Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Trang Chính » Barabbas – Phần 4

Barabbas – Phần 4

Barabbas

Tác giả: Par Lagerkvist
Người dịch: Hướng Dương

Phần 4:

Ả sứt-môi không sao ngủ được. Ả nhìn lên các ngôi sao nghĩ đến những việc sắp xảy ra. Không! Ả không muốn ngủ, ả muốn thức suốt đêm.

Ả đang nằm trên chiếc ổ bằng nhánh cây và rơm chất trong một hóc đá phía ngoài Cửa Phân. Ả nghe quanh đó những kẻ bệnh hoạn rên rỉ và cựa mình trong giấc ngủ. Ả cũng nghe tiếng chuông nhỏ của tên Cùi, mà sự đau đớn thỉnh thoảng bắt buộc phải thức giấc. Mùi hôi hám của những đống rác khổng lồ tràn ngập thung lũng, khiến mọi người đều nghẹt thở, nhưng ả đã quen với nó rồi nên không còn ngửi thấy nữa. Không một ai ở đây còn ngửi thấy nữa.

Ngày mai, khi mặt trời mọc … Ngày mai, lúc rạng đông …

Một ý nghĩ diệu kỳ: đám người bệnh hoạn sắp được chữa lành và những kẻ đói khát sẽ nhận được thức ăn. Thật là khó tưởng thượng nổi. Việc đó sẽ xảy đến như thế nào? Điều chắc chắn là cửa trời sẽ mở ra và các thiên thần sẽ xuống đây để nuôi hết, ít ra là những người nghèo. Có lẽ bọn giàu có vẫn tiếp tục ăn uống tại nhà họ, nhưng tất cả những người nghèo, hết thảy những người đang thực sự khốn khổ vì đói khát sẽ được các thiên thần nuôi nấng, và ngay tại Cửa Phân đây, những tấm thảm sẽ được trải ra đất, những tấm thảm vải trắng chứa đầy đủ các thức ăn, và người ta sẽ nằm dài ra đất mà ăn. Thật ra thì không có gì khó khăn để hình dung ra cảnh đó, ta chỉ cần nghĩ rằng mọi sự sẽ thay đổi hẳn. Không còn cảnh nào giống với khung cảnh người ta đã thấy hay biết từ trước.

Có lẽ chính ả sẽ được mặc những quần áo khác, ai mà biết được? Có lẽ là màu trắng. Hay là một chiếc áo dài màu xanh? Mọi sự sẽ thay đổi vì Con Thượng Đế sẽ sống lại, và một kỷ nguyên mới sẽ bắt đầu.

Nằm trong hóc đá của mình, ả nghĩ đến những việc sẽ xảy ra.

Ngày mai … ngày mai khi mặt trời mọc. Thật phước hạnh biết bao khi được biết điều đó …

Tiếng chuông nhỏ của tên Cùi lại vang lên gần hơn. Ả nhận ra được ngay, vì ban đêm hắn vẫn có thoái quen lần mò lên đây; dầu những kẻ mắc bệnh cùi bị nhốt dưới đáy thung lũng và không có quyền vượt khoải hang rào, nhưng trong bóng tối hắn vẫn dám làm. Người ta có cảm tưởng là hắn thấy cần gần gũi với loài người, hơn nữa, có lần hắn cũng đã nói như vậy. Ả thấy hắn thận trọng tiến bước giữa đám người đang ngủ dưới ánh sao.

Xứ của những kẻ chết …chung qui, ra làm sao nhỉ? Người ta bảo là lúc này Thầy đang qua xứ của những kẻ chết … Hình dáng của xứ ấy ra sao? Không, ả không thể nào hình dung ra được!

Lão đui rên rỉ trong giấc ngủ. Và xa hơn một chút, gã thiếu niến gầy còm vẫn thở hổn hển như thường lệ. Sát bên ả, người đàn bà xứ Ga-li-lê có đôi tay cứ bị co giật vì linh hồn một kẻ nào đó ám ảnh, đang nằm co rút. Chung quanh đó đều đầy những người tương tự như vậy, những người đi tìm cách chữa bệnh bằng chất bùn dưới suối, hay hạng nghèo khó, khốn nạn, sống nhờ những đồ thừa tìm thấy trong các đống rác.

Ngày mai, sẽ không còn ai than phiền nữa. Có lẽ một thiên sứ sẽ lọc sạch giòng nước bằng cách thổi lên đó? Và khi lội xuống thì những kẻ bệnh tật đều sẽ được chữa lành. Có lẽ cả bọn cùi nữa. Người ta sẽ để cho họ xuống suối chăng? Sẽ cho họ xuống đó, thật không? Thật ra thì không ai biết mọi sự sẽ xảy ra như thế nào. Không, nói cho đúng thì không có ai biết gì nhiều cả.

Có lẽ dưới suối cũng không có gì xảy ra hết; có lẽ người ta sẽ không cần nghĩ gì đến nó nữa. Có lẽ từng đoàn thiên thần sẽ bay lượn bên trên Ghê-bên Hin-nôm và khắp mặt đất, để dùng cánh họ quét sạch bệnh tật,  đau buồn và khốn khổ.

Nằm trên ổ rơm, ả tự nhủ có lẽ việc sẽ xảy ra như vậy.

