Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Trang Chính » Barabbas – Phần 7

Barabbas – Phần 7

 

Tác giả: Par Lagerkvist
Người dịch: Hướng Dương

Phần 7

Khi cuộc khủng bố bắt đầu, ông lão đui được chàng thanh niên hen suyển dẫn đường đến tìm một trong các nhân viên Công Hội và nói: Chỗ chúng tôi ở ngoài Cửa Phân, có một mụ đang tuyên truyền tà giáo về một Đấng Cứu Thế sẽ thay đổi cả thế giới. Tất cả những gì đang có sẽ tiêu tan hết để nhường chỗ cho một thế giới khác tốt đẹp hơn, hoàn toàn do thiện chí của vị ấy ngự trị. Chính mụ ta cũng phải bị ném đá chứ?

Nhân viên Công Hội kia vốn là một người có lương tâm nên yêu cầu lão đui trình bày chi tiết hơn những điểm cốt yếu trong lời tố cáo của lão ta. Trước hết Đấng Cứu Thế ấy là ai. Lão đáp rằng đó chính là người mà những kẻ bị ném đá vẫn tin, và nếu có công lý thì mụ kia cũng phải bị ném đá nữa. Chính lão đã nghe mụ kể rằng Chúa mình sẽ cứu tất cả mọi người, gồm luôn bọn cùi nữa. Vị ấy sẽ chữa bệnh cho chúng và khiến chúng lành mạnh như mọi người. Nhưng nếu không còn có gì để phân biệt được bọn họ, thì mọi việc sẽ ra sao? Nếu chúng đi cùng khắp và có lẽ là không còn bị bắt buộc rung chuông theo nữa thì sẽ không còn ai biết chúng ở đâu, nhất là những người đui, người ta có quyền tuyên truyền như vậy sao?

Người nhân viên Công Hội đưa tay lên vuốt râu – điều mà lão đui đứng gần ông ta vài bước có thể nghe được rồi hỏi là có ai tin điều mụ kia tuyên truyền không? Lão đui đáp chắc chắn là có, bởi vì giữa đám người vốn là cặn bã của xã hội mà người ta gặp chỗ chúng tôi ngoài cửa Phân thì luôn luôn có những kẻ nghe theo những lời nhảm nhí như vậy. Và bọn cùi ở dưới thung lũng là vui mừng hơn hết, đó là lẽ tất nhiên. Người ta bảo rằng mụ ta thường đối xử rất tốt với bọn ấy, thậm chí đã nhiều lần vượt cả hàng rào để xuống đó săn sóc cho chúng một cách đáng xấu hổ nữa. Có lẽ mụ ta còn ăn nằm với bọn người ô uế ấy là khác? Phần tôi thì không thể nào biết được. Dẫu sao mụ ta không phải là còn trinh, điều đó thì người ta đã nói trước mặt tôi: Dường như mụ ta có một đứa con mà mụ đã giết chết. Tôi thì không biết gì hết. Nhưng tôi chỉ nghe người ta kể lại vậy thôi. Tai tôi thính lắm chỉ có đôi mắt là trống rỗng, cho nên tôi mới đui. Và thưa Ngài, đó là một điều vô cùng khốn khổ. Đui mù như tôi thật khổ sở lắm.

Viên quan tòa hỏi rằng: Đấng Cứu Thế, theo như mụ ấy gọi (nhưng đáng lẽ chỉ nên gọi là tên bị đóng đinh mà thôi) có được nhiều người tin theo không?

