Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Tài Liệu » Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 12

Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 12

Chương 12

Điều đó cũng thích hợp để bắt ách cả hai vào cùng một cái cày, vì đã từ lâu bị xích chung nhau, họ đã ăn ý nhau như một đôi la cái. Họ đều gầy ốm thảm thương, tóc bị cạo gần sát, nên trở thành đầu đề cho bọn nô lệ khác cười nhạo. Người ta thấy ngay là bọn họ đã từ đâu đến. Nhưng có một người bình phục rất nhanh chóng, vì bẩm chất vẫn mạnh khỏe, nên chỉ trong một thời gian ngắn, họ cũng tạm chu toàn phần của hai người. Viên giám thị không có gì phải phiền lòng. So với những tù nhân cũ của các hầm mỏ, thì họ làm việc cũng khá giỏi.

Về phần họ thì tràn ngập lòng biết ơn khi nghĩ đến việc đã xảy ra. Dầu họ phải chịu khổ cực, phải kéo cày như những con vật từ sáng đến chiều, việc làm bây giờ không còn như trước nữa, chỉ được phơi ra ngoài chỗ thoáng khí để có thể thở thong thả cũng đủ làm nhẹ bớt công việc của họ rồi. dầu mồ hôi có nhể nhãi trên những thân hình gầy gò của họ, dầu người ta vẫn tiếp tục đối xử với họ như những con vật, họ cũng hưởng được ánh nắng mặt trời. Ngọn roi vẫn còn vi vút trên lưng họ như trong hầm mỏ, mà nhất là trên lưng Xa-hắc, là người kém sức hơn, nhưng ít ra dầu sao họ cũng được hồi sinh, được sống như những người khác trên mặt đất chớ không phải cứ sống mãi mãi trong bóng tối. Đối với họ, vẫn có buổi sáng và buổi chiều, ngày và đêm. Họ được chứng kiến những thay đổi đó và lấy làm mừng. Nhưng họ cũng hiểu rằng sự trị vì của Thượng Đế vẫn chưa đến.

Lần lần các nô lệ khác đổi ý về họ, và không còn xem họ như những con vật quái gỡ nữa. Tóc họ mọc trở lại, diện mạo họ cũng giống như mọi người, nên không cho ai để ý nữa. Điều dường như lạ lùng không phải vì họ vốn là những tù phạm trong hầm mỏ nữa, mà là việc họ đã thoát được cái địa ngục ấy.

Thật ra đó là điều đã khiến người ta tò mò trong những ngày đầu, nhưng cũng là một điều khiến người ta thán phục ngoài ý muốn, mà họ cố ý giấu đi. Người ta ráng sức gợi ý để họ kể lại mọi việc xảy ra nhưng không có ai thành công cả. Họ không lắm lời, nhất là không chịu nói gì hết về việc được giải phóng lạ lùng của họ. Điều có hơi kỳ là họ lánh xa ra, chỉ có hai người với nhau mà thôi.

Nhưng không có gì bắt buộc họ phải làm vậy, họ không còn bị xích chung vào nhau nữa, cho nên nếu họ muốn thì có thể trà trộn vào đám bạn bè. Họ không bị bắt buộc phải cứ ăn ngủ bên nhau. Nhưng họ vẫn ở sát bên nhau dường như cả hai vẫn còn bị buộc chặt vào nhau. Điều càng lạ lùng hơn nữa là dường như họ rất e dè đối với nhau, nên cũng ít khi trò chuyện với nhau. Họ sống như bóng với hình, nhưng chung qui lại là những người xa rời nhau.

Đã đành là lúc làm việc họ phải đi cạnh bên nhau. Nhưng vào những lúc rỗi rảnh, không có gì ngăn cấm họ trà trộn với số nô lệ còn lại. Nhưng họ vẫn cảm thấy xa lạ với bọn người kia đến nỗi nếu họ không làm vậy thì không có gì lạ cả. Họ đã quen bị xích vào nhau bằng một sợi dây xiềng mà bây giờ không còn nữa. Khi thức giấc nửa đêm họ nhận ra rằng mình không còn bị cột chung vào nhau nữa, họ cảm thấy một sự lo âu, chờ đến khi biết chắc chắn cả hai vẫn còn nằm bên nhau như trước. Điều đó khiến họ cảm thấy dễ chịu.

Làm sao bảo được rằng Ba-ra-ba cũng cảm thấy như thế? Làm sao nói được rằng mọi sự đã xảy ra như vậy đối với lão? Đó là điều thật lạ. Vì nếu có ai đã được sinh ra để khỏi bị ràng buộc vào bất cứ một người nào khác, thì chính là Ba-ra-ba vậy. Lão đã bị người ta dùng võ lực để làm việc đó, bằng một sợi dây xích sắt. Nhưng bây giờ thì chiếc dây xích không còn nữa, mà lão thì vẫn coi như là nó hãy còn, dường như nếu không có nó thì lão không sống được vậy. Nhưng lẽ dĩ nhiên là lão sẽ kéo thẳng sợi dây đó để gở mình ra…

Xa-hắc thì không làm vậy. Trái lại lão rất đau khổ về sự thay đổi xảy ra giữa họ. Tại sao Ba-ra-ba không còn như trước nữa?

Hai người không còn đề cập đến việc hai người đã thoát được hầm mỏ một cách lạ lùng nữa. Họ chỉ bàn bạc với nhau về chuyện đó trong mấy ngày đầu, nhưng sau đó thì không. Lúc ấy Xa-hắc đã bảo rằng chính con Thượng Đế, Cứu Chúa của thế gian đã giải thoát họ. Phải rồi chắc chắn là vậy rồi… Không còn nghi ngờ gì hết. Nhưng thật ra nếu Xa-hắc đã được Cứu Chúa của mình, là Con Thượng Đế giải thoát, thì Ba-ra-ba không phải đã được chính Xa-hắc giải cứu sao. Sự việc không phải đúng như vậy sao?

Phải, làm sao mà biết chắc được?

