Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Tài Liệu » Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 14

Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 14

Chương 14:

Trên đây là những việc xảy ra khi Xa-hắc bị đóng đinh và Ba-ra-ba, kẻ được phóng thích đã thấy lão chết.

Khi viên trấn thủ rời nhiệm sở để về sống những năm cuối cùng tại La Mã, ông ta đã thu góp được một gia tài đồ sộ hơn bất cứ viên trấn thủ nào trước đó của đảo, nhưng đồng thời cũng quản trị các hầm mỏ và cả tỉnh ấy để đem về một nguồn lợi cho quốc gia mà không có viên trấn thủ tiền nhiệm nào sánh được. Một số đông vô kể lính cận vệ và giám thị đã giúp ông ta đạt đến thành công ấy nhờ ý thức được bổn phận, sự nghiêm khắc, và có lẽ là cả sự tàn bạo nữa. Nhờ chúng ông đã khai thác triệt để các nguồn lợi thiên nhiên và làm tăng gia đến mức tối đa dân số cũng như đám nô lệ.

Nói riêng về ông ta thì không phải ông ta là người tàn bạo. Chính sách cai trị của ông ta tàn bạo chứ không phải ông ta. Ai kết án ông ta đã phạm vào những tội ác giết người thì chỉ làm như thế vì không biết chuyện, vì không biết rõ ông ta mà thôi. Đối với số đông, ông ta là một nhân vật không ai được biết, hầu như một huyền thoại. Hàng ngàn con người rách rưới thảm hại sống dưới các hầm mỏ hoặc bên cạnh những cái cày dưới ánh nắng thiêu đốt, đã thở ra nhẹ nhỏm khi biết ông ta sắp ra đi. Trong một phút thiếu suy xét, họ hy vọng rằng viên trấn thủ mới sẽ khá hơn.

Riêng ông ta thì ông ta đã rời hòn đảo xinh đẹp ấy mà không tiếc rẻ luyến nhớ. Ông ta vốn thích nó lắm. Nhất là ông ta biết rằng mình sẽ luyến tiếc những việc đang làm, vì ông ta còn quắc thước và là một con người thích hoạt động. Nhưng vì ông ta cũng có một trình độ văn hóa cao nên rất vui sướng khi hình dung rồi những điều mà kinh đô La Mã có thể cống hiến cho mình để sống một cuộc đời đẹp đẽ hơn bên cạnh các bè bạn cũng có học thức như mình. Trong lúc ngã mình trên chiếc ghế dài êm ả dưới mái trại trên tàu, ông ta cứ thích thú suy nghĩ vớ vẫn chung quanh viễn tượng ấy.

Ông ta có đem theo số nô lệ mà ông ta dự trù là cần thiết cho việc sai khiến riêng tây đó. Ông ta đã ghi tên lão vào bảng liệt kê của mình là vì rộng lượng, vì những lý do tình cảm, dầu biết rằng một người đã từng tuổi ấy sẽ không còn làm lợi cho mình được bao nhiêu. Khi nhớ lại tên nô lệ đáng thương đã biết nghe theo lẽ phải và thẳng thắn chấp nhận cho người ta xóa đi tên vị thần của mình, ông ta đã quyết định sẽ đem lão theo. Không ai tưởng tượng được là ông chủ của Ba-ra-ba lại có một ký ức chi li như thế.

Vì biển lặng suốt một thời gian dài nên chuyến đi của họ thành chậm hơn thường lệ. Nhưng sau mấy tuần lễ chèo chống không ngừng, con tàu cũng vào đến bến Ostie. Đám tù nhân chèo thuyền đều phồng tay đến rướm máu, và hôm sau thì viên trấn thủ đến La Mã, còn đoàn tùy tùng và của cải sẽ về theo những ngày sau đó.

Dinh thự ông ta nhờ người mua cho mình nằm ngay giữa thành phố, thuộc khu quý phái nhất. Dinh cơ gồm nhiều từng lầu, phía trong bọc cẩm thạch đủ màu. Một bầu không khí xa hoa tràn lan khắp nơi. Ba-ra-ba chỉ được biết những gian nhà hầm dành cho đám nô lệ, nhưng lão cũng đoán được rằng ngôi nhà phải đồ sộ huy hoàng lắm. Việc đó không làm cho lão hoàn toàn dửng dưng được. Người ta giao cho lão làm những việc nhẹ, giúp tay người này người khác, và mỗi sáng thì cùng với vài ba tên nô lệ khác, đi theo người đầu bếp chánh, vốn là một tay phách lối, ra chợ. Nhờ cách đó mà cuối cùng, lão được thấy một phần thành phố La Mã.

Có lẽ ta không nên bảo là lão đã thật sự trông thấy nó. Mọi vật dường như chỉ lướt qua mắt lão và không khiến được cho lão chú ý đến. Lúc lão len lỏi trong đám người chen chúc nhau ngoài những đường phố hẹp hay đi khắp khu chợ náo nhiệt, chật chội đến độ rất khó tiến bước, lão chỉ thấy thấp thoáng mọi điều đó như những vật xa lạ được khám phá ra giữa đám sương mù. Cái thành phố được kể là nơi đô hội của cả thế giới và rất ồn ào đó chẳng bao giờ trở thành hoàn toàn có thật đối với lão. Lão đi giữa nó mà tâm tư vắng bóng, lạc lõng trong những tư tưởng lộn xộn của mình.

