Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Trang Chính » Barabbas – Phần 4b

Barabbas – Phần 4b

Barabbas

Tác giả: Par Lagerkvist
Người dịch: Hướng Dương

 

Phần 4b:

Gã ngồi thu hình trong một bụi me bên kia đường, ngay cửa mộ. Khi trời sáng ra, ngôi mộ sẽ nằm dưới tầm mắt gã. Ngồi đây, gã sẽ thấy rất rõ. Bây giờ, chỉ còn chờ cho mặt trời mọc lên!

Lẽ tự nhiên, gã biết là người chết kia sẽ không bao giờ sống lại được, nhưng gã muốn nhìn tận mắt cho chắc chắn. Đó là lý do khiến gã dậy thật sớm, thật lâu trước khi trời sáng, để ngồi rình phía sau bụi cây này. Tuy nhiên, gã cũng hơi lấy làm lạ vì đã hành động như vậy, lấy làm lạ thấy mình lại ngồi đó. Thật ra thì tại sao gã lại lưu tâm đến câu chuyện này nhiều thế? Nó có liên hệ gì đến gã đâu?

Gã đã nghĩ là chắc có nhiều người sẽ đến để chứng kiến phép lạ xảy ra. Cho nên gã mới ẩn mình để khỏi bị ai trông thấy. Nhưng thật là để nhận ra rằng chỉ có một mình gã mà thôi. Thật là kỳ cục!

Nhưng mà tới bây giờ gã mới thoáng thấy một người đàn bà quỳ ngay giữa đường đi, trước gã một khoảng ngắn. Bóng trắng đó rất khó phân biệt với mặt đất cùng màu.

Trời sáng dần, và chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi sau đó, ánh mặt trời đầu tiên chiếu ngay tấm vách đá mà người ta đã đục ngôi mộ. Việc xảy ra nhanh chóng đến nổi Ba-ra-ba không theo dõi kịp đúng vào lúc mà gã phải theo dõi! Thi hài người ấy không còn nằm trong huyệt nữa! Tảng đá chận cửa mộ đã bị lật ra và lỗ hổng trong vách đá hoàn toàn trống không!

Ban đầu, gã rất ngạc nhiên đến nổi ngồi bất động, gã nhìn chăm hết cái lỗ huyệt mà chính gã đã thấy người ta đặt vào đó thi thể của người bị đóng đinh, đến cái tảng đá to mà người ta đã lăn đến chận cửa huyệt lại, cũng ngay dưới mắt gã.

Rồi gã hiểu hết mọi sự. Thật ra thì không có gì phi thường xảy ra cả. Khi gã đến thì tảng đá đã bị lăn ra rồi. Và lỗ huyệt đã trống không.  Ai lăn tảng đá đi và ai lăn kẻ chết đi, thì không phải khó khăn gì để đoán ra.  Lẽ dĩ nhiên là môn đệ của người ấy đã làm điều đó hồi đêm.  Trong bóng tối họ đã lấy thây ông Thầy mà họ yêu mến tôn sùng, để sau đó có thể bảo rằng người ấy đã sống lại như lời người ấy đã tiên báo.  Không cần gì phải già mưu lắm mới đoán nổi như thế.

Và đó là lý do khiến họ không ra mặt sáng nay, vào cái buổi bình minh mà đáng lẽ phép lạ thật sự phải xảy ra.  Bây giờ thì họ đã cao bay xa chạy rồi!

Ba-ra-ba bò ra khỏi chỗ núp và đến gần để xem cái huyệt cho kỹ hơn.  Khi đi ngang cái bóng xám quỳ dưới đường, gã liếc nhìn và kinh ngạc khám phá ra rằng đó chính là ả sứt môi.  Gã đứng sựng lại và nhìn ả.  Gương mặt xanh xao và phù lên của người đàn bà đang quay về phía cửa mộ.  Đôi mắt xuất thần của ả không còn nhìn thấy vật gì khác hơn nữa.  Mồm ả hơi hở ra nhưng ả thở rất nhẹ, vết xẹo xấu xí nơi môi trên của ả thì trắng hếu.  Ả không nhận thấy sự có mặt của Ba-ba-ra.

Thấy ả như thế làm gả có cái cảm tưởng thật lạ, gần như một sự e lệ, xấu hổ.  Và gã nhớ lại một việc  — một việc mà gã cố ý muốn quên đi.  Lúc ấy, gương mặt của ả sứt môi cũng gần giống như thế,  Và gã cũng có cùng một cảm tưởng e lệ, xấu hổ y như vậy.  Gã nhún vai, hình như để xua đuổi hình ảnh ấy.

