đưa con trai của ông về xứ mà ông từ đó ra đi hay không?”
- Áp-ra-ham đã nói với người: “Hãy lưu ý! Đừng mang con trai của ta trở lại nơi đó. 7. Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời trên trời, tức là Đấng đã đem ta ra khỏi nhà cha của ta và khỏi xứ sở thuộc về gia tộc của ta, Ngài đã phán và thề với ta rằng: ‘Ta ban cho dòng dõi của con đất nầy.’ Ngài sẽ sai thiên sứ của Ngài đi trước ngươi, và ngươi hãy cưới cho con trai của ta một người vợ tại đó. 8. Nếu người thiếu nữ không bằng lòng theo ngươi, thì ngươi sẽ không bị ràng buộc bởi lời thề. Duy nhất có điều này: Đừng đem con của ta trở lại nơi đó.”
- Vì vậy, người đầy tớ đã đặt tay dưới đùi của Áp-ra-ham, là chủ của mình, rồi thề với ông về vấn đề này.
- Người đầy tớ lấy mười con lạc đà trong những lạc đà của chủ mình để lên đường cùng với tất cả những phẩm vật tốt đẹp mà chủ đã trao vào tay của mình. Ông đã trỗi dậy đi đến Mê-sô-pô-ta-mi, vào thành của Na-cô. 11. Vào buổi chiều, ông cho lạc đà quỳ gối nằm nghỉ bên ngoài thành, cạnh một giếng nước, vào lúc những phụ nữ ra múc nước.
- Ông đã thưa rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, chủ của con! Xin Ngài cho con hôm nay được toại nguyện và xin Ngài bày tỏ sự nhân từ với chủ của con là Áp-ra-ham. 13. Nầy, con đang đứng cạnh giếng nước, nơi các cô gái của những người trong thành sẽ ra múc nước. 14. Khi con nói với cô gái nào rằng: ‘Xin cô vui lòng nghiêng vò cho tôi uống,’ mà cô ấy trả lời: ‘Xin hãy uống và tôi cũng sẽ cho lạc đà của ông uống nước nữa,’ thì đó chính là người mà Chúa đã định cho Y-sác, đầy tớ của Ngài. Qua việc nầy con sẽ biết rằng Chúa đã bày tỏ sự nhân từ đối với chủ của con.”
- Và rồi, trước khi ông dứt lời, Rê-bê-ca đã vác bình trên vai đi ra. Nàng là con gái của Bê-tu-ên – ông là con trai của Minh-ca, bà là vợ của em trai Áp-ra-ham, là Na-cô. 16. Nàng là một thiếu nữ rất xinh đẹp – một trinh nữ, chưa hề biết người nam nào. Nàng đi xuống giếng, lấy đầy bình, rồi đi lên. 17. Người đầy tớ chạy đến gặp nàng rồi nói: Xin cho tôi uống một ít nước trong bình của cô.
- Nàng đáp: Thưa ông chủ của tôi! Xin hãy uống. Rồi nàng vội vàng hạ bình xuống tay của nàng và cho ông uống. 19. Khi nàng đã cho ông uống xong, nàng nói: “Tôi sẽ múc nước cho những con lạc đà của ông nữa, cho đến khi nào chúng uống xong thì thôi.” 20. Nàng vội vàng đổ nước trong vò ra máng, rồi chạy xuống giếng múc thêm nữa cho tất cả những con lạc đà của ông.
- Ông yên lặng đứng nhìn cô gái để xem Đức Giê-hô-va có làm cho chuyến đi của mình được thành tựu hay không. 22. Vì vậy, khi lạc đà vừa uống xong, người đầy tớ đã lấy một chiếc khoen vàng nặng nửa siếc-lơ và đôi xuyến nặng mười siếc-lơ đeo vào cổ tay của nàng, 23. rồi ông nói: “Xin cho tôi biết cô là con của ai? Trong nhà cha của cô có chỗ nào cho chúng tôi tạm nghỉ hay không?”
- Cô gái trả lời ông: “Tôi là con gái của Bê-tu-ên. Ông là con trai mà Minh-ca đã sinh cho Na-cô.” 25. Rồi cô nói với ông: “Chúng tôi có đủ rơm để cung cấp và cũng có chỗ để trọ nữa.”
- Người đàn ông cúi đầu và sấp mình xuống thờ phượng Đức Giê-hô-va. 27. Ông nói: “Chúc tụng Đức Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, chủ của con. Ngài đã không quên tình thương và sự thành tín của Ngài đối với chủ của con và chính con. Ðức Giê-hô-va đã dẫn con đến gia đình những người bà con của chủ con.”
- Sau đó cô gái đã chạy đi thuật lại những điều này trong nhà của mẹ mình.
- Rê-bê-ca có một người anh tên là La-ban. La-ban đã chạy ra chỗ của người đàn ông bên giếng nước, 30. bởi vì ông đã thấy chiếc khoen vàng và đôi xuyến trên tay em gái của mình và nghe Rê-bê-ca thuật lại những gì người đó đã nói với nàng, cho nên ông đã chạy đến chỗ người đàn ông đang đứng cạnh những con lạc đà bên giếng nước. 31. Ông nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ông! Tại sao ông lại đứng ngoài nầy? Xin mời ông đi, bởi vì tôi đã sửa soạn nhà cùng với chỗ cho các lạc đà.” 32. Người đó đã đến nhà, gỡ đồ trên lạc đà xuống, rồi được cung cấp rơm cho lạc đà ăn, và nước để rửa chân cho người đó và những người cùng đi với ông.
- Sau đó, thức ăn được dọn ra trước mặt người đó, nhưng người đó nói: “Tôi sẽ không ăn cho đến khi nào tôi nói rõ công việc của tôi.” La-ban đáp: “Xin ông cứ nói!”
- Vì vậy, người đó đã nói: “Tôi là đầy tớ của Áp-ra-ham. 35. Đức Giê-hô-va đã ban phước rất nhiều cho chủ của tôi và làm cho chủ của tôi trở nên thịnh vượng. Ngài đã ban cho chủ của tôi chiên bò, bạc vàng, tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa. 36. Sa-ra, vợ của chủ tôi, đã sinh cho chủ tôi một con trai trong khi bà đã cao tuổi. Ông đã trao hết những gì mình có cho người con đó. 37. Ông đã buộc tôi thề rằng: Ngươi sẽ không cưới cho con trai của ta một người vợ trong số những con gái của người Ca-na-an tại nơi ta đang cư ngụ, 38. nhưng ngươi phải về nơi nhà cha của ta, trong gia tộc của ta, và cưới cho con trai của ta một người vợ. 39. Tôi đã thưa với ông rằng nếu người thiếu nữ không bằng lòng theo tôi trở về thì sao? 40. Nhưng ông đã nói với tôi rằng: Đức Giê-hô-va là Đấng ta hằng bước đi trước mặt Ngài sẽ sai thiên sứ của Ngài cùng đi với ngươi, và giúp cho chuyến đi của ngươi được thành tựu. Ngươi sẽ cưới cho con trai của ta một người vợ trong vòng gia tộc của ta, từ nhà cha của ta. 41. Ngươi sẽ không mắc lời thề với ta khi nào ngươi đến với gia tộc của ta, và nếu họ không chịu trao nàng cho ngươi, thì ngươi không bị ràng buộc bởi lời thề với ta.”
- “Hôm nay, tôi đã đến bên giếng và cầu nguyện rằng: Lạy Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, là chủ của con. Cầu xin Ngài cho chuyến đi của con được thành tựu. 43. Bây giờ con đứng bên cạnh giếng nước, và rồi nếu có một thiếu nữ nào ra múc nước, mà con nói với nàng rằng: Xin cô cho tôi uống một ít nước trong vò của cô, 44. mà nàng trả lời con: Xin mời ông uống, và tôi sẽ lấy thêm cho các lạc đà của ông uống nữa, thì nàng chính là người phụ nữ mà Đức Giê-hô-va đã chọn cho con trai của chủ con.”
- “Trước khi tôi dứt lời thầm nguyện trong lòng, thì kìa, Rê-be-ca đã vác bình trên vai đi ra, cô đã xuống giếng lấy nước. Tôi đã nói với cô: Xin cho tôi uống nước. 46. Cô đã vội vàng hạ bình trên vai xuống, rồi nói: Xin mời ông uống nước. Tôi cũng sẽ cho lạc đà của ông uống nữa. Vì vậy tôi đã uống, và cô cũng cho các lạc đà uống nữa. 47. Tôi đã hỏi cô rằng: Cô là con gái của ai? Cô đã trả lời: Tôi là con gái của Bê-tu-ên con trai của Na-cô mà Minh-ca đã sinh cho ông. Tôi đã đeo chiếc khoen vào mũi và đôi xuyến vào cổ tay của cô.”
- “Tôi đã cúi đầu và sấp mình xuống thờ phượng Đức Giê-hô-va, rồi chúc tụng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của chủ tôi, là Áp-ra-ham. Ngài đã dẫn đưa tôi đi đúng đường đến gặp người con gái thuộc gia tộc của chủ tôi, cho con trai của chủ tôi. 49. Vì vậy bây giờ, nếu quý vị bày tỏ lòng ưu ái và chân thành với chủ của tôi, xin hãy nói cho tôi biết; còn nếu không, cũng xin nói cho tôi, để tôi biết phải xoay qua bên phải hoặc bên trái.”
- La-ban và Bê-tu-ên trả lời: “Việc nầy đến từ Đức Giê-hô-va, chúng tôi không thể nói với ông nên hay không nên. 51. Kìa, Rê-bê-ca đang ở trước mặt ông. Xin hãy dẫn nó đi để làm vợ cho con trai của chủ ông như lời Đức Giê-hô-va đã phán.”
- Khi người đầy tớ của Áp-ra-ham nghe xong những lời họ nói, ông liền sấp mình xuống đất trước mặt Đức Giê-hô-va. 53. Sau đó, ông lấy những nữ trang bằng bạc và những nữ trang bằng vàng, cùng những y phục tặng cho Rê-bê-ca. Ông cũng tặng cho anh của nàng và mẹ của nàng những món quà quý giá. 54. Ông và những người theo ông đã ăn uống, rồi nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, họ thức dậy, ông nói: “Xin cho tôi trở về cùng chủ của tôi.” 55. Nhưng anh của nàng và mẹ của nàng nói: “Xin cho cháu ở lại với chúng tôi thêm ít ngày nữa, khoảng chừng mười ngày, rồi sau đó nó sẽ đi.” 56. Người đầy tớ nói với họ: “Xin đừng ngăn trở tôi, vì Đức Giê-hô-va đã cho chuyến đi của tôi thành công. Xin cho tôi đi để trở về với chủ của tôi.” 57. Họ nói: “Chúng tôi sẽ gọi cháu và hỏi nó.” 58. Họ gọi Rê-bê-ca và hỏi: “Con có muốn đi với người nầy hay không?” Nàng đáp: “Con muốn đi.” 59. Vì vậy họ đã tiễn Rê-be-ca, là em gái của họ, bà vú của nàng, người đầy tớ của Áp-ra-ham và những người của ông. 60. Họ đã chúc phước cho Rê-bê-ca rằng: “Em gái của chúng ta! Chúc em trở thành tổ mẫu của hằng ngàn của hằng vạn người, và dòng dõi của em sẽ chiếm hữu cổng thành của quân thù.”
- Sau đó Rê-bê-ca và các nữ tì của nàng đã đứng dậy, cưỡi lạc đà, đi theo người đó. Người đầy tớ đã đưa Rê-bê-ca lên đường.
- Lúc đó, Y-sác đã đi La-chai-roi vừa trở về và cư trú tại miền nam. 63. Trời về chiều, Y-sác đi ra ngoài đồng để suy ngẫm. Chàng ngước mắt lên, nhìn thấy những lạc đà đang đến. 64. Rê-bê-ca cũng ngước mắt lên và nhìn thấy Y-sác. Nàng liền xuống khỏi lạc đà, 65. rồi hỏi người đầy tớ: “Người đàn ông đang đi trong cánh đồng đến đón chúng ta là ai vậy?” Người đầy tớ thưa: “Đó là chủ của tôi.” Nàng liền lấy lúp che mặt lại.
- Người đầy tớ đã thuật lại cho Y-sác tất cả những việc mà ông đã làm. 67. Y-sác đã đưa Rê-bê-ca vào trại của Sa-ra, mẹ của mình, cưới nàng làm vợ và yêu thương nàng. Vì vậy, Y-sác được an ủi sau cái chết của mẹ mình.
25
- Áp-ra-ham cưới một người vợ khác – tên của bà là Kê-tu-ra. 2. Bà đã sinh cho ông: Xim-ram, Giốc-chan, Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác và Su-ách. 3. Giốc-chan sinh Sê-ba và Đê-đan. Con cháu của Đê-đan là các gia tộc A-chu-rim, Lê-tu-chim và Lê-um-mim. 4. Các con trai của Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa và Ên-đa. Tất cả những người nầy thuộc về dòng dõi của Kê-tu-ra.
- Áp-ra-ham cho Y-sác tất cả những gì ông có. 6. Về phần các con của những người thiếp của Áp-ra-ham, lúc ông còn sống, Áp-ra-ham đã cho họ những của cải, rồi sai họ qua miền đông để cư trú tại miền đông cách xa Y-sác, con trai của ông.
- Đây là những năm tháng trong cuộc đời của Áp-ra-ham: Ông sống được một trăm bảy mươi lăm tuổi. 8. Áp-ra-ham trút hơi thở cuối cùng và qua đời trong tuổi già, được trường thọ, mãn nguyện, rồi quy về với tổ tiên của mình. 9. Các con trai của ông là Y-sác và Ích-ma-ên đã chôn cất ông trong hang Mặc-bê-la, tại cánh đồng của Ép-rôn, con trai của Sô-ha, người Hê-tít – chỗ đó đối diện với Mam-rê. 10. Đó là cánh đồng mà Áp-ra-ham đã mua lại của con cháu họ Hếch. Áp-ra-ham đã được chôn cất tại đó với Sa-ra, vợ của ông.
- Sau khi Áp-ra-ham qua đời, Đức Giê-hô-va ban phước cho Y-sác, con trai của ông. Y-sác cư ngụ gần giếng La-chai Roi.
- Ðây là dòng dõi của Ích-ma-ên, con trai Áp-ra-ham, là người mà Ha-ga, người phụ nữ Ai Cập, là nữ tỳ của Sa-ra, đã sinh cho Áp-ra-ham. 13. Ðây là tên các con trai của Ích-ma-ên theo danh tính của họ, và theo các thế hệ: Nê-ba-giốt con đầu lòng của Ích-ma-ên, kế đến là Kê-đa, Át-bê-ên, Mi-bô-sam, 14. Mích-ma, Đu-ma, Ma-sa, 15. Ha-đa, Thê-ma, Giê-thu, Na-phích, và Kết-ma. 16. Đây là các con trai của Ích-ma-ên. Những người này là mười hai thủ lĩnh trong các chi tộc của họ, đã được liệt kê theo tên, theo làng, và nơi đóng trại của họ. 17. Ích-ma-ên hưởng thọ một trăm ba mươi bảy tuổi, rồi trút hơi thở và qua đời, quy về với tổ tiên của mình 18. Họ đã định cư từ Ha-vi-la cho đến Xu-rơ, tại phía đông của Ai Cập, về hướng A-sy-ri. Ông đã qua đời trước sự hiện diện của tất cả các em của ông.
- Đây là dòng dõi của Y-sác, con trai của Áp-ra-ham: Áp-ra-ham sinh Y-sác. 20. Khi Y-sác được bốn mươi tuổi, ông đã cưới Rê-bê-ca là con gái của Bê-tu-ên, người A-ram thuộc xứ Pha-đan A-ram, và cũng là em gái của La-ban, người A-ram, làm vợ. 21. Y-sác đã khẩn xin Đức Giê-hô-va thay cho vợ của mình, bởi vì bà hiếm muộn. Đức Giê-hô-va đã nhậm lời khẩn xin của ông. Rê-bê-ca, vợ của ông, đã mang thai.
- Tuy nhiên những đứa trẻ ở bên trong của bà cứ đụng chạm với nhau, cho nên bà đã nói: “Tại sao điều nầy lại xảy ra cho tôi?” Và rồi bà đã đến để cầu hỏi Đức Giê-hô-va. 23. Đức Giê-hô-va đã trả lời cho bà: “Trong dạ của ngươi có hai quốc gia. Hai dân tộc sẽ được tách ra từ nội tạng của ngươi. Một dân sẽ mạnh hơn dân kia. Ðứa lớn sẽ phục vụ đứa nhỏ.”
- Thật vậy, khi ngày tháng đã đầy đủ, hai đứa trẻ đã được sinh ra từ trong lòng của bà. 25. Đứa ra trước đỏ hồng, toàn thân có lông giống như một áo choàng bằng lông. Họ đã đặt tên của nó là Ê-sau. 26. Kế đó, đứa em trai ra sau, tay của nó nắm gót của Ê-sau, cho nên tên của nó được gọi là Gia-cốp. Khi bà sinh chúng, Y-sác đã được sáu mươi tuổi.
- Khi các cậu bé lớn lên, Ê-sau trở thành một người thợ săn tài giỏi, một con người sống dã ngoại, còn Gia-cốp là một người trầm tĩnh, sống trong trại. 28. Y-sác thương Ê-sau bởi vì ông thích ăn thịt thú săn, nhưng Rê-bê-ca thì thương Gia-cốp. 29. Một hôm, Ê-sau từ ngoài đồng trở về đang đói lả trong lúc Gia-cốp nấu cháo. 30. Ê-sau nói với Gia-cốp: “Xin hãy cho anh ăn món đo đỏ này bởi vì anh đang đói lả.” – vì việc nầy, người ta đã gọi tên của ông là Ê-đôm. 31. Nhưng Gia-cốp nói: “Xin hãy bán quyền trưởng nam của anh cho em kể từ hôm nay.” 32. Ê-sau nói: “Nầy, anh gần chết thì quyền trưởng nam của anh còn để làm gì?” 33. Gia-cốp nói: “Anh hãy thề với em kể từ hôm nay đi!” Vì vậy ông đã thề và bán quyền trưởng nam cho Gia-cốp. 34. Và rồi Gia-cốp đã cho Ê-sau bánh và cháo đậu. Ông đã ăn, uống, rồi trỗi dậy, và ra đi. Ê-sau đã khinh thường quyền trưởng nam như vậy.
26
- Ngoài nạn đói đã xảy ra trước kia trong thời của Áp-ra-ham, lúc đó trong xứ có một nạn đói. Y-sác đã đến với A-bi-mê-léc, vua của người Phi-li-tin tại Ghê-ra.
- Đức Giê-hô-va đã hiện đến với ông và phán: “Ðừng xuống Ai Cập, nhưng hãy ở trong xứ mà Ta sẽ chỉ cho ngươi. 3. Hãy cư ngụ trong xứ nầy. Ta sẽ ở cùng ngươi và ban phước cho ngươi, bởi vì Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi tất cả những vùng đất nầy. Ta sẽ thực hiện lời thề mà Ta đã thề với Áp-ra-ham, là cha của ngươi. 4. Ta sẽ làm cho dòng dõi của ngươi đông như sao trên trời và sẽ ban cho dòng dõi của ngươi tất cả những vùng đất nầy. Tất cả các dân tộc trên đất sẽ nhờ một hậu tự của ngươi mà được phước. 5. Bởi vì Áp-ra-ham đã vâng lời Ta, đã tuân giữ những mệnh lệnh của Ta, những điều răn của Ta, những quy tắc của Ta, và những luật lệ của Ta.”
- Vì vậy, Y-sác đã cư ngụ tại Ghê-ra. 7. Những người đàn ông trong xứ đã hỏi thăm về vợ của ông, ông đáp: “Nàng là em gái của tôi.” Bởi vì ông sợ nếu nói nàng là vợ của mình, thì những người đàn ông trong xứ sẽ giết mình chỉ vì Rê-bê-ca – bởi vì nàng có nhan sắc. 8. Thời gian trôi qua, lúc ông đã ở tại đó một thời gian dài, A-bi-mê-léc, vua của người Phi-li-tin, đã nhìn qua cửa sổ, thấy Y-sác đang âu yếm vợ của mình, là Rê-bê-ca. 9. A-bi-mê-léc đã triệu Y-sác vào, rồi nói: “Xem này, nàng đúng là vợ của ngươi. Tại sao ngươi lại nói: Nàng là em gái của tôi?” Y-sác trả lời: “Bởi vì tôi tự nhủ: Đừng để vì nàng mà tôi phải chết.” 10. A-bi-mê-léc nói: “Ngươi đã làm gì cho chúng ta vậy? Nếu lỡ có một người dân đến nằm với vợ của ngươi, thì ngươi đã làm cho chúng ta phải mang tội.” 11. Vì vậy, A-bi-mê-léc đã truyền lệnh cho toàn dân rằng: “Ai đụng đến người nầy, hoặc vợ của người đó, thì chắc chắn sẽ bị xử tử.”
- Y-sác đã gieo hạt trong xứ đó, và năm đó ông đã thu hoạch gấp trăm lần. Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ông. 13. Ông bắt đầu giàu có, tiếp tục giàu có, cho đến nỗi trở nên rất giàu có. 14. Bởi vì ông sở hữu nhiều bầy chiên, sở hữu nhiều bầy bò và rất nhiều đầy tớ, cho nên ông đã bị người Phi-li-tin ganh tỵ. 15. Tất cả những giếng mà những người phục vụ cha của ông đã đào trong thời của Áp-ra-ham, là cha của ông, đã bị người Phi-li-tin lấp đất chận lại. 16. A-bi-mê-léc đã nói với Y-sác: “Hãy rời khỏi chúng ta, bởi vì ngươi đã trở nên quá hùng mạnh so với chúng ta.” 17. Vì vậy, Y-sác đã rời khỏi nơi đó, và dựng trại tại thung lũng Ghê-ra, rồi cư ngụ tại đó.
- Y-sác đã đào lại những giếng nước đã được đào trong thời của Áp-ra-ham, là cha của mình. Những giếng đó đã bị người Phi-li-tin lấp lại sau khi Áp-ra-ham chết. Ông đã đặt tên cho những giếng đó theo tên mà cha của ông đã đặt. 19. Các đầy tớ của Y-sác đã đào giếng trong thung lũng, và đã tìm được một giếng có nước mạch. 20. Tuy nhiên, những người chăn bầy ở Ghê-ra đã tranh cãi với những người chăn bầy của Y-sác, họ nói: “Nước tại đây là của chúng tôi.” Vì vậy, ông đã gọi tên của giếng đó là Ê-séc, bởi vì chúng đã tranh giành với ông. 21. Sau đó, họ đã đào một giếng khác nhưng chúng cũng tranh giành giếng đó, cho nên ông đã đặt tên của nó là Sít-na. 22. Ông đã rời khỏi nơi đó, rồi đào một giếng khác nữa. Lần nầy họ không tranh giành cho nên ông đặt tên giếng này là Rê-hô-bốt, rồi nói: “Bởi vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã cho chúng ta một chỗ rộng rãi, chúng ta sẽ được thịnh vượng trong xứ nầy.”