Đàn ông đàn bà thuộc đủ các nước, các chủng tộc đang sát cánh nhau, và nếu là một người khác hơn Ba-ra-ba, chắc phải bị thôi miên bởi đám người lúc nhúc đó, tất cả sự giàu sang đó, sự huy hoàng đó, những dinh cơ đồ sộ và vô số những đền thờ dành cho các vị thần khắp thế giới đó, nơi mà những đám người quý phái ngồi trên những cổ kiệu lộng lẫy sơn son thếp vàng  được người khiêng đến quỳ lạy trước vị thần của riêng họ, khi họ không thích những hiệu buôn xa xí phẩm của phố Via Sacra hay một trong những ngôi nhà tắm đồ sộ của thành phố. Nếu là cặp mắt của một người khác, chắc đã phản ảnh vẻ say mê đối với tất cả mọi vật đó. Nhưng đôi mắt của Ba-ra-ba không phản chiếu một nét gì cả, có lẽ vì chúng đã nằm quá sâu trong hai lỗ mắt? Những gì lão thấy đều lướt qua trước chúng như không liên hệ gì đến chúng cả. Không! Lão không còn lưu tâm gì đến thế gian nầy nữa. Lão đã trở thành dửng dưng. Ít ra là lão cũng tưởng tượng như vậy.

Nhưng tất cả không phải đều hoàn toàn vô nghĩa đối với lão như lão tưởng, bởi vì lão vẫn còn khinh ghét chúng.

Trong số những vật gợi cho lão cái cảm tưởng mơ hồ không thật cũng gồm cả những đám rước đông người vẫn đi qua các phố với các thầy cả, các tín đồ và những dấu hiệu linh thiêng của họ. Điều đó đã làm phát sinh trong lão một hậu quả kỳ dị, vì lão vốn không tin thần thánh gì nhưng cứ luôn luôn đụng đầu với những trò như vậy, và lão chỉ còn biết tránh một bên cho họ đi qua. Lão nép sát vào tường của các ngôi nhà và với đôi mắt giận dữ, lão nhìn trộm họ diễn hành.

Ngày nọ, lão theo một đám rước như thế đến một ngôi đền lạ lùng mà trước đó lão chưa bao giờ thấy, và một khi đã lọt vào, lão cũng đứng lại như những người khác trước bức tượng của một bà mẹ ẳm trong tay một cậu bé trai. Khi lão hỏi tượng đó của ai thì người ta bảo là của nữ thần Isis rất linh thiêng, và cậu bé Horu. Nhưng sau đó, người ta đã nhìn lão có vẻ khinh bỉ cái con người đã không biết cả tên của Đức Thánh mẫu.

Một người gác cửa trong đền thờ đến đuổi lão đi, và sau khi bước ra khỏi các cánh cửa bằng đồng, đã làm dấu thánh theo nghi lễ để che chở chính mình và cả ngôi đền khỏi kẻ xâm phạm nơi thánh. Có lẽ anh ta nhận thấy rằng Ba-ra-ba đã được thai dựng và sanh ra trong hận thù, mối thù hận hướng về mọi loài thọ tạo cả trên trời lẫn dưới đất, và chống lại Đấng Tạo Hóa của cả bầu trời lẫn trái đất.

Vết xẹo trở thành màu đỏ máu và cái nhìn rung động như một mũi tên trong đôi mắt ẩn kín và man rợ, Ba-ra-ba chạy nhanh ra đường rồi băng ngang đủ thứ lộ lớn và đường hẽm. Cút mau, thằng quỷ!

Lão lạc lõng, không biết mình đang ở đâu, và cuối cùng lão về nhà thì đáng lẽ đã bị trừng phạt – nhưng biết lão vốn được ông chủ mến chuộng, nên bọn cận vệ không dám phạt lão, dầu là một hình phạt rất nhẹ nào. Tuy nhiên, chúng tin vào lời giải thích lộn xộn, bảo rằng mình tình cờ bị lạc lối, vì chưa biết rõ thành phố lắm. Rồi lão rụt vào cái góc của mình trong gian nhà hầm dành cho bọn nô lệ. Trong bóng tối lão cảm thấy mấy chữ “Christis Jesus” bị xóa nung nấu khung ngực đang thở hổn hển của lão  như lửa đốt vậy.

Đêm đó, lão mơ thấy mình bị xích chung với một tên nô lệ đang cầu nguyện bên cạnh mình, mà lão không thấy được.

–        Tại sao cậu lại cầu nguyện? Lão hỏi. Làm thế có ích lợi gì?

–        Tôi cầu nguyện cho cậu đó, tên nô lệ nọ trả lời bằng một giọng rất quen thuộc từ trong bóng tối vang ra.

Lúc ấy Ba-ra-ba hoàn toàn đứng yên để khỏi quấy rầy người đang cầu nguyện, và lão cảm thấy nước mắt mình trào ra. Nhưng khi lão thức giấc và quờ quạng tìm chiếc dây xích dưới đất, thì nó không có ở đó, cả tên nô lệ cũng không. Thế là lão không có bị cột dính với ai hết. Không có một ai trên thế gian này bị buộc chặc vào lão hết.

Ngày nọ, khi ở một mình trong nhà hầm của tư dinh viên tổng trấn, lão thấy dấu hiệu con cá khắc trên một bức tường trong một chỗ kín đáo. Nó đã do một bàn tay vụng về tạo ra, nhưng không có ai nghi ngờ gì về ý nghĩa tượng trưng của nó. Ba-ra-ba tự hỏi trong đám nô lệ có ai là tín đồ Đấng Christ. Lão thường tự hỏi như thế vào những ngày kế tiếp và quan sát từng người một để cố tìm cho ra? Nhưng lão không hỏi ai cả. lão cũng không tìm xem có ai biết không. Nếu lão làm thế thì chắc dễ lắm. Nhưng lão không làm gì cả.