Cuối cùng ả nhận ra gã.  Và ả cũng ngạc nhiên về cuộc gặp gỡ, về sự kiện gã cũng có ở đây.  Lẽ dĩ nhiên là ả phải lấy làm lạ, vì chính gã cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên là gì?  Câu chuyện này thì liên hệ gì đến ả?

Ba-ra-ba muốn giả bộ làm như mình đã tình cờ đi ngang qua đó mà không biết chỗ này là đâu, cũng không biết ở đó có một ngôi mộ.  Gã có giả bộ được không?  Việc ấy có vẻ hữu lý.  Có lẽ gã cũng không tin.  Dầu sao thì gã cũng nói:

–          Sao cô quỳ ở đây?

Ả sứt môi không nhìn lên cũng không động đậy.  Ả vẫn bất động như cũ, cái nhìn hướng về  phía cửa mộ.  Gã phải khó khăn lắm mới hiểu được câu ả nói thầm, như tự nói cho chính mình nghe.

–          Con Thượng Đế đã sống lại rồi.

Gã xúc động lạ thường khi nghe ả nói như vậy.  Gã cảm thấy một xúc động ngoài ý muốn mà gã không giải thích được.  Gã đứng đó phân vân một chút không biết phải nói hay làm gì.  Rồi gã tiến đến gần ngôi mộ như đã có ý từ trước, và xem cho chắc là nó đã trống rỗng – nhưng gã đã biết trước rồi, cho nên nó  trống hay không thì không có ý nghĩa gì nữa.  Rồi gã quay lại bên người đàn bà, vẫn quỳ, nhưng gương mặt tươi tỉnh, đượm một niềm vui sướng xuất thần, đến nỗi gã phải thấy thương hại ả, vì điều khiến cho ả sung sướng đó không có gì thật hết.  Đáng lẽ gã phải giải nghĩa cho ả là sự sống lại đó đã xảy ra như thế nào, nhưng ngày xưa gã chẳng từng gây nhiều đau khổ cho ả rồi sao?  Gã không đủ can đảm để nói cho ả biết sự thật.  Gã chỉ thận trọng hỏi ả nghĩ gì về việc vừa xảy ra, người bị đóng đinh đã sống lại như thế nào?

Ả nhìn gã một chặp bằng đôi mắt lộ vẻ ngạc nhiên.  Gã không biết gì hết sao?  Rồi ả bắt đầu kể lại bằng giọng mũi của ả, nhưng đầy xúc cảm, rằng một vị thiên sứ đã từ trời lao xuống, một cánh tay đưa ra như mũi giáo và vạt áo phía sau như ngọn lửa.  Mũi giáo đâm sâu vào giữa tảng đá to và vách đá, đã tách rời chúng ra.  Sự việc xảy ra thật giản dị, mà giản di thật, dầu đó là một phép lạ.  Đó là việc đã xảy ra.  Gã không thấy sao?

Ba-ra-ba nhìn xuống và đáp là gã không thấy.  Trong thâm tâm, gã rất bằng lòng, vì điều đó chứng minh rằng bây giờ thì đôi mắt gã tốt lắm, tốt như mắt của mọi người khác, rằng gã không còn nhìn thấy ảo giác nữa, mà chỉ thấy sự thật.  Người kia không còn quyền lực gì trên gã nữa, cũng không sống lại gì hết.  Nhưng ả sứt môi vẫn quỳ tại chỗ, đôi mắt sáng ngời nhớ lại những gì mình đã thấy.

Sau cùng ả đứng lên và đi, thì họ đi chung với nhau một quãng đường hướng về thành phố.  Họ không nói chuyện nhiều nhưng gã được biết là sau khi họ chia tay nhau, ả đã tin vào người mà ả gọi là Con Thượng Đế, nhưng phần gã thì chỉ gọi là người chết.  Khi gã hỏi ả là chung qui, người ấy dạy những gì thì ả không trả lời.  Ả quay mặt chỗ khác để tránh cái nhìn của gã.  Đến chỗ đường rẽ, vì dường như ả muốn đi về hướng Ghê-bên Hin-nôm, còn gã thì nghĩ là nên đi thẳng đến cửa Đa-vít, gã lại hỏi ả một lần nữa là giáo lý mà người kia giảng và ả đã tin, đó là gì – dầu điều đó không liên quan gì với gã hết.  Lúc ấy ả mới dừng lại một chút mắt ngó xuống đất, rồi ả nhìn gã với vẻ sợ hãi và trả lời bằng giọng nói hờn dỗi của mình: “Các con hãy yêu mến lẫn nhau.”

Sau đó, hai người chia tay.

Thánh Kinh Báo
Tháng 12 – 1969
(Còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top