Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Lịch Sử » Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 5

Tiểu Thuyết: Barabbas – Chương 5

Chương 5

Lắm lúc Ba-ra-ba tự hỏi tại sao mình ở lại Giê-ru-sa-lem, trong khi không có việc gì cần làm cả. Gã đi lang thang trong thành phố không mục đích, cũng không để làm một việc gì. Tuy nhiên, gã đoán biết rõ là trên núi, các đồng bọn đang lấy làm lạ vì gã còn nấn ná ở đây mà chưa chịu về với chúng. Tại sao gã ở lại đây? Chính gã cũng không biết nữa!

Ban đầu mụ to béo tưởng rằng đó là vì mụ, nhưng chẳng bao lâu mụ biết là không phải như vậy. Mụ có hơi bất mãn đôi chút, nhưng đàn ông thì bao giờ cũng bội bạc nếu ta không từ chối gì với điều họ muốn. Dầu sao thì gã cũng ngủ với mụ, đó là điều khiến mụ hài lòng. Thật là thích thú khi tìm được một gã “chỉ” như Ba-ra-ba, một người mà mụ thích vuốt ve, mơn trớn. Và cái hay nơi Ba-ra-ba là gã không thuộc về mụ, cũng không là của ai cả; người ta có thể tin chắc chắc như vậy. Gã không thuộc về ai, cũng không tha thiết với ai hết. Gã luôn luôn vẫn thế. Hơn nữa mụ cũng không cần biết là gã có thiết tha gì với mình không, và những lúc họ gần gũi với nhau. Nhưng sau đó, có khi mụ lại cảm thấy buồn và khóc thầm một mình. Cái đó cũng không hề làm phật lòng gã. Khóc có thể gây cho người ta một cảm tưởng dễ chịu hơn. Mụ đã có nhiều kinh nghiệm trong đường tình, nên không thấy ghét gã bất cứ vì lý do gì.

Thế tại sao gã cứ la cà mãi ở Giê-ru-sa-lem. Mụ không thể nào khám phá ra nổi. Mụ cũng không biết là gã làm gì suốt những ngày dài đăng đẳng đó. Gã không phải nhu nhược như những đứa không ra gì vẫn đi lang thang ngoài đường phố. Gã là một người đã quen với cuộc đời sóng gió đầy gian nguy. Đi quanh quẩn mà không làm gì cả không phải là tánh gã chút nào.

Phải rồi, gã không còn là gã nữa từ khi câu chuyện ấy xảy ra: từ khi đáng ra là gã phải bị đóng đinh. Mụ tự nhủ hay là gã thấy nhột nhạt vì chính mình đã không bị đóng đinh. Trong khi mụ nằm để tay lên cái bụng lớn của gã vào những giờ nóng bức nhất trong ngày, có lần mụ đã phải phì cười chỉ vì cái ý nghĩ đó.

Chắc Ba-ra-ba cũng không thể nào tránh khỏi việc thỉnh thoảng phải gặp các môn đệ của người bị đóng đinh. Không ai dám quả quyết là gã cố ý muốn làm vậy, nhưng họ thì ở đâu cũng có vài người, tại các công trường, ngoài đường phố, và nếu gã gặp họ, gã sẵn sàng đứng lại để tán chuyện với họ, nêu ra những câu hỏi về giáo lý lạ lùng vốn rất xa lạ đối với gã. “Các con hãy yêu mến lẫn nhau”

Gã tránh công trường, Đền thờ và các đường phố  đẹp để thường lui tới các đường phố nhỏ của phần thấp hơn trong thành phố phụ cận, nơi những người thợ tiểu công nghệ làm việc trong các cửa hiệu của họ, nơi những kẻ mua đi bán lại mời khách mua hàng. Trong số những người chất phát đó có rất nhiều người rất sùng đạo, và Ba-ra-ba nhận thấy là họ ít đáng ghét hơn những người gã đã gặp dưới hành lang đền thờ.