Lão chỉ liên lạc với những tên nô lệ khác khi thật cần thiết mà thôi. Lão không trò chuyện với ai cả, cho nên cũng không biết ai hết. Cũng không ai biết lão hay chăm sóc đến lão.

Tại La Mã có rất nhiều tín đồ Đấng Christ. Lão biết như vậy. Lão cũng biết rằng các tín đồ ấy thường hội họp tại các nhà nguyện hoặc những nơi họp mặt thân hữu tại nhiều nơi trong thành phố. Nhưng lão không hề đi tìm những nơi ấy. Có lẽ thỉnh thoảng lão nghĩ là sẽ làm như vậy. Nhưng lão vẫn không làm. Lão mang tên vị thần của họ trên tấm thẻ của mình, nhưng tên ấy đã bị xóa bỏ rồi.

Mấy lúc gần đây, chắc họ đã bí mật hội họp nhau tại nhiều chỗ khác, vì họ sợ bị khủng bố. Ba-ra-ba đã nghe nói ngoài chợ, do những người ra dấu bằng mấy ngón tay đưa ra sau lưng để giữ mình khỏi những chuyện xui xẻo, y như người giữ đền thờ Thánh Mẫu đã làm sau lưng lão. Họ đã bị người ta ghê tởm, ghen ghét, nghi ngờ là có bùa phép. Và thần của họ là một tên đại ác, đã bị đóng đinh lâu rồi. Không có ai muốn giao thiệp với họ hết.

Một tối nọ, tình cờ Ba-ra-ba nghe hai tên nô lệ thì thầm với nhau trong bóng tối của nhà hầm; vì không thấy lão nên chúng tưởng là không có ai. Chính lão cũng không trông thấy chúng, nhưng nhận được chúng ngay nhờ giọng nói. Đó là hai tên nô lệ người ta mới mua. Chúng chỉ mới đến đó mấy tuần nay thôi.

Họ nói với nhau về tại cuộc họp mặt của các anh em sẽ được triệu tập tối mai trong vườn nho của Marcus Lucius, nằm trên đường phố Via Appia. Một chặp sau, Ba-ra-ba biết rằng không phải người ta sẽ họp mặt ngay trong vườn nho, nhưng là trong nghĩa địa ngầm dành cho người Do Thái có cửa vào bắt đầu tại đó.

Thật là một chỗ họp kỳ cục … Giữa những kẻ chết … Sao họ lại chọn chỗ đó?

Chiều hôm sau, vào một lúc thuận tiện trước khi người ta đóng cửa gian nhà dành cho bọn nô lệ, lão trốn ra khỏi dinh, một việc làm có thể nguy hại đến tính mạng của lão.

Khi lão đến phố Appia thì trời đã sắp tối và hầu như lão không gặp ai cả. Lão hỏi thăm một người chăn cừu đang lùa bầy cừu về dọc theo đường đi và tìm được lối đến vườn nho. Lão chui xuống hầm và quờ quạng tiến bước trong lối đi hẹp hơi nghiên. Ánh sáng lọt qua miệng hầm vẫn còn soi đường được cho lão. Lão xuống đến đường hầm thứ nhất và thấy là nó vươn dài trong bóng tối hoàn toàn. Lão quờ quạng, sờ vào các vách đá lạnh và ướt để tiến tới.

Theo điều lão được biết qua câu chuyện của hai tên nô lệ, cuộc họp sẽ xảy ra trong căn phòng lớn thứ nhất. Vậy lão tiến xa thêm. Bây giờ, dường như lão nghe có tiếng nói. Lão dừng lại để nghe ngóng – không, không nghe thấy gì hết. lão tiếp tục đi. Lão phải luôn luôn đặt chân xuống thật cẩn thận, vì luôn luôn có một hoặc nhiều cấp đi xuống, cứ dẫn lão đi sâu mãi vào lòng đất. lão cứ đi tới, đi tới mãi.

Nhưng lão không thấy có một phòng nào. Lối đi hẹp đó cứ kéo dài vô tận. Đây là một ngả rẽ. Chọn phía nào đây? Lão đứng dừng lại, phân vân bối rối. Đúng lúc ấy lão thoáng thấy một ánh sáng lờ mờ cách đó một quãng khá xa. Phải rồi, chắc chắn rồi, đúng là một tia sáng. Lão bước nhanh hơn. Chắc phải là chỗ đó!

Bỗng lão không còn thấy tia sáng nữa. Nó đã biến đâu mất – hay là lão đã vô ý bước sang một lối đi khác băng ngang lối đi trước?

Lão vội vã trở gót để tìm lại tia sáng. Nhưng nó không hiện ra nữa, nó không còn nữa! Lão dừng lại, lạc hướng. Thế thì đám tín đồ của Đấng Christ ở đâu? Phải tìm họ ở đâu? Thế là họ không có ở đây sao?

Còn chính lão thì đang ở đâu đây? Nhờ biết rõ mình đã đến bằng lối nào, chắc lão sẽ dễ dàng tìm được lối trở ra cửa. Và lão nhất định quay lại.

Nhưng trong lúc lão đi ngược chiều con đường mà lão không hề rời bước, và bây giờ thì đã biết rõ từng cấp đi lên lão bỗng thấy tia sáng nọ một lần nữa. Một tia sáng rõ ràng, chói lọi trong một lối đi băng ngang mà trước đó lão không để ý, và ở về một hướng khác với lần trước. Dầu sao thì chắc chắn là chính ánh sáng khi nảy. Lão lao nhanh về phía ấy – hướng nầy thì chắc phải đúng rồi! Và ánh sáng cứ ngày càng rạng rỡ thêm…

Cho đến khi nó bỗng tắt phụt. Nó đã hoàn toàn biến đâu mất.