Dầu sao thì Ba-ra-ba cũng cám ơn Xa-hắc vì đã cứu mình. Nhưng lão có cảm ơn Thượng Đế không? Phải, chắc là lão phải làm điều đó. Nhưng không có gì chắc chắn cả. Người ta không thể nào chắc chắn được chuyện đó.

Xa-hắc vẫn khổ sở vì chỉ biết quá ít về Ba-ra-ba, người mà lão cảm thấy yêu mến thật tình. Ba-ra-ba không còn cầu nguyện chung với lão nữa như họ đã từng làm một vài lần dưới hầm mỏ, trong cái âm ty kia, đã khiến lão rất khổ tâm. Lão rất muốn họ làm như vậy. Lão không trách gì bạn mình. Lão chỉ không hiểu nỗi mà thôi. Ở Ba-ra-ba có rất nhiều điều không giải thích nổi. Nhưng chính lão đã được thấy Cứu Chúa chết, rồi từ chết sống lại, cũng thấy Ngài được một vòng hào quang thiên đàng bao phủ. Dầu bây giờ thì tất cả những vấn đề ấy không còn được họ bàn cải với nhau nữa…

Xa-hắc khổ sở lắm, nhưng không phải là vì chính lão. Lẽ dĩ nhiên là gương mặt bị xây xát, bị tàn phá phía dưới mái tóc trắng như tuyết của lão đã in các dấu vết của những tàn lửa trong các lò luyện đồng, và tấm thân gầy còm của lão đã bị rất nhiều lằn đòn ngang dọc. Nhưng lão không hề cảm thấy khổ sở vì cớ chính mình. Ta còn có thể nói được lão sung sướng là khác. Nhất là từ ngày Chúa của lão đã hoàn tất cái phép lạ là đưa lão trở lên sống dưới ánh mặt trời, với những bông huệ của đồng ruộng, mà chính Ngài đã rút tỉa được những điều đẹp đẽ để giảng dạy.

Ngài cũng đã thực hiện cùng một phép lạ cho Ba-ra-ba. Nhưng lão này chỉ nhìn cái thế giới mình được thấy bằng đôi mắt lo ngại, và không có ai biết được là lão đang nghĩ gì.

Đó là mối liên hệ giữa họ trong những ngày đầu sau khi lên khỏi hầm mỏ.

Sau khi công việc của mùa xuân đã xong xuôi, Ba-ra-ba và Xa-hắc phải quay nước dưới giếng lên. Đó là việc phải làm khi trời bắt đầu nắng gắt nếu người ta không muốn cho tất cả mùa màng bị khô cháy.

Công việc này cũng rất nặng nhọc. Rồi sau đó khi mùa màng đã thu góp xong người ta đưa họ đến nhà máy xay lúa, một trong những công ốc lớn vây quanh dinh quan trấn thủ La-mã. Khu ấy hợp với ngôi làng dơ nhớp của dân bản xứ để tạo ra một thành phố nhỏ dọc theo bến tàu để xuất cảng. Như thế họ được ra tận ngoài biển.

Tại nhà máy xay họ đã gặp lão chột mắt. Đó là một tên nô lệ cao lêu nghêu, đầu húi trọc, gương mặt xám choắt cheo, miệng khô cằn. Con mắt độc nhất của lão ta cứ liếc trộm, còn con kia thì bị móc đi chỉ vì lão đã ăn cắp mấy thùng bột. Cũng vì lý do ấy lão đã mang thêm một chiếc gông lên cổ.

Việc làm của lão là cho bột vô bao rồi vác vào kho. Trông lão ta không có gì khác lạ lắm; việc của lão rất đơn giản, hình dáng lão cũng vô nghĩa lý như chuột lắt vậy. Sự kiện khiến người ta phải chú ý đến lão hơn những người khác, có lẽ do việc người ta cảm thấy nhột nhạt, khó chịu lạ lùng khi lão có mặt. Người ta không biết là lão đang có ở đấy hay không, mặc dầu có xây lưng lại phía lão đi nữa. Người ta vẫn có thể cảm thấy rõ rệt cái nhìn của con mắt chột xoáy vào người, cái nhìn mà người ta không thường gặp một cách trực tiếp.

Lão làm như không lưu tâm tới hai người mới đến, khiến người ta tưởng là lão không trông thấy họ. Không ai thấy được nụ cười gằn không thành tiếng của lão khi nhận thấy hai kẻ lạ mặt  đã xay chiếc cối nặng nhất. Dầu sao thì người ta cũng không thể nào thấy được lão ta cười, hay ít ra là thấy cái miệng xám ngắt, héo úa của lão ta muốn cười.

Tại đấy có bốn thớt cối, mỗi thớt do hai tên nô lệ quay. Người ta không dùng lừa vì kiếm người còn dễ hơn. Người ta muốn bao nhiêu cũng có, mà nuôi nấng cũng ít tốn kém hơn? Nhưng với Xa-hắc và Ba-ra-ba, thực phẩm còn có phần dư dật hơn so với điều họ thường có trước đó. Nói chung thì họ cảm thấy được đối xử khá hơn trước, dầu công việc có phần nặng nhọc. Người giám thị không tỏ ra quá nghiêm khắc với họ. Đó là một người nhỏ thó, béo tròn, thích yên tĩnh, và khi tuần hành thì không dùng đến ngọn roi mang trên vai. Anh ta chỉ dùng nó cho một lão nô lệ đui, hoàn toàn kiệt quệ.