Gã tìm biết được một phần những quan niệm kỳ lạ của họ, nhưng thật là khó đi sâu vào đời sống riêng tư để hiểu biết họ cho rõ – việc đó có lẽ là tại cách thức bày tỏ ý kiến rất ngây ngô của họ. Họ tin chắc rằng Thầy họ đã từ kẻ chết sống lại và sắp cầm đầu các đạo thiên binh của mình để trở lại thiết lập nước Ngài. Ai cũng bảo như vậy, chắc người ta đã dạy họ như thế. Nhưng hỏi rằng người ấy có phải là con trời không, thì tất cả đều không biết chắc. Một số bảo rằng nếu đúng thì thật là phi thường, bởi vì họ đã nghe và thấy người ấy, phải, họ còn trò chuyện với người ấy nữa. Một người trong đám họ đã từng khâu cho người ấy một đôi dép, đã đo ni và vân vân.

Không, đó là một điều rất khó quan niệm. Nhưng một số đông khác lại tuyên bố điều ấy là thật, và một ngày kia người ấy sẽ ngồi giữa đám mây, trên ngai vàng bên cạnh Cha Ngài. Tuy nhiên, trước hết thì cái thế giới bất toàn và đầy tội lỗi này phải tiêu tàn đi đã.

Vậy những người chất phát đó là ai?

Họ biết rất rõ là Ba-ra-ba không tin họ và luôn luôn cẩn thận giữ mình đối với gã. Một số tỏ vẻ khinh biệt gã ra mặt, và tất cả đều cho thấy là họ không ưa gì gã lắm. Ba-ra-ba vốn đã quen với những thái độ như thế, nhưng điều lạ lùng là lần này, gã dường như cảm thấy hơi khó chịu, điều không hề có trước đó. Những người đó luôn luôn tỏ ra muốn lánh mặt gã, muốn khỏi gặp gã là hơn. Có lẽ vì gương mặt gã, vì vết dao trên bộ râu hàm mà người ta không biết căn do, vì đôi mắt quá sâu mà người ta không thể nào trông cho rõ ràng được. Ba-ra-ba biết hết những điều đó, nhưng ý kiến của người khác thì ăn nhập gì với gã? Gã chẳng bao giờ chú ý đến điều đó.

Từ trước đến nay, chưa bao giờ gã cảm thấy khó chịu về việc ấy.

Những người kia liên kết rất chặc chẽ với nhau trong đức tin chung của họ, và cẩn thận không để cho một người nào không cùng có đức tin ấy lọt được vào bọn họ. Họ có các nhóm thân hữu, các giáo đoàn để ăn uống chung với nhau như trong một đại gia đình. Việc đó liên hệ đến giáo lý của họ, liên hệ đến câu “Các con hãy yêu mến lẫn nhau” của họ. Nhưng họ có yêu mến một người không giống họ chăng. Thật là khó biết được!

Ba-ra-ba không muốn gia nhập các giáo đoàn của họ, không, chẳng đời nào. Chỉ nghĩ đến việc kết hợp với kẻ khác như vậy cũng đủ làm chạm tự ái của gã rồi. Gã chỉ muốn gã là chính gã, thế thôi.

Dầu vậy, gã vẫn đi tìm họ.

Gã còn đi đến chỗ giả vờ như muốn trở thành một người trong bọn họ … nếu gã có thể hiểu được cặn kẽ tín ngưỡng của họ. Họ đáp là họ sẽ rất sung sướng và không muốn gì hơn là hết sức để giải thích cho gã giáo lý của Thầy họ, nhưng thật ra thì dường như họ không được vui lắm. Thật là ngô nghê. Họ tự trách là không cảm thấy một niềm vui thật sự nào đối lại lòng sốt sắng của gã, và khi nghĩ rằng họ có thể được thêm một tín đồ mới, điều mà theo lệ thường đã khiến họ sung sướng lắm. Tình trạng ấy sẽ đưa đến đâu? Ba-ra-ba biết rõ lắm. Và gã đột nhiên đứng dậy rảo bước bỏ đi, trong khi vết sẹo dưới con mắt đỏ lên như màu máu.

