Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Trang Chính » Barabbas – Phần 12b

Barabbas – Phần 12b

HoaDao

Barabbas

Nobel Văn Chương 1951
Tác giả: Par Lagerkvist
Người dịch: Hướng Dương

Phần 12 (tiếp theo):

Sau khi công việc của mùa xuân đã xong xuôi, Ba-ra-ba và Xa-hắc phải quay nước dưới giếng lên. Đó là việc phải làm khi trời bắt đầu nắng gắt nếu người ta không muốn cho tất cả mùa màng bị khô cháy.

Công việc này cũng rất nặng nhọc. Rồi sau đó khi mùa màng đã thu góp xong người ta đưa họ đến nhà máy xay lúa, một trong những công ốc lớn vây quanh dinh quan trấn thủ La-mã. Khu ấy hợp với ngôi làng dơ nhớp của dân bản xứ để tạo ra một thành phố nhỏ dọc theo bến tàu để xuất cảng. Như thế họ được ra tận ngoài biển.

Tại nhà máy xay họ đã gặp lão chột mắt. Đó là một tên nô lệ cao lêu nghêu, đầu húi trọc, gương mặt xám choắt cheo, miệng khô cằn. Con mắt độc nhất của lão ta cứ liếc trộm, còn con kia thì bị móc đi chỉ vì lão đã ăn cắp mấy thùng bột. Cũng vì lý do ấy lão đã mang thêm một chiếc gông lên cổ.

Việc làm của lão là cho bột vô bao rồi vác vào kho. Trông lão ta không có gì khác lạ lắm; việc của lão rất đơn giản, hình dáng lão cũng vô nghĩa lý như chuột lắt vậy. Sự kiện khiến người ta phải chú ý đến lão hơn những người khác, có lẽ do việc người ta cảm thấy nhột nhạt, khó chịu lạ lùng khi lão có mặt. Người ta không biết là lão đang có ở đấy hay không, mặc dầu có xây lưng lại phía lão đi nữa. Người ta vẫn có thể cảm thấy rõ rệt cái nhìn của con mắt chột xoáy vào người, cái nhìn mà người ta không thường gặp một cách trực tiếp.

Lão làm như không lưu tâm tới hai người mới đến, khiến người ta tưởng là lão không trông thấy họ. Không ai thấy được nụ cười gằn không thành tiếng của lão khi nhận thấy hai kẻ lạ mặt  đã xay chiếc cối nặng nhất. Dầu sao thì người ta cũng không thể nào thấy được lão ta cười, hay ít ra là thấy cái miệng xám ngắt, héo úa của lão ta muốn cười.

Tại đấy có bốn thớt cối, mỗi thớt do hai tên nô lệ quay. Người ta không dùng lừa vì kiếm người còn dễ hơn. Người ta muốn bao nhiêu cũng có, mà nuôi nấng cũng ít tốn kém hơn? Nhưng với Xa-hắc và Ba-ra-ba, thực phẩm còn có phần dư dật hơn so với điều họ thường có trước đó. Nói chung thì họ cảm thấy được đối xử khá hơn trước, dầu công việc có phần nặng nhọc. Người giám thị không tỏ ra quá nghiêm khắc với họ. Đó là một người nhỏ thó, béo tròn, thích yên tĩnh, và khi tuần hành thì không dùng đến ngọn roi mang trên vai. Anh ta chỉ dùng nó cho một lão nô lệ đui, hoàn toàn kiệt quệ.

Bên trong ngôi nhà thờ thì bột trắng bám đầy, lâu dần khiến bột tích tụ khắp nơi, trên sàn nhà, trên vách và cả trên các khung lưới nhện bám vào trần nhà. Không khí ngập tràn bụi bột và tiếng ồn ào điếc tai của bốn thớt cối đá bị quay cùng một lượt. Bọn nô lệ làm việc trần truồng, trừ ra lão chột có một chiếc áo dài bằng bao bột. Lão lục lọi khắp nơi trong nhà máy xay như một con chuột vậy. Chiếc gông khiến lão giống với một tên tù vừa vượt được ngục. Người ta bảo là lão vẫn ăn vụng được bột trong bao, dầu đáng lý ra chiếc gông phải cản trở lão làm như vậy. Mà lão làm như vậy không phải là vì đói, mà chỉ thách đố cho bỏ ghét, dầu biết rằng nếu bị bắt gặp, người ta sẽ khoét luôn con mắt còn lại của lão và bắt lão xay cối như lão đui, một công việc quá sức của lão mà khi nghĩ đến, lão cảm thấy kinh hoàng gần như nỗi sợ cái bóng tối đang chờ đợi lão ngày nào người ta sẽ lại bắt được quả tang là lão đang ăn trộm. Nhưng thật là khó biết được trong những lời đồn đãi đó có bao nhiêu sự thật.

Không, lão không tỏ ra chú ý đặc biệt đến những người mới tới. lão nhìn trộm họ như đã nhìn những người khác và rình rập những biến cố xảy ra. Lão ta không có ác cảm gì với họ, không có chút ác cảm nào hết. Họ chỉ là những tên tù của các hầm mỏ mà trước đó, lão chưa hề được thấy. Nhưng lão không có chút ác cảm nào đối với bọn tù của các hầm mỏ. Lão không có gì là ác cảm với bất cứ ai.

Chắc hai người này đã phạm tội sát nhân nên mới bị đầy làm khổ sai trong các mỏ đồng, dầu một trong hai người không hề có vẻ đó. Tên kia thì rõ ràng là một kẻ sát nhân, và sợ ra mặt rằng người ta sẽ khám phá được điều đó. Tên thứ nhất trông thật đáng thương, lão có vẻ ngây thơ khờ khạo. Nhưng làm sao họ lại thoát được mõ đồng? Làm sao họ lại ra khỏi cái hỏa ngục ấy? Ai đã giúp họ? Đó là vấn đề. Nhưng thật ra thì chuyện ấy không ăn nhập gì với lão.

Chỉ cần chờ đợi thì mọi sự sẽ bộc lộ rõ ràng. Lời giải đáp không đến cách này cũng đến cách khác. Có thể nói là mọi việc sẽ tự nhiên giải nghĩa lẫn nhau. Lẽ dĩ nhiên là với điều kiện người ta phải chịu khó mở lớn một con mắt ra đó là trường hợp rất đúng đối với lão.

Cho nên lão ta khám phá được rằng cái lão cao lớn có đôi mắt bò cái kia vẫn quì gối xuống trong bóng tối để cầu nguyện mỗi đêm. Sau lão ta lại làm vậy, chắc lão cũng làm như nhiều người khác, nghĩa là trước các bức tượng trong những đền thờ dành riêng cho họ. Nhưng tên nô lệ nầy lại cầu nguyện với một vị thần mà dường như hắn ta tin là đang có mặt trong bóng tối. Lão trò chuyện với vị thần ấy như nói với một người sống vẫn chăm sóc đến lão. Thật là lạ! Người ta nghe lão khấn thầm thật thiết tha trong đêm tối và bất cứ ai cũng có thể nhận thấy là không có thần thánh gì hết. Đó chỉ là tưởng tượng mà thôi.

Thánh Kinh Báo
Tháng 8/1971
(Còn tiếp)

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top