Bên trong ngôi nhà thờ thì bột trắng bám đầy, lâu dần khiến bột tích tụ khắp nơi, trên sàn nhà, trên vách và cả trên các khung lưới nhện bám vào trần nhà. Không khí ngập tràn bụi bột và tiếng ồn ào điếc tai của bốn thớt cối đá bị quay cùng một lượt. Bọn nô lệ làm việc trần truồng, trừ ra lão chột có một chiếc áo dài bằng bao bột. Lão lục lọi khắp nơi trong nhà máy xay như một con chuột vậy. Chiếc gông khiến lão giống với một tên tù vừa vượt được ngục. Người ta bảo là lão vẫn ăn vụng được bột trong bao, dầu đáng lý ra chiếc gông phải cản trở lão làm như vậy. Mà lão làm như vậy không phải là vì đói, mà chỉ thách đố cho bỏ ghét, dầu biết rằng nếu bị bắt gặp, người ta sẽ khoét luôn con mắt còn lại của lão và bắt lão xay cối như lão đui, một công việc quá sức của lão mà khi nghĩ đến, lão cảm thấy kinh hoàng gần như nỗi sợ cái bóng tối đang chờ đợi lão ngày nào người ta sẽ lại bắt được quả tang là lão đang ăn trộm. Nhưng thật là khó biết được trong những lời đồn đãi đó có bao nhiêu sự thật.

Không, lão không tỏ ra chú ý đặc biệt đến những người mới tới. lão nhìn trộm họ như đã nhìn những người khác và rình rập những biến cố xảy ra. Lão ta không có ác cảm gì với họ, không có chút ác cảm nào hết. Họ chỉ là những tên tù của các hầm mỏ mà trước đó, lão chưa hề được thấy. Nhưng lão không có chút ác cảm nào đối với bọn tù của các hầm mỏ. Lão không có gì là ác cảm với bất cứ ai.

Chắc hai người này đã phạm tội sát nhân nên mới bị đầy làm khổ sai trong các mỏ đồng, dầu một trong hai người không hề có vẻ đó. Tên kia thì rõ ràng là một kẻ sát nhân, và sợ ra mặt rằng người ta sẽ khám phá được điều đó. Tên thứ nhất trông thật đáng thương, lão có vẻ ngây thơ khờ khạo. Nhưng làm sao họ lại thoát được mõ đồng? Làm sao họ lại ra khỏi cái hỏa ngục ấy? Ai đã giúp họ? Đó là vấn đề. Nhưng thật ra thì chuyện ấy không ăn nhập gì với lão.

Chỉ cần chờ đợi thì mọi sự sẽ bộc lộ rõ ràng. Lời giải đáp không đến cách này cũng đến cách khác. Có thể nói là mọi việc sẽ tự nhiên giải nghĩa lẫn nhau. Lẽ dĩ nhiên là với điều kiện người ta phải chịu khó mở lớn một con mắt ra đó là trường hợp rất đúng đối với lão.

Cho nên lão ta khám phá được rằng cái lão cao lớn có đôi mắt bò cái kia vẫn quì gối xuống trong bóng tối để cầu nguyện mỗi đêm. Sau lão ta lại làm vậy, chắc lão cũng làm như nhiều người khác, nghĩa là trước các bức tượng trong những đền thờ dành riêng cho họ. Nhưng tên nô lệ nầy lại cầu nguyện với một vị thần mà dường như hắn ta tin là đang có mặt trong bóng tối. Lão trò chuyện với vị thần ấy như nói với một người sống vẫn chăm sóc đến lão. Thật là lạ! Người ta nghe lão khấn thầm thật thiết tha trong đêm tối và bất cứ ai cũng có thể nhận thấy là không có thần thánh gì hết. Đó chỉ là tưởng tượng mà thôi.

Người ta không thể chú tâm vào một cái gì không có thật.  Nhưng sau khi khám phá được việc đó, thỉnh thoảng lão chột lại gợi chuyện với Xa-hắc để cố tìm hiểu về vị thần lạ lùng kia.  Và Xa-hắc đã cố gắng giải thích.  Lão bảo rằng vị thần của lão có mặt khắp nơi, cả trong bóng tối nữa.  Ta có thể kêu cầu Ngài bất cứ ở đâu và cảm thấy sự hiện diện của Ngài.  Phải người ta cảm thấy như vậy cả trong chính lòng mình, đó là điều kỳ diệu nhất.  Lão chột bảo rằng nếu thế thì Xa-hắc có một vị thần lạ lùng thật.

 

– Chắc chắn như vậy rồi.  Xa-hắc đáp.

 

Lão chột dường như suy nghĩ giây lâu về điều mình vừa được nghe về một vị thần vô hình, nhưng lẽ cố nhiên là đầy quyền lực của Xa-hắc, rồi lão hỏi có phải đó là vị thần đã giúp họ ra khỏi hầm mõ không.

 

– Phải đó, Xa-hắc đáp.  Đúng thế! 

 

Lão thêm rằng đó là vị thần của những kẻ bị áp bức, và Ngài sẽ đến để giải thoát tất cả nô lệ khỏi xiềng xích của họ, vì Xa-hắc muốn truyền giảng đức tin của mình mà lại thấy lão rất khao khát muốn biết nhiều hơn về vấn đề ấy.

 

– Thật như vậy sao? Lão chợt hỏi.

 

Càng ngày Xa-hắc càng có cảm tưởng rằng lão nô lệ nhỏ thó mà không ai thương nổi và bị móc mất một mắt này rất muốn nghe nói về sự giải phóng của chính lão và của cả thế giới.  Vậy phải nói cho lão nghe, vì đó là ý muốn của Thượng Đế.  Cho nên lão cố thuật chuyện cho lão chột nghe càng thường càng hay, dầu Baraba vẫn liếc xéo họ và dường như không tán thành. 

 

Cuối cùng vào một buổi chiều khi họ được ở riêng sau khi đã xong việc, Xa-hắc đã chỉ cho lão chột vật mà từ trước đến nay lão vẫn giữ bí mật: mấy chữ khắc trên tấm thẻ nô lệ của lão đeo trên ngực. 

 

Lão ta tiến đến đó vì lão chột hỏi tên của vị thần vô danh, nếu người ta có quyền nói tên vị đó ra.  Xa-hắc nói cho lão chột biết, và sau đó để vạch rõ quyền lực và vẻ uy nghiêm của Chúa mình, lão cho lão chột xem những dấu hiệu bí mật chứa đựng tên thiêng liêng của Ngài. 

