Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Trang Chính » Barabbas – Phần 10

Barabbas – Phần 10

 

Tác giả: Par Lagerkvist
Người dịch: Hướng Dương

Phần 11:

Không có ai biết chắc chắn gì về số phận của Ba-ra-ba sau biến cố ấy, về những nơi gã đã sinh sống và những việc gã đã làm trong tuổi tráng niên. Nhiều người bảo rằng sau khi mất tích, gã đã lui về ẩn trong vùng sa mạc hẻo lánh hơn hết của miền Giu-đê hay Sinai gì đó, để suy tư về thế giới của Thượng Đế và của loài người. Nhiều người khác lại cho rằng gã đã nhập bọn với dân Sa-ma-ri là đám người rất thù ghét đền thờ Giê-ru-sa-lem, hàng giáo phẩm và bọn người thông suốt Thánh Kinh; và vào ngày lễ Vượt Qua, người ta đã thấy gã trên chót núi thánh của họ vào giờ dùng chiên con làm sinh tế, cũng quỳ gối như họ để chờ vầng thái dương mọc lên trên đỉnh núi Giê-ri-sim. Nhưng có một vài người quả quyết rằng phần lớn trong khoảng thời gian đó, gã chỉ cầm đầu một bọn cướp hoành hành trên các triền núi Li-ban và đã tỏ ra tàn bạo như nhau đối với người Do-thái và các tín đồ Đấng Christ bị rơi vào tay mình.

Chúng tôi xin nhắc lại là mọi người đều không biết được sự thật. Nhưng điều người ta có thể chắc chắn, ấy là vào lúc khoảng 50 tuổi, Ba-ra-ba mà bây giờ người ta sẽ gọi là lão đã được đưa đến nhà của viên trấn thủ La-mã tại Ba-phô như một tên nô lệ, sau khi đã sống nhiều năm trong các mỏ đồng của đảo Chíp-rơ, do chính vị này quản trị. Tại sao lão đã bị bắt và bị đày vào các mỏ đồng, là lối hình phạt kinh khiếp nhất mà người ta có thể tưởng tượng, thì không một ai biết cả. Điều lạ lùng nhất là sau khi đã sa vào cái địa ngục ấy mà lão còn trở về với đời sống, dầu là để làm một tên nô lệ. Có nhiều việc đặc biệt ngoại lệ khác đã liên hệ đến sự kiện này.

Tóc lão đã hoa râm, gương mặt đầy vết nhăn, nhưng ngoài việc đó ra, lão vẫn còn khỏe mạnh lạ lùng bất chấp tất cả những gì đã phải chịu đựng. Lão cũng phục hồi sức lực nhanh chóng lạ thường và đã tìm lại được phần lớn phong độ cũ. Khi rời khỏi các hầm mỏ, với thân hình gầy trơ xương và đôi mắt hết thần, sâu như hai cái giếng, trông lão giống một kẻ chết hơn là một người sống. Khi lão đã lại sức thì cái nhìn của lão càng tỏ ra ngơ ngác hơn trước, ngại ngùng như đôi mắt con chó vừa bị đòn, nhưng ngời lên mối hận thù mà mẹ lão từng cảm thấy, để chống lại cõi thọ tạo khi sinh đứa con trai của mình ra đời. Sau một thời gian rất lâu bị phai màu, vết xẹo phía dưới mắt lại càng sâu vào hàm râu một đường nhỏ như máu.

Nếu lão không được tôi luyện để trở thành dẽo dai như thế, chắc lão đã không thể nào sống sót nổi. Thế thì lão phải cám ơn Ê-li-hu và người đàn bà Mô-áp vì họ đã ban cho lão một cuộc sống thứ hai, dầu cả hai đã khinh ghét thay vì yêu mến lão. Nhưng dầu sao thì họ cũng chẳng bao giờ yêu thương nhau. Điều đó chứng minh rằng tình yêu không quan trọng gì lắm. Nhưng vì không biết gì hết về chuyện ấp ủ nhau của họ, nên Ba-ra-ba cũng không biết là mình mắc nợ họ.