- Từ nơi đó, ông đã đi lên Bê-e Sê-ba. 24. Trong đêm đó, Đức Giê-hô-va đã hiện ra với ông, Ngài phán: “Ta là Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, cha của ngươi. Ðừng sợ bởi vì Ta ở với ngươi. Ta sẽ ban phước cho ngươi và làm cho dòng dõi của ngươi gia tăng vì cớ Áp-ra-ham, tôi tớ của Ta.”
- Vì vậy, ông đã lập một bàn thờ tại đó, rồi cầu khẩn danh của Đức Giê-hô-va. Ông đã đóng trại của mình tại đó, và những đầy tớ của Y-sác đã đào một cái giếng tại đó.
- Từ Ghê-ra, A-bi-mê-léc cùng với cố vấn của ông là A-hu-sát, và chỉ huy trưởng quân đội của ông là Phi-côn, đã đến gặp Y-sác. 27. Y-sác nói với họ: “Các ông đã ghét tôi, và đuổi tôi cho xa khỏi các ông, tại sao các ông lại đến gặp tôi?”
28 Họ đáp: “Chúng tôi đã thấy rõ là Đức Giê-hô-va ở với ông. Vì vậy chúng tôi nói bây giờ nên có một cam kết giữa hai bên, tức là giữa chúng tôi với ông. Xin cho chúng tôi lập một giao ước với ông, 29. để ông sẽ không làm hại chúng tôi, giống như chúng tôi đã không đụng chạm gì đến ông, và đã không làm gì khác ngoại trừ đối xử tốt với ông, và đã để cho ông ra đi bình an, để rồi bây giờ ông được Đức Giê-hô-va ban phước.”
- Ông đã thết đãi họ. Họ đã ăn và uống. 31. Họ dậy sớm vào buổi sáng, thề nguyện với nhau, rồi Y-sác tiễn họ đi. Họ đã ra đi trong sự bình an. 32. Cũng trong ngày hôm đó, các đầy tớ của Y-sác đến báo cho ông về cái giếng mà họ đã đào. Họ nói với ông: “Chúng tôi đã tìm thấy nước.” 33. Ông đã gọi nó là Sê-ba – vì vậy tên của thành phố là Bê-e Sê-ba cho đến ngày nay.
- Khi Ê-sau được bốn mươi tuổi, ông cưới những người vợ, là Giu-đít, con gái của Bê-ê-ri, người Hê-tít; và Bách-mát, con gái của Ê-lôn, người Hê-tít. 35. Họ là nỗi cay đắng cho tâm hồn của Y-sác và Rê-bê-ca.
27
- Thời gian trôi qua, Y-sác đã già, mắt của ông bị mờ, ông không còn thấy được nữa. Ông đã gọi Ê-sau, con trai lớn của mình, rồi nói với chàng: Con trai của ta. Chàng nói với ông: Có con đây. 2. Ông nói: “Nầy, bây giờ cha đã già, không biết ngày nào cha sẽ qua đời. 3. Vì vậy bây giờ con hãy lấy các khí giới của con, tức là ống tên và cây cung của con, rồi ra đồng săn thú đem về cho cha. 4. Con hãy làm những món ngon mà cha thích, rồi đem đến cho cha ăn, để linh hồn của cha sẽ chúc phước cho con trước khi cha qua đời.”
- Lúc Y-sác nói với Ê-sau, con trai của ông, thì Rê-bê-ca nghe được. Vì vậy, trong khi Ê-sau ra đồng săn thú rừng để đem về, 6. Rê-bê-ca đã nói với Gia-cốp, con trai của bà: “Nầy, mẹ vừa nghe cha của con nói với Ê-sau, anh của con, rằng: 7. Hãy đem thú săn về nấu cho cha những món ngon để cha ăn, rồi cha chúc phước cho con trong sự hiện diện của Đức Giê-hô-va trước khi cha qua đời. 8. Vì vậy bây giờ con hãy vâng lời mẹ, hãy vâng theo những gì mẹ bảo con. 9. Bây giờ con hãy ra bầy súc vật mang vào cho mẹ hai con dê con thật tốt, rồi mẹ sẽ làm những món ăn ngon cho cha của con, là những món mà ông ưa thích. 10. Con sẽ đem đến cho cha của con ăn, để ông chúc phước cho con trước khi qua đời.”
- Gia-cốp đã thưa với Rê-bê-ca, mẹ của chàng: “Xem nầy, Ê-sau, anh của con, là một người có nhiều lông, còn con là một người mịn màng. 12. Có lẽ cha sẽ sờ vào con, và sẽ coi con là một đứa lừa gạt ông, thì con sẽ bị nguyền rủa chứ không phải được phước.”
- Nhưng mẹ của chàng đã bảo chàng: “Con ơi! Hãy để cho lời nguyền rủa của con đổ trên mẹ. Con hãy vâng lời mẹ. Hãy đi và đem chúng đến cho mẹ.”
- Chàng đã đi bắt chúng, rồi đem chúng đến cho mẹ của chàng. Bà đã làm những món ngon mà cha của chàng ưa thích. 15. Rê-bê-ca đã lấy y phục tốt nhất của Ê-sau, con trai lớn của bà, có sẵn trong nhà, mặc vào cho Gia-cốp, con trai nhỏ của bà. 16. Bà cũng lấy da của những con dê con bao vào hai tay và những chỗ nhẵn nhụi trên ngực của chàng. 17. Bà đã trao những món ăn ngon và bánh mà bà đã chuẩn bị vào tay của Gia-cốp, con trai của bà.
- Gia-cốp đã đến với cha của mình rồi nói: “Thưa Cha.” Ông đáp: “Cha đây. Con là đứa nào đó?” 19. Gia-cốp nói với cha của mình: “Con là Ê-sau, con trưởng nam của cha. Con đã làm như cha dặn bảo. Xin cha ngồi dậy, ăn thịt săn của con, rồi linh hồn của cha chúc phước cho con.” 20. Nhưng Y-sác nói với con trai của mình: “Con ơi! Sao con đi săn được nhanh như vậy?” Chàng đáp: “Bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha đã mang nó đến cho con.”
- Y-sác đã nói với Gia-cốp: “Con hãy lại gần đây, để cha sờ vào con, để xem con có phải là Ê-sau, con trai của cha hay không.” 22. Vì vậy Gia-cốp đã lại gần Y-sác, cha của chàng. Ông đã sờ vào chàng, rồi nói: “Tiếng là tiếng của Gia-cốp, nhưng tay là tay của Ê-sau.” 23. Ông không nhận ra được chàng, bởi vì hai tay của chàng cũng có nhiều lông như hai tay của Ê-sau, là anh của chàng. Vì vậy ông đã chúc phước cho chàng.
- Ông lại hỏi: “Có phải con là Ê-sau, con trai của cha hay không?” Chàng đáp: Chính con đây. 25. Ông nói: “Hãy đem thịt săn của con lại gần cho cha ăn, để rồi cha có thể chúc phước cho con!” Vì vậy chàng đã đem thức ăn đến cho ông, và ông đã ăn; rồi chàng cũng mang rượu nho đến cho ông, và ông đã uống.
- Rồi Y-sác, cha của chàng, nói với chàng: “Con ơi. Bây giờ con hãy lại gần và hôn cha.” 27. Chàng đã lại gần, rồi hôn ông. Ông ngửi mùi hương của áo chàng, rồi chúc phước cho chàng rằng: “Thật vậy, mùi hương của con trai ta giống như mùi hương của những cánh đồng đã được Đức Giê-hô-va ban phước. 28 Nguyện Ðức Chúa Trời ban cho con sương từ trời, đất đai được màu mỡ, cùng với thật nhiều ngũ cốc và rượu nho. 29. Nguyện các dân tộc phục vụ con, các nước suy phục con. Hãy làm chủ trên các anh em của con, các con trai của mẹ con đều suy phục con. Ai nguyền rủa con sẽ bị nguyền rủa, ai chúc phước cho con sẽ được ban phước.”
- Và rồi, ngay sau khi Y-sác vừa chúc phước cho Gia-cốp xong – lúc Gia-cốp vừa rời khỏi sự hiện diện của Y-sác, cha của mình – thì Ê-sau, anh của chàng, đi săn trở về. 31. Chàng cũng nấu những món ăn ngon và mang đến cho cha của chàng, rồi nói với cha của mình: “Xin cha hãy trỗi dậy, ăn thịt săn của con trai của cha, để rồi linh hồn của cha sẽ chúc phước cho con.”
- Y-sác, cha của chàng, đã nói với chàng: “Con là ai?” Chàng trả lời: “Con là con trai của cha, là Ê-sau, con trưởng nam của cha.” 33. Y-sác kinh hãi tột cùng, run rẩy dữ dội, ông hỏi: “Như vậy ai đã săn thịt rừng và đã đem đến cho cha? Cha đã ăn hết tất cả trước khi con trở về và cha đã chúc phước cho nó. Vì vậy, nó sẽ được phước.”
- Khi Ê-sau nghe những lời của cha mình, chàng thét lên một tiếng thật lớn, vô cùng cay đắng, rồi nói với cha của chàng: “Cha ôi! Xin cũng hãy chúc phước cho con.” 35. Nhưng ông nói: “Em của con đã đến, dùng sự dối gạt cướp lấy phước hạnh của con.”
- Chàng nói: “Tên của nó là Gia-cốp không đúng hay sao? Bởi vì nó đã gạt con hai lần: Nó đã lấy quyền trưởng nam của con; và bây giờ hãy xem, nó lấy luôn phước hạnh của con.” Rồi chàng nói: “Cha không giữ lại một phước hạnh nào cho con hay sao?”
- Y-sác trả lời Ê-sau, và nói rằng: “Đúng vậy! Cha đã lập nó làm chủ của con. Cha đã ban tất cả các anh em của nó sẽ làm những người phục vụ cho nó. Cha đã chấp thuận cho nó ngũ cốc và rượu nho. Bây giờ, con ơi, cha biết làm gì cho con.” 38. Ê-sau thưa cùng cha của chàng: “Cha ơi! Cha chỉ có một lời chúc phước thôi sao? Thưa cha! Xin cha chúc phước cho con.” Và rồi Ê-sau cất tiếng khóc.
- Y-sác, cha của chàng, đã trả lời, rồi nói cùng chàng: “Nầy, đất đai nơi con ở sẽ thiếu màu mỡ và sương móc từ trời. 40. Con sẽ sống nhờ gươm, và con sẽ phục vụ cho em của con. Nhưng khi con không an phận, con sẽ bẻ gãy cái ách của nó khỏi cổ của con.”
- Vì vậy, Ê-sau ghét Gia-cốp bởi vì lời chúc phước của cha mình dành cho chàng. Ê-sau nói trong lòng: “Ngày tang lễ của cha ta đã gần, sau đó ta sẽ giết em của ta là Gia-cốp.”
- Khi những lời của Ê-sau, con trai lớn, được báo cho Rê-bê-ca, bà đã cho gọi Gia-cốp, con trai thứ của bà, rồi nói với chàng: “Ê-sau, anh của con, đang cay đắng, chắc chắn sẽ giết con. 43. Vì vậy, con ơi, hãy vâng lời mẹ. Hãy trỗi dậy, chạy trốn đến La-ban, anh trai của mẹ, tại Cha-ran. 44. Hãy ở với người một thời gian cho đến khi cơn giận của anh con nguôi ngoai. 45. Khi nào cơn giận của anh con đối với con nguôi ngoai và nó quên đi điều con đã làm cho nó, thì mẹ sẽ báo tin và mang con từ nơi đó trở về. Tại sao mẹ phải mất hai đứa con trong cùng một ngày!”
- Rê-bê-ca đã nói với Y-sác: “Tôi quá mệt vì phải sống với mấy đứa con gái của họ Hếch. Nếu Gia-cốp cưới vợ trong mấy con gái của họ Hếch – giống như mấy đứa con gái trong xứ nầy – thì đời tôi sẽ ra thể nào!”
28
- Y-sác đã gọi Gia-cốp vào, chúc phước cho chàng, rồi truyền lệnh rằng: “Con không được lấy một người vợ từ những con gái của người Ca-na-an. 2. Hãy trỗi dậy, đi đến Pha-đan A-ram, đến nhà Bê-tu-ên, là thân phụ của mẹ con; tại đó, con hãy cưới một người vợ trong vòng các con gái của La-ban, là anh trai của mẹ con. 3. Cầu xin Đức Chúa Trời Toàn Năng ban phước cho con, làm cho con được kết quả, được gia tăng nhiều lần, tạo thành một cộng đồng của nhiều dân tộc. 4. Cầu xin Ngài ban phước của Áp-ra-ham cho con, tức là cho con và dòng dõi của con, để con có thể hưởng được xứ mà con đang sống trong đó như một kiều dân, là xứ mà Ngài đã ban cho Áp-ra-ham.”
- Vì vậy, Y-sác đã sai Gia-cốp đi. Chàng đã đi đến Pha-đan A-ram, để đến với La-ban, là con trai của Bê-tu-ên người A-ram, cũng là anh của Rê-bê-ca, là mẹ của Gia-cốp và Ê-sau.
- Ê-sau thấy Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và sai chàng đến Pha-đan A-ram để cưới vợ cho chàng tại đó, và trong lúc chúc phước cho chàng, ông còn dặn: Con không được cưới một người vợ trong vòng các con gái của người Ca-na-an; 7. và rồi Gia-cốp đã vâng lời cha của mình và mẹ của mình, đã đi đến Pha-đan A-ram. 8. Ê-sau biết rằng các cô gái của người Ca-na-an không vừa ý trong mắt của Y-sác, là cha của mình; 9. vì vậy Ê-sau đã đến gặp Ích-ma-ên, rồi cưới Ma-ha-bát – con gái của Ích-ma-ên, là con trai của Áp-ra-ham; nàng là em gái của Nê-ba-giốt – để làm vợ, bên cạnh những người vợ mà ông đã có.
- Gia-cốp đã rời Bê-e Sê-ba đi về hướng Cha-ran. 11. Chàng đến một chỗ kia rồi nghỉ đêm tại đó bởi vì mặt trời đã lặn. Chàng đã lấy một hòn đá tại đó để kê nó dưới đầu của mình, rồi chàng nằm xuống ngủ tại đó. 12. Chàng mơ thấy có một cái thang đặt trên đất nhưng đỉnh của nó vươn đến tận trời. Có các thiên sứ của Ðức Chúa Trời đi lên và đi xuống trên đó.
- Kìa, Đức Giê-hô-va đứng ở phía trên của nó, Ngài phán: “Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, tổ phụ của ngươi, và là Ðức Chúa Trời của Y-sác. Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi xứ mà ngươi đang nằm. 14. Dòng dõi của ngươi sẽ nhiều như bụi của đất, sẽ lan tràn về phía tây, phía đông, phía bắc, và phía nam; và rồi mọi gia tộc trên đất sẽ nhờ ngươi và dòng dõi của ngươi mà được phước. 15. Nầy, Ta ở với ngươi và sẽ gìn giữ ngươi bất kể ngươi đến nơi nào. Ta sẽ đem ngươi trở về xứ nầy, bởi vì Ta sẽ không lìa bỏ ngươi cho đến khi Ta thực hiện xong những gì Ta đã phán với ngươi.”
- Gia-cốp thức dậy khỏi giấc ngủ, rồi nói: “Thật vậy, Đức Giê-hô-va đang hiện diện tại nơi nầy mà mình không biết.” 17. Chàng khiếp sợ rồi nói: “Nơi đây thật đáng kính sợ. Đây không phải là nhà của Đức Chúa Trời, là cổng của trời hay sao?”
- Sáng hôm sau, Gia-cốp dậy thật sớm. Chàng đã lấy hòn đá mà chàng đã gối dưới đầu, dựng nó đứng lên giống như một cây trụ, rồi đổ dầu trên đỉnh của nó. 19. Chàng đã đặt tên nơi đó là Bê-tên, mặc dầu trước kia tên của thành đó là Lu-xơ. 20. Gia-cốp đã hứa nguyện rằng: “Nếu Đức Chúa Trời ở với con, gìn giữ con trong chuyến hành trình này mà con đang thực hiện, ban cho con bánh để ăn, trang phục để mặc, 21. và cho con được trở về nhà cha của con trong sự bình an, thì Đức Giê-hô-va sẽ là Đức Chúa Trời của con; 22. và hòn đá nầy mà con đã dựng làm trụ sẽ là nhà của Đức Chúa Trời, và tất cả những gì mà Ngài ban cho con, chắc chắn con sẽ dâng cho Ngài một phần mười.”
29
- Vì vậy Gia-cốp đã lên đường đi đến vùng đất của những người ở đông phương. 2. Chàng quan sát, rồi thấy một cái giếng trong một cánh đồng, có ba bầy súc vật đang nằm cạnh nó, bởi vì người ta cho các bầy súc vật uống nước từ giếng đó. Có một tảng đá lớn trên miệng giếng. 3. Khi các bầy súc vật đã tụ tập về đông đủ, họ sẽ lăn tảng đá khỏi miệng giếng, cho chiên uống nước, rồi đặt tảng đá trở lại vào chỗ của nó trên miệng giếng.
- Gia-cốp hỏi họ: “Các anh từ đâu đến?” Họ trả lời: “Chúng tôi từ Cha-ran.” 5. Chàng hỏi họ: “Các anh có biết La-ban, con trai của Na-cô không?” Họ nói: “Chúng tôi biết.” 6. Chàng hỏi: “Ông ấy có mạnh khỏe không?” Họ đáp: “Ông ấy mạnh khỏe. Kìa, Ra-chên con gái của ông ấy cùng với bầy chiên đang đến.” 7. Chàng nói: “Trời vẫn còn sáng khá lâu chưa tới giờ gom các bầy chiên trở lại. Hãy cho chiên uống nước, rồi để cho chúng đi ăn cỏ.” 8. Họ nói: “Chúng tôi không thể làm như vậy, nhưng phải chờ cho tất cả các bầy súc vật họp lại, rồi họ mới lăn tảng đá trên miệng giếng, và chúng tôi cho chiên uống nước.”
- Ðang khi chàng nói chuyện với họ, Ra-chên dẫn bầy chiên của cha nàng đến, bởi vì nàng chăm sóc chúng. 10. Và rồi, khi Gia-cốp thấy Ra-chên, con gái của La-ban, anh trai của mẹ mình, và bầy chiên của La-ban, anh trai của mẹ mình, Gia-cốp đã lại gần, lăn tảng đá khỏi miệng giếng, cho bầy súc vật của La-ban, anh trai của mẹ mình, uống nước. 11. Sau đó Gia-cốp hôn Ra-chên, rồi cất tiếng khóc. 12. Gia-cốp nói cho Ra-chên biết chàng là bà con của cha nàng: Chàng là con trai của Rê-be-ca. Vì vậy nàng đã chạy đi thuật lại với cha của nàng.
- Và rồi khi La-ban nghe báo rằng Gia-cốp, con trai của em gái ông, đã đến, ông chạy ra gặp chàng, ôm lấy chàng, và hôn chàng, rồi đưa chàng về nhà của mình. Chàng kể lại cho La-ban đủ thứ. 14. La-ban nói với chàng: “Cháu đúng là cốt nhục của cậu.” Chàng đã ở với ông trong một tháng.
- La-ban nói với Gia-cốp: “Không lẽ chỉ vì cháu là bà con của cậu mà cháu phục vụ cho cậu không công hay sao? Hãy nói cho cậu biết tiền công của cháu như thế nào?” 16. Lúc này La-ban đã có hai con gái: Cô lớn hơn tên là Lê-a, và cô trẻ hơn tên là Ra-chên. 17. Lê-a trông yếu ớt, nhưng Ra-chên thì xinh đẹp cả dáng người lẫn dung nhan. 18. Gia-cốp yêu Ra-chên, cho nên chàng nói: “Vì Ra-chên, con gái út của cậu, cháu sẽ phục vụ cho cậu bảy năm.” 19. La-ban nói: “Gả nó cho cháu tốt hơn gả cho người khác. Hãy ở lại đây với cậu.”
- Gia-cốp đã phục vụ bảy năm để được Ra-chên, đối với chàng chúng chỉ như một vài ngày bởi vì chàng yêu nàng. 21. Sau đó Gia-cốp đã nói với La-ban: “Cháu đã hoàn tất thời hạn, xin cậu hãy giao vợ của cháu để cháu đến cùng nàng.”
- La-ban đã làm một bữa tiệc và mời tất cả những người ở trong xứ. 23. Tối đến, ông đem Lê-a, con gái của mình, trao cho Gia-cốp, và chàng đã đến cùng nàng. 24. La-ban cũng ban Xinh-ba là nữ tỳ của ông cho Lê-a để làm nữ tỳ cho con gái của ông.
- Ðến sáng, khi biết là Lê-a, Gia-cốp đã nói với La-ban: “Cậu đã làm gì cho cháu vậy? Không phải là vì Ra-chên mà cháu đã phục vụ cho cậu hay sao? Tại sao cậu lại gạt cháu?” 26. La-ban nói: “Tại xứ nầy không được phép gả em trước khi gả chị cả. 27. Hãy hưởng trọn một tuần với đứa nầy đi, rồi cậu cũng sẽ trao đứa kia cho cháu. Về đứa nầy, cháu sẽ phải còn làm việc phục vụ cho cậu thêm bảy năm nữa.”
- Gia-cốp đã làm như vậy. Sau khi chàng đã hưởng trọn một tuần với cô nầy, ông đã trao Ra-chên, con gái của ông, cho chàng làm vợ. 29. La-ban cũng ban Bi-la là nữ tỳ của ông cho Ra-chên, con gái của ông, để làm nữ tỳ cho nàng. 30. Gia-cốp cũng đã đến cùng Ra-chên, và chàng cũng yêu Ra-chên hơn Lê-a. Chàng vẫn còn phải phục vụ cho La-ban thêm bảy năm nữa.
