Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Tài Liệu » Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 11

Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 11

Chương 11

Những ngày tiếp theo, Ba-ra-ba trở thành im lặng, ít nói. Rồi bằng một giọng ngập ngừng và kỳ dị lão hỏi Xa-hắc có vui lòng khắc những chữ đó lên tấm thẻ nô lệ của mình không.

Xa-hắc không đòi hỏi gì hơn, nhưng không biết lão có làm được việc đó hay không? Vì không biết gì hết về những dấu bí mật đó, lão phải lấy những chữ trên tấm thẻ của chính mình để làm mẫu.

Họ chờ cho người giám thị đã đi qua, rồi dưới ánh đèn, Xa-hắc bắt đầu dùng một mãnh đá nhọn cố gắng hết sức mình để vẽ theo các dấu ấy. Bàn tay thiếu kinh nghiệm của lão vẽ lại, những đường nét lạ lùng kia một cách rất khó khăn, nhưng lão đã cố gắng vẽ lại càng giống càng tốt. Nhiều lần họ phải ngưng lại bởi vì có người đi tới, hay ít ra là họ tưởng rằng có người đang đi tới.

Cuối cùng, công việc cũng xong và cả hai đều nhận là rất giống. Họ im lặng nhìn tấm thẻ, nhìn những dấu hiệu lạ lùng mà họ không hiểu, nhưng biết là tượng trưng cho tên của người bị đóng đinh, ám chỉ rằng người đó thuộc về người ấy. Bỗng họ cùng quỳ xuống và dâng lên một lời cầu nguyện nồng nhiệt cho Chúa mình, là Cứu Chúa và là Thượng Đế của mọi người bị hà hiếp.

Từ đàng xa viên giám thị đã thấy họ, bởi vì họ đang quỳ ngay dưới ánh đèn, nhưng vì quá chăm chú vào việc cầu nguyện, họ đã không nhận thấy gì hết. Hắn xông đến và giơ roi đập túi bụi lên người họ. Khi cuối cùng hắn bỏ đi, thì Xa-hắc ngã gục xuống đất. Tên giám thị độc ác kia liền quay gót trở lại dùng roi bắt buộc lão phải đứng lên. Hai người phải loạng choạng tựa người vào nhau để tiếp tục làm việc.

Đây là lần đầu tiên Ba-ra-ba phải chịu đau đớn vì cớ người bị đóng đinh, vì cái ông thầy giảng đạo xanh xao với bộ ngực lép không có lông, đã bị đóng đinh trên thập tự thay lão.

Nhiều năm trôi qua. Ngày nào cũng giống như ngày nào. Họ sẽ không thể phân biệt được ngày này với ngày khác nếu mỗi buổi chiều người ta không dẫn họ đi ngủ chung với hàng trăm tên nô lệ khác, cũng kiệt sức như họ. Điều đó khiến họ biết rằng đêm đã đến rồi. Họ chẳng bao giờ rời khỏi hầm mỏ. Họ bị mất máu trở thành như những bóng ma, sống từ năm này sang năm khác trong cùng  một khung cảnh tranh tối tranh sáng dưới đáy âm ty của họ, chỉ được hướng bởi những ngọn đèn cháy leo lét, và thỉnh thoảng đây đó là một đống lửa chụm bằng củi. Một tia nắng nhỏ vạch một đường từ miệng hầm mỏ lọt xuống; từ đó người ta có thể nhìn thấy một cái gì đó có lẽ là về trời. Nhưng họ không thể thấy được gì hết về mặt đất, về cái thế giới xưa kia của họ. Từ cái lỗ đó, người ta thả thức ăn xuống cho họ trong những chiếc thùng dơ dáy. Họ được nuôi như bầy súc vật.

Xa-hắc buồn lắm, Ba-ra-ba không còn cầu nguyện chung với lão nữa. Sau khi muốn có tên Cứu Chúa được khắc trên tấm thẻ của mình, gã đã cầu nguyện được vài lần, rồi ngưng hẳn. Lão càng ngày càng trở thành dữ tợn và kỳ dị, không tài nào hiểu lão cho nổi, Xa-hắc không hiểu gì cả. Việc  đó vượt quá tầm hạn hiểu biết của lão. Lão vẫn tiếp tục cầu nguyện, nhưng lúc ấy thì Ba-ra-ba quay lưng đi, dường như không muốn nhìn thấy cả lão nữa. Tuy nhiên Ba-ra-ba tìm thấy một thế đứng để che cho lão nếu có người đi đến, để lão khỏi bị trở ngại trong khi cầu nguyện.