 

Lão chột rất thích thú quan sát mấy chữ trên tấm thẻ, cùng chú ý nghe Xa-hắc kể lại về người nô lệ Hy lạp đã khắc mấy chữ đó và dạy cho lão ý nghĩa của từng nét chữ.  Thật là khó quan niệm nổi có người lại biết được những dấu hiệu tượng trưng cho Thượng đế như vậy.

 

Xa-hắc nhìn những nét chữ ấy một lần nữa rồi lật tấm thẻ trở lại. Lão ép sát lên ngực và tỏ vẻ sung sướng, bảo rằng lão là nô lệ của Thượng đế, và lão thuộc về Ngài.

 

– Thật như vậy sao?  Lão chột hỏi, và một chặp sau lại hỏi rằng người nô lệ của hầm mỏ kia có mang cùng những chữ khắc như thế trên tấm thẻ của lão không.

 

– Chắc chắn là phải có rồi, Xa-hắc đáp. 

 

Lão già chột nhỏ thó gật đầu, tỏ vẻ bảo rằng mình đã biết chắc như vậy từ trước rồi, dầu thật ra lão vẫn tự hỏi không biết hai người có cùng một đức tin như nhau nơi cùng một vị thần hay không, vì tên sát nhân có vết sẹo dưới mắt chẳng bao giờ cầu nguyện.  Họ tiếp tục trò chuyện về vị thần kỳ diệu kia và còn trò chuyện với nhau nhiều lần sau buổi nói chuyện ấy, mà theo cảm tưởng của Xa-hắc thì đó chính là lý do đã đưa họ xích lại gần nhau nhiều lắm.  Xa-hắc nghi rằng lão đã làm một việc phải, khi phó thác cho lão chột việc bí mật lớn lao của mình, và việc đó chắc chắn là một ý kiến cho chính Thượng đế gợi ra và thúc đẩy mình làm.

 

Cả đám nô lệ rất đỗi ngạc nhiên khi một buổi sáng nọ, người giám thị thông báo rằng Xa-hắc và Baraba được gọi đến trình diện với chính vị tổng trấn ngay hôm đó, vào một giờ đã được chỉ định.  Vì một việc như thế chưa bao giờ xảy ra trước đó, hay ít ra là suốt thời gian làm việc của mình, viên giám thị cũng ngạc nhiên như những người khác và không hiểu gì cả.  Hai tên nô lệ khốn khổ mà lại ra mắt chính vị tổng trấn!  Người ấy lại phải đích thân dẫn họ đi nên tỏ vẻ hơi lo ngại, vì anh ta chưa từng đặt chân vào bên trong dinh của vị lãnh tụ đầy uy quyền đó.  Dầu sao thì anh ta không có dính dáng gì vào câu chuyện đó, mà chỉ có trách nhiệm đưa hai tên nô lệ đến đó, thế thôi. 

 

Vì vậy đến giờ đã định, họ lên đường, và mọi người tại nhà máy xay đều nhìn theo, kể cả lão già nhỏ thó như con chuột là người chẳng bao giờ cười được vì cái miệng đã quá khô cằn. – Phải, chính lão cũng nhìn theo bằng con mắt độc nhất của lão. 

 

Nếu bỏ mặc họ, chắc Xa-hắc và Baraba đã không tài nào tự tìm được lối đi trong những đường phố hẹp hoàn toàn xa lạ đối với họ đó.  Họ theo bám gót người giám thị, và cả hai cũng đi sát bên nhau y như trước đó.  Người ta cứ tưởng là họ lại bị xích chung vào nhau.

 

Đến ngôi nhà đồ sộ của vị tổng trấn, họ được dẫn qua nhiều cánh cửa bằng cây bách có trạm trổ.  Người dẫn đường cho họ là một tên da đen vạm vỡ, bị xích vào ngạch cửa bằng một sợi dây xiềng quanh mắt cá.  Đến phòng hội, hắn giao cho một người lính gác.  Người này dẫn qua một khoảng sân rộng ngập nắng để đến một phòng rộng trung bình, mở cửa hướng về khoảng sân trống.  Đến đó, họ thình lình đối diện với vị tổng trấn La-mã.

Cả ba người liền quì mọp xuống, trán chạm đất, để lạy theo lời dặn của người giám thị, dầu đối với Xa-hắc lẫn Ba-ra-ba đó là một việc làm nhục nhã khi phải hạ mhh trước một kẻ cũng chỉ là người. Họ chỉ dám đứng lên sau khi được phép.

Viên Tổng trấn La-mã ngồi dựa ngửa trên một chiếc ghế bành tận cuối căn phòng, ra dấu bảo họ tiến đến. Họ vâng lời một cách rụt rè và chỉ dám lần lần ngước nhìn lên. Ông ta vảo khoảng lục tuần, người vạm vỡ, gương mặt tròn nhưng quắc thước, cằm rộng với cái miệng thoạt nhìn thì người ta biết ngay là có thói quen để truyền lệnh. Cái nhìn có vẻ soi mói, sắc bén, nhưng không có vẻ đanh ác trực tiếp. Điều đáng ngạc nhiên là nói chung nơi con người ấy không có gì đáng sợ cả.

Thoạt đầu vị tổng trấn hỏi người giám thị về hạnh kiểm của hai tên nô lệ hỏi rằng anh ta có hài lòng về họ không. Anh ta lắp bắp trả lời là mình rất hài lòng, rồi nói thêm cho chắc ăn là mình luôn luôn đối xử nghiêm khắc với đám nô lệ dưới quyền. Anh ta không thể nhận thấy gì trên gương mặt nghiêm nghị của ông chủ để biết ông ta có tán thưởng mình hay không. Sau khi liếc nhanh vào cái bụng phệ của người giám thị, tổng trấn khoát tay ra dấu cho người ấy lại – anh ta được phép đi về. Anh ta không đợi bảo đến hai lần, mà bỏ đi lập tức. Trong lúc hấp tấp anh ta cũng quên hết lễ phép đối với chủ, nên xây cả lưng lại về phía ông ta.