– Dạ có, nhiều lắm. Lẽ dĩ nhiên là tất cả mọi người đều muốn được chữa bệnh, và mụ ta quả quyết là vị ấy sẽ chữa lành cho họ, nào là kẻ liệt bại, điên cuồng, đui mù. Hậu quả là trên thế giới người ta sẽ không còn cảnh cùng khốn nữa, tại Cửa Phân cũng như bất luận ở chỗ nào khác. Nhưng những lúc gần đây tại đó người ta đã nổi giận. Từ lâu mụ ta vẫn lập đi lập lại rằng, vị ấy sẽ đến, cho nên cuối cùng người ta đã tức giận vì vị ấy không đến. Người ta chế nhạo và chửi rủa mụ cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi đêm đến mụ ta cứ khóc tỉ tê, khiến cho một kẻ khốn nạn như lão không thể nào ngủ được. Ngay bọn cùi thì cứ bám lấy những câu chuyện huyền hoặc của mụ ta và tất cả những gì mụ ta hứa hẹn với chúng, mà điều đó cũng không có gì đáng lấy làm lạ. Mụ ta còn hứa là chúng còn được phép đến cổng tường Đền Thờ và vào nhà của Chúa nữa. Bọn cùi ấy – Vâng

– Sao mụ ấy lại dám hứa một điều phi lý như vậy?

– Đâu có phải mụ ta, mà là Chúa của mụ ta. Vị ấy có quyền đến nỗi dám hứa bất cứ chuyện gì và thay đổi bất cứ cái gì. Vị ấy có quyền đến nỗi dám hứa bất cứ chuyện gì và thay đổi bất cứ cái gì. Vị ấy cầm quyền thống trị tất cả bởi vì vị ấy là Con Trời mà!

– Con Trời à?

– Vâng!

-Mụ ta bảo hắn ta là Con Trời à?

– Vâng. Nhưng đó chỉ là một lời phạm thượng vì không có ai lại không biết rằng người ấy đã bị đóng đinh rồi, và như thế là đủ lắm. Những người đã kết án hắn chắc đã biết rõ những việc hắn đã làm, phải không thưa Ngài?

– Chính tôi cũng có tham dự phiên xử đó.

– Thật vậy sao? Nếu vậy thì Ngài biết rõ hơn tôi về người ấy là ai rồi.

Rồi có một phút im lặng. Trong cái bóng đêm của mình, lão già đui chỉ nghe vị quan tòa của mình lại vuốt râu. Rồi có tiếng giải thích rằng mụ kia sẽ bị đòi đến hầu tòa để trình bày điều mình tin tưởng và bênh vực cho nó, nếu mụ ta có thể biện hộ cho mình được. Lão già cám ơn, vừa đi thụt lùi vừa cung kính xá thật sâu, rồi mò mẫm lên vách tường để tìm cánh cửa trước đó mình đã theo vào. Vị quan tòa gọi một tên đầy tớ để đưa lão đui đi ra, nhưng trong khi chờ đợi, ông ta hỏi để biết chắc chắn hơn là lão có tư thù gì với mụ đàn bà mà họ đang đề cập đến đó hay không?

– Thù mụ ấy à? Không làm gì tôi có tư thù ai? Tôi thì làm gì có tư thù với ai; mà tại sao tôi lại thù người ta được? Tôi không thấy ai hết. Tôi chưa bao giờ thấy được một người nào cả.

Tên đầy tớ liền đưa lão ra ngoài. Gã thiếu niên hen suyễn thở hổn hễn trong bóng tối đang chờ lão ngoài cửa ra vào, sát với đường phố. Lão già quờ quạng niếu lấy tay gã và cả hai cũng quay về Cửa Phân.

Sau khi ả sứt môi bị kết án, ả bị dẫn đến chiếc hố ném đá nằm chéo về phía nam thành phố. Theo sau ả là một đám đông gào thét, và một viên hã sĩ quan thuộc đội lính canh gác Đền Thờ cùng với đám thuộc hạ, lưng trần, râu tóc dựng đứng, giữ trật tự bằng những ngọn roi da bò có móc sắt. Đến hố ném đá, đoàn người hung hăng kia đi tản ra chung quanh miệng hố trong khi một tên lính dẫn người đàn bà xuống đáy hố, đầy những tảng đã nhuộm đen vì những vết máu cũ đã khô.