Người ta có thể nói rằng Ba-ra-ba đã muốn giúp cho Xa-hắc trong việc cầu nguyện. Nhưng chính lão thì không cầu nguyện. Tại sao? Nguyên do vì đâu? Xa-hắc không có một ý kiến gì cả. Đối với lão, đó là một điều bí ẩn, cũng như Ba-ra-ba là một con người bí mật. Lão đã tưởng là mình biết rất rõ Ba-ra-ba. Trong cái thế giới ở phía dưới mặt đất, trong chỗ bị nguyền rủa chung này, lão đã tưởng là họ rất gần gũi nhau, nhất là mỗi khi họ cầu nguyện chung với nhau. Rồi bỗng nhiên lão hiểu ra rằng chung qui lão không hiểu gì về Ba-ra-ba hết, hoàn toàn không biết gì cả dầu lão ta vẫn bị xích chung với mình. Thỉnh thoảng, lão có cái cảm tưởng là con người kỳ dị đang ở bên cạnh mình là một con người xa lạ theo một vài phương diện nào đó.

Vậy lão ta là ai?

Họ vẫn còn trò chuyện với nhau, nhưng chẳng bao giờ được như trước nữa. Trong khi họ nói chuyện với nhau, Ba-ra-ba có một thế đứng rất đặc biệt để như xây một nửa người về hướng khác. Xa-hắc không thể nào nhìn được vào đôi mắt lão. Nhưng thật ra, có khi nào lão thấy được chúng chưa, lão đã thấy được chúng một lần nào chưa? Vậy thì thật ra người bạn cùng bị xích chung với lão là ai?

Ba-ra-ba không còn nói đến những điều mình thấy nữa. Người ta rất dễ đoán ra việc đó có ý nghĩa gì đối với Xa-hắc, cái cảm tưởng trống rỗng của lão vì thiếu mất chúng. Lão phải cố gắng tự mình hình dung ra chúng, nhớ lại chúng được bao nhiêu hay bấy nhiêu nhưng đâu có phải là dễ dàng gì. Và cả hai đã không giống nhau. Nhưng làm sao mà giống nhau cho được? Lão thì chẳng bao giờ được ở bên Đấng vốn là tình yêu trọn vẹn. Ánh hào quang đã bao quanh Cứu Chúa chưa bao giờ khiến lão bị chói mắt. Lão chưa bao giờ thấy được Thượng Đế.

Lão phải bằng lòng với việc cố nhớ lại những điều lạ lùng mà một ngày nào đó, đôi mắt Ba-ra-ba đã nhìn thấy.

Lão thích nhất cái buổi sáng lễ Vượt Qua, vị thiên sứ như ngọn lửa lao nhanh từ trời xuống để giải thoát cho Chúa, để cướp Ngài khỏi xứ của kẻ chết… Nếu người ta thấy được cái hình ảnh đó, người ta có thể chắc chắn rằng Chúa đã sống lại, rằng Ngài vẫn sống. Và một ngày gần đây Ngài sẽ trở lại để thiết lập quyền cai trị trên đất như Ngài đã từng hứa rất nhiều lần. Xa-hắc không nghi ngờ gì hết; lão tin chắc là việc đó phải xảy đến. Và lúc ấy, người ta sẽ đưa tất cả những kẻ đang chết mòn ở đây. Phải chính Chúa sẽ đích thân ngồi tại miệng hầm để tiếp nhận những tên nô lệ và tháo hết cùm xích của họ khi họ từ từ leo lên, và sau đó, hết thảy đều sẽ được vào nước Ngài.

Xa-hắc mong mỏi cái ngày đó. Và mỗi lần được phần ăn chết đói, lão ngước mắt nhìn lên trên miệng hang để rình chờ phép lạ. Nhưng người ta không thấy gì hết về cái thế giới trên kia người ta không biết đã có gì xảy ra trện đó. Chắc đã có rất nhiều biến cố quan trọng xảy ra rồi nhưng không ai hay biết gì hết. Tuy nhiên, nếu thật ra có chuyện gì thuộc loại đó xảy ra, nếu thực sự Chúa đã trở lại, thì chắc Ngài đã truyền lệnh đưa họ lên rồi. Chắc chắn là Ngài sẽ không quên họ, những con cái Ngài đang sống dưới âm ty.

