Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Tài Liệu » Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 10

Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 10

Chương 10

Không có ai biết chắc chắn gì về số phận của Ba-ra-ba sau biến cố ấy, về những nơi gã đã sinh sống và những việc gã đã làm trong tuổi tráng niên. Nhiều người bảo rằng sau khi mất tích, gã đã lui về ẩn trong vùng sa mạc hẻo lánh hơn hết của miền Giu-đê hay Sinai gì đó, để suy tư về thế giới của Thượng Đế và của loài người. Nhiều người khác lại cho rằng gã đã nhập bọn với dân Sa-ma-ri là đám người rất thù ghét đền thờ Giê-ru-sa-lem, hàng giáo phẩm và bọn người thông suốt Thánh Kinh; và vào ngày lễ Vượt Qua, người ta đã thấy gã trên chót núi thánh của họ vào giờ dùng chiên con làm sinh tế, cũng quỳ gối như họ để chờ vầng thái dương mọc lên trên đỉnh núi Giê-ri-sim. Nhưng có một vài người quả quyết rằng phần lớn trong khoảng thời gian đó, gã chỉ cầm đầu một bọn cướp hoành hành trên các triền núi Li-ban và đã tỏ ra tàn bạo như nhau đối với người Do-thái và các tín đồ Đấng Christ bị rơi vào tay mình.

Chúng tôi xin nhắc lại là mọi người đều không biết được sự thật. Nhưng điều người ta có thể chắc chắn, ấy là vào lúc khoảng 50 tuổi, Ba-ra-ba mà bây giờ người ta sẽ gọi là lão đã được đưa đến nhà của viên trấn thủ La-mã tại Ba-phô như một tên nô lệ, sau khi đã sống nhiều năm trong các mỏ đồng của đảo Chíp-rơ, do chính vị này quản trị. Tại sao lão đã bị bắt và bị đày vào các mỏ đồng, là lối hình phạt kinh khiếp nhất mà người ta có thể tưởng tượng, thì không một ai biết cả. Điều lạ lùng nhất là sau khi đã sa vào cái địa ngục ấy mà lão còn trở về với đời sống, dầu là để làm một tên nô lệ. Có nhiều việc đặc biệt ngoại lệ khác đã liên hệ đến sự kiện này.

Tóc lão đã hoa râm, gương mặt đầy vết nhăn, nhưng ngoài việc đó ra, lão vẫn còn khỏe mạnh lạ lùng bất chấp tất cả những gì đã phải chịu đựng. Lão cũng phục hồi sức lực nhanh chóng lạ thường và đã tìm lại được phần lớn phong độ cũ. Khi rời khỏi các hầm mỏ, với thân hình gầy trơ xương và đôi mắt hết thần, sâu như hai cái giếng, trông lão giống một kẻ chết hơn là một người sống. Khi lão đã lại sức thì cái nhìn của lão càng tỏ ra ngơ ngác hơn trước, ngại ngùng như đôi mắt con chó vừa bị đòn, nhưng ngời lên mối hận thù mà mẹ lão từng cảm thấy, để chống lại cõi thọ tạo khi sinh đứa con trai của mình ra đời. Sau một thời gian rất lâu bị phai màu, vết xẹo phía dưới mắt lại càng sâu vào hàm râu một đường nhỏ như máu.

Nếu lão không được tôi luyện để trở thành dẽo dai như thế, chắc lão đã không thể nào sống sót nổi. Thế thì lão phải cám ơn Ê-li-hu và người đàn bà Mô-áp vì họ đã ban cho lão một cuộc sống thứ hai, dầu cả hai đã khinh ghét thay vì yêu mến lão. Nhưng dầu sao thì họ cũng chẳng bao giờ yêu thương nhau. Điều đó chứng minh rằng tình yêu không quan trọng gì lắm. Nhưng vì không biết gì hết về chuyện ấp ủ nhau của họ, nên Ba-ra-ba cũng không biết là mình mắc nợ họ.

Gã đã đến một ngôi nhà rộng lớn có rất nhiều nô lệ. Trong đám họ có một người cao lớn, rất gầy, tướng đi ưởn ẹo, một người Ạt-mê-mi tên là Xa-hắc, rất cao, đến nỗi mỗi khi bước đi, lão ta dường như phải khòm lưng xuống một chút. Với đôi mắt to lồi, sậm màu và mở lớn, lão cho ta cái cảm tưởng là bên trong đang có một ngọn lửa cháy ngầm. Mái tóc bạc cạo sát và gương mặt tiều tụy khiến người ta lầm tưởng đó là một cụ già, nhưng thật ra lão chỉ bốn mươi ngoài tuổi. Lão cũng đã ở trong các hầm mỏ. Ba-ra-ba với lão đã từng sống chung trong đó  và họ cũng cùng được ra khỏi đó với nhau. Nhưng Xa-hắc không phục hồi được sức lực như bạn mình, lão vẫn còn gầy không tưởng tượng được, và cuộc sống gay go vẫn còn để lại trên lão các dấu vết nhiều hơn. Dường như dầu sao thì Ba-ra-ba cũng chưa hề trãi qua những thử thách mà lão đã phải chịu. Mà sự thật là vậy.