Lão đưa tay lên ôm lấy đầu. Lão dụi mắt. Ánh sáng lão đã thấy là cái gì? Nó có thật không? Phải chăng đó chỉ là ảo giác của lão có cái gì bất thường … như đã có một lần lâu lắm rồi … Lão dụi mắt và nhìn quanh …

Không, ở đây không có chút ánh sáng nào hết! Ở đây cũng không, mà đàng kia cũng ông; không ở đâu có cả! Chỉ có bóng tối băng giá và lão đang ở trong bóng tối đó một mình – Vì các tín đồ Đấng Christ không có ở đây. Ở đây không có một người sống nào, trừ ra chính lão, ở đây chỉ có kẻ chết mà thôi! …

Kẻ chết! … Lão đường bị người chết bao vây! Khắp nơi đều là người chết, ở mọi hướng đi, mọi con đường hầm, mọi nẻo đường, khắp nơi nào lão sẽ đến. Bây giờ thì đi ngả nào đây? Lão không biết phải đi theo đường nào để thoát thân, để trốn khỏi xứ của những kẻ chết …

Xứ của những kẻ chết! Lão đang ở trong xứ của những người chết! Lão đã bị nhốt trong xứ của những người chết!…

Lão đâm sợ. Lão tưởng mình bị nghẹt thở. Và lão bỗng cắm đầu chạy bừa vì kinh hoàng, như điên loạn, vấp chân vào các bậc đá vô hình, để chạy hết lối đi này sang lối đi khác hầu tìm ngõ ra khỏi cái thế giới của người chết nầy … Lão chạy quanh quẩn như một thằng điên hổn hển, hụt hơi. Cuối cùng lão chỉ bước đi loạng choạng, đụng bên nầy, chạm bên nọ vào các vách đá đang giam giữ kẻ chết ở đằng sau, chạm đúng vào trung tâm của sự chết mà chẳng bao giờ còn có thể thoát ra được nữa …

Thình lình lão cảm thấy một luồng gió nóng hổi từ mặt đất, từ một thế giới khác thổi tới … Trong cơn nửa tỉnh nửa mê, lão lết lên con dốc và thấy mình đang ở giữa các gốc nho.

Lão liền nằm vật xuống đất để nghĩ một chút, đôi mắt nhìn lên bầu trời trống không, có màn đêm đang ngự trị.

Bây giờ thì ở đâu cũng tối. Trên trời cũng như dưới đất. Khắp nơi …

Ba-ra-ba theo con đường Via Appia để trở vào thành phố giữa đêm tối. Lão cảm thấy mình thật cô độc. Không phải vì chẳng có ai đi bên cạnh lão, chẳng có ai từ phía kia đi lại để chạm mặt lão, mà vì lão đang cô đơn trong đêm tối vô tận đang phủ trùm trái đất, cô đơn giữa cả người sống lẫn kẻ chết.

Từ trước lão vẫn cô đơn, nhưng chưa bao giờ nhận thấy rõ ràng như bây giờ. Lão bước đi như vùi mình vào đêm đen, gương mặt già nua trầm lặng hằn vết thẹo mà cha lão đã gắn lên đó cho lão. Và trên bộ ngực già cỗi nhăn nheo của lão, tấm thẻ nô lệ vẫn lủng lẳng giữa đám lông, tấm thẻ trên đó tên của Thượng Đế đã bị xóa đi. Phải, lão đang bị cô độc cả trên trời lẫn dưới đất.

Rồi lão còn bị nhốt trong chính con người của lão, trong cái thế giới của sự chết nơi chính lão nữa. Làm sao để lão thoát ra khỏi đó cho được?

Chỉ có một lần lão được kết chặt với một người, nhưng chỉ được kết chặt bằng những sợi dây xích sắt. Lão chưa hề bị cột chặt bằng vật gì khác hơn những sợi dây xích sắt.

Lão nghe tiếng các bước đi của mình trên mặt đường. Ngoài tiếng động đó ra thì sự im lặng ngự trị khắp nơi, dường như trên đời nầy chỉ có một mình lão. Bóng tối vây phủ lão từ bốn phía. Không một tia sáng, không chỗ nào có ánh sáng cả. Bầu trời không có lấy một ngôi sao, tất cả đều trống vắng hoang vu.

Lão thở rất khó nhọc vì bầu không khí thật nặng nề và nóng bỏng, như là bị sốt vậy – Hay chính lão đang lên cơn sốt, đã ngã bệnh, đã nhiễm lấy cái chết trong lòng đất rồi? Chết? Lão vẫn mang nó trong người. Nó vẫn theo đuổi lão trong chính con người lão, trong những nơi ẩn nấp sâu kín nhất của nội tâm lão, trong những hang chuột của lão, khiến lão tràn đầy lo ngại. Dẫu bây giờ lão đã già nua, không thiết sống nữa, nỗi lo ngại ấy vẫn còn ám ảnh lão mãi mãi. Tuy nhiên lão rất muốn … lão chỉ còn muốn …

Không! Không, đừng chết. Đừng chết!…

Nhưng họ thì lại hội họp nhau trong cái xứ của những kẻ chết để khẩn cầu với Thượng Đế của họ, để kết hợp với Ngài và kết hợp vào nhau. Họ không sợ chết, họ đã thắng hơn nó. Những buổi họp mặt thân hữu, những bữa ăn thân ái của họ … Các con hãy yêu nhau … Các con hãy yêu mến lẫn nhau …

Nhưng khi Ba-ra-ba đến thì họ không còn ở đó nữa.

