Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Tài Liệu » Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 6

Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 6

Chương 6

Bây giờ gã tự thu hình lại như con ốc và không nói gì với ai cả. Hơn nữa, gã cũng không bao giờ ra ngoài. Gã cứ nằm ỳ phía sau tấm màn trong nhà mụ to béo. Hay khi nào ồn ào quá thì hắn leo lên cái lều bằng lá trên mái nhà. Gã cũng không thiết gì ăn uống. Nếu người ta không đem thức ăn đến để trước mặt, có lẽ gã sẽ không cần đến ăn. Đối với gã, mọi sự dường như không còn có ý nghĩa gì hết.

Mụ to béo không biết gã mắc chứng gì, mụ không hiểu gì cả. Tốt nhứt là cứ để yên cho gã, có lẽ đó là điều gã muốn. Khi có ai nói gì với gã, gã cũng không buồn đáp lại lời nào. Nếu người ta liếc nhìn ra phía sau tấm màn, người ta sẽ thấy là gã nằm đó, dán đôi mắt vào trần nhà. Mụ thật không hiểu gì cả. Gã sắp điên chăng? Mất trí chăng? Mụ không biết.

Nhưng một hôm mụ tưởng là mình đã biết chuyện. Ấy là khi tình cờ mụ hay rằng gã thường lui tới bọn người điên dại vẫn tin vào cái người đã bị đóng đinh thay vì Ba-ra-ba. Lúc ấy tâm trí mụ như được soi sáng. Chắc đó là điều đã khiến gã trở thành kỳ dị. Đó là lỗi của họ. Bất cứ ai lui tới với bọn người chuyên môn lừa phỉnh như thế cũng đều bị loạn óc cả.

Họ vẫn tin quyết rằng người bị  đóng đinh là một vị cứu tinh hay một cái gì tương tự như vậy, rằng người ấy sẽ phù hộ và nhậm lời khẩn nguyện của họ, rằng người ấy sẽ làm vua thành Giê-ru-sa-lem để tống khứ bọn ác quỷ đi.

Thật ra thì mụ không biết rõ giáo lý của họ là gì, mà họ cũng không cần gì tìm biết, nhưng mọi người đều cho rằng họ đã bị mất trí. Thế thì tại sao Ba-ra-ba lại có thể liên lạc với họ được? Phải rồi, lẽ dĩ nhiên là đúng ra gã phải bị đóng đinh, nhưng vị cứu tinh của họ đã bị đóng đinh thay gã, và điều đó chắc là kinh khủng lắm. Chắc Ba-ra-ba giải thích cho họ rằng đó không phải là lỗi của gã, và như thế bọn kia kể cho gã nghe là người mà họ tin đó vốn phi thường trong sạch và vô tội như thế nào.  Một nhân vật quan trọng! Và người ta đã đối xử như thế với vì vua, ông chúa vĩ đại như vậy thì thật là rùng rợn! Phải rồi, họ đã nhồi vào sọ gã những điều ngông cuồng có thể có đó, nên cuối cùng, gã đã trở thành gàn dở chỉ vì gã không phải người đã bị đóng đinh. Phải rồi, chắc đó là việc đã xảy ra!

Có thể nào nói được là gã lấy làm hối tiếc vì mình chưa chết chăng? Thật là ngu ngốc nhất đời! Mụ không thể nào nín cười anh chàng Ba-ra-ba tốt bụng của mình được. Thật là khôi hài! Phải rồi, đó là việc đã xảy ra.

Bây giờ thì việc ấy phải chấm dứt. Phải đưa gã trở về với lẽ phải. Mụ ta chỉ cần bảo với gã hai tiếng mà thôi. Những chuyện dại dột đó thì nghĩa lý gì?

Nhưng mụ ta vẫn không nói gì với gã cả. Ý định của mụ vẫn chưa thi hành được. Người ta không thể nào gợi chuyện với Ba-ra-ba để nói về chính gã. Dẫu có muốn cách mấy đi nữa, người ta cũng không thành công.