Viên giám thị suy nghĩ về vị thần vô danh, cứ thường nghe nói đến thì lại càng trở thành khó hiểu đó. Cứ nghĩ mà xem, có phải chỉ có một vị thần toàn năng duy nhất không? Co phải chính là vị thần mà ta phải thờ lạy chớ không nên thờ lạy một vị thần nào khác hơn không? Cứ nghĩ mà xem, có phải chỉ có một vị thần toàn năng duy nhất, ngư trị  cả trời  và đất và giảng đạo của mình khắp nơi, cả đến cái cõi âm ty như tại đây không? Một thứ giáo lý lạ lùng mà không rõ ràng gì cả. “Các con hãy yêu mến lẫn nhau … Các con hãy yêu mến lẫn nhau…” Không ai lại quan niệm được một câu chuyện như thế? …

Ông ta dừng lại trong một chỗ thật tối giữa những ngọn đèn, để có thể suy nghĩ kỹ càng hơn tại nơi vắng vẻ đó. Bỗng ông ta nghĩ ra một việc mà mình phải làm. Ông ta phải tống tên nô lệ đã tin  vào vị thần vô danh kia ra khỏi hầm mỏ, nơi mà cuối cùng mọi người đều phải ngã gục. Ông ta phải tìm cho lão một việc làm khác ở trên kia, dưới ánh mặt trời. Ông ta không hiểu vị thần kia và giáo lý của vị ấy, đó là điều bất khả đối với ông ta, nhưng ông ta phải hành động như vậy, ông ta có cảm tưởng rằng đó là ý muốn của vị thần ấy.

Ngay lần đầu tiên trở lên mặt đất, ông ta đến tìm người giám thị các nô lệ làm việc trong phần đất gần hầm mõ. Khi ông kia, là một anh chàng có gương mặt khỏe mạnh của một bác nhà quê có cái miệng to thô kệch, biết đầu đuôi câu chuyện, anh ta nói trắng ra rằng đề nghị ấy không hấp dẫn gì hết đối với mình bởi vì anh ta không thích một tên nô lệ của hầm mõ.

Thật ra thì anh ta đang cần thêm một vài người nữa, nhất là vào vụ cấy mùa xuân, vì như thường lệ, số bò không đủ dùng. Nhưng anh ta không thèm những tên thợ mõ. Chúng đều thiếu khả năng, thiếu sức lực, mà hơn nữa là những tên nô lệ khác cũng không thích chúng. Người ta sẽ nói: Để chúng nó lên mặt đất làm gì? Tuy nhiên cuối cùng anh ta vẫn bị người bạn lớn hơn của mình thuyết phục, một người vẫn có tài đạt được mục đích mình muốn. Và ông ta trở về hầm mõ.

Hôm sau ông ta bàn bạc với Xa-hắc về người bị đóng đinh lâu hơn những lần trước. Rồi nói cho lão biết sự sắp xếp của mình: Xa-hắc sẽ đến trình diện với người gác cửa để được tháo cùm và tách rời người người bạn đồng tù của mình. Rồi người ta sẽ đưa lão ra khỏi hầm mõ và giao tận tay người chủ mới.

Xa-hắc nhìn ông ta nhưng không hiểu điều mình vừa nghe. Có thể chuyện đó là thật sao? Viên giám thị quả quyết là thật, và thêm rằng chắc đó là do ý của vị thần mà Xa-hắc thờ phượng, cho nên nó phải được thực hiện.

Xa-hắc chắp tay lên ngực và đứng yên lặng một hồi lâu. Rồi lão bảo rằng lão không thể nào rời khỏi bạn mình, vì cả hai đều thờ cùng một Chúa và có cùng một đức tin như nhau.

Viên giám thị nhìn Ba-ra-ba, lộ vẻ kinh ngạc:

– Cùng một đức tin! Nhưng lão ấy đâu có quì gối cầu nguyện như cậu?