Các nô lệ khác rất thắc mắc về hai người ấy, vì họ đã thoát được một nơi chưa hề có ai ra khỏi mà còn sống, và rất thích được nghe họ kể lại cuộc đời phiêu lưu của mình. Tuy nhiên chúng không rút tỉa được gì nhiều về quá khứ của họ. Họ thường lánh mặt mọi người, cũng không hề nói chuyện với nhau và dường như không có nhiều điểm tương đồng dầu vẫn cho người ta cái cảm tưởng rằng họ là hai người bạn bất khả phân ly. Thật là lạ. Nhưng nếu vào những lúc rỗi rãi hay ăn uống họ ngồi bên nhau và ban đêm ngủ chung trên một ổ rơm, thì đó là vì họ đã từng bị xích chung trong các hầm mộ.

Họ đã bị xích chung như vậy ngay từ khi ở trên con tàu từ lục địa chở đến. Trong các hầm mỏ, những tên nô lệ bị xích chung luôn luôn làm việc với nhau. Không có ai rời được người bạn đồng tù của mình. Cho nên vì chung nhau tất cả nên cuối cùng họ biết hết về nhau, hay lắm lúc họ cũng oán ghét nhau thậm tệ. Lắm lúc vì giận dữ, họ cũng xông vào nhau không vì một lý do nào cả, mà chỉ vì họ đã bị xích chung nhau trong cái địa ngục ấy.

Nhưng hai người này thì dường như rất ăn ý với nhau và cùng giúp nhau chịu đựng cực hình của họ nữa. Họ rất hài lòng về nhau và thỉnh thoảng lại trao đổi với nhau vài tiếng, giải buồn cho nhau về cách trò chuyện trong khi làm việc cực nhọc. Lẽ dĩ nhiên Ba-ra-ba là người khó thông cảm hơn nên chỉ sẵn lòng nghe người kia tán chuyện. Ban đầu họ không nói gì với nhau hết, dường như họ không thích điều đó. Cả hai điều có những chuyện kín và không muốn tiết lộ. Phải qua một thời gian lâu, họ mới hiểu được chút ít về nhau.

Số là một hôm tình cờ Xa-hắc biết được rằng Ba-ra-ba là dân Do-thái và được sanh trưởng tại Giê-ru-sa-lem. Lão bỗng tỏ ra chú ý đến việc đó một cách lạ thường và bắt đầu hỏi về chuyện này chuyện nọ. Lão tỏ ra biết rất rõ về thành phố dầu chưa bao giờ đến đó. Cuối cùng lão ta hỏi Ba-ra-ba có biết gì về một ông thầy giảng đạo từng sống tại đó và đã hoàn tất sứ mạng của mình, một đại tiên tri được rất nhiều người tin tưởng, hay không. Ba-ra-ba biết ngay ông thầy giảng đạo đó là ai rồi, và bảo là mình có nghe nói về người ấy. Xa-hắc muốn được biết nhiều hơn, nhưng Ba-ra-ba lại trả lời loanh quanh rằng mình không biết gì nhiều hết… Lão có thấy người ấy tận mắt không? Có, lão có thấy! Xa-hắc tỏ ra rất quan tâm đến sự kiện ấy. Vì một chặp sau lão lại hỏi Ba-ra-ba có thật thấy người ấy không. Ba-ra-ba  trả lời càng quả quyết hơn, nhưng không có vẻ sốt sắng mấy.

Xa-hắc buông xuôi chiếc cuốc nhọn của mình. Quá ngạc nhiên về điều mình vừa được nghe, lão như người mất hồn. Lão không thể nào giải nghĩa được tại sao hôm nay dường như mọi sự đối với lão đã trở thành khác hẳn. Hầm mỏ khoát một khung cảnh khác hẳn, không còn gì giống như trước nữa. Lão đã bị xích chung với một người đã thấy chính Thượng Đế.