Tin! Làm sao tin được người mà chính gã đã thấy là bị đóng đinh trên một cây thập tự? Người mà bây giờ thì thân xác đã chết lâu rồi, không sống lại, và chính gã đã biết chắc?  Sự tin tưởng như thế chỉ là hoàn toàn tưởng tượng. Không có ai từ chết sống lại, kể cả ông Thầy mà họ sùng bái hay bất cứ ai khác.

Hơn nữa, chính gã, Ba-ra-ba, không có trách nhiệm gì hết trong việc chọn lựa của họ. Họ có thể chọn tên tù nào họ muốn. Và sự may rủi đã xảy ra như vậy rồi.

Con Thượng Đế! Người ấy không phải là Con Thượng Đế. Nếu phải, người ấy đã không bị đóng đinh, trừ khi người ấy muốn như vậy. Có lẽ người ấy đã muốn như vậy! Nếu người ấy đã muốn chịu đau đớn thì thật là kỳ dị và đáng sợ.

Nếu người ấy thật là Con Thượng Đế, thì muốn thoát khỏi thọ hình, không có gì khó khăn cả. Người ấy đã chịu đau đớn và chết cách thảm khốc nhất, mà không muốn thoát thân. Rồi việc đó đã xảy ra, người ấy đã được như ý và không được phóng thích. Người ấy đã làm cho Baraba là gã, được tha ra hay vì chính mình. Người ấy đã truyền lệnh: “Hãy trả tự do cho Baraba và đóng đinh ta đi.” Việc đó rất hiển nhiên, dầu người không phải là Con Thượng Đế…

Người ấy đã dùng uy quyền của mình một cách đơn giản hơn hết. Nghĩa là người ấy đã sử dụng nó bằng cách không dùng đến nó. Người ấy đã để cho bọn kia quyết định theo ý chúng mà không can thiệp vào, tuy nhiên, ý muốn của người ấy đã thắng hơn, tức là người ấy đã bị đóng đinh thay cho Ba-ra-ba.

Các môn đệ của người ấy bảo rằng người ấy đã chết vì họ. Có thể lắm, nhưng thật sự thì người ấy đã chết vì gã, Ba-ra-ba, và không có ai chối cải được điều đó! Chính gã, Ba-ra-ba, thật là gần với người đó hơn bất cứ ai khác, gã chịu ơn ông “Thầy” đó một cách khác hẳn. Mặc dầu gã bị họ xua đuổi! Người ta có thể tin rằng chính gã mới là người được chọn – gã khỏi phải chịu đau đớn; gã đã thoát được sự hành hạ! Gã là kẻ thực sự được tuyển chọn, kẻ đã được thả ra thay vì Con Thượng Đế – Bởi vì Con Thượng Đế đã muốn, đã ra lệnh như vậy! Thế mà bọn kia không ngờ chi cả!

Nhưng gã thì rất ít quan tâm đến các nhóm thân hữu, các giáo đoàn, đến câu khẩu hiệu: “Các con hãy yêu mến lẫn nhau” của họ. Gã là chính gã. Và trong mối liên hệ với người bị đóng đinh, thì gã cũng vẫn chính là gã như thường. Gã không phải là nô lệ như họ! Không phải như những kẻ đã thở dài dưới chân “Thầy” và sung bái “Thầy.”

Làm sao người ta lại muốn khổ. Nếu không phải là cần thiết, nếu không phải là bắt buộc. Thật không hiểu nổi. Chỉ một ý nghĩ đó cũng khiến cho ta ghê tởm. Khi nghĩ đến điều đó gã thấy lại tấm thân gầy gò, thảm hại kia, và đôi tay buông thỏng và cái miệng khô khan đến nổi phải khó khăn lắm mới xin được nước uống. Không, gã không thấy được một người nào đã đi tìm đau khổ theo cách đó, một người có thể nói là đã tự đóng đinh mình vào thập tự giá! Gã không thấy được người ấy! Nhưng bọn người kia lại sùng bái người bị đóng đinh, tôn thờ sự đau khổ, cái chết nhục nhã của người ấy mà họ không thấy khốn nạn. Họ đã tôn thờ chính sự chết. Thật là não lòng, điều đó khiến cho Ba-ra-ba lợm giọng. Sự ghê tởm của gã lan đến họ, đến giáo lý của họ và người vốn là đối tượng của đức tin họ.