Nếu thế thì không có gì thay đổi hết, và mụ ta vẫn tiếp tục tự hỏi là gã đang mắc chứng gì. Gã bị bệnh chăng? Có lẽ gã bệnh thật. Gã gầy tọp hẵn đi, và vết thẹo do lưỡi dao của Ê-li-hu chém gã là phần duy nhất trên gương mặt xanh xao, trên đôi má hóp của gã còn hơi đỏ một tí. Trông gã thật đáng thương hại, gã không còn như trước nữa, bất cứ là về phương diện nào. Đi la cà như thế, cứ nằm ỳ ra dán mắt lên trần nhà như thế! Ôi! Ba-ra-ba! Một người đàn ông đã một thời oanh liệt mà bây giờ lại có thái độ như thế!

Cứ nghĩ mà xem, dường như gã không còn là chính gã nữa! Cứ nghĩ mà xem, dường như gã đã trở thành một kẻ khác rồi, dường như gã đã bị oan hồn của một người nào khác ám ảnh rồi! Gã đã gây cho người ta đúng cái cảm tưởng như thế! Oan hồn của những kẻ khác! Kẻ đã bị đóng đinh đó.

Và chắc chắn là người kia không muốn cho gã được yên. Cứ nghĩ mà xem nếu vị cứu tinh kia khi tắt hơi đã thở hắt nó vào Ba-ra-ba để mình khỏi chết, vừa cũng để trả thù điều bất công mà chính mình là nạn nhân. Báo thù kẻ đã được phóng thích! Có thể lắm! Nghĩ đến đó, mụ tự nhủ là Ba-ra-ba đã trở thành kỳ cục từ lúc ấy, phải mụ nhớ rất rõ thái độ kỳ dị của gã khi gã đến nhà mụ ngay sau khi được phóng thích. Phải rồi, thế là mọi việc đều đã ra lẽ cả rồi. Điểm khó hiểu duy nhất là làm sao ông thầy giảng đạo kia lại có thể trút hơi thở cuối cùng lên người Ba-ra-ba, vì người ấy đã tắt hơi trên đồi Gô-gô-tha, là nơi mà chắc chắn là Ba-ra-ba đã không có mặt. Nhưng vì người ta vẫn cho rằng ông ta có nhiều quyền lực, nên chắc là ông ta có thể đưa cái hơi thở vô hình của mình đó đến bất cứ nơi nào mình muốn. Ông ta có thể đầy đủ năng lực để sắp xếp mọi việc tùy ý mình muốn.

Mụ tự hỏi không biết Ba-ra-ba có biết chuyện đã xảy đến cho gã, có biết là gã bị một linh hồn khác ám ảnh không? Gã có biết là chính gã đã chết, còn linh hồn của người bị đóng đinh hiện đang sống trong gã không? Mụ ta tự hỏi như vậy.

Có lẽ gã không nghi ngờ gì cả. Nhưng ai cũng đang thấy rõ là gã đang khá bệnh hoạn. Về điểm đó thì không có gì đáng ngạc nhiên bởi vì đó là linh hồn của một người lạ không muốn cho gã được yên lành.

Mụ thấy thương hại cho gã. Phải, thấy gã như thế làm mụ đau khổ, đủ biết là mụ ta thương hại gã bao nhiêu! Về phần mụ thì gã không thèm ngó ngàng gì tới, nhưng sở dĩ như thế là vì gã không thích. Gã không yêu mến mụ chút nào thì gã không thèm ngó, điều đó không có gì đáng lấy làm lạ cả. Ban đêm, gã cũng không thèm ăn nằm với mụ nữa. Đó là điều tệ hại nhất, và không có gì chứng minh rõ ràng hơn cho việc gã không còn thiết tha gì đến mụ nữa. Chỉ có mụ là con ngu ngốc mà cứ bám mãi vào cái anh chàng khổ sở này. Đêm đêm, mụ khóc một mình và điều đó không làm cho mụ có cảm tưởng dễ chịu nữa. Thật là lạ … Mụ chẳng bao giờ nghĩ rằng việc ấy có thể xảy đến cho gã.

