Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Trang Chính » Barabbas – Phần 13

Barabbas – Phần 13

LaXanh_05

Barabbas

Nobel Văn Chương 1951
Tác giả: Par Lagerkvist
Người dịch: Hướng Dương

Chương 13:

Lúc Xa-hắc bị đóng đinh, Ba-ra-ba đến núp phía sau các bụi dăm bụt gần đấy để bạn lão trên thập tự giá khỏi trông thấy. Nhưng trước đó, Xa-hắc đã bị tra tấn dã man, cho nên dầu sao, lão cũng không thể nào nhận ra Ba-ra-ba. Người ta làm vậy theo một thói quen xưa cũ, vì nghĩ rằng có lẽ vị tổng trấn đã quên ra lệnh đó. Nhưng thật ra thì ông chủ của họ không có ý định ấy, dầu ông ta lại quên truyền lệnh ngược lại. Cho nên muốn cho chắc hơn, bọn người phụ trách việc hành hình Xa-hắc vẫn làm theo thường lệ. Chúng hoàn toàn không biết lão nô lệ phạm tội ác gì, mà chuyện đó thì chúng chúng không cần để ý đến bao nhiêu. Chúng chỉ biết làm phận sự theo lệ thường?

Đầu Xa-hắc lại vừa được cạo gần sát, và mái tóc bọc của lão nhuộm đầy máu. Gương mặt không biểu lộ một nét gì cả, nhưng Ba-ra-ba vốn biết lão rất rõ, nên đoán được điều nó sẽ bộc lộ được. Lão nhìn chăm vào Xa-hắc bằng đôi mắt nóng bỏng của mình, nên dầu sao thì người ta cũng không thể nói rằng đôi mắt của Ba-ra-ba nóng bỏng, nhưng vào lúc ấy người ta lại được quyền nói như vậy. Lão cũng nhìn vào tấm thân gầy gò mà dầu có không muốn nhìn, lão cũng không thể nào không nhìn, nhưng thật ra thì lão không muốn làm như thế. Tấm thân ấy ốm yếu đến nỗi người ta không thể tưởng tượng được lão đã phạm tội ác gì. Nhưng trên bộ ngực mà những khúc xương nhô lên, có những dấu hiệu của đế quốc La Mã đóng bằng sắt nung đỏ; vạch rõ rằng đây là một chính trị phạm. Trái lại, tấm thẻ nô lệ đã bị lột mất, vì giá trị của mảnh kim khí ấy, mà cũng vì nó không còn ích lợi gì nữa.

Chỗ hành hình là một ngọn đồi thấp ngoài thành phố, được vài bụi rậm và lùm cây nhỏ bao bọc. Ba-ra-ba kẻ được phóng thích núp sau một trong những bụi rậm đó. Ngoài lão và đám người lo việc đóng đinh ra thì không còn một ai khác cả; không có người nào thèm dự kiến cái chết của Xa-hắc. Người ta chỉ thường tụ tập tại đó khi có một tội phạm nổi danh. Mà Xa-hắc thì không hề ám sát ai, cũng chưa từng làm một việc gì đặc biệt. Người ta không biết lão là ai, cũng không biết tại sao lão bị kết án.

Bây giờ lại là mùa xuân, cũng như ngày họ được lên khỏi hầm mỏ, mà Xa-hắc đã quỳ gối xuống và reo lên: “Ngài đã đến” Mặt đất là một màu xanh và hoa nở cả ở chỗ hành hình. Mặt trời lấp lánh trên núi và dưới biển, trải rộng gần đó. Nhưng vì vào giữa trưa nên trời nóng bức, và mỗi khi người ta xoay trở trên ngọn đồi dơ nhớp ấy, thì từng đàn ruồi lớn lại bay ào lên. Chúng bám đầy vào thân thể Xa-hắc, lúc ấy không còn sức lực để xua đuổi nữa. Cái chết của Xa-hắc không có gì là cao cả, đáng ca ngợi hết.

Ba-ra-ba đã bị nó lôi cuốn thì thật là lạ. Nhưng lão đã bị nó lôi cuốn thật tình. Lão theo dõi giờ phút hấp hối của Xa-hắc bằng một đôi mắt mà lão nghĩ là mình sẽ không hề quên đi một chi tiết nào, cả những giọt mồ hôi từ trên trán, trong nách sâu hoắm của Xa-hắc chảy xuống, làm bộ ngực phồng lên xẹp xuống có đóng dấu bằng sắt nung đỏ của đế quốc La-mã, luôn với bầy ruồi không ai xua đuổi đi.

Đầu kẻ bị hành hình gục xuống và kẻ sắp chết thở rất khó khăn. Dầu núp ở một khoảng cách khá xa Ba-ra-ba vẫn nghe được từng hơi thở một. Chính lão cũng cảm thấy khó thở. Lão thở từng cơn, miệng há hốc, y như bạn của mình trên thập tự giá. Lão cũng có cảm tưởng là mình khát nước như trường hợp chắc cũng xảy ra cho người bạn kia. Ba-ra-ba cảm thấy tất cả những điều đó thì thật là lạ, nhưng lão đã từng bị xích chung với Xa-hắc quá lâu. Lão có cảm tưởng như mình vẫn còn bị xích chung với Xa-hắc, như những sợi dây xiềng sắt lại cột chặt mình một lần nữa với người bị đóng đinh.

Chúng không chú ý đến cả chuyện ấy. Người duy nhất thấy được điều đó là Ba-ra-ba. Lúc lão thấy là mọi việc đã xong xuôi, lão lảo đảo té quỵ xuống; dường như lão cầu nguyện.

Thật là kỳ cục. Nếu Xa-hắc thấy được cảnh đó, chắc lão sung sướng lắm! Nhưng lão đã chết rồi.

Mà dầu Ba-ra-ba có quỳ xuống, lão vẫn không cầu nguyện. Vì không có ai để cầu nguyện hết, lão chỉ quỳ như thế một chặp vậy thôi.

Sau đó lão úp gương mặt đã bị tàn phá có bộ râu muối tiêu vào đôi bàn tay và chắc lão đã khóc.

Một tên lính chưởi đổng vì thấy rằng người bị đóng đinh trên thập tự giá đã chết, và bây giờ chỉ còn việc hạ thây lão xuống rồi đi về. Đó là việc chúng làm.

(Còn tiếp)

Hướng Dương lược dịch

Thánh Kinh Báo – Tháng 1-3/1972
Thư Viện Tin Lành – Tháng 3/2012

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top