Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Trang Chính » Barabbas – Phần 12d

Barabbas – Phần 12d

SF023

Barabbas

Nobel Văn Chương 1951
Tác giả: Par Lagerkvist
Người dịch: Hướng Dương

Phần 12 (tiếp theo):

Cả ba người liền quì mọp xuống, trán chạm đất, để lạy theo lời dặn của người giám thị, dầu đối với Xa-hắc lẫn Ba-ra-ba đó là một việc làm nhục nhã khi phải hạ mhh trước một kẻ cũng chỉ là người. Họ chỉ dám đứng lên sau khi được phép.

Viên Tổng trấn La-mã ngồi dựa ngửa trên một chiếc ghế bành tận cuối căn phòng, ra dấu bảo họ tiến đến. Họ vâng lời một cách rụt rè và chỉ dám lần lần ngước nhìn lên. Ông ta vảo khoảng lục tuần, người vạm vỡ, gương mặt tròn nhưng quắc thước, cằm rộng với cái miệng thoạt nhìn thì người ta biết ngay là có thói quen để truyền lệnh. Cái nhìn có vẻ soi mói, sắc bén, nhưng không có vẻ đanh ác trực tiếp. Điều đáng ngạc nhiên là nói chung nơi con người ấy không có gì đáng sợ cả.

Thoạt đầu vị tổng trấn hỏi người giám thị về hạnh kiểm của hai tên nô lệ hỏi rằng anh ta có hài lòng về họ không. Anh ta lắp bắp trả lời là mình rất hài lòng, rồi nói thêm cho chắc ăn là mình luôn luôn đối xử nghiêm khắc với đám nô lệ dưới quyền. Anh ta không thể nhận thấy gì trên gương mặt nghiêm nghị của ông chủ để biết ông ta có tán thưởng mình hay không. Sau khi liếc nhanh vào cái bụng phệ của người giám thị, tổng trấn khoát tay ra dấu cho người ấy lại – anh ta được phép đi về. Anh ta không đợi bảo đến hai lần, mà bỏ đi lập tức. Trong lúc hấp tấp anh ta cũng quên hết lễ phép đối với chủ, nên xây cả lưng lại về phía ông ta.

Lúc ấy viên trấn thủ mới quay sang Xa-hắc và Ba-ra-ba, hỏi họ về sinh quán, chất vấn họ về việc tại sao họ lại bị phạt, làm sao họ ra khỏi hầm mỏ được, và ai đã giúp đỡ họ. Ông ta luôn luôn nói bằng một giọng tử tế.

Sau cùng ông ta đứng lên và đi vài bước: người ta phải ngạc nhiên vì không ngờ ông ta lại cao lớn đến thế. Rồi đến gần Xa-hắc cầm lấy thẻ của lão, xem qua chữ ký khắc trên đó, ông ta hỏi lão có ý nghĩa gì. Xa-hắc đáp rằng đó là dấu hiệu về quyền sở hữu của đế quốc La-mã. Viên trấn thủ gật đầu tán thưởng, thế thì nó có nghĩa là Xa-hắc thuộc quyền sở hữu của đế quốc La-mã, ông ta nhấn mạnh với Xa-hắc như vậy.

Rồi ông ta lật tấm thẻ lại và chú ý xem xét mấy chữ bí mật khắc ở mặt trái lộ vẻ thích thú rất rõ rệt nhưng không hề tỏ ra ngạc nhiên. Ông ta đọc: “Christos Jesus.” Cả Xa-hắc lẫn Ba-ra-ba đều quá đổi kinh ngạc khi thấy ông ta lại biết đọc các dấu hiệu, lại truy ra được tên linh thiêng của Thượng Đế.