Rồi lão đi quanh quẩn một mình trong bóng tối, trong những động đá nội tâm và những hang chuột của chính lão …

Họ ở đâu? Những người tự xưng là yêu mến lẫn nhau đó đang ở đâu?

Họ đang ở đâu đêm nay, cái đêm nghẹt thở, mà càng vào sâu trong thành phố dường như lão càng cảm thấy nghẹt thở hơn – cái đêm lên cơn sốt mà người ta cảm thấy khó thở và đang sắp bị chết ngộp này?

Lúc lão quẹo vào một góc phố thì một mùi khét của khói đập ngay vào mắt lão. Nó từ những gian hầm của một ngôi nhà kế cận bốc lên; từng cuộn khói từ gian nhà nằm dưới đất dâng lên, và có cả những ngọn lửa vọt ra khỏi các chấn song sắt … Lão lao mình về hướng đó!

Vừa chạy lão vừa nghe nhiều người khác cũng vừa chạy vừa la: Lửa cháy! Lửa cháy!

Đến một ngả tư, lão nhận thấy trong một con đường băng ngang một ngọn lửa còn dữ dội hơn. Lão rất đỗi ngạc nhiên, không hiểu gì cả … Nhưng thình lình có tiếng người thét lên: “Bọn tín đồ của Christ!” Tiếng la được nhắc lại khắp nơi.

Thoạt đầu lão rất kinh hãi, dường như không nghe rõ điều thiên hạ nói đó. Bọn tín đồ của Christ? … Rồi lão chợt hiểu, tất cả đều trở thành rõ ràng đối với lão.

Bây giờ thì lão hiểu tại sao mình không gặp họ ở đó! Họ đã ở lại đây để phóng hỏa cái thành phố La Mã đáng ghê tởm nầy! Giờ của họ đã điểm! Cứu Chúa của họ đã đến.

Người bị đóng đinh đã trở lại, người của đồi Gô-gô-tha đã trở lại! Để giải phóng nhân loại, để hủy diệt thế gian nầy, như lời Ngài đã hứa! Để hủy hoại nó trong lửa, như Ngài đã hứa! Bây giờ thì Ngài thực sự phô bày quyền lực Ngài! Và lão, Ba-ra-ba sẽ tiếp tay với Ngài! Ba-ra-ba, kẻ đã bị kết án, người anh em cũng bị kết án với Ngài tại đồi Gô-gô-tha sẽ không phản bội Ngài đâu!

Bây giờ thì không! Lần nầy thì không! Bây giờ thì không! Lão đã lao vào khu lửa cháy gần nhất, nhặt một mồi lửa đang cháy và chạy đi để ném qua song sắt của căn hầm một nhà khác. Rồi lão lại đi tìm những mồi lửa khác và quăng vào những chỗ mới, những gian hầm mới! Lão không phản bội đâu! Lão đốt giỏi lắm! Đám cháy sẽ rất đúng nghĩa của nó! Ngọn lửa từ nhà nầy lan sang nhà khác, liếm vào tất cả các vách nhà, tất cả đều bốc cháy!

Và Ba-ra-ba đâm đầu chạy xa hơn để khiến cho ngọn lửa lan tràn. Lão vừa chạy vừa thở hổn hển, với tên của Thượng Đế bị xóa trên ngực. Lão không phản bội Chúa mình, khi Ngài thật sự cần đến lão, khi đã đến lúc, đến giờ phút nghiêm trọng mà mọi sự phải bị hủy hoại! Đám cháy lan rộng! Tất cả chỉ còn là một biển lửa, mênh mông. Cả thế giới, phải rồi, cả thế giới đang bừng cháy!

Coi kìa, nước Ngài đã đến! Coi kìa, nước Ngài đã đến!

Người ta tập trung tất cả các tín đồ Đấng Christ bị tố cáo gây hỏa hoạn trong nhà ngục dưới điện Capitole; trong đám họ có Ba-ra-ba. Lão đã bị bắt quả tang và sau phiên xử được cho nhập bọn với họ. Lão đồng bọn với họ.

Nhà ngục được đục ngay trong vách đá, hơi nước rịn ra trên tường. Trong bóng tối lờ mờ đang ngự trị taị đó, người ta chỉ trông thấy nhau thật mơ hồ, và Ba-ra-ba rất mãn nguyện. Lão ngồi riêng một mình trên đống rơm mục, luôn luôn quay mặt chỗ khác.

Đám người kia đã bàn nhiều về trận hỏa hoạn và về số phận đang chờ đợi họ. Nếu người ta tố cáo họ đã gậy cuộc đốt phá, thì chính là để có lý do bắt nhốt và buộc tội họ. Các quan tòa đã biết rõ là họ không bao giờ làm điều đó. Không có ai trong đám họ đã bị bắt tại chỗ. Từ ngày được cảnh cáo rằng cuộc khủng bố sắp bắt đầu và nơi họp mặt trong nghĩa địa ngầm dành cho người Do Thái đã bị bãi bỏ đến nay, họ không bao giờ rời bỏ nhà. Họ đều vô tội. Nhưng việc đó thì có lợi gì cho họ đâu? Mọi người đều muốn tin rằng họ là thủ phạm. Mọi người đều tin theo tiếng la trong các thành phố do bọn người đã được thuê làm việc đó: “Bọn tín đồ của Christ! Bọn tín đồ của Christ đó!”

– Ai thuê họ làm vậy? Trong bóng tối có một giọng hỏi. Nhưng họ làm như không nghe thấy.