– Phải, Xa-hắc nói mà hơi bối rối, rất có thể là như vậy, nhưng anh ấy thì được gần Ngài cách khác hơn tôi, anh ấy đã từng được đứng gần cây thập tự mà trên đó Cứu Chúa đã chịu thương khó và chết. Có một ngày, anh ấy đã thấy một vùng hào quang phủ Ngài, và một lần khác, cũng thấy một thiên sứ như lửa lật đổ tảng đá chận cửa mộ để Ngài sống lại khỏi những kẻ chết. Vẻ uy nghiêm của Ngài đã được người bạn của tôi đây tiết lộ cho tôi biết đó.

Viên giám thị lắc đầu, lạc hướng vì tất cả những chuyện không thể nào hiểu nổi ấy, và liếc nhìn cách khinh bỉ con người có cái thẹo trên má và chẳng bao giờ người ta có thể nhìn thẳng vào mắt và ngay bao giờ cũng đang quay nhìn chỗ khác. Có thể nào lão ta cũng thuộc về vị thần của Xa-hắc? Viên giám thị thấy rằng lão ta rất dễ ghét.

Và ông ta không muốn đưa lão ra khỏi hầm mõ. Nhưng Xa-hắc lập lại:

– Tôi không thể nào rời khỏi anh ấy.

Viên giám thị liền lầm bầm điều gì trong miệng rồi lại liếc nhìn Ba-ra-ba lâu hơn. Cuối cùng ông ta miển cưỡng nhượng bộ và bằng lòng thỏa mãn ước muốn của Xa-hắc. Hai người bạn vẫn được xích vào nhau như trước. Rồi ông ta lìa họ để lại đắm mình vào nơi vắng vẻ.

Khi Xa-hắc và Ba-ra-ba đến trình diện với người gác cửa vào giờ đã qui định, cả hai được cởi xiềng và đưa lên khỏi hầm mõ. Vừa khi được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời chiếu rọi trên các triền núi thơm ngát mùi hoa sim và cam tòng hương, trên các thung lũng, các cánh đồng xanh mướt và ở đằng xa kia là mặt biển, Xa-hắc quì ngay xuống và trong cơn xuất thần, lão đã thét lên:

– Ngài đã đến! Ngài đã đến rồi! Nước Ngài là đây!

Người giữ tù đã đến để đưa họ đi, ngạc nhiên nhìn con người đang quì gối đó. Rồi lão dựng gã dậy bằng một cái đá:

– Ê, đi chớ, gã nói.

Một ngày nọ, trong lúc Xa-hắc đang quì dưới chân tảng đá để cầu nguyện, thì một việc phi thường đã xảy ra. Một viên giám thị rất mới trong hầm mỏ là người thay thế cho tên giám thị ác ôn cũ đã đến tận sau lưng mà Xa-hắc không nghe thấy gì hết. Nhưng Ba-ra-ba đang đứng gần đó mà không cầu nguyện đã thoáng thấy ông ta trong bóng tối và đã nói nhỏ rất nhanh với bạn mình là có người đi tới.

Xa-hắc lập tức đứng dậy chụp vội chiếc cuốc nhọn của mình. Lão chờ đợi điều tai hại sẽ xảy đến cho mình, lưng lão co rúm lại trước, dường như đã cảm thấy những ngọn roi giáng lên đó rồi. Nhưng trước sự sửng sốt của hai người, lão không bị một hình phạt nào cả. Lẽ dĩ nhiên là viên giám thị ngừng lại, nhưng chỉ để hỏi Xa-hắc bằng một giọng khá tử tế rằng tại sao lão lại quì gối như vậy, điều đó có ý nghĩa gì.

Xa-hắc lắp bắp  bảo rằng lão đang cầu nguyện lão vị thần của mình – Vị Thần nào vậy? Và khi Xa-hắc đã giải thích là vị Thần nào, thì viên giám thị bắt đầu đặt những câu hỏi về “Cứu Chúa” đã bị đóng đinh mà ông ta có nghe nói, và đã khiến ông ta rất đỗi ngạc nhiên. Có thật là người ấy đã để cho người ta đóng đinh mình không? Người ấy đã chết thê thảm như một tên nô lệ? Nhưng lại khiến người ta thờ lạy mình như một vị thần? Lạ, thật là lạ… Và tại sao người ta lại gọi người ấy là Cứu Chúa? Thật là một cái tên kỳ cục đối với một vị thần… Nó có nghĩa gì? Người ấy sẽ cứu chúng ta thật không? Cứu rỗi linh hồn chúng ta? Thật là lạ… Tại sao người ấy lại hành động như thế?

