Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Trang Chính » Barabbas – Phần 12c

Barabbas – Phần 12c

LaXanh_01

Barabbas

Nobel Văn Chương 1951
Tác giả: Par Lagerkvist
Người dịch: Hướng Dương

Phần 12 (tiếp theo):

Người ta không thể chú tâm vào một cái gì không có thật. Nhưng sau khi khám phá được việc đó, thỉnh thoảng lão chột lại gợi chuyện với Xa-hắc để cố tìm hiểu về vị thần lạ lùng kia. Và Xa-hắc đã cố gắng giải thích. Lão bảo rằng vị thần của lão có mặt khắp nơi, cả trong bóng tối nữa. Ta có thể kêu cầu Ngài bất cứ ở đâu và cảm thấy sự hiện diện của Ngài. Phải, người ta cảm thấy như vậy cả trong chính lòng mình, đó là điều kỳ diệu nhất. Lão chột bảo rằng nếu thế thì Xa-hắc có một vị thần lạ lùng thật.
– Chắc chắn như vậy rồi. Xa-hắc đáp.

Lão chột dường như suy nghĩ giây lâu về điều mình vừa được nghe về một vị thần vô hình, nhưng lẽ cố nhiên là đầy quyền lực của Xa-hắc, rồi lão hỏi có phải đó là vị thần đã giúp họ ra khỏi hầm mỏ không.
– Phải đó, Xa-hắc đáp.

Đúng thế. Lão thêm rằng đó là vị thần của những kẻ bị áp bức, và Ngài sẽ đến để giải thoát tất cả nô lệ khỏi xiềng xích của họ, vì Xa-hắc muốn truyền giảng đức tin của mình mà lại thấy lão rất khao khát muốn biết nhiều hơn về vấn đề ấy.
– Thật như vậy sao? Lão chột hỏi.

Càng ngày Xa-hắc càng có cảm tưởng rằng lão nô lệ nhỏ thó mà không ai thương nổi và bị móc mất một con mắt này rất muốn nghe nói về sự giải phóng của chính lão và của cả thế giới. Vậy phải nói cho lão nghe, vì đó là ý muốn của Thượng Đế. Cho nên lão cố thuật chuyện cho lão chột nghe càng thường càng hay, dầu Ba-ra-ba vẫn liếc xéo họ và dường như không tán thành.

Cuối cùng vào một buổi chiều khi họ được ở riêng sau khi đã xong việc, Xa-hắc đã chỉ cho lão chột vật mà từ trước đến nay lão vẫn giữ bí mật: mấy chữ khắc trên tấm thẻ nô lệ của lão đeo trên ngực. Lão ta tiến đến đó vì lão chột hỏi tên của vị thần vô danh, nếu người ta có quyền nói tên vị đó ra. Xa-hắc nói cho lão chột biết, và sau đó, để vạch rõ quyền lực và vẻ uy nghiêm của Chúa mình, lão cho lão chột xem những dấu hiệu bí mật chứa đựng tên thiêng liêng của Ngài.

Lão chột rất thích thú quan sát mấy chữ trên tấm thẻ, cùng chú ý nghe câu chuyện Xa-hắc kể lại về người nô lệ Hy-lạp đã khắc mấy chữ đó và dạy cho lão ý nghĩa của từng nét chữ. Thật là khó quan niệm nổi có người lại biết được những dấu hiệu tượng trưng cho Thượng Đế như vậy.

Xa-hắc nhìn những nét chữ ấy một lần nữa rồi lật tấm thẻ trở lại. Lão ép sát nó lên ngực và tỏ vẻ sung sướng, bảo rằng lão là nô lệ của Thượng Đế, và lão thuộc về Ngài.
– Thật như vậy sao? Lão chợt hỏi, và một chặp sau lại hỏi rằng người nô lệ của hầm mỏ kia có mang cùng những chữ khắc như thế trên tấm thẻ của lão không.
– Chắc chắn là phải có rồi, Xa-hắc đáp.

Lão già chột nhỏ thó gật đầu, tỏ vẻ bảo rằng mình đã biết chắc như vậy từ trước rồi, dầu thật ra lão vẫn tự hỏi không biết hai người có cùng một đức tin như nhau nơi cùng một vị thần hay không, vì tên sát nhân có vết sẹo dưới mắt chẳng bao giờ cầu nguyện.

Họ tiếp tục trò chuyện về vị thần kỳ diệu kia và còn trò chuyện với nhau nhiều lần sau buổi nói chuyện ấy, mà theo cảm tưởng của Xa-hắc thì đó chính là lý do đã đưa họ xích lại gần nhau nhiều lắm. Xa-hắc nghĩ rằng lão đã làm một việc phải, khi phó thác cho lão chột việc bí mật lớn lao của mình, và việc đó chắc chắn là một ý kiến do chính Thượng Đế gợi ra và thúc đẩy mình làm.

Cả đám nô lệ rất đỗi ngạc nhiên khi một buổi sáng nọ, người giám thị thông báo rằng Xa-hắc và Ba-ra-ba được gọi đến trình diện với chính vị tổng trấn ngay hôm đó, vào một giờ đã được chỉ định. Vì một việc như thế chưa bao giờ xảy ra trước đó, hay ít ra là suốt thời gian làm việc của mình, viên giám thị cũng ngạc nhiên như những người khác và không hiểu gì cả.  Hai tên nô lệ khốn khổ mà lại ra mắt chính vị tổng trấn! Người ấy lại phải đích thân dẫn họ đi nên tỏ vẻ hơi lo ngại, vì anh ta chưa từng đặt chân vào bên trong dinh của vị lãnh tụ đầy uy quyền đó.

Dầu sao thì anh ta không có dính dáng gì vào câu chuyện đó, mà chỉ có trách nhiệm đưa hai tên nô lệ đến đó, thế thôi. Vậy đến giờ đã định, họ lên đường, và mọi người tại nhà máy xay đều nhìn theo, kể cả lão già nhỏ thó như con chuột là người chẳng bao giờ cười được vì cái miệng đã quá khô cằn, – phải, chính lão cũng nhìn theo bằng con mắt độc nhất của lão.

Nếu bỏ mặt họ, chắc Xa-hắc và Ba-ra-ba đã không tài nào tự tìm được lối đi trong những đường lối hẹp hoàn toàn xa lạ đối với họ đó. Họ theo bén gót người giám thị, và cả hai cùng đi sát bên nhau y như trước đó. Người ta cứ tưởng là họ lại xích chung vào nhau.

Đến ngôi nhà đồ sộ của vị tổng trấn, họ được dẫn qua nhiều cánh cửa bằng cây bách có chạm trổ. Người dẫn đường cho họ là một tên da đen vạm vỡ, bị xích vào ngạch cửa bằng một sợi dây xiềng quanh mắt cá. Đến phòng hội, hắn giao cho một người lính gác. Người này dẫn họ qua một khoảng sân rộng ngập nắng để đến một phòng rộng trung bình, mở cửa hướng về khoảng sân trống. Đến đó, họ thình lình đối diện với vị Tổng trấn La-mã.

Thánh Kinh Báo
Tháng 9/1971
(Còn tiếp)

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top