Lúc ấy viên trấn thủ mới quay sang Xa-hắc và Ba-ra-ba, hỏi họ về sinh quán, chất vấn họ về việc tại sao họ lại bị phạt, làm sao họ ra khỏi hầm mỏ được, và ai đã giúp đỡ họ. Ông ta luôn luôn nói bằng một giọng tử tế.

Sau cùng ông ta đứng lên và đi vài bước: người ta phải ngạc nhiên vì không ngờ ông ta lại cao lớn đến thế. Rồi đến gần Xa-hắc cầm lấy thẻ của lão, xem qua chữ ký khắc trên đó, ông ta hỏi lão có ý nghĩa gì. Xa-hắc đáp rằng đó là dấu hiệu về quyền sở hữu của đế quốc La-mã. Viên trấn thủ gật đầu tán thưởng, thế thì nó có nghĩa là Xa-hắc thuộc quyền sở hữu của đế quốc La-mã, ông ta nhấn mạnh với Xa-hắc như vậy.

Rồi ông ta lật tấm thẻ lại và chú ý xem xét mấy chữ bí mật khắc ở mặt trái lộ vẻ thích thú rất rõ rệt nhưng không hề tỏ ra ngạc nhiên. Ông ta đọc: “Christos Jesus.” Cả Xa-hắc lẫn Ba-ra-ba đều quá đổi kinh ngạc khi thấy ông ta lại biết đọc các dấu hiệu, lại truy ra được tên linh thiêng của Thượng Đế.

– Ai đây? Ông ta hỏi.

– Đó là vị Thần của tôi. Xa-hắc đápbằng giọng nói hơi run.

– À, à! Ta không nhớ là đã có nghe đến tên này. Nhưng có quá nhiều thần thánh nên không ai mà nhớ hết cho nổi. Có phải là vị thần của quê hương xứ sở của chú mầy không?

– Thưa không, Xa-hắc đáp. Đó là vị Thần, là Thượng Đế của tất cả mọi người.

– Tất cả mọi người? Chú mầy nói cái gì vậy? Cũng khá lắm. Thế mà ta chẳng bao giờ nghe nói gì đến hắn. Người ta có thể bảo là hắn đã khéo dấu danh tiếng của mình.

– Thưa vâng, Xa-hắc đáp.

– Vị thần của tất cả mọi người. Thế thì hắn phải có một quyền lực nào đó. Hắn đặt nền tảng của uy lực đó ở đâu?

– Trên tình thương.

– Tình thương? … Trời đất, sao lại không? Ta không muốn xen vào chuyện đó. Chú mầy có thể tin điều mình  muốn tin. Nhưng hãy nói cho ta biết, tại sao chú mầy lại mang tên của hắn trên tấm thẻ nô lệ của chú mầy?

– Thưa vì tôi thuộc về vị Thần ấy. Xa-hắc đáp bằng một giọng hơi run trở lại.

– Hử? Chú mầy thuộc về vị thần ấy? Làm sao lại như thế được? Chú mầy không thuộc về đế quốc La-mã như chữ ký này đã chứng minh sao? Chú mầy không phải là một tên nô lệ của đế quốc La-mã sao?

Xa-hắc không trả lời gì hết. Đôi mắt lão nhìn xuống đất.

Cuối cùng viên trấn thủ lên tiếng, nhưng không phải bằng giọng nói thân mật nữa:

– Chú mầy phải trả lời việc đó. Chúng ta phải làm sáng tỏ vấn đề ấy, chú mầy biết chứ? Chú mầy có thuộc về đế quốc La-mã không? Hãy nói cho ta biết ngay bây giờ.

– Tôi thuộc về Chúa là Thượng Đế, là vị thần của tôi, Xa-hắc đáp mà không ngước mắt lên.

Viên trấn thủ quan sát lão. Rồi ông ta nâng cằm lão lên và nhìn chăm vào gương mặt đã bị đốt cháy sau một thời gian ở gần các lò luyện đồng. Ông ta không nói gì và một chặp sau, khi đã thấy rõ điều mình muốn thấy, ông ta buông cằm lão nô lệ ra.

Rồi ông ta đến đứng trước mặt Ba-ra-ba, và vừa lật tấm thẻ của lão lại y như thế, ông ta hỏi:

– Còn chú mầy? Chú mầy cũng tin vào vị thần của tình thương đó nữa sao?

Ba-ra-ba không trả lời gì hết.

– Nói đi, chú mầy có tin hắn không?

Ba-ra-ba lắc đầu.

– Không à? Thế tại sao chú mầy lại mang tên hắn trên tấm thẻ của chú mầy?

Ba-ra-ba vẫn làm thinh.

– Có phải đây là thần của chú mầy không? Mấy dấu khắc này có phải có ý nghĩa như vậy không?

– Tôi không có thần nào cả. Cuối cùng Ba-ra-ba đã trả lời như vậy. Lão nói thật nhỏ khiến người ta rất khó nghe rõ, nhưng cả Xa-hắc lẫn viên trấn thủ đều nghe. Và Xa-hắc đã hướng vào lão một tia nhìn tuyệt vọng, bộc lộ một sự ngạc nhiên đau đớn, về những lời lẽ không thể ngờ được đó, đến nỗi Ba-ra-ba cảm thấy dường như nó xuyên thủng cả tâm can mình, dầu lão vẫn không dám trực tiếp nhận lấy tia nhìn ấy.

Cả viên trấn thủ La-mã cùng bộc lộ vẻ ngạc nhiên:

– Ta không hiểu gì hết, ông ta nói. Thế tại sao chú mầy lại mang tên “Christos Jesus” nầy khắc trên tấm thẻ của chú mầy?

– Tại vì tôi rất muốn tin. Ba-ra-ba đáp mà không nhìn lên một ai trong hai người.