Xa-hắc cố gắng giải thích điều hiểu biết của mình. Và viên giám thị kiên nhẫn đứng nghe phần trình bày vô trật tự, cũng không có gì là sáng sủa của lão nô lệ dốt nát. Thỉnh thoảng ông ta lại lắc đầu. Nhưng vẫn không ngừng chăm chỉ nghe, dường như những lời nói ngây dại kia đã khiến ông ta đặc biệt lưu ý. Cuối cùng ông ta bảo là có vô khối các vị thần. Và muốn cho chắc chắn hơn thì phải cúng lễ cho tất cả. Xa-hắc bảo rằng người bị đóng đinh không đòi hỏi một lễ vật nào ngoài sự hiến dâng chính mình cho người.

– Hiến dâng chính mình? Cậu muốn nói cái gì vậy?

– Ta phải tự hiến dâng trong chiếc lò luyện vĩ đại của Ngài, Xa-hắc đáp.

Viên giám thị lắc đầu.

– Cậu là một tên nô lệ có đầu óc hẹp hòi, về chuyện đó vượt hẳn tầm hiểu biết của cậu. Người ấy nói tiếp. Thật là một chuyện huyền hoặc lạ lùng! Ai dạy cậu nói những điều đó vậy?

– Một bạn nô lệ người Hi-lạp, Xa-hắc giải thích, chính tôi thì tôi không biết rõ lắm là những lời ấy có nghĩa gì.

– Lẽ dĩ nhiên là không rồi. Mà cũng không có ai biết đâu. Tự hiến dâng … Trong lò luyện … Trong lò luyện của Ngài… Rồi nói lầm bầm một chuyện gì mà hai người kia không nghe rõ, ông ta biến mất trong bóng tối giữa những ngọn đèn nằm rải rác trong hầm mỏ, như một người đang lạc đường vào giữa lòng đất.

Xa-hắc và Ba-ra-ba rất đỗi ngạc nhiên về biến cố bất ngờ và lạ lùng mới xảy ra trong đời sống họ. Sự việc thình lình khiến họ không hiểu được điều mới vừa xảy đến. Tại sao một người như thế lại có thể hạ mình để đến với họ? Thường thường thì thật ra một người giám thị có thái độ như vậy, có thể hỏi han họ về người bị đóng đinh, về Cứu Chúa như thế chăng? Câu chuyện đối với họ có vẻ như không thể nào xảy ra được. Nhưng lẽ dĩ nhiên là họ rất bằng lòng về việc mới xảy đến cho mình.

Từ ngày ấy trở đi, viên giám thị thường thường dừng lại để trò chuyện với Xa-hắc mỗi khi đi ngang qua đó. Ông ta không nói gì tới Ba-ra-ba cả. Xa-hắc tiếp tục nói về Cứu Chúa, về những phép lạ, về điều dặn lạ lùng của Ngài truyền cho chúng ta phải yêu mến lẫn nhau. Và một ngày kia sau lời giảng giải của lão, viên giám thị nói:

– Tôi cũng đã nghĩ đến chuyện tin vị Thần đó từ lâu. Nhưng phải làm sao? Làm sao để chấp nhận được những chuyện lạ lùng như vậy? Tôi là người cai tù, làm sao tôi có thể thờ phượng một tên nô lệ như vậy cho được?

Xa-hắc đáp rằng Cứu Chúa của mình tuy đã nhận lấy cái chết của một tên nô lệ, nhưng thật ra lại là chính Thượng Đế, Thượng Đế độc nhất vô nhị. Nếu người ta đã tin Ngài thì không thể tin vào một vị thần nào khác nữa.

– Thượng Đế duy nhất! Nhưng lại bị đóng đinh như một tên nô lệ! Thật là huênh hoang! Chỉ có một Thượng Đế mà thôi – và đã bị người ta đóng đinh rồi!

– Vâng, đúng như vậy, Xa-hắc đáp.