Làm sao các môn đệ của Thầy lại có thể là thủ phạm một hành động sát nhân như việc đốt phá thành La Mã? Làm sao người ta lại có thể tin như vậy được? Thầy họ chỉ thiêu đốt các linh hồn chứ không thiêu hủy những thành phố. Ngài là Cứu Chúa và là vị Thần của thế giới, Ngài không phải là một tên bất lương.

Rồi họ bắt đầu nói về Đấng vốn là tình thương và ánh sáng, về sự trị vì của Ngài mà họ đang chờ đợi theo lời Ngài hứa. Rồi họ hát lên những bài ca có lời thật đẹp và hồn nhiên mà Ba-ra-ba chưa hề nghe trước đó. Lão cúi đầu xuống và nghe họ hát.

Có người rút cây gài cửa các bảng lề rít lên và một tên lính canh bước vào. Hắn để cửa mở cho một ít ánh sáng lọt vào trong lúc các tội phạm dùng bữa do hắn phụ trách. Chính hắn cũng vừa ăn xong và chắc đã uống khá nhiều rượu, vì gương mặt hắn đỏ lơ và miệng nói huyên thuyên. Hắn vừa chửi thề vừa ném bừa các thức ăn không nuốt nổi mà họ được quyền ăn. Nhưng những câu chưởi thề ấy thì không có nghĩa lý gì. Đó là thói quen nghề nghiệp, là thứ ngôn ngữ mà bọn cai ngục vẫn thường dùng. Thật ra thì hắn có vẻ dễ tính. Khi tình cờ trông thấy Ba-ra-ba trong làn ánh sáng từ ngoài cửa tràn vào, hắn phì cười:

– Đây nầy, thằng quỉ này nầy! Hắn la lên. Cái thằng đã chạy khắp thành phố La Mã để châm lửa nầy! Ngu thật! Thế mà bọn bây lại bảo là không có đốt! Nói láo cả lũ! Người ta đã bắt được lão chính lúc lão ném một mồi lửa vào kho dầu của Caius Servius.

Ba-ra-ba vẫn không ngước đầu lên. Gương mặt lão bất động không biểu lộ gì cả, nhưng vết xẹo dưới phía mắt trở thành đỏ hơn.

Các tù nhân khác lấy làm lạ quay về phía lão. Không ai biết lão cả. Họ vẫn tưởng đó là một phạm nhân ông thuộc về nhóm của họ, vì lão không hề bị thẩm vấn hay đưa vào ngục đồng thời với họ.

– Không thể như thế được? Tên lính gác hỏi.

– Lão không thể là tín đồ Đấng Christ được. Họ đáp. Nếu lão đã làm cái việc mà chú nói thì lão ta không thể là tín đồ Đấng Christ.

– Thật vậy sao? Nhưng chính lão đã nhận là phải mà. Đám người đã bắt được lão ta đã kể lại cho tôi nghe, đã kể hết. Mà trong phiên xử, lão ta cũng nhận tội nữa.

– Chúng tôi không biết lão ta. Họ ngập ngừng trả lời, giọng lo lắng. Nếu lão là người trong bọn họ thì chúng tôi phải biết lão chứ? Chúng tôi hoàn toàn không biết lão là ai.

– Bọn bây chỉ là một lũ lường gạt. Chờ một chút đi rồi bây sẽ thấy! Hắn tiến đến gần Ba-ra-ba và lật tấm thẻ nô lệ của lão lại. Coi đây có phải là tên vị thần của bọn bây không? Tao không biết thứ chữ lăng quăng đó, nhưng có đúng vậy không? Chính bọn bây hãy đọc lấy.

Họ xúm lại quanh Ba-ra-ba và ngạc nhiên nhìn chăm vào mấy chữ nằm ở mặt trái tấm thẻ. Phần đông không đọc nổi, nhưng có vài người lo lắng thì thào: – Christos Jesus … Christos Jesus.

Tên lính gác ném mạnh tấm thẻ vào ngực Ba-ra-ba và nhìn quanh, đắc thắng:

– Bọn bây bảo sao, hử? Lão không phải là tín đồ của Christ chắc? Chính lão đã chỉ nó cho quan tòa và bảo rằng lão không phải là người của Xê-sa mà thuộc về vị thần bọn bây đang thờ phượng đó; cái người đã bị đóng đinh đó. Và bây giờ thì lão cũng sắp bị đóng đinh nữa, lẽ tất nhiên! Dầu bọn bây có dựng chuyện đó khéo léo hơn lão ta, bọn bây thật là ngu mới có đứa dám dại dột đến nộp mình cho bọn ta và bảo rằng hắn là tín đồ của Christ.

Rồi bật cười lớn vì nét mặt sửng sốt của họ, lão đi ra và dập cánh cửa thật mạnh phía sau lưng.

Họ lại xúm quanh Ba-ra-ba và tới tấp tấp hỏi lão nhiều câu cấp bách. Lão là ai? Có thật là tín đồ Đấng Christ không? Thuộc nhóm thân hữu nào? Có thật là lão đã gây hỏa hoạn chăng?

Ba-ra-ba không trả lời họ gì cả. Gương mặt lão tái xanh, và cái nhìn già nua càng ẩn sâu vào đôi mắt của lão hơn, để khỏi bị ai nhìn thấy.

– Tín đồ Đấng Christ là gì! Các bạn không thấy là mấy chữ đó đã bị xóa bỏ rồi sao?
– Xóa bỏ! Tên của Chúa chúng ta mà bị xóa bỏ sao?
– Đúng vậy! Các bạn thấy rõ mà!