Viên trấn thủ quan sát gương mặt đã bị tàn phá ấy, nhìn vết thẹo phía dưới mắt và cái miệng cứng rắn, đầy đặn, vẫn còn giữ lại được phần lớn sức mạnh của lão. Ông ta không trông thấy một tia nhìn nào của gương mặt ấy mà cũng không chắc sẽ tìm được nếu mình nâng cằm lão lên như đã làm đối với lão kia. Hơn nữa ý nghĩ ấy chẳng bao giờ đến với ông ta. Tại sao vậy? Chính ông ta cũng không biết.

Ông ta lại quay sang phía Xa-hắc:

– Chú mầy có biết là những lời nói của chú mầy hàm ý gì không? Điều đó không có nghĩa là chú mầy chống lại Hoàng đế Sê-sa sao? Chú mầy không biết là chính hoàng đế cũng là một vị thần, và chú mầy thuộc về hoàng đế, rằng chữ ký chú mầy đeo trên ngực là của hoàng đế  sao? Rồi chú mầy lại bảo là chú mầy thuộc về một người khác, một vị thần không ai biết, mà chú mầy đã khắc tên lên tấm thẻ của chú mầy để chứng tỏ rằng chú mầy không thuộc về Sê-sa, mà thuộc về hắn, có phải đúng như vậy không?

– Thưa vâng, Xa-hắc đáp bằng một giọng ít run hơn trước.

– Và chú mầy vẫn giữ nguyên ý kiến đó?

– Phải.

– Chú mầy không biết là đang nói chuyện với ai sao?

– Thưa có. Tôi biết.

Viên trấn thủ La-mã im lặng một chặp và suy nghĩ về vị thần của bọn nô lệ đó. Thật ra thì mấy lúc gần đây ông ta có nghe nói rất thường đến cái tên điên ở Giê-ru-sa-lem, đã nhận lấy cái chết của một người nô lệ đó… “Tháo gông, cởi kiềng” … “Thượng Đế sẽ giải phóng kẻ bị cầm tù của Ngài” … Đúng ra thì đây không phải là một giáo lý vô hại. Và một ý kiến của tên nô lệ này không thể nào làm vui lòng một ông chủ nô lệ…

– Nếu chú mầy chịu chối bỏ đức tin sẽ không có gì thiệt hại cho chú mầy hết, ông ta nói: chú mầy có chịu như vậy không?

– Tôi không thể làm như vậy, Xa-hắc đáp.

– Sao lại không?

– Tôi không thể chối bỏ Thượng Đế của tôi.

– Thật là ngu ngốc… Chú mầy phải biết là chú mầy buộc ta phải trừng phạt chú mầy như thế nào. Chú mầy có thật đủ can đảm để chịu chết vì đức tin của chú mầy không?

– Việc đó không phải do tôi quyết định được. Xa-hắc đáp nhỏ.

– Ta trông chú mầy không có can đảm đến thế. Mà chú mầy không muốn sống sao?

– Thưa có, Xa-hắc đáp. Tôi rất muốn sống.

– Nhưng nếu chú mầy không chịu chối bỏ đức tin, thì sẽ không có gì cứu được chú mầy. Chú mầy phải mất mạng sống.

– Tôi sẽ không mất Cứu Chúa là Thượng Đế.

Viên trấn thủ La-mã nhún vai:

– Nếu thế thì ta không làm gì được cho chú mầy hết. Ông ta vừa nói vừa trở lại chiếc bàn ông đã ngồi  lúc họ mới đến. Ông ta cầm một cái chày bằng ngà đánh vào một tấm thẻ cẩm thạch.

– Chú mầy cũng điên như vị thần của chú mầy vậy, ông ta nói thêm thật nhỏ.

Trong lúc chờ người lính gác, viên trấn thủ La-mã tiến đến gần Ba-ra-ba, lật tấm thẻ của lão lại và dùng mũi nhọn của một chiếc dao găm, xóa bỏ mấy chữ “Christos Jesus” đi. Vì chú mầy không tin hắn nên để nó lại cũng vô ích, ông ta nói.

Trong lúc việc đó xảy ra, Ba-ra-ba cảm thấy cái nhìn của Xa-hắc nung nấu tâm can lão, cái nhìn mà lão chẳng bao giờ quên được.

Xa-hắc bị tên lính gác đem đi, còn Ba-ra-ba thì vẫn đứng đó. Viên trấn thủ khen lão về thái độ hợp lý ấy, một thái độ mà ông ta muốn ban thưởng.  Lão sẽ đến trình diện với người cai nô lệ để người ta sẽ giao cho lão một việc làm nhẹ nhàng hơn.

Ba-ra-ba liếc nhìn rất nhanh viên trấn thủ La-mã  khiến ông ta nhận thấy rằng thật ra con người này vẫn còn một tia nhìn nhưng là một cái nhìn vô hại. Hận thù ngời lên trong cái nhìn đó như đầu nhọn của một mũi tên chẳng bao giờ được bắn đi.

Rồi Ba-ra-ba làm theo lịnh đã truyền cho lão.

Cả ba người liền quì mọp xuống, trán chạm đất, để lạy theo lời dặn của người giám thị, dầu đối với Xa-hắc lẫn Ba-ra-ba đó là một việc làm nhục nhã khi phải hạ mhh trước một kẻ cũng chỉ là người. Họ chỉ dám đứng lên sau khi được phép.

Viên Tổng trấn La-mã ngồi dựa ngửa trên một chiếc ghế bành tận cuối căn phòng, ra dấu bảo họ tiến đến. Họ vâng lời một cách rụt rè và chỉ dám lần lần ngước nhìn lên. Ông ta vảo khoảng lục tuần, người vạm vỡ, gương mặt tròn nhưng quắc thước, cằm rộng với cái miệng thoạt nhìn thì người ta biết ngay là có thói quen để truyền lệnh. Cái nhìn có vẻ soi mói, sắc bén, nhưng không có vẻ đanh ác trực tiếp. Điều đáng ngạc nhiên là nói chung nơi con người ấy không có gì đáng sợ cả.