Người kia nhìn lão, càng ngạc nhiên hơn, người không trả lời gì hết. Rồi lắc đầu như thường lệ và ông ta lại tiếp tục cuộc hành trình và biến mất trong bóng tối của những con đường hầm.

Họ nhìn theo ông ta, thấy ông ta tái hiện trong phút chốc dưới ánh sáng lờ mờ của mỗi ngọn đèn rồi lại biến mất.

Viên giám thị suy nghĩ về vị thần vô danh, cứ thường nghe nói đến thì lại càng trở thành khó hiểu đó. Cứ nghĩ mà xem, có phải chỉ có một vị thần toàn năng duy nhất không? Co phải chính là vị thần mà ta phải thờ lạy chớ không nên thờ lạy một vị thần nào khác hơn không? Cứ nghĩ mà xem, có phải chỉ có một vị thần toàn năng duy nhất, ngư trị  cả trời  và đất và giảng đạo của mình khắp nơi, cả đến cái cõi âm ty như tại đây không? Một thứ giáo lý lạ lùng mà không rõ ràng gì cả. “Các con hãy yêu mến lẫn nhau … Các con hãy yêu mến lẫn nhau…” Không ai lại quan niệm được một câu chuyện như thế? …

Ông ta dừng lại trong một chỗ thật tối giữa những ngọn đèn, để có thể suy nghĩ kỹ càng hơn tại nơi vắng vẻ đó. Bỗng ông ta nghĩ ra một việc mà mình phải làm. Ông ta phải tống tên nô lệ đã tin  vào vị thần vô danh kia ra khỏi hầm mỏ, nơi mà cuối cùng mọi người đều phải ngã gục. Ông ta phải tìm cho lão một việc làm khác ở trên kia, dưới ánh mặt trời. Ông ta không hiểu vị thần kia và giáo lý của vị ấy, đó là điều bất khả đối với ông ta, nhưng ông ta phải hành động như vậy, ông ta có cảm tưởng rằng đó là ý muốn của vị thần ấy.

Viên giám thị suy nghĩ về vị thần vô danh, cứ thường nghe nói đến thì lại càng trở thành khó hiểu đó. Cứ nghĩ mà xem, có phải chỉ có một vị thần toàn năng duy nhất không? Co phải chính là vị thần mà ta phải thờ lạy chớ không nên thờ lạy một vị thần nào khác hơn không? Cứ nghĩ mà xem, có phải chỉ có một vị thần toàn năng duy nhất, ngư trị  cả trời  và đất và giảng đạo của mình khắp nơi, cả đến cái cõi âm ty như tại đây không? Một thứ giáo lý lạ lùng mà không rõ ràng gì cả. “Các con hãy yêu mến lẫn nhau … Các con hãy yêu mến lẫn nhau…” Không ai lại quan niệm được một câu chuyện như thế? …

Ông ta dừng lại trong một chỗ thật tối giữa những ngọn đèn, để có thể suy nghĩ kỹ càng hơn tại nơi vắng vẻ đó. Bỗng ông ta nghĩ ra một việc mà mình phải làm. Ông ta phải tống tên nô lệ đã tin  vào vị thần vô danh kia ra khỏi hầm mỏ, nơi mà cuối cùng mọi người đều phải ngã gục. Ông ta phải tìm cho lão một việc làm khác ở trên kia, dưới ánh mặt trời. Ông ta không hiểu vị thần kia và giáo lý của vị ấy, đó là điều bất khả đối với ông ta, nhưng ông ta phải hành động như vậy, ông ta có cảm tưởng rằng đó là ý muốn của vị thần ấy.

Ngay lần đầu tiên trở lên mặt đất, ông ta đến tìm người giám thị các nô lệ làm việc trong phần đất gần hầm mõ. Khi ông kia, là một anh chàng có gương mặt khỏe mạnh của một bác nhà quê có cái miệng to thô kệch, biết đầu đuôi câu chuyện, anh ta nói trắng ra rằng đề nghị ấy không hấp dẫn gì hết đối với mình bởi vì anh ta không thích một tên nô lệ của hầm mõ.