Làm sao để chiếm lại gã? Làm sao đuổi được người bị đóng đinh kia đi để khiến Ba-ra-ba trở lại là chính Ba-ra-ba? Mụ không biết cách thức đuổi tà ma. Mụ ta không biết gì hết, mà điều chắc là một hồn ma rất mạnh và rất nguy hiểm, mụ ta đoán vậy. Mụ cảm thấy gần như sợ hãi, dầu bản tính mụ không phải là hay sợ sệt. Cứ nhìn Ba-ra-ba thì biết hồn ma người đó có quyền lực như thế nào. Nó đã ám ảnh nổi một con người vạm vỡ mà trước đó đã sống hoàn toàn độc lập. Thật là khó quan niệm cho nổi. Cho nên người ta hầu như phải sợ sệt thì không có gì đáng ngạc nhiên. Hồn ma đó chắc phải có một mãnh lực đặc biệt bởi vì nó thoát ra khỏi kẻ đã bị đóng đinh.

Không! Mụ ta không sợ. Nhưng mụ chỉ không ưa những kẻ đóng đinh thế thôi. Đối với mụ thì họ không có nghĩa lý gì cả. Mụ có một thân hình to béo, nở nang; chỉ có Ba-ra-ba là thích hợp với mụ khi gã hãy còn là chính gã. Trước khi gã để cho cái ý nghĩ là đáng ra chính gã phải bị đóng đinh ám ảnh trong đầu. Điều khiến cho mụ to béo hài lòng là chính gã không bị đóng đinh, là gã đã thoát nạn!

Đó là những ý nghĩ của mụ ta trong sự cô đơn lớn lao của mình.  Nhưng cuối cùng mụ ta như là đất cục, mụ không biết việc gì xảy ra cho gã, không biết gã có bị linh hồn người bị đóng đinh ám ảnh hay không. Điều chắc chắn duy nhất, ấy là gã không còn ngó ngàng gì đến mụ nữa, thế mà mụ cứ yêu gã thì thật là ngốc. Mỗi khi nghĩ như thế, mụ ta lại khóc tỉ tê và cảm thấy khổ sở kinh khủng.

Trong thời gian ở nhà mụ to béo, có lần Ba-ra-ba cũng đi phố. Và đây, là việc đã xảy đến cho gã vào một trong những lần đi ít ỏi đó.

Gã vào một ngôi nhà chỉ giống như một cái chái thấp, có vài lỗ thông hơi để cho ánh sáng vào. Từ những lỗ thông hơi đó cũng tiết ra một mùi nồng nồng của da thú, của các loại nước cường toan và những mùi gì gã cũng không biết nữa. Có lẽ đây là một xưởng thuộc da, dầu nó không ở trong khu phố của các thợ thuộc da, nhưng nằm dưới chân núi của một Đền Thờ, về phía thung lũng Xết Rôn. Chắc đây là một trong những xưởng để thuộc da những con thú được dùng làm sinh tế trong Đền Thờ. Nhưng người ta không còn dùng đến nó nữa. Người ta chứa những thùng lớn để dài theo các vách tường đều trống rỗng, dầu chúng vẫn còn giữ lại mùi hôi… Dưới đất là những đống vỏ cây sồi, những rác rến và đồ dơ đủ loại mà người ta dẫm lên trên.