Chính lúc ấy lão bỗng cảm thấy ngọn roi da của người giám thị vừa đi ngang qua đó vút lên lưng mình. Lão co rúm người lại như để tránh những ngọn roi và lật đật quơ vội chiếc cuốc nhọn đào lia lịa. Khi tên cai tù ác ôn kia bỏ đi, tấm thân vạm vỡ của lão đã đẫm máu, và run rẩy vì những vết roi vừa giáng trên đó. Phải qua một thời gian khá lâu lão mới nói được. Lúc ấy lão xin Ba-ra-ba nói cho mình nghe những việc đã xảy ra, kể cho lão nghe những lần gặp gỡ của Ba-ra-ba với ông thầy giảng đạo. Có phải là trong Đền Thờ, trong nơi thánh chăng? Có phải nhà tiên tri ấy nói về sự trị vì sắp đến của mình chăng? Hay trong trường hợp nào? Ban đầu Ba-ra-ba không muốn tiết lộ gì hết. Nhưng cuối cùng lão miển cưỡng trả lời là tại đồi Gô-gô-tha.

– Gô-gô-tha? Đó là ở đâu vậy?

Ba-ra-ba giải thích rằng đó là nơi người ta đóng đinh những tội phạm.

Xa-hắc im lặng hồi lâu. Lão nhìn xuống đất, rồi thì thầm một mình.

– Thật sao, chính cái lúc mà …

Đó là những điều họ đã nói với nhau lần đầu tiên về ông thầy giảng đạo bị đóng đinh, mà họ sẽ đề cập đến thường xuyên hơn sau đó.

Điều Xa-hắc tha thiết nhất là muốn biết những lời linh thiêng mà nhà tiên tri ấy đã nói và những phép lạ ông ta đã thực hiện. Lẽ dĩ nhiên là lão biết rằng người ta đã đóng đinh người ấy, nhưng lão thích được nghe Ba-ra-ba kể lại những chuyện khác kìa.

Đồi Gô-gô-tha… Đồi Gô-gô-tha… Một cái tên rất lạ đối với lão, liên hệ đến một biến cố rất quen. Biết bao lần lão đã được nghe nói về Cứu Chúa bị đóng đinh và những việc lạ đã xảy ra chung quanh cái chết của Ngài. Lão hỏi Ba-ra-ba có thấy tấm màn trong Đền Thờ sau khi nó bị xé ra không? Dầu sao chắc lão phải thấy quả núi bị nứt, bởi vì lão đang ở ngay lúc đó mà.

Ba-ra-ba đáp rằng tất cả những điều đó có lẽ đã xảy ra, dầu mình không thấy.

– Phải.

Và Xa-hắc nói thêm:

– Còn những người chết đã ra khỏi mồ nữa. Họ đã rời khỏi âm ty để làm chứng nhân cho người ấy, để chứng chắc cho quyền lực và uy danh của Ngài?

– Có. Ba-ra-ba nói.

– Rồi cái bóng tối đã bao trùm quả đất khi người ấy tắt hơi nữa?

– Có.  Đó là điều mà Ba-ra-ba đã thấy. Lão có thấy bóng tối đó.

Xa-hắc tỏ ra rất sung sướng khi được biết việc đó, dầu đồng thời lão cũng bối rối khi nghĩ đến chỗ đã xảy ra cuộc hành hình và tưởng như mình trông thấy trước mắt ngọn núi bị nứt ra, nơi Con Thượng Đế đã tự hiến thân làm sinh tế. Phải, chắc chắn là Cứu Chúa đã chịu thương khó và chết. Ngài phải chịu vậy để cứu rỗi chúng ta. Sự việc đã xảy ra như vậy, nhưng người ta không thể nào hiểu được. Xa-hắc thích hình dung Ngài trong khung cảnh huy hoàng. Trong nước Ngài là nơi hoàn toàn khác hẳn ở đây hơn. Và lão lấy làm tiếc là Ba-ra-ba, người bạn cùng xích xiềng với lão, lại chỉ thấy Ngài tại Gô-gô-tha mà không thấy Ngài một lần nào khác nữa. Tại sao lão ta lại thấy Ngài vào đúng lúc ấy. Lão nói với Ba-ra-ba:

– Cậu đã trông thấy người ấy vào chính lúc đó thì thật là lạ. Tại sao lúc ấy cậu lại ở đó?

Nhưng Ba-ra-ba không trả lời gì hết.

Có một ngày Xa-hắc hỏi lão có thật là không còn thấy người ấy ở chỗ nào khác nữa hay không. Ba-ra-ba đã chần chờ một lát rồi mới đáp. Và lão cũng bảo rằng mình cũng có mặt trong sân dinh tổng đốc là nơi ông thầy giảng bị xét xử, rồi lão thuật lại những việc đã xảy ra. Lão mô tả ánh hào quang đó, lão không nhận xét thêm là có lẽ mình bị chói mắt sau khi vừa từ trong ngục tối ra. Lão kia chắc sẽ không thích thú gì.