Không, gã không yêu được sự chết tí nào. Có lẽ vì vậy mà gã khỏi phải chết cũng nên? Vì vậy mà gã được miễn trừ? Nếu thật kẻ bị đóng đinh đó là Con Thượng Đế, chắc người ấy biết hết mọi sự, cũng biết rõ rằng Ba-ra-ba không muốn khổ, cũng không muốn chết. Cho nên vì thế mà người ấy đã chiếm chỗ của gã. Rồi Ba-ra-ba chỉ cần đi theo người ấy đến Gô-gô-tha để xem người ta đóng đinh người ấy. Đó là điều duy nhất mà gã bị đòi hỏi, vì chỉ chừng đó mà gã còn cảm thấy khó khăn thay! Thế mới biết là gã không ưa sự chết và tất cả những gì liên hệ với nó đến mức độ nào.

Phải, chính gã mới thật là người mà Con Thượng Đế đã chết thay cho! Chính là vì gã chớ không phải vì một ai khác hơn. Chính vì thế mà người ấy đã nói: “Hãy trả tự do cho người nầy và đóng đinh ta đi.”

Đó là điều Ba-ra-ba suy nghĩ khi gã từ giã các môn đệ, sau khi thử tìm cách trở thành một người trong đám họ. Gã rảo bước trên phố Thợ Gốm sau khi vừa ra khỏi một xưởng thợ, nơi những kẻ sùng đạo đã ra mặt tỏ ý là không muốn nhận gã nhập bọn với mình, và quyết định là nếu không có gì thay đổi thì sẽ chẳng bao giờ đi tìm họ nữa.

Tuy nhiên, ngày hôm sau gã cũng trở lại. Họ đều hỏi gã về điểm mà gã chưa hiểu liên hệ đến đức tin của họ, và như thế, chứng minh rằng họ đã ăn năn vì không tiếp đón gã tử tế, vì đã không sốt sắng chỉ dạy và soi sáng cho một người khát kao muốn hiểu biết như gã muốn gì? Gã chưa hiểu điểm nào?

Thoạt đầu, Ba-ra-ba muốn nhún vai và trả lời rằng gã không hiểu gì hết, nhưng dầu sao thì chuyện đó có ăn nhập gì với gã. Nhưng gã đổi ý và đưa ra việc gã không thể nào quan niệm được sự sống lại như một thí dụ về những điều gã khó hiểu. Gã không tin là có người sống lại từ kẻ chết được.

Những người thợ gốm ngước lên khỏi các bàn xoay của họ để nhìn gã rồi lại nhìn nhau. Sau khi thì thầm với nhau, người lớn tuổi nhất hỏi gã có muốn gặp một người mà Thầy họ đã khiến sống lại không. Nếu muốn, họ sẽ thu xếp cho gã gặp người đó, nhưng việc ấy chỉ có thể thực hiện vào buổi chiều tối, khi đã hết giờ làm việc, vì người ấy ở hơi xa ngoài thành phố Giê-ru-sa-lem. Ba-ra-ba cảm thấy sợ. Gã không thể nào ngờ được là có chuyện như vậy. Gã tưởng là họ sẽ lý luận về vấn đề ấy, trình bày quan điểm của họ, chớ không thể nào cố ý dồn gã vào ngõ bí bằng một bằng chứng hiển nhiên như thế. Lẽ dĩ nhiên là gã tin chắc rằng mọi điều đó chỉ là tưởng tượng, mê tín dị đoan, chớ thật ra thì người mà họ nói  đã không chết thật. Dầu vậy, gã vẫn thấy sợ. Gã không muốn gặp người ấy chút nào. Nhưng thật là khó thú nhận như vậy. Phải giả bộ như mình rất cám ơn họ vì một cơ hội như thế, vì các môn đệ của người ấy đã cống hiến cho gã một dịp tốt để chứng kiến quyền lực của Chúa và là Thầy họ.