Viên hạ sĩ quan truyền mọi người im lặng và một đại diện của thầy tế lễ cả đọc bản án rồi thêm rằng kẻ đã tố cáo bị can phải ném viên đá đầu tiên. Người ta dẫn lão mù đến bờ hố và giải thích câu chuyện, nhưng lão ta không chịu nghe.

– Tại sao lại ném đá ả? Tôi với ả nào có liên hệ gì với nhau! Tôi còn không thấy được ả ra sao nữa là!

Nhưng khi cuối cùng người ta đã nói cho lão đó là luật lệ, và lão ta không thể nào trốn tránh được, thì lão hậm hực nói lắp bắp rằng nếu như vậy thì lão phải tuân theo. Người ta đặt vào tay lão một viên đá và lão ném bừa ra. Rồi lão bắt đầu lại, nhưng vô ích. Lão không biết mục tiêu ở đâu, bởi vì chung quanh lão chỉ toàn là bóng tối.

Lúc ấy Ba-ra-ba đang đứng cách lão ta vài bước và từ trước đến giờ chỉ nhìn vào người mà những viên đá sắp ném đến, bỗng thấy một người tiến đến giúp lão đui. Người ấy có một khuôn mặt già nua nghiêm khắc và khô khan. Ông ta đeo trên trán một cái túi nhỏ bằng da đựng các giới răn của Luật Pháp. Chắc đây là một học giả chính thống rất giỏi Thánh Kinh. Ông ta nắm cánh tay lão đui và thử thay lão nhắm vào mục tiêu, để cho cuộc ném đá có thể bắt đầu, nhưng kết quả vẫn như trước. Viên đá vẫn không trúng đích. Người đàn bà bị xử tử vẫn đứng đó, đợi chờ việc sắp xảy đến cho mình bằng đôi mắt to sáng ngời.

Nhà học giả chính thống bỗng thấy sốt ruột đến nỗi ông ta cúi xuống nhặt một viên đá nhọn lễu, rồi lấy hết sức già của mình tự tay ném mạnh về phía ả sức môi. Ông ta đã ném trúng nàng; ả loạng choạng, đôi tay mỏng mảnh đưa lên trời trong một cử chỉ tuyệt vọng.

Đám đông thét lên một tiếng tán đồng man rợ, và nhà tư tưởng chính thống kia nhìn công trình của mình lộ vẻ rất hài lòng. Ba-ra-ba tiến lên nửa bước, khẻ vén vạt áo choàng của mình lên và thích cho  lão già một mũi dao chứng tỏ gã rất dày kinh nghiệm. gã hành động nhanh chóng đến nỗi không ai kịp trông thấy. Mọi người đều bận ném viên đá của họ vào nạn nhân.

Ba-ra-ba vạch một con đường để tiến đến miệng hố. Gã thấy ả sứt môi bước vài bước loạng choạng đôi tay giơ thẳng lên, vừa la lớn: “Ngài đã đến! Ngài đã đến! … Tôi thấy Ngài! Tôi thấy Ngài rồi!” Và ả té quỵ xuống, dường như đang bám lấy vạt áo choàng của một người nào đó.

“Lạy Chúa, làm sao con có thể làm chứng cho Ngài được? Xin tha tội cho con, xin tha tội…”

Cuối cùng ả bị những viên đá đẫm máu đè bẹp và tắt hơi.

Khi mọi việc đã xong xuôi, những kẻ ở gần chiếc hố hơn hết thấy giữa họ có một người nằm chết trong khi một người khác đang chạy trốn giữa những khu trồng nho và biến mất vào các cánh rừng ô-liu của thung lũng Xết-rôn. Nhiều tên lính gác vội chạy đuổi theo, nhưng không bắt được. Dường như hắn đã độn thổ mất biệt.

Thánh Kinh Báo
Tháng 6&7/1970
(Còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top