Thật ra thì anh ta đang cần thêm một vài người nữa, nhất là vào vụ cấy mùa xuân, vì như thường lệ, số bò không đủ dùng. Nhưng anh ta không thèm những tên thợ mõ. Chúng đều thiếu khả năng, thiếu sức lực, mà hơn nữa là những tên nô lệ khác cũng không thích chúng. Người ta sẽ nói: Để chúng nó lên mặt đất làm gì? Tuy nhiên cuối cùng anh ta vẫn bị người bạn lớn hơn của mình thuyết phục, một người vẫn có tài đạt được mục đích mình muốn. Và ông ta trở về hầm mõ.

Hôm sau ông ta bàn bạc với Xa-hắc về người bị đóng đinh lâu hơn những lần trước. Rồi nói cho lão biết sự sắp xếp của mình: Xa-hắc sẽ đến trình diện với người gác cửa để được tháo cùm và tách rời người người bạn đồng tù của mình. Rồi người ta sẽ đưa lão ra khỏi hầm mõ và giao tận tay người chủ mới.

Xa-hắc nhìn ông ta nhưng không hiểu điều mình vừa nghe. Có thể chuyện đó là thật sao? Viên giám thị quả quyết là thật, và thêm rằng chắc đó là do ý của vị thần mà Xa-hắc thờ phượng, cho nên nó phải được thực hiện.

Xa-hắc chắp tay lên ngực và đứng yên lặng một hồi lâu. Rồi lão bảo rằng lão không thể nào rời khỏi bạn mình, vì cả hai đều thờ cùng một Chúa và có cùng một đức tin như nhau.

Viên giám thị nhìn Ba-ra-ba, lộ vẻ kinh ngạc:

– Cùng một đức tin! Nhưng lão ấy đâu có quì gối cầu nguyện như cậu?

– Phải, Xa-hắc nói mà hơi bối rối, rất có thể là như vậy, nhưng anh ấy thì được gần Ngài cách khác hơn tôi, anh ấy đã từng được đứng gần cây thập tự mà trên đó Cứu Chúa đã chịu thương khó và chết. Có một ngày, anh ấy đã thấy một vùng hào quang phủ Ngài, và một lần khác, cũng thấy một thiên sứ như lửa lật đổ tảng đá chận cửa mộ để Ngài sống lại khỏi những kẻ chết. Vẻ uy nghiêm của Ngài đã được người bạn của tôi đây tiết lộ cho tôi biết đó.

Viên giám thị lắc đầu, lạc hướng vì tất cả những chuyện không thể nào hiểu nổi ấy, và liếc nhìn cách khinh bỉ con người có cái thẹo trên má và chẳng bao giờ người ta có thể nhìn thẳng vào mắt và ngay bao giờ cũng đang quay nhìn chỗ khác. Có thể nào lão ta cũng thuộc về vị thần của Xa-hắc? Viên giám thị thấy rằng lão ta rất dễ ghét.

Và ông ta không muốn đưa lão ra khỏi hầm mõ. Nhưng Xa-hắc lập lại:

– Tôi không thể nào rời khỏi anh ấy.

Viên giám thị liền lầm bầm điều gì trong miệng rồi lại liếc nhìn Ba-ra-ba lâu hơn. Cuối cùng ông ta miển cưỡng nhượng bộ và bằng lòng thỏa mãn ước muốn của Xa-hắc. Hai người bạn vẫn được xích vào nhau như trước. Rồi ông ta lìa họ để lại đắm mình vào nơi vắng vẻ.

Khi Xa-hắc và Ba-ra-ba đến trình diện với người gác cửa vào giờ đã qui định, cả hai được cởi xiềng và đưa lên khỏi hầm mõ. Vừa khi được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời chiếu rọi trên các triền núi thơm ngát mùi hoa sim và cam tòng hương, trên các thung lũng, các cánh đồng xanh mướt và ở đằng xa kia là mặt biển, Xa-hắc quì ngay xuống và trong cơn xuất thần, lão đã thét lên:

– Ngài đã đến! Ngài đã đến rồi! Nước Ngài là đây!

Người giữ tù đã đến để đưa họ đi, ngạc nhiên nhìn con người đang quì gối đó. Rồi lão dựng gã dậy bằng một cái đá:

– Ê, đi chớ, gã nói.

(Chương 10) (Chương 12

Thánh Kinh Báo
Tháng 12/1970 – Tháng 4/1971

Thư Viện Tin Lành (2012)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top