Một số người có thấy, nhưng không nghĩ ra là nó có ngụ ý gì. Thật ra, thì điều điều đó có nghĩa gì?

Một người trong bọn lại cầm tấm thẻ lên để quan sát một lần nữa. Dầu ánh sáng bây giờ lại càng yếu hơn, họ thấy rằng mấy chữ ấy đã bị xóa đi bằng một chữ thập rõ ràng, khắc thật sâu, dường như đã do một mũi dao thật nhọn và một bàn tay thật mạnh mẽ tạo ra.

– Tại sao tên của Chúa lại bị xóa bỏ? Họ tuần tự hỏi Ba-ra-ba như vậy. Điều đó có nghĩa gì? Ông không nghe sao? Việc đó có nghĩa gì?

Nhưng Ba-ra-ba vẫn không trả lời. Lão vẫn cúi đầu xuống, tránh không nhìn một ai trong đám họ. Lão cứ để mặc họ tùy thích lay gọi lão, mân mê tấm thẻ nô lệ của lão, mà không trả lời gì cả. Họ càng bối rối và lấy làm lạ hơn về lão, về con người có vẻ mộc mạc tự bảo mình là tín đồ Đấng Christ nhưng thật ra thì không thể nào như thế, không thể nào như thế được.

Không ai hiểu nổi thái độ dị kỳ của lão. Cuối cùng có mấy người đến tìm một cụ già từ nãy giờ vẫn ngồi im trong bóng tối của một góc khám mà không tham dự vào mọi việc đã xảy ra. Sau khi họ nói chuyện với cụ già một lúc, thì cụ đứng đậy và theo họ đến gần Ba-ra-ba.

Đó là một người cao lớn mà dầu tấm lưng rộng có hơi còng xuống, vẫn gây cho ta ấn tượng về một người cao lớn ngoại lệ. Cái đầu mạnh mẽ có mái tóc dài nhưng thưa thớt, bạc phơ như bộ râu dài đến ngực. Ông cụ có vẻ nghiêm trang nhưng rất dịu dàng, đôi mắt mở lớn và trong xanh như mắt một đứa trẻ, dầu chúng chứa đầy vẻ khôn ngoan của một người cao tuổi.

Thoạt đầu, ông cụ nhìn thật lâu vào Ba-ra-ba và gương mặt già nua đã bị tàn phá của lão. Rồi dường như nhớ lại một điều gì, ông cụ gật đầu tỏ ra mình đã quả quyết.

– Đã lâu lắm rồi! Ông cụ nói bằng một giọng như để xin lỗi, rồi ngồi xuống đệm rơm trước mặt Ba-ra-ba.

Đám người đang vây quanh họ rất đỗi ngạc nhiên. Người cha đáng kính nầy biết người đó sao?

– Phải!

Ai cũng thấy và nhận ra ngay khi ông ta bắt đầu trò chuyện với người ấy. Ông cụ hỏi lão kia đã sống ra sao. Và Ba-ra-ba kể lại cuộc sống của mình, không phải kể hết mà trái lại là khác, nhưng cũng vừa đủ cho ông cụ hiểu và đoán được đại ý. Khi ông cụ đã đoán được điều mà Ba-ra-ba không muốn nói ra, ông cụ chỉ lặng lẽ cúi đầu.

Họ trò chuyện với nhau khá cởi mở, dầu đối với Ba-ra-ba tâm sự với một người khác dẫu chỉ một phần, là điều rất mới lạ. Nhưng là trả lời thật nhỏ, bằng một giọng mệt mỏi khi ông cụ đặt những câu hỏi, thỉnh thoảng lại nhìn vào đôi mắt khôn ngoan như của trẻ con hoặc gương mặt già nua nhăn nheo, cũng bị tàn phá y như khuôn mặt lão nhưng theo một cách thức khác. Những nếp nhăn cũng được khắc sâu tương tự, nhưng nhìn chung thì nó gợi cho ta một cảm tưởng khác hẳn và tỏa ra một vẻ thanh thản mênh mông. Màu da hầu như trắng và đôi má đã hóp, chắc là vì ông cụ không còn mấy cái răng. Thật ra thì ông cụ không có gì thay đổi lắm, và vẫn tiếp tục nói cái giọng địa phương trầm lặng, ngây thơ như xưa.

Lần lần cụ già đáng kính hiểu tại sao tên của Chúa lại bị xóa và tại sao Ba-ra-ba đã phóng hỏa thành La-mã? Lão muốn giúp họ và giúp Chúa của họ thiêu rụi thế gian nầy. Ông cụ gục gặc mái đầu bạc tỏ vẻ lo lắng khi nghe điều đó.

Rồi ông cụ hỏi Ba-ra-ba tại sao lão lại tin được rằng các tín đồ Đấng Christ đã gây hỏa hoạn. Chính Xê-sa, chính con thú dữ ấy đã làm việc đó, và Ba-ra-ba đã giúp tay hắn.

– Cậu đã tiếp tay cho vị Chúa tể của đời nầy? Cho người mà cậu thuộc về theo như tấm thẻ nô lệ của cậu đã nói, chớ không phải giúp cho Chúa là Đấng có tên đã bị xóa bỏ, ông cụ nói. Cậu đã phục vụ cho ông chủ thật của mình mà không hay đó thôi.

– Chúa chúng ta là Tình Thương. Ông cụ dịu dàng nói tiếp. Rồi cầm lấy tấm thẻ lủng lẳng giữa đám lông ngực màu xám của Ba-ra-ba, ông cụ buồn bã nhìn cái tên đã bị xóa đi của Chúa và Thầy mình.