Trong lúc chờ đến giờ hẹn, gã đi lang thang ngoài đường phố với sự rạo rực cứ càng gia tăng. Khi trời sắp tối, lúc gã trở lại xưởng thợ, có một thanh niên đưa gã đến tận rặng núi Ô-li-ve, ở xa ngoài các cửa thành.

Người gã sắp gặp cư ngụ tại một làng nhỏ trên sườn núi. Ngay lúc chàng thợ gốm trẻ tuổi vén mạnh chiếc chiếu rơm che kín cánh cửa ra vào, họ thấy người ấy đang ngồi để tay lên bàn trước mặt mình, đôi mắt  nhìn thẳng về phía trước. Khi nghe họ chào thật lớn tiếng, người ấy mới biết là có người đến. Bấy giờ người ấy mới chậm rãi quay đầu về phía cửa và đáp lại lời chào của họ bằng một giọng kỳ dị thốt không ra lời. Khi chàng thanh niên chuyển lời chào thăm của các anh ở phố thợ gốm và cho biết mục đích cuộc thăm viếng của mình, người ấy khoát tay ra dấu mời hai người khách của mình ngồi xuống bên chiếc bàn mình đang ngồi.

Ba-ra-ba ngồi đối diện với người ấy và không thể nào tránh được việc phải quan sát được gương mặt của người ấy, một gương mặt màu hơi vàng và có vẻ cứng như bằng xương bọc ngoài một lớp da hoàn toàn bị khô cứng. Ba-ra-ba không hề nghĩ rằng diện mạo một người lại có thể là như vậy. Gã chư bao giờ thấy một cái gì đượm vẻ hoang vu đến thế. Nó khiến ta nhớ lại cảnh hoang vu của bãi sa mạc.

Sau câu hỏi của gã thợ gốm, người ấy giải thích rằng mình thật đã chết, nhưng ông thầy giảng đạo người Ga-li-lê tức là Thầy họ, đã khiến mình sống lại. mặc dầu đã nằm trong mộ bốn ngày rồi, sức lực thể xác và tinh thần của mình vẫn như trước; không có gì thay đổi về phương diện đó. Trong việc ấy, Thầy họ đã biểu dương năng lực và quyền uy của mình, đã chứng tỏ rằng mình là Con Thượng Đế. Người ấy nói chậm rãi, giọng đều đều, đôi mắt lờ đờ và phai hết mầu sắc cứ nhìn chằm chằm vào Ba-ra-ba.

Khi người ấy thuật hết câu chuyện, họ tiếp tục bàn thêm trong chốc lát về Thầy họ và những việc lớn lao người ấy đã thực hiện. Ba-ra-ba không chen vào câu chuyện. Rồi gã thợ gốm đứng lên từ giã họ để đi thăm cha mẹ gã cũng ngụ trong làng.

Ba-ra-ba không muốn ở lại một mình với người ấy chút nào. Nhưng gã không thể nào từ giã suông như vậy, cũng không tìm được một lý do nào để kiếu mà đi.  Người kia vẫn nhìn chăm chăm vào gã bằng đôi mắt dị kỳ, mất cả thần sắc của mình, một cái nhìn không thể diễn tả được cái gì cả, nhứt là không có gì khiến cho Ba-ra-ba phải chú ý, dầu vậy, nó vẫn lôi cuốn gã một cách không thể nào giải nghĩa được, Ba-ra-ba muốn ra đi, muốn thoát khỏi đó và chạy trốn, nhưng không thể nào làm như vậy được.

Người được sống lại im lặng nhìn gã  giây lâu rồi hỏi gã có tin Thầy họ là Con Thượng Đế không. Sau khi hơi phân vân một chút, Ba-ra-ba đáp là không, vì đối với gã thật là khó nói dối được với người ngồi trước mặt mình đã nói thật hay nói dối. Người ấy không tỏ ra câu chấp gì hết, mà chỉ gật đầu và nói:

– Phải, có nhiều người khác cũng không tin. Mẹ của người ấy vừa đến thăm tôi hôm qua cũng không tin như vậy. Nhưng riêng tôi, thì người ấy đã khiến tôi từ kẻ chết sống lại để làm một nhân chứng.