– Ai đây? Ông ta hỏi.
– Đó là vị Thần của tôi. Xa-hắc đápbằng giọng nói hơi run.
– À, à! Ta không nhớ là đã có nghe đến tên này. Nhưng có quá nhiều thần thánh nên không ai mà nhớ hết cho nổi. Có phải là vị thần của quê hương xứ sở của chú mầy không?
– Thưa không, Xa-hắc đáp. Đó là vị Thần, là Thượng Đế của tất cả mọi người.
– Tất cả mọi người? Chú mầy nói cái gì vậy? Cũng khá lắm. Thế mà ta chẳng bao giờ nghe nói gì đến hắn. Người ta có thể bảo là hắn đã khéo dấu danh tiếng của mình.
– Thưa vâng, Xa-hắc đáp.
– Vị thần của tất cả mọi người. Thế thì hắn phải có một quyền lực nào đó. Hắn đặt nền tảng của uy lực đó ở đâu?
– Trên tình thương.
– Tình thương? … Trời đất, sao lại không? Ta không muốn xen vào chuyện đó. Chú mầy có thể tin điều mình  muốn tin. Nhưng hãy nói cho ta biết, tại sao chú mầy lại mang tên của hắn trên tấm thẻ nô lệ của chú mầy?
– Thưa vì tôi thuộc về vị Thần ấy. Xa-hắc đáp bằng một giọng hơi run trở lại.
– Hử? Chú mầy thuộc về vị thần ấy? Làm sao lại như thế được? Chú mầy không thuộc về đế quốc La-mã như chữ ký này đã chứng minh sao? Chú mầy không phải là một tên nô lệ của đế quốc La-mã sao?

Xa-hắc không trả lời gì hết. Đôi mắt lão nhìn xuống đất.

Cuối cùng viên trấn thủ lên tiếng, nhưng không phải bằng giọng nói thân mật nữa:
– Chú mầy phải trả lời việc đó. Chúng ta phải làm sáng tỏ vấn đề ấy, chú mầy biết chứ? Chú mầy có thuộc về đế quốc La-mã không? Hãy nói cho ta biết ngay bây giờ.
– Tôi thuộc về Chúa là Thượng Đế, là vị thần của tôi, Xa-hắc đáp mà không ngước mắt lên.

Viên trấn thủ quan sát lão. Rồi ông ta nâng cằm lão lên và nhìn chăm vào gương mặt đã bị đốt cháy sau một thời gian ở gần các lò luyện đồng. Ông ta không nói gì và một chặp sau, khi đã thấy rõ điều mình muốn thấy, ông ta buông cằm lão nô lệ ra.

Rồi ông ta đến đứng trước mặt Ba-ra-ba, và vừa lật tấm thẻ của lão lại y như thế, ông ta hỏi:
– Còn chú mầy? Chú mầy cũng tin vào vị thần của tình thương đó nữa sao?

Ba-ra-ba không trả lời gì hết.
– Nói đi, chú mầy có tin hắn không?

Ba-ra-ba lắc đầu.
– Không à? Thế tại sao chú mầy lại mang tên hắn trên tấm thẻ của chú mầy?

Ba-ra-ba vẫn làm thinh.
– Có phải đây là thần của chú mầy không? Mấy dấu khắc này có phải có ý nghĩa như vậy không?
– Tôi không có thần nào cả. Cuối cùng Ba-ra-ba đã trả lời như vậy. Lão nói thật nhỏ khiến người ta rất khó nghe rõ, nhưng cả Xa-hắc lẫn viên trấn thủ đều nghe. Và Xa-hắc đã hướng vào lão một tia nhìn tuyệt vọng, bộc lộ một sự ngạc nhiên đau đớn, về những lời lẽ không thể ngờ được đó, đến nỗi Ba-ra-ba cảm thấy dường như nó xuyên thủng cả tâm can mình, dầu lão vẫn không dám trực tiếp nhận lấy tia nhìn ấy.

Cả viên trấn thủ La-mã cùng bộc lộ vẻ ngạc nhiên:
– Ta không hiểu gì hết, ông ta nói. Thế tại sao chú mầy lại mang tên “Christos Jesus” nầy khắc trên tấm thẻ của chú mầy?
– Tại vì tôi rất muốn tin. Ba-ra-ba đáp mà không nhìn lên một ai trong hai người.

Viên trấn thủ quan sát gương mặt đã bị tàn phá ấy, nhìn vết thẹo phía dưới mắt và cái miệng cứng rắn, đầy đặn, vẫn còn giữ lại được phần lớn sức mạnh của lão. Ông ta không trông thấy một tia nhìn nào của gương mặt ấy mà cũng không chắc sẽ tìm được nếu mình nâng cằm lão lên như đã làm đối với lão kia. Hơn nữa ý nghĩ ấy chẳng bao giờ đến với ông ta. Tại sao vậy? Chính ông ta cũng không biết.