Rồi ông cụ để nói rơi khỏi ngón tay già nua của mình và thở dài. Ông cụ biết rằng đó là tấm thẻ mà Ba-ra-ba bị bắt buộc phải mang trên cổ và nó không thể giúp lão được gì. Ông cụ biết là Ba-ra-ba cũng hiểu như vậy khi trông thấy cái nhìn e lệ và lạc lỏng của lão.

– Ai vậy? Ai vậy? Bọn người kia đồng thanh reo lên khi cụ già đứng dậy. Thoạt đầu ông lão không muốn trả lời và cố gắng né tránh các câu hỏi của họ. Nhưng họ hỏi dồn dập quá, đến nỗi cuối cùng, ông cụ bắt buộc phải nhượng bộ:

– Đó là Ba-ra-ba, người đã được phóng thích thay vì Thầy. Ông cụ nói.

Họ nhìn người lạ mặt và đều sững sốt. Không có gì lại có thể khiến họ ngạc nhiên và sững sờ hơn thế.

– Ba-ra-ba, họ thì thầm. Ba-ra-ba! Kẻ được phóng thích! Ba-ra-ba! Kẻ đã được phóng thích!

Người ta có thể nghĩ là họ không làm sao hiểu nổi. Và mắt họ ngời lên đầy hăm dọa trong khung cảnh tranh tối tranh sáng ấy.

Nhưng ông cụ già trấn an họ.

– Đó là một người khốn khổ, ông cụ già nói, chúng ta không có quyền xét xử lão ta. Tất cả chúng ta đều đầy dẫy tật xấu, và Chúa đã thương xót chúng ta  không phải là nhờ công lao đáng khen đáng thưởng của chúng ta. Ta không có quyền kết án một người chỉ vì là người vô thần, không có Thượng Đế.

Họ cùng cúi mặt xuống, và người ta có thể bảo là sau câu nói ấy, sau mấy lời cuối cùng khủng khiếp đó, họ không còn dám nhìn Ba-ra-ba nữa. Họ lặng lẽ lui ra và trở về chỗ mình đã ngồi trước đó. Cụ già vừa nặng nề bước theo họ vừa thở dài.

Bây giờ Ba-ra-ba lại được ngồi một mình.

Suốt những ngày bị giam giữ, lão vẫn cô độc, vẫn ngồi riêng cách xa đám người kia. Lão nghe họ hát những thánh thi đầy đức tin và nói chuyện với nhau, tràn đầy hi vọng về cái chết của họ và về sự sống đời đời đang chờ đợi họ. Họ càng bàn cãi nhau nhiều hơn về điều đó sau khi bản án đã được công bố. Họ vẫn tỏ ra tràn đầy tin cậy không chút nghi ngờ.

Ba-ra-ba lắng nghe, nhưng vùi đầu vào các ý nghĩ của mình. Lão cũng nghĩ về số phận đang chờ đợi lão. Lão nhớ lại con người trên núi Ô-li-ve, đã cùng ăn bánh mì chấm muối với mình, mà bây giờ thì chắc đã chết lâu rồi, và cái đầu lâu nhe răng đang nằm gục trong bóng tối vĩnh cửu …

Sự sống đời đời …

Cuộc sống lão vừa trải qua có một ý nghĩa nào không? Lão không tin là có. Nhưng nói cho đúng thì lão không biết gì cả. Lão không phải là người xét được chuyện đó.

Đàng kia cụ già râu bạc đang ngồi giữa đám người của mình. Ông cụ vừa nghe họ nói, vừa nói cho họ nghe bằng cái giọng nói xứ Ga-li-lê chính cống của mình. Nhưng thỉnh thoảng ông cụ lại tựa đầu lên bàn tay to lớn của mình và im lặng giây lâu. Có lẽ ông cụ đang nghĩ đến bờ hồ Ghê-nê-xa-rét, là nơi cụ muốn được chết. Nhưng số phận của ông cụ không nằm trong chính tay mình. Ông cụ đã gặp Thầy mình trên đường và vị ấy đã bảo: “Theo tôi đi.” Và ông cụ đã phải theo Ngài. Ông cụ mở to đôi mắt trẻ con nhìn ra phía trước, và từ khuôn mặt già nua nhăn nheo với đôi má hóp của ông cụ tỏa ra một nét bình thản mênh mông.

Người ta dẫn họ đi đóng đinh. Họ bị xích chung từng cặp, nhưng vì số họ không chẳn, nên Ba-ra-ba là kẻ đi sau cùng đoàn người không bị xích chung với ai cả. Sự ngẫu nhiên đã xui nên thế. Và lão cảm thấy mình cô độc ở cuối hàng thập tự giá.

Tại đó có rất đông người, và một thời gian khá lâu đã trôi qua trước khi mọi việc xong xuôi, những đám người bị đóng đinh không ngớt trao đổi nhau những lời yên ủi và hi vọng. Không một ai nói gì với Ba-ra-ba cả.

Khi trời sắp tối, đám khán giả đứng lâu đã mỏi, nên đều ra về. Mà tất cả tội phạm cũng đã chết.

Chỉ một mình Ba-ra-ba là còn sống. Khi lão cảm thấy cái chết sắp đến, cái chết mà từ lâu nay lão rất sợ, lão nói trong bóng tối như bảo với màn đêm:

– Tôi xin giao lại … linh hồn …

Và lão tắt thở …

Hướng Dương lược dịch

Thánh Kinh Báo – Tháng 11/1972
Thư Viện Tin Lành – Tháng 4/2012

Thư Viện Tin Lành (2012)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top