- Đức Giê-hô-va thấy Lê-a bị ghét, Ngài mở tử cung của nàng, còn Ra-chên thì son sẻ. 32. Lê-a thụ thai và sinh một con trai. Bà đặt tên của nó là Ru-bên, vì bà nói: “Thật vậy, Đức Giê-hô-va đã nhìn thấy sự đau khổ của tôi, cho nên bây giờ chồng sẽ yêu tôi.” 33. Bà lại thụ thai nữa và sinh một con trai. Bà nói: “Bởi vì Đức Giê-hô-va đã nghe rằng tôi bị ghét, cho nên Ngài đã ban cho tôi đứa con trai nầy nữa.” Bà đã đặt tên của nó là Si-mê-ôn. 34. Bà lại thụ thai nữa và sinh một con trai. Bà nói: “Lần nầy chồng tôi sẽ gắn bó với tôi, bởi vì tôi đã sinh cho chàng ba con trai.” Vì vậy tên của nó đã được gọi là Lê-vi. 35. Bà lại thụ thai một lần nữa và sinh một con trai, rồi nói: “Bây giờ, tôi sẽ tôn ngợi Đức Giê-hô-va.” Vì vậy bà đặt tên của nó là Giu-đa. Sau đó bà ngừng sinh sản.
30
- Khi Ra-chên thấy mình không sinh con cho Gia-cốp, Ra-chên đã ganh tị với chị của mình, rồi nói với Gia-cốp: “Hãy cho em có con, nếu không em sẽ chết.” 2. Gia-cốp nổi giận nói với Ra-chên: “Anh đâu có ở trong vị trí của Ðức Chúa Trời, là Ðấng đang giữ con cái khỏi lòng dạ của em?” 3. Ra-chên nói: “Ðây là Bi-la, nữ tỳ của em. Hãy đến với nó, và nó sẽ sinh đẻ trên đầu gối của em, để nhờ nó em cũng có con.”
- Vì vậy, Ra-chên đã trao Bi-la, nữ tỳ của bà, cho ông để làm vợ, và rồi Gia-cốp đã đi đến cùng nàng. 5. Bi-la đã thụ thai và sinh cho Gia-cốp một con trai. 6. Ra-chên nói: “Đức Chúa Trời đã minh xét cho tôi, Ngài đã nghe tiếng cầu xin của tôi, và ban cho tôi một con trai.” Vì vậy, bà đã đặt tên của nó là Đan. 7. Bi-la, nữ tỳ của Ra-chên, lại thụ thai nữa và sinh cho Gia-cốp một con trai thứ hai. 8. Ra-chên nói: “Tôi đã tranh đấu kịch liệt với chị của tôi, và tôi đã thắng.” Vì vậy, bà đặt tên của nó là Nép-ta-li.
- Khi Lê-a thấy bà ngừng sinh sản, thì bà trao Xinh-ba, nữ tỳ của mình, cho Gia-cốp làm vợ. 10. Xinh-ba, nữ tỳ của Lê-a, đã sinh cho Gia-cốp một con trai. 11. Lê-a nói: Thật là phước hạnh. Rồi bà đặt tên của nó là Gát. 12. Xinh-ba, nữ tỳ của Lê-a, lại sinh cho Gia-cốp một con trai thứ hai. 13. Lê-a bèn nói: Tôi thật là vui, bởi vì những phụ nữ sẽ gọi tôi là người được phước. Vì vậy, bà đặt tên của nó là A-se.
- Vào mùa gặt lúa mì, Ru-bên đi ra ngoài đồng, tìm được những trái sâm rừng, cậu bé đã đem chúng về cho Lê-a, là mẹ của mình. Ra-chên nói với Lê-a: “Xin cho em vài trái sâm rừng của con chị.” 15. Lê-a nói với nàng: “Giật chồng của tôi có phải là chuyện nhỏ đâu? Cô còn muốn lấy luôn mấy trái sâm rừng của con trai tôi hay sao?” Ra-chên nói: “Được rồi, ông ấy sẽ nằm với chị tối nay, để đổi cho mấy trái sâm rừng của con trai chị.”
- Đến chiều tối, khi Gia-cốp từ ngoài đồng trở về, Lê-a đã ra đón ông và nói: “Anh hãy đến với em, bởi vì em đã thuê anh bằng những trái sâm rừng của con trai em.” Vì vậy, ông đã nằm với bà đêm đó.
- Đức Chúa Trời đã lắng nghe Lê-a. Bà thụ thai và sinh cho Gia-cốp đứa con trai thứ năm. 18. Lê-a nói: “Đức Chúa Trời đã trả công cho tôi, bởi vì tôi đã trao nữ tỳ của tôi cho chồng của tôi.” Vì vậy bà đã đặt tên cho đứa trẻ là Y-sa-ca. 19. Lê-a lại thụ thai một lần nữa và sinh cho Gia-cốp một con trai thứ sáu. 20. Lê-a nói: “Ðức Chúa Trời đã ban cho tôi một món quà quý báu. Bây giờ chồng tôi sẽ ở với tôi, bởi vì tôi đã sinh cho ông sáu con trai.” Bà đặt tên cho đứa trẻ là Sa-bu-lôn. 21. Sau đó, bà đã sinh một con gái và đặt tên của nó là Đi-na.
- Đức Chúa Trời đã nhớ đến Ra-chên, Ngài lắng nghe bà, và đã mở tử cung của bà. 23. Bà đã thụ thai, rồi sinh một con trai. Bà nói: “Đức Chúa Trời đã cất bỏ sự hổ nhục của tôi.” 24. Bà đã đặt tên cho nó là Giô-sép, rồi nói: “Đức Giê-hô-va sẽ ban cho tôi một đứa con trai nữa.”
- Sau khi Ra-chên sinh Giô-sép, Gia-cốp đã nói với La-ban: “Xin hãy cho cháu đi, để cháu có thể trở về quê hương của cháu và nơi chốn của cháu. 26. Xin hãy trao những người vợ của cháu và những con cái của cháu mà cháu đã phục vụ cậu để có được những người đó. Xin hãy để cho cháu đi, bởi vì cậu biết rằng cháu đã hoàn tất việc phục vụ cho cậu.”
- Nhưng La-ban đã nói với chàng: “Nếu cậu được ơn trước mắt của cháu, xin cháu hãy cứ ở lại đây. Cậu linh cảm rằng bởi vì cháu mà Đức Giê-hô-va đã ban phước cho cậu.” 28. Rồi ông nói: “Cháu hãy ấn định tiền công của cháu. Cậu sẽ trả.” 29. Chàng nói với ông: “Cậu biết rằng cháu đã phục vụ cậu như thế nào, và bầy gia súc của cậu lúc ở với cháu ra sao. 30. Bởi vì trước khi cháu đến, cậu chỉ có một ít, nhưng nó đã gia tăng rất nhiều. Từ khi cháu đến đây, Đức Giê-hô-va đã ban phước thật nhiều cho cậu. Và bây giờ, khi nào thì cháu mới có thể lo cho gia đình riêng của mình?”
- Ông nói: “Cậu phải trả công cho cháu như thế nào?” Gia-cốp nói: “Cậu sẽ không phải trả cho cháu điều gì cả. Nếu cậu đồng ý đề nghị nầy, cháu sẽ tiếp tục chăn giữ và chăm sóc đàn súc vật của cậu. 32 Hôm nay cháu sẽ đi qua bầy súc vật của cậu để lấy khỏi đó tất cả những con cừu có sọc có đốm, và tất cả những chiên con màu đen, cùng tất cả những con dê có sọc có đốm. Chúng sẽ là tiền công của cháu. 33. Và để sau này, khi cậu xét tiền công của cháu, thì lòng thành thật của cháu sẽ làm chứng cho cháu. Nếu trong bầy của cháu có bất cứ con dê nào không có sọc có đốm, hoặc chiên con nào không sậm màu, thì nó sẽ bị xem như là vật ăn cắp.”
34 La-ban nói: “Được! Hãy làm như lời của cháu.” 35. Vì vậy trong ngày hôm ấy, ông đã lấy đi tất cả những dê đực có sọc có đốm, tất cả những dê cái có sọc có đốm, tất cả những con cừu sậm màu, khỏi những con màu trắng, rồi giao chúng vào tay các con trai của ông. 36. Ông để Gia-cốp ở xa mình một khoảng cách ba ngày đường. Gia-cốp chăm sóc những gia súc còn lại trong bầy của La-ban.
- Gia-cốp đã lấy những cành bạch dương, hạnh nhân, và cây dẻ còn tươi, lột vỏ khỏi chúng để tạo thành những sọc màu trắng, lộ ra màu trắng trong những cành đó. 38. Ông đã đặt những cành được lột vỏ vào trong những máng nước, nơi các súc vật đến uống nước, để khi đến uống nước, các súc vật nhìn thấy sẽ bị kích dục để giao phối. 39. Các súc vật giao phối với nhau trước những cành đó đã đẻ ra những súc vật có vằn, có sọc, hoặc có đốm. 40. Gia-cốp tách riêng những chiên con ra, rồi hướng bầy súc vật quay mặt về phía những con có sọc, cùng tất cả những con sậm màu trong bầy của La-ban, mà ông đã lấy chúng ra làm bầy riêng của mình, nhưng không để chúng chung trong bầy của La-ban. 41. Và rồi, khi các súc vật mạnh khỏe giao phối, thì Gia-cốp đặt những cành đó trong những máng nước trước mắt của chúng, để chúng giao phối trước những cành đó. 42. Nhưng khi các con yếu ớt đến uống nước thì ông không để các cành đó trước mắt của chúng. Do đó những con vật yếu ớt thuộc về La-ban, còn những con mạnh khỏe thuộc về Gia-cốp. 43. Vì vậy, ông đã trở nên vô cùng phát đạt, có những đàn gia súc, thật nhiều tôi trai, tớ gái, lạc đà và lừa.
31
- Gia-cốp nghe những lời của các con trai La-ban nói rằng: “Gia-cốp đã lấy tất cả những gì thuộc về cha của chúng ta. Nhờ những vật thuộc về cha của chúng ta mà nó đã trở nên giàu có.” 2. Gia-cốp cũng nhìn thấy nét mặt của La-ban đối với mình không còn giống như trước nữa.
- Đức Giê-hô-va đã phán cùng Gia-cốp: “Hãy trở về xứ sở của tổ tiên ngươi và bà con của ngươi. Ta sẽ ở cùng ngươi.”
- Vì vậy Gia-cốp đã sai gọi Ra-chên và Lê-a ra ngoài đồng, đến chỗ các bầy súc vật của ông, 5. rồi ông nói với họ: “Anh thấy nét mặt cha của các em đối với anh không còn giống như trước nữa, tuy nhiên Ðức Chúa Trời của cha anh vẫn ở cùng anh. 6. Các em biết rằng anh đã phục vụ cho cha của các em với tất cả năng lực của anh. Dầu vậy, cha của các em đã gạt và thay đổi tiền công của anh mười lần, tuy nhiên Ðức Chúa Trời đã không cho phép ông làm thiệt hại anh. 8. Nếu ông nói: Những con vật có đốm sẽ là tiền công của cháu, thì cả bầy súc vật đều đẻ ra những con có đốm. Nếu ông nói: Những con vật có sọc sẽ là tiền công của cháu, thì cả bầy súc vật đều đẻ ra những con có sọc. 9. Ðức Chúa Trời đã lấy những súc vật thuộc về cha của các em mà ban cho anh. 10. Đến mùa súc vật giao phối, anh ngước mắt lên và thấy trong giấc mơ, kìa những con chiên đực phủ trên các bầy súc vật là những con có vằn, có sọc, và có đốm. 11 Trong chiêm bao, Thiên Sứ của Ðức Chúa Trời đã phán với anh: ‘Hỡi Gia-cốp.’ Anh đáp: ‘Có con đây.’ 12. Ngài phán: ‘Bây giờ hãy ngước mắt của ngươi lên và nhìn xem. Tất cả những con chiên đực phủ trên các bầy súc vật là những con có vằn, có sọc, và có đốm, bởi vì Ta đã thấy tất cả những gì La-ban đã làm cho ngươi. 13. Ta là Ðức Chúa Trời tại Bê-tên, là nơi mà ngươi đã xức dầu trên một trụ đá, là nơi mà ngươi đã thề nguyện với Ta. Bây giờ hãy trỗi dậy và ra khỏi xứ nầy, để trở về xứ sở của gia đình ngươi.'”
- Ra-chên và Lê-a đã nói với ông: “Chúng em có còn cơ nghiệp hoặc gia tài nào trong nhà cha của chúng em nữa đâu. Chúng em không phải đã là những người xa lạ với ông hay sao? Bởi vì ông đã gả bán chúng em và đã tiêu sạch số tiền thuộc về chúng em. 16. Thật vậy, tất cả tài sản mà Ðức Chúa Trời đã lấy từ cha của chúng em sẽ thuộc về chúng ta và các con của chúng ta. Vì vậy bây giờ anh hãy làm theo điều gì mà Ðức Chúa Trời đã truyền cho anh.”
- Gia-cốp đứng dậy, đặt các con và những người vợ của ông trên các lạc đà. 18. Ông đã ra đi, mang theo tất cả những súc vật và tất cả tài sản mà ông sở hữu, tức là những súc vật mà ông đã gây dựng và có được tại Pha-đan A-ram, để trở về với Y-sác, là cha của ông, tại xứ Ca-na-an.
- Lúc này La-ban đã đi cắt lông chiên, Ra-chên đã lấy trộm các tượng gia thần thuộc về cha của mình. 20. Gia-cốp đã lén lút ra đi, La-ban, người A-ram, không hề biết việc này; bởi vì chàng đã không nói cho ông biết rằng chàng định trốn đi. 21. Chàng đã trốn đi, đem theo tất cả những gì mình có. Chàng đã đứng lên, vượt qua sông, rồi thẳng hướng về vùng đồi núi Ga-la-át.
- Đến ngày thứ ba, La-ban được báo tin rằng Gia-cốp đã trốn đi. 23. Ông đã triệu tập những thân nhân của mình rồi đuổi theo chàng. Sau bảy ngày hành trình, ông đã bắt kịp chàng tại vùng đồi núi Ga-la-át. 24. Tuy nhiên Đức Chúa Trời đã hiện đến với La-ban, người A-ram, vào ban đêm trong giấc chiêm bao, Ngài phán với ông rằng: “Hãy cẩn thận! Đừng nói điều gì, dù lành hay dữ, với Gia-cốp.”
- La-ban đã theo kịp Gia-cốp. Lúc này Gia-cốp đang đóng trại tại vùng đồi núi; và La-ban cùng các anh em của mình cũng đóng trại tại vùng đồi núi Ga-la-át. 26. La-ban đã nói với Gia-cốp: “Cháu đã làm gì vậy? Tại sao cháu lén lút cậu ra đi, và cầm gươm dẫn các con gái của cậu giống như những tù binh vậy? 27. Tại sao cháu lén lút với cậu, bí mật ra đi không nói cho cậu biết, bởi vì cậu có thể đã tiễn cháu ra đi cách vui vẻ trong tiếng hát, tiếng đàn, và tiếng trống? 28. Tại sao cháu không để cho cậu hôn các con gái và các cháu của cậu? Cháu đã hành động thật dại dột. 29. Cậu có thể hãm hại cháu trong quyền lực của cậu, nhưng trong đêm qua, Ðức Chúa Trời của cha cháu đã nói với cậu rằng: ‘Hãy cẩn thận! Đừng nói điều gì, dù lành hay dữ, với Gia-cốp.’ 30. Thật vậy bây giờ cháu phải ra đi bởi vì cháu quá nhớ nhà cha của cháu, nhưng tại sao cháu lại ăn cắp những tượng thần của cậu?”
- Gia-cốp đã trả lời La-ban và nói rằng: “Cháu sợ rằng nếu cháu nói ra, có thể cậu sẽ dùng vũ lực giữ các con gái của cậu khỏi cháu. 32. Người nào mà cậu tìm thấy có các tượng thần của cậu, người ấy sẽ không được sống nữa. Trước sự hiện diện của các anh em trong dòng họ của chúng ta, hãy xác định vật gì thuộc về cậu đang ở với cháu, cậu hãy lấy nó đi.” – Bởi vì Gia-cốp không hề biết Ra-chên đã ăn cắp những vật đó.
- La-ban đã vào trong trại của Gia-cốp, trong trại của Lê-a, trong các trại của hai nữ tỳ, nhưng ông không tìm được gì cả. Từ trại của Lê-a, ông bước sang trại của Ra-chên. 34. Lúc này, Ra-chên đã lấy các tượng gia thần giấu dưới bành lạc đà rồi ngồi bên trên chúng. La-ban lục soát khắp trại nhưng chẳng tìm thấy chúng. 35. Nàng nói với cha của mình: “Xin chúa của con đừng giận! Con không thể đứng dậy chào cha bởi vì con có chuyện của phụ nữ.” Ông đã lục soát nhưng không tìm thấy những tượng gia thần của mình.
- Gia-cốp nổi giận trách La-ban. Gia-cốp nói với La-ban rằng: “Cháu đã phạm tội gì? Tội lỗi của cháu là gì mà cậu đã nóng giận rượt đuổi cháu như vậy? 37. Mặc dù cậu đã lục soát mọi thứ của cháu, cậu đã tìm thấy được gì trong tất cả những thứ đó? Xin cậu hãy bày ra những gì thuộc về cậu trước những thân nhân của cháu và những thân nhân của cậu, để họ phân xử giữa hai chúng ta. 38. Suốt hai mươi năm cháu sống với cậu, có bao giờ cháu để cho chiên và dê của cậu bị sảo thai, hay cháu có ăn thịt một con chiên đực nào trong bầy của cậu hay không? 39. Cháu có đem về cho cậu một con vật nào bị thú rừng cắn xé hay không? Cậu đã đòi từ tay của cháu, và cháu phải bồi thường về con vật đó bất kể là bị mất mát vào ban ngày hay là bị mất mát vào ban đêm. 40. Vì vậy cháu phải chịu nắng nóng vào ban ngày, sương giá vào ban đêm, giấc ngủ cũng lìa xa khỏi mắt của cháu. 41. Hai mươi năm của cháu trong gia đình của cậu đây này: Cháu đã phục vụ cậu mười bốn năm vì hai con gái của cậu, và sáu năm vì súc vật của cậu, nhưng cậu đã mười lần thay đổi tiền công của cháu. 42. Nếu Đức Chúa Trời của cha cháu, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, là Đấng mà Y-sác kính sợ, không phù hộ cháu, chắc chắn bây giờ cậu đã đuổi cháu đi với những bàn tay không. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy nỗi đau khổ của cháu và công sức của bàn tay cháu, cho nên đêm qua Ngài đã phân xử.”
- La-ban trả lời Gia-cốp: “Những con gái nầy là con gái của cậu, những đứa trẻ nầy là cháu của cậu, bầy súc vật nầy là bầy súc vật của cậu. Tất cả những gì cháu thấy, đều là của cậu. Tuy nhiên hôm nay cậu có thể làm gì được với những con gái của cậu và những đứa cháu mà chúng đã sinh ra? 44. Vì vậy bây giờ hãy đến, chúng ta hãy lập một giao ước giữa cậu với cháu. Nó sẽ làm chứng giữa cậu và cháu.”
- Vì vậy Gia-cốp đã lấy một tảng đá dựng lên làm trụ. 46. Gia-cốp nói với các thân nhân của mình: “Hãy mang những hòn đá lại đây.” Họ đã đem đá tới tạo thành một đống, rồi họ đã ăn bên cạnh đống đá. 47. La-ban đã gọi nơi đó là Y-ê-ga Sa-ha-đu-ta; nhưng Gia-cốp đã gọi nó là Ga-lét. 48. La-ban nói: “Hôm nay đống đá nầy làm chứng giữa cậu và cháu.” Vì vậy, người ta đã gọi nó là Ga-lét, 49. và nó cũng được gọi là Mích-ba, bởi vì ông có nói rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va canh giữ cậu và cháu khi chúng ta xa cách nhau. 50. Nếu cháu bạc đãi những con gái của cậu, nếu cháu lấy vợ khác, dù không có ai ở giữa chúng ta, tuy nhiên Đức Chúa Trời sẽ thấy và làm chứng ở giữa chúng ta.”
- La-ban nói với Gia-cốp: “Ðây là đống đá và trụ đá mà cậu đã đặt ở giữa cậu và cháu. 52. Ðống đá nầy làm bằng chứng và trụ đá nầy làm bằng chứng rằng cậu sẽ không vượt qua đống đá nầy xông về phía cháu, và cháu cũng không vượt qua đống đá nầy và trụ đá nầy xông phía về cậu, để hãm hại nhau. 53. Cầu xin Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Na-cô, tức là Ðức Chúa Trời của tổ phụ họ, phân xử giữa chúng ta.” Gia-cốp đã thề với Đấng mà cha của mình là Y-sác kính sợ.
- Gia-cốp đã dâng một sinh tế trên núi và mời các thân nhân của mình đến ăn. Họ đã ăn xong, rồi nghỉ đêm trên núi. 55. Sáng hôm sau La-ban dậy sớm, hôn các cháu của ông và các con gái ông. La-ban chúc phước cho họ, rồi rời khỏi nơi đó để trở về chỗ của mình.
32
- Gia-cốp tiếp tục cuộc hành trình của mình. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời đã gặp ông. 2. Khi Gia-cốp thấy họ, ông nói: “Nơi đây là trại quân của Ðức Chúa Trời.” Ông đã gọi địa danh đó là Ma-ha-na-im.
- Gia-cốp đã sai các sứ giả đi trước ông đến gặp Ê-sau, là anh của ông, trong xứ Sê-i-rơ, thuộc địa phận của Ê-đôm. 4. Ông đã truyền cho họ: “Các ngươi hãy thưa với Ê-sau, chúa của ta, như thế nầy: Gia-cốp, là đầy tớ của chúa, có nói: ‘Em đã cư ngụ với La-ban, và đã ở tại đó cho đến bây giờ. 5. Em có bò, lừa, súc vật, tôi trai và tớ gái. Em cử người đến trình với chúa của em, và mong cho em được ơn trước mặt anh.’”
- Các sứ giả đã trở về báo với Gia-cốp: “Chúng tôi đã đến gặp Ê-sau, là anh của ngài. Ê-sau, cùng với bốn trăm người đang đến, để gặp ngài.”
- Gia-cốp vô cùng kinh hãi và lo sợ. Ông đã chia các gia nhân của mình cùng các bầy chiên, bò, lạc đà thành hai đoàn. 8. Ông tự nhủ: “Nếu Ê-sau đến và tấn công đoàn nầy thì đoàn kia sẽ chạy thoát được.”