Phải, không ai thích nghe nói như vậy hết. Nhưng nếu lão bỏ qua câu giải thích về chuyện lạ đó đi, Xa-hắc sẽ rất sung sướng và sẽ còn muốn nghe câu chuyện thêm nữa và mãi mãi. Gương mặt lão sáng ngời lên, và Ba-ra-ba có cảm tưởng là mình cũng chia xẻ được niềm vui với lão. Mỗi lần Xa-hắc yêu cầu thì gã kể ngay việc lạ thường mà lão đã thấy vào cái ngày xa xôi đó, và dường như thấy cách rõ rệt hơn.

Ít lâu sau lão tiết lộ cho Xa-hắc biết là mình cũng chứng kiến sự sống lại của Thầy. Thật ra thì chính gã cũng không thấy người ấy sống lại vì không có ai thấy được việc đó cả. Nhưng lão đã thấy một thiên sứ từ trời lao xuống, một cánh tay đưa thẳng ra như mũi giáo và vạt áo choàng phất phới phía sau như một ngọn lửa. Mũi giáo cấm phập vào khoảng giữa vách đá và tảng đá chận cửa mộ, đã tách rời chúng ta. Bây giờ lão mới thấy là trong mộ trống rỗng.

Xa-hắc nghe mà sững sốt, đôi mắt đầy tin tưởng nhìn chăm vào Ba-ra-ba. Có thể như vậy được sao? Có thật là tên nô lệ khốn nạn dơ nhớp này đã thấy mọi sự đó không? Lão đã có mặt lúc phép lạ vĩ đại nhất trong các phép lạ được thực hiện chăng? Vậy thì lão là ai? Và làm sao chính lão Xa-hắc lại có cái ân huệ là được xích chung với người đã mục kích tất cả những điều đó, đã được ở rất gần bên Cứu Chúa như vậy?

Đang sống trong hạnh phúc của những điều mình vừa được nghe đem đến, lão biết là bây giờ mình phải tiết lộ điều bí mật của mình cho bạn và không thể nào nín lặng được nữa. Lão thận trọng nhìn quanh cho chắc là không có ai đến gần chiếc đèn dầu đang cháy loe loét bên vách đá và dưới làn ánh sáng chập chờn đó, chỉ cho gã tấm thẻ nô lệ của mình đeo trên cổ.

Tất cả bọn nô lệ đều có một tấm thẻ tương tự, bên trên có khắc dấu hiệu của ông chủ họ. Đối với những tên nô lệ của hầm mỏ thì có dấu hiệu của đế quốc La-mã. Nhưng ở mặt trái tấm thẻ của Xa-hắc, cả hai có thể nhận ra những dấu kỳ dị, bí mật, họ không thể nào đọc được, nhưng theo lời giải thích của Xa-hắc, thì chúng tượng trưng cho tên của người bị đóng đinh, của Cứu Chúa, của chính Con Thượng Đế. Nhưng lúc Ba-ra-ba ngạc nhiên nhìn vào những dấu khắc lạ kỳ, dường như có một giá trị ma quái đó, thì Xa-hắc nói nhỏ rằng chúng có nghĩa là lão ta đã hiến thân cho Con Thượng Đế, lão là nô lệ của Ngài. Rồi lão bảo Ba-ra-ba rờ lên những chữ ấy, và Ba-ra-ba giữ tấm thẻ lại rất lâu trong bàn tay mình.

Có lúc họ tưởng mình nghe thấy người giám thị đến gần, nhưng họ đã lầm, và lại chụm đầu vào nhau trên mấy chữ đó. Xa-hắc kể rằng một tên nô lệ người Hi-lạp đã khắc mấy chữ ấy. Người nô lệ đó là một tín đồ được, đã nói cho lão biết về Cứu Chúa và sự trị vì sắp đến của Ngài, và như thế cũng dạy cho lão tin Ngài. Xa-hắc đã gặp người ấy trong lò đúc, là nơi chưa hề có ai chịu nổi quá một năm. Người Hi-lạp kia cũng không chịu nổi lâu đến thế. Khi anh ta tắt hơi trong cái lò lửa đó, những lời cuối cùng Xa-hắc nghe anh ta thì thầm là: “Lạy Chúa, xin đừng bỏ con.”

Sau khi người ấy chết người ta đã chặt chân ra để thu hồi những chiếc cùm bằng sắt cho dễ, rồi ném xác vào lửa  như điều họ vẫn làm trong lò đúc, Xa-hắc không hi vọng gì được chấm dứt cuộc đời một cách khác hơn. Nhưng một thời gian sau, một số nô lệ trong đó có lão, đã được đưa đến các hầm mỏ này, là nơi người ta đang cần đến họ.

Bây giờ thì Ba-ra-ba biết rằng lão cũng là một tín đồ được, một nô lệ của Thượng Đế. Lão kết luận như vậy khi nhìn chăm một cách thật thà vào bạn mình.

(Chương 9) (Chương 11

Thánh Kinh Báo
Tháng 1
0/1970Tháng 11/1970

Thư Viện Tin Lành (2012)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top