Rồi ả nghĩ đến ngày ả đã gặp Con Thượng Đế, đến sự tử tế Ngài đã tỏ ra. Chưa bao giờ có ai tử tế với ả như vậy. Ả rất có thể xin Ngài chữa cho sự tàn tật của ả, nhưng ả không muốn làm vậy. Chắc Ngài sẽ làm được việc đó rất dễ dàng, nhưng ả không muốn làm vậy. Ngài đã giúp cho những người thiếu thốn cần được trợ giúp, Ngài đã làm nhiều việc vĩ đại. Ả không muốn quấy rầy Ngài vì một việc nhỏ mọn như vậy.

Nhưng điều rất lạ, lạ lùng vô cùng ấy là Ngài đã nói với ả khi ả quì dưới đất bên vệ đường. Ngài đã quay lại tiến về phía ả mà hỏi:

“Con có tin nơi phép lạ không?”

“Thưa Chúa, không. Con chỉ muốn nhìn Ngài đi qua mà thôi.”

Rồi nhìn chăm vào ả bằng đôi mắt vô cùng dịu dàng nhưng cũng rất buồn, Ngài đã vuốt má ả, chạm đến miệng ả, nhưng không có một thay đổi nào xảy ra. Rồi Ngài nói thầm: “Con sẽ làm chứng cho Ta.”

Thật là những lời lạ lùng. Ngài đã muốn nói gì vậy? Làm chứng cho Ngài? Thật là không hiểu nổi. Làm sao ả có thể làm được việc đó?

Cũng như mọi người khác, Ngài đã hiểu những lời ả nói, không khó khăn gì, Ngài đã hiểu được ả ngay. Nhưng không có gì lạ lùng trong việc ấy, vì Ngài là Con Thượng Đế kia mà!

Phải, ả đang suy nghĩ đến cái nhìn của Thầy khi Ngài nói chuyện với ả, đến mùi của bàn tay Ngài khi Ngài chạm đến môi ả… Ngàn sao lấp lánh trong đôi mắt mở to của ả, và ả lấy làm ngạc nhiên vì ả càng nhìn thì dường như chúng càng hiện ra nhiều hơn.

Từ ngày ả không còn ở dưới một mái nhà nữa cho đến nay, ả đã thấy rất nhiều… Chung qui thì ngôi sao là gì nhỉ? Ả không biết. Chúng đã được Thượng Đế tạo ra đó là lẽ đương nhiên, nhưng chúng là gì? … Trong sa mạc có rất nhiều sao… Trên núi cũng vậy … những ngọn núi của miền Ghinh-ganh… Nhưng không phải trong cái đêm mà… không, không phải đêm đó.

Rồi ả nghĩ đến ngôi nhà nằm giữa hai cây bách … Mẹ ả đứng trên ngạch cửa nhìn theo, trong khi ả đi lần xuống dốc, với gánh nguyền rủa nặng trĩu trên vai … Phải, rõ ràng là cha mẹ ả phải đuổi ả đi, và từ đó, ả phải sống như loài cầm thú trong hang … Ả nhớ lại cánh đồng rất xanh mùa xuân ấy, và mẹ ả đứng hơi lui về phía sau khung cửa tối nhìn theo ả để cho người đang nguyền rủa ả khỏi trông thấy …

Nhưng bây giờ thì điều đó không còn quan trọng gì nữa hết. Bây giờ thì không còn gì là quan trọng nữa.

Lão đui ngồi xuống, vễnh tai rình. Lão vừa thức giấc và nghe tiếng chuông nhỏ của tên cùi. “Cút đi!” Lão thét lên và cung tay trong bóng tối để dọa tên kia, “Cút đi, mầy tới đây làm gì?” Tiếng chuông tắt dần trong đêm, và lão già lại nằm xuống, vừa càu nhàu, một bàn tay đặt trên đôi mắt trống rỗng.

Trẻ con chết có ở dưới âm ty không? Chắc là có, trừ ra những đứa chết ngay trong bụng mẹ? Chắc không ai nỡ hành hạ, làm cho chúng phải khổ sở, điều đó không thể nào có được. Dầu sao thì ả không biết gì chắc chắn liên hệ đến việc ấy… không có chút gì chắc chắn hết… Bông trái của lòng mày đáng bị nguyền rủa…

Nhưng với kỷ nguyên mới sắp khai sinh, phải chăng tất cả những lời nguyền rủa đều sẽ bị mất hết hiệu lực?  Rất có thể … dầu không ai biết chắc … Bông trái của lòng mầy… đáng bị nguyền rủa… Ả rung mình, dường như lạnh lắm. Trời sao mà chậm sáng thế! Phải chăng là đã sắp sáng rồi? Ả nằm đây đã lâu lắm, mà đêm nay chưa chịu chấm dứt sao? Có chứ, ngàn sao bên trên ả đã đổi chỗ, vừng trăng lưỡi liềm đã lặn từ lâu phía sau rặng núi. Bọn lính đã đổi phiên canh chót, vì ả vừa thấy ánh đuốc chập chờn trên vách thành lần thứ ba rồi. Đêm nay chắc phải qua đi. Đêm cuối cùng…

Phải rồi, bây giờ thì sao mai đã mọc bên trên đỉnh núi Ô-li-ve. Người ta nhận ra nó ngay, vì nó to và rất sáng, to hơn tất cả các ngôi sao khác. Chưa bao giờ ả sứt môi lại thấy nó lóng lánh như vậy. Ả chắp đôi tay lên bộ ngực lép và nằm nán thêm một chút, đôi mắt nóng bỏng chăm chú nhìn vào vì sao.

Rồi ả đứng dậy và bước vội vào trong đêm tối.
Thánh Kinh Báo
Tháng 11 – 1969
(Còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top