- Gia-cốp đã khẩn nguyện: “Kính lạy Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, tổ phụ của con. Kính lạy Đức Chúa Trời của Y-sác, cha của con. Kính lạy Đức Giê-hô-va, là Đấng đã phán với con rằng: ‘Hãy trở về quê hương của ngươi và họ hàng của ngươi, rồi Ta sẽ đối xử tốt với ngươi.’ 10. Con thật không xứng đáng với tất cả sự nhân từ, với tất cả sự thành tín mà Ngài đã dành cho đầy tớ của Ngài. Khi vượt qua sông Giô-đanh, con chỉ có một cây gậy nầy, nhưng hôm nay con đã có hai đoàn. 11. Cầu xin Ngài giải cứu con khỏi tay anh của con, tức là khỏi tay của Ê-sau – bởi vì con sợ anh ấy. Con sợ anh ấy sẽ tấn công con, cùng với cả mẹ và các con nữa. 12. Bởi vì Ngài đã phán rằng: ‘Chắc chắn Ta sẽ hậu đãi con và làm cho dòng dõi của con đông như cát biển, không thể đếm được bởi vì quá nhiều.’”
- Ông đã nghỉ đêm tại đó, rồi chọn những thứ đang có trong tay của mình để làm tặng phẩm cho Ê-sau, là anh của mình: 14. Hai trăm dê cái và hai mươi dê đực, hai trăm chiên cái và hai mươi chiên đực, 15. ba mươi lạc đà mẹ có con còn bú cùng với các con của chúng, bốn mươi bò cái và mười bò đực, hai mươi lừa cái và mười lừa đực.
- Ông đã giao chúng vào tay những đầy tớ của mình theo từng bầy riêng rẽ, rồi căn dặn những đầy tớ của mình: “Các ngươi hãy đi trước ta, và giữ khoảng cách giữa bầy nầy với bầy kia.” 17. Ông đã dặn người đi đầu: “Khi ngươi gặp Ê-sau, anh của ta hỏi ngươi rằng: ‘Ngươi là người của ai? Ngươi đi đâu? Những súc vật đi trước ngươi thuộc về ai?’ 18. Ngươi hãy trả lời: ‘Chúng là của Gia-cốp, tôi tớ ngài. Đó là tặng phẩm gởi đến cho Ê-sau, là chúa của tôi. Ông ấy đang đi sau chúng tôi.’”
- Ông cũng căn dặn như vậy cho người thứ hai, người thứ ba, và tất cả những người đi sau những đàn súc vật rằng đây là cách mà các ngươi sẽ nói với Ê-sau, khi các ngươi gặp ông ấy. 20. Các ngươi cũng nói: “Tôi tớ của ngài là Gia-cốp đang đi ở phía sau của chúng tôi.” Bởi vì ông nghĩ: “Với những tặng phẩm đi trước, mình sẽ làm cho anh ấy nguôi giận; và rồi sau đó mình sẽ gặp mặt anh ấy, có lẽ anh ấy sẽ chấp nhận mình.”
- Vì vậy, tặng vật đã được đưa đi trước ông, nhưng Gia-cốp đã qua đêm trong trại.
- Trong đêm đó ông đã thức dậy, đem hai người vợ, hai nữ tỳ, và mười một con trai lội qua suối Gia-bốc. 23. Ông dẫn họ và đưa họ qua suối; ông cũng đem tất cả những gì ông có qua suối.
- Gia-cốp đã ở lại một mình. Có một Người đến vật lộn với ông cho đến rạng đông. 25. Khi Người thấy rằng Người không thắng được ông, Người đã đánh vào khớp xương hông của ông, vì vậy khớp xương hông của Gia-cốp đã bị trặc khi Người vật lộn với ông. 26. Người ấy nói: “Hãy để Ta đi, bởi vì trời sắp sáng.” Nhưng ông đáp: “Tôi sẽ không để cho Ngài đi, trừ khi Ngài ban phước cho tôi.” 27. Người ấy hỏi ông: “Tên của ngươi là gì?” Ông đáp: “Gia-cốp.” 28. Người ấy phán: “Tên của ngươi sẽ không còn là Gia-cốp nữa, nhưng là Y-sơ-ra-ên, bởi vì ngươi đã tranh đấu với Đức Chúa Trời và với người ta, và đã thắng.” 29. Gia-cốp đã hỏi rằng: “Xin cho tôi biết tên của Ngài.” Người ấy đáp: “Tại sao lúc nầy ngươi hỏi tên của ta?” Người đã ban phước cho ông tại đó.
- Gia-cốp đã gọi chỗ đó là Phê-ni-ên, và nói: “Bởi vì tôi đã thấy Đức Chúa Trời mặt đối mặt nhưng mạng sống tôi vẫn được bảo toàn.”
- Mặt trời đã mọc lên khi ông vượt qua Phê-ni-ên, ông đã đi khập khểnh vì bị trật khớp xương hông. 32. Vì việc nầy, cho đến nay dân Y-sơ-ra-ên không bao giờ ăn gân bắp đùi, chỗ khớp xương hông, bởi vì Người đó đã đánh vào khớp xương hông của Gia-cốp, chỗ gân bắp đùi.
33
- Gia-cốp ngước mắt lên nhìn thấy Ê-sau cùng với bốn trăm người đang đến. Ông đã tách các con của Lê-a, Ra-chên, và hai nữ tỳ ra. 2. Ông đặt những nữ tỳ và các con của họ ở phía trước, phía sau là Lê-a và các con của nàng, và cuối cùng là Ra-chên với Giô-sép. 3. Nhưng ông đã vượt lên trước họ, sấp mình xuống đất bảy lần, cho đến khi tới gần anh của mình.
- Nhưng Ê-sau đã chạy đến gặp ông, ôm lấy ông, tựa đầu vào cổ của ông, hôn ông, rồi họ cùng khóc. 5. Ê-sau ngước lên, thấy những phụ nữ cùng với những trẻ con, ông hỏi: “Những người cùng đi với em là ai?” Gia-cốp trả lời: “Đó là những đứa con mà Đức Chúa Trời đã thương xót ban cho đầy tớ của anh.” 6. Những nữ tỳ và các con của họ đến gần, rồi sấp mình xuống. 7. Lê-a và các con của nàng cũng đến gần và sấp mình xuống. Cuối cùng, Giô-sép và Ra-chên đến gần và sấp mình xuống.
- Ê-sau hỏi: “Tất cả những người và những bầy súc vật mà anh đã gặp là để làm gì?” Ông trả lời: “Để tìm ân huệ từ chúa của em.” 9. Nhưng Ê-sau nói: “Em ơi! Anh có đủ rồi. Hãy giữ những gì em có cho em.” 10. Nhưng Gia-cốp nói: “Thưa anh, không được đâu. Nếu em được ơn trước mặt anh, xin anh vui nhận món quà đó từ tay của em, bởi vì thưa anh, được thấy lại mặt của anh thật chẳng khác gì em thấy được mặt của Ðức Chúa Trời, bởi vì anh đã vui lòng tiếp nhận em. 11. Xin anh nhận món quà em gởi đến cho anh, bởi vì Ðức Chúa Trời đã thương xót em, và bởi vì em đã có đủ mọi thứ.” Do ông cứ nài ép cho nên Ê-sau đã nhận.
- Ê-sau nói: “Chúng ta hãy lên đường. Chúng ta hãy đi. Anh sẽ đi trước em.” 13. Gia-cốp nói với ông: “Chúa của em biết rằng các cháu còn yếu lắm. Những bầy chiên và những bầy gia súc của em có nhiều con còn đang bú. Nếu ép chúng đi nhanh, chỉ trong một ngày, tất cả bầy sẽ chết hết. 14. Xin chúa của em cứ đi trước với tôi tớ của anh, còn em sẽ từ từ đi theo sau với mức độ mà đàn súc vật phía trước em và các cháu đi được, cho đến khi em đến gặp chúa của em tại Sê-i-rơ.” 15. Ê-sau nói: “Anh sẽ để lại một số người của anh với em.” Nhưng ông đáp: “Nếu em được ơn trước mặt chúa của em, tại sao phải làm như vậy?”
- Vì vậy Ê-sau đã lên đường trở về Sê-i-rơ trong ngày hôm đó. 17. Nhưng Gia-cốp thì đi đến Su-cốt, cất cho mình một cái nhà và dựng những túp lều cho súc vật. Vì vậy, chỗ đó được gọi là Su-cốt.
- Sau đó Gia-cốp đến thành Si-chem trong xứ Ca-na-an được an toàn. Sau khi từ Pha-đan A-ram trở về, ông đã đóng trại trước thành. 19. Ông đã mua một miếng đất với giá một trăm miếng bạc từ dòng họ của Hê-mô, là cha của Si-chem, rồi ông đóng trại tại đó. 20. Sau đó, ông đã dựng một bàn thờ tại đó, và được gọi là Ên: Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
34
- Đi-na – người con gái mà Lê-a đã sinh cho Gia-cốp – đã đi gặp các thiếu nữ ở trong xứ. 2. Khi Si-chem, con trai của Hê-mô, người Hê-vít, là một lãnh đạo của xứ, trông thấy nàng, hắn đã bắt nàng, rồi nằm và cưỡng hiếp nàng. 3. Tâm hồn của hắn quyến luyến với Ði-na con gái của Gia-cốp. Hắn yêu thiếu nữ đó và nói những lời dịu dàng với nàng. 4. Si-chem nói với Hê-mô, cha của mình, rằng: “Hãy cưới cô gái nầy cho con làm vợ.”
- Gia-cốp đã nghe rằng hắn đã làm ô nhục Ði-na, con gái của ông. Nhưng các con trai của ông đang còn chăn bầy ở ngoài đồng, cho nên ông nín lặng cho đến khi họ trở về. 6. Sau đó Hê-mô, cha của Si-chem, đã đến gặp Gia-cốp để nói chuyện với ông. 7. Các con trai của Gia-cốp ở ngoài đồng đã trở về. Khi họ nghe việc này, những người đàn ông này rất đau buồn và giận dữ, bởi vì hắn đã làm điều đồi bại với Y-sơ-ra-ên – vì đã nằm với con gái của Gia-cốp, là điều không được phép làm.
- Hê-mô đã nói với họ rằng: “Tâm hồn của Si-chem, con trai của tôi, quyến luyến con gái của quý vị. Xin quý vị vui lòng gả nàng làm vợ cho nó. 9. Chúng ta hãy kết sui gia với nhau. Hãy gả các con gái của quý vị cho chúng tôi, và hãy cưới các con gái của chúng tôi cho quý vị. 10. Hãy sống với chúng tôi. Xứ sở này ở trước mặt quý vị. Hãy sống và mua bán tại đây. Hãy sở hữu tài sản tại đây.”
- Si-chem cũng nói với cha của nàng và các anh của nàng: “Xin cho tôi được ơn trước mắt quý vị. Quý vị đòi điều gì, tôi cũng xin đáp ứng. 12. Xin đòi sính lễ và quà cưới thật cao, tôi xin nộp đúng như quý vị đòi hỏi, chỉ xin quý vị gả cô gái đó cho tôi làm vợ.”
- Các con trai của Gia-cốp đã trả lời Si-chem và Ha-mô, cha của hắn, một cách mưu mẹo, bởi vì hắn đã làm ô nhục Ði-na, em gái của họ. 14. Họ nói với những người đó: “Chúng tôi không thể làm việc nầy, tức là gả em gái của chúng tôi cho một người không được cắt bì, bởi vì đó là điều sỉ nhục đối với chúng tôi. 15. Nhưng chúng tôi sẽ nhận lời với điều kiện này: Đó là các ông phải trở nên giống như chúng tôi, nghĩa là mọi người nam phải chịu cắt bì. 16. Khi đó chúng tôi sẽ gả các con gái của chúng tôi cho quý vị, và chúng tôi sẽ cưới các con gái của quý vị cho chúng tôi, chúng tôi sẽ sống giữa quý vị, và chúng ta sẽ thành một dân tộc. 17. Nhưng nếu quý vị không đồng ý với chúng tôi không chịu cắt bì, thì chúng tôi sẽ bắt em gái của chúng tôi và dọn đi.”
- Những lời nói của họ hài lòng Ha-mô và Si-chem, con trai của Ha-mô. 19. Chàng trai trẻ đã không chậm trễ thực hiện điều này bởi vì chàng yêu thích con gái của Gia-cốp. Hơn nữa, chàng là người được tôn trọng nhất trong gia đình của cha chàng. 20. Vì vậy, Hê-mô và Si-chem, con trai của ông, đã đến cổng thành và nói với dân trong thành rằng: 21. “Những người nầy rất thuận hòa với chúng ta. Hãy để cho họ sống trong xứ và buôn bán tại đây, bởi vì thật ra đất nầy còn đủ chỗ cho họ. Chúng ta sẽ cưới con gái của họ làm vợ của chúng ta, và gả con gái của chúng ta cho họ. 22. Họ đồng ý sống với chúng ta để trở thành một dân tộc, chỉ với một điều kiện đó là mọi người nam trong chúng ta phải chịu cắt bì – như họ đã chịu cắt bì. 23. Như vậy, không phải những bầy súc vật của họ, tài sản của họ, và mọi thú vật của họ có đều sẽ thuộc về chúng ta hay sao? Chỉ cần chúng ta đồng ý với họ, họ sẽ sống với chúng ta.” 24. Tất cả những người ra họp ở cổng thành đều nghe theo lời của Hê-mô và Si-chem, là con trai của ông.
Tất cả những người nam ra họp ở cổng thành đều chịu cắt bì. 25. Đến ngày thứ ba, khi họ còn đang đau, hai con trai của Gia-cốp là Si-mê-ôn và Lê-vi – những người anh của Đi-na – đã cầm gươm, xông vào thành giết tất cả những người nam. 26. Họ dùng gươm giết Hê-mô và Si-chem, con trai của ông, rồi đem Đi-na ra khỏi nhà của Si-chem. 27. Các con trai của Gia-cốp đã xông vào nơi những người bị giết và cướp phá thành, bởi vì em gái của họ đã bị làm ô nhục. 28. Họ đã cướp những chiên, bò, lừa, những vật ở trong thành, cũng như những vật ở ngoài đồng. 29. Họ cướp lấy tất cả tài sản của những người đó, bắt vợ con của họ, và cướp phá mọi thứ trong nhà của họ.
- Gia-cốp đã nói với Si-mê-ôn và Lê-vi: “Các con gây rắc rối cho cha và làm cho cư dân xứ nầy, là người Ca-na-an và người Phê-rê-sít, kinh tởm cha. Cha chỉ có một ít người, nếu họ hiệp nhau để chống lại và tấn công cha, thì cha và cả nhà của cha sẽ bị tiêu diệt.”
- Nhưng họ đã nói: “Không lẽ cứ để cho hắn đối xử với em gái của chúng con như là một gái điếm hay sao?”
35
- Sau đó, Ðức Chúa Trời đã phán cùng Gia-cốp: “Hãy trỗi dậy, đi lên Bê-tên, và cư ngụ tại đó. Hãy lập một bàn thờ cho Ðức Chúa Trời tại đó. Ngài là Ðấng đã hiện ra với ngươi khi ngươi chạy trốn khỏi mặt của Ê-sau, anh của ngươi.”
- Gia-cốp đã nói với gia đình của mình và tất cả những người đang ở với mình: “Hãy dẹp bỏ những tượng thần của dân ngoại khỏi các ngươi. Hãy thanh tẩy chính mình và thay đổi trang phục. 3. Chúng ta hãy trỗi dậy đi đến Bê-tên. Ta sẽ lập một bàn thờ cho Đức Chúa Trời tại đó. Ngài là Đấng đã nhậm lời của ta trong ngày nguy khốn, và đã ở với ta trong suốt chặng đường mà ta đã đi qua.” 4. Vì vậy, họ đã trao cho Gia-cốp tất cả những tượng thần của dân ngoại mà họ có, và những vòng đeo tai của họ. Gia-cốp đã chôn những thứ đó dưới một cây sồi gần Si-chem.
- Khi họ lên đường, Ðức Chúa Trời đã giáng sự kinh hãi trên các thành xung quanh họ, cho nên những người ở đó không đuổi theo các con trai của Gia-cốp. 6. Vì vậy, Gia-cốp – ông và những người đi theo ông – đã đến được Lu-xơ, tức là Bê-tên, thuộc xứ Ca-na-an. 7. Gia-cốp đã lập một bàn thờ tại đó, và đặt tên là Ên Bê-tên, bởi vì Đức Chúa Trời đã hiện ra với ông tại đó khi ông chạy trốn khỏi mặt của anh mình.
- Đê-bô-ra, người vú nuôi của Rê-bê-ca, đã qua đời. Bà được an táng tại phía dưới của Bê-tên, dưới một cây sồi mang tên là A-lôn Ba-cút.
- Sau đó, Ðức Chúa Trời lại hiện ra với Gia-cốp khi ông từ xứ Pha-đan A-ram trở về. Ngài đã ban phước cho ông. 10. Ðức Chúa Trời đã phán với ông: “Tên ngươi là Gia-cốp, nhưng ngươi sẽ không được gọi là Gia-cốp nữa, bởi vì từ nay ngươi sẽ được gọi là Y-sơ-ra-ên.” Ngài đã gọi tên của ông là Y-sơ-ra-ên.
- Ðức Chúa Trời đã phán với ông: “Ta là Ðức Chúa Trời Toàn Năng. Hãy kết quả và gia tăng thật nhiều. Một quốc gia và một cộng đồng gồm nhiều quốc gia sẽ ra từ ngươi, nhiều vua sẽ phát sinh từ ngươi, 12. và vùng đất mà Ta đã ban cho Áp-ra-ham và Y-sác thì Ta ban cho ngươi. Ta sẽ ban cho dòng dõi sau nầy của ngươi vùng đất đó.”
- Đức Chúa Trời đã ngự lên từ nơi mà Ngài đã phán với ông. 14. Gia-cốp đã dựng một trụ đá tại nơi mà Ngài đã phán với ông. Ông đã rót lễ vật bằng thức uống trên trụ đá, và cũng đã rót dầu trên đó. 15. Gia-cốp đã đặt tên nơi mà Ðức Chúa Trời đã phán với ông là Bê-tên.
- Sau đó, họ rời Bê-tên ra đi. Khi họ còn cách Ép-ra-ta một đoạn đường rất ngắn thì Ra-chên chuyển dạ, nhưng bà sinh khó. 17. Sau đó, bà đã vất vả để sinh. Người nữ hộ sinh đã nói: “Cô đừng sợ, bởi vì cô sắp sinh được một đứa con trai nữa.” 18. Lúc linh hồn của nàng sắp sửa ra đi – bởi vì nàng sắp qua đời, nàng đã đặt tên cho nó là Bên Ô-ni, nhưng cha của nó đã gọi nó là Bên-gia-min. 19. Ra-chên qua đời, được an táng bên cạnh con đường đi về Ép-ra-ta, tức là Bết-lê-hem. 20. Gia-cốp đã dựng một bia đá trên mộ của nàng – đó là bia đá của mộ của Ra-chên cho đến ngày nay.
- Sau đó, Y-sơ-ra-ên tiếp tục cuộc hành trình, ông đã đóng trại khỏi tháp Ê-đe. 22. Một thời gian sau, trong lúc Y-sơ-ra-ên ngụ tại xứ đó, Ru-bên đã đến nằm với Bi-la, hầu thiếp của cha mình. Y-sơ-ra-ên nghe được việc nầy.
Gia-cốp có mười hai con trai. 23. Các con trai của Lê-a là Ru-bên – trưởng nam của Gia-cốp – Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn. 24. Các con trai của Ra-chên là Giô-sép và Bên-gia-min. 25. Các con trai của Bi-la, nữ tỳ của Ra-chên, là Ðan và Náp-ta-li. 26. Các con trai của Xinh-ba, nữ tỳ của Lê-a, là Gát và A-se. Ðó là các con trai của Gia-cốp – những con trai đã được sinh cho ông tại Pha-đan A-ram.
- Sau đó, Gia-cốp đã đến với Y-sác, cha của mình, tại Mam-rê, gần Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn – là nơi Áp-ra-ham và Y-sác đã cư ngự tại đó. 28. Y-sác thọ một trăm tám mươi năm. 29. Y-sác trút hơi thở cuối cùng. Ông qua đời, trở về với tổ tiên, lúc đã già, hưởng trọn những năm tháng của mình. Ê-sau và Gia-cốp, hai con trai của ông, đã an táng ông.
36
- Đây là dòng dõi của Ê-sau, tức là Ê-đôm. 2. Ê-sau đã cưới các thiếu nữ Ca-na-an làm vợ, đó là: A-đa, con gái của Ê-lôn, người Hê-tít; Ô-hô-li-ba-ma, con gái của A-na – bà là con gái của Xi-bê-ôn, người Hê-vít; 3. và Bách-mát, là con gái của Ích-ma-ên và cũng là em gái của Nê-ba-giốt. 4. A-đa sinh Ê-li-pha cho Ê-sau; Bách-mát sinh Rê-u-ên; 5. Ô-hô-li-ba-ma sinh Giê-úc, Gia-lam và Cô-ra. Đây là các con trai của Ê-sau đã được sinh ra cho ông tại xứ Ca-na-an.
- Ê-sau đã đem những người vợ, các con trai, các con gái, tất cả những người trong gia đình của ông, với tất cả bầy súc vật và gia súc, và tất cả những tài sản mà ông đã kiếm được tại xứ Ca-na-an để đi đến một xứ khác, cách xa khỏi sự hiện diện của Gia-cốp, em trai của ông. 7. Bởi vì tài sản của họ quá nhiều cho nên họ không thể sống chung với nhau được, vì xứ mà họ đang chung sống không thể cung cấp đầy đủ cho những đàn súc vật của họ. 8. Vì vậy, Ê-sau đã cư ngự tại vùng đồi núi thuộc Sê-i-rơ – Ê-sau tức là Ê-đôm.
- Đây là dòng dõi của Ê-sau, tổ phụ của dân Ê-đôm, tại vùng đồi núi của Sê-i-rơ. 10. Ðây là tên các con trai của Ê-sau: Ê-li-pha con trai của A-đa, vợ của Ê-sau; Rê-u-ên con trai của Ba-sê-mát, vợ của Ê-sau. 11. Các con trai của Ê-li-pha là Thê-man, Ô-ma, Xê-phô, Ga-tam, và Kê-na. 12. Thim-na, hầu thiếp của Ê-li-pha, con trai của Ê-sau, đã sinh A-ma-léc cho Ê-li-pha. Những người nầy là cháu của A-đa, vợ của Ê-sau. 13. Ðây là các con trai của Rê-u-ên: Na-hát, Xê-ra, Sam-ma, và Mít-xa. Những người nầy là cháu của Ba-sê-mát, vợ của Ê-sau. 14. Ðây là các con trai của Ô-hô-li-ba-ma, vợ của Ê-sau, con gái của A-na, cháu của Xi-bê-ôn. Bà đã sinh cho Ê-sau: Giê-úc, Gia-lam, và Cô-ra.