Ba-ra-ba bảo rằng trong trường hợp đó, người ta có thể hiểu được việc người ấy tin vào Thầy mình. Và còn phải vĩnh viễn tỏ ra lòng biết ơn đối với phép lạ người ấy đã thực hiện cho mình nữa. Người ấy đáp là mình thật có lòng biết ơn đó: mỗi ngày người ấy đều tạ ơn Thầy mình, người đã ban lại cho mình sự sống, đã khiến mình thoát khỏi xứ của những kẻ chết.

Xứ của những kẻ chết à? Ba-ra-ba kêu lớn và tự cảm thấy giọng nói của mình run lên. Xứ của những kẻ chết? Nó ra sao? Anh đã đến đó rồi xin nói cho tôi biết nó ra làm sao?

– Nó ra làm sao à? Người ấy lặp lại với một cái nhìn tỏ ý dò hỏi. Rõ ràng là người ấy không hiểu Ba-ra-ba muốn nói gì.

– Phải! cái chỗ mà anh đã đến đó, nó ra làm sao?

– Tôi có đi đâu đâu? Người ấy đáp mà dường như không cảm thấy vẻ nóng nảy của người khách đến thăm mình. Tôi chỉ chết. Và chết là không có gì cả.

– Không có gì cả?

– Phải. Vậy chớ anh muốn nó ra sao?

Ba-ra-ba nhìn chăm chăm người ấy.

– Anh nghĩ là tôi có thể kể cho anh nghe một câu chuyện gì đó trong xứ của sự chết chớ gì? Tôi không thể làm điều đó. Xứ ấy có thật nhưng nó không là gì cả. Nhưng người nào đã đi đến đó rồi, thì tất cả những cái khác cũng là không có gì cả. Anh hỏi tôi những câu như thế thật là lạ. Tại sao anh lại hỏi như vậy! Thường thì có ai hỏi như vậy đâu?

Rồi người ấy kể lại rằng các anh em ở Giê-ru-sa-lem vẫn đưa người đến cho mình thuyết phục để họ tin đạo và nhiều người đã chịu tin. Khi phục vụ Thầy mình như thế, người ấy sẽ trả được một phần của món nợ lớn lao mình đã mang nặng đối với Thầy. Hầu như mỗi ngày chàng thanh niên làm thợ gốm kia, hay người khác vẫn đưa một người đến để người ấy xác chứng sự sống lại của mình. Nhưng người ấy chưa bao giờ nói đến xứ của sự chết. Đây là lần thứ nhất có người hỏi ông ta về vấn đề đó.

Màn đêm đã buông xuống; người ấy đứng lên, đi thắp chiếc đèn dầu treo trên cái trần nhà thấp. Người ấy đi lấy bánh và muối để lên bàn chính giữa họ, bẻ bánh ra và trao cho Ba-ra-ba một miếng. Người ấy chấm mẫu bánh của mình vào muối, rồi Ba-ra-ba cùng làm như vậy. Ba-ra-ba phải tuân lệnh, dầu gã cảm thấy tay mình run lên. Họ yên lặng dùng bữa với nhau dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu.

Ba-ra-ba không thấy khó chịu nếu nhập vào các giáo đoàn của người này, là người không làm khó dễ như bè bạn của ông ta tại Giê-ru-sa-lem và không tạo ra một sự cách biệt quá lớn lao giữa người này với kẻ khác. Nhưng khi gã ăn đến mẫu bánh mà người kia đã dùng những ngón tay khô đưa cho mình, gã nghĩ là mình có ngửi thấy mùi xác chết trong miệng.

Sự kiện được ăn chung với người ấy có ý nghĩa gì đây? Bữa ăn đơn sơ người có tầm quan trọng bí ẩn đến mức độ nào đây?

Khi họ đã ăn xong, chủ nhà đưa gã ra cửa và chúc gã thượng lộ bình an. Ba-ra-ba nói lầm bầm trong miệng mấy tiếng rồi bước nhanh vào đêm tối; gã rảo bước tiến về hướng thành phố theo con đường trên triền núi, đầu óc rối bời những ý tưởng lộn xộn.