Ba-ra-ba len lén đi lọt vào đó mà không bị ai chú ý, rồi ngồi xổm trong một góc gần cửa ra vào, nơi gã có thể nhìn khắp căn phòng đầy những người đang cầu nguyện. Gã không trông thấy hết, mà chỉ phân biệt được những người tình cờ ngồi ngay dưới những tia sáng lọt qua các lỗ thông hơi. Nhưng chắc còn có nhiều người khác đang cầu nguyện trong bóng tối là nơi có những tiếng thì thầm vang ra. Thỉnh thoảng tiếng thì thầm ấy cất lên từ một phía, để rồi trầm hẳn xuống và hòa lẫn với tiếng rầm rì chung. Lắm lúc cả mọi người trong căn phòng đều cầu nguyện to lên với lòng nhiệt thành ngày càng gia tăng, rồi có một người đứng lên để làm chứng về sự sống lại của Cứu Chúa trong một trạng thái xuất thần. Lúc ấy những người khác im tiếng và quay đầu về phía người ấy, chừng như muốn thu hút phần sức lực trong người ấy. Xong rồi họ lại bắt đầu cầu nguyện bằng một sức nóng nảy tăng bội. Thường thì Ba-ra-ba không thể nào thấy được mặt người làm chứng. Nhưng rồi có một người đứng dậy ở gần ga. Gã thấy được vẻ hăng say và những giọt mồ hôi chảy dài xuống đôi má hóp của người ấy. Đó là một người đã có tuổi, người ấy lại đập đầu xuống nền đất nện, điều mà mọi người làm khi khấn nguyện. Dường như người ấy nhớ rằng mình còn có một vị Thần khác hơn là người đã bị đóng đinh mà người ấy luôn luôn đề cập đến.

Sau người ấy có một tiếng nói từ xa vọng lại mà Ba-ra-ba nhớ mang máng là mình có quen. Quay về hướng đó gã khám phá ra rằng đó là giọng của người Ga-li-lê có hàm râu hung hung đỏ, đang đứng giữa một làn ánh sáng. Ông ta nói với giọng trầm tỉnh hơn những người khác với giọng của xứ mình, mà người Giê-ru-sa-lem cho là quê mùa, khờ khạo. Nhưng chính ông ta được mọi người chú ý hơn hết, dường như tất cả  đều bám lấy môi miệng ông ta, dầu những lời người ấy nói không có gì lạ thường cả. Ban đầu ông ta nhắc lại khá lâu về Thầy thân yêu của mình mà ông ta không hề gọi bằng một tên nào khác hơn. Rồi ông ta nhắc lại rằng theo lời tiên tri của Cứu Chúa, các tín đồ sẽ bị khủng bố, sát hại vì cớ đầu tiên của họ. Nếu việc sẽ bất ngờ xảy ra đúng như vậy, họ phải cố gắng hết sức để chịu đựng sự khổ sở bằng cách nghĩ đến người đã từng chịu đau đớn. Lẽ dĩ nhiên là trái với Thầy, họ đều là những con người khốn nạn, nghèo ngặt đáng thương, nhưng họ phải cố gắng chịu đựng thử thách để khỏi phản bội, chối bỏ Thầy. Đó là tất cả những gì mọi người trông đợi. Dường như người Ga-li-lê kia đã nói điều đó là cho chính mình cũng như cho mọi người khác. Khi ông ta dứt lời trong đám cử tọa dường như có sự thất vọng. Chắc vì thấy được điều đó nên ông ta tuyên bố là mình sẽ đọc một bài cầu nguyện mà có lần Thầy đã dạy mình. Ông ta thi hành ngay và mọi người dường như được hài lòng hơn, một số còn có vẻ cảm động thực sự nữa. Mọi người dường như  đều ở trong trạng thái xuất thần. Sau bài cầu nguyện, những người ở gần ông Ga-li-lê hơn hết đã quay lại để cám ơn ông ta. Ba-ra-ba thấy rằng số người đang ngồi quanh ông ấy chính là những kẻ đã thét lên: “Cút khỏi đây mau, thằng quỉ!” hôm nọ.