- Ðây là các tộc trưởng thuộc dòng dõi của Ê-sau: Dòng tộc Ê-li-pha, con đầu lòng của Ê-sau, có tộc trưởng Tê-man, tộc trưởng Ô-ma, tộc trưởng Xê-phô, tộc trưởng Kê-na, 16. tộc trưởng Ga-tam, và tộc trưởng A-ma-léc. Những người nầy là các tộc trưởng thuộc về Ê-li-pha, tại xứ Ê-đôm. Họ là cháu của A-đa. 17. Dòng tộc Rê-u-ên, con trai Ê-sau, có những người nầy: Tộc trưởng Na-hát, tộc trưởng Xê-ra, tộc trưởng Sam-ma, và tộc trưởng Mít-xa. Ðó là các tộc trưởng thuộc về Rê-u-ên, tại xứ Ê-đôm. Những người nầy là con cháu của Ba-sê-mát, vợ của Ê-sau. 18. Ðây là các con trai của Ô-hô-li-ba-ma, vợ của Ê-sau: Tộc trưởng Giê-úc, tộc trưởng Gia-lam, và tộc trưởng Cô-ra. Những người nầy là các tộc trưởng thuộc về Ô-hô-li-ba-ma, vợ của Ê-sau, cũng là con gái của A-na. 19. Ðó là các con cháu của Ê-sau, tức là Ê-đôm, cùng với các tộc trưởng của họ.
- Ðây là các con trai của Sê-i-rơ, người Hô-ri, là những cư dân địa phương: Lô-tan, Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na, 21 Ði-sôn, Ê-xe, và Ði-san. Ðó là các con trai của Sê-i-rơ. Họ là các tộc trưởng của người Hô-ri tại xứ Ê-đôm. 22. Các con trai của Lô-than là Hô-ri và Hê-man. Em gái của Lô-than là Thim-na. 23. Ðây là các con trai của Sô-banh: Anh-van, Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phô, và Ô-nam. 24. Ðây là các con trai của Xi-bê-ôn: Ai-gia và A-na. A-na là người đã tìm ra những suối nước nóng trong hoang mạc khi chăn lừa cho cha của mình là Xi-bê-ôn. 25. Ðây là các con của A-na: Ði-sôn và Ô-hô-li-ba-ma. Ô-hô-li-ba-ma là con gái của A-na. 26. Ðây là các con trai của Ði-sôn: Hem-đan, Ếch-ban, Dít-ran và Kê-ran. 27. Ðây là các con trai của Ê-xe: Bin-han, Xa-van, và A-can. 28. Ðây là các con trai của Ði-san: Út-xơ và A-ran. 29. Ðây là các tộc trưởng của dân Hô-ri: Tộc trưởng Lô-tan, tộc trưởng Sô-banh, tộc trưởng Xi-bê-ôn, tộc trưởng A-na, 30. tộc trưởng Ði-sôn, tộc trưởng Ê-xe, và tộc trưởng Ði-san. Những người nầy là các tộc trưởng của người Hô-ri, theo từng gia tộc của họ tại xứ Sê-i-rơ.
- Ðây là những vua đã trị vì trong xứ Ê-đôm, trước khi có một vua nào trị vì trên dòng dõi của Y-sơ-ra-ên: 32. Bê-la, con trai Bê-ô, trị vì tại Ê-đôm. Tên thành của vua là Đin-ha-ba. 33. Khi Bê-la băng hà, Giô-báp, con trai của Xê-rách, người Bốt-ra, kế vị. 34. Khi Giô-báp băng hà, Hu-sam, người xứ Thê-man, kế vị. 35. Khi Hu-sam băng hà, Ha-đát, con trai của Bê-đát, kế vị. Vua là người đã đánh thắng dân Ma-đi-an tại cánh đồng Mô-áp; và tên thành của vua là A-vít. 36. Khi Ha-đát băng hà, Sam-la, người Ma-rê-ca, kế vị. 37. Khi Sam-la băng hà, Sau-lơ, người Rê-hô-bốt tại lưu vực sông, kế vị. 38. Khi Sau-lơ băng hà, Ba-anh Ha-nan, con trai của Ạc-bồ, kế vị. 39. Khi Ba-anh Ha-nan, con trai của Ạc-bồ, băng hà, Ha-đa kế vị. Tên thành của vua là Ba-u; vợ của vua là Mê-hê-ta-bê-ên, là con gái của Mát-rết, và là cháu của Mê-xa-háp.
- Ðây là tên các tộc trưởng thuộc hậu tự của Ê-sau được liệt kê theo gia tộc, theo địa phương, và theo danh tánh của họ: Tộc trưởng Thim-na, tộc trưởng Anh-va, tộc trưởng Giê-hết, 41. tộc trưởng Ô-hô-li-ba-ma, tộc trưởng Ê-la, tộc trưởng Phi-nôn, 42. tộc trưởng Kê-na, tộc trưởng Thê-man, tộc trưởng Mép-xa, 43. tộc trưởng Mác-đi-ên, và tộc trưởng Y-ram. Những người nầy là các tộc trưởng của Ê-đôm, tùy theo nơi họ định cư trong đất mà họ sở hữu. Tổ phụ của dân Ê-đôm là Ê-sau.
37
- Gia-cốp đã ở trong xứ mà cha của ông đã kiều ngụ như là một kiều dân – đó là xứ Ca-na-an. 2. Đây là ký thuật về dòng dõi của Gia-cốp.
Khi Giô-sép được mười bảy tuổi, chàng chăn bầy súc vật với các anh của mình. Chàng chăn bầy với các con trai của Bi-la và Xinh-ba, những người vợ của cha mình. Giô-sép đã mang những chuyện xấu của các anh mình thuật lại cho cha của chàng. 3. Y-sơ-ra-ên thương Giô-sép hơn tất cả các con của ông, bởi vì chàng là con trai của ông lúc tuổi già. Ông đã may cho chàng một chiếc áo choàng có nhiều màu. 4. Các anh của chàng thấy chàng được cha thương yêu hơn tất cả các anh em, họ ghét chàng và không thể nói chuyện hòa nhã với chàng.
- Giô-sép có một giấc mơ, chàng đã kể lại cho các anh của mình, họ lại càng ghét chàng hơn. 6. Chàng đã nói với họ: “Xin các anh hãy nghe giấc mơ mà em đã thấy. 7. Chúng ta đang bó lúa ngoài đồng, và nầy, bó lúa của em trỗi dậy và đứng thẳng lên, bó lúa của các anh quây quần chung quanh, rồi sấp mình xuống trước bó lúa của em.” 8. Sau đó, các anh của chàng đã nói với chàng: “Mày sẽ trị vì trên chúng ta hay sao, hay là mày sẽ thống trị trên chúng ta sao?” Vì vậy, họ càng ghét chàng hơn bởi vì giấc mộng của chàng và những lời nói của chàng.
- Chàng lại thấy một giấc mơ khác, và chàng đã thuật lại cho các anh của mình rằng: “Nầy, em thấy một giấc mơ nữa. Lần nầy em thấy mặt trời, mặt trăng, và mười một ngôi sao đều sấp mình xuống trước mặt em.” 10. Chàng đã kể lại cho cha của chàng và các anh của chàng. Cha của chàng quở trách chàng, ông nói với chàng: “Giấc mơ mà con thấy đó có ý nghĩa gì? Không lẽ ta, mẹ của con, và các anh em của con sẽ đến sấp mình xuống đất trước mặt của con hay sao?” 11. Các anh của chàng càng ghét chàng hơn, nhưng cha của chàng thì ghi nhớ điều đó.
- Sau đó, các anh của chàng đi chăn bầy cho cha của họ tại Si-chem. 13. Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sép: “Các anh của con đang chăn bầy tại Si-chem phải không? Hãy lại đây. Cha muốn sai con đi thăm chúng nó.” Chàng đáp: “Có con đây.” 14. Rồi ông nói với chàng: “Con hãy đi và xem các anh của con có mạnh khỏe không, các bầy súc vật có khỏe không, rồi trở về báo cho cha.” Vì vậy ông đã đưa chàng ra khỏi thung lũng Hếp-rôn, rồi chàng đi đến Si-chem.
- Có người thấy chàng đi lạc trong đồng, người đó hỏi chàng rằng: “Cậu tìm gì vậy?” 16. Chàng trả lời: “Tôi đang tìm các anh của tôi. Xin cho tôi biết họ đang chăn bầy tại đâu.” 17. Người đó nói: “Họ đã rời khỏi đây, bởi vì tôi nghe họ nói: ‘Chúng ta hãy đến Đô-than.’” Vì vậy, Giô-sép tìm theo các anh của mình, và gặp họ tại Đô-than.
- Khi họ thấy chàng từ xa, trước khi chàng đến gần họ, họ đã bàn mưu để giết chàng. 19. Họ nói với nhau: “Kìa, thằng nằm mộng đang đến.” 20. Bây giờ hãy lại đây, chúng ta hãy giết nó rồi vứt xác của nó xuống hố. Chúng ta sẽ nói rằng thú dữ đã ăn nuốt nó, để xem các giấc mộng của nó sẽ ra sao.”
- Nhưng Ru-bên nghe điều nầy, ông tìm cách cứu chàng khỏi tay của họ, ông nói: “Đừng giết nó.” 22. Ru-bên đã nói với họ: “Đừng làm đổ máu, nhưng hãy quăng nó xuống cái hố nầy trong đồng hoang. Chúng ta đừng tra tay trên nó.” Ông định giải cứu chàng khỏi tay của họ, rồi mang chàng về cho cha của mình.
- Vì vậy lúc Giô-sép vừa đến chỗ các anh của mình, họ đã lột chiếc áo choàng của Giô-sép, tức là chiếc áo choàng nhiều màu mà chàng đang mặc. 24. Họ đã bắt chàng rồi quăng chàng xuống hố. Hố trống rỗng, không có nước ở trong đó. 25. Sau đó, họ ngồi xuống dùng bữa. Khi họ ngước mắt lên, họ nhìn thấy một đoàn người Ích-ma-ên đang cỡi lạc đà từ Ga-la-át đến. Các lạc đà chở hương liệu, nhũ hương, và mộc dược đang trên đường xuống Ai Cập. 26. Giu-đa nói với các anh em của mình: “Chúng ta giết em mình rồi giấu máu của nó thì có lợi ích gì? 27. Chúng ta hãy bán nó cho dân Ích-ma-ên. Chúng ta đừng tra tay vào nó, bởi vì nó là em, là cốt nhục của chúng ta.” Các anh em của ông đã nghe theo. 28. Khi các thương nhân người Ma-đi-an đi ngang qua, họ đã kéo Giô-sép lên khỏi hố, rồi bán Giô-sép cho dân Ích-ma-ên với giá hai mươi miếng bạc. Những người đó đã đem Giô-sép xuống Ai Cập.
- Khi Ru-bên trở lại hố, thấy Giô-sép không còn ở trong hố, ông xé trang phục của mình. 30 Ông trở lại với các em của mình và nói: “Thằng nhỏ không còn nữa! Anh biết đi đâu bây giờ.” 31. Họ đã lấy áo choàng của Giô-sép, giết một con dê con, rồi nhúng áo choàng vào trong máu. 32. Họ gởi chiếc áo choàng đó về cho cha của họ và nói: “Chúng con đã tìm thấy cái áo nầy. Xin cha hãy xem có phải đây là áo của con trai cha hay không?” 33. Ông đã nhận ra nó và nói: “Đây là áo của con trai ta. Một thú dữ đã xé xác nó. Giô-sép chắc chắn đã bị xé ra từng mảnh rồi!”
- Gia-cốp đã xé trang phục của mình, quấn vải sô ngang hông, rồi để tang cho con trai của mình nhiều ngày. 35. Tất cả các con trai và con gái của ông đến an ủi ông, nhưng ông không chấp nhận sự an ủi, ông nói: “Ta để tang cho con trai của ta cho đến khi ta xuống phần mộ để gặp nó.” Cha chàng đã khóc thương chàng như vậy.
- Những người Ma-đi-an đã bán chàng tại Ai Cập cho Pô-ti-pha, một vị quan của Pha-ra-ôn, là người chỉ huy vệ binh.
38
- Thời gian trôi qua, có lúc Giu-đa rời khỏi những anh em của mình, đến sống gần một người A-đu-lam, tên là Hi-ra. 2. Tại đó, Giu-đa đã gặp con gái của một người Ca-na-an, tên là Su-a. Ông đã cưới nàng và đến với nàng. 3. Nàng có thai và sinh một con trai. Ông đặt tên là Ê-rơ. 4. Nàng lại có thai nữa, và sinh một con trai. Nàng đặt tên là Ô-nan. 5. Nàng lại có thai một lần nữa, sinh một con trai, và đặt tên là Sê-la. Khi nàng sinh đứa bé nầy, Giu-đa đang ở Kê-xíp.
- Giu-đa đã cưới vợ cho Ê-rơ, con đầu lòng của mình. Tên của nàng là Ta-ma. 7. Tuy nhiên Ê-rơ, con đầu lòng của Giu-đa, là một người gian ác trước mặt Đức Giê-hô-va, cho nên Đức Giê-hô-va đã giết chàng. 8. Giu-đa bảo Ô-nan: “Hãy đến với vợ của anh con, hãy cưới nàng, và nuôi nấng kẻ nối dõi cho anh của con.” 9. Nhưng Ô-nan biết rằng kẻ nối dõi sẽ không thuộc về mình, cho nên lúc đến với vợ của anh mình, thì chàng cho rơi xuống đất để không có kẻ nối dõi cho anh của mình. 10. Việc chàng làm không đẹp lòng Đức Giê-hô-va cho nên Ngài cũng giết chàng. 11. Giu-đa đã nói với Ta-ma, con dâu của mình: “Con hãy sống như một góa phụ tại nhà cha của con cho đến khi Sê-la, con trai của ta, trưởng thành.” Bởi vì ông ngại rằng không khéo nó cũng sẽ chết như hai anh của nó. Vì vậy, Ta-ma đã trở về sống trong nhà cha của nàng.
- Sau một thời gian, con gái của Su-a, vợ của Giu-đa, qua đời. Khi Giu-đa đã bớt đau buồn, ông cùng với bạn của mình là Hi-ra, người A-đu-lam, đi đến với những người thợ hớt lông chiên của ông tại Thim-na. 13. Ta-ma được thông báo: “Nầy, cha chồng của cô đang đi lên Thim-na để hớt lông chiên.” 14. Ta-ma đã cởi bỏ trang phục góa phụ khỏi nàng. Nàng lấy voan phủ cả người, rồi ngồi bên lối vào Ê-na-im, trên đường đi về Thim-na. Nàng đã làm như vậy bởi vì nàng thấy Sê-la đã trưởng thành nhưng nàng vẫn chưa được làm vợ của chàng.
- Khi Giu-đa thấy nàng, ông tưởng nàng là một cô gái mại dâm, bởi vì nàng đã che mặt của nàng lại. 16. Ông đã rẽ lối đi về phía nàng, rồi nói: “Cho tôi đến với cô” – bởi vì ông không biết nàng là con dâu của mình. Nàng hỏi: “Ông sẽ cho tôi thứ gì để đến với tôi?” 17. Ông nói: “Tôi sẽ gửi cho cô một con dê con từ trong bầy của tôi.” Nàng nói: “Chỉ khi nào ông trao cho tôi vật gì để làm tin cho đến khi ông gửi nó đến cho tôi.” 18. Ông hỏi: “Tôi sẽ trao cho cô vật gì để làm tin bây giờ?” Nàng nói: “Con dấu, với sợi dây, và cây gậy mà ông đang cầm trên tay.” Ông trao chúng cho nàng, rồi đến với nàng, và nàng đã thụ thai bởi ông. 19. Rồi nàng đứng dậy và đi khỏi đó. Nàng gỡ bỏ voan và mặc lại trang phục của một góa phụ.
- Giu-đa đã nhờ tay của người bạn tại A-đu-lam mang một dê con đến để chuộc lại những vật đã làm tin từ tay của người phụ nữ, nhưng ông không tìm được nàng. 21. Ông đã hỏi những người ở tại đó rằng: “Cô gái mại dâm bên đường đến Ê-na-im, ở đâu?” Họ trả lời: “Ở đây không có gái mại dâm.” 22. Vì vậy, người đó đã trở về nói với Giu-đa: “Tôi không tìm thấy cô ta, và những người ở đó nói rằng tại đó không có gái mại dâm.” 23. Giu-đa nói: “Thôi cứ để nàng giữ những vật đó cho chính mình, đừng để chúng ta bị chê cười; bởi vì tôi đã gửi con dê con nầy, nhưng anh không tìm được nàng.”
- Thời gian trôi qua, khoảng ba tháng sau, Giu-đa được báo tin rằng: “Xem nầy, Ta-ma, con dâu của ông là kẻ dâm loạn. Nó đang có thai.” Giu-đa nói: “Hãy đem nó ra thiêu sống.” 25. Khi nàng bị đem ra, nàng nhắn với cha chồng của mình rằng: “Con mang thai từ người sở hữu những vật nầy. Xin hãy xem cái ấn, sợi dây và cây gậy nầy là của ai.” 26. Giu-đa đã nhìn nhận, rồi nói: “Nàng đúng hơn ta, bởi vì ta đã không trao Sê-la, con trai của ta, cho nàng.” Rồi ông không hề biết nàng thêm một lần nào nữa.
- Thời gian trôi qua, đến lúc sinh, dạ của nàng có thai đôi. 28. Lúc nàng đang sinh, một đứa đã thò tay ra. Bà mụ đã nắm tay của nó, buộc vào một sợi chỉ đỏ, rồi nói: “Đứa nầy ra trước.” 29. Sau đó, nó lại rút tay vào, và kìa, em của nó lại ra. Bà mụ nói: “Làm sao mà mầy phá rào chui ra trước được như vậy?” Vì thế, tên của nó được gọi là Phê-rết. 30. Sau đó, anh của nó – là đứa trên tay có sợi chỉ đỏ – mới ra. Tên của nó được gọi là Sê-rách.
39
- Giô-sép bị đem xuống Ai Cập. Phô-ti-pha, một vị quan người Ai Cập của Pha-ra-ôn, là chỉ huy của các vệ binh, đã mua chàng từ những người Ích-ma-ên, là những người đã đem chàng xuống đó. 2. Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sép, cho nên chàng rất thành công. Chàng sống trong nhà của người chủ Ai Cập. 3. Người chủ thấy rằng Đức Giê-hô-va ở cùng chàng, và tất cả những việc chàng làm Đức Giê-hô-va đã làm cho được thành công trong tay của chàng. 4. Vì vậy Giô-sép được ơn trước mặt chủ và được phục vụ ông ta. Ông đã lập chàng làm quản gia và trao tất cả những gì ông có vào trong tay của chàng.
- Từ khi ông lập chàng làm quản gia và trao tất cả những gì ông có vào trong tay của chàng, Đức Giê-hô-va đã vì Giô-sép mà ban phước cho nhà của người Ai Cập. Phước lành của Đức Giê-hô-va được ban trên tất cả những gì ông có – ở trong nhà cũng như ở ngoài đồng. 6. Vì vậy ông đã trao tất cả những gì ông có vào trong tay của Giô-sép, rồi ông chẳng cần phải bận tâm lo nghĩ điều gì nữa ngoại trừ việc thích ăn món gì mà thôi.
Giô-sép là người có vóc dáng đẹp và gương mặt đẹp. 7. Sau những việc nầy, vợ của chủ đã để mắt trên Giô-sép, và bà nói: “Hãy nằm với ta.” 8. Nhưng chàng đã khước từ và nói với vợ của chủ: “Xin bà hãy xem. Ông chủ của tôi không phải lo lắng với tôi về bất cứ điều gì trong nhà nầy, và ông đã trao tất cả những gì ông có vào trong tay của tôi. 9. Trong nhà nầy, không có ai lớn hơn tôi, và ông cũng không giữ lại bất kỳ điều gì với tôi, ngoại trừ một mình bà, bởi vì bà là vợ của ông. Làm sao tôi có thể làm một việc thật tồi tệ như vậy, và phạm tội với Đức Chúa Trời?” 10. Bà cứ nói với Giô-sép như vậy ngày nầy qua ngày khác, nhưng chàng không chịu nghe lời bà, để nằm với bà hay gần gũi với bà.
- Và rồi có một lần, Giô-sép đã vào trong nhà để làm công việc của mình, nhưng không có một người nào khác ở trong nhà. 12. Bà đã nắm lấy áo của chàng, rồi nói: “Hãy nằm với ta!” Nhưng chàng đã bỏ áo lại trong tay của bà, rồi chạy trốn ra ngoài. 13. Khi bà thấy chàng đã bỏ áo lại trong tay của bà, rồi chạy trốn ra ngoài, 14. bà đã gọi những người trong nhà đến, rồi nói với họ rằng: “Xem nầy! Ông ấy đã đem vào trong nhà nầy một tên Hê-bơ-rơ để làm nhục chúng ta. Nó đã xông vào ta để nằm với ta, nhưng ta đã la thật lớn. 15. Khi nó nghe ta cất tiếng la thật lớn, nó đã bỏ áo của nó lại với ta, rồi chạy trốn ra ngoài.” 16. Bà giữ áo của chàng bên cạnh mình, cho đến khi chủ của chàng về nhà. 17. Bà đã nói với ông những lời như thế nầy: “Thằng nô lệ Hê-bơ-rơ, mà anh đã mang về nhà chúng ta, đã đến và định làm nhục em. 15. Khi em cất tiếng la thật lớn, nó đã bỏ áo của nó lại với em, rồi chạy trốn ra ngoài.”
- Khi ông chủ của chàng nghe những lời vợ của ông nói với ông: “Thằng nô lệ của anh đã làm với em như vậy đó” thì ông phừng phừng nổi giận. 20. Vì vậy ông chủ của Giô-sép đã bắt chàng, rồi tống giam chàng trong nhà ngục, là nơi giam giữ những phạm nhân của vua. Chàng đã bị giam trong ngục đó.
- Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va đã ở cùng Giô-sép và đã bày tỏ sự nhân từ đối với chàng. Ngài đã ban cho chàng được ơn trước mặt viên cai ngục. 22. Viên cai ngục đã trao tất cả những tù nhân trong ngục vào tay của Giô-sép. Tất cả những gì họ làm tại đó đều phải do chàng điều hành. 23. Viên cai ngục không còn bận tâm lo lắng nữa, bởi vì mọi việc đã được trao vào trong tay của chàng. Bởi vì Đức Giê-hô-va ở với chàng, cho nên bất cứ việc gì chàng làm, Đức Giê-hô-va đều làm cho thành công.
40
- Một thời gian sau những việc nầy, quan chước tửu và quan ngự thiện của vua của Ai Cập có lỗi với chúa thượng của họ, là vua của Ai Cập. 2. Pha-ra-ôn đã nổi giận với hai triều thần của ông, tức là quan chước tửu và quan ngự thiện. 3. Ông đã tống giam họ vào ngục, trong dinh của quan chỉ huy vệ binh, tại nhà tù nơi Giô-sép đang bị giam giữ. 4. Quan chỉ huy vệ binh đã giao cho Giô-sép chăm sóc họ và phục vụ họ. Họ bị giam giữ một thời gian.
- Một đêm kia, cả hai quan – quan chước tửu và quan ngự thiện của vua của Ai Cập – đang khi bị tù đều thấy một giấc mơ. Mỗi người thấy một giấc mơ, và giấc mơ của mỗi người đều có ý nghĩa riêng. 6. Sáng ngày, Giô-sép đến gặp họ; chàng nhìn họ, và thấy họ buồn rầu. 7. Chàng hỏi các vị triều thần của Pha-ra-ôn đang bị giam trong ngục tại dinh của chủ mình, rằng: “Vì sao hôm nay nét mặt của các ngài lại thảm sầu như vậy?” 8. Họ nói với chàng: “Chúng tôi mỗi người thấy một giấc mơ, nhưng không có ai giải nghĩa.” Giô-sép nói với họ: “Không phải sự giải nghĩa thuộc về Đức Chúa Trời hay sao? Xin vui lòng thuật lại cho tôi.”
- Quan chước tửu thuật lại giấc mơ của mình cho Giô-sép, ông nói với chàng: “Nầy, trong giấc mơ, tôi thấy trước mặt tôi có một cây nho, 10. trên cây nho có ba nhánh. Nó đã đâm chồi, nở hoa, và kết trái thành những chùm nho chín. 11. Trong tay của tôi có cái chén của Pha-ra-ôn, tôi đã hái những trái nho, vắt chúng trong chén của Pha-ra-ôn, rồi dâng chén vào trong tay của Pha-ra-ôn.”
- Giô-sép nói với ông: “Ðây là ý nghĩa của giấc mơ: Ba nhánh chỉ về ba ngày. 13. Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ cất nhắc đầu của ngài lên và phục hồi chức vụ cho ngài. Ngài sẽ dâng chén của Pha-ra-ôn vào tay người như ngài vẫn làm khi trước, vào lúc ngài còn làm quan chước tửu. 14. Khi ngài được tốt đẹp, xin hãy nhớ đến tôi và bày tỏ sự nhân từ đối với tôi. Xin ngài nhắc đến tôi trước mặt Pha-ra-ôn để tôi được ra khỏi nhà ngục nầy. 15. Bởi vì thật ra tôi đã bị bắt cóc khỏi xứ của người Hê-bơ-rơ, và tại đây tôi đã không làm điều gì sai phạm đến nỗi phải bị giam vào trong ngục.”
- Quan chánh ngự thiện thấy lời giải nghĩa tốt, ông đã nói với Giô-sép: “Tôi cũng có một giấc mơ. Trên đầu tôi có ba giỏ bánh màu trắng. 17. Giỏ trên cùng có đủ loại bánh nướng cho Pha-ra-ôn dùng, và những con chim đã ăn chúng trong giỏ trên đầu của tôi.”
- Giô-sép nói với ông: “Ðây là ý nghĩa của giấc mơ: Ba giỏ bánh là ba ngày. 19. Ba ngày nữa Pha-ra-ôn sẽ cất đầu của ngài khỏi thân của ngài. Ngài sẽ bị treo trên cây, và chim sẽ ăn thịt của ngài.”
- Đến ngày thứ ba, là sinh nhật của Pha-ra-ôn, vua mở tiệc thết đãi tất cả triều thần của mình. Vua đem quan chước tửu và quan ngự thiện lên, rồi đặt họ ở giữa những triều thần của mình. 21. Vua phục hồi chức vụ cho quan chước tửu, và rồi quan đã dâng rượu vào tay của Pha-ra-ôn. 22. Nhưng quan ngự thiện bị treo cổ, đúng như điều Giô-sép đã giải thích cho họ. 23. Nhưng quan chước tửu không nhớ đến Giô-sép, và ông đã quên chàng.
41
- Thời gian trôi qua, đến cuối năm thứ hai, Pha-ra-ôn nằm mơ. Kìa, ông đứng bên bờ sông Nin. 2. Thình lình từ sông Nin có bảy con bò đi lên, thân hình trông thật béo tốt. Chúng đang ăn trong những bưng biền. 3. Và rồi, theo sau chúng, từ sông Nin lại có bảy con bò khác đi lên, thân hình trông thật gầy ốm, chúng cùng đứng với những con bò kia trên bờ sông. 4. Những con bò có thân hình trông thật gầy ốm đã ăn những con bò có thân hình trông thật béo tốt. Và rồi, Pha-ra-ôn thức dậy.
- Ông lại ngủ, rồi nằm mơ lần thứ hai. Kìa, có bảy gié lúa tươi tốt mập mạnh mọc ra từ một cọng lúa. 6. Và rồi sau đó có bảy gié lúa gầy guộc, bị gió đông vùi dập, đã mọc ra. 7. Bảy gié lúa gầy guộc nuốt trọn bảy gié lúa mập mạnh sung mãn. Pha-ra-ôn đã thức dậy và biết rằng đó chỉ là một giấc mơ.
- Đến sáng, tâm thần của ông bối rối, ông truyền cho gọi tất cả các thuật sĩ và những nhà thông thái của Ai Cập đến. Pha-ra-ôn đã thuật lại cho họ những giấc mơ của mình nhưng không một ai giải thích được ý nghĩa của những giấc mơ đó cho Pha-ra-ôn.
- Lúc nầy, quan chánh chước tửu đã tâu với Pha-ra-ôn rằng: “Hôm nay tôi sực nhớ lại những lầm lỗi của mình. 10. Trước đây, Pha-ra-ôn đã nổi giận cùng các bề tôi của ngài. Ngài đã giam tôi – thật ra là tôi và quan ngự thiện – trong ngục tại dinh của quan chỉ huy quân thị vệ. 11. Một đêm kia, tôi và ông ấy, mỗi người có một giấc mơ – mỗi giấc mơ của chúng tôi có ý nghĩa riêng của nó. 12. Cùng trong ngục với chúng tôi có một thanh niên người Hê-bơ-rơ, là nô lệ của quan chỉ huy quân thị vệ. Chúng tôi đã thuật lại những giấc mơ của chúng tôi cho chàng. Chàng đã giải thích ý nghĩa giấc mơ cho mỗi người; 13. và rồi, việc đã xảy ra đúng như lời chàng đã giải thích: Ngài đã phục chức cho tôi, còn ông ta đã bị treo cổ.”
- Pha-ra-ôn truyền cho gọi Giô-sép. Người ta nhanh chóng đưa chàng ra khỏi ngục. Chàng được cạo râu cắt tóc, thay đổi y phục, rồi vào chầu Pha-ra-ôn. 15. Pha-ra-ôn đã nói với Giô-sép rằng: “Ta có một giấc mơ nhưng không ai giải thích được. Ta nghe nói về ngươi rằng ngươi có thể hiểu giấc mơ và giải thích nó.”
- Giô-sép trả lời Pha-ra-ôn rằng: “Điều đó không thuộc về tôi. Ðức Chúa Trời sẽ ban lời giải đáp. Nguyện Pha-ra-ôn được an khương.”
- Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Nầy, trong giấc mơ, ta đang đứng trên bờ sông Nin. 18. Thình lình từ dưới sông Nin có bảy con bò đi lên, thân hình trông thật béo tốt. Chúng đang ăn trong những bưng biền. 19. Và rồi, theo sau chúng, từ sông Nin lại có bảy con bò khác đi lên, thân hình trông thật gầy gò xấu xí. Ta chưa hề thấy những con bò nào xấu xí như thế trong toàn xứ Ai Cập. 20. Và rồi bảy con bò gầy gò xấu xí đã ăn bảy con bò béo tốt trước đó. 21. Mặc dù chúng đã nuốt những con kia như vậy, nhưng không ai biết rằng chúng đã nuốt những con kia, bởi vì chúng vẫn còn xấu xí y như trước. – Và rồi ta thức giấc. 22. Ta lại thấy trong giấc mơ của mình: Kìa, có bảy gié lúa sung mãn tươi tốt mọc ra từ một cọng lúa. 23. Và rồi sau đó có bảy gié lúa gầy guộc, khô héo, bị gió đông vùi dập, đã mọc ra. 24. Bảy gié lúa gầy guộc đã nuốt trọn bảy gié lúa tươi tốt. Ta đã thuật cho các thuật sĩ nhưng không ai có thể giải thích cho ta.”
- Giô-sép nói với Pha-ra-ôn: “Các giấc mơ của Pha-ra-ôn chỉ là một. Ðức Chúa Trời đã bày tỏ cho Pha-ra-ôn việc Ngài sẽ thực hiện. 26. Bảy con bò béo tốt là bảy năm. Bảy bông lúa tốt cũng là bảy năm. Các giấc mơ đó chỉ là một. 27. Bảy con bò xấu xí, gầy gò đi lên sau đó là bảy năm; và bảy bông lúa lép bị tàn tạ vì gió đông là bảy năm đói kém. 28. Như tôi đã trình bày cho Pha-ra-ôn: Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho Pha-ra-ôn việc Ngài sẽ thực hiện. 29. Thật vậy, sẽ có bảy năm được mùa sung túc trong cả Ai Cập. 30. Nhưng sau đó là bảy năm đói kém. Tất cả những sự sung túc trong xứ Ai Cập sẽ bị quên lãng, và nạn đói sẽ làm cho xứ sở kiệt quệ. 31. Bởi vì nạn đói theo sau quá nghiêm trọng cho nên trong xứ sẽ không còn biết đến sự sung túc nữa. 32. Giấc mơ đã được lặp lại cho Pha-ra-ôn hai lần bởi vì Ðức Chúa Trời đã quyết định thực hiện điều nầy, và Ðức Chúa Trời sắp thực hiện điều nầy. 33. Vì vậy, Pha-ra-ôn hãy chọn một người khôn ngoan biết suy xét, rồi lập người đó lãnh đạo trên cả xứ Ai Cập. 34. Xin Pha-ra-ôn cho người bổ nhiệm các viên chức trong cả xứ để thu một phần năm hoa lợi của đất trong bảy năm được mùa tại Ai Cập. 35. Hãy để cho họ thu thập thực phẩm trong những năm được mùa sắp đến, rồi thâu trữ lúa để dự trữ làm lương thực trong các thành phố thuộc quyền cai trị của Pha-ra-ôn. 36. Đó sẽ là thực phẩm dự trữ cho cả xứ trong bảy năm đói kém – là điều sẽ xảy ra trong xứ Ai Cập – để xứ nầy sẽ không bị tiêu diệt trong thời đói kém.”
- Lời khuyên nầy tốt đẹp trong mắt của Pha-ra-ôn và trong mắt của các quần thần.
- Pha-ra-ôn nói với các quần thần của mình: “Chúng ta có thể nào tìm được một người như người nầy – là người có Thần của Đức Chúa Trời ở cùng?”
- Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Bởi vì Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho ngươi biết tất cả những điều nầy, cho nên không ai khôn ngoan và biết suy xét hơn ngươi. 40. Ngươi sẽ lãnh đạo cả nhà của ta. Toàn dân của ta sẽ phục tùng mệnh lệnh của ngươi. Ta chỉ lớn hơn ngươi vì ngôi vua mà thôi.”
- Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Nầy, ta lập ngươi lãnh đạo cả xứ Ai Cập.” 42. Pha-ra-ôn đã tháo ấn nhẫn ra khỏi tay của mình rồi đeo vào tay của Giô-sép, đã mặc trang phục bằng gải vai mịn cho chàng, và đeo vòng vàng vào cổ của chàng. 43. Ông đặt chàng ngồi trên xa giá thứ hai của mình, rồi cho người đi trước hô rằng: “Hãy quỳ xuống!” Ông đã lập chàng lãnh đạo trên cả xứ Ai Cập.
- Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Ta là Pha-ra-ôn, nhưng nếu không có lệnh của ngươi, thì không ai trong cả xứ Ai Cập nầy có thể nhấc tay hoặc nhấc chân lên.” 45. Pha-ra-ôn đã đặt tên cho Giô-sép là Xa-phơ-nát Pha-nê-ách, và gả Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, tư tế tại thành Ôn, cho chàng làm vợ. Giô-sép đã đi tuần hành khắp xứ Ai Cập.
- Giô-sép được ba mươi tuổi khi chàng trình diện Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập. Giô-sép đã rời khỏi triều đình Pha-ra-ôn, rồi đi tuần hành cả xứ Ai Cập. 47. Trong bảy năm được mùa, đất sinh hoa lợi dư dật. 48. Ông đã thâu trữ tất cả lương thực sản xuất trong bảy năm được mùa tại Ai Cập và trữ lương thực trong những thành phố. Tại mỗi thành phố, ông thâu trữ hoa lợi từ những đồng ruộng xung quanh. 49. Giô-sép đã thâu trữ rất nhiều lúa mì – nhiều như cát biển – đến nỗi ông không thể đếm nữa, bởi vì không thể đo lường được.
- Hai con trai đã được sinh cho Giô-sép trước năm nạn đói xảy ra. Đó là những đứa con mà Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, tư tế tại thành Ôn, đã sinh cho ông. 51. Giô-sép đã đặt tên con đầu lòng là Ma-na-se, bởi vì “Đức Chúa Trời đã làm cho tôi quên tất cả những gian truân, cùng cả gia đình thân phụ của tôi.” 52. Ông đặt tên cho đứa thứ nhì là Ép-ra-im, bởi vì “Đức Chúa Trời đã làm cho tôi được thịnh vượng tại xứ mà tôi đã chịu đau khổ.”
- Bảy năm được mùa tại xứ Ai Cập đã chấm dứt, 54. và rồi bảy năm đói kém bắt đầu đến – y như lời Giô-sép đã nói. Nạn đói xảy ra khắp nơi, nhưng tại xứ Ai Cập vẫn có lương thực. 55. Khi toàn thể xứ Ai Cập bị đói, dân chúng đã đến kêu nài với Pha-ra-ôn để xin lương thực. Pha-ra-ôn đã nói với toàn dân Ai Cập: “Hãy đến với Giô-sép, và hãy làm theo những gì mà ông ấy truyền cho các ngươi.”
- Nạn đói đã lan ra khắp cả mặt đất, Giô-sép đã mở tất cả những kho dự trữ để bán cho người Ai Cập bởi vì nạn đói đã trở nên trầm trọng tại xứ Ai Cập. 57. Tất cả những xứ khác đã đến Ai Cập để mua lương thực từ Giô-sép, bởi vì nạn đói đã trầm trọng khắp mọi nơi.
42
- Khi Gia-cốp biết rằng tại Ai Cập có lúa, ông đã nói với các con trai của mình: “Tại sao các con cứ nhìn lẫn nhau?” 2. Ông nói tiếp: “Cha nghe rằng tại Ai Cập có lúa. Hãy đi xuống đó rồi mua về cho chúng ta, để chúng ta có thể sống và khỏi chết.” 3. Vì vậy, mười anh trai của Giô-sép đã đi xuống Ai Cập để mua lúa. 4. Tuy nhiên, Gia-cốp không cho Bên-gia-min, em trai của Giô-sép, đi theo các anh của chàng, bởi vì ông nói: “Đừng để nguy hiểm có thể xảy ra cho nó?” 5. Vì vậy, các con trai của Y-sơ-ra-ên cũng ở trong số những người đi mua lúa – bởi vì nạn đói cũng xảy ra tại xứ Ca-na-an.
- Lúc nầy Giô-sép là người cầm quyền trong đất nước. Ông là người bán lúa cho mọi người trong đất nước. Các anh của Giô-sép đã đến, rồi quỳ sấp mặt xuống đất trước mặt ông. 7. Giô-sép nhìn thấy các anh của mình, ông nhận ra họ, nhưng ông cư xử với họ như một người xa lạ, và hỏi họ cách thô bạo: “Các ngươi từ đâu đến?” Họ trả lời: “Từ xứ Ca-na-an đến để mua lương thực.”
- Giô-sép đã nhận ra các anh của mình, nhưng họ không nhận ra ông. 9. Giô-sép nhớ lại những giấc mộng mà ông đã thấy về họ, ông nói với họ: “Các ngươi là gián điệp đến đây để do thám những chỗ sơ hở của xứ nầy.” 10. Họ nói với ông: “Thưa chúa! Không phải như vậy. Các tôi tớ của ngài đến để mua lương thực. 11. Tất cả chúng tôi đều là con của một người. Chúng tôi là những người chân thật. Các tôi tớ của ngài không phải là gián điệp.” 12. Nhưng ông nói với họ: “Không! Các ngươi đến để tìm những sơ hở của xứ nầy.” 13. Họ nói: “Các đầy tớ của ngài có mười hai anh em. Chúng tôi là con trai của một người tại xứ Ca-na-an – Đứa em út hiện nay đang ở với cha của chúng tôi, và một người thì không còn nữa.” 14. Nhưng Giô-sép nói với họ: “Đúng như ta đã nói với các ngươi rằng các ngươi là gián điệp. 15. Đây là cách để kiểm chứng: Ta lấy sinh mạng của Pha-ra-ôn thề rằng: Các ngươi sẽ không thể nào rời khỏi nơi nầy cho đến khi em út của các ngươi đến đây. 16. Hãy sai một người trong vòng các ngươi đem người em đó của các ngươi đến, còn các ngươi sẽ bị giam vào ngục. Điều đó sẽ thử nghiệm lời của các ngươi là đúng sự thật. Nếu không, ta lấy sinh mạng của Pha-ra-ôn khẳng định rằng các ngươi là gián điệp.” 17. Vì vậy, ông đã giam họ trong tù ba ngày.
- Ðến ngày thứ ba, Giô-sép nói với họ: “Hãy làm thế nầy để các ngươi được sống – bởi vì ta kính sợ Ðức Chúa Trời. 19. Nếu các ngươi là những người chân thật, một trong những anh em của các ngươi sẽ bị giam trong ngục thất, còn các ngươi thì hãy đi đem lúa về, bởi vì gia đình đang đói. 20. Hãy đem em út của các ngươi đến cho ta để xác chứng những lời của các ngươi, và để cho các ngươi khỏi chết.” Họ đã làm như vậy.
- Họ đã nói với nhau: “Thật vậy, chúng ta đã phạm tội với em của chúng ta. Chúng ta đã thấy nỗi khổ đau trong tâm hồn của nó khi nó nài xin chúng ta, nhưng chúng ta đã không nghe. Vì vậy, sự khổ đau nầy đã đến trên chúng ta.” 22. Ru-bên đã nói với họ: “Không phải anh đã nói với các em: ‘Ðừng phạm tội với thằng bé’ nhưng các em đã không lắng nghe. Vì vậy, xem nầy, máu của nó đang bị đòi trở lại.”
- Họ không biết rằng Giô-sép hiểu điều họ nói – bởi vì ông đã nói chuyện với họ qua một người thông ngôn. 24. Ông đã đi sang một nơi khác và khóc. Sau đó, ông trở lại để nói chuyện với họ. Ông đã bắt Si-mê-ôn giữa vòng họ, rồi trói người trước mắt họ. 25. Sau đó, Giô-sép đã truyền lịnh đổ đầy lúa vào các bao của họ, trả lại bạc vào trong bao của mỗi người, rồi cung cấp cho họ lương thực để đi đường. Ông đã làm như vậy cho họ.
- Sau đó, họ đã chất lúa lên lừa rồi ra đi. 27. Đến chỗ trọ, một người mở bao lấy lúa cho lừa ăn thì thấy bạc của mình tại đó – ngay tại miệng bao. 28. Người đó nói với các anh em của mình: “Bạc mua lúa của tôi đã được trả lại. Nó nằm trong bao lúa của tôi!” Tinh thần của họ suy sụp, họ sợ hãi nói với nhau: “Ðức Chúa Trời đã làm gì cho chúng ta thế nầy?”
- Họ đã trở về với Gia-cốp, cha của họ tại xứ Ca-na-an, rồi thuật lại cho ông tất cả những gì đã xảy ra cho họ. Họ nói rằng: 30. “Người làm chúa tể của xứ nói chuyện với chúng con cách thô bạo. Ông đã bảo chúng con đến để do thám xứ của ông. 31. Nhưng chúng con đã trả lời rằng: ‘Chúng tôi là những người thành thật, không phải là gián điệp. 32. Chúng tôi có mười hai anh em, là con trai của cùng một cha. Một người thì không còn nữa, và người em út hiện đang ở nhà với cha của chúng tôi tại Ca-na-an.’ 33. Nhưng người đang làm chúa tể của xứ đã bảo: ‘Đây là cách giúp ta biết các ngươi là người thành thật. Hãy để một người trong các ngươi ở lại đây với ta, rồi các ngươi hãy đi, đem lúa về cho gia đình đang đói; 34. và rồi hãy đem người em út đến cho ta. Như vậy, ta sẽ biết rằng các ngươi không phải là gián điệp mà là những người thành thật. Ta sẽ phóng thích người anh em kia, và các ngươi sẽ được buôn bán tại xứ nầy.’”
- Sau đó, họ trút lúa ra khỏi bao. Thật kinh ngạc, túi bạc của mỗi người đều ở trong bao của mình. Khi thấy những túi bạc, họ và cha của họ đều sợ hãi. 36. Gia-cốp, cha của họ, đã nói với họ: “Các con đã làm mất đi những đứa con của cha. Giô-sép đã không còn, Si-mê-ôn cũng không còn, và các con còn muốn dẫn Bên-gia-min đi. Tất cả những việc nầy đều chống nghịch lại cha.”