Thoạt đầu vị tổng trấn hỏi người giám thị về hạnh kiểm của hai tên nô lệ hỏi rằng anh ta có hài lòng về họ không. Anh ta lắp bắp trả lời là mình rất hài lòng, rồi nói thêm cho chắc ăn là mình luôn luôn đối xử nghiêm khắc với đám nô lệ dưới quyền. Anh ta không thể nhận thấy gì trên gương mặt nghiêm nghị của ông chủ để biết ông ta có tán thưởng mình hay không. Sau khi liếc nhanh vào cái bụng phệ của người giám thị, tổng trấn khoát tay ra dấu cho người ấy lại – anh ta được phép đi về. Anh ta không đợi bảo đến hai lần, mà bỏ đi lập tức. Trong lúc hấp tấp anh ta cũng quên hết lễ phép đối với chủ, nên xây cả lưng lại về phía ông ta.

Lúc ấy viên trấn thủ mới quay sang Xa-hắc và Ba-ra-ba, hỏi họ về sinh quán, chất vấn họ về việc tại sao họ lại bị phạt, làm sao họ ra khỏi hầm mỏ được, và ai đã giúp đỡ họ. Ông ta luôn luôn nói bằng một giọng tử tế.

Sau cùng ông ta đứng lên và đi vài bước: người ta phải ngạc nhiên vì không ngờ ông ta lại cao lớn đến thế. Rồi đến gần Xa-hắc cầm lấy thẻ của lão, xem qua chữ ký khắc trên đó, ông ta hỏi lão có ý nghĩa gì. Xa-hắc đáp rằng đó là dấu hiệu về quyền sở hữu của đế quốc La-mã. Viên trấn thủ gật đầu tán thưởng, thế thì nó có nghĩa là Xa-hắc thuộc quyền sở hữu của đế quốc La-mã, ông ta nhấn mạnh với Xa-hắc như vậy.

Rồi ông ta lật tấm thẻ lại và chú ý xem xét mấy chữ bí mật khắc ở mặt trái lộ vẻ thích thú rất rõ rệt nhưng không hề tỏ ra ngạc nhiên. Ông ta đọc: “Christos Jesus.” Cả Xa-hắc lẫn Ba-ra-ba đều quá đổi kinh ngạc khi thấy ông ta lại biết đọc các dấu hiệu, lại truy ra được tên linh thiêng của Thượng Đế.

– Ai đây? Ông ta hỏi.

– Đó là vị Thần của tôi. Xa-hắc đápbằng giọng nói hơi run.

– À, à! Ta không nhớ là đã có nghe đến tên này. Nhưng có quá nhiều thần thánh nên không ai mà nhớ hết cho nổi. Có phải là vị thần của quê hương xứ sở của chú mầy không?

– Thưa không, Xa-hắc đáp. Đó là vị Thần, là Thượng Đế của tất cả mọi người.

– Tất cả mọi người? Chú mầy nói cái gì vậy? Cũng khá lắm. Thế mà ta chẳng bao giờ nghe nói gì đến hắn. Người ta có thể bảo là hắn đã khéo dấu danh tiếng của mình.

– Thưa vâng, Xa-hắc đáp.

– Vị thần của tất cả mọi người. Thế thì hắn phải có một quyền lực nào đó. Hắn đặt nền tảng của uy lực đó ở đâu?

– Trên tình thương.

– Tình thương? … Trời đất, sao lại không? Ta không muốn xen vào chuyện đó. Chú mầy có thể tin điều mình  muốn tin. Nhưng hãy nói cho ta biết, tại sao chú mầy lại mang tên của hắn trên tấm thẻ nô lệ của chú mầy?

– Thưa vì tôi thuộc về vị Thần ấy. Xa-hắc đáp bằng một giọng hơi run trở lại.

– Hử? Chú mầy thuộc về vị thần ấy? Làm sao lại như thế được? Chú mầy không thuộc về đế quốc La-mã như chữ ký này đã chứng minh sao? Chú mầy không phải là một tên nô lệ của đế quốc La-mã sao?

Xa-hắc không trả lời gì hết. Đôi mắt lão nhìn xuống đất.

Cuối cùng viên trấn thủ lên tiếng, nhưng không phải bằng giọng nói thân mật nữa:

– Chú mầy phải trả lời việc đó. Chúng ta phải làm sáng tỏ vấn đề ấy, chú mầy biết chứ? Chú mầy có thuộc về đế quốc La-mã không? Hãy nói cho ta biết ngay bây giờ.

– Tôi thuộc về Chúa là Thượng Đế, là vị thần của tôi, Xa-hắc đáp mà không ngước mắt lên.

Viên trấn thủ quan sát lão. Rồi ông ta nâng cằm lão lên và nhìn chăm vào gương mặt đã bị đốt cháy sau một thời gian ở gần các lò luyện đồng. Ông ta không nói gì và một chặp sau, khi đã thấy rõ điều mình muốn thấy, ông ta buông cằm lão nô lệ ra.

Rồi ông ta đến đứng trước mặt Ba-ra-ba, và vừa lật tấm thẻ của lão lại y như thế, ông ta hỏi:

– Còn chú mầy? Chú mầy cũng tin vào vị thần của tình thương đó nữa sao?

Ba-ra-ba không trả lời gì hết.

– Nói đi, chú mầy có tin hắn không?

Ba-ra-ba lắc đầu.

– Không à? Thế tại sao chú mầy lại mang tên hắn trên tấm thẻ của chú mầy?

Ba-ra-ba vẫn làm thinh.

– Có phải đây là thần của chú mầy không? Mấy dấu khắc này có phải có ý nghĩa như vậy không?