Sau đó còn một vài chứng nhân đầy dẫy Thần Linh ở trong trạng thái xuất thần khác nữa đến nổi buổi họp cứ tiếp tục và nhiều người nghiêng bên này, ngã bên nọ, dường như đang bị xúc động rất mạnh vì cảm kích. Từ cái góc của mình, Ba-ra-ba nhìn họ, quan sát tất cả bằng đôi mắt thụt sâu vào hai lỗ mắt của gã.

Bổng gã giật nẩy mình. trong một làn ánh sáng gã thấy ả sứt môi, đôi tay ả đè chặt lấy bộ ngực lép, gương mặt xanh xao hướng về phía ánh sáng đang chảy dài trên người. Từ buổi sáng họ gặp nhau trước cửa mộ đến nay, gã chưa gặp lại ả, tự hỏi ả là ai. Dường như không ai biết ả cả. Rõ ràng là họ thấy ở ả một cái gì kỳ cục mà không thể nói được là cái gì, ngoài ra bộ quần áo rách tả tơi của ả. Họ tò mò chờ nghe lời làm chứng của ả.

Sao ả lại đi làm chứng chư thế? Việc đó có ích lợi gì! Ba-ra-ba nghĩ trong lòng như vậy? Ả phải biết đây không phải là chỗ của ả chứ. Gã rất bất mãn, dầu việc đó không dính dáng gì với gã hết. Sao ả lại đi làm chứng.

Dường như ả cũng không say sưa đặc biệt với chuyện đó lắm. Ả nhắm nghiền đôi mắt hình như không muốn nhìn bất cứ một ai trong đám người đang vây quanh mình. Ả cho ta cái cảm tưởng là ả muốn nói gấp cho xong chuyện. Nếu thế thì nói làm chi? Có gì là cần thiết đâu?

Cuối cùng ả cũng bắt đầu nói. Bằng cái giọng mũi của mình, ả xác nhận đức tin của ả vào Cứu Chúa, và không có ai cảm động về chuyện đó như đáng phải có. Trái lại ả đã nói bằng một giọng có vẻ hờn dỗi hơn, khôi hài hơn thường lệ. Lẽ dĩ nhiên là ả đã bị xúc động mạnh khi đứng trước một số đông người như thế. Đám đông bộc lộ rõ rệt sự khó chịu của họ. Vài người quay mặt chỗ khác, xấu hổ. Sau hết ả bập bẹ một câu gì như là: “Thưa Chúa con đã làm chứng cho Ngài rồi đó, như điều Ngài đã dạy con.” Rồi ả nép mình sát xuống nền đất nện, cố gắng cho người ta càng không thấy mình càng hay.

Mọi người nhìn nhau, bỡ ngỡ. Dường như ả đã biến những người trong căn phòng này trở thành những người kỳ cục. Và có lẽ họ đã có lý. Có lẽ ả đã làm vậy. Sau việc đó, họ chỉ còn muốn có mỗi một điều: bế mạc buổi họp càng sớm càng tốt. Một trong những cử tọa, một người trong đám người đã nói “Cút khỏi đây mau, thằng quỉ” đứng lên và tuyên bố là họ phải giải tán. Rồi ông ta thêm là chắc mọi người đều biết là tại sao họ lại họp ở đây mà không họp trong thành phố, rằng lần sau buổi họp sẽ được triệu tập tại một chỗ khác mà bây giờ chưa có thể nói là ở đâu. Chắc Chúa sẽ chọn cho họ một chỗ trú ẩn để tránh được những kẻ hung bạo. Ngài là người chăn của họ, sẽ chẳng bao giờ bỏ mặc bầy chiên của mình.

Ba-ra-ba không nghe thêm nữa. Gã đã lách nhưng ra ngoài trước mọi người và rất lấy làm bằng lòng vì gã đã đi trước họ rất xa rồi.

Tất cả những việc đó khiến gã bất nhẫn.

 (Chương 5) (Chương 7

Thánh Kinh Báo
Tháng 4-5/1970

Trích Thánh Kinh Báo
(Tháng 10-11/1969)

Thư Viện Tin Lành (2012)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top