Gã đã đến một ngôi nhà rộng lớn có rất nhiều nô lệ. Trong đám họ có một người cao lớn, rất gầy, tướng đi ưởn ẹo, một người Ạt-mê-mi tên là Xa-hắc, rất cao, đến nỗi mỗi khi bước đi, lão ta dường như phải khòm lưng xuống một chút. Với đôi mắt to lồi, sậm màu và mở lớn, lão cho ta cái cảm tưởng là bên trong đang có một ngọn lửa cháy ngầm. Mái tóc bạc cạo sát và gương mặt tiều tụy khiến người ta lầm tưởng đó là một cụ già, nhưng thật ra lão chỉ bốn mươi ngoài tuổi. Lão cũng đã ở trong các hầm mỏ. Ba-ra-ba với lão đã từng sống chung trong đó  và họ cũng cùng được ra khỏi đó với nhau. Nhưng Xa-hắc không phục hồi được sức lực như bạn mình, lão vẫn còn gầy không tưởng tượng được, và cuộc sống gay go vẫn còn để lại trên lão các dấu vết nhiều hơn. Dường như dầu sao thì Ba-ra-ba cũng chưa hề trãi qua những thử thách mà lão đã phải chịu. Mà sự thật là vậy.

Các nô lệ khác rất thắc mắc về hai người ấy, vì họ đã thoát được một nơi chưa hề có ai ra khỏi mà còn sống, và rất thích được nghe họ kể lại cuộc đời phiêu lưu của mình. Tuy nhiên chúng không rút tỉa được gì nhiều về quá khứ của họ. Họ thường lánh mặt mọi người, cũng không hề nói chuyện với nhau và dường như không có nhiều điểm tương đồng dầu vẫn cho người ta cái cảm tưởng rằng họ là hai người bạn bất khả phân ly. Thật là lạ. Nhưng nếu vào những lúc rỗi rãi hay ăn uống họ ngồi bên nhau và ban đêm ngủ chung trên một ổ rơm, thì đó là vì họ đã từng bị xích chung trong các hầm mộ.

Họ đã bị xích chung như vậy ngay từ khi ở trên con tàu từ lục địa chở đến. Trong các hầm mỏ, những tên nô lệ bị xích chung luôn luôn làm việc với nhau. Không có ai rời được người bạn đồng tù của mình. Cho nên vì chung nhau tất cả nên cuối cùng họ biết hết về nhau, hay lắm lúc họ cũng oán ghét nhau thậm tệ. Lắm lúc vì giận dữ, họ cũng xông vào nhau không vì một lý do nào cả, mà chỉ vì họ đã bị xích chung nhau trong cái địa ngục ấy.

Nhưng hai người này thì dường như rất ăn ý với nhau và cùng giúp nhau chịu đựng cực hình của họ nữa. Họ rất hài lòng về nhau và thỉnh thoảng lại trao đổi với nhau vài tiếng, giải buồn cho nhau về cách trò chuyện trong khi làm việc cực nhọc. Lẽ dĩ nhiên Ba-ra-ba là người khó thông cảm hơn nên chỉ sẵn lòng nghe người kia tán chuyện. Ban đầu họ không nói gì với nhau hết, dường như họ không thích điều đó. Cả hai điều có những chuyện kín và không muốn tiết lộ. Phải qua một thời gian lâu, họ mới hiểu được chút ít về nhau.

Số là một hôm tình cờ Xa-hắc biết được rằng Ba-ra-ba là dân Do-thái và được sanh trưởng tại Giê-ru-sa-lem. Lão bỗng tỏ ra chú ý đến việc đó một cách lạ thường và bắt đầu hỏi về chuyện này chuyện nọ. Lão tỏ ra biết rất rõ về thành phố dầu chưa bao giờ đến đó. Cuối cùng lão ta hỏi Ba-ra-ba có biết gì về một ông thầy giảng đạo từng sống tại đó và đã hoàn tất sứ mạng của mình, một đại tiên tri được rất nhiều người tin tưởng, hay không. Ba-ra-ba biết ngay ông thầy giảng đạo đó là ai rồi, và bảo là mình có nghe nói về người ấy. Xa-hắc muốn được biết nhiều hơn, nhưng Ba-ra-ba lại trả lời loanh quanh rằng mình không biết gì nhiều hết… Lão có thấy người ấy tận mắt không? Có, lão có thấy! Xa-hắc tỏ ra rất quan tâm đến sự kiện ấy. Vì một chặp sau lão lại hỏi Ba-ra-ba có thật thấy người ấy không. Ba-ra-ba  trả lời càng quả quyết hơn, nhưng không có vẻ sốt sắng mấy.

Thánh Kinh Báo
Tháng 10/1970
(Còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top