Đêm đó, mụ to béo rất kinh ngạc khi hai người gần gũi nhau. Mụ ta không hiểu ra sao cả, nhưng dường như gã thực sự đang muốn bám víu vào một cái gì. Và chính là mụ ta mới có thể đem đến cho gã điều gã ao ước. Nằm bên cạnh gã, mụ mơ thấy rằng mình hãy còn trẻ và có một người yêu …

Hôm sau gã tránh vùng phố thấp và ngỏ thợ gốm, nhưng có một người tình cờ gặp gã dưới các vòm của Sa-lô-môn và hỏi gã buổi chiều hôm qua mọi việc  đã xảy ra làm sao, gã đã tìm được sự thật người ta đã nói với gã chưa. Gã bảo là không còn nghi ngờ gì về việc người mà gã đến gặp đó đã từ kẻ chết sống lại, nhưng gã thấy rằng Thầy họ đã gọi người ấy sống lại là một điều lầm lớn. Người thợ gốm bất mãn đến hầu như  giận tái cả người khi nghe những lời xúc phạm đến Chúa mình đó. Lúc ấy, Ba-ra-ba chỉ cần quay lưng lại, để cho người ấy đi qua.

Câu chuyện chẳng những được mọi người hay biết trong phố thợ gốm, mà còn lang cả sang các phố bán dầu, thợ thuộc da, thợ dệt và nhiều phố khác. Cho nên ít lâu sau khi Ba-ra-ba trở lại phía đó, gã nhận thấy rằng những người tín đồ vẫn hay tán chuyện với gã không còn như trước nữa. Họ trở thành ít nói và không ngớt nhìn trộm gã, tỏ ý nghi ngờ.

Giữa Ba-ra-ba và các tín đồ chẳng bao giờ có sự thân mật, nhưng bây giờ thì họ công khai khinh miệt gã. Thật vậy, một ông lão nhỏ thó, gầy còm mà chính gã cũng không quen biết đã xông ngay vào gã và hỏi gã tại sao cứ lui tới giữa vòng họ, tới đó để làm gì, có phải gã là tay sai của người quản lý Đền Thờ hay thủ hạ của thầy tế lễ thượng phẩm hay có lẽ là của người phái Sa-đu-sê chăng? Ba-ra-ba nhìn lão già nhỏ thó, đầu sói đang đỏ mặt vì giận dữ đó mà không thèm trả lời. Gã chưa hề biết lão ta trước đó và cũng không biết lão là ai, nhưng nhận ngay ra rằng lão ta là thợ nhuộm vì có những sợi len màu xanh và đỏ làn hoa tai.

Ba-ra-ba biết mình đã chạm vào lòng tự ái của các môn đệ, và thái độ của họ đối với gã đã thay đổi hẳn rồi.  Khắp nơi gã đều bắt gặp những cái nhìn lạnh lùng, hằn học; một số người lại nhìn chằm chằm vào gã như muốn đâm thủng tim gã ngay. Nhưng gã cố làm như mình không để ý gì hết.

Rồi một ngày kia, câu chuyện bí mật đã nổ bùng. Tin này được truyền đi như một tràng thuốc súng khắp các phố có tín đồ ở. Đột nhiên, không còn một ai là không biết đến gã. Chính là hắn! Kẻ đã được phóng thích thay vì Thầy, là Đấng Cứu Thế! là Con Thượng Đế! Chính hắn là Ba-ra-ba! Hắn là Ba-ra-ba, kẻ đã được phóng thích.

Những cái nhìn hằn học xua đuổi gã, hận thù cháy bừng lên trong những cái nhìn của họ. Sự bất mãn vẫn chưa nguôi khi gã đã biến mất khỏi tầm mắt họ để chẳng bao giờ tái hiện nữa.

Ba-ra-ba, kẻ đã được phóng thích! Chính hắn là Ba-ra-ba, kẻ đã được phóng thích!

 (Chương 4) (Chương 6

Thánh Kinh Báo
Tháng 12/1969 – Tháng 4/1970

Thư Viện Tin Lành (2012)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top