Ông ta lại quay sang phía Xa-hắc:
– Chú mầy có biết là những lời nói của chú mầy hàm ý gì không? Điều đó không có nghĩa là chú mầy chống lại Hoàng đế Sê-sa sao? Chú mầy không biết là chính hoàng đế cũng là một vị thần, và chú mầy thuộc về hoàng đế, rằng chữ ký chú mầy đeo trên ngực là của hoàng đế  sao? Rồi chú mầy lại bảo là chú mầy thuộc về một người khác, một vị thần không ai biết, mà chú mầy đã khắc tên lên tấm thẻ của chú mầy để chứng tỏ rằng chú mầy không thuộc về Sê-sa, mà thuộc về hắn, có phải đúng như vậy không?
– Thưa vâng, Xa-hắc đáp bằng một giọng ít run hơn trước.
– Và chú mầy vẫn giữ nguyên ý kiến đó?
– Phải.
– Chú mầy không biết là đang nói chuyện với ai sao?
– Thưa có. Tôi biết.

Viên trấn thủ La-mã im lặng một chặp và suy nghĩ về vị thần của bọn nô lệ đó. Thật ra thì mấy lúc gần đây ông ta có nghe nói rất thường đến cái tên điên ở Giê-ru-sa-lem, đã nhận lấy cái chết của một người nô lệ đó… “Tháo gông, cởi kiềng” … “Thượng Đế sẽ giải phóng kẻ bị cầm tù của Ngài” … Đúng ra thì đây không phải là một giáo lý vô hại. Và một ý kiến của tên nô lệ này không thể nào làm vui lòng một ông chủ nô lệ…
– Nếu chú mầy chịu chối bỏ đức tin sẽ không có gì thiệt hại cho chú mầy hết, ông ta nói: chú mầy có chịu như vậy không?
– Tôi không thể làm như vậy, Xa-hắc đáp.
– Sao lại không?
– Tôi không thể chối bỏ Thượng Đế của tôi.
– Thật là ngu ngốc… Chú mầy phải biết là chú mầy buộc ta phải trừng phạt chú mầy như thế nào. Chú mầy có thật đủ can đảm để chịu chết vì đức tin của chú mầy không?
– Việc đó không phải do tôi quyết định được. Xa-hắc đáp nhỏ.
– Ta trông chú mầy không có can đảm đến thế. Mà chú mầy không muốn sống sao?
– Thưa có, Xa-hắc đáp. Tôi rất muốn sống.
– Nhưng nếu chú mầy không chịu chối bỏ đức tin, thì sẽ không có gì cứu được chú mầy. Chú mầy phải mất mạng sống.
– Tôi sẽ không mất Cứu Chúa là Thượng Đế.

Viên trấn thủ La-mã nhún vai:

– Nếu thế thì ta không làm gì được cho chú mầy hết. Ông ta vừa nói vừa trở lại chiếc bàn ông đã ngồi  lúc họ mới đến. Ông ta cầm một cái chày bằng ngà đánh vào một tấm thẻ cẩm thạch.
– Chú mầy cũng điên như vị thần của chú mầy vậy, ông ta nói thêm thật nhỏ.

Trong lúc chờ người lính gác, viên trấn thủ La-mã tiến đến gần Ba-ra-ba, lật tấm thẻ của lão lại và dùng mũi nhọn của một chiếc dao găm, xóa bỏ mấy chữ “Christos Jesus” đi. Vì chú mầy không tin hắn nên để nó lại cũng vô ích, ông ta nói.

Trong lúc việc đó xảy ra, Ba-ra-ba cảm thấy cái nhìn của Xa-hắc nung nấu tâm can lão, cái nhìn mà lão chẳng bao giờ quên được.

Xa-hắc bị tên lính gác đem đi, còn Ba-ra-ba thì vẫn đứng đó. Viên trấn thủ khen lão về thái độ hợp lý ấy, một thái độ mà ông ta muốn ban thưởng.  Lão sẽ đến trình diện với người cai nô lệ để người ta sẽ giao cho lão một việc làm nhẹ nhàng hơn.

Ba-ra-ba liếc nhìn rất nhanh viên trấn thủ La-mã  khiến ông ta nhận thấy rằng thật ra con người này vẫn còn một tia nhìn nhưng là một cái nhìn vô hại. Hận thù ngời lên trong cái nhìn đó như đầu nhọn của một mũi tên chẳng bao giờ được bắn đi.

Rồi Ba-ra-ba làm theo lịnh đã truyền cho lão.

Thánh Kinh Báo
Tháng 10&11/1971
(Còn tiếp)

 

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top