– Tôi không có thần nào cả. Cuối cùng Ba-ra-ba đã trả lời như vậy. Lão nói thật nhỏ khiến người ta rất khó nghe rõ, nhưng cả Xa-hắc lẫn viên trấn thủ đều nghe. Và Xa-hắc đã hướng vào lão một tia nhìn tuyệt vọng, bộc lộ một sự ngạc nhiên đau đớn, về những lời lẽ không thể ngờ được đó, đến nỗi Ba-ra-ba cảm thấy dường như nó xuyên thủng cả tâm can mình, dầu lão vẫn không dám trực tiếp nhận lấy tia nhìn ấy.

Cả viên trấn thủ La-mã cùng bộc lộ vẻ ngạc nhiên:

– Ta không hiểu gì hết, ông ta nói. Thế tại sao chú mầy lại mang tên “Christos Jesus” nầy khắc trên tấm thẻ của chú mầy?

– Tại vì tôi rất muốn tin. Ba-ra-ba đáp mà không nhìn lên một ai trong hai người.

Viên trấn thủ quan sát gương mặt đã bị tàn phá ấy, nhìn vết thẹo phía dưới mắt và cái miệng cứng rắn, đầy đặn, vẫn còn giữ lại được phần lớn sức mạnh của lão. Ông ta không trông thấy một tia nhìn nào của gương mặt ấy mà cũng không chắc sẽ tìm được nếu mình nâng cằm lão lên như đã làm đối với lão kia. Hơn nữa ý nghĩ ấy chẳng bao giờ đến với ông ta. Tại sao vậy? Chính ông ta cũng không biết.

Ông ta lại quay sang phía Xa-hắc:

– Chú mầy có biết là những lời nói của chú mầy hàm ý gì không? Điều đó không có nghĩa là chú mầy chống lại Hoàng đế Sê-sa sao? Chú mầy không biết là chính hoàng đế cũng là một vị thần, và chú mầy thuộc về hoàng đế, rằng chữ ký chú mầy đeo trên ngực là của hoàng đế  sao? Rồi chú mầy lại bảo là chú mầy thuộc về một người khác, một vị thần không ai biết, mà chú mầy đã khắc tên lên tấm thẻ của chú mầy để chứng tỏ rằng chú mầy không thuộc về Sê-sa, mà thuộc về hắn, có phải đúng như vậy không?

– Thưa vâng, Xa-hắc đáp bằng một giọng ít run hơn trước.

– Và chú mầy vẫn giữ nguyên ý kiến đó?

– Phải.

– Chú mầy không biết là đang nói chuyện với ai sao?

– Thưa có. Tôi biết.

Viên trấn thủ La-mã im lặng một chặp và suy nghĩ về vị thần của bọn nô lệ đó. Thật ra thì mấy lúc gần đây ông ta có nghe nói rất thường đến cái tên điên ở Giê-ru-sa-lem, đã nhận lấy cái chết của một người nô lệ đó… “Tháo gông, cởi kiềng” … “Thượng Đế sẽ giải phóng kẻ bị cầm tù của Ngài” … Đúng ra thì đây không phải là một giáo lý vô hại. Và một ý kiến của tên nô lệ này không thể nào làm vui lòng một ông chủ nô lệ…

– Nếu chú mầy chịu chối bỏ đức tin sẽ không có gì thiệt hại cho chú mầy hết, ông ta nói: chú mầy có chịu như vậy không?

– Tôi không thể làm như vậy, Xa-hắc đáp.

– Sao lại không?

– Tôi không thể chối bỏ Thượng Đế của tôi.

– Thật là ngu ngốc… Chú mầy phải biết là chú mầy buộc ta phải trừng phạt chú mầy như thế nào. Chú mầy có thật đủ can đảm để chịu chết vì đức tin của chú mầy không?

– Việc đó không phải do tôi quyết định được. Xa-hắc đáp nhỏ.

– Ta trông chú mầy không có can đảm đến thế. Mà chú mầy không muốn sống sao?

– Thưa có, Xa-hắc đáp. Tôi rất muốn sống.

– Nhưng nếu chú mầy không chịu chối bỏ đức tin, thì sẽ không có gì cứu được chú mầy. Chú mầy phải mất mạng sống.

– Tôi sẽ không mất Cứu Chúa là Thượng Đế.

Viên trấn thủ La-mã nhún vai:

– Nếu thế thì ta không làm gì được cho chú mầy hết. Ông ta vừa nói vừa trở lại chiếc bàn ông đã ngồi  lúc họ mới đến. Ông ta cầm một cái chày bằng ngà đánh vào một tấm thẻ cẩm thạch.

– Chú mầy cũng điên như vị thần của chú mầy vậy, ông ta nói thêm thật nhỏ.

Trong lúc chờ người lính gác, viên trấn thủ La-mã tiến đến gần Ba-ra-ba, lật tấm thẻ của lão lại và dùng mũi nhọn của một chiếc dao găm, xóa bỏ mấy chữ “Christos Jesus” đi. Vì chú mầy không tin hắn nên để nó lại cũng vô ích, ông ta nói.

Trong lúc việc đó xảy ra, Ba-ra-ba cảm thấy cái nhìn của Xa-hắc nung nấu tâm can lão, cái nhìn mà lão chẳng bao giờ quên được.

Xa-hắc bị tên lính gác đem đi, còn Ba-ra-ba thì vẫn đứng đó. Viên trấn thủ khen lão về thái độ hợp lý ấy, một thái độ mà ông ta muốn ban thưởng.  Lão sẽ đến trình diện với người cai nô lệ để người ta sẽ giao cho lão một việc làm nhẹ nhàng hơn.

Ba-ra-ba liếc nhìn rất nhanh viên trấn thủ La-mã  khiến ông ta nhận thấy rằng thật ra con người này vẫn còn một tia nhìn nhưng là một cái nhìn vô hại. Hận thù ngời lên trong cái nhìn đó như đầu nhọn của một mũi tên chẳng bao giờ được bắn đi.

Rồi Ba-ra-ba làm theo lịnh đã truyền cho lão.

(Chương 11) (Chương 13

Thánh Kinh Báo
Tháng 5/1971 – Tháng 11/1971

Thư Viện Tin Lành (2012)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top