- Ru-bên đã thưa với cha của mình rằng: “Xin cha giao em cho con, con sẽ đem em về cho cha. Nếu con không đem em về cho cha, xin cha hãy giết hai đứa con của con.” 38. Nhưng ông nói: “Con trai của cha sẽ không đi xuống với các con, bởi vì anh của nó đã chết, chỉ còn lại một mình nó. Nếu có chuyện gì bất hạnh xảy ra cho nó dọc đường các con đi, các con sẽ làm cho mái đầu bạc nầy của cha phải mang u sầu xuống âm phủ.”
43
- Lúc nầy nạn đói trong xứ trở nên trầm trọng. 2. Thời gian trôi qua, khi họ đã ăn hết lúa được mang về từ Ai Cập, cha của họ đã nói với họ: “Hãy trở lại và mua một ít lương thực nữa.”
- Nhưng Giu-đa đã nói với ông: “Người đó đã nghiêm khắc cảnh cáo chúng con rằng: ‘Các ngươi sẽ không thấy mặt ta, trừ khi có em của các ngươi cùng đi với các ngươi.’ 4. Nếu cha cho em đi với chúng con, chúng con sẽ xuống đó mua lương thực về cho cha. 5. Nhưng nếu cha không cho, chúng con sẽ không đi bởi vì người ấy đã nói: ‘Các ngươi sẽ không thấy mặt ta, trừ khi có em của các ngươi cùng đi với các ngươi.’”
- Y-sơ-ra-ên trách: “Tại sao các con hại ta mà nói với người đó rằng các con còn một đứa em nữa?”
- Họ trả lời: “Người đó đã hỏi chúng con thật kỹ về gia đình của mình. Người đó hỏi: ‘Cha của các ngươi còn sống hay không? Các ngươi có còn một anh em nào nữa hay không?’ Chúng con cứ theo lời từ miệng của người đó mà trả lời. Làm thế nào chúng con biết được người đó sẽ nói: ‘Hãy đem em của các ngươi xuống đây.’”
- Giu-đa thưa với Y-sơ-ra-ên, cha của mình: “Xin cha cho thằng bé đi với con. Chúng con sẽ đứng dậy đi ngay để tất cả chúng ta được sống – để cả chúng con, cha, và các cháu nhỏ đều khỏi phải chết. 9. Con xin cam đoan: Nếu con không đem nó về cho cha và đặt nó tại đây trước mặt cha, thì cha sẽ đòi nó lại nó từ tay của con và con sẽ chịu tội đó mãi mãi. 10. Bởi vì nếu không trì hoãn thì bây giờ chúng con đã đi được hai chuyến rồi.”
- Sau đó, Y-sơ-ra-ên, cha của họ, đã nói với họ: “Nếu vậy thì hãy làm như thế nầy: Hãy lấy một vài đặc sản trong xứ để vào trong những vật dụng của các con: một ít nhũ hương, một ít mật ong, hương liệu, mộc dược, hạt dẻ và hạnh nhân, rồi mang đến làm quà cho người đó. 12. Hãy đem theo trong tay của các con số bạc gấp đôi, và chính tay của các con hãy trả lại số bạc đã để trong miệng bao của các con. Có lẽ đó là một sự lầm lẫn. 13. Hãy dẫn theo em của các con, hãy đứng dậy, để trở lại gặp người đó. 14. Cầu xin Ðức Chúa Trời Toàn Năng ban cho các con được sự thương xót trước mặt người đó, để người đó tha đứa anh em kia của các con, và cả Bên-gia-min. Về phần cha, nếu cha phải bị mất con, thì cha đành chịu mất con.”
- Vì vậy, những người đó đã đem theo quà tặng, cầm trong tay một số tiền gấp đôi, dẫn Bên-gia-min, và đứng dậy đi xuống Ai Cập, rồi đến chầu Giô-sép.
- Khi Giô-sép thấy Bên-gia-min đến với họ, ông nói với người quản gia của mình: “Hãy đưa những người nầy về nhà của ta. Hãy giết một con thú làm thịt, chuẩn bị bữa tiệc, vì trưa nay những người nầy sẽ dùng bữa với ta.” 17. Người đó đã làm theo lệnh của Giô-sép, và ông đã đưa những người nầy đến nhà của Giô-sép.
- Những người nầy sợ hãi bởi vì họ được dẫn đến nhà của Giô-sép, họ nói: “Chính vì số bạc đã để lại trong bao của chúng ta lần trước mà chúng ta bị đưa vào đây để họ có thể tấn công chúng ta, đè bẹp chúng ta, bắt chúng ta làm nô lệ, rồi chiếm đoạt mấy con lừa của chúng ta.” 19. Vì vậy, tại cửa nhà của Giô-sép, họ đã đến gần người quản gia của Giô-sép, rồi nói với ông 20. rằng: “Thưa chúa, chúng tôi đã đến đây lần thứ nhất để mua lương thực. 21. Sau đó, khi đến nơi cắm trại, chúng tôi mở các bao của mình ra thì đều thấy số bạc để nơi miệng bao của mình. Vì vậy chúng tôi có mang theo đúng cân lượng số bạc đó trong tay của mình. 22. Chúng tôi cũng mang theo số bạc khác để mua lương thực. Chúng tôi không biết ai đã để bạc của chúng tôi trở lại trong bao của chúng tôi.”
- Nhưng người đó nói: “Các ông hãy bình an. Ðừng sợ hãi. Ðức Chúa Trời của các ông và Ðức Chúa Trời của cha của các ông đã ban của cải vào bao của các ông. Tôi đã nhận số bạc của các ông.” Và rồi ông dẫn Si-mê-ôn ra với họ. 24. Sau đó ông đưa họ vào nhà của Giô-sép, đem nước cho họ rửa chân, và đem thức ăn cho những con lừa của họ. 25. Họ chuẩn bị quà, bởi vì Giô-xép sẽ đến vào lúc trưa và bởi vì họ đã nghe rằng họ sẽ được ăn tại đó.
- Khi Giô-sép về đến nhà, họ mang các món quà từ tay của mình đến tặng ông, rồi sấp mặt xuống đất trước mặt ông. 27. Ông hỏi thăm sức khỏe của họ, rồi nói: “Cha của các ngươi, người cha già mà các ngươi đã nói, có mạnh khỏe không? Ông cụ còn sống không?”
- Họ trả lời: “Tôi tớ của ngài, là cha của chúng tôi, còn mạnh khỏe. Ông cụ vẫn còn sống.” Họ lại cúi đầu và sấp mình xuống.
- Ông ngước mắt lên thấy Bên-gia-min, em trai của mình, là con trai của mẹ mình, ông hỏi: “Ðây có phải là người em mà các ngươi đã nói với ta phải không?” Rồi ông nói: “Con ơi! Cầu xin Ðức Chúa Trời đoái thương con.” 30. Giô-sép đã xúc động muốn khóc bởi vì lòng của ông rất thương nhớ em của mình. Ông đã vào phòng riêng để khóc tại đó. 31. Ông rửa mặt, rồi trở ra, tự kiềm chế, và nói: “Hãy dọn ăn.”
- Người ta đã dọn cho ông riêng ra nơi chỗ của ông, và cho họ riêng tại chỗ của họ, và cho những người Ai Cập dùng bữa với ông riêng tại chỗ của những người đó – vì người Ai Cập không thể ăn chung với người Hê-bơ-rơ, bởi vì đối với người Ai Cập, đó là một việc ghê tởm. 33. Họ ngồi đối diện ông, theo thứ tự sinh ra, từ người lớn đến người nhỏ. Họ nhìn nhau kinh ngạc. 34. Ông truyền đem một phần các thức ăn được dọn cho ông đến cho họ, nhưng phần của Bên-gia-min thì nhiều gấp năm lần những người khác. Như vậy, họ đã ăn uống vui vẻ với ông.
44
- Sau đó ông đã truyền cho người quản gia rằng: “Những người nầy chở được bao nhiêu thì hãy đổ đầy lương thực trong bao của họ bấy nhiêu, và rồi hãy để bạc của mỗi người vào trong bao của người đó. 2. Hãy để cái chén của ta – là cái chén bằng bạc – vào miệng bao của người em út, cùng với số bạc mua lúa của người đó.” Ông ta đã làm theo lời Giô-sép căn dặn.
- Vừa rạng sáng, những người đó được phép ra đi – họ cùng với lừa của họ. 4. Khi họ đã đi khỏi thành chưa được bao xa, Giô-sép truyền cho người quản gia của mình: “Hãy đứng lên đuổi theo những người đó. Khi bắt kịp họ, hãy nói với họ: ‘Tại sao các ngươi lấy oán trả ân? 5. Đây không phải là chỉ là vật mà chủ của ta dùng để uống, nhưng chính là vật mà ông dùng để bói toán? Các ngươi đã làm một việc gian ác!’”
- Do đó, ông ta đã đuổi theo họ, rồi nói với họ những lời đó. 7. Họ đã trả lời với ông: “Tại sao chúa của chúng tôi lại nói những lời như vậy? Các tôi tớ của ngài không thể nào làm một việc như vậy. 8. Xin ngài hãy xem: Bạc mà chúng tôi tìm thấy trong miệng bao, chúng tôi còn mang từ Ca-na-an xuống để trả lại cho ngài, thì làm thế nào mà chúng tôi có thể ăn cắp bạc hay vàng trong nhà của chủ ngài được? 9. Nếu vật đó được tìm thấy nơi người nào thì người đó phải chết, còn chúng tôi sẽ làm nô lệ cho chúa của chúng tôi.” 10. Ông đáp: “Được rồi, bây giờ hãy làm như lời các ngươi nói. Nếu vật đó được tìm thấy nơi người nào thì người đó sẽ làm nô lệ cho ta, còn các ngươi sẽ vô tội.”
- Mỗi người đã vội vàng hạ bao của mình xuống đất, họ đã mở bao của từng người. 12. Ông bắt đầu lục soát từ người anh cả cho đến người em út, rồi tìm thấy cái chén trong bao của Bên-gia-min. 13. Họ đã xé trang phục của mình – mỗi người chất đồ lên lừa, rồi trở lại thành phố.
- Giu-đa và các anh em của mình đến nhà của Giô-sép, và ông vẫn còn tại đó. Họ đã sấp mình xuống đất trước mặt ông. 15. Giô-sép nói với họ: “Các ngươi đã làm gì vậy? Các ngươi không biết rằng một người như ta có khả năng bói toán hay sao?” 16. Giu-đa đáp: “Thưa chúa của tôi! Chúng tôi sẽ nói gì đây? Chúng tôi sẽ trình bày điều gì bây giờ? Làm thế nào chúng tôi có thể biện minh cho mình được? Ðức Chúa Trời đã tìm ra tội lỗi của các tôi tớ của ngài. Này, chúng tôi là nô lệ cho chúa của tôi. Chúng tôi cùng với người bị tìm thấy cái chén.” 17. Ông đáp: “Ta sẽ không làm như vậy. Người nào bị tìm thấy cái chén trong tay của mình sẽ làm nô lệ cho ta, còn tất cả các ngươi hãy đi bình an trở về với cha của các ngươi.”
- Giu-đa đến gần ông và nói: “Thưa chúa của tôi! Xin cho tôi tớ của ngài được thưa một lời đến tai của ngài. Xin ngài đừng nổi giận với tôi tớ của ngài, bởi vì ngài như là Pha-ra-ôn. 19. Chúa của tôi đã hỏi các tôi tớ của ngài rằng: ‘Các ngươi còn có cha, hay một anh em nào nữa không?’ 20. Chúng tôi đã thưa với chúa của chúng tôi rằng: ‘Chúng tôi có một người cha, đã già, và một đứa em đã sinh cho người trong tuổi già. Anh ruột của nó đã chết. Nó là đứa con duy nhất còn lại của mẹ nó, và cha thương nó lắm.’ 21. Ngài đã truyền cho các đầy tớ của ngài: ‘Hãy đem nó xuống cho ta để cho ta nhìn thấy nó tận mắt.’ 22. Chúng tôi đã thưa với chúa của tôi rằng: ‘Thằng bé không thể nào lìa khỏi cha được; nếu nó lìa khỏi cha thì người sẽ chết.’ 23. Nhưng ngài đã nói với các tôi tớ của ngài: ‘Nếu em út của các ngươi không theo xuống với các ngươi, thì các ngươi sẽ không bao giờ thấy mặt của ta.’ 24. Cho nên khi chúng tôi quay về với kẻ tôi tớ của ngài, là cha của tôi, chúng tôi có thuật lại cho người nghe những lời của chúa. 25. Khi cha của chúng tôi bảo: ‘Các con hãy trở xuống để mua một ít lương thực cho chúng ta.’ 26. Chúng tôi đã thưa rằng: ‘Chúng con không thể nào xuống đó. Nhưng nếu em út cùng đi với chúng con thì chúng con sẽ đi. Bởi vì chúng con không thể nào gặp mặt người đó nếu em út không đi với chúng con.’ 27. Kẻ tôi tớ của ngài, là cha của tôi, đã nói với chúng tôi: ‘Các con biết rằng vợ của ta đã sinh cho ta hai đứa con trai. 28. Một đứa đã lìa khỏi cha – và cha nghĩ rằng chắc nó đã bị xé xác từng mảnh, bởi vì cho đến bây giờ cha vẫn chưa gặp lại nó. 29. Nhưng nếu các con dẫn đứa nầy rời khỏi cha, lỡ có nguy hiểm nào xảy ra cho nó, các con sẽ làm cho cha phải mang mái đầu bạc đau khổ nầy đi vào âm phủ.’ 30. Vì vậy, khi tôi về với cha của tôi, là tôi tớ của ngài, mà đứa trẻ không về cùng chúng tôi, và vì linh hồn của cha chúng tôi gắn bó với linh hồn của nó, 31. và rồi khi ông cụ không thấy thằng bé, ông cụ sẽ chết. Và như vậy các tôi tớ ngài đã làm cho đầu bạc của cha chúng tôi, là tôi tớ của ngài, phải đau buồn xuống âm phủ. 32. Bởi vì kẻ tôi tớ này của ngài đã cam đoan về thằng bé với cha của tôi rằng: ‘Nếu con không đem em về cho cha, thì con sẽ mang tội với cha mãi mãi.’ 33. Vì vậy bây giờ xin cho đầy tớ của ngài được làm nô lệ của ngài thay cho thằng bé, và xin cho thằng bé trở về cùng các anh của nó. 34. Bởi vì làm thế nào tôi có thể về gặp cha tôi nếu thằng bé không về với tôi? Tôi không thể nào nhìn thấy thảm họa xảy đến cho cha của tôi.”
45
- Giô-sép không thể kiềm chế chính mình trước mặt những người đứng bên cạnh nữa, ông đã quát lớn: “Mọi người hãy ra khỏi đây!” Vì vậy, không còn ai đứng bên cạnh Giô-sép khi ông bày tỏ chính mình cho các anh em của ông. 2. Ông đã khóc lớn đến nỗi người Ai Cập nghe và triều đình của Pha-ra-ôn cũng nghe nữa. 3. Giô-sép đã nói với các anh em của mình: “Tôi là Giô-sép đây. Cha của tôi có còn sống hay không?” Tuy nhiên các anh em của ông đều không thể trả lời, bởi vì họ kinh hãi trước sự hiện diện của ông.
- Giô-sép nói với những anh em của mình: “Hãy lại gần tôi.” Họ đã lại gần, rồi ông nói với họ: “Tôi là Giô-sép, là em trai của các anh, là người mà các anh đã bán sang Ai Cập. 5. Nhưng bây giờ, các anh đừng đau buồn hay tức giận chính mình vì đã bán tôi sang đây. Bởi vì để bảo tồn sự sống, Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh. 6. Bây giờ nạn đói trong xứ mới có hai năm, còn năm năm nữa sẽ không ai có thể cày cấy hoặc gặt hái gì được. 7. Ðức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh để bảo tồn dòng dõi của các anh trên đất, và cứu mạng sống của các anh bằng một sự giải cứu lớn lao. 8. Vì vậy, không phải các anh mà chính Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây. Ngài đã lập tôi làm cha của Pha-ra-ôn, làm chúa của triều đình, và cai trị toàn cõi Ai Cập. 9. Hãy mau mau trở về gặp cha của tôi và thưa với người rằng: ‘Giô-sép, con trai của cha, nói thế nầy: Đức Chúa Trời đã lập con làm chúa của cả Ai Cập. Xin hãy xuống đây với con, đừng chậm trễ. 10. Cha sẽ cư ngụ tại Gô-sen. Cha với các con, các cháu của cha, bầy chiên, bầy bò cùng tất cả những gì thuộc về cha sẽ ở gần con. 11. Con sẽ chu cấp cho cha tại đó, bởi vì vẫn còn năm năm đói kém nữa. Nếu không, cha và nhà của cha, cùng tất cả những gì thuộc về cha, sẽ bị mất hết. 12. Hãy xem nầy, chính mắt các anh và mắt của Bên-gia-min, em của tôi, đã nhìn thấy rằng chính miệng của tôi đã nói với các anh. 13. Các anh hãy thuật lại cho cha về mọi vinh dự của tôi tại Ai Cập, và tất cả những gì các anh em đã thấy, rồi hãy mau chóng đưa cha xuống đây.”
- Sau đó, ông đã ôm cổ Bên-gia-min, em trai của mình, mà khóc. Bên-gia-min cũng khóc trên cổ của ông. 15. Ông hôn tất cả các anh của mình và khóc với họ. Sau đó, các anh em của ông đã trò chuyện với ông.
- Triều đình của Pha-ra-ôn được nghe báo rằng các anh em của Giô-sép đã đến. Điều này đẹp mắt Pha-ra-ôn và đẹp mắt những triều thần của ông. 17. Pha-ra-ôn đã nói với Giô-sép: “Hãy nói với các anh em của ngươi làm điều nầy. Hãy chất đồ lên súc vật của các ngươi, khởi hành trở về Ca-na-an, 18. rồi đưa cha của các ngươi và những gia đình của các ngươi đến với ta. Ta sẽ ban cho các ngươi vùng đất tốt nhất của Ai Cập, và các ngươi sẽ hưởng sự mầu mỡ của xứ. 19. Các ngươi được lệnh để làm điều nầy. Các ngươi hãy lấy xe của Ai Cập để chở những con nhỏ của các ngươi, những người vợ của các ngươi, rồi đưa cha của các ngươi đến đây. 20. Mắt của các ngươi đừng tiếc những tài sản của mình, bởi vì những gì tốt nhất của xứ Ai Cập sẽ thuộc về các ngươi.”
- Các con trai của Y-sơ-ra-ên đã làm đúng như vậy. Giô-sép theo lệnh của Pha-ra-ôn đã cấp xe cho họ, và ông cũng ban cho họ thực phẩm đi đường. 22. Ông tặng cho mỗi người một bộ quần áo, nhưng Bên-gia-min thì ông tặng ba trăm miếng bạc và năm bộ quần áo. 23. Ông cũng gởi về cho cha mười con lừa chở đầy những vật quý nhất trong xứ Ai Cập, và mười con lừa cái chở lúa, bánh, và lương thực để cha dùng trong lúc đi đường.
- Ông đã tiễn các anh em của mình đi, và nói với họ: Đừng tranh cãi nhau dọc đường. 25. Sau đó, họ từ xứ Ai Cập trở lên xứ Ca-na-an, để về với Gia-cốp, cha của họ. 26. Họ đã thuật lại cho ông rằng Giô-sép vẫn còn sống và đang cai trị cả xứ Ai Cập, nhưng lòng của ông vẫn yên lặng dửng dưng bởi vì ông không tin họ. 27. Nhưng khi họ thuật lại cho ông tất cả những lời của Giô-sép đã nói với họ, và khi ông thấy những xe cộ Giô-sép đã gởi đến để đón ông, thì tâm thần của Gia-cốp, cha của họ, đã hồi tỉnh. 28. Y-sơ-ra-ên nói: “Đủ rồi! Giô-sép, con trai của ta, vẫn còn sống. Ta sẽ đi thăm nó trước khi ta qua đời.”
46
- Y-sơ-ra-ên đã ra đi với tất cả những gì ông có. Ông đã đến Bê-e-sê-ba để dâng những sinh tế cho Đức Chúa Trời của cha của mình là Y-sác.
- Đức Chúa Trời đã phán cùng Y-sơ-ra-ên trong những khải tượng vào ban đêm. Ngài phán: “Hỡi Gia-cốp! Gia-cốp!” Ông đáp: “Có con đây.” 3. Ngài phán: “Ta là Ðức Chúa Trời, tức là Ðức Chúa Trời của cha ngươi. Đừng lo sợ khi đi xuống Ai Cập, bởi vì Ta sẽ làm cho ngươi trở thành một dân lớn tại đó. 4. Ta sẽ đi xuống Ai Cập với ngươi, và chắc chắn Ta sẽ đem ngươi trở lên, chính tay của Giô-sép sẽ vuốt mắt ngươi.”
- Gia-cốp đã đứng lên rời khỏi Bê-e-sê-ba. Các con trai của Y-sơ-ra-ên đã đưa Gia-cốp, cha của họ, với các con cái và những người vợ của họ lên những xe mà Pha-ra-ôn đã gởi lên để chuyên chở. 6. Họ đã mang theo những gia súc và các tài sản của họ mà họ đã sở hữu tại Ca-na-an. Gia-cốp và tất cả dòng dõi của mình đã đi xuống Ai Cập, 7. gồm các con trai, các cháu trai, các con gái, và các cháu gái. Ông đã mang tất cả dòng dõi của ông để theo ông đi xuống Ai Cập.
- Đây là tên các con trai của Y-sơ-ra-ên, tức là những người con trai đã đi xuống Ai Cập cùng với Gia-cốp: Ru-bên, con trai đầu của Gia-cốp. 9. Các con trai của Ru-bên là Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi. 10. Các con trai của Si-mê-ôn là Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha – và Sau-lơ, là con trai của một phụ nữ Ca-na-an. 11. Các con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri. 12. Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, Sê-la, Phê-rết và Xê-rách. Tuy nhiên Ê-rơ và Ô-nan đã chết tại Ca-na-an. Các con trai của Phê-rết là: Hết-rôn và Ha-mun. 13. Các con trai của Y-sa-ca là Thô-la, Phu-va, Gióp, và Sim-rôn. 14. Các con trai của Sa-bu-lôn là Sê-rết, Ê-lôn, và Gia-lê-ên. 15. Những người nầy là các con trai của Lê-a, là những người mà bà đã sinh cho Gia-cốp tại xứ Pha-đan A-ram, cùng với một con gái tên Ði-na. Tất cả mọi con cháu của bà cả nam lẫn nữ là ba mươi ba người.
- Các con trai của Gát là Xi-phi-ôn, Ha-ghi, Su-ni, Ét-bôn, Ê-ri, A-rô-đi và A-rê-li. 17. Các con trai của A-se là Dim-na, Dích-va, Dích-vi, và Bê-ri-a; em gái của họ là Sê-rách. Các con trai của Bê-ri-a là Hê-be và Manh-ki-ên. 18. Những người nầy là các con trai của Xinh-ba đã sinh cho Gia-cốp. Bà là người mà La-ban đã cho Lê-a, con gái của ông. Tất cả con cháu của bà là mười sáu người.
- Các con trai của Ra-chên, vợ của Gia-cốp, là Giô-sép và Bên-gia-min. 20. Ma-na-se và Ép-ra-im là những người mà Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, tư tế tại thành Ôn, đã sinh cho Giô-sép tại xứ Ai Cập. 21. Các con trai của Bên-gia-min là Bê-la, Bê-ke, Ách-bên, Giê-ra, Na-a-man, Ê-hi, Rô-sơ, Mốp-bim, Hốp-bim, và A-rết. 22. Những người nầy là các con cháu thuộc về Ra-chên, đã được sinh ra cho Gia-cốp, tổng cộng là mười bốn người.
- Con trai của Đan là Hu-sim. 24. Các con trai của Nép-ta-li là Giát-sê-ên, Gu-ni, Giê-xe, và Si-lem. 25. Những người nầy là các con trai của Bi-la đã sinh cho Gia-cốp. Bà là người mà La-ban đã cho Ra-chên, con gái ông. Tất cả con cháu của bà là bảy người.
- Tất cả những người đi xuống Ai Cập với Gia-cốp, những người từ ông mà sinh ra, không tính vợ của họ, là sáu mươi sáu người. 27. Các con trai của Giô-sép đã sinh tại Ai Cập là hai người. Như vậy, tổng số những người thuộc gia đình của Gia-cốp đã vào Ai Cập là bảy mươi người.
- Giu-đa được sai đi trước để gặp Giô-sép, và đã được hướng dẫn đến Gô-sen. Sau đó, họ đã đến xứ Gô-sen. 29. Giô-sép đã chuẩn bị xe sẵn sàng, ông đã đến gặp Y-sơ-ra-ên, cha của mình, tại Gô-sen. Vừa thấy cha, ông gục đầu vào cổ của cha mình mà khóc một hồi lâu. 30. Y-sơ-ra-ên đã nói với Giô-sép: “Bây giờ cha có thể qua đời, bởi vì cha đã thấy mặt của con và biết rằng con vẫn còn sống.”
- Giô-sép đã nói với các anh em của mình và những người trong gia đình của cha mình: “Tôi sẽ đi lên tâu với Pha-ra-ôn rằng các anh em của tôi và gia đình của cha tôi từ xứ Ca-na-an đã đến với tôi. 32. Họ là những người chăn bầy, bởi vì họ chuyên môn chăn nuôi súc vật. Họ đã đem theo bầy bò, bầy chiên, là tất cả những gì họ có. 33. Vì vậy, khi Pha-ra-ôn cho gọi các anh em mà hỏi rằng: Các ngươi làm nghề gì? 34. Các anh em hãy trả lời: Các tôi tớ của ngài chăn bầy súc vật từ thời niên thiếu cho đến bây giờ. Chúng tôi đang làm như tổ phụ của chúng tôi đã làm. Như vậy, các anh em sẽ được định cư tại vùng Gô-sen, bởi vì người Ai Cập ghê tởm tất cả những người chăn bầy súc vật.”
47
- Giô-sép đã đến thưa với Pha-ra-ôn rằng: “Cha của tôi và các anh em của tôi, cùng với những bầy chiên, bầy bò, và tất cả những gì họ có từ xứ Ca-na-an, đã đến tại xứ Gô-sen.”
- Giô-sép đã dẫn năm người trong các anh em của mình để trình diện với Pha-ra-ôn. 3. Pha-ra-ôn hỏi các anh em của ông: “Nghề nghiệp của các ngươi là gì?” Họ tâu với Pha-ra-ôn: “Các tôi tớ của ngài làm nghề chăn nuôi – giống như các tổ phụ của chúng tôi.” 4. Họ cũng thưa với Pha-ra-ôn: “Chúng tôi đã đến để xin kiều ngụ trong xứ, bởi vì nạn đói tại xứ Ca-na-an quá trầm trọng, không còn đồng cỏ cho những đàn súc vật của các tôi tớ của ngài. Vì vậy xin cho các tôi tớ của ngài được định cư tại Gô-sen.” 5. Pha-ra-ôn đã nói với Giô-sép rằng: “Thân phụ của ngươi và anh em của ngươi đã đến với ngươi. 6. Xứ Ai Cập đang ở trước mặt ngươi. Vùng đất tốt nhất để cha của ngươi ở và các anh em của ngươi ở là xứ Gô-sen; và nếu ngươi biết ai trong vòng họ giỏi nghề chăn nuôi, hãy đặt họ chỉ huy việc chăn nuôi những đàn súc vật của ta.”
- Giô-sép đã đưa cha của mình là Gia-cốp vào yết kiến Pha-ra-ôn. Gia-cốp đã chúc phước cho Pha-ra-ôn. 8. Pha-ra-ôn hỏi Gia-cốp: “Cụ được bao nhiêu tuổi?” 9. Gia-cốp thưa cùng Pha-ra-ôn: “Những năm trong cuộc đời phiêu bạt của tôi là một trăm ba mươi năm. Cuộc đời của tôi chỉ là những năm ngắn ngủi và nhọc nhằn, không thể so sánh với những cuộc đời phiêu bạt nhưng trường thọ của các tổ phụ tôi.” 10. Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn rồi rời khỏi sự hiện diện của vua.
- Theo lệnh của Pha-ra-ôn, Giô-sép đã định cư cha của ông và các anh em của ông, ban cho họ sản nghiệp tại vùng đất tốt nhất trong xứ Ai Cập, là vùng đất tại Ram-se. 12. Giô-sép đã cung cấp thực phẩm cho cha của ông, các anh em của ông, và mọi người trong nhà cha của ông, tùy theo số trẻ em.
- Khắp cả xứ không còn lương thực nữa bởi vì nạn đói trở nên rất trầm trọng. Xứ Ai Cập và xứ Ca-na-an bị kiệt quệ vì nạn đói. 14. Giô-sép thâu tất cả tiền bạc trong xứ Ai Cập và trong xứ Ca-na-an bằng cách bán lúa cho người đến mua, rồi Giô-sép đã đem số tiền đó vào trong nhà của Pha-ra-ôn.
- Khi tiền bạc trong xứ Ai Cập và xứ Ca-na-an đã hết, tất cả những người Ai Cập đã đến nói với Giô-sép: “Xin cấp lương thực cho chúng tôi. Lẽ nào chỉ vì hết tiền mà chúng tôi phải chết trước mặt ngài hay sao?” 16. Giô-sép nói với họ: “Hãy mang súc vật của các ngươi đến. Nếu các ngươi đã hết tiền thì ta sẽ trao đổi với các ngươi bằng những súc vật của các ngươi.” 17. Vì vậy họ đã mang những súc vật của họ đến cho Giô-sép. Giô-sép đã cấp cho họ lương thực để đổi lấy những con ngựa, những bầy chiên, những bầy bò, và những con lừa. Năm đó ông cung cấp lương thực cho họ để đổi lấy tất cả súc vật của họ.
- Khi năm đó đã qua, năm sau họ đến với ông, rồi nói với ông: “Thưa chúa! Chúng tôi không giấu gì ngài: Tất cả tiền bạc của chúng tôi đã hết. Những đàn súc vật của chúng tôi cũng đã thuộc về ngài. Bây giờ chúng tôi chẳng còn gì nữa trước mặt ngài ngoại trừ bản thân chúng tôi và ruộng đất của chúng tôi. 19. Lẽ nào chúng tôi và ruộng đất của chúng tôi phải chết trước mắt ngài. Xin hãy mua chúng tôi và ruộng đất của chúng tôi để chúng tôi có lương thực. Chúng tôi và ruộng đất của chúng tôi sẽ làm nô lệ cho Pha-ra-ôn. Xin hãy cung cấp cho chúng tôi hạt giống để chúng tôi có thể sống, khỏi phải chết, và ruộng đất của chúng tôi không bị hoang tàn.”
- Vì vậy Giô-sép đã mua ruộng đất của cả xứ Ai Cập cho Pha-ra-ôn, bởi vì mọi người Ai Cập phải bán ruộng đất của mình cho Pha-ra-ôn do nạn đói xảy ra cho họ quá trầm trọng. Vì vậy cả xứ đều thuộc về Pha-ra-ôn. 21. Về phần dân chúng, ông đã di chuyển họ tại những thị trấn từ những biên giới ở phía này của Ai Cập sang phía bên kia. 22. Chỉ có ruộng đất của các tư tế thì ông không mua, bởi vì các tư tế được nhận phụ cấp từ Pha-ra-ôn, và họ đã sống nhờ số phụ cấp của Pha-ra-ôn đã ban cho họ, cho nên họ không phải bán ruộng đất của họ. 23. Giô-sép đã nói với dân chúng: “Thật vậy, hôm nay ta đã mua các ngươi và đất đai của các ngươi cho Pha-ra-ôn. Hãy xem! Đây là hạt giống để các ngươi sẽ gieo xuống đất. 24. Đến mùa gặt, các ngươi phải nộp cho Pha-ra-ôn một phần năm, còn bốn phần kia sẽ thuộc về các ngươi để làm giống cho ruộng đồng, để làm lương thực cho các ngươi, cho những người ở trong nhà của các ngươi, và làm lương thực cho trẻ em của các ngươi.” 25. Họ đáp: “Ngài đã cứu mạng chúng tôi. Nguyện chúng tôi được ơn trước mặt chúa của chúng tôi và chúng tôi sẽ làm nô lệ cho Pha-ra-ôn.” 26. Giô-sép đã lập điều đó thành một đạo luật trên cả xứ Ai Cập, và vẫn còn hiệu lực đến ngày nay, đó là Pha-ra-ôn sẽ thu một phần năm hoa lợi của ruộng đất, ngoại trừ ruộng đất của các tư tế là không thuộc về Pha-ra-ôn.
- Người Y-sơ-ra-ên đã định cư tại Ai Cập, trong xứ Gô-sen. Họ đã sở hữu tài sản tại đó, đã gia tăng và phát triển rất nhiều.
- Gia-cốp đã sống tại Ai Cập mười bảy năm. Vì vậy, tuổi thọ của Gia-cốp là một trăm bốn mươi bảy năm. 29. Khi Y-sơ-ra-ên gần qua đời, ông đã gọi con trai của mình, là Giô-sép, rồi nói: “Nếu cha được ơn trước mặt con, xin hãy đặt bàn tay của con trên đùi của cha, và hứa với cha cách nhân từ và thành thật rằng: Xin đừng an táng cha tại Ai Cập. 30. Khi cha nằm xuống với các tổ phụ của cha, con hãy mang cha ra khỏi Ai Cập và chôn cất cha trong nơi an táng của họ.” Giô-sép đã nói: “Con sẽ làm theo lời cha dặn.” 31. Gia-cốp nói: “Con hãy thề với cha.” Giô-sép đã thề. Y-sơ-ra-ên đã cúi mình xuống ngay trên đầu giường của ông.
48
- Sau những việc nầy một thời gian, Giô-sép được thông báo: “Kìa, cha của ngài đang bệnh.” Ông đã dẫn theo hai con trai của mình là Ma-na-se và Ép-ra-im. 2. Gia-cốp được thông báo rằng: “Kìa, con trai của ông là Giô-sép đến thăm ông.” Y-sơ-ra-ên cố gắng ngồi dậy trên giường. 3. Gia-cốp đã nói với Giô-sép: “Ðức Chúa Trời Toàn Năng đã hiện ra với cha tại Lu-xơ, trong xứ Ca-na-an. Ngài đã ban phước cho cha. 4. Ngài đã phán với cha: ‘Nầy, Ta sẽ làm cho ngươi được kết quả và gia tăng thật nhiều. Ta sẽ làm cho ngươi thành nhiều dân tộc, và ban cho dòng dõi theo sau ngươi xứ nầy để làm sản nghiệp đời đời.’ 5. Bây giờ, hai con trai đã sinh cho con tại Ai Cập trước khi cha đến với con tại Ai Cập là Ép-ra-im và Ma-na-se sẽ thuộc về cha, giống như Ru-bên và Si-mê-ôn, chúng sẽ thuộc về cha. 6. Còn những đứa mà con sinh sau chúng, sẽ thuộc về con. Những đứa đó sẽ thừa hưởng cơ nghiệp dưới danh nghĩa của các anh mình. 7. Khi cha từ Pa-đan trở về, Ra-chên đã chết trên đường vào xứ Ca-na-an, khi chỉ còn một khoảng ngắn thì đến Ép-ra-ta. Cha đã chôn nàng tại đó, bên đường đến Ép-ra-ta, tức là Bết-lê-hem.”
- Khi Y-sơ-ra-ên thấy các con trai của Giô-sép, ông hỏi: “Những đứa nầy là ai?” 9. Giô-sép trả lời cha của mình: “Chúng là các con trai của con mà Ðức Chúa Trời đã ban cho con tại xứ nầy.” Ông cụ nói: “Hãy đem chúng lại đây để cha chúc phước cho chúng.” 10. Mắt của Y-sơ-ra-ên đã bị mờ vì tuổi tác, ông không thể nhìn thấy rõ. Giô-sép đem chúng lại gần ông. Ông ôm lấy chúng rồi hôn chúng. 11. Y-sơ-ra-ên đã nói với Giô-sép: “Cha tưởng không còn thấy được mặt của con, nhưng Đức Chúa Trời lại cho cha được thấy cả dòng dõi của con.”
- Giô-sép đã đem chúng ra khỏi đầu gối của ông cụ, rồi sấp mặt của mình xuống đất. 13. Sau đó, Giô-sép dẫn hai đứa đến gần ông cụ: Tay phải của ông dẫn Ép-ra-im đến tay trái của Y-sơ-ra-ên, còn tay trái của ông dẫn Ma-na-se đến tay phải của Y-sơ-ra-ên. 14. Y-sơ-ra-ên đã đưa tay phải ra đặt trên đầu của Ép-ra-im – là đứa em, còn tay trái thì đặt trên đầu của Ma-na-se. Ông đặt tréo tay, mặc dù Ma-na-se là con đầu lòng. 15. Ông đã chúc phước cho Giô-sép rằng: “Nguyện Đức Chúa Trời là Đấng mà tổ phụ của con là Áp-ra-ham và Y-sác đã bước theo. Nguyện Đức Chúa Trời là Đấng đã chu cấp cho con suốt cả cuộc đời của con cho tới ngày hôm nay – 16 là Thiên Thần đã giải cứu con khỏi mọi tai họa. Xin ban phước cho những thằng bé nầy, để chúng lưu danh của con và danh của tổ phụ con là Áp-ra-ham và Y-sác. Nguyện chúng được gia tăng thật nhiều trên đất.”
- Khi Giô-sép thấy cha đặt tay phải trên đầu của Ép-ra-im, điều này làm ông không hài lòng, ông cầm tay của cha, dời từ đầu của Ép-ra-im sang đầu của Ma-na-se. 18. Ông nói: “Thưa cha! Không phải vậy. Đứa nầy là con đầu lòng. Xin đặt tay phải của cha trên đầu của nó.” 19. Nhưng cha của ông từ chối và nói: “Con ơi! Cha biết! Cha biết! Nó cũng sẽ trở thành một dân, và nó cũng sẽ trở nên vĩ đại. Tuy nhiên, em của nó sẽ trỗi hơn nó; dòng dõi của em nó sẽ trở thành nhiều dân tộc.”
- Ngày hôm đó, ông đã chúc phước cho chúng và nói rằng: “Vì con mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ chúc phước rằng: ‘Cầu xin Ðức Chúa Trời ban phước cho bạn được như Ép-ra-im và Ma-na-se.’” Ông cụ đã đặt Ép-ra-im trước Ma-na-se là như vậy.
- Sau đó, Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sép: “Nầy, cha sắp qua đời, nhưng Đức Chúa Trời sẽ ở cùng các con và đưa các con trở về xứ của tổ phụ các con. 22. Thêm vào đó, cha sẽ ban cho con một phần trội hơn các anh em của con mà cha đã dùng cung kiếm chiếm lấy từ tay của dân A-mô-rít.”
49
- Gia-cốp đã triệu tập các con trai của mình, rồi nói: “Hãy họp lại với nhau để cha nói cho các con biết những gì sẽ xảy đến cho các con về sau. 2. Các con của Gia-cốp! Hãy tụ họp lại và hãy lắng nghe. Hãy lắng nghe lời của Y-sơ-ra-ên, là cha của các con:
- Ru-bên, con là con đầu lòng của cha – là sức mạnh và là tinh hoa đầu tiên từ năng lực của cha. Ðịa vị của con cao trọng, và quyền lực của con cao trọng. 4. Nhưng giống như những dòng nước không được điều khiển, con sẽ không thể vươn lên; bởi vì con đã lên giường của cha, con đã lên nằm vào chỗ của cha, và làm cho nó bị ô uế.
- Si-mê-ôn và Lê-vi là hai anh em. Lưỡi gươm của chúng là những khí cụ của bạo lực. 6. Nguyện linh hồn của cha không hội họp đồng mưu với chúng. Nguyện danh dự của cha không kết hiệp với chúng. Bởi vì trong cơn nóng giận, chúng đã giết người, và để thỏa mãn ý riêng của mình, chúng đã chém bò đực. 7. Cơn giận chúng bị nguyền rủa, bởi vì quá bạo tàn. Cơn thạnh nộ chúng bị nguyền rủa, bởi vì quá hung bạo. Ta sẽ phân tán chúng trong nhà của Gia-cốp, và làm tản lạc chúng ở giữa Y-sơ-ra-ên.
- Giu-đa ơi! Các anh em của con sẽ ca tụng con. Tay của con sẽ nắm cổ quân thù. Các con trai của cha của con sẽ phủ phục trước mặt con. 9. Giu-đa là một sư tử tơ. Con trai của cha đã vươn lên, rồi vồ xuống, để bắt mồi. Con nằm xuống như một sư tử – giống như một con sư tử mà không ai dám chọc cho nó đứng lên. 10. Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa, cây gậy cầm quyền sẽ không rời khỏi chân của nó, cho đến khi Ngài ngự đến Si-lô, và các dân tộc sẽ vâng phục Ngài. 11. Ngài buộc con lừa đực vào cây nho, và lừa con vào cành nho tuyển chọn. Ngài sẽ giặt trang phục của Ngài trong rượu nho, và y phục của mình trong huyết nho. 12. Mắt của Ngài đỏ hơn rượu nho, và răng của Ngài trắng hơn sữa.
- Sa-bu-lôn sẽ cư trú nơi miền duyên hải, là nơi những tàu bè lưu trú. Ranh giới của nó tiếp giáp Si-đôn.
- Y-sa-ca là một con lừa mạnh mẽ, nằm nghỉ ở giữa chuồng. 15. Nó thấy một nơi nghỉ ngơi tốt đẹp và vùng đất thật tốt tươi, nó đã hạ vai để gánh nặng, và đã trở thành một kẻ phục dịch nặng nề.
- Ðan sẽ xét xử dân tộc của mình, như một chi tộc trong các chi tộc của Y-sơ-ra-ên. 17. Đan sẽ là một con rắn bên đường, như một con rắn độc trên lối đi, nó cắn gót chân của ngựa, khiến người cưỡi phải té bật ngửa ra phía sau.
- Đức Giê-hô-va ôi! Con trông đợi sự cứu rỗi của Ngài!
- Gát sẽ bị một toán quân tấn công, nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng.
- A-se sẽ có thực phẩm dồi dào. Nó sẽ cung cấp cao lương mỹ vị cho hoàng tộc.
- Nép-ta-li là một con nai tự do, nảy sinh những lời văn hoa tao nhã.
- Giô-sép là một cây sai trái, một cây sai trái bên cạnh dòng suối, các cành của nó bám trên tường. 23. Những cung thủ ghét nó cách cay đắng và bắn vào nó. 24. Nhưng nhờ tay Ðấng Quyền Năng của Gia-cốp, nhờ Ðấng Chăn Chiên, là Vầng Ðá của Y-sơ-ra-ên, cây cung của nó vẫn vững chắc, và những vũ khí trong cánh tay của nó được tôi luyện. 25. Nguyện xin Ðức Chúa Trời của cha con phù hộ con. Nguyện xin Ðấng Toàn Năng ban phước cho con những phước hạnh từ trên trời, những phước hạnh bên dưới vực sâu, và những phước hạnh từ các lồng ngực và từ những lòng dạ. 26. Những phước hạnh từ cha của con trổi hơn những phước hạnh từ các tổ phụ của cha, cao hơn các đỉnh núi từ ngàn đời, sẽ được đặt để trên đầu của Giô-sép, trên trán của vị lãnh đạo những anh em của mình.
- Bên-gia-min là một con sói dữ dằn. Buổi sáng nó đi săn mồi, ban đêm nó phân chia mồi.”
- Tất cả những người nầy là tộc trưởng của mười hai chi tộc Y-sơ-ra-ên. Đây là những lời mà cha của họ đã chúc phước cho họ. Ông đã chúc phước cho họ, mỗi người một lời chúc phước riêng biệt.
- Sau đó ông đã truyền lệnh cho họ và nói với họ: “Cha sắp quy về với tổ tiên. Các con hãy chôn cha chung với các tổ phụ của cha trong cái hang, nơi cánh đồng của Ép-rôn, người Hê-tít, 30. là cái hang trong cánh đồng Mặc-bê-la, đối diện với Mam-rê trong xứ Ca-na-an, mà Áp-ra-ham đã mua với cánh đồng của Ép-rôn, người Hê-tít, để làm một nơi an táng. 31. Tại đó, người ta đã chôn Áp-ra-ham và vợ của ông là Sa-ra. Tại đó, người ta đã chôn Y-sác và vợ của ông là Rê-bê-ca. Tại đó, cha đã chôn Lê-a. 32. Cánh đồng và cái hang tại đó đã được mua lại từ dòng dõi của Hếch.”
33. Khi Gia-cốp đã dặn dò các con ông xong, ông rút chân lên giường, trút hơi thở cuối cùng, rồi quy về với tổ tiên của ông.
Kinh Thánh – Bản Dịch Việt Ngữ
© Copyright 2025 Philip Dang
Thư Viện Tin Lành (2025)
www.thuvientinlanh.org
https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl